MINH AN : Đón nhận bằng UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ


Đón nhận bằng UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ

Thứ tư, 12/02/2014, 02:10 (GMT+7)

Tối 11-2, tại Hội trường Thống Nhất, Bộ VH-TT-DL và UBND TPHCM tổ chức trọng thể lễ đón nhận bằng UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đến dự có các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành ủy TPHCM Lê Thanh Hải, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ ngành, TPHCM, các tỉnh thành Nam bộ. Cùng dự còn có các nghệ nhân, nghệ sĩ lão thành và đông đảo văn nghệ sĩ của nhiều địa phương.

 
 

Ngày 5-12-2013, tại phiên họp của Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của Tổ chức UNESCO diễn ra tại thủ đô Baku, nước Cộng hòa Azerbaijan, loại hình nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam chính thức được ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại với sự ủng hộ tuyệt đối của 24 quốc gia thành viên. Từ đây, đờn ca tài tử không chỉ là di sản của nhân dân Việt Nam mà còn là của toàn thế giới, được thế giới bảo hộ và giữ gìn. Đây là một bước chuyển mình vô cùng quan trọng, mở ra nhiều tiềm năng, cơ hội cho sự phát triển đất nước về mọi mặt, trong đó có lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch. Tính đến nay, Việt Nam đã có 18 di sản văn hóa và di sản thiên nhiên thế giới, trong đó có 8 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

 
 

Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, trao bằng vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ.

Đờn ca tài tử, một bộ môn nghệ thuật bao gồm tinh hoa của dân ca, nhạc lễ, nhạc thính phòng, nhạc Cung đình Huế, được người nghệ sĩ miền Nam thích nghi theo quan điểm thẩm mỹ của miền Nam tạo thành một bộ môn nghệ thuật rất phong phú, tinh tế, đa dạng… nay lại được rất nhiều người mộ điệu tham gia tạo nên một phong trào biểu diễn nhạc cổ truyền rộng rãi, được thế giới ghi nhận. Đờn ca tài tử được tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là rất xứng đáng

GS-TS Trần Văn Khê

Được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, đờn ca tài tử Nam bộ là loại hình nghệ thuật xuất xứ từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian, chữ “tài tử” ở đây có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc, chứ không có nghĩa là nghiệp dư. Đờn ca tài tử được du nhập vào miền Nam do 3 nhạc sư gốc Trung bộ: Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi – Nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), Trần Quang Quờn (thầy ký Quờn) và Lê Tài Khị (biệt danh Nhạc Khị) sáng tạo nên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau giữa một số người trong một hoàn cảnh nhất định. Dần dà thu hút thêm những đối tượng khác cùng tham gia và không gian cũng mở rộng hơn; lúc đầu chỉ có đờn, sau xuất hiện hình thức ca cùng với đờn nên gọi là đờn ca. Bài bản tài tử dựa trên các bài có sẵn của ca Huế rồi cải biên, sáng tác ra nhiều loại bài bản mang âm hưởng quê hương hoặc dựa theo các tác phẩm, tích truyện phổ thông thời bấy giờ – là loại nhạc “tâm tấu” (tâm tình của người xa xứ), mang tính ngẫu hứng sáng tạo. Nhạc cụ dùng trong đờn ca tài tử gồm: đờn kìm, đờn tranh, đờn cò, đờn tỳ bà, đờn tam (hoặc đờn sến, đờn độc huyền). Vào khoảng năm 1930 có thêm cây guitare phím lõm, violon, guitare hawaii được cải biên đưa vào nhạc tài tử. Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường là song tấu, tam tấu, hòa tấu. Đến đầu thế kỷ 20, nhạc tài tử rẽ nhánh thành một dòng nhạc mới với dấu mốc ban đầu là ca ra bộ và sau đó là cải lương. Bén rễ ở vùng đất phương Nam hơn một thế kỷ qua, đờn ca tài tử trở thành loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam bộ, không ngừng phát triển trở thành sinh hoạt nghệ thuật không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người dân… Số liệu kiểm kê cho thấy, hiện có 2.258 CLB đờn ca tài tử tại 21 tỉnh, thành trong cả nước với gần 14.000 người tham gia sinh hoạt đờn ca tài tử, người nhỏ nhất 6 tuổi, lớn nhất 99 tuổi. Riêng tại TPHCM có 97 CLB đờn ca tài tử với 1.133 thành viên tham gia sinh hoạt, chiếm tỷ lệ cao nhất là độ tuổi từ 36 – 50 tuổi.

Tái hiện đờn ca tài tử trên sông nước Nam bộ trong buổi lễ.

Phát biểu tại buổi lễ vinh danh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Việc UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với loại hình nghệ thuật độc đáo này của Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tự hào của đồng bào Nam bộ, của người Việt Nam mà còn góp phần thiết thực vào việc giữ gìn sự đa dạng các biểu đạt văn hóa trong kho tàng văn hóa thế giới. Đồng thời là một minh chứng sống động về sức sống, sức lan tỏa của văn hóa truyền thống của Việt Nam trong dòng chảy hội nhập của văn hóa thế giới”. (Xem toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng).

Biểu diễn đờn ca tài tử tại lễ vinh danh. Ảnh: CAO THĂNG

Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam, đã công bố quyết định của UNESCO ghi danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, trao bằng công nhận cho Bộ VH-TT-DL và đại diện 21 tỉnh thành. Bộ VH-TT-DL cũng công bố Chương trình hành động quốc gia nhằm kêu gọi nhân dân cả nước cùng chung tay, góp sức gìn giữ, bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, đồng thời khen thưởng các tập thể, cá nhân, nghệ nhân đã có những công trình, sản phẩm, thực hiện công tác truyền dạy góp phần phát triển hoạt động đờn ca tài tử trong nhiều năm qua.

Chương trình hành động quốc gia bảo vệ nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ (2014 – 2020)

1- Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ nói riêng.

2- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hành, sáng tạo và truyền dạy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ trong các gia đình, các nhà trường, câu lạc bộ và cộng đồng nhằm nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng và nhân dân địa phương.

3- Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa, truyền dạy, trình diễn… để bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ; đưa nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ vào nội dung đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành.

4- Hỗ trợ cộng đồng phục hồi, lưu truyền các “bài Tổ”, các tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội liên quan đến nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ; mở rộng các hình thức và môi trường sinh hoạt mới, phù hợp với mục tiêu bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ trong cuộc sống đương đại.

5- Phối hợp với các cơ quan truyền thông, các hội nghề nghiệp tổ chức thường xuyên và định kỳ các chương trình giới thiệu, quảng bá về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ dưới nhiều hình thức nhằm giáo dục thẩm mỹ, cảm thụ nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ tới công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

6- Có chính sách đãi ngộ, khen thưởng và phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước cho các nghệ nhân đờn ca tài tử có nhiều đóng góp xuất sắc trong việc bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật đờn ca tài tử.

7- Tạo mọi điều kiện để nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ có nhiều cơ hội giao lưu, trình diễn ở nước ngoài; thường xuyên tổ chức liên hoan nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ ở các địa phương; định kỳ 3 năm một lần tổ chức Liên hoan nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ toàn quốc.

MINH AN

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2014/2/340075/

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Vinh danh đờn ca tài tử – di sản văn hóa của nhân loại


Vinh danh đờn ca tài tử – di sản văn hóa của nhân loại

12/02/2014 03:25

20 giờ ngày 11.2 tại Hội trường Thống Nhất (TP.HCM) đã diễn ra lễ đón nhận bằng của UNESCO ghi danh nghệ thuật đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

 >> Tổ chức Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất
 >> Trao giải Hoa sen vàng Liên hoan Đờn ca tài tử TP.HCM 2013
 >> Đờn ca tài tử từng xuất ngoại hơn 100 năm trước

Vinh danh đờn ca tài tử - di sản văn hóa của nhân loại

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại buổi lễ – Ảnh: Diệp Đức Minh

 Biểu diễn hoạt cảnh đờn ca tài tử tại lễ vinh danh
Biểu diễn hoạt cảnh đờn ca tài tử tại lễ vinh danh 

Tham dự buổi lễ có Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng  và nhiều lãnh đạo các bộ, ban, ngành T.Ư và lãnh đạo chính quyền TP.HCM.

Về phía Tổ chức UNESCO, có bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có các vị đại diện các lãnh sự quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế, đại diện của 21 tỉnh thành thuộc miền Đông và miền Tây Nam bộ quê hương của loại hình đờn ca tài tử, các giáo sư, tiến sĩ, nghệ sĩ nhân dân, soạn giả và các nghệ nhân…

Bà Katherine Muller-Marin đã đại diện Tổ chức UNESCO trao Bằng công nhận nghệ thuật đờn ca tài tử là Di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) của nhân loại cho đại diện phía Việt Nam là Bộ trưởng VH-TT-DL Hoàng Tuấn Anh. Bà nói: “Đây là bộ môn nghệ thuật đã đưa con người đến với nhau từ hàng trăm năm trước. Nghệ thuật này thể hiện được cái tâm tư, khí phách của con người miền sông nước, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Việc UNESCO công nhận đờn ca tài tử là DSVHPVT của nhân loại không chỉ là niềm tự hào của người dân Việt Nam mà còn để cộng đồng nhân loại có cơ hội sẻ chia, tìm hiểu và có cơ hội thưởng thức được phần nào những giá trị tinh thần tuyệt vời này…”.

Bộ trưởng  Hoàng Tuấn Anh cũng đã công bố Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy nghệ thuật Đờn ca tài tử gồm 7 điểm nhằm phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử với những tác động tích cực từ phía nhà nước trong cuộc sống hằng ngày.

Gạch nối giữa văn hóa bác học và văn hóa dân gian

Trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh những giá trị độc đáo của đờn ca tài tử Nam bộ:

“Trong suốt chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt Nam ta đã không ngừng xây dựng, bồi đắp, hun đúc một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng và giàu bản sắc dân tộc. Thành quả sáng tạo, giữ gìn, trao truyền của cha ông đã để lại cho chúng ta một kho tàng DSVH vật thể và phi vật thể đồ sộ – phong phú. Trong kho tàng di sản quý báu đó có đờn ca tài tử Nam bộ – một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được sáng tạo dựa trên dòng nhạc lễ, nhã nhạc cung đình và những giai điệu ngọt ngào sâu lắng của dân ca miền Trung và miền Nam. Đây là loại hình nghệ thuật đặc trưng của vùng miệt vườn sông nước Nam bộ, là sự kết hợp hòa quyện – đặc sắc giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn, vừa phản ánh tinh hoa văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc ta vừa mang những nét đặc sắc của người dân phương Nam – cần cù, bình dị, chân thành, phóng khoáng, nghĩa hiệp, can trường nhưng rất đỗi nhân văn của những người con “Từ độ mang gươm đi mở cõi. Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” (thơ Huỳnh Văn Nghệ).

Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ không chỉ có vai trò đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Nam bộ mà còn góp phần quan trọng làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của cả dân tộc Việt Nam. Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là gạch nối giữa văn hóa bác học và văn hóa dân gian, giữa nghệ thuật truyền thống từ ngàn xưa với nghệ thuật của ngày mai và đã góp phần tạo nên sự giao lưu cần thiết, đa dạng của văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại.

Việc UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là DSVHPVT đại diện của nhân loại thể hiện sự trân trọng của quốc tế đối với loại hình nghệ thuật đặc sắc này của Việt Nam. Đây không chỉ là niềm tự hào của đồng bào Nam bộ, của người Việt Nam chúng ta mà còn góp phần thiết thực vào việc giữ gìn sự đa dạng các biểu đạt văn hóa trong kho tàng văn hóa thế giới. Đồng thời cũng là một minh chứng sống động về sức sống, sức lan tỏa của văn hóa truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập của văn hóa thế giới”.

Niềm tự hào của Nam bộ

Người dân vùng Ngũ Quảng là những lưu dân đầu tiên theo lệnh chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam. Trong số họ, có nhiều người vốn là giáo phường nhạc lễ của triều đình Huế. Sau những giờ lao động mệt nhọc, họ ôm đàn tìm đến nhau, cùng tấu lên những khúc nhạc như là một hình thức để thư giãn. Những nhạc cụ thường sử dụng trong đờn ca tài tử gồm đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (còn gọi là tứ tuyệt). “Đờn ca tài tử” ra đời từ đó và theo thời gian đã trở thành món đặc sản của miền Tây Nam bộ.

