THANH HIỆP : Xem bói đầu xuân cùng NSND Viễn Châu


Xem bói đầu xuân cùng NSND Viễn Châu
01.02.2014 12:19
Xem hình
 

Đầu Xuân, đến thăm “Vua vọng cổ” Viễn Châu sẽ được nghe kể về tục xem bói. Khai bút đầu xuân là một nghi lễ bắt buộc trong ngày Tết đối với giới soạn giả nhưng năm nay, ông lại thích chiêm nghiệm, kể lại tục xem bói hơn.

“Tục lệ này được duy trì như một nét đẹp văn hóa truyền thống của giới nghệ sĩ. Sau lễ cúng giao thừa, họ tìm đến thầy tuồng để xin quẻ bói với những chữ có ý nghĩa viết lên giấy đỏ hoặc giấy hoa tiên nhằm nhắc phải biết giữ mình, giữ nghề như giữ một viên ngọc quý”- NSND Viễn Châu bắt đầu kể

Từ “Khai bút đầu Xuân” đến xem bói

Theo NSND Viễn Châu, ngày nay tục “Khai bút đầu xuân” đã có nhiều thay đổi, nó không còn phổ biến và mang đậm ý nghĩa như xưa. Tuy nhiên, với nhiều gia đình, nhiều giới đặc biệt là học sinh, văn sĩ, người làm nghề viết lách… phong tục này vẫn được xem trọng.

Ông nhấn mạnh: “Vì ngoài những giá trị chân thiện mỹ, việc Khai bút đầu xuân còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Không chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu một sự nghiệp, sự học mà còn gửi gắm rất nhiều tâm tư, nguyện vọng về một năm mới suôn sẻ, hạnh phúc và thành đạt”.

NSND Viễn Châu kể thời trẻ ông viết sung sức. Ngoài sáng tác kịch bản, bài ca cổ, ông còn tham gia viết báo, đưa ra những nhận định về một vở diễn, vai diễn và chân dung nghệ sĩ. Tết đến, các chủ bút thậm chí cho người thư ký đến chầu trực tại nhà để nhận bài báo Xuân cho kịp tiến độ. Mực chưa ráo trên bản thảo đã được các anh thư ký cầm chạy thật nhanh về tòa soạn để kịp lên khuôn. Trong vô số những bài báo Xuân thời đó, những bài xem bói cho nghệ sĩ được độc giả thích thú nhất.

Ban đầu chỉ là những bài báo Xuân mang tính chất vui vui, đi vào những nhận định chung chung nhưng rồi sau đó phong trào xem bói đầu Xuân cho nghệ sĩ, cho sàn diễn biến thành thông lệ. Tết đến các đoàn hát, đào kép nô nức coi bói, xem vận số mình năm nay ra sao.

“Thời đó, đền chùa đông nghẹt những người, vừa cầu nguyện, vừa xin xâm, xin quẻ để đoán biết tương lai. Âu đây cũng là một phong tục dễ thương của người dân Việt Nam chúng ta nói chung và giới nghệ sĩ nói riêng”-NSND Viễn Châu nhận xét.

NSND Viễn Châu cùng NSND Ngọc Giàu, NSND Bạch Tuyết và NSND Lệ Thủy xem bói đầu Xuân

Ông kể tiếp rằng nhắc chuyện xem bói nhớ ngay nghệ sĩ Thành Được. Tết năm đó, ông viết trong bài xem bói đầu năm rằng: “Qua xuân biến cố lại về, gặp ngay phiền phức để chừa thói quen”. Đúng như rằng, nghệ sĩ Thành Được dính đến chuyện vi phạm hợp đồng, phải đền bởi thói quen: “diễn quá hăng say”, đập nhiều ly sành trên sàn diễn, bà bầu bắt đền vì tội “cố ý làm hư hại tài sản của gánh hát”. Rồi tiếp sau đó nghệ sĩ này bị tạm giam vì những biến cố riêng trong đời, khiến “sầu nữ” Út Bạch Lan ngày ngày xách cơm nuôi chồng.

Với chàng kép Tài Bửu Tân, ông viết: “Tài hoa một kiếp phong trần, mấy ai hiểu đặng tấm lòng thủy chung. Số Tài, lót Bửu, tên Tân, lên nhanh, xuống lẹ bởi tránh xa thần đèn”. “Anh kép này nổi danh bởi giọng ca trấm ấm, có cách vào vọng cổ rất điêu luyện, chỉ qua mấy bài ca cổ được Hãng dĩa Việt Nam của cô Sáu Liên phát hành đã nổi tiếng ngất trời, nhưng vì vướng vào hút chích cần sa mà tiêu tan sự nghiệp”- NSND Viễn Châu cảm thán.

NSND Viễn Châu và NSƯT Thành Lộc

“Vua vọng cổ” nổi danh này còn cho biết thuở trước nếu trong những ngày đầu của tháng giêng âm lịch mà đi xem bói ở Việt Nam, sẽ thấy phòng khách của họ la liệt người ngồi đợi, chẳng khác gì một phòng mạch ở bệnh viện. Chính quyền địa phương dẹp bỏ rất nhiều ổ “mê tín dị đoan” nhưng phong trào coi bói lại có vẻ lên mạnh khi mà người ta cứ tin vào những phán đoán có phần hơi chủ quan, hoặc những lời động viên, an ủi để tự tin trong cuộc sống vốn dự báo sẽ có nhiều khó khăn trong năm tuổi.

Còn với giới nghệ sĩ, họ tin vì những bài thơ bói của ông và một số soạn giả có lẽ vì phần nào nhắc nhở, cảnh tỉnh họ cẩn trọng hơn. “Nhưng tôi tuyệt đối lên án việc đào kép quá tin tưởng ở số mệnh đến nỗi xem thầy bói như những “quân sư” và đặt mọi quyết định trên những lời đoán của các vị này. Nếu muốn tự mình tìm hiểu khoa bói toán, cũng có rất nhiều sách vở để nghiên cứu. Nào là “Số mệnh trong lòng bàn tay” để dạy coi chỉ tay, hay những sách dạy bói bài… Xem tử vi thì có Tử vi đẩu số, Tử vi hàm số, xem tướng thì Nhân tướng học, Ma Y Thần tướng…”- NSND Viễn Châu nói.

Xem tử vi ngày Tết tưởng dễ nhưng lại khó vô cùng, vì chỉ theo đồ biểu mà ai cũng có thể vẽ ra một lá số tử vi được, nhưng cách giải những sao, với vị trí, âm dương ngũ hành và ảnh hưởng của sao nọ lên sao kia, phải có nhiều kiến thức và kinh nghiệm cần học hỏi nơi những người thông thạo, như tất cả các môn học đều phải có thầy chỉ dẫn.

Và cũng như tất cả các môn học, muốn quán triệt môn nào cũng phải có một năng khiếu nào đó, một sự thích hợp của riêng mình mới được. Nói chung, lý thuyết là một chuyện, nhưng khi thực hành thì phải có sự lượng định, nhận xét uyển chuyển của riêng bản thân người nhận được lời giải đáp.

“Tướng tùy tâm sinh, tướng tùy tâm diệt” “Tử vi khác bói toán vì là một bộ môn khoa học, nên dựa trên những yếu tố thuần lý để đoán biết vận số của con người, mà cuộc đời con người không chỉ dựa trên những gì có thể kiểm chứng được mà còn chịu sự chi phối bởi những yếu tố không thể đo lường được” – “Vua vọng cổ” Viễn Châu nhận định.

Bởi theo ông, đời người tuân theo luật nhân quả. Cung phúc đức của mỗi người không chỉ dựa trên phúc đức được hưởng từ cha mẹ, mà còn do mình tự tạo ra, hay nói đúng hơn là tùy theo “nghiệp” của mỗi người, nên không thể nào là một yếu tố bất biến. Do đó, dù có tính khoa học như tử vi, hay do sự sắp xếp của quẻ mà lý đoán như bói bài, bói dịch, sự giải đoán cũng chỉ là tương đối.

NSND Viễn Châu trên sàn tập vở Tình mẫu tử với NSND Ngọc Giàu, Hồng Tơ

Một lá số hay một quẻ số thường chỉ đưa ra một cái khung, một chỉ dấu để nương vào đó mà giải đoán, có thể áp dụng cho bất cứ ai cũng được. Nhưng số mệnh của mỗi người không ai giống ai, và nét đặc thù của riêng mỗi người chỉ có thể thấy được nơi đường chỉ tay và tướng mạo. Ông nhấn mạnh: “Trong sách tướng, có một câu thật thâm thuý khiến ta phải suy nghĩ, cũng là cốt yếu của thuật coi tướng, đó là: Tâm con người không chỉ ẩn tàng, mà còn luôn luôn hiển hiện ra nơi hình tướng bên ngoài. “Tướng tùy tâm sinh, tướng tùy tâm diệt”. Và lý giải rằng, trên thế giới này có bao nhiêu tỉ người, nhưng không có ai giống ai cả, kể cả những người song sinh cũng không thể hoàn toàn giống nhau được. Cái gì đã khiến cho con người khác biệt nhau? Chính vì tâm con người không ai giống ai. Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, mỗi người đều có những kinh nghiệm của riêng mình, mà dù có thân thương đến đâu cũng không ai có thể chia sẻ hoàn toàn được. Như người ăn cay tự biết vị cay nóng trong miệng, kinh nghiệm của mỗi người với những tâm tư tình cảm cá nhân chỉ riêng người ấy cảm nhận được thôi. Từ cái Không hình tướng mà sinh ra cái Có hình tướng và cái Có hình tướng ấy lại biểu hiện cho cái Không hình tướng. Sắc chính là Không, và Không cũng chính là Sắc. Coi tướng không phải chỉ là coi bề ngoài của cái có hình tướng, mà còn phải thấy được cái không lộ ra hình tướng. Nhiều đào kép cứ nghĩ phải đi sửa tướng, bơm mặt, nâng mũi, đục cằm chẻ đôi, đục hai đồng tiền để lên sân khấu duyên dáng, nghề phát triển hơn là suy nghĩ sai lầm. Việc này khiến giới cải lương một thời bị lên án sử dụng dao kéo quá nhiều để làm giàu cho giới thẩm mỹ viện.

Theo ông, tất cả những cái lộ và không lộ ra tướng ấy đều biểu hiện Tâm của con người. Nó không thể sửa mà hết xui, sửa mà làm cho mình giàu lên, vận may ào ào tới. Có những điều không thể vẽ ra được nhưng có thể nhận thấy được qua phong thái, cung cách, ánh mắt hay giọng nói, qua nét mặt, cử chỉ mà người tây phương còn gọi là “body language” hay là ngôn ngữ của thân. Chính trong ngôn ngữ không lời ấy mà người ta biểu lộ tính khí thực sự của mình.

