HÀ ĐÌNH NGUYÊN : ‘Báu vật’ đờn ca tài tử


‘Báu vật’ đờn ca tài tử

17/02/2014 03:00

 
Chia sẻ
Chia sẻChia sẻ

UNESCO đã công nhận đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, nhưng để thật sự hiểu và thêm trân quý đờn ca tài tử, Thanh Niên đã gặp gỡ các chuyên gia về âm nhạc dân tộc để tìm hiểu thêm về loại hình nghệ thuật độc đáo này.

 
Đờn ca tài tử luôn sống mãi trong lòng người dân Nam bộ – Ảnh: T.L

GS – nhạc sĩ (NS) Trần Quang Hải (trưởng nam của GS-TS Trần Văn Khê, hiện đang ở Paris, Pháp) và NS Đặng Hoành Loan (Hà Nội) là những người đã có nhiều đóng góp quan trọng để hồ sơ về đờn ca tài tử được UNESCO công nhận.

Image

Nhạc sĩ ĐẶNG HOÀNH LOAN 

Image

GSTS TRẦN QUANG HẢI

“Như cơm ăn nước uống”

NS Đặng Hoành Loan phân tích 6 đặc trưng nổi bật khiến đờn ca tài tử trở thành báu vật. Thứ nhất, đờn ca tài tử là một tập tục không thể thiếu trong sinh hoạt của người dân Nam bộ khoảng 100 năm nay, đối với người dân “như cơm ăn nước uống”. Thứ hai, đây thật sự là loại hình giải trí của người dân Nam bộ, so với tất cả các nghệ thuật cổ truyền VN thì đây là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ. “Cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi, thương nhau thì cũng chơi, và hội hè, ma chay cưới hỏi cũng đều chơi”.

Điểm thứ ba, đó là một lối hòa đàn trác tuyệt, mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết. Và ở trong tính ngẫu hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là những cuộc đối thoại bằng âm thanh. Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng, có thể nói là duy nhất ở VN. Cho nên, người ta thường gọi là “quăng bắt”, tức là làm sao người hòa đàn cùng với mình hiểu được tâm tư tình cảm của mình, để cùng hòa nhập, tung hứng.

Điểm thứ tư rất quan trọng là, đờn ca tài tử đã xác định được cách hoàn thiện “nhạc ngữ” của âm nhạc cổ truyền VN. Trước đó chỉ có ca trù là xác định được, nhưng chưa rành mạch, không rõ ràng, không khúc chiết… Có thể nói, đờn ca tài tử là nghệ thuật đã đúc kết và hoàn thiện được nhạc ngữ cổ truyền của người VN.

 

 
 
Đờn ca tài tử có 20 bản cổ gồm 7 bài Lễ, 6 bài Bắc, 3 bài Nam và 4 bài Oán. Những người biết giỏi phải thuộc trọn vẹn 20 bài này. Tuy nhiên, theo tôi nhận xét hiện nay hầu như không có nghệ nhân nào có thể nhớ được, đờn được toàn vẹn 20 bài đó. Đó là điều cần phải cấp thiết có biện pháp lưu giữ, bằng không sẽ mai một, thất truyền
 
GS-NS Trần Quang Hải
 

 

Điều thứ năm là đã tạo được các “ngón đờn” để thỏa mãn hàng loạt cung bậc tình cảm. Những nghệ sĩ tài tử Nam bộ đã tìm ra được các phương pháp bấm ngón đàn, tạo ra nhiều nhạc ngữ khác nhau, khi vui, khi buồn, khi oán hận… Điều trác tuyệt là ở chỗ này. Có nhiều người nói, “cái hơi” trong đờn ca tài tử đóng vai trò quan trọng. Mà hơi được tạo ra từ các “ngón bấm” (các ngón rung, ngón nhấn, ngón vuốt, rồi ngón mổ…). Đấy là ngón đờn tạo ra các hơi trên thang bậc ngũ cung.

Cuối cùng, đờn ca tài tử vẫn đang được người dân Nam bộ yêu mến, vẫn đang được trao truyền cho nhau, như thuở nào.

Không phân biệt giai cấp, địa vị…

Trong khi đó, GS-NS Trần Quang Hải xác định đờn ca tài tử là một loại nhạc phát xuất từ miền Trung, được hình thành từ cuối thế kỷ 19. Sau khi phong trào Cần Vương tan rã, một số nhạc quan trong triều đình Huế đã lánh nạn vào miền Nam cùng với đoàn lưu dân. Họ đem nhạc lễ, ca Huế truyền dạy trong cư dân bản địa, rồi họp nhau lại đờn ca theo từng nhóm, cốt yếu chỉ để thư giãn sau những giờ lao động… Từ đó, tiếng đờn của miền Trung, hương vị của xứ Quảng đã hòa chung vào phong thái miền Nam. Và từ bản chất phóng khoáng của con người miền Nam mà các bài bản không còn là bản gốc. Người đàn cũng như người ca luôn thêm thắt, tô điểm đôi nét vào đó.

Tuy vậy, để giữ bài nhạc đúng theo cổ truyền, các nghệ sĩ tiền bối đã quy ước phải có “lòng bản” (tức là cái khung của bản đờn). “Lòng bản” này được dùng chung cho tất cả các nhạc cụ khi hòa đờn. Người đờn có thể tùy nghi thêm thắt, luyến láy trong những khoảng trống nhưng nhịp phải rơi đúng vào các cột mốc (chữ đờn). Vì thế, không lần đờn nào lặp lại giống nhau.