Người được coi là “ông tổ” của đờn ca tài tử chính là nghệ nhân Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) – một nhạc quan của triều đình Huế. Vào nửa cuối thế kỷ 19, hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông vô nam truyền dạy nhạc lễ và nhạc tài tử. Người “nhạc sĩ tiến bối” này lang thang khắp Gia Định và vùng phụ cận (Đồng Nai, Bình Dương, Chợ Lớn, Cần Giuộc, Cần Đước, Long An…). Ở đâu ông cũng có những học trò xuất sắc và con số này lên đến hàng trăm người. Bên cạnh việc truyền dạy và biểu diễn nhạc khí, Nguyễn Quang Đại còn sáng tác, phóng tác rất nhiều bài bản. Ông cũng đã cùng với các học trò hệ thống hơi điệu bài bản tài tử thành 4 điệu: bắc, nam, hạ, oán (20 bản tổ), cải biên nhạc cung đình, sáng tạo nên nhạc lễ Nam bộ. Ông là chủ soái nhóm nhạc miền Đông trong khi các nhóm nhạc ở miền Tây do ông Kinh lịch Trần Quang Quờn thống lĩnh đã cùng làm cho loại hình đờn ca tài tử ngày càng phong phú, xứng đáng là “đặc sản” và là niềm tự hào của người dân vùng sông nước Nam bộ…

 

Cùng với nghệ thuật đờn ca tài tử (được chính thức ghi danh ngày 5.12.2013), tính đến nay Việt Nam đã có 8 loại hình được UNESCO công nhận là DSVHPVT của nhân loại, gồm: Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Giang – Bắc Ninh (2009), Ca trù (2009), Lễ hội Thánh Gióng (2010), Hát xoan (2011) và Lễ hội Hùng Vương (2012). 
Biểu diễn hoạt cảnh đờn ca tài tử tại lễ vinh danh.

 

Hà Đình Nguyên

 >> Đờn ca tài tử được UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể
 >> Cuộc thi sáng tác hưởng ứng Festival Đờn ca tài tử
 >> 87 học viên được cấp chứng nhận tốt nghiệp đờn ca tài tử

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140212/vinh-danh-don-ca-tai-tu-di-san-van-hoa-cua-nhan-loai.aspx

NGUYÊN HÀ : Đờn ca tài tử: Chờ đón lễ vinh danh


Đờn ca tài tử: Chờ đón lễ vinh danh

11:26, 10 Tháng Hai 2014

(Cinet)- Ngày mai (11/02), tại TP Hồ Chí Minh sẽ diễn ra Lễ đón bằng Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại với nghệ thuật Đờn ca tài tử. Đây vừa là niềm tự hào của người dân Nam Bộ khi lần đầu tiên phía Nam có loại hình văn hóa được thế giới công nhận vừa là sự khẳng định giá trị trường tồn của các loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam.

 Image

 

Nhắc đến Đờn ca tài tử người ta nghĩ ngay đến xứ miệt vườn, đến vùng đất phương Nam. Đây là thể loại “thính phòng” đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung. Với người dân Nam bộ, Đờn ca tài tử đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá truyền thống lâu đời. 

Tại phiên họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan ngày 05/12/2013 đã khẳng định, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam được công nhận vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Image

 
 Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 05/12/2013.

 

Cụ thể, Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam, Đờn ca tài tử liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hoà hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc; Việc ghi danh Đờn ca tài tử Nam Bộ vào Danh sách Đại diện có thể thúc đẩy việc trao đổi giữa các cộng đồng, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật trong phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế; Các biện pháp bảo vệ nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức sẽ được thực hiện với sự tham gia tích cực của các học viên, các chuyên gia, các tổ chức chuyên ngành và với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước; Hồ sơ đề cử được xây dựng với sự tham gia của các thành viên cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành và các chuyên gia, các thành viên cộng đồng tự nguyện đề cử và cùng cam kết bảo vệ; Di sản đã được Viện Âm nhạc Việt Nam kiểm kê từ năm 2010 với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng; năm 2012 được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Việc Đờn ca tài tử Nam Bộ được vinh danh cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình âm nhạc này của Việt Nam, đồng thời chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới.

Chúng ta hãy cùng nhìn lại chặng đường phát triển của Đờn ca tài tử cũng như những nét cơ bản về loại hình âm nhạc truyền thống này.

Quá trình hình thành: Theo chân cha ông đi mở cõi   

GS.TS Trần Văn Khê cho biết đến nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định về niên đại cụ thể của nghệ thuật Đờn ca tài tử. Dựa theo các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân thì Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Lúc này ở Nam bộ đã hình thành 2 nhóm ca nhạc tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra sức cải tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung vào.

 Image

Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn), trưởng nhóm miền Đông là ông Nguyễn Quang Đại. Nguyễn Quang Đại là nhạc quan của triều đình Huế, vì bất mãn cảnh phải phục vụ giặc Lang Sa xâm lược, đã bỏ kinh thành vào Nam sau khi hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (khoảng thập niên 1870). Ông trôi dạt đến vùng đất Chợ Đào (nơi có gạo Nàng Thơm Chợ Đào, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An), mở lớp dạy đờn ca. Ông là người Quảng Nam, con thứ ba trong gia đình, theo cách gọi của dân Nam bộ là Ba Đại, nhưng nói trại theo tiếng Quảng Nam là Ba Đợi. Tại Chợ Đào, ông Ba Đợi thu nhận những học trò có máu mê đờn ca để truyền dạy những bài bản cung đình. Nhạc lễ cung đình trang trọng, hoành tráng đã trở nên dân dã, gần gũi trong môi trường của vùng đất mới khẩn hoang. Từ Cần Đước, nhạc tài tử được khơi nguồn từ ông Ba Đợi đã nhanh chóng giao thoa cùng các dòng nhạc lễ khác ở Nam Bộ, hình thành nên bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử nam bộ từng phát triển rực rỡ trong nửa đầu thế kỷ 20.

 

Trước đó, ông Ba Đợi và những nhạc quan của triều Nguyễn trên đường vào Nam đã dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam; từ đó Ca Huế mang theo chút âm hưởng xứ Quảng.

Vào đến miền Nam, Đờn ca tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới. Những con người tháo vát, đầy sáng tạo, tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của Đờn ca tài tử thường thích những điệu có phảng phất nỗi u buồn. Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu thay đổi tuỳ lúc, tuỳ người. Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học trò: “Lễ phải có Nghi. Nhạc phải có Hoà. Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt, khoan”.

Mặc dù nghệ thuật Đờn ca tài tử có lịch sử hình thành muộn hơn so với nghệ thuật Tuồng, Chèo, Quan họ hay Ca trù …nhưng điều đáng quan tâm là loại hình nghệ thuật này đã chứa đựng đầy đủ, mang đậm các giá trị văn hoá Việt với những đặc trưng đa dạng, độc đáo; vừa mang tính chuyên nghiệp vừa đậm chất dân dã, tài tử.

Nhạc khí trong Đờn ca tài tử

Nhạc khí chính là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh (thập lục). Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng “thổ” pha tiếng “kim”, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò), đôi khi có ống sáo thổi ngang hay ống tiêu thổi dọc. Và đặc biệt là song lang (nghĩa là hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp. Ngoài ra còn có các nhạc khí khác như đàn sến, đàn gáo, đàn độc huyền (đàn  bầu), đàn tỳ bà nhưng ít thông dụng.

 Image

 

Từ khoảng năm 1930 có thêm những nhạc khí phương Tây như vi-ô-lông, măng-đô-luyn khoét phím, ghi-ta măng đô, ghi-ta Hạ-uy-di, ghi-ta Tây Ban Nha được chỉnh lại, thường gọi là ghi-ta phím lõm, để có thể “nói” trung thực, chính xác ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Trong Đờn ca tài tử thường có 2 cách lên dây đàn chính: dây bắc (đàn những bản hơi Bắc, hơi Quảng, hơi Nhạc) và dây nam (đàn những bản hơi Xuân, hơi Ai, hơi Đảo), thường khi còn có thêm dây Oán và dây Vọng cổ; mỗi nhạc khí lại có cách lên dây đặc biệt. Dàn nhạc rất được chú trọng trong Đờn ca tài tử, người nghe để ý vào tiếng đàn nhấn “có gân”, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến “xang, hò, xề…” ngọt ngào; cách đàn “câu thòng, câu nhồi, câu lợi” bay bướm. Nhưng tiếng ca cũng không kém phần quan trọng.

Bài “Dạ cổ hoài lang” của Cao Văn Lầu ra đời cuối thập niên 1910, đã phát triển rực rỡ trong những thập niên sau đó để trở thành bài vọng cổ lừng danh. Tiếng nhạc du dương và lời ca bình dị rất hợp với người Nam bộ; hình ảnh người chinh phụ ở đây đã hoà nhập thực sự vào cuộc đời thường, phản ánh đúng tâm trạng yếu đuối của người phụ nữ khi xa chồng, nhất là trong những hoàn cảnh bắt buộc phải chia duyên rẽ thuý. Có lẽ chính cái “tính thường” này đã làm rung cảm người nghe.

Những nét đặc thù của nghệ thuật Đờn ca tài tử

– Rao: Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu rao theo hơi đó, một mặt dẫn thính giả đi vào làn điệu, vào hơi để nghe bản đàn, đồng thời cũng là nghe thử cây đàn có phím nào lệch hay dây đàn cứng quá hoặc mềm quá không, để lúc biểu diễn tiếng nhạc được hoàn chỉnh hơn.

 Image

 

Khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung luôn có nét nhạc cố định, câu “rao” theo truyền thống miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu người học đàn theo cách của thầy, nhưng khi đạt đến mức nghệ thuật khá cao thì được phép sáng tạo những câu rao của riêng mình. “Rao” thể hiện toàn bộ khả năng ứng tấu và cả cá tính của người nhạc sĩ tài tử. Câu “rao” không chỉ là lời mở đầu cho bài bản mà có khi còn chứa đựng cả cung bậc của tình cảm: hỷ, nộ, ái, ố, bi, ai…Qua câu “rao”, thính giả sành điệu có thể nhận thức được tính tình của người đàn. Hoặc với những nhạc sư lão luyện có thể chỉ với vài câu “rao”, người ngoài nhạc giới Tài tử, người chưa từng biết về Đờn ca tài tử Nam bộ cũng có thể hiểu được, cảm thông và thưởng thức trọn vẹn phong cách Đờn ca tài tử, hiểu biết về “người Tài tử”.

– Chữ nhạc: Mỗi chữ nhạc không có cao độ tuyệt đối, chỉ có cao độ tương đối, cũng không có cao độ nhất định mà có thể là một chữ đàn “non” hay “già”. Nhiều chữ nhạc trong bản đàn được tô điểm bằng cách nhấn nhá, rung, mổ. Bàn tay mặt tạo ra những “thanh” có cao độ, cường độ, màu âm, nhưng đó mới là cái “xác” của âm nhạc, phải nhờ bàn tay trái rung, nhấn để tạo nên cái “hồn” làm nên giá trị đích thực của nghệ thuật.

– Những cách tô điểm đặc thù: Thường thì trong các loại nhạc tô điểm là điều không bắt buộc, nhưng trong nhạc tài tử, chính những cách tô điểm đặc thù, nhất là cách đàn chữ “xang”, tạo nên cái bản sắc, cái giá trị tinh tế của Đờn ca tài tử. GS Trần Văn Khê đã ví von: “Một chữ nhạc mà nhạc sĩ không tô điểm cái riêng của mình như một đêm không trăng sao”… Trong thang âm hơi Bắc, những chữ xự – cống phải rung, hò – xang – xê mổ. Trong thang âm hơi Quảng thì ngược lại, xự – cống phải mổ, hò – xang – xê rung. Để đàn hơi Xuân, cách tô điểm chữ xang là quan trọng nhất, đi từ xang vuốt lên xê, có thể lên gần chữ cống non (thường trong nghề gọi là xế), trở về xang. Để đàn hơi Ai, chữ xang rung lúc đầu, vuốt nhẹ lên hơi xê mà không trở về xang. Do đó, trong nghệ thuật Đờn ca tài tử có 4 cách đàn chữ xang thật đúng mới thể hiện các hơi một cách rõ ràng: hơi Bắc vui vẻ, hơi Quảng rộn ràng, liến thoắng, hơi Xuân êm đềm thanh thản, hơi Ai, hơi Oán buồn thảm.

– Cấu trúc âm thanh: Đờn ca tài tử có cấu trúc “động và mở” thay vì “tịnh mà đóng” như phương Tây.

– Phát triển và vận hành giai điệu: Khi hoà đàn, người đờn ca tài tử không bao giờ lặp lại y khuôn “lòng bản” như thầy đã dạy mà phải dựa theo quan điểm thẩm mỹ “học chân phương, đàn hoa lá”. Đặc biệt cách phát triển và vận hành giai điệu trong Đờn ca tài tử tuân theo những nguyên tắc của dịch lý, một triết lý sống trong xã hội người Việt nói riêng và người vùng Đông Nam Á nói chung. Theo đó thì con người và sự vật luôn thay đổi không ngừng, nhưng sự thay đổi đó không làm ta biến dạng vì có những yếu tố bất dịch không thể thay đổi được, nghĩa là có “biến dịch” mà cũng có “bất dịch”.

Cũng vậy, trong đàn tài tử thì “nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền” của mỗi câu trong  bài bản có thể thay đổi tuỳ trường phái hay người đàn, nhưng “lòng bản” không thể thay đổi, do vậy người đàn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại thì người nghe vẫn nhận ra bản đàn.

Ngoài ra lại còn có giao dịch: Khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì phải thay đổi để không đi đến xung đột. Hoà đàn tài tử cũng vậy: nếu tỳ bà hoà với đàn kìm, vì cả hai có màu âm gần giống nhau nên thường thì đàn kìm chơi nhịp nội trong khi tỳ bà đàn nhịp ngoại để có sự hoà hợp.

