THIÊN HƯƠNG : Liveshow Dấu ấn: Mỹ Tâm song ca cùng Hiền Thục, Phương Mỹ Chi vắng bóng


Liveshow Dấu ấn: Mỹ Tâm song ca cùng Hiền Thục, Phương Mỹ Chi vắng bóng

Thanh Niên  – 18/02/2014 17:56

(TNO) Nữ ca sĩ Hiền Thục sẽ lần đầu song ca cùng người bạn thân thiết Mỹ Tâm trong liveshow Dấu ấn – Hiền Thục diễn ra vào ngày 1.3 tới đây. Trong khi học trò cưng Phương Mỹ Chi lại vắng bóng trong liveshow này.

 
 
Mỹ Tâm và Hiền Thục sẽ lần đầu song ca trong liveshow Dấu ấn của Hiền Thục – Ảnh: BTC

Không thường xuyên nói về nhau hay xuất hiện thân thiết cùng nhau nên ít ai biết rằng Hiền Thục, Mỹ Tâm và Thanh Thảo là bạn học cùng lớp của nhau và đều xuất thân từ khoa Thanh nhạc của Nhạc viện TP.HCM. 

Sau khi tốt nghiệp, cả ba đã chọn cho mình những hướng đi khác nhau nhưng sau gần 10 năm thì họ đều là những ca sĩ có tên tuổi trong làng giải trí.

Trong bộ ba này, Hiền Thục là người có thời gian đi hát nhiều hơn vì từ năm 8 tuổi, cô đã sinh hoạt tại nhà thiếu nhi và làm quen với sân khấu nhưng cho đến nay nữ ca sĩ Nhật ký của mẹ vẫn chưa có một liveshow nào của riêng mình. 

Chính vì thế, với liveshow Dấu ấn lần này, Hiền Thục rất chăm chút cho các tiết mục của mình, đặc biệt là màn song ca lần đầu tiên giữa cô và người bạn thân – Mỹ Tâm. 

Cùng là hai giọng ca đã có chỗ đứng trong lòng khán giả, lại là lần đầu tiên kết hợp cùng nhau, Hiền Thục và Mỹ Tâm dành khá nhiều thời gian để chỉnh sửa, tập luyện nhằm mang đến tiết mục ưng ý nhất.

 


Phương Mỹ Chi vắng bóng trong liveshow Dấu ấn của Hiền Thục – Ảnh: Độc Lập

Ngoài Mỹ Tâm, chương trình còn có sự góp mặt của nữ ca sĩ Bạch Yến và 4 học trò trong chương trình Giọng hát Việt nhí gồm: Cao Khánh, Lê Nguyên, Linh Lan và Thùy Anh. 

Điều đáng nói là cô học trò cưng Phương Mỹ Chi lại vắng bóng trong liveshow lần này với lý do “bận học”.

Liveshow Dấu ấn – Hiền Thục sẽ diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 1.3 tại Nhà thi đấu Nguyễn Du (quận 1, TP.HCM) và được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV9.

Thiên Hương

http://www.baomoi.com/Liveshow-Dau-an-My-Tam-song-ca-cung-Hien-Thuc-Phuong-My-Chi-vang-bong/71/13122932.epi

THIÊN HƯƠNG : Liveshow Dấu ấn của Hiền Thục: Danh ca Bạch Yến góp mặt


Liveshow Dấu ấn của Hiền Thục: Danh ca Bạch Yến góp mặt

13/02/2014 16:30

(TNO) Sau gần 25 năm ca hát, nữ ca sĩ Hiền Thục sẽ trở thành nhân vật tiếp theo trong loạt chương trình Dấu ấn với sự tham gia của nhiều khách mời đặc biệt, trong đó có nữ danh ca Bạch Yến.

>> Đăng Khôi, Hiền Thục hát mừng ngày Nhà giáo Việt Nam
>> Running man’ lấn sân vào showbiz cùng Hiền Thục


Nữ ca sĩ Hiền Thục

Làm quen với sân khấu từ năm 8 tuổi, Hiền Thục được khán giả yêu nhạc biết đến từ rất sớm khi tham gia vào đội Sơn Ca (Nhà thiếu nhi quận 1, TP.HCM), cùng lứa với Ngọc Linh, Quang Vinh…

Trong liveshow Dấu ấn lần này, những dấu ấn từ khi còn là một ca sĩ nhí đến lúc trưởng thành của Hiền Thục sẽ tái hiện lại trong vòng 90 phút cùng những ca khúc gắn liền với từng giai đoạn.