GS-NS Trần Quang Hải cho rằng, nếu như ca trù và ca Huế chỉ có một người hát (về đờn thì ca trù có một người đờn, còn ca Huế có bốn, năm cây đờn) thì ở đờn ca tài tử có rất nhiều người hát, người đờn cũng thay đổi khác nhau. Điều quan trọng là, người ca và người đờn luôn xem nhau ngang hàng để rồi là “tri âm, tri kỷ”. Một anh thợ hớt tóc, một anh xích lô hoặc bất cứ ai trong giới người nghèo đều có thể ngồi vào chiếu đờn, đờn chung với những bác sĩ, doanh nhân hay những ông quan lớn. Khi ngồi lại với nhau, họ không còn là những con người với các chức vụ nữa, mà họ chỉ là những bạn đờn của nhau. Ông bác sĩ có thể trở thành học trò của anh xích lô…

“Theo như tôi hiểu, đờn ca tài tử có 20 bản cổ gồm 7 bài Lễ, 6 bài Bắc, 3 bài Nam và 4 bài Oán. Những người biết giỏi phải thuộc trọn vẹn 20 bài này. Tuy nhiên, theo tôi nhận xét hiện nay hầu như không có nghệ nhân nào có thể nhớ được, đờn được toàn vẹn 20 bài đó. Đó là điều cần phải cấp thiết có biện pháp lưu giữ, bằng không sẽ mai một, thất truyền”, GS-NS Trần Quang Hải lo ngại.

 

Phải nghe từng “chữ đờn”GS-NS Trần Quang Hải nhận xét: “Khi đem đờn ca tài tử lên sân khấu thì nghệ thuật này có một vai trò khác, một vị trí khác, không làm cho người nghe thích thú nữa. Vì đời xưa, gọi là hát salon (hát thính phòng), tức hát tài tử, tiếng đờn rất phong phú dễ dàng đi vào lòng người, bởi chỉ đờn cho một nhóm nhỏ khoảng 10 người, 20 người nghe thôi. Bây giờ lên sân khấu, có cả trăm người, ngàn người nghe. Không cần biết là người đó hát hay hay hát dở. Chỉ chờ hát xong là vỗ tay, chứ không phải xuýt xoa, tấm tắc khen như hồi đời xưa, là nghe từng “chữ đờn”, từng câu của người hát, rồi “thấm”, bật ra lời khen. Thành ra có sự đồng cảm giữa giọng hát và tiếng đờn và người nghe, khiến người nghe cũng trở thành những người sành sỏi về âm nhạc”.

 

 

Đờn ca tài tử có 20 bản cổ, gồm 6 bài Bắc: Tây Thi, Cổ bản, Lưu thủy trường, Phú lục chấn, Bình bán chấn, Xuân tình chấn hay Xuân tình điểu ngữ; 3 bài Nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo hay Đảo ngũ cung; 4 bài Oán: Tứ đại oán, Phụng cầu, Giang nam, Phụng hoàng; 7 bài Lễ: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Tiểu khúc, Vạn giá.

 

Hà Đình Nguyên

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140216/bau-vat-don-ca-tai-tu.aspx

NGUYỄN PHÚC NGHIỆP : Về một gia tộc nổi tiếng âm nhạc ở Việt Nam


Về một gia tộc nổi tiếng âm nhạc ở Việt Nam

Posted on 15/01 
Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê xuất thân từ một gia đình nổi tiếng về âm nhạc và cách mạng ở xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Dưới đây là một số nhân vật tiêu biểu của gia tộc này.

 

* TRẦN QUANG DIỆM

Trần Quang Diệm, còn gọi là Năm Diệm, sinh khoảng giữa thế kỉ XIX, tại thôn Vĩnh Kim Đông, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay là xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống âm nhạc gốc ở kinh đô Huế; nhưng sau đó, di cư vào Nam khoảng đầu thế kỉ XIX.

Được thân phụ là Trần Quang Thọ vốn là một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc của cung đình Huế tận tình truyền dạy âm nhạc; nên ngay từ thuở nhỏ, ông đã có kiến thức âm nhạc dân tộc khá vững chắc. Ông chuyên đờn Tỳ bà theo phong cách Huế.

Với sự đam mê âm nhạc, tinh thần cầu tiến và nhẫn nại; ông đã soạn một tuyển tập ghi lại các bản nhạc Huế với phương pháp ký âm do chính ông sáng tạo. Đó là cách ghi theo hò xự xang xê cống, bằng chữ Hán, trong các ô vuông.

Theo đó, cứ nhịp đôi thì hai ô cho một câu, nhịp tư thì bốn ô cho một câu. Người đánh đàn cứ theo đó mà đọc từ trên xuống dưới, từ phải qua trái như cách người ta đọc sách chữ Hán thời xưa. Mỗi chữ mà đờn ngay nhịp thì có một khoanh tròn bằng son đỏ, chữ nào thuộc về nhịp nhẹ (nhịp láy) thì có một chấm son, chữ đàn nhanh – chậm thì sắp nhặt – khoan theo khoảng giữa hai nhịp chính. Với cách ký âm này, bốn dây của đàn Tỳ bà phải được lên theo các giọng Tồn, Tang, Tôn, Tính.

Theo tương truyền, ông cũng là người sáng tác ra tám bài Ngự: Đường Thái Tông, Vọng phu, Chiêu Quân, Ái tử kê, Bát man tấn cống, Tương tư, Duyên kì ngộ, Quả phụ hàm oan.

