HOÀNG NGUYỄN : NS PHẠM DUY TRẢI LÒNG SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI


ImageNS PHẠM DUY TRẢI LÒNG

SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI

NHỮNG ĐIỀU XẢY RA TRƯỚC KHI DUY QUANG RA ĐỜI

– Người tình cuối của tôi (PD) trước khi tôi lấy Thái Hằng là cô Xuân Huơng, bởi vậy mới có bài bài hát : … khoan khoan hò ơi, thuyền về tới bến mê rồi… thật ra là : Xuân Huơng nàng ơi, thuyền về tới bến mê rồi…

Nàng Xuân Huơng không thể so bì với Thái Hằng được, tôi sẽ cho quý bạn đọc biết tôi phải tốn bao công sức mới làm xiêu lòng Thái Hằng, nhưng tôi phải cám ơn Xuân Huơng vì nhờ nàng mà tôi đã không hăm hở theo đuổi tán cô Thái Hằng như các anh Văn Cao v.v…

Nếu tôi cũng hùa theo các anh kia thì tôi cũng bị người đẹp cho ra rìa, vì tôi không thể so sánh với anh Văn Cao, huynh trưởng của tôi. Văn Cao cho tôi biết : sở dĩ Thái Hằng không chỊu lấy ai cả vì nàng đang ôm 1 mối tình với 1 người đã hy sinh vì dân tộc, anh ta đã bỊ quân Nhật bắn chết ngay khi anh dẫn đầu 1 nhóm chiến sĩ xung phong tấn công 1 đồn bót kem-pei-tai (dữ dằn như Guestapo của Hitler).

Tôi biết điều bí mật này, nên tôi sáng tác lời của vài bản nhạc Âu Tây Cổ, serenata v.v. trong đó tôi viết những câu như : “chiều nay hát cho xanh câu yêu đời, cho người thôi hết thuơng đau, cho tình yêu đên bên tôi” (ý’ tôi muốn Thái Hằng ngưng thuong đau vì su hy sinh của anh kia) Thái Hằng đã chỊu hát những ca khúc đó, và dần dần nàng cảm phục tôi, vì thời điểm đó tôi được người ta biết đến như 1 ca sĩ, chứ không phải 1 nhạc sĩ như thời nay.

Khi tình đã lên ngôi, tôi lại nhận được công tác đi cùng với 1 đoàn chiến sĩ vào miền Trung. Điều này càng làm cho mối tình của hai đứa tôi thêm lãng mạn vì yêu nhau rồi, mà phải sống trong mong nhớ xa nhau.

Thế là các bài nhạc sau đây được ra đời : Quê Nghèo với lời ca nguyên thủy : bao giờ anh lấy được đồn Tây hỡi anh, để cho cô con gái không buồn vì lính Tây (ngày nào các cô cũng bị lính Tây hãm hiếp)

ImageSau khi tôi về với Bảo Đại, thì bài nay được sửa là : bao giờ cho lúa về đầy sân hỡi ai, để cho cô con gái không buồn vì gió Đông.

Sau đó là bài : Bà Mẹ Gio Linh có câu : mẹ mưng con giết nhiều Tây ra công tưới vun cày cấy…. Đặc biệt bài : Về Miên Trung có 1 đoạn vui lắm : về đây với lúa với nàng, thay bao nỗi khổ tiếng đàn tôi mừng reo…

Vâng, đám cưới cỦa chúng tôi rất vui, nhưng chỉ có thể đãi mỗi vỊ khách 1 bát phở vì quán phở Thăng Long của ông bố vợ tôi hồi này vắng khách rồi. Phòng hoa trúc của chúng tôi chính là cái quán phở, và cái giường hạnh phúc chính là các cái ghế dài cho khách kê lại sát nhau rồi trải chiếu lên. Mà nào chúng tôi có được ở đó lâu. tôi được mời lên vùng Việt Bắc mà họp đại hội các văn nghệ sĩ nghe bác Tố Hữu tuyên bố đường lối chính trỊ phải theo, khi sáng tác văn thơ và nhạc.

ImageThái Hằng đòi đi theo, tôi phải chiều người vợ mới toanh này, nhưng đi bộ được 1/2 quãng đường từ Thanh Hóa đến Việt Bắc thì nàng bỊ tắt kinh, ghé trạm y tế thì được biết nàng có thai.