Vì vậy, coi tướng đúng nghĩa là dựa vào những gì bên ngoài mà nhìn thấy được cái bên trong của người khác và qua đó mà đoán được vận mệnh của người ấy, bởi vì vận mệnh con người không ở đâu khác hơn là do tâm tạo ra. Ông dẫn chứng một anh kép trẻ noi bước theo thần tượng, không học cái hay của thầy mà học toàn cái dở. Chẳng hạn như quá mê thụt bi da, mất sức thì lấy đâu mà ca vọng cổ hay, nên chỉ vài tháng là bị công chúng quay lưng. Hoặc một cô đào trẻ, thích đánh bài tứ sắc, đốt biết bao nhiêu tiền của vào chiếu bạc, nên nhan sắc không còn mặn mà, hát không còn thần thái.

Sắc khí thường hiển hiện rõ ràng nhất khi con người có sự thay đổi về sức khỏe, còn những sắc khí khác báo hiệu sự thay đổi trong công danh, tài lộc hay tai ách thì tế nhị hơn, phải có con mắt chuyên môn mới thấy được. Bộ mặt con người được coi như một lá số tử vi sinh động, trên đó có những vùng ứng vào các cung khác nhau, như cung Mệnh ứng vào khu vực ấn đường ở giữa hai lông mày, cung Tài bạch ứng vào mũi, cũng là cung Phu của nữ giới v.v… Nhưng cũng như tất cả những gì vô thường, vận mệnh cũng biến đổi khi tâm biến đổi và do đó những nhân duyên thay đổi theo. 

Ông Nguyễn Minh Triết – nguyên chủ tịch nước và NSND Diệp Lang thăm NSND Viễn Châu

Từ thiện qua ác, từ ác qua thiện và gập đủ nhân duyên sẽ kết thành những cơn gió nghiệp. Gió nghiệp không chỉ tác động lên một cá nhân mà còn có ảnh hưởng dây chuyền đến những người liên hệ. Nhất là với đào kép há! Vì đào kép chánh hát không hay, đoàn hát ế, anh em nghệ sĩ, công nhân hậu đài đói. Đạo đức đào kép hát suy đồi, ảnh hưởng đến đoàn hát. Có đợt một cặp đôi đào kép hát riết rồi ngoại tình, một bên cắm sừng chồng, một bên cằm sừng vợ, báo chí Sài Gòn phanh phui, gánh hát của họ đi tới đâu cũng bị khán giả tẩy chai, ném cà chua, trứng thối vào những băng rôn có in hình họ.

Tóm lại con người không ai là hiện hữu một mình và biệt lập. Trong tương quan chằng chịt giữa cá nhân và cá nhân, vận mệnh của những người chung quanh đều ảnh hưởng lên chúng ta, và ngược lại, vận mệnh của cá nhân ta cũng ảnh hưởng lên họ. Trong một gánh hát cũng thế, có xem ngàn quẻ bói hay, đọc ngàn bài thơ về vận mệnh để họ đi cho đúng hướng, nhưng họ sống phi đạo đức thì Tổ nghiệp cũng lấy lại nghề. Từ ảnh hưởng trực tiếp của gia đình, chúng ta chịu ảnh hưởng vận mệnh của xã hội, của quốc gia đang sinh sống. Ẩn tuổi Ngọ, năm nay có phi nước đại?

NSND soạn giả Viễn Châu đã có một vài nhận định về tuổi Ngọ: Những ai cầm tuổi con ngựa thường thích hướng ngoại và các hoạt đông xã hội. Thích đi đi du lịch để khám phá cho bản thân vì ngựa ghét bị bó buộc.

Tuy vậy, tính cách những ai ẩn tuổi này thường hiếu thắng, đôi khi bốc đồng khiến họ thường quyết định thiếu suy nghĩ. Chỉ có sự trải nghiệm theo thời gian họ sẽ suy nghĩ sâu sắc hơn.

Trong giới sân khấu cải lương trước đây có hai đào kép nổi danh ở hai Đại bang: Kim Chưởng có NSƯT Phương Quang, Hương Mùa Thu có NSƯT Ngọc Hương. Họ đều tuổi Ngọ, nổi tiếng và tiền của rất lớn khi đứng trên đỉnh vinh quang. Thế nhưng thời tuổi trẻ, họ cũng đã gặp không ít biến cố khiến sự nghiệp có lúc bị chựng lại. Và rồi chính bản lĩnh biết chiến thắng bản thân mình, họ biết vun đắp cho nghề. Để đến hôm na, danh tiếng của họ vẫn lẫy lừng. Do đó, chìa khóa hạnh phúc và thành đạt trong sự nghiệp của những ai tuổi Ngọ là học cách biết dừng lại đúng thời điểm, và ngược lại, biết khi nào nên “phi nước đại” để về đích.

Tuổi Ngọ còn là người có khả năng thích nghi cao. Dù môi trường công việc thay đổi liên tục, họ vẫn là những người thích ứng xuất sắc. Tuy nhiên, điểm tiêu cực của Ngựa là rất mau chán và thường có ý định thay đổi chỗ làm. Ngựa tượng trưng cho các đặc điểm như: sức mạnh, năng lượng và một cá tính cởi mở. Người tuổi Ngọ vô cùng sôi nổi và thường thích cuộc sống tiệc tùng. Họ thường thích được vui vẻ và luôn luôn tìm kiếm những điều thú vị. Về tình duyên, người tuổi Ngọ yêu mãnh liệt và hay ghen. Nếu biết kềm chế sẽ gặp đúng duyên và nhanh chóng nắm bắt cơ hội để được xây dựng hạnh phúc bên người mình yêu. 

Bài và ảnh: Thanh Hiệp 

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1533

THANH HIỆP : Xem bói đầu xuân cùng NSND Viễn Châu


 
ỦNG HỘ CÂY MÙA XUÂN NGHỆ SĨ TẾT 2014
GIÚP ĐỠ NGHỆ SĨ KHÓ KHĂN
TIN TỨC MỚI NHẤT
Ngày 13 tháng 4 năm 2013
Ấm áp Tết nghĩa tình
Ngày Tết lội bì bõm trên đường ngập nước,
Những Chuyện Tình Trên Đường Lưu Diễn
Những câu hò cua ghệ trên sông đầy nghệ thuật
Nghệ sĩ Xuân Lan: Mơ về sân khấu và hát cho thỏa lòng đam mê
Xem bói đầu xuân cùng NSND Viễn Châu
Nghe nghệ sĩ sân khấu kể chuyện ngày Tết!
Châu Kiệt: Cú đúp Huy chương Vàng giải Phụng Hoàng
Sàn diễn Sài Gòn tết Giáp Ngọ 2014
Lunar New Year – a summary of the biggest traditional holiday in Vietnam
TẾT ĐÁNG NHỚ – Trên đường lưu diễn của những danh cầm cải lương
Nghệ sĩ Phượng Liên Mỹ Châu- cặp đối thủ phản diện tối sáng hiếm hoi trên sân khấu
Cố soạn giả Ngọc Linh với một cấu trúc đẹp trong vở Muôn Dặm Vì Chồng
Gìn giữ quá khứ của cải lương
ẢNH NGHỆ SĨ 3
RANDOM SONGS
 GIỌT NẮNG PHÙ SA THÁNG 4 /2013 
casi Kiều Phượng Loan
 LÝ CHIỀU CHIỀU 2
casi Ngọc Giàu
 ĐỨC HUỆ CHÚT TÌNH QUÊ
casi Trọng Hữu
 MẸ DẠY CON
casi Lệ Thủy & Phượng Liên
 PHIM TÀI LIỆU VỀ CẢI LƯƠNG P.7 
casi
 TAM BAN ĐỔNG QUÝ PHI 
casi Năm Cần Thơ & Năm Nghĩa
 DẤU ẤN GIAO THỜI
casi Nhà Hát Trung Ương Việt Nam
 TIẾNG HÁT KIM TUYẾN
casi Kim Tuyến
 NGHỆ SĨ HÁT TAI MỸ
casi Thoại Mỹ – Thọai Miêu – Minh Vuơng- Ngọc Huơng – Linh Tâm – Diêu Hiền
 MÙA HOA TUYẾT
casi
ẢNH NGHỆ SĨ 4
SU KIEN
Nghệ sĩ Xuân Lan: Mơ về sân khấu và hát cho thỏa lòng đam mê
Minh Tâm-Tài Lương, chim liền cánh trên bầu trời Ba Lê
Chàng nhạc sĩ cổ nhạc trẻ họ Văn tên Bình
Nguyễn Minh Hải-Chàng trai đất Bắc mê cải lương.
Nghệ sĩ Xuân Lan niềm tự hào của khán giả trẻ
[Nh?ng b?n tin kh�c]
THÀNH VIÊN CŨ MỚI
 Khách: 004
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 004
 Hits 001642500
Xem bói đầu xuân cùng NSND Viễn Châu
01.02.2014 12:19
Xem hình
 

Đầu Xuân, đến thăm “Vua vọng cổ” Viễn Châu sẽ được nghe kể về tục xem bói. Khai bút đầu xuân là một nghi lễ bắt buộc trong ngày Tết đối với giới soạn giả nhưng năm nay, ông lại thích chiêm nghiệm, kể lại tục xem bói hơn.

“Tục lệ này được duy trì như một nét đẹp văn hóa truyền thống của giới nghệ sĩ. Sau lễ cúng giao thừa, họ tìm đến thầy tuồng để xin quẻ bói với những chữ có ý nghĩa viết lên giấy đỏ hoặc giấy hoa tiên nhằm nhắc phải biết giữ mình, giữ nghề như giữ một viên ngọc quý”- NSND Viễn Châu bắt đầu kể

Từ “Khai bút đầu Xuân” đến xem bói

Theo NSND Viễn Châu, ngày nay tục “Khai bút đầu xuân” đã có nhiều thay đổi, nó không còn phổ biến và mang đậm ý nghĩa như xưa. Tuy nhiên, với nhiều gia đình, nhiều giới đặc biệt là học sinh, văn sĩ, người làm nghề viết lách… phong tục này vẫn được xem trọng.

Ông nhấn mạnh: “Vì ngoài những giá trị chân thiện mỹ, việc Khai bút đầu xuân còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Không chỉ tượng trưng cho sự khởi đầu một sự nghiệp, sự học mà còn gửi gắm rất nhiều tâm tư, nguyện vọng về một năm mới suôn sẻ, hạnh phúc và thành đạt”.