– Bài bản: Theo thường Đờn ca tài tử có 20 bài tổ, tuy không phải người Đờn ca tài tử nào cũng thuộc đầy đủ hay khi hòa đàn cũng không bắt buộc phải chơi hết 20 bài, nhưng các nghệ sĩ đều phải biết tên các bài đó bao gồm:

6 bài Bắc: Tây Thi, Cổ bản, Lưu thuỷ trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ.

3 bài Nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay đảo ngũ cung.

4 bài Oán: Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng.

7 bài lớn (có khi gọi là 7 bài hơi nhạc hoặc 7 bài cò): Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá.

Ngoài ra có rất nhiều bài bản khác được dùng, trong đó vọng cổ 32 nhịp là thông dụng nhất. Trong một chương trình hoà nhạc Đờn ca tài tử lúc nào cũng có bài vọng cổ.

Ngày xưa buổi hoà nhạc bắt đầu bằng  những bản đàn, bài ca điệu Bắc, hơi Bắc vui tươi; tiếp theo chuyển sang hơi Quảng, hơi nhạc, hơi Hạ; rồi qua điệu Nam, hơi xuân, hơi Ai,qua Đảo ngũ cung. Phần cuối bao giờ cũng chuyển sang hơi Oán, Ai oán và Vọng cổ là những điệu buồn vẫn được người nghe chuộng hơn những bài vui.

Phát triển qua những chặng đường

Lần theo tư liệu của các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ Nam bộ và những người yêu nghệ thuật Đờn ca tài tử, người ta có thể biết rằng, kể từ nửa cuối thế kỉ XIX tới nay, Đờn ca tài tử Nam bộ đã có một quá trình phát triển trên một trăm năm. Con số đó thật nhỏ nhoi so với lịch sử âm nhạc của một quốc gia đã có tuổi đời hàng ngàn năm. Mặc dù vậy, thể loại âm nhạc này đã có một sức phát triển thật đáng khâm phục, không chỉ bởi tốc độ phát triển nhanh chóng của nó, mà cả bởi sức chống chọi với bối cảnh khắc nghiệt mà nó phải đương đầu.

Đã từ rất lâu, Đờn ca tài tử vốn là một thể loại ca nhạc thế tục phổ biến rất rộng rãi trong đời sống thường ngày của người dân trên đất Nam bộ. Chính bởi được sinh ra và được ấp ủ, nuôi dưỡng trong lòng dân mà thể loại này trở thành phương tiện để bộc lộ nỗi lòng của người dân và có một sức phát triển vô cùng mãnh liệt. Ngay từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, biết bao bài bản tài tử đã ra đời, khóc lên nỗi đau mất nước, cảnh mẹ mất con, vợ lìa chồng… Văn Thiên Tường của ông Trần Văn Thọ để tưởng nhớ Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, ít lâu sau, khi nhà yêu nước này bị thực dân Pháp giết hại tại Mỹ Tho; Bát ngự của ông Ba Đợi sáng tác nhân dịp vua Thành Thái vào Sài Gòn (khoảng năm 1898-1899), để tỏ lòng ngưỡng vọng của nhân dân đối với quân vương- vì lòng tôn quân ái quốc, dẫu họ bị triều đình bỏ rơi trong cuộc chiến 1859-1894; Tứ bửu của ông Nhạc Khị diễn tả nỗi thương tâm cùng tột của con người sống trong cảnh nước mất nhà tan. Theo Trần Phước Thuận, khi sáng tác bản Ai tử kê (sau thường gọi là Ái tử kê Bạc Liêu) trong bộ tứ đó, tác giả của nó đã liên tưởng tới cái cảnh “chít chiu” của bầy gà con mất mẹ với cái cảnh Thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Huế đầu hàng giặc bỏ mặc người dân bơ vơ đau khổ. Bản nhạc được đánh giá như “một nhạc phẩm tuyệt vời- điệu nhạc khi bổng khi trầm như oán như than, đã khắc hoạ được cái nỗi đoạn trường của người dân mất nước”.

Hai thập kỷ đầu thế kỷ XX, bởi chính là tiếng lòng của người dân, cho nên phong trào Đờn ca tài tử ngày càng lan rộng và phát triển mạnh mẽ khắp nơi – từ các thành đô sầm uất cho tới tận những vùng hoang vu vắng vẻ nhất như Đồng Tháp Mười, Rừng U Minh… Nhờ sự phát triển nhanh chóng của phong trào đờn ca tài tử, chẳng những trình độ đờn ca của người nghệ nhân phát triển nhanh chóng mà trình độ thưởng thức âm nhạc của nhân dân cũng được nâng lên rất cao. Sau hoặc giữa những buổi hoà nhạc, thường có những cuộc thảo luận sôi nổi. Có những chính kiến khác nhau về vấn đề biểu diễn giữa những người già và người trẻ. Họ bàn tán về những kỹ thuật với một tinh thần bảo vệ và phát triển nghệ thuật như một nhiệm vụ. Còn nghệ nhân, “phải là tay cao siêu mà phải trải qua nhiều cuộc thử thách thi tài mới có đủ uy tín để tiếp thu đồ đệ”. Qua những bài viết trên các sách báo ở Nam bộ những thập kỷ đầu cho tới những thập kỷ 50-60 của thế kỷ XX cũng có thể cảm nhận rõ sự tinh thông về bộ môn nghệ thuật này của công chúng say mê cổ nhạc Nam bộ.

Nhờ sự giao lưu và thi đua giữa các môn phái tài tử miền Đông và miền Tây lúc bấy giờ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của đờn ca tài tử – chẳng những về kỹ thuật đờn, ca, mà cả về phương diện ghi chép, hệ thống hoá, tu chỉnh những bản nhạc cổ, đào tạo những nghệ sỹ đờn ca, sáng tác, nhờ đó dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của phong trào sáng tác mới theo lối cổ nhạc.

Ngoài 20 bản Tổ, còn phát triển thêm 8 bài Ngự, 10 bài Liên hoàn cùng vô vàn dị bản của chúng và rất nhiều bản mới do các nhạc sư, nghệ sỹ tài năng sáng tác, trong số đó có nhiều bản còn được lưu truyền cho tới nay cùng hàng trăm bài ca gắn với di sản âm nhạc phong phú đó. Từ lối sinh hoạt tri âm tri kỷ trong khuôn viên gia đình, chòm xóm, hoặc trên dòng nước lung linh bóng trăng, đờn ca tài tử bước lên dưới ánh đèn lộng lẫy của sân khấu tân thời, sau đó nhanh chóng đổi mới cả về phương thức và hình thức trình diễn. Chỉ trong vòng trên dưới 10 năm, lối ca tứ đại oán “Bùi Kiệm – Nguyệt Nga” như có vấn đáp của cô Ba Đắc đã gợi ý cho sự sáng tạo từng bước hình thức ca ra bộ, rồihát chập, hát lớp, cuối cùng dẫn tới sự hình thành một thể loại sân khấu kịch hát mới- thể loại kịch hát “vua”, có sức lan truyền mạnh mẽ nhất trong cả nước ở nửa cuối thế kỷ XX: hát cải lương, tức sân khấu cải lương. Trong suốt chặng đường trên nửa thế kỷ ấy, đờn ca tài tử phải đối mặt với những thách thức mới: sự bành trướng và sức hấp dẫn mãnh liệt của hát cải lương, và sau đó chẳng bao lâu, của tân nhạc (nhạc mới) Việt Nam. Bên cạnh đó là những trào lưu văn hoá nghệ thuật Âu Mỹ vẫn tiếp tục xâm nhập và ảnh hưởng không nhỏ tới tập quán, lối sống, thị hiếu… của người dân. Tuy nhiên, bất chấp tất cả Đờn ca tài tử vẫn tiếp tục con đường của mình: thích ứng với thời đại, sẵn sàng tiếp nhận cái mới để phát triển, nhưng kiên cường gìn giữ bản sắc cố hữu của mình. Nó tồn tại song song dưới cả hai hình thức – sinh hoạt thính phòng tri kỷ như thủa xưa và những hình thức trình diễn mới: trên sân khấu – trước đông đảo công chúng, hoặc tách biệt hẳn với công chúng qua phương thức thu – phát trên các phương tiện truyền thông mới du nhập và các đĩa hát… Đáng nể hơn nữa, nó đã không bị những hình thức hát mới thay thế hoặc làm lụi tàn. Trái lại, đờn ca tài tử còn tiếp tục làm chỗ dựa vững chắc và là nguồn hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của sân khấu cải lương.

Theo sự bành trướng mạnh mẽ của sân khấu cải lương, cổ nhạc cùng những sáng tạo của giới tài tử Nam bộ đã được lan truyền ra khắp đất nước, thậm chí sang cả các nước láng giềng – nơi có Việt kiều sinh sống, rồi bằng nhiều con đường, được truyền bá tới tận những đất nước xa xôi khác. Cho tới nay, Đờn ca tài tử vẫn tồn tại ở các tỉnh Nam bộ như một nhu cầu tinh thần không thể thiếu của người dân. Nhiều bài bản của nó vẫn được truyền dạy ở các trường nghệ thuật, các lớp dạy tư của nghệ nhân, nghệ sỹ cả ba miền đất nước cũng như ở nước ngoài. Giới trẻ vẫn có những người theo học loại nghệ thuật tinh xảo này. Dẫu đã ngót trăm tuổi, nhạc sư danh tiếng Nguyễn Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục tiếp nhận và trao truyền không mệt mỏi vốn cổ nhạc quý giá này cho học trò khắp bốn phương. Dẫu đã bước qua ngưỡng “thất thập cổ lai hy”, nhà nghiên cứu Trương Bỉnh Tòng vẫn miệt mài với những công trình nghiên cứu sâu sắc về cổ nhạc Nam bộ. Bên cạnh họ còn nhiều nghệ sỹ, nghệ nhân tài năng và các nhà nghiên cứu trẻ thuộc những thế hệ kế tiếp nhau cùng tiếp bước…

Bước đường đến với UNESCO

Ngày 03/8/2010, Bộ VHTTDL đã ban hành Quyết định số 2681/QĐ-BVHTTDL giao Viện Âm nhạc (thuộc Học Viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam) chủ trì, phối hợp với các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nghệ thuật Đờn ca tài tử và các cơ quan liên quan xây dựng Hồ sơ “Nghệ thuật Đờn ca tài tử” trình UNESCO ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Thực hiện công văn số 2796/BVHTTDL-DSVH ngày 12/8/2010 của Bộ VHTTDL về việc phê duyệt kế hoạch Đề án xây dựng Hồ sơ nghệ thuật Đờn ca tài tử, các tỉnh/thành có bộ môn nghệ thuật này đã ban hành kế hoạch về việc kiểm kê Nghệ thuật đờn ca tài tử trên địa bàn.

Theo kết quả kiểm kê năm 2011, Nghệ thuật Đờn ca tài tử hiện đang được phát triển ở 21 tỉnh, thành phố phía Nam là: An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang, TP. Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Long An, Ninh Thuận, Sóc Trăng, Tây Ninh, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long. Trong đó, Bạc Liêu, Bình Dương, Tiền Giang và TP. Hồ Chí Minh là những tỉnh, thành phố có nhiều người hát đờn ca tài tử nhất. Cả nước hiện có hơn 2.500 câu lạc bộ, nhóm, gia đình với hơn 29.000 người tham gia sinh hoạt Đờn ca tài tử (người trẻ nhất 6 tuổi, già nhất 99 tuổi).

Theo Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL ngày 27/12/2012, nghệ thuật Đờn ca tài tử cũng có mặt trong danh sách 33 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1).

Hàng năm, các tỉnh/thành đều tổ chức liên hoan Nghệ thuật Đờn ca tài tử nhằm tôn vinh những tập thể, cá nhân có công bảo tồn, phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử, cũng là dịp để các nghệ sỹ, nghệ nhân giao lưu, trao đổi kinh nghiệm trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.

 Image

 

Để chuẩn bị cho Lễ đón nhận Bằng của UNESCO vinh danh Đờn  ca tài tử Nam Bộ là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, từ cuối tháng 01/2014, Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên đã phối hợp với đại diện Cục Di sản văn hóa, Viện Âm nhạc Việt Nam và đại diện UBND, Sở VHTTDL của 21 tỉnh, thành phía Nam tổ chức nhiều cuộc họp triển khai kế hoạch liên tịch tổ chức Lễ vinh danh. Thứ trưởng nhấn mạnh: “Lần đầu tiên, phía Nam có loại hình nghệ thuật được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đờn ca tài tử được vinh danh đã nhận được sự ủng hộ và tự hào của không chỉ nhân dân trong nước mà còn cả kiều bào nước ngoài. Đây cũng là sự kiện mang ý nghĩa chính trị, nhân văn sâu sắc… Việc tổ chức đón Bằng vinh danh phải tổ chức trang trọng, nổi bật được tầm quan trọng của di sản này”.