Ông có sáu người con, trong đó có hai người nổi tiếng giỏi âm nhạc là Trần Ngọc Viện và Trần Văn Chiều. Ông là ông nội của GSTS Trần Văn Khê. Ông mất khoảng đầu thế kỉ XX.

* TRẦN VĂN CHIỀU

Trần Văn Chiều, còn gọi là Bảy Triều, sinh năm 1897, tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Thân phụ của ông là Trần Quang Diệm một nghệ nhân nổi tiếng ở trong vùng.

Vốn có năng khiếu bẩm sinh lại được sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, ông sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc cụ, như đàn cò, đàn độc huyền (đàn bầu), đàn nguyệt (đàn kìm). Với đàn độc huyền, ông đã nháy đến độ độc đáo tiếng đào thán trong Hát Bội, tiếng nói lối ai của đào thương và rao Nam rao Oán. Với cây đàn nguyệt, ông đã sáng tạo ra dây Tố Lan, mà giới nhạc sĩ tài tử Nam bộ đều biết đến.

Năm 1918, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Dành; có ba người con, trong đó, người con trai cả là GSTS Trần Văn Khê hiện nay. Sau khi bà Dành hy sinh vì nước, vì quá thương nhớ người vợ thân yêu, ông phát sinh tâm bệnh và mất năm 1931 tại quê nhà, hưởng dương 34 tuổi.

Thủ bút và chữ ký của Trần Văn Khê gởi từ Pháp tặng ba mình: “Thân kính tặng Ba, Paris III/67, Con của Ba, Khê”

* NGUYỄN THỊ DÀNH

Nguyễn Thị Dành, còn gọi là Tám Dành, sinh năm 1899 trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Bà là con của ông Nguyễn Tri Túc một nghệ nhân ca nhạc tài tử nổi tiếng ở địa phương.

Thuở nhỏ, tuy không được học đờn như các anh em trai của mình, nhưng bà Dành lại được gia đình cho học chữ một điều rất hiếm đối với phụ nữ lúc đó tại trường Nhà Trắng của Giáo hội Thiên Chúa ở Mỹ Tho. Năm 1918, bà kết hôn với ông Trần Văn Chiều, thường gọi là Bảy Triều.

Trần Văn Khê và thân mẫu Nguyễn Thị Dành (1924)

Bà sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1927, bà được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) sáng lập. Bà là nữ hội viên đầu tiên của tổ chức cách mạng này ở Vĩnh Kim. Tuy bận việc gia đình, nhưng bà cùng với người chị chồng là Trần Ngọc Viện rất hăng say hoạt động cách mạng.

Được cha mẹ cho hai lượng vàng và bốn công (4.000 mét vuông) vườn làm của hồi môn, bà đã lặng lẽ mang đi bán để lấy tiền làm chi phí hoạt động cho cách mạng. Bà đã góp công rất lớn trong việc xây dựng và chỉ đạo sự hoạt động của gánh Đồng Nữ Ban một gánh cải lương đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam, do cách mạng lập ra, mà diễn viên toàn là phụ nữ, nhằm tuyên truyền cách mạng và gây quỹ tài chính cho hoạt động của Tỉnh bộ Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng tỉnh Mỹ Tho.

Năm 1930, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam; và được Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ định làm Bí thư đầu tiên của Chi bộ xã Vĩnh Kim. Đây là một trong những chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Mỹ Tho. Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, bà đã xúc tiến công tác xây dựng Đảng và vận động phong trào quần chúng. Nhờ vậy, bà đã tổ chức thành công nhiều cuộc biểu tình của nhân dân Vĩnh Kim và các vùng phụ cận chống chính quyền thực dân Pháp.

Nhưng cũng ngay lúc đó, bà bị địch phát hiện. Để né tránh sự truy bắt của bọn chúng và cũng do bà có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức, chỉ đạo đấu tranh; nên Đảng đã phân công bà sang Cao Lãnh để tổ chức, vận động và thúc đẩy phong trào cách mạng ở đây tiến lên. Tuyệt đối phục tùng sự điều động của Đảng, bà chấp nhận đi đến hoạt động ở một nơi xa lạ trong lúc bụng mang dạ chữa, để lại quê nhà ba đứa con (hai trai, một gái) còn thơ dại.

Tại Cao Lãnh, bà được cấp trên bố trí về xã Hòa An; và cùng với bà Nguyễn Thị Thơ làm một quán nhỏ bán bánh chuối ở cạnh vườn xoài ông Hương Cả Ngưu để ngụy trang và hoạt động.

Ngày 3 5 1930, một cuộc biểu tình khổng lồ đông đến hàng ngàn người đã nổ ra rất quyết liệt tại Cao Lãnh. Quần chúng với khí thế hừng hực lửa đấu tranh đã rầm rập kéo về dinh quận đòi các quyền dân sinh dân chủ. Dã man và tàn ác đến tột độ, Chủ quận Lê Quang Tường ra lệnh cho bọn lính dùng súng bắn xả vào quần chúng chỉ có tay không, làm nhiều người chết và bị thương. Riêng bà bị bọn lính đâm trọng thương.

Sau đó, bà được tổ chức đưa lên Sài Gòn điều trị. Nhưng, do vết thương quá nặng lại bị đau tim và sẩy thai, nên bà đã mất vào ngày 25 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930), hưởng dương 31 tuổi. Ba người con của bà sau này đều nên người; trong đó, nổi tiếng nhất là Giáo sư Tiến sĩ Âm nhạc học Trần Văn Khê.