NSND Viễn Châu kể thời trẻ ông viết sung sức. Ngoài sáng tác kịch bản, bài ca cổ, ông còn tham gia viết báo, đưa ra những nhận định về một vở diễn, vai diễn và chân dung nghệ sĩ. Tết đến, các chủ bút thậm chí cho người thư ký đến chầu trực tại nhà để nhận bài báo Xuân cho kịp tiến độ. Mực chưa ráo trên bản thảo đã được các anh thư ký cầm chạy thật nhanh về tòa soạn để kịp lên khuôn. Trong vô số những bài báo Xuân thời đó, những bài xem bói cho nghệ sĩ được độc giả thích thú nhất.

Ban đầu chỉ là những bài báo Xuân mang tính chất vui vui, đi vào những nhận định chung chung nhưng rồi sau đó phong trào xem bói đầu Xuân cho nghệ sĩ, cho sàn diễn biến thành thông lệ. Tết đến các đoàn hát, đào kép nô nức coi bói, xem vận số mình năm nay ra sao.

“Thời đó, đền chùa đông nghẹt những người, vừa cầu nguyện, vừa xin xâm, xin quẻ để đoán biết tương lai. Âu đây cũng là một phong tục dễ thương của người dân Việt Nam chúng ta nói chung và giới nghệ sĩ nói riêng”-NSND Viễn Châu nhận xét.

NSND Viễn Châu cùng NSND Ngọc Giàu, NSND Bạch Tuyết và NSND Lệ Thủy xem bói đầu Xuân

Ông kể tiếp rằng nhắc chuyện xem bói nhớ ngay nghệ sĩ Thành Được. Tết năm đó, ông viết trong bài xem bói đầu năm rằng: “Qua xuân biến cố lại về, gặp ngay phiền phức để chừa thói quen”. Đúng như rằng, nghệ sĩ Thành Được dính đến chuyện vi phạm hợp đồng, phải đền bởi thói quen: “diễn quá hăng say”, đập nhiều ly sành trên sàn diễn, bà bầu bắt đền vì tội “cố ý làm hư hại tài sản của gánh hát”. Rồi tiếp sau đó nghệ sĩ này bị tạm giam vì những biến cố riêng trong đời, khiến “sầu nữ” Út Bạch Lan ngày ngày xách cơm nuôi chồng.

Với chàng kép Tài Bửu Tân, ông viết: “Tài hoa một kiếp phong trần, mấy ai hiểu đặng tấm lòng thủy chung. Số Tài, lót Bửu, tên Tân, lên nhanh, xuống lẹ bởi tránh xa thần đèn”. “Anh kép này nổi danh bởi giọng ca trấm ấm, có cách vào vọng cổ rất điêu luyện, chỉ qua mấy bài ca cổ được Hãng dĩa Việt Nam của cô Sáu Liên phát hành đã nổi tiếng ngất trời, nhưng vì vướng vào hút chích cần sa mà tiêu tan sự nghiệp”- NSND Viễn Châu cảm thán.

NSND Viễn Châu và NSƯT Thành Lộc

“Vua vọng cổ” nổi danh này còn cho biết thuở trước nếu trong những ngày đầu của tháng giêng âm lịch mà đi xem bói ở Việt Nam, sẽ thấy phòng khách của họ la liệt người ngồi đợi, chẳng khác gì một phòng mạch ở bệnh viện. Chính quyền địa phương dẹp bỏ rất nhiều ổ “mê tín dị đoan” nhưng phong trào coi bói lại có vẻ lên mạnh khi mà người ta cứ tin vào những phán đoán có phần hơi chủ quan, hoặc những lời động viên, an ủi để tự tin trong cuộc sống vốn dự báo sẽ có nhiều khó khăn trong năm tuổi.

Còn với giới nghệ sĩ, họ tin vì những bài thơ bói của ông và một số soạn giả có lẽ vì phần nào nhắc nhở, cảnh tỉnh họ cẩn trọng hơn. “Nhưng tôi tuyệt đối lên án việc đào kép quá tin tưởng ở số mệnh đến nỗi xem thầy bói như những “quân sư” và đặt mọi quyết định trên những lời đoán của các vị này. Nếu muốn tự mình tìm hiểu khoa bói toán, cũng có rất nhiều sách vở để nghiên cứu. Nào là “Số mệnh trong lòng bàn tay” để dạy coi chỉ tay, hay những sách dạy bói bài… Xem tử vi thì có Tử vi đẩu số, Tử vi hàm số, xem tướng thì Nhân tướng học, Ma Y Thần tướng…”- NSND Viễn Châu nói.

Xem tử vi ngày Tết tưởng dễ nhưng lại khó vô cùng, vì chỉ theo đồ biểu mà ai cũng có thể vẽ ra một lá số tử vi được, nhưng cách giải những sao, với vị trí, âm dương ngũ hành và ảnh hưởng của sao nọ lên sao kia, phải có nhiều kiến thức và kinh nghiệm cần học hỏi nơi những người thông thạo, như tất cả các môn học đều phải có thầy chỉ dẫn.

Và cũng như tất cả các môn học, muốn quán triệt môn nào cũng phải có một năng khiếu nào đó, một sự thích hợp của riêng mình mới được. Nói chung, lý thuyết là một chuyện, nhưng khi thực hành thì phải có sự lượng định, nhận xét uyển chuyển của riêng bản thân người nhận được lời giải đáp.

“Tướng tùy tâm sinh, tướng tùy tâm diệt” “Tử vi khác bói toán vì là một bộ môn khoa học, nên dựa trên những yếu tố thuần lý để đoán biết vận số của con người, mà cuộc đời con người không chỉ dựa trên những gì có thể kiểm chứng được mà còn chịu sự chi phối bởi những yếu tố không thể đo lường được” – “Vua vọng cổ” Viễn Châu nhận định.

Bởi theo ông, đời người tuân theo luật nhân quả. Cung phúc đức của mỗi người không chỉ dựa trên phúc đức được hưởng từ cha mẹ, mà còn do mình tự tạo ra, hay nói đúng hơn là tùy theo “nghiệp” của mỗi người, nên không thể nào là một yếu tố bất biến. Do đó, dù có tính khoa học như tử vi, hay do sự sắp xếp của quẻ mà lý đoán như bói bài, bói dịch, sự giải đoán cũng chỉ là tương đối.

NSND Viễn Châu trên sàn tập vở Tình mẫu tử với NSND Ngọc Giàu, Hồng Tơ

Một lá số hay một quẻ số thường chỉ đưa ra một cái khung, một chỉ dấu để nương vào đó mà giải đoán, có thể áp dụng cho bất cứ ai cũng được. Nhưng số mệnh của mỗi người không ai giống ai, và nét đặc thù của riêng mỗi người chỉ có thể thấy được nơi đường chỉ tay và tướng mạo. Ông nhấn mạnh: “Trong sách tướng, có một câu thật thâm thuý khiến ta phải suy nghĩ, cũng là cốt yếu của thuật coi tướng, đó là: Tâm con người không chỉ ẩn tàng, mà còn luôn luôn hiển hiện ra nơi hình tướng bên ngoài. “Tướng tùy tâm sinh, tướng tùy tâm diệt”. Và lý giải rằng, trên thế giới này có bao nhiêu tỉ người, nhưng không có ai giống ai cả, kể cả những người song sinh cũng không thể hoàn toàn giống nhau được. Cái gì đã khiến cho con người khác biệt nhau? Chính vì tâm con người không ai giống ai. Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, mỗi người đều có những kinh nghiệm của riêng mình, mà dù có thân thương đến đâu cũng không ai có thể chia sẻ hoàn toàn được. Như người ăn cay tự biết vị cay nóng trong miệng, kinh nghiệm của mỗi người với những tâm tư tình cảm cá nhân chỉ riêng người ấy cảm nhận được thôi. Từ cái Không hình tướng mà sinh ra cái Có hình tướng và cái Có hình tướng ấy lại biểu hiện cho cái Không hình tướng. Sắc chính là Không, và Không cũng chính là Sắc. Coi tướng không phải chỉ là coi bề ngoài của cái có hình tướng, mà còn phải thấy được cái không lộ ra hình tướng. Nhiều đào kép cứ nghĩ phải đi sửa tướng, bơm mặt, nâng mũi, đục cằm chẻ đôi, đục hai đồng tiền để lên sân khấu duyên dáng, nghề phát triển hơn là suy nghĩ sai lầm. Việc này khiến giới cải lương một thời bị lên án sử dụng dao kéo quá nhiều để làm giàu cho giới thẩm mỹ viện.

Theo ông, tất cả những cái lộ và không lộ ra tướng ấy đều biểu hiện Tâm của con người. Nó không thể sửa mà hết xui, sửa mà làm cho mình giàu lên, vận may ào ào tới. Có những điều không thể vẽ ra được nhưng có thể nhận thấy được qua phong thái, cung cách, ánh mắt hay giọng nói, qua nét mặt, cử chỉ mà người tây phương còn gọi là “body language” hay là ngôn ngữ của thân. Chính trong ngôn ngữ không lời ấy mà người ta biểu lộ tính khí thực sự của mình.

Vì vậy, coi tướng đúng nghĩa là dựa vào những gì bên ngoài mà nhìn thấy được cái bên trong của người khác và qua đó mà đoán được vận mệnh của người ấy, bởi vì vận mệnh con người không ở đâu khác hơn là do tâm tạo ra. Ông dẫn chứng một anh kép trẻ noi bước theo thần tượng, không học cái hay của thầy mà học toàn cái dở. Chẳng hạn như quá mê thụt bi da, mất sức thì lấy đâu mà ca vọng cổ hay, nên chỉ vài tháng là bị công chúng quay lưng. Hoặc một cô đào trẻ, thích đánh bài tứ sắc, đốt biết bao nhiêu tiền của vào chiếu bạc, nên nhan sắc không còn mặn mà, hát không còn thần thái.

Sắc khí thường hiển hiện rõ ràng nhất khi con người có sự thay đổi về sức khỏe, còn những sắc khí khác báo hiệu sự thay đổi trong công danh, tài lộc hay tai ách thì tế nhị hơn, phải có con mắt chuyên môn mới thấy được. Bộ mặt con người được coi như một lá số tử vi sinh động, trên đó có những vùng ứng vào các cung khác nhau, như cung Mệnh ứng vào khu vực ấn đường ở giữa hai lông mày, cung Tài bạch ứng vào mũi, cũng là cung Phu của nữ giới v.v… Nhưng cũng như tất cả những gì vô thường, vận mệnh cũng biến đổi khi tâm biến đổi và do đó những nhân duyên thay đổi theo. 