Sau lễ vinh danh, nhiều gương mặt nghệ nhân, tay đàn nổi tiếng hiện nay, các tài tử đờn, tài tử ca của 21 tỉnh, thành phố Nam Bộ sẽ hội tụ tại Bạc Liêu trong Festival Đờn ca tài tử lần đầu tiên với chủ đề “Đờn ca tài tử – Tình người, tình đất phương Nam” diễn ra vào tháng 4 tới. Sau Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất này, nhiều địa phương như Bình Dương, Tiền Giang… cũng đã đăng ký đăng cai kỳ festival tiếp theo. Dự kiến, Festival Đờn ca tài tử toàn quốc sẽ được tổ chức luân phiên tại các tỉnh, thành phố 3 năm/lần nhằm gìn giữ và phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử trong đời sống hiện đại, đồng thời tạo sức hút cho du lịch Nam Bộ.

Nguyên Hà (ảnh: Internet)

http://cinet.vn/ArticleDetail.aspx?articleid=75032&sitepageid=27

 

Nghệ Nhân Dân Gian – Nữ Danh Ca BẠCH HUỆ: Không còn nữa


Trang nhất » Tin Tức » Đời thường nghệ sĩ

Nghệ Nhân Dân Gian – Nữ Danh Ca BẠCH HUỆ: Không còn nữa

Thứ bảy – 12/10/2013 15:06

 
 
Linh cửu NS Bạch HuệLinh cửu NS Bạch Huệ

(CLVN.VN) – NS Bạch Huệ vừa qua đời vào sáng nay (12-10-2013) tại Dưỡng Lão nghệ Sỹ, thọ: 80 tuổi. Cô ra đi rất nhẹ nhàng, buổi sáng như thường ngày các NS tại DLSN quay quần bên nhau xem film, NS Bạch Huệ thích film Bao Công nhưng đến giờ chiếu film mà NS Bạch Huệ chưa ra xem. Nữ NS Lệ Thẫm bèn mở cửa phòng của NS Bạch Huệ để kêu, thấy cứ tưởng NS Bạch Huệ đang ngủ, nên cầm chân để đánh thức thì tá hỏa …chân đã lạnh ngắt, và NS bạch Huệ đã ngưng thở tự lúc nào không hay.

TANG LỄ NS BẠCH HUỆ TỔ CHỨC TẠI DƯỠNG LÃO NS

Khi NS mở cửa phòng gọi Cô ra xem film Bao Công thì Cô đang nằm thế này …

Zoom in (real dimensions: 800 x 600)Hình ảnh

Phát hiện Cô qua đời…giử nguyên hiện trường gọi cho người nhà đến.
Người nhà đến và sửa soạn lại cho Cô nằm

Zoom in (real dimensions: 800 x 600)Hình ảnh

Mới chết đây thôi vì cơ thể còn mềm …nhưng rờ lên mũi thì…không còn thở nửa

Zoom in (real dimensions: 700 x 933)Hình ảnh

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ tên thật là Huỳnh Thị Huệ, sanh năm 1933 tại Cần Thơ. Con của nhạc sư Sáu Tửng, chuyên đờn kìm và là em ruột của nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh, người được biết qua hai bài tân nhạc đã một thời là nhạc được ưa thích nhất của giới sinh viên – thanh niên ở Saigon.

Đó là bản nhạc Hoa trắng thôi cài trên áo tím, nhạc Huỳnh Anh, thơ Kiên Giang và bản nhạc Mưa Rừng, sáng tác riêng cho cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga ca trong tuồng Mưa Rừng của Hà Triều Hoa Phượng.

Truyền thống gia đình 

Từ nhỏ, cô Bạch Huệ đã thâm nhiểm điệu đàn câu ca cổ nhạc vì cha của cô là nhạc sư chuyên xử dụng cây đờn kìm, ông có nhiều bạn nhạc sĩ thường tổ chức những buổi đờn ca tài tử ở địa phương. Khi nhạc sư Sáu Tửng đi đờn cho gánh hát của bà Phùng Há thì ở nhà, cô Bạch Huệ cũng được các chú bác nhạc sĩ, bạn của cha cô dạy cho cô ca và mời cô tham gia các buổi đờn ca tài tử. Bạch Huệ nổi tiếng là một danh ca, ca rất đúng bài bản cổ nhạc và ca chắc nhịp, giọng ca mượt mà truyền cảm nên nhiều người khuyên cô nên theo nghề nghiệp cầm ca của gia đình.

Năm 1947, lúc 14 tuổi, Bạch Huệ lên Saigon tìm đường tiến thân bằng con đường ca cổ nhạc. Nhiều nhạc sĩ đờn cho các quán ca nhạc và đài phát thanh là bạn của nhạc sư Sáu Tửng nên họ mời Bạch Huệ đến ca trong quán ca nhạc Đức Thành Hưng ở sau chợ Saigòn và quán cổ nhạc của thầy Mười An ở Cầu Ông Lãnh. Cô Bạch Huệ nổi danh là một danh ca chẳng những tốt giọng mà về nghệ thuật, cô ca rành rẽ, đúng điệu 20 bài bản Tổ, 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán và 7 bài. Đây là một trường hợp đặc biệt vì ít có ca sĩ học đầy đủ trọn bài bản, phần đông các ca sĩ chỉ học ca từng lớp của mỗi bài ca. Ví vụ ca Nam Ai, họ chỉ học Nam Ai lớp một hay bản Nam Ai lớp mái, chứ không học đủ trọn bài một cách căn bản như Bạch Huệ.

Danh ca Tám Thưa, trưởng Ban Việt Nam Cổ Nhạc đoàn mời cô ca trên đài Phát Thanh Pháp Á và sau đó thu nhận cô làm ca sĩ của Ban Việt Nam Cổ nhạc đoàn. Đài Phát Thanh Saigon. Các hãng dĩa Asia, Hoành Sơn, Pathé cũng nhanh chóng khai thác giọng ca lạ và khả năng ca nhiều bài bản của nữ danh ca Bạch Huệ để giới thiệu với thính giả miền Nam và cả thính giả Hà Nội và Huế

Nữ ca sĩ Bạch Huệ ca theo lối chân phương, đúng từng điệu thức, đúng theo phong cách tài tử nên thính giả , thực khách của các nhà hàng ca nhạc rất thích nghe nữ danh ca Bạch Huệ ca, tuy nhiên vì số thính giả chọn lọc nên số thính giả đó chỉ là một số rất ít nếu so với khán giả cải lương, vì vậy thu nhập của các ca sĩ tài tử như Bạch Huệ, Sáu Thoàng, Chín Sớm cũng thua sút xa so với các danh ca vọng cổ trong lãnh vực cải lương như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Mỹ Châu, Ngọc Giàu…

Các danh ca chuyên đờn ca tài tử như Sáu Thoàng, Chín Sớm, Thành Công, Kim Nguyên gia nhập các gánh hát Kim Thoa, Thanh Minh, Kim Chung với hy vọng tìm một địa vị khả quan trên sân khấu cải lương nhờ vào giọng ca tốt và biết nhiều bài bản cổ nhạc. Nữ danh ca Bạch Huệ cũng gia nhập đoàn hát Hoài Dung – Hoài Mỹ và trong hai năm 1957 – 1958, cô đã thay đổi qua các đoàn hát khác như Song Kiều, Kim Thanh, Tơ Đồng nhưng ca sĩ Bạch Huệ sớm nhận ra rằng hát trên sân khấu cải lương không phải chỉ có ca cổ nhạc mà còn phải có khả năng diễn xuất, phải có duyên sân khấu và phản ứng nhạy bén với các bạn diễn. Diễn viên cải lương muốn thành công cần phải có nhan sắc đẹp, giỏi vũ đạo trên sân khấu, có phong thái sang trọng, và nhứt là có dịp may gặp một vai tuồng thích hợp để phát huy khả năng ca diễn của mình.

Danh ca vọng cổ 

Nhạc sĩ tân nhạc Huỳnh Anh. Hình của Soạn giả Nguyễn Phương. Nữ ca sĩ Bạch Huệ không được khán giả hoan nghinh như các thính giả đã hoan nghinh giọng ca tài tử của Bạch Huệ. Do đó, tuy trong việc đờn ca tài tử ở các đài phát thanh, hãng dĩa hay các quán ca nhạc không mang lại cho Bạch Huệ một số thu nhập khá để cho cuộc sống được thoải mái nhưng Bạch Huệ cũng đành chấp nhận việc trở về với ca nhạc tài tử ở Đài Phát Thanh, hợp với khả năng của cô.

Trong những thập niên 50, 60, 70, các danh ca vọng cổ thành danh trên sân khấu cải lương đều có ký contrat bạc triệu với các bầu gánh hát, số lương cũng lên đến vài ngàn đồng mỗi suất hát. Các danh ca tài tử thì bị thiệt thòi về tài chánh, số thu nhập rất khiêm tốn. Ca sĩ Thành Công có vợ là chủ tiệm may Hạnh Dung nên cuộc sống kinh tế thoải mái hơn các ca sĩ tài tử khác.

Nữ ca sĩ Bạch Huệ vẫn đeo đuổi theo nghiệp cầm ca mà cô đã chọn theo truyền thống của gia đình. Tuy thu nhập vừa đủ sống nhưng về phần tinh thần thì Bạch Huệ được các nghệ sĩ ngành ca cổ tôn vinh là bậc thầy trong lối ca tài tử.

Khi cô Ngọc Ánh, giảng viên dạy ca cổ nhạc trường quốc gia âm nhạc từ trần, Bạch Huệ được mời dạy ca thế cho cố nghệ sĩ Ngọc Ánh.

Đến những năm 1990, tình hình sân khấu cải lương xuống dốc, người ta tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc với hy vọng phục hồi phong trào đờn ca tài tử cổ nhạc, tiền thân của nghệ thuật sân khấu cải lương. Nội dung chương trình Vầng Trăng Cổ Nhạc gồm có nhiều bài vọng cổ nổi tiếng, nhiều trích đoạn cải lương hay với thành phần nghệ sĩ tài danh nhiều thế hệ đã thu hút đông đảo khán giả mỗi tháng một lần, khi thì Vầng Trăng Cổ Nhạc được tổ chức trên sân thượng khách sạn Rex, khi thì được tổ chức trong khu du lịch Đầm Sen. Ở khu dưỡng lão nghệ sĩ cũng tổ chức mỗi tháng một lần chương trình Đêm Rầm Ca Hát.

Các tỉnh tổ chức Vầng Trăng Cổ Nhạc ở địa phương và tổ chức nhiều cuộc thi tuyển những giọng ca vàng, các tour du lịch sinh thái có đờn ca tài tử cổ nhạc. Nữ ca sĩ Bạch Huệ tuy đã lớn tuổi ( 74 tuổi ) nhưng sức khoẻ nghệ sĩ Bạch Huệ còn tốt, giọng ca còn truyền cảm nên cô được mời dạy ca cho các lớp ca tài tử từ vỡ lòng đến các lớp cao với 20 bài bản tổ ở thàng phố và một số tỉnh như Bà Rịa – Vũng Tàu, Thành phố Cần Thơ. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ cũng được mời làm giám khảo các kỳ thi đờn ca tài tử ở thành phố và các tỉnh.

Khi sân khấu cải lương diễn trọn tuồng không có rạp hát để diễn, khán giả cải lương mất dần thói quen đến rạp hát để coi hát thì những chương trình ca lẽ, ca vọng cổ và hát trích đoạn cải lương của Vầng Trăng Cổ Nhạc được khán thính giả ưa thích, dịp nầy khiến cho nữ nghệ sĩ Bạch Huệ và các ca nhạc sĩ chuyên đờn ca tài tử có đất để hoạt động. Nữ nghệ sĩ Bạch Huệ được phong là Nghệ Nhân Dân Gian sau 60 năm góp công với nền nghệ thuật đờn ca tài tử.

Hiện nay ít có nghệ sĩ thông hiểu tường tận và đầy đủ 20 bài bản Tổ, phần lớn các nghệ sĩ chỉ học ca từng lớp trong mỗì bản ca theo yêu cầu của từng tuồng, tôi nghĩ là nếu không thu thanh ghi âm lại tất cả điệu thức, cách ca, cách đờn thì tôi e rằng sau khi các nghệ nhân lão thành khuất núi rồi thì nghệ thuật đòn ca 20 bài bản Tổ sẽ thất truyền.
 

VÀI HÌNH ẢNH LƯU NIỆM CỦA NS BẠCH HUỆ VỚI TRANG NHÀ CAILUONGVIETNAM.VN
Hình ảnh

Cô góp vui lại một bài hát :

Zoom in (real dimensions: 1024 x 576)Hình ảnh

Trang nhà và toàn bộ các nghệ sĩ trong viện DLNS – trong đó cô ngồi phía tay trái:

LÊ PHƯỚC : Bạch Huệ : Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ


Image

23.11.2013 10:15
Xem hình
 

Nếu những bậc trí giả ngày xưa có bốn thú tiêu dao tao nhã là : cầm, kỳ, thi, họa (đờn, cờ, thơ, vẽ), thì từ đầu thế kỷ 20 người nông dân miền sông nước Cửu Long cũng bắt đầu biết đến một thú tiêu dao bình dị nhưng rất hàn lâm: Đờn ca tài tử. Đến hiện tại có thể nói rằng, Đờn ca tài tử là một bản sắc văn hóa độc đáo của người Nam Bộ. 

