THANH PHƯƠNG / RFI : NĂM VIỆT NAM TẠI PHÁP 2014 với phần phỏng vấn GSTS Trần Quang Hải đặc biệt về Đờn ca tài tử, phát thanh 17 tháng 2, 2014


THỨ HAI 17 THÁNG HAI 2014
Năm Việt Nam tại Pháp 2014
"Mục tiêu Việt Nam" : Từ ngày 14/03 cho đến 29/06, Viện Bảo tàng Cernuschi sẽ trưng bày những bức ảnh cổ từ kho tư liệu của Trường Viễn Đông Bác Cổ về Việt Nam thời xưa.

“Mục tiêu Việt Nam” : Từ ngày 14/03 cho đến 29/06, Viện Bảo tàng Cernuschi sẽ trưng bày những bức ảnh cổ từ kho tư liệu của Trường Viễn Đông Bác Cổ về Việt Nam thời xưa.

DR

Ngày 14/02 vừa qua, tại Nhà hát Chatelet ở Paris, Năm Việt Nam tại Pháp đã chính thức khai mạc, với phần biểu diễn của đoàn nghệ thuật Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam và Học viện âm nhạc quốc gia trước khoảng 2000 khách mời Pháp Việt.Đến dự lễ khai mạc này, về phía Pháp theo lẽ có Ngoại trưởng Laurent Fabius, nhưng cuối cùng ông Fabius bận việc nên đã nhờ Bộ trưởng đặc trách Pháp ngữ Yamina Benguigui thay mặt đến dự. Đại diện cao cấp nhất về phía Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh.

Năm Việt Nam tại Pháp 2014 là tiếp nối năm Pháp tại Việt Nam 2013, được tổ chức nhằm kỷ niệm 40 quan hệ Ngoại giao Pháp – Việt. Thật ra năm Việt Nam tại Pháp 2014 đã bắt đầu với những hoạt động từ cuối năm ngoái và đầu năm nay, đặc biệt là nhân dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ vừa qua.

Riêng Liên hoan phim châu Á Vesoul ( 11 đến 18/02 ) đã chọn Việt Nam là khách mời và đã giới thiệu cho công chúng một số phim tiêu biểu cho điện ảnh Việt Nam, với sự tham gia của đạo diễn nổi tiếng Đặng Nhật Minh và đạo diễn trẻ đầy triển vọng Bùi Thạc Chuyên.

Còn tại thành phố Toulouse, Liên hoan văn hóa châu Á mang tên “Made in Asia” cũng đã dành một vị trí đặc biệt cho các nghệ sĩ Việt Nam, trong đó có nữ nghệ sĩ trẻ đa năng Lê Cát Trọng Lý. Lê Cát Trọng Lý cũng đã từng được mời tham gia Đại nhạc hội Pháp Việt ở Hà Nội năm ngoái trong khuôn khổ năm Pháp ở Việt Nam 2013.

Trong tháng 2 này cũng sẽ khai mạc một số triển lãm, như triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam ở Marseille ( 20/02 đến 22/03 ), triển lãm mỹ thuật đương đại Việt Nam ở Nimes ( 20/02 đến 25/05 )…

Kể từ ngày 01/03, Viện Bảo tàng Nghệ thuật châu Á Guimet ở Paris sẽ có một cuộc triển lãm “Pháp-Việt Nam: 4 thế kỷ bang giao”, với những tư liệu, tranh ảnh và vật thể từ kho lưu trữ của Viện Hàn lâm Khoa học Hải Ngoại của Pháp.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nữ văn sĩ nổi tiếng Marguerite Duras, người đã sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, một vở kịch do chính bà cải biên từ tác phẩm đầu tay của bà “Un Barrage contre le Pacifique, sẽ được trình diễn từ ngày 06 đến 22/03 ở Paris. Vở kịch đã được cải biên gần 30 năm sau khi tác phẩm này ra đời. Un Barrage contre le Pacifique lấy cảm hứng về đời niên thiếu của bà ở Đông Dương.

Cũng trong tháng 3, Liên hoan quốc tế phim phụ nữ (từ 14– 23/03) sẽ có khách mời danh dự là các nữ đạo diễn Việt Nam. Ra đời từ năm 1979, Liên hoan phim Créteil cho tới nay đã trình chiếu gần 150 phim của các nữ đạo diễn toàn thế giới.