Ông Nguyễn Minh Triết – nguyên chủ tịch nước và NSND Diệp Lang thăm NSND Viễn Châu

Từ thiện qua ác, từ ác qua thiện và gập đủ nhân duyên sẽ kết thành những cơn gió nghiệp. Gió nghiệp không chỉ tác động lên một cá nhân mà còn có ảnh hưởng dây chuyền đến những người liên hệ. Nhất là với đào kép há! Vì đào kép chánh hát không hay, đoàn hát ế, anh em nghệ sĩ, công nhân hậu đài đói. Đạo đức đào kép hát suy đồi, ảnh hưởng đến đoàn hát. Có đợt một cặp đôi đào kép hát riết rồi ngoại tình, một bên cắm sừng chồng, một bên cằm sừng vợ, báo chí Sài Gòn phanh phui, gánh hát của họ đi tới đâu cũng bị khán giả tẩy chai, ném cà chua, trứng thối vào những băng rôn có in hình họ.

Tóm lại con người không ai là hiện hữu một mình và biệt lập. Trong tương quan chằng chịt giữa cá nhân và cá nhân, vận mệnh của những người chung quanh đều ảnh hưởng lên chúng ta, và ngược lại, vận mệnh của cá nhân ta cũng ảnh hưởng lên họ. Trong một gánh hát cũng thế, có xem ngàn quẻ bói hay, đọc ngàn bài thơ về vận mệnh để họ đi cho đúng hướng, nhưng họ sống phi đạo đức thì Tổ nghiệp cũng lấy lại nghề. Từ ảnh hưởng trực tiếp của gia đình, chúng ta chịu ảnh hưởng vận mệnh của xã hội, của quốc gia đang sinh sống. Ẩn tuổi Ngọ, năm nay có phi nước đại?

NSND soạn giả Viễn Châu đã có một vài nhận định về tuổi Ngọ: Những ai cầm tuổi con ngựa thường thích hướng ngoại và các hoạt đông xã hội. Thích đi đi du lịch để khám phá cho bản thân vì ngựa ghét bị bó buộc.

Tuy vậy, tính cách những ai ẩn tuổi này thường hiếu thắng, đôi khi bốc đồng khiến họ thường quyết định thiếu suy nghĩ. Chỉ có sự trải nghiệm theo thời gian họ sẽ suy nghĩ sâu sắc hơn.

Trong giới sân khấu cải lương trước đây có hai đào kép nổi danh ở hai Đại bang: Kim Chưởng có NSƯT Phương Quang, Hương Mùa Thu có NSƯT Ngọc Hương. Họ đều tuổi Ngọ, nổi tiếng và tiền của rất lớn khi đứng trên đỉnh vinh quang. Thế nhưng thời tuổi trẻ, họ cũng đã gặp không ít biến cố khiến sự nghiệp có lúc bị chựng lại. Và rồi chính bản lĩnh biết chiến thắng bản thân mình, họ biết vun đắp cho nghề. Để đến hôm na, danh tiếng của họ vẫn lẫy lừng. Do đó, chìa khóa hạnh phúc và thành đạt trong sự nghiệp của những ai tuổi Ngọ là học cách biết dừng lại đúng thời điểm, và ngược lại, biết khi nào nên “phi nước đại” để về đích.

Tuổi Ngọ còn là người có khả năng thích nghi cao. Dù môi trường công việc thay đổi liên tục, họ vẫn là những người thích ứng xuất sắc. Tuy nhiên, điểm tiêu cực của Ngựa là rất mau chán và thường có ý định thay đổi chỗ làm. Ngựa tượng trưng cho các đặc điểm như: sức mạnh, năng lượng và một cá tính cởi mở. Người tuổi Ngọ vô cùng sôi nổi và thường thích cuộc sống tiệc tùng. Họ thường thích được vui vẻ và luôn luôn tìm kiếm những điều thú vị. Về tình duyên, người tuổi Ngọ yêu mãnh liệt và hay ghen. Nếu biết kềm chế sẽ gặp đúng duyên và nhanh chóng nắm bắt cơ hội để được xây dựng hạnh phúc bên người mình yêu. 

Bài và ảnh: Thanh Hiệp 

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1533

THOTNOT – CLVN : THƯƠNG HOÀI CÂU VỌNG CỔ


THƯƠNG HOÀI CÂU VỌNG CỔ
08.12.2013 11:28
Xem hình
 

CLVNCOM -“Từ là từ phu tuớng,
Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Ðêm năm canh mơ màng.
Em luống trông tin chàng,
Ôi, gan vàng quặn đau.
Ðuờng dầu xa ong buớm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Còn đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.

 

Vọng phu vọng, luống trông tin chàng, 
Lòng xin chớ phụ phàng. 
Chàng hỡi chàng có hay, 
Ðêm thiếp nằm luống những sầu tây. 
Biết bao thuở đó đây xum vầy, 
Duyên sắt cầm đừng lạt phai. 
Thiếp cung nguyện cho chàng, 
Nguyện cho chàng hai chữ bình an. 
Mau trở lại gia đàng, 
Cho én nhạn hiệp đôi.” 

Ðó là biên bản lời nguyên thủy cùa bài (Ðêm nghe tiếng trống nhớ chồng) của ông Cao Văn Lầu (1892-1976) tức Sáu Lầu, bài hát tiền thân của bản Vọng Cổ ngày nay. 

Tuy cải lương tuy đã có trước khi bài Vọng Cổ ra đời nhưng nhờ bài hát nầy mà nó đã biến thể, thu hút giới thưởng ngoạn nhanh chóng và đông đảo hơn. Một tuồng cải lương, về kỷ thuật, là một tổng hợp của nhiều bài bản cổ nhạc dựa theo nội dung cốt truyện. Tuy nhiên, dù vở tuồng thuộc bất cứ thể loại nào: bi thảm, hài hước, xã hội, dã sử hay hương xa, nó đều phải có ít nhất một bài Vọng Cổ ở mỗi màn. Bắt buộc không thể thiếu. Nếu do đào kép nổi tiếng thủ diễn thì họ phải hát Vọng Cổ vài lần (thường là lúc chia tay và khi tái ngộ). Thật cũng không ngoa nếu nói cải lương nhờ Vọng Cổ mà đi sâu vào dân chúng, từ giai cấp trí thức đến tầng lớp bình dân, và Vọng Cổ cũng nhờ cải lương mà có một địa vị bất tử trong lòng người dân từ Bắc vô Nam. 

Cổ nhạc Nam phần có rất nhiều bài bản: Xàng Xê, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Nam Xuân, Sương Chiều, Tú Anh, v.v. nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bài Vọng Cổ. Về sau chữ Vọng Cổ gần như đồng hóa và thay thế cho chữ Cổ nhạc Nam phần. “Nghe Vọng Cổ,” “ca Vọng Cổ,” “Làm vài câu Vọng Cổ nghe chơi!” trở thành ngôn ngữ thông dụng cho cách thưởng thức một bộ môn nghệ thuật đại chúng của dân miền Nam. Tuy nói là “nghe chơi” nhưng phải nhìn khán giả miền Nam khi họ nghe ca Vọng Cổ, dù ở các đám tiệc, buổi đờn tài tử hay trong rạp hát, mới thấy sự trân trọng của họ đối với bài hát và người trình diễn. Không ai bảo ai, tất cả đều im lặng khi câu rao bắt đầu. Họ chờ đợi nhưng cổ võ người nghệ sĩ trong im lặng, háo hức. Người hát cũng đáp lễ bằng để hết tâm hồn vào câu ca vì một câu ca vô hồn sẽ hiện rõ không thể dấu diếm, và đó là điều khinh thường người thưởng ngoạn. Câu xề vừa xuống là tiếng vỗ tay vang rền, từ em bé được cha mẹ dẫn đi xem hát lần đầu đến cụ bà hom hem ngồi bên đứa cháu, từ ông bà sang trọng ngồi ở hàng ghế thượng hạng gần sân khấu cho đến người đàn bà nhà quê ngồi cuối rạp ở hạng cá kèo. Tất cả đều vỗ tay. Tất cả đều bình đẳng. Không kẻ lớn người nhỏ, không kẻ giàu người nghèo. Chỉ có người thưởng thức một bài hát hay. 

Sau hơn 80 năm bài Vọng Cổ vẫn là vị hoàng đế không ngai của âm nhạc miền Nam. Trong một buổi trình diễn cổ nhạc Nam phần, dù là nguyên trọn hay trích đoạn vỡ hát cải lương hoặc đờn ca tài tử, bài Vọng Cổ luôn luôn có mặt và luôn luôn là bài hát chánh. Bài Vọng Cổ là một bài hát đặt biệt của miền Nam, không thể lầm lẫn. Nó là biểu tượng đặc biệt của dân miền Nam. Không to lớn dữ dội như sông Hồng, không thơ mộng, văn vẽ như sông Hương nhưng như giòng Cửu Long với nhánh sông Tiền, sông Hậu chảy thấm vào đất đai, bồi bổ đồng ruộng, chảy thấm vào lòng người lúc nào không biết. Bản Vọng Cổ thấm vào tâm hồn mộc mạc, chất phác của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả miền Nam nói chung. Nhập vào từ lúc còn ngậm bầu vú mẹ, nhập vào từ lúc chập chửng bước đi cho mãi đến khi đặt chân vào cuộc đời đầy tranh đua, phiền toái. 

Có phải ông Sáu Lầu là người đã đặt ra bài Dạ cổ hoài lang? Theo truyền thuyết, ông Sáu Lầu cưới vợ đã lâu, gia đình đầm ấm nhưng không có được một mụn con. Cha mẹ ông buộc ông phải cưới vợ khác để ông bà có cháu nối dõi tông đường. Ông Sáu buồn rầu, không biết xử sao cho vẹn cả đôi bên hiếu và tình. Sống xa người vợ thương yêu nhưng nào đâu quên bỏ được. Tuy xa mặt nhưng lòng không cách, tình yêu càng làm nỗi nhớ thương tăng thêm dào dạt. Lòng tâm sự của người chồng gởi cả vào bản nhạc mới được đặt ra, đó chính là bài Dạ cổ hoài lang bất hủ. Tuy bị cấm cản, ông vẫn lén lút lui tới với vợ. Sau đó bà có mang, vợ chồng lại xum họp. 

Sở dĩ tôi chỉ gọi là bản nhạc mà không gọi là bài ca hay bài hát vì hiện nay có một số nghi vấn về lời của bài Dạ cổ hoài lang. Có những người cho rằng lời bài hát do ông Trần Xuân Thơ đặt ra, hay do một nhóm tài tử Sài Gòn đặt ra. Có người lại xác định là ông Sáu Lầu đã sáng tác cả nhạc lẫn lời. Dù sao đi nữa mọi người đều đồng ý là ông Sáu Lầu là cha đẻ của bài nhạc vô địch đó. Bài Dạ cổ hoài lang sau chuyển thành Vọng Cổ hoài lang (Trông tình xưa nhớ đến chồng) và cuối cùng là Vọng Cổ như ta biết ngày nay. 