Tôi mừng lắm hẹn với nàng rằng : nếu nó là con trai thì sẽ đặt tên nó là thằng Quảng (ai dè cô thư ký ghi vào khai sinh lại thiếu dấu hỏi) thế là cái tên Phạm Duy Quang theo nó suớt đời.

Có lẽ các bài như Quê Nghèo , Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung được nhiều ông to nghe và yêu thích, nên tôi được HCM gọi vào văn phòng (chỉ là 1 cái nhà tranh vách đất) cho biết tôi đã được Đảng cho đi du học về nhạc tận Mát Kơ Va. Tôi không dám từ chối ngay, mà ra ngoài nói với Tố Hữu : nhà tôi đang ốm nghén con đầu lòng, tôi lo lắm, nên xin hoãn sau khi con tôi đầy tháng.

Khi về đến Thanh Hóa, thì Đảng không phân cho tôi 1 công tác nào nữa, do đó không có tiền lương… chúng tôi phải chia làm 2 nhóm :

– Nhà tôi (Thái Hằng), Thái Thanh, và bà mẹ vợ đi về Hanoi trước ngày 1 tháng 5

– Tôi, Phạm Đình Chương và ông bố vợ tôi đi vào ngày 1-5 là ngày người CS lăng xăng lo tổ chức mừng Lễ Lao Động thế giới

Tôi gặp lại vợ tại Hanoi (tại nhà 1 người họ hàng), nhưng CS dằn mặt tôi bằng cách cho một anh đang làm gián điệp nội thành đến gặp tôi và khen tôi biết điều, nên đã không tiết lộ bí mẬt quân sự nào cho Pháp. Duy Quang ra đời 1950, ai cũng mừng vì mẹ tròn con vuông.

Image

Sau đó tôi đem tất cả gia đình vào Saigon vì trong Nam người ta chịu chơi hơn ngoài Bắc, lại có đài phát thanh Pháp Á cho các cô ca sĩ Thái Thanh, Thái Hằng trổ tài…(Đỗ Hưng viết theo trí nhớ của PD)

NS PHAM DUY

Image

Theo một số tài liệu, thì sự nghiệp khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Duy đi từ gánh hát Đức Huy qua vai trò của một ca sĩ hát “tăng-mo” tức hát chờ những ca sĩ chánh chưa đến kịp. Sau đó ông tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào Nam hoạt động âm nhạc.

Sau năm 1975 Phạm Duy sang Hoa Kỳ sinh sống; và vào năm 2005, ông về lại quê hương định cư; và có một số ca khúc của ông đã được cho phép phổ biến rộng rãi.

Ông sinh ngày 5/10/1921, tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Có tên thật là Phạm Duy Cẩn, ông xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền văn học mới đầu thế kỷ 20. Anh ông là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ của chính quyền cũ tại Pháp.

Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi. Đến năm 13 tuổi (1934) ông vào lớp nhất, trở thành một trong những học sinh ưu tú sau những năm được đánh giá không được xuất sắc. Từ năm này Phạm Duy đã đọc được thơ bằng tiếng Pháp.

Image

Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, thầy dạy có tướng Võ Nguyên Giáp, còn bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng. Năm 1940, nghe lời bè bạn Phạm Duy thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học vẽ ỡ thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu, vì vào thời kỳ này ông thích ca hát và sáng tác nhạc hơn là vẽ tranh. Vì thế vào năm 1942 ông đã có sáng tác phẩm đầu tay là nhạc phẩm “Cô hái mơ” từ bài thơ của Nguyễn Bính.

Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.

Năm 1943 – 1945, Phạm Duy trở thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt. Vào thời kỳ hát rong, ông gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành người bạn thân thiết. Ông cũng là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.

Trong thời kỳ kháng chiến (1945–1946) nhạc sĩ Phạm Duy có những nhạc phẩm hùng ca như các ca khúc Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu… Bên cạnh đó còn có nhạc phẩm tình ca lãng mạn, nhiều bài đã giúp ông trở nên nổi tiếng như Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya…

Image

Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào giới bình dân và các vùng nông thôn, từ đó ông cho ra đời nhiều bài hát được cho gọi là “Dân ca mới”, được đông đảo mọi người yêu thích, các bài Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều… là những ca khúc điển hình. Qua nét nhạc dùng âm giai ngũ cung nhưng ông áp dụng nhịp điệu thuật chuyển làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ, mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau. Và thường lời ca nằm trong thể thơ lục bát nhưng có nhiều biến thể, do tiết điệu âm nhạc phải được linh động cho phù hợp với sự thưởng thức của đa số người thưởng ngoạn.