Về mặt học thuật, từ ngày 20 đến 22/03, Đại học Sorbonne, Paris sẽ tổ chức một hội thảo đề tài “ Từ Đông Dương thuộc địa đến Việt Nam hiện nay”. Từ ngày 14/03 cho đến 29/06, viện bảo tàng Cernuschi sẽ trưng bày những bức ảnh cổ từ kho tư liệu của Trường Viễn Đông Bác Cổ về Việt Nam thời xưa.

Sang đến đầu tháng tư, trong hai ngày 07 và 08/04, tại Paris sẽ diễn ra Đối thoại kinh tế thường niên cấp cao giữa Pháp và Việt Nam. Tháng tư cũng là Tháng Văn hóa Việt Nam ở vùng Touraine, miền Trung nước Pháp, do Hội Touraine – Việt Nam tổ chức với nhiều sinh hoạt như hội thảo, chiếu phim, ca nhạc, triển lãm…

Trong tháng Năm, Liên hoan phim quốc tế Cannes 2014 (14 đến 25/05) cũng sẽ có một sinh hoạt về điện ảnh Việt Nam với sự có mặt của các đạo diễn Việt Nam. Đoàn múa của nữ biên đạo múa Ea Sola cũng sẽ lưu diễn từ ngày 20/05 đến 03/06 để giới thiệu vở “ Hạn hán và cơn mưa”. Một đoàn nghệ sĩ từ Việt Nam cũng sẽ đến trình diễn tại Hội chợ Besançon (22/05 đến 02/06).

Đầu tháng Sáu, tại Thư viện Quốc gia François Mitterrand, Paris, sẽ có một cuộc hội thảo về trao đổi văn hóa giữa Pháp với Việt Nam từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21.

Tháng Bảy là tháng tập trung nhiều sinh hoạt văn nghệ nhất với đội cồng chiêng Tây Nguyên sẽ đi lưu diễn từ ngày 03 đến 29/07 tại nhiều thành phố Paris, Saint-Malo, Gannat… Các màn múa, hát, nhạc dân tộc cổ truyền của Việt Nam sẽ được giới thiệu tại Festival de Romans et de Segré (06-14/07). Từ ngày 31/07 đến ngày 31/08, đoàn ca múa nhạc dân tộc Việt Nam cũng sẽ đến với công chúng của những Liên hoan tại các thành phố Maintenon, Felletin, Montoire , Houblon và Dijon.

Nhưng không chỉ có nhạc dân tộc, mà nhạc hiện đại cũng có một vị trí đặc biệt trong Năm Việt Nam tại Pháp. Tại khu Bảo tàng Quai Branly, Paris, trong tháng 7, các DJ Việt Nam sẽ tham gia đêm khai mạc Liên hoan Siestes Electroniques (Những giấc ngủ trưa điện tử ), chuyên về các thể loại nhạc mới lạ, chủ yếu là nhạc điện tử. Tại Paris, liên hoan này sẽ diễn ra trong các ngày 6 ,13, 20, 27/07. Đây là sinh hoạt tiếp nối Siestes Electroniques vào tháng 10 năm ngoái ở Việt Nam (Hà Nội và Sài Gòn), đã được giới trẻ Việt Nam tán thưởng nồng nhiệt. Sang tháng 9, Việt Nam sẽ là khách mời danh dự của Techno Parade 2014, tức cuộc diễu hành của giới nhạc techno quốc tế ở Paris.

Cũng trong tháng 9, Liên hoan quốc tế vải sợi độc đáo (Festival international des Textiles extraordinaires, FITE) ở thành phố Clermont- Ferrand (23-29/09) sẽ giới thiệu các sản phẩm hợp tác giữa các nhà tạo mẫu Pháp Việt đã được thực hiện nhân Festival nghề truyền thống Huế năm 2013.

Năm Việt Nam tại Pháp sẽ kết thúc bằng cuộc triển lãm về hình tượng con rồng trong lịch sử ngàn năm của Việt Nam tại Viện Bảo tàng Guimet, Paris (24/09/2014 đến 05/01/2015).