Theo cá nhân tôi, nếu truyền thuyết về hoàn cảnh sáng tác của ông Sáu Lầu là đúng thì có lẽ ông chỉ đặt ra bài nhạc, còn lời ca là của một nguồn gốc khác chưa được xác định chắc chắn. Tại sao? Đọc lời ca của bài Dạ cổ hoài lang ta thấy rõ ràng đó là lời than thở nhớ thương của một người vợ có chồng đi chinh chiến nơi phương xa. Nàng mong chồng bình an trong chiến trận, nhớ lời ước hẹn, tình nghĩa phu thê mà sớm quay về gia trung. Đây không phải là lời thương yêu ai oán của một người chồng, vì hoàn cảnh, đang phải sống xa lìa người vợ thủy chung. Dù có ngụy trang thế nào đi nữa, ông Sáu Lầu cũng không thể đặt ra lời cho một người đàn bà nhớ chồng để gởi gắm tâm sự nhớ vợ của ông. Rất phản tự nhiên. Văn chương của lời ca cũng tương hợp với các loại truyện thơ như Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương của đất Nam Bộ thời ấy hoặc các truyện Tàu như Tam quốc chí, Nhạc Phi, Thuyết Đường do ông Nguyễn Chánh Sắc dịch. Ngoài ra, tất cả các bản nhạc xưa đều được sáng tác nguyên thủy cho nhạc khí, không lời hát và có lẽ nhờ đó mà chúng đuợc phổ biến rộng rải và lưu truyền cho đến ngày nay. Chúng không bị bó buộc tình cảm để chỉ được trình diễn hay thưởng thức trong một hoàn cảnh nhất định như các bài hát có lời. 

Bài Vọng Cổ có một nét đặc biệt mà gần như không một bài hát nào khác được thừa hưởng. Đó là tính đa dạng, biến thái của bài hát theo lời ca . Cũng cùng điệu nhạc, điệu đàn nhưng bài Vọng Cổ thay đổi hẳn bản chất tùy theo lời đặt ra. Buồn thương sầu thảm như Lan và Điệp, Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài. Não nề ai oán như Sầu vương ý nhạc, Hạng Võ biệt Ngu Cơ. Khuyên dạy êm đềm như Tu là cội phúc, Nỗi mừng ngày cưới. Kể truyện tích xưa như Đội gạo đường xa, Lưu Bình Dương Lễ. Vui đùa, dí dỏm như Tư Ếch đi Sài Gòn, Tựa tuồng sân khấu. Không thể dùng Lý con sáo để nói những lời hý lộng mà chỉ có thể than thở như cô Lan trong Tình Lan và Điệp của soạn giả Viễn Châu (đừng lầm với bài Lan và Điệp cũng của ông Viễn Châu): 

“Hoa bay theo gió cuốn rụng đầy sân rêu, 
Nhìn hoa tàn rụng rơi, Lan bâng khuâng tê tái tâm hồn 
Bởi bao cay đắng dập dồn, 
Tình đầu vừa tan theo khói sương, 
Lan khóc than trong tháng năm sầu thương. 
Mùi thiền đành quen câu muối dưa, 
Mong lãng quên khổ đau ngày xưa.” 

Bản Vọng Cổ ca đủ 6 câu phải mất khoảng 6 phút, gần gấp đôi một bản tân nhạc, có thể kể đầy đủ một câu truyện, một sự tích. Vì vậy Vọng Cổ là một phương tiện rất tốt để truyền bá kiến thức văn hóa cho đại chúng nhất là với tầng lớp dân quê ít học. Đất rộng, người thưa. Vất vả, cô đơn là những nỗi khó khăn mà lớp người tiền phong xuôi Nam khai phá đất đai, mở mang xứ sở phải chịu đựng: 

“Má ơi, đừng gả con xa 
Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu” 

Nhờ Vọng Cổ mà người bình dân miền Nam biết được các tích truyện đầy luân lý như Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Thạch Sanh Lý Thông, Tử Lộ v.v. hay những điển tích truyện Tàu như Triệu Tử Long triệt giang, Đơn Hùng Tín, Đắc Kỷ Trụ Vương, Lữ Bố hí Điêu Thuyền, Chung Vô Diệm. Không có lối giáo dục nào hay hơn. Trước là truyện thơ, sau là Vọng Cổ đã tạo cho người miền Nam một nếp sống và nhân sinh quan khác hơn dân các miền khác. Tinh thần phóng khoáng của những bậc tiền bối đi trước đã được các tích Cậu Hai Miêng, Đào Viên kết nghĩa, Đơn Hùng Tín, v.v. vung bồi, như phù sa làm phì nhiêu thêm đất vườn vùng đồng bằng sông Cửu, và truyền dạy đến lớp hậu sinh ngày nay. Nó tạo ra những phong cách “tứ hải giai huynh đệ”, “anh hùng tử, khí hùng bất tử” mà đến nay người miền Nam vẫn còn tự hào. 

Rảo bước vào các làng quê miền Nam, người khách lạ luôn luôn nghe tiếng ca Vọng Cổ văng vẳng vọng ra từ một ngôi nhà nào đó trong xóm. Có thể là giọng ca của Minh Cảnh, Lệ Thủy, hay Hữu Phước, Ngọc Giàu. Có thể là bài Vọng Cổ xưa như Người mẹ mùa ly loạn, Gánh nước đêm trăng, có thể là một tân cổ giao duyên như Chàng là ai, có thể là giọng ca hài hước của Văn Hường trong Vợ tôi tôi sợ. Nhưng âm vang của bài Vọng Cổ luôn luôn ôm ấp, quấn quít tâm hồn người dân hiền lành, mộc mạc từ mấy mươi năm trước cho đến bây giờ. Và sẽ còn mãi về sau, thương hoài câu Vọng Cổ. 

thotnot – CLVN

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1414

Tin như sét đánh: Nghệ sĩ Đức Minh đã ra đi mãi mãi…


Tin như sét đánh: Nghệ sĩ Đức Minh đã ra đi mãi mãi…
15.01.2014 03:14
Xem hình
 

CLVNCOM – Tổ nghiệp ơi! sao cho con hoá thân Dương Như Ngọc
Mà quặng thắt lòng khóc biệt đức phu quân
Tổ Nghiệp ơi, sao cho con là thư nữ Cẩm Loan
Mà có thể nhìn chàng ra đi mãi mãi.
Cao Sanh ơi! sao người không mang con luôn theo với
Đừng để mình con cô độc giữa hồng trần.
Xin mượn những vai tuồng của đôi bạn diễn và cũng là đôi bạn đời Đức Minh-Mỹ Châu để thông cảm, hiểu và chia xẻ phần nào nổi đau của nghệ sĩ Mỹ Châu.

 

Nhiều khán giả thường tâm sự trên các phượng tiện truyền thông rắng vào những lúc có tâm trạng buồn lại thích tìm nghe những bài hát của nghệ sĩ Mỹ Châu, vậy từ nay trở đi, cô Mỹ Châu ơi, nếu Cô có buồn thì hãy hát nha cô, hát bài hát nào làm cho lòng mình bình thản, hát cho đẹp lòng người nằm xuống và hát cho những khán giả còn thương yêu mình. Cuộc sống có những thứ không ai có thể dùng tiền mua hay quyết định được, thôi thì hãy nhìn và luôn nhớ lại những món quà mà ơn trên, tổ nghiệp đã ban cho Cô nói riêng và cho nghệ thuật cải lương nói chung để lấy làm tự hào và làm hành trang mang theo cho hết quảng đời còn lại.

Image
Cố ns Phùng Ha(trái), mẹ ns Đức Minh, ns Đức Minh và Mỹ Châu năm 1990

Cái tin nghệ sĩ Đức Minh tức Lê Văn Nhuận sinh năm 1952-người con Cồn Phụng-Bến Tre qua đời vào lúc 2 giờ sáng ngày 14-01-2014 tại tư gia bang ATLANTA, GEORGIA – USA như “tin sét đánh ngang tai”. Theo mguồn tin thân cận vừa nhận được thì “nghệ sĩ Đức Minh tuy đang bịnh ,có lúc ngủ vùi, có lúc hôn mê nhưng khoảng 2 giờ sáng địa phương thì Đức Minh tỉnh giấc và nhắc nghệ sĩ(NS) Mỹ Châu nhớ gửi quà cho NS ĐP, NS Mỹ Châu chiều ý chồng nên bắt phone gọi điện thoại dặn dò người nhà – khi nói chuyện điện thoại xong quay lại nhìn thấy NS Đức Minh như đang ngủ nhưng linh tính như báo điềm gì…. NS Đức Minh ra đi rất thanh thản, nhìn như đang ngủ , như vậy ước nguyện của ông trước nay đã toại nguyên, ra đi nhẹ nhàng không chút đau đớn. Nghệ sĩ Đức Minh ra đi bên cạnh vợ con, cháu và người thân.”

Vậy đó khi ra đi nghệ sĩ Đức Minh cũng còn lo cho mọi người xung quanh khốn khó hơn mình. Dù là chồng của một tài danh và bản thân ông cũng là nghệ sĩ tài hoa, cuộc sống gia đình cũng bôn ba lận đận nhưng chưa hề có một xì can đan nào. Soạn giả lão thành Nguyễn Phương từng cho biết “Nghệ sĩ Đức Minh tên thật là Lê Văn Nhuận, sanh năm 1952 ở Châu Thành tỉnh Bến Tre. Lúc học cấp 2 em Lê Văn Nhuận buổi sáng đi học, buổi chiều phụ gia đình đưa đò cho khách qua sông, những đêm trăng sáng em Nhuận ca nghêu ngao các bài vọng cổ học được trên dĩa hát. Giọng ca trong sáng, cao vút, thu hút sự thưởng thức của khách sang sông và một vài nhà sư đang tu tại Chùa Ông Đạo Dừa ở Cồn Phụng. Trong số các tu sĩ đó có một nhạc sĩ cổ nhạc trước kia đi đờn cho gánh hát, ông chán thế sự mới vào chùa quy y. Thấy em Nhuận có giọng ca quyến rũ nhưng chưa rành nhịp điệu, ông sư bèn dạy cho em Nhuận căn bản cách ca vọng cổ và nhiều bài cổ nhạc khác. Em Nhuận ngày càng ca điêu luyện nhưng em chưa có ý muốn theo đoàn hát.