* TRẦN NGỌC VIỆN

Trần Ngọc Viện, còn gọi là cô Ba Viện, sinh năm 1884 tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Bà là con của nghệ nhân âm nhạc nổi tiếng Trần Quang Diệm.

Vốn sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc dân tộc, bà rất giỏi về đàn tỳ bà, nhưng sử dụng điêu luyện nhất là đàn tranh. Ở Vĩnh Kim, hiện nay vẫn còn câu ca: Cô Ba Viện đờn tranh lảnh lót. Ngoài ra, bà còn có tài may vá thêu thùa.

Sau khi chồng mất, bà lên Sài Gòn, dạy môn Nữ công gia chánh ở trường Nữ Áo tím (nay là trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, TP Hồ Chí Minh). Năm 1926, bà đưa học sinh của trường đi dự đám tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh, nên bị chính quyền thực dân buộc thôi việc.

Sau đó, bà trở về quê nhà. Năm 1927, theo chỉ đạo của Tỉnh hội Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Mỹ Tho, bà sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban, mà toàn bộ diễn viên đều là nữ, nhằm dùng sân khấu làm nơi tập hợp quần chúng, giáo dục tinh thần yêu nước, chống ngoại xâm cho nhân dân, nhất là cho giới thanh niên học sinh; góp phần đào tạo cán bộ cho cách mạng và gây quỹ tài chính cho tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Mỹ Tho.

Gánh hát Đồng nữ ban năm 1927 của bà Trần Ngọc Viện (Ảnh do GS-TS Trần Văn Khê cung cấp)

Mọi hoạt động của gánh đều do bà đảm nhiệm; và gánh đã đi lưu diễn khắp nơi, tạo nên tiếng vang tốt trong giới nghệ sĩ sân khấu và trong lòng quần chúng hâm mộ. Đến năm 1928, lấy lý do gánh Đồng Nữ ban hoạt động quốc sự, nhà cầm quyền Pháp ở Nam kì ra lệnh giải tán gánh cải lương độc đáo này.

Liên tiếp trong hai năm 1930 1931, người em trai và em dâu của bà là Trần Văn Chiều và Nguyễn Thị Dành, một người mất sớm, một người hy sinh vì nước, để lại ba người con còn thơ dại. Với vai trò là cô, bà đã ra sức làm việc nuôi dạy ba người cháu mồ côi nên người; trong đó có một người, sau này, nổi tiếng cả thế giới; đó là GSTS Trần Văn Khê. Năm 1944, bà mất tại quê nhà, thọ 60 tuổi.

* NGUYỄN TRI KHƯƠNG

Nguyễn Tri Khương, còn gọi là Năm Khương, sinh năm 1890 tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Ông là con của ông Nguyễn Tri Túc và là anh của bà Nguyễn Thị Dành.

Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, ngay từ nhỏ, ông đã được dạy nhạc một cách bài bản; và sử dụng thành thạo nhiều loại nhạc khí, nhưng hay nhất là đàn cò, tiêu và sáo. Ông còn có khả năng viết tuồng. Năm 1927, ông viết vở cải lương Giọt lệ chung tình. Đây là vở diễn chủ lực của gánh cải lương Đồng Nữ ban do cô Ba Viện sáng lập.

Về nội dung, Giọt lệ chung tình là vở tuồng dã sử, đề cao tinh thần vị nghĩa, chống áp bức, bất công và ca ngợi sự trung trinh, tiết liệt. Về nghệ thuật, vở cải lương này được viết theo lối văn biền ngẫu, có đầy đủ các bản nhạc theo các điệu, các hơi Bắc, Quảng, Hạ, Xuân, Ai đảo, Tứ đại oán, Hành vân, Văn Thiên Tường.

Đặc biệt, lần đầu tiên, ông đã sáng tạo ra nhiều bài bản mới, như Yến tước tranh ngôn (Chim én và chim sẻ tranh lời) và Đăng lâu thưởng nguyệt (Lên lầu ngắm trăng) theo điệu Bắc vui tươi, Thất trỉ bi hùng (Chim trỉ mái mất, chim trỉ trống buồn) theo điệu Ai buồn thảm, Phong xuy trịch liễu (Cơn gió làm nghiêng cây liễu) theo hơi Xuân nữ nhưng nhịp dồn dập như bài Nam tẩu trong Hát Bội, Lục y phổ niệm và Bạch hạc minh bi được phổ nhạc theo bài kinh Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh của đạo Phật; trong đó, bản Phong xuy trịch liễu được thu đĩa ở Pháp.

Đồng thời, ông còn thổi sáo rất điêu luyện. Tiếng sáo của ông được thu và lưu giữ tại Bảo tàng Con người ở Pháp. Ông là cậu của GSTS Âm nhạc học Trần Văn Khê. Năm 1962, ông mất tại quê nhà, thọ 72 tuổi.

* NGUYỄN MỸ CA

Nguyễn Mỹ Ca sinh năm 1920 tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Ông là con của ông Nguyễn Tri Lạc một người rất giỏi về đàn cò, đàn tranh và đánh trống nhạc lễ.

Khoảng năm 1940, ông cùng với người em họ, vai con cậu con cô là Trần Văn Khê lập ra ra ban nhạc Sầm Giang. Ban nhạc này đã có những hoạt động biểu diễn âm nhạc rất sôi nổi ở địa phương.