Năm Việt Nam tại Pháp như vậy sẽ là dịp để giới thiệu cho công chúng những thể loại âm nhạc dân tộc của Việt Nam, như ca trù, và đặc biệt là đờn ca tài tử, bộ môn mà năm ngoái đều được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Được mời tham gia cố vấn cho Việt Nam về việc giới thiệu những bộ môn này trong tháng 3 tới, giáo sư tiến sĩ dân tộc nhạc học Trần Quang Hải cho biết về lịch trình giới thiệu và nêu lên những suy nghĩ của ông về cách thức giới thiệu, đặc biệt là đờn ca tài tử.

Image

TỪ KHÓA : LỊCH SỬ – PHÁP – TẠP CHÍ – VĂN HÓA – VIỆT NAM

HOÀNG NGUYỄN : NS PHẠM DUY TRẢI LÒNG SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI


ImageNS PHẠM DUY TRẢI LÒNG

SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI

NHỮNG ĐIỀU XẢY RA TRƯỚC KHI DUY QUANG RA ĐỜI

– Người tình cuối của tôi (PD) trước khi tôi lấy Thái Hằng là cô Xuân Huơng, bởi vậy mới có bài bài hát : … khoan khoan hò ơi, thuyền về tới bến mê rồi… thật ra là : Xuân Huơng nàng ơi, thuyền về tới bến mê rồi…

Nàng Xuân Huơng không thể so bì với Thái Hằng được, tôi sẽ cho quý bạn đọc biết tôi phải tốn bao công sức mới làm xiêu lòng Thái Hằng, nhưng tôi phải cám ơn Xuân Huơng vì nhờ nàng mà tôi đã không hăm hở theo đuổi tán cô Thái Hằng như các anh Văn Cao v.v…

Nếu tôi cũng hùa theo các anh kia thì tôi cũng bị người đẹp cho ra rìa, vì tôi không thể so sánh với anh Văn Cao, huynh trưởng của tôi. Văn Cao cho tôi biết : sở dĩ Thái Hằng không chỊu lấy ai cả vì nàng đang ôm 1 mối tình với 1 người đã hy sinh vì dân tộc, anh ta đã bỊ quân Nhật bắn chết ngay khi anh dẫn đầu 1 nhóm chiến sĩ xung phong tấn công 1 đồn bót kem-pei-tai (dữ dằn như Guestapo của Hitler).

Tôi biết điều bí mật này, nên tôi sáng tác lời của vài bản nhạc Âu Tây Cổ, serenata v.v. trong đó tôi viết những câu như : “chiều nay hát cho xanh câu yêu đời, cho người thôi hết thuơng đau, cho tình yêu đên bên tôi” (ý’ tôi muốn Thái Hằng ngưng thuong đau vì su hy sinh của anh kia) Thái Hằng đã chỊu hát những ca khúc đó, và dần dần nàng cảm phục tôi, vì thời điểm đó tôi được người ta biết đến như 1 ca sĩ, chứ không phải 1 nhạc sĩ như thời nay.

Khi tình đã lên ngôi, tôi lại nhận được công tác đi cùng với 1 đoàn chiến sĩ vào miền Trung. Điều này càng làm cho mối tình của hai đứa tôi thêm lãng mạn vì yêu nhau rồi, mà phải sống trong mong nhớ xa nhau.

Thế là các bài nhạc sau đây được ra đời : Quê Nghèo với lời ca nguyên thủy : bao giờ anh lấy được đồn Tây hỡi anh, để cho cô con gái không buồn vì lính Tây (ngày nào các cô cũng bị lính Tây hãm hiếp)

ImageSau khi tôi về với Bảo Đại, thì bài nay được sửa là : bao giờ cho lúa về đầy sân hỡi ai, để cho cô con gái không buồn vì gió Đông.

Sau đó là bài : Bà Mẹ Gio Linh có câu : mẹ mưng con giết nhiều Tây ra công tưới vun cày cấy…. Đặc biệt bài : Về Miên Trung có 1 đoạn vui lắm : về đây với lúa với nàng, thay bao nỗi khổ tiếng đàn tôi mừng reo…

Vâng, đám cưới cỦa chúng tôi rất vui, nhưng chỉ có thể đãi mỗi vỊ khách 1 bát phở vì quán phở Thăng Long của ông bố vợ tôi hồi này vắng khách rồi. Phòng hoa trúc của chúng tôi chính là cái quán phở, và cái giường hạnh phúc chính là các cái ghế dài cho khách kê lại sát nhau rồi trải chiếu lên. Mà nào chúng tôi có được ở đó lâu. tôi được mời lên vùng Việt Bắc mà họp đại hội các văn nghệ sĩ nghe bác Tố Hữu tuyên bố đường lối chính trỊ phải theo, khi sáng tác văn thơ và nhạc.