Sau Tết Mậu Thân, gia đình em Nhuận bị chiến nạn, ảnh hưởng đến kinh tế, đời sống, nên em Nhuận xin cha mẹ cho em đi theo đoàn hát để đở gánh nặng cho gia đình. Thấy Nhuận có giọng tốt, có thể thành công trên con đường nghệ thuật nên cha mẹ bằng lòng. Em Nhuận theo một đoàn hát nhỏ của tỉnh, hát loanh quanh trong các làng xã, sau đó lên Saigon đăng ký học ca với nhạc sĩ Văn Vĩ. Sau vài tháng học ca, em Nhuận và cô bạn cùng học lò Văn Vĩ là nữ nghệ sĩ Trang Mỹ Hường gia nhập đoàn hát Trúc Giang của ông bầu Năm Sơn.

Em Nhuận đẹp trai, nước da trắng mịn, vóc dáng lý tưởng cho sân khấu, giọng ca ngọt ngào và làn hơi rất khoẻ nên ông bầu Năm Sơn giao đóng vai kép nhì và đặt cho nghệ danh là Đức Minh.”

Image
Sinh nhật ns Mỹ Châu 2010

Nhắc về ông, khán giả sẽ nhớ một kép nam tính, cao to, đẹp trai với mái tóc bồng bềnh nhưng có một gương mặt hiền lành, một nghệ sĩ có đời sống sinh hoạt cộng đồng rộng mở, ông từng là cầu thủ của đội bóng đá nghệ sĩ Thành Phố đi đá giao lưu với nhiều đội thuộc mọi ngành nghề trong xã hội. Nhiều khán giả cho ông là Michel Platini-một danh thủ nổi tiếng cùa Pháp vàp thập niên 80 do hình dáng và mái tóc của ông. Về gia đình thì ông rất quan tâm với vợ con, sống một cuộc sống hiền lành, ông có tài nấu ăn và nấu ăn rất ngon, ông có tài ăn nói khôi hài, cảm nhận cuộc sống rất sâu sắc do thói quen thường xuyên xem sách báo hằng ngày, truyền hình và quan sát cuộc sống xung quanh..

Image

Là thế hệ con cháu, lớp trẻ không thề nào biết hết được những vỡ tuồng mà ông tham gia biểu diển nhưng khán giả trè thích cải lương hay khán giả thời của ông không thể nào quên vai Trung Uý Ngọc sang cả, phải tướng giữa chốn thị thành thời chiến tranh mà tâm hồn ngây thơ của làng quê Đại Ngãi. Nhớ tuớng cao ráo, gương mặt đẹp nam tính hiếm có, giọng ca chân phương, cao vút, thanh tao nên ông luôn có ưu thế trong các vai quan,tướng ..dù là quan nịnh thần hay trung thần, quan hiền, quan dữ , thậm chí các vai chánh diện hay phản diện ông điều thành công. Một trong vai để đời của ông là vai Ngô Quyền trong vở ” Hoa Độc Trong Vườn” của tác giả Lê Duy Hanh, ông cùng vợ là nghệ sĩ Mỹ Châu tạo nên nhiều bức tranh đẹp về dáng, vũ đạo…làm đẹp nhãn quan người xem dù vở tuồng được dựng lại hơn hai mươi năm sau. Ông diễn bên cạnh tài danh nghệ sĩ Mỹ Châu mà không hề thấy có khoảng cách về ca diễn trong tuồng thuộc sở trường của nghệ sĩ Mỹ Châu. Sau thời cải lương xuống dốc, ông dường như chỉ hát chung với vợ mình và cùng nhiều nghệ sĩ trẻ thế hệ sau,cũng như một số đồng nghiệp tâm hữu cùng thời thế hệ vàng của mình.Ông để lại gần trên 50 vở tuồng hay và một số bài tân cổ giao duyên có giá trị, trong đó có bài ” Em sẽ về đâu” nói về cuộc đời của em gái mù bán vé số được nhiều bạn trẻ hưởng ứng chọn làm bài ca trong mỗi lần sinh hoạt đàn ca tài tử…Rời sân khấu, Đức Minh lại bén duyên với điện ảnh. Ông đã đóng chánh và thứ trên 20 phim truyện, phim truyền hình cùng rất nhiều phim video cải lương.

Image

Cháu xin điểm lại vài tuồng và dấu ấn có chú tham gia như một lời tưởng nhớ.

*Nghệ sĩ Đức Minh đoạt huy chương vàng Hội diễn Sân Khấu Cải Lương năm 1985 vở Dốc Sương Mù

* Các tuồng tham gia

1)A khắc Thiên kiều
2)Ào Vọng(HTV7)
3)Còn mải mùa xuân 
4)Đi tìm hạnh phúc 
5)Hoa độc trong vườn
6)Khách sạn hào hoa
7)Khúc hát đọan tình
8 )Kiếp nào có yêu nhau
9)Muôn dặm vì chồng
10)Người yêu của cha tôi
11)Sân khấu về khuya
12)Sở Vân cưới vợ
13)Thâm Tình Hạnh Phúc 14)Tiếng sáo đêm trăng 
15)Tiếng Sáo Trăng Khuya
16)Tình đất tình Người
17)Truyền thuyết tình yêu
18)Khi Rừng Mới sang Thu
19)Sờ Vấn cứu giá
20)Bóng Hồng Sa MạcNguyệt,Diệu Hiền,Đức Minh
21)Ngươi tình Trện Chiến Trận
22)Đợi anh mùa lá rụng
23)Kiếp nào có yêu nhau
24)Chiều đông gió lạnh về
25)Tiếu Anh Phụng
26)Hoa Thiên Lý
27)Người đẹp trong tranh
28)Tâm sự Ngọc Hân
29)Dòng Sông Đầm Lầy
30)Hai phương trời thương nhớ
31)Mùa Thu trên non cao
32)Dốc Sương Mù
33)Trần Bình Trọng
34)Luủ Kim Đính
35)Nàng Như Cơ 
36)Mắt em là bể oan cừu
37)Nắng ấm ngoại ô
38)Bạc trắng tim hồng
39)Đôi mắt người xưa
40)Người gọi đò bên sông
41)Kiếp chồng chung
42)Hội chọn chồng
43)Chàng Cuôi Lên Cung Trăng
44)Trường Hận Huyết Lan
45)Luật Giang Hồ
46)Mái Tóc Người Vợ Trẻ
47)Quán Hương Tràm
48)Nàng Sa Rết
49)Tình Ca Biên Giới
50)Chiếc hổ phù
………………

Các bài tân cồ giao duyên mới

1)Mưa Nữa Đêm(Tạ tình tri âm I)
2) Nội Tôi(TTTA 2)
3) Em Sẽ Về Đâu
4) Chiếc Lá Sa Kê
5)Hoa Tím Ngày xưa
6)Nửa Đêm Ngoài Phố – Mỹ Châu – Đức Minh-(TTTA 2)
7)Chuyện Tình Đồi Thông Hai Mộ
8 )Biển Tím

9)Nhớ Cha
10) Dòng Sông Tình Mẹ

…………………
Các đoàn hát tham từng tham gia Trúc Giang,Trường Sơn,Thanh Hải – Văn Hường(1973),Việt Nam – Minh Vương(1974),Bến Tre,Trùng Dương(1980),Phước Chung,Văn Công Thành Phố,Sài Gòn 2(1993),Tiếng Chuông Vàng – Minh Phụng(1994)

Bạn diển: Mỹ Châu,Xuân Lan,Thanh Kim Huệ, Kiều Phượng Loan,Kiều Lan,Cẩm Tiên, Ngân Huệ, Thoại Miêu,Thoại Mỹ và nhiều nghệ sĩ tài danh nhiều thế hệ…

Khán giả rất lo cho sức khoẻ người ở lại. Cầu nguyện cho nghệ sĩ Mỹ Châu vượt qua nổi đau, sống vui trong kỷ niệm.

KGND

 

Image

 

Cũng đả hơn 3 năm rồi Derek không có dịp trò chuyện cùng cô Châu thương mến. 3 tuần trước chợt gọi cho cô. Giờ mới biết là lúc đó, cô đả âm thầm chuẩn bị cho cuộc ra đi của người bạn đời là chú Đúc Minh. Lời đầu tiên cô nói sau giọng cười giòn tan (Rét kong biết là cô đang che dấu nổi tuyệt vọng trong long trong sự chờ đợi hồi chuông sẻ điểm), cô nói “dử hôn à, giớ mới gọi cho tui… ” . Derek nói “chị Châu ui, cuộc đời xứ quay cuồng. Em không gọi không có nghỉa là tỉnh cảm giửa em và chị phai nhạt đâu nhé”. Truyện trò với cô, lúc nào củng râm rang bao chuyện xưa củ mới ào ạt chảy vào. Và lúc nào Rét củng cảm thấy như một cuộc trò chuyện rất thâm tình giửa một người chị ở xa và đứa em lâu ngày không gặp mặt, hơn là một nghệ sỷ tên tuổi và một khán giả hâm mộ âm thầm lặng lẻ. Và, và.. bổng dung, gần cuối câu chuyện, cô Châu chợt đổi đề tài, đổi tone trong giọng nói, từ sôi nổi chia xẻ, sang lắng đọng và từ tốn. thoáng đâu đó một nét buồn thiên cổ . Cô chợt chia xẻ về một sự chuẩn bị ra đi của mình, “phải thật lặng lẻ, không ồn ào”. Rồi, cô chợt trần tình về sự an ủi gắn bó của hai người bạn đời cùng dìu nhau đến cuối cuộc đời nhau, xắp đặt mọi thứ đâu đó cho nhau, cho cuộc ra đi không thể tránh. “Em phải biết, chỉ có người bạn đời của mình mới thật sự là người lo lắng chăm sóc cho nhau nhửng khi bệnh hoạn, thập tử nhất sinh, và cả chuyện ra đi“. Lúc đó, Rét tui cứ ngở cô nói là nói vậy thôi. Tính cô vốn kỷ lưởng và chu đáo cho mọi thứ, trên sân khấu, trong vai diển, trong từng cái liếc mắc, ngoắc tay , từng câu thoại, từng luyến lái,.., thì nói chi đến nhửng sinh hoạt , những biến cố quan trọng trong cuộc đời thường, bên ngoài ánh đèn sân khấu, và cả chuyện .. mai hậu, chuyện hậu sự của một kiếp người. Trưa hôm nay, sau khi nghe Thanh Tùng cho hay tin dử, Rét tui mới biết là cô đả chuẩn bị, mạnh mẻ và chu đáo chuẩn bị cho cuộc ra đi của chú Đức Minh từ lâu lắm rồi, từ trước khi cuộc trò chuyện rất lâu với Rét, sao cho thật ân cần , thật chu đáo và thật trọn vẹn. Cô dấu sự mềm yếu và đau khổ vào trong…..Nhưng đến hôm nay thì….., bản chất yếu đuối của một người đàn bà, nhất là một người phụ nử đa cảm như cô, đả bộc phát ra hết. Cô đả không cầm được nổi đau. Cô đả suy sụp, theo như lời của bạn hiền Thanh Tùng nhắn tin đến cho Rét. “Cô đang suy sụp lắm đó. Gọi an ủi cô ngay đi”.