Năm 1942, ông ra Hà Nội học Đại học; và sinh hoạt trong nhóm sinh viên yêu nước do Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Trong khoảng thời gian này, ông sáng tác nhiều ca khúc vui tươi, lạc quan, thấm đậm lòng yêu nước, như Đến trường, Vui đi học, Dạ khúc, đặc biệt bài Chiêu hồn nước được sinh viên, học sinh công diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội. Ngoài ra, ông còn cùng với Lưu Hữu Phước viết phần nhạc của bài Khúc khải hoàn nổi tiếng cho đến tận ngày nay.

Đầu năm 1944, hưởng ứng phong trào Xếp bút nghiên của sinh viên, ông cùng với nhiều sinh viên yêu nước khác đi xe đạp về Nam; tham gia phong trào cách mạng đang dâng lên sôi nổi ở Sài Gòn.

Cuối tháng 9 1945, giặc Pháp xâm chiếm Sài Gòn. Ông trở về quê nhà. Theo tiếng gọi của non sông, ông ra bưng biền tham gia kháng chiến. Lúc bấy giờ, ông được cấp trên phân công làm Giám đốc Binh công xưởng Khu Trung Nam bộ mà nhân dân quen gọi là Binh công xưởng Nguyễn Mỹ Ca.

Sau đó, Binh công xưởng được di chuyển về đóng ở vùng U Minh Hạ, bên bờ sông Trẹm. Với cây đờn piano do Ủy ban Kháng chiến tỉnh Mỹ Tho tặng, ông đã ký âm bài Tiến quân ca để các chiến sĩ hát trong buổi lễ chào cờ vào đầu mỗi buổi sáng. Ngoài việc chỉ huy nhân viên sản xuất vũ khí, đạn dược cung cấp cho chiến trường, ông còn sáng tác một số ca khúc nhằm động viên tinh thần chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược của nhân dân ta; tiêu biểu là bài Toàn dân kháng chiến.

Khoảng giữa năm 1946, Binh công xưởng bị giặc Pháp tấn công. Ông bị sa vào tay giặc. Bọn chúng mang ông về Cà Mau, vừa tra tấn dã man, vừa mua chuộc, dụ dỗ; hòng buộc ông phải đầu hàng. Nhưng, trước sau ông chỉ nói Độc lập hay là chết. Bất lực trước ý chí gang thép của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, giặc Pháp đã hèn hạ xử bắn ông tại chợ Cà Mau. Vì nước, ông hy sinh anh dũng khi mới vừa 26 tuổi.

Nguyễn Phúc Nghiệp (vannghetiengiang.vn)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2014/01/15/v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-gia-t%e1%bb%99c-n%e1%bb%95i-ti%e1%ba%bfng-am-nh%e1%ba%a1c-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam-2/#sthash.Zv4eS4Rq.dpuf

http://www.tranvankhe.vn/2014/01/15/v%E1%BB%81-m%E1%BB%99t-gia-t%E1%BB%99c-n%E1%BB%95i-ti%E1%BA%BFng-am-nh%E1%BA%A1c-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam-2/

Từ gánh hát Đồng Nữ Ban đến cải lương hôm nay


Từ gánh hát Đồng Nữ Ban đến cải lương hôm nay

Posted on 26/01 by 

Như tin đã đưa, ngày 18.1, UBND tỉnh Tiền Giang đã tổ chức chuỗi các sự kiện kỉ niệm nghệ thuật ĐCTT Nam Bộ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Sự hình thành và phát triển nghệ thuật cải lương của Nam Bộ.

 

Nhiều hoạt động đã diễn ra: Triển lãm và Tọa đàm khoa học “Tiền Giang với nghệ thuật cải lương” và đêm sân khấu hóa với nhiều trích đoạn và hoạt cảnh tiêu biểu phác họa lại quá trình hình thành gần một thế kỉ của sân khấu cải lương…

NSƯT Bảo Quốc (vai Hội đồng Thăng) và NSND Bạch Tuyết (vai cô Lựu) trong vở Đời cô Lựu – Ảnh: H.K

Khẳng định cái nôi cải lương Nam Bộ

Tọa đàm “Tiền Giang với nghệ thuật sân khấu cải lương” đã thu hút sự tham gia của hơn 100 đại biểu là các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ, soạn giả, thầy đờn… của Tiền Giang, TP.HCM và nhiều tỉnh ĐBSCL về tham dự như GS.TS Trần Văn Khê, NSND Bạch Tuyết, NSND Kim Cương…

15 tham luận tại tọa đàm đều làm sáng rõ và khẳng định thêm Tiền Giang là cái nôi của cải lương Nam Bộ. Từ khi rạp cải lương đầu tiên xuất hiện tại Mỹ Tho từ năm 1918 và vở cải lương đầu tiên, nơi ra đời đĩa hát cải lương đầu tiên, đóng góp nhiều nghệ sĩ nổi tiếng… đến nay đã gần một thế kỉ trôi qua. Sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật cải lương không thể không nhắc đến sự lớn mạnh từ phong trào ĐCTT.

Ông Trần Thanh Đức – Phó Chủ tịch UBND Tiền Giang cho rằng: “Các “nhạc sư” đầy tâm huyết dạy những ngón nghề về nhạc lễ, rồi sau đó là nhạc tài tử cho lớp trẻ ở Mỹ Tho thời bấy giờ, trong đó nổi lên tên tuổi Phan Hiển Đạo, Tôn Thọ Tường, Trần Quang Thọ, Trần Quang Diệm, Trần Văn Chiều (Bảy Triều) là ông cố, ông nội và cha của GS.TS Trần Văn Khê; Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) cùng nhiều nhạc sĩ, ca sĩ khác tạo ra một loại nhạc mới là nhạc tài tử, phát triển loại nhạc này để hình thành ĐCTT có ca ra bộ, tiền thân của sân khấu cải lương”.