ImageThái Hằng đòi đi theo, tôi phải chiều người vợ mới toanh này, nhưng đi bộ được 1/2 quãng đường từ Thanh Hóa đến Việt Bắc thì nàng bỊ tắt kinh, ghé trạm y tế thì được biết nàng có thai.

Tôi mừng lắm hẹn với nàng rằng : nếu nó là con trai thì sẽ đặt tên nó là thằng Quảng (ai dè cô thư ký ghi vào khai sinh lại thiếu dấu hỏi) thế là cái tên Phạm Duy Quang theo nó suớt đời.

Có lẽ các bài như Quê Nghèo , Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung được nhiều ông to nghe và yêu thích, nên tôi được HCM gọi vào văn phòng (chỉ là 1 cái nhà tranh vách đất) cho biết tôi đã được Đảng cho đi du học về nhạc tận Mát Kơ Va. Tôi không dám từ chối ngay, mà ra ngoài nói với Tố Hữu : nhà tôi đang ốm nghén con đầu lòng, tôi lo lắm, nên xin hoãn sau khi con tôi đầy tháng.

Khi về đến Thanh Hóa, thì Đảng không phân cho tôi 1 công tác nào nữa, do đó không có tiền lương… chúng tôi phải chia làm 2 nhóm :

– Nhà tôi (Thái Hằng), Thái Thanh, và bà mẹ vợ đi về Hanoi trước ngày 1 tháng 5

– Tôi, Phạm Đình Chương và ông bố vợ tôi đi vào ngày 1-5 là ngày người CS lăng xăng lo tổ chức mừng Lễ Lao Động thế giới

Tôi gặp lại vợ tại Hanoi (tại nhà 1 người họ hàng), nhưng CS dằn mặt tôi bằng cách cho một anh đang làm gián điệp nội thành đến gặp tôi và khen tôi biết điều, nên đã không tiết lộ bí mẬt quân sự nào cho Pháp. Duy Quang ra đời 1950, ai cũng mừng vì mẹ tròn con vuông.

Image

Sau đó tôi đem tất cả gia đình vào Saigon vì trong Nam người ta chịu chơi hơn ngoài Bắc, lại có đài phát thanh Pháp Á cho các cô ca sĩ Thái Thanh, Thái Hằng trổ tài…(Đỗ Hưng viết theo trí nhớ của PD)

NS PHAM DUY

Image

Theo một số tài liệu, thì sự nghiệp khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Duy đi từ gánh hát Đức Huy qua vai trò của một ca sĩ hát “tăng-mo” tức hát chờ những ca sĩ chánh chưa đến kịp. Sau đó ông tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào Nam hoạt động âm nhạc.

Sau năm 1975 Phạm Duy sang Hoa Kỳ sinh sống; và vào năm 2005, ông về lại quê hương định cư; và có một số ca khúc của ông đã được cho phép phổ biến rộng rãi.

Ông sinh ngày 5/10/1921, tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Có tên thật là Phạm Duy Cẩn, ông xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền văn học mới đầu thế kỷ 20. Anh ông là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ của chính quyền cũ tại Pháp.

Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi. Đến năm 13 tuổi (1934) ông vào lớp nhất, trở thành một trong những học sinh ưu tú sau những năm được đánh giá không được xuất sắc. Từ năm này Phạm Duy đã đọc được thơ bằng tiếng Pháp.

Image

Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, thầy dạy có tướng Võ Nguyên Giáp, còn bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng. Năm 1940, nghe lời bè bạn Phạm Duy thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học vẽ ỡ thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu, vì vào thời kỳ này ông thích ca hát và sáng tác nhạc hơn là vẽ tranh. Vì thế vào năm 1942 ông đã có sáng tác phẩm đầu tay là nhạc phẩm “Cô hái mơ” từ bài thơ của Nguyễn Bính.

Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.

Năm 1943 – 1945, Phạm Duy trở thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt. Vào thời kỳ hát rong, ông gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành người bạn thân thiết. Ông cũng là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.