Thôi, Derek xin chúc chú Đức Minh an nghỉ thật bình an. Rét nhớ nhửng lần đi ăn chung với cô chú, trò chuyện thật lâu với chú. Chú thật hiền, giàu nghệ sỷ tính. Và trên mọi thứ, chú thật sự mang trong tim một tình yêu thật lớn dành cho cô Châu. Chú thật có diểm phúc đả gặp cô Châu, và củng như chính cô Châu đả có cái nhân duyên lành là gặp được chú. Cả hai đả dìu nhau đi nhửng đoạn đường đời thật hạnh phúc, dù ngắn ngủi, hổ tương và an ủi lẩn nhau, trong cuộc đời này. Cầu mong sự nguôi ngoai sớm đến với cô Châu. Bên cạnh cô, có hàng triệu khán giả tri âm tri kỷ luôn yêu thương và lo lắng cho cô. Cô không lẻ loi đâu. Cô Mỷ Châu thương mến ơi…. DT

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1493

Theo NGUYỄN SÂM : Gìn giữ quá khứ của cải lương


Gìn giữ quá khứ của cải lương
29.01.2014 13:26
Xem hình
Ông Nguyễn Tuấn Khanh & Soạn Giả Nguyễn Phương

CLVNCOM – Sài Gòn của thập niên 50 thế kỷ trước. Thời ông Ngô Đình Diệm chưa về chấp chánh, thời của những thủ tướng lên cầm quyền thiệt ngắn như Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Phan Long, Bửu Lộc, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, đến và đi không để lại được công trạng gì cho dân tộc vì những áp lực của những thế mạnh chánh trị từ các cường quốc xa xôi. Họ cũng chẳng để lại gì trong trí nhớ thơ dại của tôi, chỉ ghi nhận những gì xảy ra trong một hai khu phố gần gần nơi mình ở. Chú ý đến những ồn ào sôi động hơn là những chuyện xa vời như chánh trị, văn hóa…

Lúc đó ngày nào như ngày nấy, tôi và những đứa bạn cùng trang lứa sống trong khu gọi là Chợ Cháy của cái chợ lớn hơn là Cầu Ông Lãnh, mới qua tuổi mười, chui rúc trong những gian sạp nho nhỏ, tất cả sinh hoạt của đời sống đều diễn ra trong đó. Chừng khoảng chín giờ sáng thì đã bắt đầu chờ đợi chiếc xe Renault nhỏ và mấy chiếc xe ngựa của những đoàn cải lương chạy qua mà hai bên hông xe nào cũng có dựng hai tấm ban-nô lớn vẽ hình quảng cáo tuồng cải lương, bu theo để xin những tấm giấy “pồ-gam” (programe) nói về tuồng hát đêm hôm ấy. Trống trong xe đánh thùng thùng điếc tai nhức óc chen với tiếng phèng la, chập chõa chát chúa không làm chúng tôi ngại ngùng, trái lại càng bị kích thích hơn. Chạy, chạy. Bu bu. Níu níu. Kêu kêu. Cả chợ ai cũng ngó theo xe quảng cáo và lũ con nít ở trần chúng tôi. Nhiều bà nhiều cô cố bước mau tới kế bên để kịp nhận một tờ. Giấy in màu xanh đỏ có hình đào kép bận quần áo đẹp đẽ sang trọng, có sơ lược tuồng tích và có những câu rất kêu quảng bá sự hay ho của tuồng sắp được diễn đêm nay.

Chúng tôi tò mò để biết họ hát tuồng gì thì ít mà để làm một thứ tiền chơi đánh bài, chơi oảnh-tù-tì với nhau thì nhiều. Người phát giấy pồ-gam nhẵn mặt và bực bội với chúng tôi. Họ hất tay không cho khi thấy mấy thằng nhỏ xin hết tờ nầy tới tờ kia. Được tờ nào thì giấu mau ra sau lưng rồi đưa tay kia ra xin tờ khác. Có thằng, thường là thằng Dần, bạo dạn hơn, chờ lúc anh phát giấy vô ý, lẹ như chớp giựt cả xấp chạy biến vô trong chợ. Bữa hôm đó nó tha hồ mà làm cái của sòng bài cào chơi tiền bằng giấy pồ-gam, đứa nào đặt mấy tấm nó cũng giở, cũng ăn thua đủ.

Nhờ những tấm giấy xanh đỏ quảng cáo kia chúng tôi biết rành mặt đào kép, biết tên gánh hát, biết tuồng tích và biết ai thủ vai gì trong tuồng. Có đứa còn rành hơn, nó biết tên thầy tuồng và gánh nào chuyên hát loại tuồng gì nữa. Thằng Mẹo với thằng Ri kể vanh vách nào là gánh Hậu Tấn của Bảy Cao chuyên hát tuồng có pháo nổ lạch tạch, có bắn súng cắc bùm với lửa xanh phát ra ở đầu súng với mùi pháo bay ra khét lẹt, gánh Hậu Tấn Năm Nghĩa chuyên hát tuồng xã hội với chủ nhơn Lư Hòa Nghĩa xuống vọng cổ mùi tận mạng bằng những tiếng ơ… ơ kéo dài mà nó bắt chước kéo theo thì lần nào cũng đứt hơi ho sặc sụa. Mấy chị đàn bà bàn nhau rằng kép Thanh Tao, kép Năm Phồi, kép Bảy Nhiêu đẹp trai nhứt hạng. Có chị chê rậm rì là kép Bảy Cao lên sân khấu coi bảnh tỏn vậy mà ai lén lên dãy ghế thượng hạng sẽ thấy ông ta mặt rỗ hoa mè, đánh phấn dầy cộm cũng không che khuất hết.

Cải lương và tuồng tích ảnh hưởng lên đời sống của chúng tôi, đứa nào cũng thuộc vài ba đoạn, năm bảy bài ca trong mấy tuồng đã in ra giấy như Hoàng Tử Lưng Gù hay Máu Nhuộm Phụng Hoàng Cung…. Còn nói về thể loại bài ca thì ôi thôi, các loại như Mẫu Tầm Tử, Khổng Minh Tọa Lầu, Hướng Mã Hồi Thành, Bình Bán Vắn, thủ Phong Nguyệt… tụi tôi ca cũng có hạng và thường thì chiều chiều tụ lại ba bốn đứa chia vai mà ca mà hát.

Lúc nầy mấy rạp hát thường được đoàn lớn về đóng là rạp Nguyễn Văn Hảo ở đường Galiéni, góc với đường Dixmude, gánh nhỏ hơn chút xíu thì về trụ 1, 2 tuần ở rạp Aristo, tức Trung Ương Hí Viện ở đường gì đó ngó vô ga xe lửa Sàigòn, rạp Tân Tiến xéo xéo với đình Cầu Muối vùng chợ Cầu Muối. Rạp Văn Cầm ở đường Lacaze, tức Nguyễn Tri Phương sau nầy mà có một hai lần tôi rán đi bộ theo tụi nó tới để xin giấy pồ-gam rồi khi về bị cô tôi giảng mo-ran hai ba giờ đồng hồ, đứng bắt mỏi chưn…

Rồi thì những gánh như Tỷ Phượng, Phụng Hảo, Tiếng Chuông, Phước Chung, Thanh Hương Văn Chung rồi Thanh Hương-Hùng Minh… kể cả những chuyện nho nhỏ liên quan tới đào kép chúng tôi nhiều khi cũng nghe, cũng biết. Thằng Thìn không hiểu từ đâu mà học được câu hát “Bửu Tài là rể bầu Cao, cãi vã với vợ là đào Cẩm Vân”, nó ê a câu nầy hoài bên tai bọn tôi tới nỗi hơn sáu mươi năm nay tôi còn nhớ. Còn thằng Dần lớn con nhứt bọn thì khen không tiếc lời “Coi em bé Juliette Nga bận áo đầm trước khi đoàn Hậu Tấn Năm Nghĩa của ba mở màn, ra trình diễn một bản Hành Vân hay Mẫu Tầm Tử hoặc Khổng Minh Tọa Lầu hay một hai câu vọng cổ” thì bữa hôm đó về phụ má nó bán gạo rất là hăng hái. Cái thằng lớn mau như thổi, có nhiều giấy quảng cáo nhứt, có lần nó đi coi cọp về bị đòn vậy mà ngày sau bô bô về chuyện em bé Hương Lan ca mùi đứt ruột, bỏ xa Thần đồng Quốc Thắng bên tân nhạc của những kỳ Đại Nhạc Hội vốn cũng được chúng tôi ưa thích.

Chúng tôi, những đứa còn lại, chưa đủ lớn để có tiền mua giấy vô cửa hay không đủ lém để tự tin nắm tay một bà dễ tánh nào đó theo vô rạp, vậy mà nhiều đêm rủ nhau 5, 6 đứa tới trước rạp nghe phát loa họ vặn lớn những bài ca vọng cổ như Tôn Tẫn Giả Điên: “Úy trời đất ơi cái nỗi đoạn trường! Cũng bởi vì tôi quá tin thằng Bàng Quyên là bạn thiết với tôi cho nên ngày hôm nay mới ra nông nỗi… nó đành tâm chặt đứt một bàn chưn tôi… còn như công cuộc ngày hôm nay đây….” Mà hễ mỗi lần thằng Dần ca, dầu cho nó vô tình hứng chí ca chơi hay cố ý châm chọc thì thằng Thới què, anh của con Hiền, con nhỏ nhí thường lẽo đẽo theo tôi nắm tay bắt chia giấy program tôi xin hay giựt được, đều nổi máu quạu lên rượt nó chạy có cờ, trước khi bắt đầu rượt thằng Thới đều chụp đại một cái chổi lông gà của ai đó quơ quơ coi bộ ngầu lắm… Sớm quá thì chưa vô được dầu là đã bắt đầu màn hai. Mấy đứa tôi lang thang ăn cóc, ăn ổi cho rẻ tiền, chờ tới chừng 11 giờ, màn ba bắt đầu, đợi chú gác cửa nháy mắt nói “thả dàn” rồi quay lưng đi vô, chúng tôi vén màn cửa chạy ùa vô coi cọp vớt vát lớp chót. Khúc nầy thường là hội ngộ, trùng phùng, vinh hiển, đào kép ôm nhau cười vui sau khi hoạn nạn đã hết. Chàng vinh hiển làm quan lớn, hai ba vợ, nàng cực khổ ngày xưa trở thành mệnh phụ phu nhơn, cô tỳ nữ trung thành nhiều khi được thưởng làm vợ hai…. trước khi màn nhung kéo lại có gắn tấm bảng đề chữ Vãn và nhạc “ò e rô be đánh đu tạc dzăng nhảy dù, zo rô bắn súng” phát lên. Tiếng guốc giày lốc cốc trên đường nhựa rôm rả một hồi rồi trả sự êm đềm của đêm lại cho Sài Gòn thanh bình tạm bợ vì tiếng súng lẻ tẻ còn ở quá xa. Chuyện thanh bình của nước nhà tuy chưa có nhưng vẫn ít bén mảng tới thành phố…