GS.TS Trần Văn Khê đã trình bày sự hình thành của sân khấu cải lương đầu tiên từ gánh hát của thầy Năm Tú, gánh Huỳnh Kỳ…, đặc biệt là sự ra đời của gánh hát Đồng Nữ Ban. GS nhấn mạnh đến giai đoạn hình thành gánh hát Đồng Nữ Ban để khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của các gánh hát ở Tiền Giang.

Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên khẳng định rằng: “Mỹ Tho là nơi TS Phan Hiển Đạo đã truyền dạy nhạc Huế cho các môn sinh của mình, hai dòng họ Trần – Nguyễn của làng Vĩnh Kim Đông tỏa sáng trong nghệ thuật cầm ca, nơi cô Ba Đắc khởi xướng lối ca có lời đối đáp bằng những giọng khác nhau… Tất cả cho thấy một truyền thống văn hóa được xác lập. Đó là bằng chứng không thể phủ nhận Mỹ Tho là nơi xướng xuất ra nghệ thuật ĐCTT và sân khấu cải lương”…

Sân khấu cải lương và nỗi niềm…

Hội trường Ấp Bắc và Bến tàu Du lịch tỉnh Tiền Giang đông kín khán giả bởi chương trình nghệ thuật sân khấu hóa “Tiền Giang – cái nôi của nghệ thuật cải lương” đêm 18.1.

Trên sân khấu, từng hoạt cảnh tái hiện toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cải lương Nam Bộ. Từ thuở khai hoang mở cõi, nhạc cung đình Huế đã được truyền dạy tại Nam Bộ là yếu tố cho sự hình thành ĐCTT. Từ ĐCTT dẫn đến sự ra đời của ca ra bộ, điển hình thời bấy giờ là bản Tứ Đại Oán “Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”.

Ca ra bộ lại là tiền đề cho sự phát triển thành sân khấu cải lương. Một lần nữa những ca cổ, trích đoạn trong “Nghêu sò ốc hến”; “Đời cô Lựu”; “Tô Ánh Nguyệt”, “Cờ nghĩa giồng Sơn Quy” qua diễn xuất của các NSƯT Minh Vương, NSND Bạch Tuyết, Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Đào Vũ Thanh, Cẩm Tiên, Nhơn Hậu… vẫn khiến người xem xúc động, khóc cười với nhân vật.

Nhiều câu hỏi đặt ra, vì sao những tác phẩm này đến tận bây giờ khi xem lại, khán giả vẫn ngậm ngùi, xúc động và tán thưởng? Nhìn thẳng vào thực tế, nhiều người làm nghề cho rằng, kịch bản chính là vấn đề. NSND Bạch Tuyết cho rằng: “Kịch bản cải lương hiện nay vẫn luôn là nỗi khắc khoải của những người làm nghề. Không có kịch bản hay mà phần lớn chuyển từ kịch nói. Trước đây các đoàn hát đều có thầy tuồng, viết “đo ni đóng giày” tạo nên những tên tuổi cho nhiều nghệ sĩ có bản sắc riêng. Ngày nay thiếu đi đội ngũ biên kịch am hiểu, chuyên sâu về các bản cải lương. Đó là lí do các đoàn tận dụng các kịch bản kịch nói để chuyển thể…”.

(Theo Báo Văn hóa)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2014/01/26/t%e1%bb%ab-ganh-hat-d%e1%bb%93ng-n%e1%bb%af-ban-d%e1%ba%bfn-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-hom-nay/#sthash.mxSHvyGE.dpuf

http://www.tranvankhe.vn/2014/01/26/t%E1%BB%AB-ganh-hat-d%E1%BB%93ng-n%E1%BB%AF-ban-d%E1%BA%BFn-c%E1%BA%A3i-l%C6%B0%C6%A1ng-hom-nay/

Đờn ca tài tử với người dân Nam Bộ


Đờn ca tài tử với người dân Nam Bộ

Posted on 17/02 

Đờn ca tài tử là một sinh hoạt văn nghệ do một nhóm nhỏ nghệ sĩ biểu diễn cho một nhóm nhỏ thính giả, không gian ấm cúng của một căn phòng trong tư gia, chớ không phải trong một hội trường lớn, hay trên một sân khấu hoành tráng cho đông đảo thính giả.

 

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì Đờn ca tài tử bắt nguồn từ Ca Huế. Nghệ sĩ đờn ca Huế trong phong trào Cần Vương đã rời miền Trung vào Nam.

Đôi nét ngọn nguồn

Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam. Từ đó tiếng đờn, giọng ca xứ Huế mang thêm chút hương vị xứ Quảng như điệu “Lưu thuỷ thục giang” qua giai đoạn “Lưu thuỷ Quảng” mới trở thành “Lưu thuỷ đoản” miền Nam; “Phú lục Huế” chuyển hơi thành “Phú lục Quảng”, rồi khi vào Nam bài “Phú lục chấn” chỉ còn đôi chút của “Phú lục Huế”.

Tiếng đờn miền Trung khi vào miền Nam không còn giữ nguyên chất mà đã thay đổi rất nhiều, có bài bản còn trùng tên, nhưng giai điệu đã khác xa, điển hình như 2 bài “Nam ai Huế” và “Nam ai miền Nam”.