Trong thời kỳ kháng chiến (1945–1946) nhạc sĩ Phạm Duy có những nhạc phẩm hùng ca như các ca khúc Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu… Bên cạnh đó còn có nhạc phẩm tình ca lãng mạn, nhiều bài đã giúp ông trở nên nổi tiếng như Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya…

Image

Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào giới bình dân và các vùng nông thôn, từ đó ông cho ra đời nhiều bài hát được cho gọi là “Dân ca mới”, được đông đảo mọi người yêu thích, các bài Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều… là những ca khúc điển hình. Qua nét nhạc dùng âm giai ngũ cung nhưng ông áp dụng nhịp điệu thuật chuyển làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ, mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau. Và thường lời ca nằm trong thể thơ lục bát nhưng có nhiều biến thể, do tiết điệu âm nhạc phải được linh động cho phù hợp với sự thưởng thức của đa số người thưởng ngoạn.

Tuy nhiên sau đó có những bài hát tuy được mọi người yêu thích, nhưng do nói về sự bi ai, thống khổ mà nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu bị chỉ trích, vì thế ông xuôi xuống Nam để sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác “Tình ca quê hương”, sau đó là các bài Tình ca. Tiếp đó ông lại trở về với thể loại dân ca mới như những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo… Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, gồm những sáng tác Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng… trong đó Em bé quê với những câu đầu lấy trong sách giáo khoa Quốc Văn, được thiếu niên nhi đồng thuộc như bài đồng dao.

Năm 1945 xảy ra nạn đói, Phạm Duy bỏ đi lang thang nhiều nơi, sau đó theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương, ông trở thành cán bộ văn nghệ và là một trong những nhạc sĩ thành công lúc đó. Sau những năm đi kháng chiến ông trở về Hà Nội, năm 1949 lập gia đình với nữ ca sĩ Thái Hằng tức Phạm Thị Quang Thái, chị ruột của nhạc sĩ Phạm Đình Chương (tức ca sĩ Hoài Bắc) trong Ban hợp ca Thăng Long.

Image

Sống với Thái Hằng, hiện giờ nhạc sĩ Phạm Duy đã có con cháu đầy đàn. Con ruột là những ca nhạc sĩ gồm Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Cường. Duy Minh. Ngoài ra có thể kể đến những anh chị em ca nghệ sĩ trong gia đình bên ngoại có nữ ca sĩ Thái Thanh tức Phạm Thị Băng Thanh (em gái Thái Hằng), cháu gái là ca sĩ Ý Lan (con gái Thái Thanh với nam tài tử Lê Quỳnh); nhạc sĩ Phạm Đình Chương (em của Thái Hằng tức ca sĩ Hoài Bắc), nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung (anh cùng cha khác mẹ với Thái Hằng); nữ kịch sĩ Kiều Hạnh (vợ Phạm Đình Sỹ), ca sĩ Mai Hương (trước đây có tên Phương Mai trong ban thiếu nhi Tuổi Xanh của Kiều Hạnh, con gái vợ chồng Phạm Đình Sỹ); con rể là ca sĩ Tuấn Ngọc chồng của Thái Thảo.

Năm 1951, Phạm Duy đưa gia đình vào Sài Gòn, và năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong Ban hợp ca Thăng Long. Lúc này ông còn là một nhà nghiên cứu âm nhạc, từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

TÍNH CÁCH LÃNG MẠN CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ

Image

Nhạc Phạm Duy được phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam từ giữa thập niên 1950, thời gian này ông còn có những hoạt động trong ngành điện ảnh, chính thế đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam ra Bắc khi ngoại tình với em dâu là ca sĩ Khánh Ngọc còn là tài tử điện ảnh, vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người gọi ông bằng anh rể.

Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm khác với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định chuyện này chỉ là chuyện tình cảm trong sáng : “… tôi hãnh diện để nói rằng, nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau”.