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1372

Image
Nghệ nhân dân gian Bạch Huệ (DR)

Nếu những bậc trí giả ngày xưa có bốn thú tiêu dao tao nhã là : cầm, kỳ, thi, họa (đờn, cờ, thơ, vẽ), thì từ đầu thế kỷ 20 người nông dân miền sông nước Cửu Long cũng bắt đầu biết đến một thú tiêu dao bình dị nhưng rất hàn lâm: Đờn ca tài tử. Đến hiện tại có thể nói rằng, Đờn ca tài tử là một bản sắc văn hóa độc đáo của người Nam Bộ. 

Trải qua thời gian trên dưới một thế kỷ, trong làng Đờn ca tài tử đã xuất hiện nhiều “tay ca” cự phách. Và một trong những tay ca thuộc hàng cự phách nhất đó là nữ danh ca Bạch Huệ, người đã “ca tài tử” cho đến ngày nhắm mắt.

Con nhà tông …

Nữ danh ca tài tử Bạch Huệ sinh năm 1933 tại Cần Thơ. Cha cô là thầy đờn Sáu Tửng, một tay đờn kìm quán tuyệt, một danh cầm lừng lẫy thuộc hàng tiền bối của Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá (Ba người được mệnh danh là Tam Hùng trong làng đờn cổ nhạc hồi trước). Danh cầm Sáu Tửng, ngoài nổi tiếng trong lĩnh vực Đờn ca tài tử, còn tham gia đờn cho nhiều đoàn hát cải lương chuyên nghiệp. Bạch Huệ có một người anh trai là nhạc sĩ nổi tiếng Huỳnh Anh, tác giả của bài tân nhạc trứ danh Mưa Rừng (viết riêng cho Thanh Nga và đến hiện tại vẫn còn được nhiều người yêu thích).

Từ nhỏ, Bạch Huệ đã sống trong cái không khí Đờn ca tài tử của vùng đất Cần Thơ. Tiếng Đờn, lời ca câu hát tài tử đã thấm vào tâm hồn của cô lúc nào không hay biết. Để rồi, dù thân phụ không cho, nhưng Bạch Huệ vẫn lén học ca tài tử. Đến năm 13 tuổi, Bạch Huệ đã được mời ca trên đài phát thanh Pháp Á ở Sài Gòn. Bạch Huệ ca đã có tiếng nhưng cha cô lại chưa hay biết. Đến năm Bạch Huệ 18 tuổi, khi danh cầm Sáu Tửng phát hiện con gái là một tay ca tài tử điệu nghệ thì chuyện đã rồi. Và ông phải chấp nhận cái cảnh: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.

Tiếng tăm Bạch Huệ trở nên vang dội khi mà vào năm 1951, tờ báo Tiếng Dội của ông Trần Tấn Quốc -người chủ xướng giải Thanh Tâm, cho trưng cầu ý kiến độc giả, thì Bạch Huệ đoạt danh hiệu “Nữ đệ nhất danh ca”. Sau đó, nhiều đoàn hát đã mời Bạch Huệ cộng tác. Thế nhưng, có lẽ tổ nghiệp đã muốn cho “hai loài hoa trắng” trấn giữ mỗi người một lĩnh vực, nên mới cố tình sắp đặt cho “Hoa lan trắng” (Út Bạch Lan) “trấn” bên cánh nữ của cải lương, còn “Hoa huệ trắng” (Bạch Huệ) trấn bên cánh nữ của Đờn ca tài tử. Và có lẽ vì thế, sau khi tham gia một số đoàn hát cải lương chuyên nghiệp, Bạch Huệ đã không thu được thành công như khi còn ở bên Đờn ca tài tử. Cuối cùng, Bạch Huệ trở lại với lĩnh vực Đờn ca tài tử và hầu như đã “ngự trị” lĩnh vực này đến cuối đời.

Mấy thập niên qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, sân khấu cải lương chuyên nghiệp đã dần mất khán giả. Thế hệ khán giả lớn tuổi đôi khi cũng không còn mặn mà với cải lương. Và dĩ nhiên, lượng khán giả trẻ đến với cải lương là rất ít. Đờn ca tài tử là bộ môn “xưa” hơn cải lương nên thu hút càng ít người trẻ tuổi.

Thế nhưng, có một điều đặc biệt đối với Bạch Huệ, đó là giọng ca của cô lại được nhiều bạn trẻ biết đến và yêu thích. Từ năm 2008, Bạch Huệ bị tai nạn giao thông phải ngồi xe lăn, thế nhưng, người ta vẫn thấy cô xuất hiện ở hầu hết các chương trình Đờn ca tài tử từ Sài Gòn đến các tỉnh.

Thời gian gần đây, người ta vẫn còn thấy một bà lão tóc bạc ngồi xe lăn ca trên sân khấu của một phòng trà có tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh. Mọi người cũng được chứng kiến một hình ảnh đáng ngạc nhiên : mấy chục sinh viên trẻ tuổi ngồi nghe say mê bài Dạ cổ hoài lang được thể hiện bởi một bà lão liệt hai chân phải bám hai tay vào thân cột nhà để ca. Bà lão tóc bạc phơ đó chính là nữ danh ca tài tử Bạch Huệ.

Từ Đờn ca tài tử đến Cải lương

Bạch Huệ “chuyên trị” Đờn ca tài tử, chứ không phải là nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp. Đờn ca tài tử khác biệt với cải lương như thế nào? Đờn ca tài tử có phải là “quê mùa” như người ta thường nghĩ? Đờn ca tài tử có “dễ chơi” không ? Xin lướt qua đôi chút về những vấn đề này để hiểu thêm và trân trọng hơn nữa “cái nghề” mà danh ca Bạch Huệ đã gắn bó suốt 70 năm.

Tản mạn từ các tài liệu ghi chép cho liên quan, có thể khái quát về tài tử và cải lương như sau : Người dân đồng bằng Nam Bộ từ bao lâu nay có một thú vui rất văn học, đó là hò đối đáp: Hò trên đồng ruộng khi gieo mạ hay cắt lúa, hò trên sông khi chèo thuyền, hò đêm trăng trong dịp lễ cúng đình …

Từ đó mà bao câu hò điệu lý đã ra đời. Đương nhiên, cái hò không phải là do bà con Nam Bộ sáng tạo ra, mà là do ông cha ta đã du nhập vào Nam trong quá trình “Nam tiến”. Thế nhưng, những câu hò điệu lý của bà con Nam Bộ có cái rất riêng, và phải là giọng “rặc” miền Nam thì hò nghe mới hay.

Đến cuối thế kỷ XIX, Nhã Nhạc Cung Đình Huế bắt đầu tiến xuống phương Nam và đương nhiên là được văn hóa Nam Bộ dung hợp như bản chất vốn có của nền văn hóa này. Sự hội ngộ giữa hai nền âm nhạc đã cho ra đời cái gọi là “Đờn ca tài tử”. Bà con nông dân Nam Bộ khi rảnh rỗi, hay nhân dịp trăng rằm, hẹn nhau tập trung lại một nhà, ngồi ngoài sân, cùng “ăn nhậu”, cùng ca hát. “Ăn nhậu” ở đây không mang nghĩa “rượu chè be bét”, mà là: mượn men rượu làm thắm men tình, làm nồng câu ca tiếng hát.
Dần dần, người ta ngồi ca hoài cũng chán, trong khi có những bài ca mới khá dài, có chứa đựng những hành động hay những lời đối đáp. Thế là, người ca tài tử mới bắt đầu đứng dậy “ca” với những “cử chỉ” tay, mắt, mặt…để bổ trợ cho lời ca. Đương nhiên, những cử chỉ điệu bộ này hết sức “thô sơ”, thể hiện đúng như “rập khuôn” cái tình cảm mà bài ca muốn nói. Tức đúng với bản chất chân quê của người nông dân: nghĩ sao nói vậy. Đó là cách ca mà các nhà nghiên cứu sau này gọi là “Ca ra bộ”.

Trong khoảng thời gian đầu thế kỷ XX, người Việt Nam đã biết đến kịch nghệ của Pháp. Kịch cổ điển của Pháp được biểu diễn trên sân khấu, mỗi vở diễn thường được chia ra thành 5 màn, xoay quanh một cốt truyện nào đó. Loại hình này cũng đã ảnh hưởng đến những người ca tài tử Nam Bộ.

Bởi có người nghĩ : Tại sao chỉ viết những bài ca vắn mà không viết thành hẳn một tuồng cùng một cốt truyện nhưng có nhiều tình tiết và đưa lên sân khấu biểu diễn. Trong ý tưởng đó, “Cải lương” đã ra đời.

Như vậy, Cải lương nói một cách nôm na là Ca ra bộ được đưa lên trình diễn trên sân khấu. Thế nhưng, đã lên sân khấu hát nguyên tuồng thì phải “diễn xuất”. Tức là, người nghệ sĩ trên sân khấu lấy lời “ca” để bổ trợ cho động tác “diễn”. Người ta đến “xem” nghệ sĩ biểu diễn, còn người nghệ sĩ thì “hát” cho người ta “xem”. Bởi vậy mà, thường nghe ông bà ta nói là “hát cải lương”, nhưng lại là “Ca tài tử”. Bởi vì, trong Đờn ca tài tử, thì động tác “ca” là chính mà “ra bộ-diễn” là phụ.

Và khi một nghệ sĩ cải lương và một người ca tài tử thể hiện cùng một bài ca, thì qua động tác thể hiện, người ta có thể phân biệt được đâu là dân cải lương mà đâu là dân tài tử: động tác của tài tử thì “thô sơ”, có sao làm vậy, còn động tác của nghệ sỹ cải lương thì có ít nhiều ước lệ trong đó, nên nó được thể hiện đúng mức và đẹp mắt, mang tính chuyên nghiệp.

Vì cái trọng tâm là biểu diễn, cho nên người nghệ sĩ cải lương không phải bận tâm học đầy đủ bài bản tổ, mà thường chỉ học ca cái gì cần thiết cho vai tuồng mà thôi. Ví dụ như bản Phụng Hoàng 12 câu, trong vai tuồng soạn giả chỉ viết có 4 câu, thì người nghệ sĩ đóng vai tuồng đó chỉ tập trung học ca bốn câu đó mà thôi.

Phụng Hoàng là bài bản khá quen thuộc nằm trong 20 bài bản tổ, nên dĩ nhiên nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp đều biết ca hết 12 câu, thế nhưng không phải ai cũng làu thông 20 bài bản tổ. “Làu thông” ở đây tức là hiểu rõ nhịp nhàng và ca đúng nhịp từ đầu đến cuối tất cả 20 mươi bài bản tổ.

Chưa hết, mỗi bài bản đều thể hiện một tâm trạng cụ thể. Có bài bản thể hiện sự bi ai tột cùng, có bài bản thể hiện sự đau khổ vừa phải, có bài bản thể hiện sự bi hùng, có bài bản thể hiện sự tươi vui rộn rã…Trong từng bài bản, người ca phải làm sao sử dụng giọng ca thể hiện được tâm trạng cần thiết (đúng “cái thần” của bài bản) và đương nhiên cũng phải đúng nhịp nhàng.

Đây là một yêu cầu rất khó mà nếu không phải nghệ sỹ cải lương bậc thầy thì khó lòng đạt đến được. Bởi vậy, nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, nhất là trong giai đoạn ngày nay, chỉ đạt được một điều là ca đúng nhịp thôi chứ chưa đạt đến mức thể hiện được “cái thần” của bài bản. Trong khi đó, như đã nói, dân ca tài tử “đúng điệu” là phải đặt trọng tâm cho việc “ca”, vì thế họ tập trung thể hiện được “cái thần” của bản ca.

Như vậy, dù sinh ra và trưởng thành từ nơi thôn dã, nhưng Đờn ca tài tử thật sự là một nghệ thuật mang tính hàn lâm. Tức là, không phải khi ca tài tử là muốn ca thế nào thì ca, mà rất có khuôn phép, bài bản. Người ca phải ca làm sao cho đúng nhịp, đúng dây đờn. Hơn thế nữa, người ca phải hiểu được nét tinh túy của các bài bản tài tử, đó là: mỗi bài bản tài tử đều có ý thể hiện một tâm trạng cụ thể, đó là “cái thần” của Đờn ca tài tử.

Người ca tài tử được xem là “đúng điệu” không chỉ biết ca đúng nhịp, mà còn phải biết sử dụng giọng ca để thể hiện đúng tâm trạng, đúng “cái thần” mà bài bản đòi hỏi. Nói cách khác là thể hiện tất cả những cung bậc tình cảm bằng giọng hát. Một nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp chưa chắc gì có nhịp nhàng và cách ca “chuẩn” như dân ca tài tử “đúng điệu”. Trên có sở đó, có thể nói rằng, người ca tài tử là những nghệ sĩ nhà nghề “chuyên trị” về “ca”. Đương nhiên, ở đây chỉ nói đến những dân ca tài tử “đúng điệu”, tức là những bậc thầy trong Đờn ca tài tử, chứ không nói đến Đờn ca tài tử đại trà trong quần chúng.