Quan sát môi trường, con người và nếp sống miền Nam, chúng ta sẽ rõ tại sao bài bản không còn giữ được chuẩn, đó là do người đờn, người ca không muốn giữ nguyên si bài bản như thầy đã dạy mà luôn có đôi nét thêm thắt thay đổi, tô điểm, đưa một chút “ta” vào trong “chúng ta”.

Nam Bộ là một vùng đất đỏ nặng trĩu phù sa, một vùng chằng chịt kinh rạch, sông ngòi, vùng mà trước kia hoang dại “ma thiêng nước độc”, một “nơi nhiều sông rạch bùn lầy, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lầy như bánh canh”.

Những người Việt từ miền Bắc xa xôi, miền Trung kinh kỳ, đến đây lập nghiệp, một vùng đất mới, đồng ruộng phì nhiêu, một vựa lúa, một vườn trái cây, có nhiều sản vật phong phú, đa dạng, nên: “Đến đây thì ở lại đây, trăm năm bám rễ, xanh cây không về”.

Họ là những người năng động, nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng tiếp nhập với dân bản xứ, giản dị, cởi mở, hào hiệp, hiếu khách, có một nền dân ca dồi dào, với nhiều câu ca dao trữ tình, câu hò điệu lý duyên dáng, bài vè dí dỏm, một nền nhạc lễ bắt nguồn từ nhạc cung đình miền Trung, giản dị hoá, dân gian hoá, rất độc đáo với “phe Văn, phe Võ”, với tiếng trống “đánh sáng, đánh tối”, “tiếng âm, tiếng dương”, tiếng “bồng” sôi động, bồng hai, bồng ba, bồng thét, “tiền bần hậu phú”, đã tạo nên một không gian văn hoá Nam Bộ đặc thù, phát triển không ngừng đến ngày nay.

Do lòng luôn luôn thương nhớ cội nguồn, nên mặc dầu trong đờn ca tài tử có rất nhiều điệu, nhiều giọng, nhiều hơi, nhưng các các điệu, các hơi diễn tả nỗi u buồn, được người ca và người nghe thích thú, say mê trong diễn tấu, miệt mài trong thưởng thức.

Trong những người theo phong trào Cần Vương vào Nam truyền bá nhạc Huế cho người học nhạc miền Nam, các nghệ nhân còn nhắc lại tên ông Nguyễn Tòng Bá chuyên dạy đờn nguyệt (kìm) và đờn tranh; ông Nguyễn Liên Phong dạy đờn độc huyền (bầu); ông Trần Quang Thọ dạy đờn tỳ bà.

Ông Nguyễn Quang Đại, người tỉnh Quảng Nam (con thứ ba trong gia đình nên người dân Nam bộ thường gọi là ông Ba Đại hoặc Ba Đợi), đến vùng Chợ Đào tỉnh Long An mở lớp dạy đờn ca. Từ đó, lối đờn ca nghiêm trang của nhạc thính phòng và cung đình Huế đã được nhiều người trong Nam học hỏi và đã trở nên gần gũi với dân chúng hơn.

Cùng một lúc với nền ca nhạc từ Huế đi vào người nhạc sĩ miền Nam còn tiếp cận với nhạc lễ theo phe Văn (gồm 4 cây đờn cò lên dây khác nhau) hình thành nên bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ ngày nay.

Phần đông khi nhắc đến Đờn tài tử thì cho rằng lối nhạc đó không sâu sắc chuyên nghiệp mà mang tính cách giản dị của dân gian hay “a ma tơ” (theo chữ Pháp “amateur”) của những người nghiệp dư. Thực ra “tài tử” có nghĩa là người có tài (dập dìu tài tử giai nhân – Truyện Kiều).

Người đàn tài tử không dùng tài nghệ của mình làm kế sinh nhai. Khi nào thích đàn thì họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng nhau đàn chơi, ai biết đàn ca cũng có thể tham gia được, có thể đờn ca suốt đêm không chán.

Nhưng khi không thích đờn thì dầu cho có ai đem tiền muôn bạc vạn đến bảo đờn rồi thưởng thì các nghệ nhân tài tử cùng nhứt định không đờn. Tuy không phải nhà nghề nhưng trình độ nghệ thuật của nghệ nhân tài tử không thấp. Họ thường tập luyện rất công phu, phải theo thầy học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và tạo cho mình một phong cách riêng. Muốn trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu…

Nghệ thuật đặc sắc

Theo quy luật, trong nghệ thuật Đờn ca tài tử không viết thành văn bản nhưng những người điệu nghệ đều biết rõ và tuân thủ rất nghiêm túc.

Trong Đờn ca tài tử, tiếng đờn quan trọng hơn cả tiếng ca, khác với trong nghệ thuật ca trù, ca Huế thì người ca nương là chánh, tiếng đờn là phụ.

Dàn đờn gồm có đờn kìm (nguyệt) giữ tiếng đờn chân phương và cho nghe âm thanh trầm ấm trong nhà nghề gọi là tiếng “Thổ”; đờn tranh nhờ dây sắt có tiếng đàn lánh lót nên phát thành tiếng “Kim”; đờn cò có cung kéo vuốt ve thành tiếng dịu ngọt; đờn độc huyền (bầu) nỉ non như xoáy vào tim; sau năm 1930 có thêm guitar phím lõm, tuy là một nhạc khí gốc từ Tây Ban Nha nhưng nhờ người Việt khoét cần giữa 2 phím để người đờn có thể nhấn – rung thể hiện được tất cả cách tô điểm nhạc truyền thống Việt Nam.