Ông đã sáng tác khá nhiều nhạc phẩm nhân chuyện tình cảm này như Nụ Tầm Xuân, Thương Tình Ca, Chỉ Chừng Đó Thôi, Tìm Nhau, Cho Nhau…

Từ sau năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy và gia đình cư ngụ tại Quận Cam, California. Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký. Năm 1999, vợ ông là Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam. Tháng 5/2005, ông trở về Việt Nam mua nhà sống tại quận 11, cùng các con trai Duy Quang, Duy Cường.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Lời thêm vào của Trần Quang Hải : 14h30 chiều 27/1/2013,, nhạc sĩ Phạm Duy mất tại bệnh viện 115, TP HCM sau 3 ngày nhập viện cấp cứu

http://cafevannghe.wordpress.com/2013/01/04/ns-pham-duy-cs-bach-yen/

VŨ HOÀNG / RFA : DÂN CA MIỀN BẮC với GSTS TRẦN QUANG HẢI, phát thanh ngày 16 tháng 2, 2014, USA


Dân ca miền Bắc

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2014-02-16
 

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

02162014-anct-vuhoang.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_SAHK980209185030-600.jpg

Hai ca sĩ trong trang phục truyền thống hát quan họ tại lễ hội mùa xuân hàng năm tại tỉnh Bắc Ninh.

AFP photo
 

 

 

Trong chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, G.S, T.S, nhạc sĩ Trần Quang Hải trình bày về sự hình thành, những nét đặc trưng của dân ca miền Bắc và trong 2 kỳ tiếp theo, nhạc sĩ Trần Quang Hải sẽ tiếp tục với dân ca miền Trung và miền Nam.

N.S Trần Quang Hải: Nói về dân ca VN, trước hết, chúng ta biết dân ca VN rất phong phú, tất cả những bài ca do dân quê sáng tác mà không thuộc về  nhạc triều đình, không thuộc về nhạc thính phòng cũng như nhạc tôn giáo, tất cả những gì không thuộc về 3 loại trên, được xếp vào loại dân ca.

Trước khi đi sâu vào vấn đề dân ca, chúng ta phải định nghĩa dân ca là gì? Theo tôi, dân ca là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, cho tới bài hát trẻ em vui chơi, các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp, lễ hội thường niên. Dân ca cũng mang màu sắc địa phương rất đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, âm nhạc của từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhìn chung, đó vẫn là những bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc của nó. Dân ca Việt Nam được trình bày theo trình tự một đời người, nghĩa là, bắt đầu bằng các bài hát ru em khi em bé bắt đầu chào đời, cho đến khi đứa bé lớn lên, trưởng thành và chết đi, cho nên sẽ có những bài hát liên hệ đến từng giai đoạn của đời người.

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng những loại hát ru vì hát ru là một loại hát khai mào cho đời sống của một người Việt Nam kể từ khi mở mắt chào đời, mẹ ru con, chị ru em… chúng ta thấy ru con ở miền Bắc gọi là hát ru dựa trên thang âm ngũ cung, chỉ đặc thù ở miền Bắc mà không phải miền Trung và miền Nam…luôn luôn bắt đầu bằng chữ à…ời…à…ơi

 

000_Hkg492008-200.jpg
Quan họ Bắc Ninh trong lễ hội Lim được tổ chức hôm 01/7/2007 tại làng Lim ở Bắc Ninh. AFP photo

 

Chúng ta thấy là thang âm đó được tìm thấy trong rất nhiều những bài dân ca miền Bắc chẳng hạn như bài Cò Lả. Đó là những bài hát đi vào từ hát ru, đứa trẻ nghe được và thấm nhuần thang âm đó, rồi khi lớn lên nó sẽ đi vào những cuộc thi hát với nhau hay trong các loại như là hát trống quân, hát quan họ, hát phường vải, hát xoan, hát ví…tất cả những loại đó đều thoát thai từ thang âm ngũ cung như tôi vừa nói.

Hát dân ca miền Bắc, mỗi một loại đều có những truyền thống rất đặc biệt và rất khó, đặc biệt ở miền Bắc có loại gọi là hát hội. Hát hội có nhiều loại, thí dụ hát trống quân, hát quan họ, cò lả ở vùng Bắc Ninh, hát phường vải ở Nghệ Tĩnh, hát ghẹo ở Thanh Hóa, hát xoan ở Phú Thọ. Hát hội hay hát đối thường mang những đặc điểm chung như sau: người hát và làng xã phải đối với nhau, thí dụ: nhóm nam ca sĩ phải đối với nhóm nữ ca sĩ và phải thuộc làng xã khác nhau, hầu hết đều có đặc tính là hát tình ca để đưa đến vấn đề hôn nhân, đồng thời, đặc tính đoàn thể cũng rất được nhấn mạnh, chẳng hạn, trong quan họ có tục kết bạn thuộc vào gia đình quan họ, có liền anh, liền chị, anh hai, chị hai, anh ba, chị ba, theo thứ tự, tùy theo người hát giỏi hay dở chứ không kể vào tuổi tác, có thể người anh hai 30 tuổi, người anh tám lại 80 tuổi.