Có người cho rằng, chữ “tài tử” trong Đờn ca tài tử có nghĩa là “dân chơi không chuyên nghiệp”. Thế nhưng, qua những điều phân tích bên trên, ta thấy không thể hiểu như vậy. Còn nhớ cụ Trần Văn Khê thường nói, chữ “tài tử” phải mang ý nghĩa của câu “Dặp dìu tài tử giai nhân” như trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.

Người ca tài tử là những bậc tài hoa, yêu thích môn nghệ thuật đờn ca Nam Bộ này, nhưng không phải lấy đó làm nghề để sinh nhai, mà lấy đó là một đam mê, một thú tiêu khiển không thể thiếu và sẵn sàng sống hết mình với thú tiêu khiển đó. Tức là, người ca tài tử lấy sự ca để nuôi dưỡng tinh thần và cũng biết “chết sống” với nó.

Có lẽ đó cũng là lý do mà tại sao danh ca Ngọc Bảo bên tân nhạc suốt đời ông chỉ thích xưng là “Tài tử Ngọc Bảo” chứ không phải là “Ca sĩ Ngọc Bảo” trong khi giọng ca Ngọc Bảo thuộc đẳng cấp bậc thầy trong dòng nhạc của ông.

Người ca tài tử “đúng điệu” không lấy tài tử làm kế sinh nhai còn có trình độ ca như vậy, thì huống gì là người lấy ca tài tử làm nghề, tức là ca tài tử chuyên nghiệp như Danh ca Bạch Huệ, thì trình độ ca còn “chuẩn” đến dường nào.

Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ

Bạch Huệ có giọng trong, có pha một chút khàn, là một giọng có thế mạnh để “ca mùi”. Tuy nhiên, điểm đặc trưng nhất trong giọng ca của Bạch Huệ đó là một giọng ca “đầy đặn”. Tiếng ca của Bạch Huệ rất khỏe. Thời gian gần đây, dù ở tuổi 80, Bạch Huệ vẫn ca “đầy đặn” như xưa. Nghe Bạch Huệ ca, người nghe không có cảm giác ráng hơi hay đuối hơi.

Bạch Huệ ca rất “tròn vành rõ chữ”. Nhiều danh ca tài tử và nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp cũng đạt được tiêu chí tròn vành rõ chữ, thế nhưng điểm đáng lưu ý là có một số người quá lạm dụng kỹ thuật để được tròn vành rõ chữ. Ca mà có kỹ thuật là điều cần thiết, nếu tập luyện đúng mức và áp dụng thỏa đáng kỹ thuật thì giọng ca sẽ trở nên đẳng cấp hơn.

Thế nhưng, nếu quá lạm dụng kỹ thuật hoặc tập luyện chưa đúng mức thì giọng ca sẽ trở nên « phô », mất tự nhiên và thiếu hồn. Có những nghệ sĩ bậc thầy vận dụng kỹ thuật một cách thượng thừa vào giọng ca nên đã tạo được nét riêng và giọng ca đã đứng vững trong lòng người mộ điệu mấy chục năm qua. Bạch Huệ xếp trong số các nghệ sĩ thượng thừa này. Bạch Huệ ca tròn vành rõ chữ một cách hết sức tự nhiên và rất có hồn, người nghe không hề nhận ra được yếu tố kỹ thuật trong đó. Nói cách khác, Bạch Huệ đã đưa kỹ thuật vào giọng ca ở mức độ thượng thừa, để cho nó trở nên rất tự nhiên.

Một điểm thu hút nữa trong giọng ca Bạch Huệ : dù là bậc thầy về ca tài tử chuyên nghiệp, nhưng Bạch Huệ khi ca luôn tỏ ra cố gắng, đầy tâm huyết, gửi hết tâm hồn cho bài ca. Nhờ đó, mà trong tiếng ca mạnh mẽ của Bạch Huệ, người nghe cảm nhận được sự trân trọng của người ca đối với bài ca, cảm nhận được ở đó cả tâm hồn, cả trái tim của người ca. Và chính điều đó đã làm cho giọng ca Bạch Huệ thêm quyến rũ, làm cho người nghe muốn thưởng thức trọn vẹn bài ca.

Nói về nhịp nhàng, Bạch Huệ là “thợ sắp nhịp”. Tài sắp nhịp của Bạch Huệ thuộc hàng siêu đẳng, thuộc “đẳng cấp Út Trà Ôn”. Bạch Huệ không chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh, mà còn là bậc thầy của việc xử lý nhịp ngay trong lòng bản. Giữ nhịp trong lòng bản cũng là một đặc trưng của dân tài tử bởi nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp khi ca thì thường chỉ giữ nhịp trường canh để về đúng song lan chánh mà thôi. Nhờ cách sắp nhịp đều cho các chữ, giữ đúng câu trong lòng bản, nên khi Bạch Huệ ca, người nghe luôn có cảm giác “yên tâm” không sợ cô rớt nhịp. Có thể nói, trong trường phái tạo được cảm giác “yên tâm” như vậy cho người nghe, Bạch Huệ là một bậc thầy.

Mấy chục năm qua, bản vọng cổ được sử dụng phổ biến nhất là vọng cổ nhịp 32, gồm 6 câu. Thế nhưng, dần dần người ta chỉ sử dụng 4 câu để rút ngắn thời gian của bài vọng cổ. Tuy nhiên, vọng cổ thoát thai từ Dạ cổ hoài lang có đủ loại : nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64…Và không có nhiều nghệ sĩ cải lương được gọi là chuyên nghiệp, đặc biệt là thế hệ nghệ sĩ trẻ ngày nay, ca được các loại vọng cổ không phải nhịp 32.

Thế nhưng, Bạch Huệ là người “chuyên trị” tất cả thể loại vọng cổ. Phải nói rằng, mỗi loại vọng cổ có cái hay riêng. Chẳng hạn như vọng cổ nhịp 4 mỗi câu rất ngắn, vì thế người nghe không có cảm giác chờ đợi, bởi vì vừa dứt câu này lại tới ngay câu khác. Đó có phải chăng cũng là một cách giúp người nghe giảm cảm giác “bị chán”?

Đối với những bài bản không phải vọng cổ, thì ngoài 20 bài bản tổ còn có vô số bài bản tài tử khác. Gần 3/4 thế kỷ theo nghiệp ca tài tử, Bạch Huệ làm cho nhiều nghệ nhân ca tài tử và ngay cả nghệ sĩ cải lương chuyên nghiệp “kính nể”, vì cô ca sành điệu rất nhiều bài bản. Xin nhắc lại ca sành điệu ở đây tức là Bạch Huệ không chỉ ca đúng nhịp mà còn ca đúng “cái thần” của các bài bản. Điều đáng nói là nghe Bạch Huệ ca bất kỳ bài bản nào, người muốn học ca cảm thấy rất dễ theo dõi nhịp nhàng và có cảm giác dễ làm theo. Có lẽ vì thế mà Bạch Huệ đã là thầy dạy rất thành công của rất nhiều thế hệ học trò trong bộ môn Đờn ca tài tử.

Một điểm nổi bật nữa ở Bạch Huệ, mà chính điểm nổi bật này đã đưa Bạch Huệ lên một đẳng cập khó có người bì kịp. Trong nhiều sự khác biệt giữa cải lương và tài tử, nổi bật nhất đó là cách ca. Nghệ sĩ cải lương thường có cách ca “mướt” hơn dân tài tử, tức là nghệ sĩ cải lương có khuynh hướng ca “uốn éo, bay lượn, điểm tô” giọng ca, còn dân tài tử thì giữ giọng ca theo lối “chân phương” không “hoa lá”.

Cái tính chân phương thuần túy này được thể hiện rất rõ trong cách ca tài tử theo kiểu xưa. Và một trong những cái dễ nhận biết nhất đối với dân tài tử là họ hay ca theo lối “hơ hơ”. Như Danh ca Tám Thưa, Cô Tư Sạng, Cô Năm Cần Thơ, Cô Ba Bến Tre, Chín Hòa, Tư Bé, Năm Phồi…những tay ca tài tử cự phách của miền Nam trước kia. Khi nghe những bậc tiền bối này ca, người nghe sẽ nhận ra ngay đó là ca theo lối tài tử kiểu xưa qua cách họ ca rất chân phương, lối hơ hơ rất đặc trưng của tài tử.

Thế nhưng, theo thời gian, Đờn ca tài tử cũng phải dần thay đổi. Cái lối ca tài tử theo kiểu xưa vì thế cũng dần được các thế hệ sau cách tân. Bạch Huệ gắn bó với Đờn ca tài tử từ những ngày lối ca tài tử theo kiểu xưa còn được yêu mến đến khi nó dần được thay đổi để phù hợp với thời đại. Giọng ca Bạch Huệ là một minh chứng rõ nét nhất cho sự cách tân này. Ta thấy rằng, ca mà chỉ có “chân phương” thì có lẽ hợp với đời xưa hơn, và chọn lọc người nghe hơn, còn nếu như ca mà uốn éo, lạng bẻ quá mức thì cũng làm mất cái thần của tài tử. Bởi vì nên nhớ rằng, ca tài tử rất trọng cái “chân phương”. Chỉ có điều ca tài tử theo lối xưa quá thiên về tính chân phương, còn nhiều nghệ sĩ cải lương, nhất là thế hệ ngày nay, thì lại lạm dụng cái “hoa lá”.

Bạch Huệ đã biết chan hòa đúng mức cái “chân phương” và “hoa lá” trong giọng ca. Và đương nhiên, Bạch Huệ ca “chân phương” nhiều hơn “hoa lá”, nhưng cô đã biết đưa cái “hoa lá” một lượng vừa đủ để cho giọng ca mượt mà hơn, “thời đại” hơn. Tức là, khi nghe Bạch Huệ ca, người nghe cảm nhận được đó là ca theo lối tài tử nhưng vẫn có sự mượt mà vừa phải. Bởi thế mà giọng ca Bạch Huệ giữ được nét chân phương của tài tử xưa nhưng cũng có nét “thời đại”, vì thế mà thu hút được người mộ điệu cả bên tài tử lẫn cải lương.

Nếu Danh ca Minh Chí nổi tiếng là “Vua” ca bài Xàng Xê, thì Bạch Huệ cũng nổi tiếng là người ca tuyệt vời hơi Oán. Hồi đầu những thập niên 1990, khi phong trào Đờn ca tài tử bắt đầu được phục hồi, Bạch Huệ, Công Thành và Tấn Đạt đã tạo ra một “tam tuyệt” trong bài “Bùi Kiệm-Nguyệt Nga” theo điệu Tứ Đại Oán trong đó Bạch Huệ vai Nguyệt Nga, Tấn Đạt vai Bùi Kiệm và Công Thành vai Bùi Ông. Ba người ca bài này theo lối tài tử Nam Bộ một cách xuất thần : Chững chạc trong giọng ca, chuẩn mực trong nhịp nhàng, chuẩn xác trong việc thể hiện cái thần của bài Tứ Đại Oán.

Có một điểm đặc biệt nữa mà không thể nào không nhắc đến khi bàn về tài ca của Bạch Huệ, đó là: Bạch Huệ có thể được xem là người ca hay nhất bài Dạ Cổ Hoài Lang của cụ Cao Văn Lầu. Đây là bài ca ra đời trong bối cảnh nông thôn Nam Bộ, nói lên nỗi lòng của người vợ quê mùa đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng ngoài biên ải (Dạ cổ hoài lang tức là: Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng).

Nếu vọng cổ là bài bản “vua” của cả hai bên tài tử và cải lương, thì Dạ cổ hoài lang là bài bản tổ của bản vọng cổ. Trong bài Dạ cổ hoài lang mang tính chân phương, nhưng cũng có chút hoa lá lãng mạn. Bởi vậy mà ca bài này chân phương quá thì “khô” mà hoa lá quá thì “ướt”. Và giọng ca Bạch Huệ hoàn toàn phù hợp với bài Dạ Cổ Hoài Lang.

Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được cái không khí xa xưa, cái u buồn man mác của người vợ nhớ chồng. Nghe Bạch Huệ ca Dạ cổ hoài lang, người nghe cảm nhận được một sự nhớ thương trĩu nặng tâm hồn của người vợ quê nhà mong chồng ngoài vạn lý. Tuy nhiên, giọng ca Bạch Huệ mang đến một cảm giác không quá bi lụy mà có chút gì đó lãng mạn, một niềm hy vọng sum vầy. Đúng như tâm trạng của nhạc sĩ Cao Văn Lầu khi viết bài này vì khi đó ông đang trong cảnh xa vợ và mong chờ đoàn tụ. Đến hiện tại, chưa thấy có người nào ca Dạ cổ hoài lang đạt đến trình độ như Bạch Huệ.

Ngoài việc đóng góp bằng giọng ca, Bạch Huệ mấy chục năm qua còn được biết đến là người góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho Đờn ca tài tử và cải lương. Bạch Huệ được mời dạy ca cho các lớp đào tạo nghệ sỹ cải lương chuyên nghiệp ở Trường Sân Khấu Điện Ảnh TP.HCM. Các tỉnh cũng thi nhau mời Bạch Huệ tham gia các lớp đào tạo ca tài tử. Ngoài ra, Bạch Huệ cũng là một “giám khảo thường trực” của các chương trình giao lưu Đờn ca tài tử ở khắp nơi suốt mấy thập niên qua.