Có thể đờn 1 cây gọi là độc tấu, thường thì song tấu đờn kìm và đờn tranh và thêm cây đờn cò gọi là tam tấu. Nếu dàn nhạc có 4-5 cây thường gọi là tứ tuyệt, ngũ tuyệt.

Ngôn ngữ âm nhạc của Đờn ca tài tử rất tinh vi, mỗi chữ nhạc không có độ cao tuyệt đối hay độ cao tương đối cố định nhưng tuỳ theo điệu thức hoặc kỹ thuật đờn mà có một cao độ khác nhau: tiếng đờn non là cao độ thấp một chút, tiếng đờn già là cao độ cao một chút, không cố định là một quãng tám hay quãng tư, độ cao thấp do thầy dạy và học trò làm theo. Nếu nhấn quá cao hay quá thấp thì bị lạc hơi.

Muốn diễn tả tình cảm, Đờn ca tài tử có nhiều điệu thức khác nhau, trong giới nhà nghề thường gọi là “Hơi”: Hơi Bắc vui tươi khi đờn phải mổ các chữ hò xang xê liu và rung hai chữ xự cống ; hơi Quảng nhộn nhịp như hơi nhạc Quảng Đông thì đờn hò xang xê liu phải rung và xự cống phải mổ; hơi “Xuân” thanh thản thì phải nhấn đặc biệt chữ xang, vuốt lên xê rồi trở lại xang; hơi “Ai” buồn nên rung chữ xang trước rồi nhấn nhẹ lên xê mà không trở lại xang.

Chỉ nói sơ qua như thế các bạn đã thấy rằng muốn đờn tài tử cho đúng điệu phải biết nhấn chữ xang theo 4 cách khác nhau đó.

Cách đờn của Đờn ca tài tử cũng rất đặc sắc. Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu “rao” theo hơi đó. Câu “rao” theo truyền thống miền Nam khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung, những bài “Dạo khách, Dạo nam” có một nét nhạc cố định, học trò học rồi mỗi lần trước khi vào bài thì đờn những câu dạo theo thầy dạy mà không thay đổi.

Câu “rao” miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu dạy học trò, thì học trò đờn theo thầy, nhưng khi học trò đến một mức nghệ thuật tương đối khá cao, thầy cho phép học trò tạo những câu rao đặc biệt cho mình.

Người đờn khi bắt đầu rao, một mặt dẫn người thính giả đi lần vào điệu, vào hơi để nghe bản đờn. Đồng thời khi rao cũng là lúc thử cây đàn có phím nào chênh lệch hay không, dây đàn cứng quá hay mềm quá không, để lúc biểu diễn nhờ chữ nhấn mà làm cho tiếng nhạc hoàn chỉnh hơn. Giống như người kỵ mã trước khi cỡi ngựa biểu diễn cần phải biết chứng con ngựa mình đang cỡi.

Câu rao thể hiện được bản chất của người đờn. Khi hòa đờn chung không bao giờ đờn cùng một bản, mỗi nhạc khí có một cách sắp chữ riêng, trong khi biểu diễn tất cả nhạc công đều biết cách phối khí tập thể tại chỗ, lại có những đoạn ngẫu hứng, sáng tạo trong lúc biểu diễn. Nhờ vậy, một bản đờn không bao giờ làm nhàm chán người nghe vì được biến hoá thiên hình vạn trạng. Trong Đờn tài tử có một nguyên tắc thẩm mỹ “học chân phương – đờn hoa lá”.

Đối với người dân Nam Bộ, Đờn tài tử là một thú tiêu khiển, đem cái vui cho mình và cho người chung quanh, có thể đờn chơi một mình và chừng đó tiếng đờn như một người bạn chí thân, lúc buồn cũng có thể trút vào tiếng đờn để nỗi buồn vơi đi, khi vui thì tìm bạn hoà đờn, chơi vài bản, trong lúc đờn cũng có cách phá với nhau cho vui để xem người bạn mình có chắc nhịp hay không.

Đờn ca tài tử thường được dùng trong các lễ hội hoặc tiệc cưới, ngày nay trong những đám tang thường có những dàn nhạc Đờn ca tài tử phụ lực với phe Văn của dàn nhạc lễ để làm nhẹ bớt không khí buồn thảm của tang gia.

Ở miền Nam, từ công chức đến những người lao động, thợ hớt tóc, anh chèo đò… đều có thể trở thành những người sành điệu Đờn ca tài tử và khi vào chung một dàn nhạc thì người nào đờn hay được tôn trọng nhứt, cách xử sự giữa những người cùng đàn rất dân chủ.

Trong các bộ môn âm nhạc truyền thống, Đờn ca tài tử được nhiều người ưa thích và tham gia nhứt.

Văn Khương

(Theo: vov.vn)

– See more at: http://www.tranvankhe.vn/2014/02/17/d%e1%bb%9dn-ca-tai-t%e1%bb%ad-v%e1%bb%9bi-ng%c6%b0%e1%bb%9di-dan-nam-b%e1%bb%99/#sthash.oPnJ5i93.dpuf

http://www.tranvankhe.vn/2014/02/17/d%E1%BB%9Dn-ca-tai-t%E1%BB%AD-v%E1%BB%9Bi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-dan-nam-b%E1%BB%99/