Vậy mà thỉnh thoảng khán giả cũng ăn mãng cầu lửa, hết lựu đạn liệng lên sân khấu rạp Nguyễn Văn Hảo khiến kép Duy Lân phải bị cụt giò, tới cà na bay lên hàng ghế thượng hạng ở tạp Aristo khiến vài ba ông bà nhà giàu mất mạng. Gánh nào lãnh đạn thì khốn đốn vài ba bữa rồi cũng đứng dậy khai trương tuồng với phong cách mới. Những tuồng phong vị Ba Tư Ngàn Lẻ Một Đêm huyền ảo diễm tình ra đời với đủ thứ đèn màu xanh đỏ vàng tím, những tuồng hiệp khách bay lộn bằng dây móc kéo lên quay vòng vòng trên sân khấu xuất hiện. Thời nầy người ta chú trọng tới tuồng tích ly kỳ, cảnh trí huyền ảo, xiêm y rực rỡ. Sự ca diễn chỉ là thứ yếu.

Rồi thì những năm gần giữa thập niên 50, gánh Kim Chung, Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô đóng đô quanh năm ở rạp Aristo với kép đẹp Huỳnh Thái, Ngọc Toàn, đào thương Bích Hợp, đào diễn Kim Chung, các đào kép phụ chuyên làm hề đồng, làm tỳ nữ như Túy Định, Thúy Liệu, Phúc Lai, Tư Vững, Ba Hội chuyên diễn những tuồng tích phong vị Trung Hoa gần giống như trong các truyện thơ Nôm của thế kỷ trước mà nhơn vật thường là giai nhơn tài tử, với những mối tình thi vị, trong sáng của soạn giả Phong Trần Tiến.

Vậy mà tuồng nào tuồng nấy ăn khách quá chừng, đêm nào rạp cũng chật ních. Thời nầy an ninh trong thành phố đã vững, lựu đạn giết dân của mấy ông trời con ngoài bưng vô không còn dịp tung hoành nữa, gánh Kim Chung sau đó dời sang rạp Olympic ở đường Chasseloup Laubat rồi phát triển thành 2, rồi 3. Người coi cải lương chuyển từ từ sang thích giọng ca, cách diễn… Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Diệu Hiền, Ngọc Giàu, Ngọc Nuôi, Út Hiền, Út Hậu, Tấn Tài, Thành Được, Thanh Sang, Hữu Phước… mỗi người mỗi vẻ, mỗi làn hơi, không ai giống ai nhưng người nào cũng có giọng ca trời cho, ru hồn người nên hái ra tiền và có thể nói là góp phần đưa cải lương lên vòm trời cao của nghệ thuật. Lúc nầy giấy pồ-gam cải lương hình như đã hết, chúng tôi hơi lớn lớn, bắt đầu chuyển sang sưu tập program của ciné, cũng in bằng giấy màu của rạp Vĩnh Lợi, Lê Lợi, Eden… đặc biệt viết bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp. Chúng tôi bắt đầu làm quen với tên tuổi đào kép của thế giới văn minh bắt đầu từ đây.

Trong hoàn cảnh đó giải Thanh Tâm ra đời xác nhận tài năng ca diễn của đào kép nên nghệ nhơn càng cố gắng trau dồi thêm. Cải lương bước những bước đi bảy dặm, chỉ trong vòng 10 năm trước 1975 mà tiến bộ hơn mấy lần ba thập niên trước đó…

Sống ở Sài Gòn từ nhỏ vậy mà tôi chỉ còn nhớ lõm bõm có vậy về cải lương. Quá khứ của bộ môn nầy vượt khỏi trí nhớ của tôi và của biết bao nhiêu người khác dầu họ sanh ra và sống mãn đời suốt kiếp ở Sài Gòn với chung quanh gần cả chục rạp và sự đi về của mười mấy đoàn lớn nhỏ. Huống chi cải lương còn mọc rễ và phát tán ra ở các tỉnh miền Hậu Giang nữa. Ai dám tự hào mình biết hết bước đường của môn nghệ thuật mới nầy?

Năm ấy Sài Gòn đổi chủ, chủ mới thuộc phe của những người đã liệng lựu đạn vô khán giả yêu thích cải lương ngày xưa. Tôi đi tìm lại chút quá khứ mờ nhạt của mình vì đã rời xóm chợ hơn 10 năm nay. Dần đã đi Mỹ, thằng Thới què đã chết, mấy thằng Ri, thằng Mẹo đứa thì già cỗi, răng sún đưa càng, đứa thì lưu lạc hà phang bất biết. Vậy mà tôi gặp lại con Hiền. Con nhỏ lúc nầy đã gần ba mươi tuổi, không có chồng, mời tôi vô cái sạp bán guốc của nó, đưa cho tôi coi hai xấp program cải lương ngày cũ. Tôi nắm xấp giấy ngày xưa mình thân thiết, mơ ước, ngồi như mơ, nhớ lại thời gian cách đó hơn hai mươi năm…

Thằng Ri bặm trợn cầm một tấm ván mỏng tháo ra từ cái thùng đựng củ hành tây nhập cảng của tiệm đường nhà nó, dí dí vô mặt của con Hiền hét lớn:

Trảm bạch mã tế thiên!
Tru hắc ngưu tế địa!
Giết giết!

Con Hiền né né tránh thì thằng Mẹo ở đâu lại xía vô, tay cầm ngược chổi lông gà làm kiếm:

Sát nhứt miêu cứu vạn thử cho xong,
Bảo vì Liêu mà Bảo phải lụy tàn…

Rồi nó chặt mạnh xuống trước mặt con nhỏ như là chặt đầu ông vua nước Liêu mà chúng tôi thường đóng vai ca hát.

Con Hiền sợ quính quáng, chạy tới ôm tôi cứng ngắt. Tôi hơi sượng sùng, nhưng làm bộ tỉnh queo, ra mặt anh hùng rầy tụi kia không được ăn hiếp con gái nữa…

Mấy bữa sau tôi giúp con Hiền ngồi sắp xếp lại đống giấy chương trình mà chị Hai nó liệng ra ngoài vì choán chỗ, nó vừa xếp, vừa đưa tay gạt cho giấy bớt nhăn nhúm vừa quẹt nước mắt nói khiến tôi giựt mình:

“Nữa lớn Hiền làm vợ của Sang rồi hai đứa mình đi hát cải lương.”

Tôi ngó ngay vô ngực nó, cặp mắt như là chê. Nó biết ý cũng dòm xuống ngực mình, quả quyết:

“Bây giờ chưa, nhưng lớn lên cũng có chứ bộ!”

Tiếng chứ bộ của nó tôi thương quá chừng, nhưng mới 11, 12 tuổi tôi còn ghét con gái lắm, tôi bảo vệ con Hiền vì tánh anh hùng của con trai hơn là vì thích nó, tôi nạt phũ phàng:

“Thôi mầy! Chị Hai mầy thấy mặt tao là đuổi đi chỗ khác chơi, vô nhà mầy ở chắc chỉ đánh chưởi tối ngày… với lại…”

Tôi lại ngó vô ngực nó rồi chỉ vô mình một cô đào Mỹ nào đó.

Con nhỏ đỏ mặt lại ngó xuống ngực mình không nói gì…
Tôi hỏi con Hiền còn nhớ hồi nó ôm tôi và câu chuyện trao đổi lúc hai đứa xếp lại những tờ giấy nầy không. Nó nói nhớ chớ sao không, người ta quên thì có.
Tôi làm thinh lâu lắm mới bào chữa:

“Đời trai, học hành, lính tráng, sự nghiệp… làm cho mình quên đi quá khứ rất đáng yêu của thời tuổi trẻ. May mà Hiền còn giữ quá khứ của chúng ta qua những tờ chương trình nầy.”

Tôi vừa nói vừa chỉ vô bút tích của mình ngày xưa phân vai cho những nhân vật trong quyển tuồng cải lương Hoàng Tử Lưng Gù mà tôi với Hiền thủ vai tình nhân của nhau.
Con nhỏ phản đối ngay:

“Sang có vợ con rồi, đừng nói vậy, Hiền chỉ giữ gìn quá khứ của cải lương thôi, không giữ gìn quá khứ của chúng mình.”

Câu nói của con Hiền không biết tại sao tôi thấy đáng giận hơn là đáng thương. Tôi nói năm ba câu nữa rồi từ giã, lòng chẳng lưu luyến gì.

Gần bốn mươi năm sau từ ngày bực mình vì nhóm chữ chỉ giữ quá khứ của cải luơng thôi tôi lại thấy vui vui vì ý nghĩa mình tìm thấy khi đọc quyển sách “Bước Đường Của Cải Lương” của Nguyễn Tuấn Khanh, đó là tác giả đã thực hành được chuyện giữ gìn quá khứ của cải lương. Tại sao cùng một ý nghĩa mà trước đây Hiền nói thì tôi bực mình mà bây giờ tôi lại vui khi gán cho ý nghĩa trong quyển sách của người bạn?

Câu trả lời rất giản dị:

Ông Nguyễn Tuấn Khanh với con mắt của nhà khoa học, với tâm hồn đam mê của nghệ nhơn đã bỏ công đi tìm quá khứ của cải lương để ghi lại những bước đường của nó một cách chính xác bằng những tài liệu với những suy luận chắc nịch, khó cãi….

Sách của anh Nguyễn Tuấn Khanh kéo tôi về quá khứ, và sẽ kéo người đọc về một thời mà cải lương là sinh hoạt nghệ thuật đáng trân trọng của Miền Nam nay đã bị giết đi, giết tức tưởi vì nhiều nguyên nhân…

Nguyễn Văn Sâm
Alexandria, LA, những ngày chớm Đông

Blog Nguyễn Xuân Hoàng 

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1524

khoi (Theo Nguyễn Sâm)

 Gửi tin qua email  Thảo luận

Những bản tin khác: 

5 Năm Hoàng Tử đi xa [03.12.2013 15:09]