Tuy nhiên sau đó có những bài hát tuy được mọi người yêu thích, nhưng do nói về sự bi ai, thống khổ mà nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu bị chỉ trích, vì thế ông xuôi xuống Nam để sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác “Tình ca quê hương”, sau đó là các bài Tình ca. Tiếp đó ông lại trở về với thể loại dân ca mới như những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo… Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, gồm những sáng tác Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng… trong đó Em bé quê với những câu đầu lấy trong sách giáo khoa Quốc Văn, được thiếu niên nhi đồng thuộc như bài đồng dao.

Năm 1945 xảy ra nạn đói, Phạm Duy bỏ đi lang thang nhiều nơi, sau đó theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương, ông trở thành cán bộ văn nghệ và là một trong những nhạc sĩ thành công lúc đó. Sau những năm đi kháng chiến ông trở về Hà Nội, năm 1949 lập gia đình với nữ ca sĩ Thái Hằng tức Phạm Thị Quang Thái, chị ruột của nhạc sĩ Phạm Đình Chương (tức ca sĩ Hoài Bắc) trong Ban hợp ca Thăng Long.

Image

Sống với Thái Hằng, hiện giờ nhạc sĩ Phạm Duy đã có con cháu đầy đàn. Con ruột là những ca nhạc sĩ gồm Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Cường. Duy Minh. Ngoài ra có thể kể đến những anh chị em ca nghệ sĩ trong gia đình bên ngoại có nữ ca sĩ Thái Thanh tức Phạm Thị Băng Thanh (em gái Thái Hằng), cháu gái là ca sĩ Ý Lan (con gái Thái Thanh với nam tài tử Lê Quỳnh); nhạc sĩ Phạm Đình Chương (em của Thái Hằng tức ca sĩ Hoài Bắc), nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung (anh cùng cha khác mẹ với Thái Hằng); nữ kịch sĩ Kiều Hạnh (vợ Phạm Đình Sỹ), ca sĩ Mai Hương (trước đây có tên Phương Mai trong ban thiếu nhi Tuổi Xanh của Kiều Hạnh, con gái vợ chồng Phạm Đình Sỹ); con rể là ca sĩ Tuấn Ngọc chồng của Thái Thảo.

Năm 1951, Phạm Duy đưa gia đình vào Sài Gòn, và năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong Ban hợp ca Thăng Long. Lúc này ông còn là một nhà nghiên cứu âm nhạc, từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

TÍNH CÁCH LÃNG MẠN CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ

Image

Nhạc Phạm Duy được phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam từ giữa thập niên 1950, thời gian này ông còn có những hoạt động trong ngành điện ảnh, chính thế đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam ra Bắc khi ngoại tình với em dâu là ca sĩ Khánh Ngọc còn là tài tử điện ảnh, vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người gọi ông bằng anh rể.

Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm khác với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định chuyện này chỉ là chuyện tình cảm trong sáng : “… tôi hãnh diện để nói rằng, nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau”.

Ông đã sáng tác khá nhiều nhạc phẩm nhân chuyện tình cảm này như Nụ Tầm Xuân, Thương Tình Ca, Chỉ Chừng Đó Thôi, Tìm Nhau, Cho Nhau…

Từ sau năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy và gia đình cư ngụ tại Quận Cam, California. Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký. Năm 1999, vợ ông là Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam. Tháng 5/2005, ông trở về Việt Nam mua nhà sống tại quận 11, cùng các con trai Duy Quang, Duy Cường.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Lời thêm vào của Trần Quang Hải : 14h30 chiều 27/1/2013,, nhạc sĩ Phạm Duy mất tại bệnh viện 115, TP HCM sau 3 ngày nhập viện cấp cứu

http://cafevannghe.wordpress.com/2013/01/04/ns-pham-duy-cs-bach-yen/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s