Trong xã hội Việt Nam hiện tại, ít người trẻ tuổi yêu thích Đờn ca tài tử, mà một trong những nguyên nhân chính đó là do chưa hiểu được tinh hoa của bộ môn nghệ thuật này. Và như Giáo Sư Trần Văn Khê từng nói rằng : Hãy tìm hiểu đi rồi sẽ thấy thích. Bạch Huệ đóng góp bằng cả cuộc đời cho nghệ thuật Đờn ca tài tử. Những năm tuổi trên 70, Bạch Huệ vẫn rày đây mai đó ca tài tử. Bạch Huệ đóng góp rất lớn cho việc quảng bá tinh hoa của Đờn ca tài tử.

Một điểm đáng quý nữa đó là, các nghệ sĩ cải lương khi nổi tiếng thì kiếm được rất nhiều tiền, chứ còn bên tài tử thì ngược lại. Dù là không kiếm được nhiều tiền, nhưng Bạch Huệ vẫn theo đuổi cái nghiệp Đờn ca tài tử suốt 70 năm với bao nỗi thăng trầm, để khi tuổi vượt hàng “thất thập cổ lai hy”, dù đi ca suốt, nhưng vẫn sống trong cảnh khổ nghèo. Tấm lòng yêu nghề này của Bạch Huệ thật đáng trân trọng.

Năm 2007, Bạch Huệ được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân dân gian”. Ngày 12/10/2013, Bạch Huệ đã về với tổ nghiệp. Sự ra đi của cô có thể được xem là sự ra đi của “Cây đại thụ cuối cùng” của làng Đờn ca tài tử Nam Bộ. Gần 3/4 thế kỷ góp phần bảo tồn và phát triển Đờn ca tài tử, với tài năng đó và với đẳng cấp đó, Bạch Huệ xứng đáng được xem là “Đệ nhất nữ danh ca tài tử Nam Bộ”.

Lê Phước

 

 Gửi tin qua email  Thảo luận

Những bản tin khác: 


Đờn ca tài tử với người dân Nam Bộ


Thứ Ba, 11/02/2014, 08:48 (GMT+7)

.

Đờn ca tài tử với người dân Nam Bộ

 

 

 

 

 GS.TS Trần Văn Khê. Ảnh: VGP
GS.TS Trần Văn Khê. Ảnh: VGP

Đờn ca tài tử là một sinh hoạt văn nghệ do một nhóm nhỏ nghệ sĩ biểu diễn cho một nhóm nhỏ thính giả, không gian ấm cúng của một căn phòng trong tư gia, chớ không phải trong một hội trường lớn, hay trên một sân khấu hoành tráng cho đông đảo thính giả.

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì Đờn ca tài tử bắt nguồn từ Ca Huế. Nghệ sĩ đờn ca Huế trong phong trào Cần Vương đã rời miền Trung vào Nam. 

Đôi nét ngọn nguồn

Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam. Từ đó tiếng đờn, giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng như điệu “Lưu thuỷ thục giang” qua giai đoạn “Lưu thuỷ Quảng” mới trở thành “Lưu thuỷ đoản” miền Nam; “Phú lục Huế” chuyển hơi thành “Phú lục Quảng”, rồi khi vào Nam bài “Phú lục chấn” chỉ còn đôi chút của “Phú lục Huế”.

Tiếng đờn miền Trung khi vào miền Nam không còn giữ nguyên chất mà đã thay đổi rất nhiều, có bài bản còn trùng tên, nhưng giai điệu đã khác xa, điển hình như 2 bài “Nam ai Huế” và “Nam ai miền Nam”.

Quan sát môi trường, con người và nếp sống miền Nam, chúng ta sẽ rõ tại sao bài bản không còn giữ được chuẩn, đó là do người đờn, người ca không muốn giữ nguyên si bài bản như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt thay đổi, tô điểm, đưa một chút “ta” vào trong “chúng ta”.

Nam Bộ là một vùng đất đỏ nặng trĩu phù sa, một vùng chằng chịt kinh rạch, sông ngòi, vùng mà trước kia hoang dại “ma thiêng nước độc”, một “nơi nhiều sông rạch bùn lầy, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lầy như bánh canh”.

Những người Việt từ miền Bắc xa xôi, miền Trung kinh kỳ, đến đây lập nghiệp, một vùng đất mới, đồng ruộng phì nhiêu, một vựa lúa, một vườn trái cây, có nhiều sản vật phong phú, đa dạng, nên: “Đến đây thì ở lại đây, trăm năm bám rễ, xanh cây không về”.

Họ là những người năng động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng tiếp nhập với dân bản xứ, giản dị, cởi mở, hào hiệp, hiếu khách, có một nền dân ca dồi dào, với nhiều câu ca dao trữ tình, câu hò điệu lý duyên dáng, bài vè dí dỏm, một nền nhạc lễ bắt nguồn từ nhạc cung đình miền Trung, giản dị hoá, dân gian hoá, rất độc đáo với “phe Văn, phe Võ”, với tiếng trống “đánh sáng, đánh tối”, “tiếng âm, tiếng dương”, tiếng “bồng” sôi động, bồng hai, bồng ba, bồng thét, “tiền bần hậu phú”, đã tạo nên một không gian văn hoá Nam Bộ đặc thù, phát triển không ngừng đến ngày nay.

Do lòng luôn luôn thương nhớ cội nguồn, nên mặc dầu trong đờn ca tài tử có rất nhiều điệu, nhiều giọng, nhiều hơi, nhưng các các điệu, các hơi diễn tả nỗi u buồn, được người ca và người nghe thích thú, say mê trong diễn tấu, miệt mài trong thưởng thức.

Trong những người theo phong trào Cần Vương vào Nam truyền bá nhạc Huế cho người học nhạc miền Nam, các nghệ nhân còn nhắc lại tên ông Nguyễn Tòng Bá chuyên dạy đờn nguyệt (kìm) và đờn tranh; ông Nguyễn Liên Phong dạy đờn độc huyền (bầu); ông Trần Quang Thọ dạy đờn tỳ bà.

Ông Nguyễn Quang Đại, người tỉnh Quảng Nam (con thứ ba trong gia đình nên người dân Nam bộ thường gọi là ông Ba Đại hoặc Ba Đợi), đến vùng Chợ Đào tỉnh Long An mở lớp dạy đờn ca. Từ đó, lối đờn ca nghiêm trang của nhạc thính phòng và cung đình Huế đã được nhiều người trong Nam học hỏi và đã trở nên gần gũi với dân chúng hơn.

Ảnh: Như Lam
Ảnh: Như Lam

Cùng một lúc với nền ca nhạc từ Huế đi vào người nhạc sĩ miền Nam còn tiếp cận với nhạc lễ theo phe Văn (gồm 4 cây đờn cò lên dây khác nhau) hình thành nên bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ ngày nay.

Phần đông khi nhắc đến Đờn tài tử thì cho rằng lối nhạc đó không sâu sắc chuyên nghiệp mà mang tính cách giản dị của dân gian hay “a ma tơ” (theo chữ Pháp “amateur”) của những người nghiệp dư. Thực ra “tài tử” có nghĩa là người có tài (dập dìu tài tử giai nhân – Truyện Kiều).

Người đàn tài tử không dùng tài nghệ của mình làm kế sinh nhai. Khi nào thích đàn thì họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng nhau đàn chơi, ai biết đàn ca cũng có thể tham gia được, có thể đờn ca suốt đêm không chán.

Nhưng khi không thích đờn thì dầu cho có ai đem tiền muôn bạc vạn đến bảo đờn rồi thưởng thì các nghệ nhân tài tử cùng nhứt định không đờn. Tuy không phải nhà nghề nhưng trình độ nghệ thuật của nghệ nhân tài tử không thấp. Họ thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng. Muốn trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu…

Nghệ thuật đặc sắc

Theo quy luật, trong nghệ thuật Đờn ca tài tử không viết thành văn bản nhưng những người điệu nghệ đều biết rõ và tuân thủ rất nghiêm túc.

Trong Đờn ca tài tử, tiếng đờn quan trọng hơn cả tiếng ca, khác với trong nghệ thuật ca trù, ca Huế thì người ca nương là chánh, tiếng đờn là phụ.

Dàn đờn gồm có đờn kìm (nguyệt) giữ tiếng đờn chân phương và cho nghe âm thanh trầm ấm trong nhà nghề gọi là tiếng “Thổ”; đờn tranh nhờ dây sắt có tiếng đàn lánh lót nên phát thành tiếng “Kim”; đờn cò có cung kéo vuốt ve thành tiếng dịu ngọt; đờn độc huyền (bầu) nỉ non như xoáy vào tim; sau năm 1930 có thêm guitar phím lõm, tuy là một nhạc khí gốc từ Tây Ban Nha nhưng nhờ người Việt khoét cần giữa 2 phím để người đờn có thể nhấn – rung thể hiện được tất cả cách tô điểm nhạc truyền thống Việt Nam.

Có thể đờn 1 cây gọi là độc tấu, thường thì song tấu đờn kìm và đờn tranh và thêm cây đờn cò gọi là tam tấu. Nếu dàn nhạc có 4-5 cây thường gọi là tứ tuyệt, ngũ tuyệt.

Ngôn ngữ âm nhạc của Đờn ca tài tử rất tinh vi, mỗi chữ nhạc không có độ cao tuyệt đối hay độ cao tương đối cố định nhưng tuỳ theo điệu thức hoặc kỹ thuật đờn mà có một cao độ khác nhau: tiếng đờn non là cao độ thấp một chút, tiếng đờn già là cao độ cao một chút, không cố định là một quãng tám hay quãng tư, độ cao thấp do thầy dạy và học trò làm theo. Nếu nhấn quá cao hay quá thấp thì bị lạc hơi.

Muốn diễn tả tình cảm, Đờn ca tài tử có nhiều điệu thức khác nhau, trong giới nhà nghề thường gọi là “Hơi”: Hơi Bắc vui tươi khi đờn phải mổ các chữ hò xang xê liu và rung hai chữ xự cống ; hơi Quảng nhộn nhịp như hơi nhạc Quảng Đông thì đờn hò xang xê liu phải rung và xự cống phải mổ; hơi “Xuân” thanh thản thì phải nhấn đặc biệt chữ xang, vuốt lên xê rồi trở lại xang; hơi “Ai” buồn nên rung chữ xang trước rồi nhấn nhẹ lên xê mà không trở lại xang.

Chỉ nói sơ qua như thế các bạn đã thấy rằng muốn đờn tài tử cho đúng điệu phải biết nhấn chữ xang theo 4 cách khác nhau đó.

Cách đờn của Đờn ca tài tử cũng rất đặc sắc. Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu “rao” theo hơi đó. Câu “rao” theo truyền thống miền Nam khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung, những bài “Dạo khách, Dạo nam” có một nét nhạc cố định, học trò học rồi mỗi lần trước khi vào bài thì đờn những câu dạo theo thầy dạy mà không thay đổi.

Câu “rao” miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu dạy học trò, thì học trò đờn theo thầy, nhưng khi học trò đến một mức nghệ thuật tương đối khá cao, thầy cho phép học trò tạo những câu rao đặc biệt cho mình.

Người đờn khi bắt đầu rao, một mặt dẫn người thính giả đi lần vào điệu, vào hơi để nghe bản đờn. Đồng thời khi rao cũng là lúc thử cây đàn có phím nào chênh lệch hay không, dây đàn cứng quá hay mềm quá không, để lúc biểu diễn nhờ chữ nhấn mà làm cho tiếng nhạc hoàn chỉnh hơn. Giống như người kỵ mã trước khi cỡi ngựa biểu diễn cần phải biết chứng con ngựa mình đang cỡi.

Câu rao thể hiện được bản chất của người đờn. Khi hòa đờn chung không bao giờ đờn cùng một bản, mỗi nhạc khí có một cách sắp chữ riêng, trong khi biểu diễn tất cả nhạc công đều biết cách phối khí tập thể tại chỗ, lại có những đoạn ngẫu hứng, sáng tạo trong lúc biểu diễn. Nhờ vậy, một bản đờn không bao giờ làm nhàm chán người nghe vì được biến hoá thiên hình vạn trạng. Trong Đờn tài tử có một nguyên tắc thẩm mỹ“học chân phương – đờn hoa lá”.

Đối với người dân Nam Bộ, Đờn tài tử là một thú tiêu khiển, đem cái vui cho mình và cho người chung quanh, có thể đờn chơi một mình và chừng đó tiếng đờn như một người bạn chí thân, lúc buồn cũng có thể trút vào tiếng đờn để nỗi buồn vơi đi, khi vui thì tìm bạn hoà đờn, chơi vài bản, trong lúc đờn cũng có cách phá với nhau cho vui để xem người bạn mình có chắc nhịp hay không.