Truyền thống kết bạn trong một gia đình được thấy trong hát ghẹo ở Thanh Hóa, hát xoan ở Phú Thọ cũng có tục kết nghĩa với nhau. Thi đua là một trong những đặc tính quan trọng trong một cuộc hát đối, các người hát phải thi đua về trí nhớ, lời ca hay óc nhạy bén, phải tùy cơ ứng biến. Nhưng điều quan trọng nhất trong hát đối đáp phải ứng tác ứng tấu nghĩa là bên kia hát mình phải đối lại về cả nhạc và lời, chỉ có trong quan họ là có vấn đề điệu nhạc đối và lời hát đối với bên kia. Do những đặc tính đó, trong quan họ, mỗi lần gặp nhau nảy sinh ra một số bài hát mới, tính cho đến hôm nay, truyền thống quan họ có trên 600 bài khác nhau, trong khi đó, những loại dân ca khác như cò lả hay trống quân chỉ có 1 giai điệu thôi. Đặc trưng của nhạc Việt Nam là dấu và thanh, nó làm thay đổi làn điệu nhưng vẫn giữ đúng màu sắc.

Trong văn chương dân gian của người VN và trong các loại nhạc dân ca của VN thì người ta chú trọng nhiều về lời hơn là về nhạc. Khi hát hội, thường xảy ra trong một phạm vi địa lý nhỏ hẹp như Bắc Ninh, Thanh Hóa, Phú Thọ… Mỗi một cuộc thi hát thường chia làm 3 hay 4 giai đoạn như hát mời ăn trầu trong trống quân, hát giọng lề lối trong quan họ, hát dạo, hát chào, hát mừng, hát hội của phường vải, hát dạo, hát mừng, hát thăm trong hát ghẹo. Sau khi mở đầu của hát thi thì đến phần trả lời câu đố trong trống quân, giọng vặt trong quan họ, hát đố, hát đối trong phường vải, hát đối, hát se kết trong hát ghẹo. Sau đó, là những cuộc thi tiếp tục giai đoạn 3 gồm có: hát khen tặng trong trống quân, hát mời se kết trong phường vải; giai đoạn cuối cùng là hát tiễn trong phường vải, hát giã bạn trong quan họ, hát thề, hát dặm trong hát ghẹo, hát giã bạn trong hát xoan…

Chúng ta có thể thấy rằng những điệu hát trong dân ca miền Bắc rất phong phú và theo lề lối, lời hát thì có nhiều từ ngữ Hán Việt, thành ra người hát phải có trình độ cao thì mới có thể hát và hiểu được.

Tiếng đàn kìm NS NSUT Ba Tu : 20 bài tổ của ĐỜN CA TÀI TỬ


Bấm vào địa chỉ sau đây để nghe 20 bài tổ

http://www.conhacvietnam.com/trangnha/?p=1137

Tiếng đàn kìm NS NSUT BA TU : 20 bài tổ của ĐỜN CA TÀI TỬ

Image

NSUT BA TU 

Mời các bạn nghe tiếng đàn độc tấu đàn kìm 20 bản tổ nhạc tài tử do Nhạc sỹ Nghệ Sỹ Ưu Tú Ba Tu trình tấu.

6 BẮC

1. LƯU THỦY TRƯỜNG

2. PHÚ LỤC CHẤN

3. BÌNH BÁN CHẤN

4. XUÂN TÌNH CHẤN

5. CỔ BẢN VẮN

6. TÂY THI VẮN

3 NAM 

7. NAM XUÂN

8. NAM AI

9. ĐẢO NGŨ CUNG qua SONG CƯỚC

7 LỄ

10. XÀNG XÊ

11. NGŨ ĐỐI THƯỢNG

12. NGŨ ĐỐI HẠ

13. LONG ĐĂNG

14. LONG NGÂM

15. VẠN GIÁ

16. TIỂU KHÚC

4 OÁN

17. PHỤNG HOÀNG

18. TỨ ĐẠI OÁN

19. GIANG NAM CỬU KHÚC

20. PHỤNG CẦU HOÀNG DUYÊN