Đờn ca tài tử thường được dùng trong các lễ hội hoặc tiệc cưới, ngày nay trong những đám tang thường có những dàn nhạc Đờn ca tài tử phụ lực với phe Văn của dàn nhạc lễ để làm nhẹ bớt không khí buồn thảm của tang gia.

Ở miền Nam, từ công chức đến những người lao động, thợ hớt tóc, anh chèo đò… đều có thể trở thành những người sành điệu Đờn ca tài tử và khi vào chung một dàn nhạc thì người nào đờn hay được tôn trọng nhứt, cách xử sự giữa những người cùng đàn rất dân chủ.

Trong các bộ môn âm nhạc truyền thống, Đờn ca tài tử được nhiều người ưa thích và tham gia nhứt.

(Theo vov.vn)

MINH AN – ĐỖ HẠNH : Sức sống đờn ca tài tử


Sức sống đờn ca tài tử

Thứ hai, 10/02/2014, 23:33 (GMT+7)

Lúc 19 giờ 30 tối nay 11-2, tại Hội trường Thống Nhất, TPHCM, Bộ VH-TT-DL phối hợp cùng UBND TPHCM tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận đờn ca tài tử trở thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO trao cho Việt Nam. Đây là niềm vinh dự, niềm tự hào của người dân Việt Nam nói chung và Nam bộ nói riêng.

Được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19, đờn ca tài tử Nam bộ bắt nguồn từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian. Kết duyên và bén rễ ở vùng đất phương Nam, đờn ca tài tử trở thành loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam bộ, là nghệ thuật của đờn và ca, là nghệ thuật của hàn lâm và bình dân do những người bình dân, thanh niên nam nữ Nam bộ hát ca sau những giờ lao động. Báo SGGP xin giới thiệu một số hình ảnh hoạt động đờn ca tài tử của TPHCM.

Danh cầm – NSND Thanh Hải đang đờn cho nhiều bạn trẻ tập ca tài tử. Ảnh: ĐỖ HẠNH

CLB đờn ca tài tử NVH Thanh niên TPHCM thường xuyên biểu diễn phục vụ công chúng ở Công viên Tao Đàn. Ảnh: DIỆU NGỌC

Tài năng trẻ tài tử Nguyễn Trương Thế Thanh (11 tuổi, CLB Đờn ca tài tử Trung tâm VH-TDTT huyện Bình Chánh). Ảnh: MINH AN

Đoàn nghệ sĩ PHCM trong một lần biểu diễn quảng bá đờn ca tài tử ở Trung Quốc. Ảnh: HUỲNH KHẢI

Các hãng truyền thông thế giới ghi hình nghệ thuật đờn ca tài tử của Việt Nam. Ảnh: MINH AN

MINH AN – ĐỖ HẠNH

http://www.sggp.org.vn/amnhac/2014/2/339942/

Q.N. : Lễ tôn vinh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ


Lễ tôn vinh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ

11/02/2014 03:20 (GMT + 7)
 
 
TT – Lễ đón bằng của UNESCO ghi danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại sẽ diễn ra từ 19g30-22g tối nay 11-2 tại hội trường Thống Nhất (135 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.1, TP.HCM) sau hơn hai tháng được công nhận tại TP Baku (Azerbaijan) hôm 5-12-2013.

Sáng 10-2, gần 1.000 nghệ sĩ, tài tử của các nhóm ca, câu lạc bộ đờn ca tài tử của 21 tỉnh/thành có hoạt động đờn ca tài tử sôi nổi nhất cả nước đã tập trung về Trung tâm văn hóa TP.HCM để ráp tập những tiết mục đặc sắc sẽ biểu diễn tại lễ đón nhận do Bộ VH-TT&DL và UBND TP.HCM tổ chức.

Khán thính giả sẽ có dịp xem, nghe lại những tinh hoa của nghệ thuật này như hòa tấu mở màn Lưu thủy trường của dàn nhạc tài tử TP.HCM, đơn ca Nhớ ơn tổ nghiệp của Bình Dương, song ca Mẹ và quê hương của Đồng Nai, Dạ cổ hoài lang của Bạc Liêu, ca ra bộ Mảnh đất thân yêu của Vĩnh Long, tân cổ giao duyên Quê hương qua phần trình diễn của NSND Bạch Tuyết…

Ngoài việc nhận bằng chứng nhận từ đại diện của UNESCO, lãnh đạo Bộ VH-TT&DL sẽ khen thưởng và công bố Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ tại buổi lễ. Đại diện cộng đồng của 21 tỉnh/thành trên cả nước như: TP.HCM, Bình Dương, Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau… sẽ đón nhận bằng cũng như khen thưởng. Nhiều tài tử ca, tài tử đờn cùng các nghệ sĩ nổi tiếng qua các thời kỳ: NSND Thanh Tòng, NSND Bạch Tuyết, NSƯT Minh Vương, NSND Ngọc Giàu, NSND Kim Cương… cũng đến tham dự lễ. Buổi lễ được truyền hình trực tiếp trên HTV9 qua phần dẫn dắt chương trình của NSƯT Quế Trân và Mạnh Cường.

Q.N

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/593107/le-ton-vinh-nghe-thuat-don-ca-tai-tu-nam-bo.html

TRẦN ĐẮC LUÂN : Đờn ca tài tử – Chuyện dài sau lễ vinh danh


 
Đờn ca tài tử – Chuyện dài sau lễ vinh danh
Thứ Hai, 10/02/2014 15:05 (GMT+7)

Còn nhớ trong phim Cánh đồng hoang có một cảnh thật ấn tượng. Sau trận oanh tạc ác liệt của máy bay Mỹ, vợ chồng người du kích sống trong ngôi nhà giữa Đồng Tháp Mười lấy cây đàn kìm trên vách xuống, cùng nhau cất tiếng ca một khúc nhạc tài tử. Thái độ thản nhiên ấy cùng khúc nhạc tài tử ấy là một nét văn hóa đặc thù của người Nam bộ. Trong hoàn cảnh dù khắc nghiệt đến mấy, con người vẫn luôn gắn bó với những gì gần gũi nhất trong văn hóa của cộng đồng mình.

Công đầu cho người khởi xướng

Năm 1969, lần đầu tiên, đờn ca tài tử của Nam bộ được giới thiệu tới công chúng thế giới qua đĩa hát Việt Nam 2 về nhạc lễ và đờn ca tài tử (nghệ sỹ Bạch Huệ ca bài Tứ đại oán). Đĩa hát này do GS. Trần Văn Khê thực hiện cùng với ông Nguyễn Hữu Ba. Thông tin này do GS. Trần Quang Khải, con trai GS. Trần Văn Khê cung cấp.

 

GS.TS Trần Văn Khê

Cho tới năm 1971, nhạc sư Vĩnh Bảo cùng GS. Trần Văn Khê lại tiếp tục thực hiện hai đĩa nhạc về đờn ca tài tử là Ocora vàPhilips theo đặt hàng của UNESCO tại Paris.

 

Đó là về phương diện đĩa hát, còn trước đó, trong luận án tiến sĩ bảo vệ năm 1958 tại Đại học Sorbonne (Pháp), GS. Trần Văn Khê cũng đã lựa chọn đề tài nghiên cứu về đờn ca tài tử.

Nhìn về phương diện trình diễn, cũng từ năm 1958, GS. Trần Văn Khê đã tham gia biểu diễn âm nhạc dân tộc nói chung và đờn ca tài tử nói riêng của Việt Nam tại nhiều nước trên thế giới.

Từ đó tới nay, hơn nửa thế kỷ miệt mài nghiên cứu, giảng dạy và truyền bá âm nhạc dân tộc, trong đó có đờn ca tài tử, GS. Trần Văn Khê đã góp công rất lớn trong việc khẳng định vị trí xứng đáng của loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc của người Nam Bộ.

Băn khoăn chuyện “truyền ngón”

Lâu nay, với những yếu tố mang tính “gia truyền”, ngoài sự độc đáo không ở đâu khác có, kiểu như phở gia truyền, bún bò gia truyền, đồ gỗ gia truyền, v.v… thì sự phong phú, đa dạng tới mức có quá nhiều trường phái khác biệt, mỗi người mỗi kiểu cũng là câu chuyện phức tạp cho việc kế thừa và phát huy những ưu việt của nó.

Nhìn riêng trong nghệ thuật đờn ca tài tử, ở Nam bộ, thật khó có thống kê chính xác số lượng các thầy đàn đã và đang hành nghề hiện nay. Có thể nói, ở bất cứ chốn thôn cùng xóm vắng nào, người ta đều có thể tìm được một ông thầy để nhờ truyền dạy ngón đàn.

Và nếu so với lối truyền dạy có sự thống nhất về phương pháp, giáo trình, lối ký âm của nhạc học phương Tây, cách dạy đàn của đờn ca tài tử đang ở tình trạng rất tự phát. Mỗi ông thầy có một cách truyền dạy ngón nghề riêng.

Chỉ nói riêng việc ký âm, người thì dùng “hò, xừ, xàng, xề, oàn, lìu”, người thì dùng “hò, xừ, xang, xê, cống, líu”… Việc tổ chức lớp học cũng tùy hứng. Ai thích học trình độ nào thì yêu cầu thầy dạy trình độ ấy, sắp xếp được giờ học lúc nào thì học giờ đó. Thầy khỏe dạy nhiều, thầy yếu dạy ít. Người học thầy nào biết thầy nấy, rất khó khăn khi chuyển từ thầy nọ sang thầy kia vì không tương đồng về phương pháp.

Chính vì lẽ ấy, tính chất “truyền ngón” trở nên đặc biệt rõ khi nhìn vào việc truyền dạy đờn ca tài tử, cụ thể hơn là chuyện dạy đàn của nghệ thuật này. Và cứ theo cách ấy, nếu không kịp tìm được đệ tử chân truyền, không ít tài năng và tâm huyết tìm tòi cả đời của nhiều nghệ nhân dân gian cao niên có thể cũng theo họ về bên kia thế giới mà không có cách nào lưu giữ, truyền tiếp.

Bảo tồn đờn ca tài tử – góc nhìn trong cuộc

 


Một buổi sinh hoạt Đờn ca tài tử ở huyện Hóc Môn, TP.HCM

Có lần, GS. Trần Văn Khê chia sẻ, với đờn ca tài tử, ông tâm đắc nhất ở tính “động” của nó. Lúc học thì chân phương mà khi đàn thì hoa lá. Học thì bài bản, mà khi đàn thì tùy cảm xúc, tâm trạng, hoàn cảnh để biến báo, điểm tô thêm màu sắc. Tính “động” đó có thể xem như một đặc trưng phù hợp với quan điểm sống theo “Dịch lý” của người Việt.

 

Nhìn riêng bản vọng cổ xuất xứ từ bản Dạ cổ hoài lang của cố nhạc sư Cao Văn Lầu sáng tác năm 1919, năm 1920 thì được phổ biến. Bản đó lúc đầu chỉ có 20 câu. Hơn 80 năm qua, bản vọng cổ đã dần dần phát triển từ nhịp 2 (2 nhịp 1 câu), nhịp 4, 8, 16 và tới nay là nhịp 32. Từ đó có thể thấy, sự phát triển không ngừng và liên tục được bổ sung, làm mới của đờn ca tài tử.

Tuy nhiên, sự phát triển không ngừng đó vẫn chưa được đầu tư nghiên cứu một cách bài bản. Đó là lý do khiến thạc sĩ, nhạc sĩ Huỳnh Khải, trưởng khoa âm nhạc dân tộc, Học viện âm nhạc TP.HCM cho rằng, rất cần thành lập một Viện nghiên cứu âm nhạc dân tộc ở Nam bộ. Từ đó, tổ chức thu âm cách đàn, hát của những bài bản đờn ca tài tử theo từng thời kỳ và lưu lại làm tư liệu nghiên cứu.

Soạn giả Ngô Hồng Khanh cũng khẳng định, phải có những bài bản có lời hay, mới khuyến khích người ca sử dụng. Có như thế, bài bản mới được phổ biến và trở nên quen thuộc với mọi người. Trên thực tế hiện nay, có một số bài bản, dù hay, nhưng do thiếu lời hay mà bị dần quên lãng.

Có một “cái lý” rất rõ là, muốn bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể, nhất thiết phải có chính sách bảo tồn, phát huy những giá trị “vật thể” bao hàm di sản đó. Cụ thể, ở nghệ thuật đờn ca tài tử thì những “vật thể” đó là các nghệ nhân cao niên, nắm giữ trong mình cả kho tư liệu nghệ thuật quý báu. Chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho các nghệ nhân là điều rất cần được tính đến.

 

Ngày 5/12/2013, Phiên họp Ủy ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của Tổ chức Giáo dục – Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan đã chính thức công nhận và ghi danh loại hình Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ của Việt Nam vào Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Lễ đón Bằng của UNESCO Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ – Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được tổ chức tại TP.HCM vào ngày 11/2/2014. Trong khuôn khổ sự kiện, đại diện UNESCO cũng trao Bằng cho đại diện cộng đồng của 21 tỉnh/thành trong cả nước đã góp phần phát triển hoạt động Đờn ca tài tử trong nhiều năm qua.

 

TRẦN ĐẮC LUÂN