Đặc biệt, nhân vật khách mời đầu tiên trong liveshow này vừa được Hiền Thục tiết lộ chính là nữ danh ca Bạch Yến, người mà Hiền Thục vô cùng mến mộ.

Mặc dù tuổi đã ngoài 70 nhưng tiếng hát Bạch Yến, nữ ca sĩ nổi danh làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, vẫn được đông đảo khán giả nhớ đến và yêu mến. Trước lời mời tha thiết của Hiền Thục, danh ca Bạch Yến đã đồng ý xuất hiện trong liveshow Dấu ấn – Hiền Thục.


Nữ danh ca một thời vang bóng Bạch Yến

Ngoài ra, chương trình còn có sự tham gia của dàn thí sinh Giọng hát Việt nhí mà Hiền Thục làm huấn luyện viên. Nhiều khán giả đang háo hức được thưởng thức lại sự kết hợp giữa Hiền Thục và các học trò, đặc biệt là Phương Mỹ Chi.

Tuy nhiên, nữ ca sĩ từ chối chia sẻ thêm và hứa sẽ tiết lộ cụ thể vào buổi giới thiệu liveshow sẽ diễn ra vào thời gian tới.

Ngoài ra, cô còn úp mở về sự xuất hiện của một khách mời đặc biệt mà cô quyết định giữ bí mật đến phút chót.

Liveshow Dấu ấn – Hiền Thục sẽ diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 1.3 tại Nhà thi đấu Nguyễn Du (quận 1, TP.HCM) và được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV9.

Thiên Hương
Ảnh: Nhân vật cung cấp

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140213/liveshow-dau-an-cua-hien-thuc-danh-ca-bach-yen-gop-mat.aspx

HOÀNG OANH : Dạ cổ hoài lang: sức sống 90 năm


Kỳ 1: Bản nhạc lòng của tình yêu thời loạn

Dạ cổ hoài lang: sức sống 90 năm

28/09/2009 08:09 (GMT + 7)
 
 
TT – Mới đó mà đã 90 năm kể từ khi nhạc sĩ Cao Văn Lầu viết Dạ cổ hoài lang. Đó cũng là chừng ấy năm bản vọng cổ cùng làm bạn tâm tình của bao thế hệ người dân Nam bộ. 90 năm qua, Dạ cổ hoài lang đã đi xa hơn khuôn khổ của một bản vọng cổ. Giờ đây, bài ca đang được đề xuất trở thành di sản phi vật thể quốc gia.

Trong hành trình tìm lại những ngày đầu ra đời của Dạ cổ hoài lang, chúng tôi tìm về khu mộ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu và vợ là bà Trần Thị Tấn nằm trang trọng trong khu di tích rộng lớn sắp được khánh thành tại thị xã Bạc Liêu. Cách đó không xa là nhà của ông Cao Văn Hoai – con trai thứ tư của ông Cao Văn Lầu. Chiều chiều, ông Tư Hoai vẫn thường ra mộ ba má để thắp nhang, hồi tưởng về những tháng ngày xưa cũ.

Chiếc áo rách vai

 

Trong những cuốn sổ tay hiệu Rafale, Igo vàng ố hiện được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu, bút tích của nhạc sĩ Cao Văn Lầu vẫn còn nguyên với thời gian.

Trong sổ, ông vừa ghi lại những bài bản được ký âm ngũ cung, vừa vẽ hình bàn tay trái bấm đờn của mình, vừa ghi tiền bán cua, bán me, vừa… ghi nợ: “Bà Rớt thiếu nửa can nước mắm chưa trả tiền… Dâu cô Năm thiếu hai trái dừa…”.

Cuốn sổ cũng là nơi ông dặn dò con cháu: “Thằng Hai chớ nên đánh vợ” hay thảo sẵn di chúc: “Khi ba mất, nhớ để ba nằm gần má tụi con ở phía mặt trời mọc. Nhớ tụng kinh nhiều nhiều cho ba má nghen”.

 

Ông Tư Hoai năm nay đã hơn 80 tuổi, những bức tường trong căn nhà nhỏ của ông treo chi chít hình ảnh, bằng khen, báo chí liên quan đến cha ông và bản nhạc Dạ cổ hoài lang bất hủ.

Ông tự hào nói: “Hồi đó ba tui thương tui nhứt đó. Tui cũng là người ở gần ba nhiều nhứt. Nhưng tội nghiệp ba tui lắm, ổng hiền lành, tình cảm mà cứ khổ hoài!”.

Cái sự “khổ hoài” mà ông Tư Hoai miêu tả chính là cái nghèo tiền bạc và trắc trở về tình cảm trong cuộc đời của cha ông. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã lớn lên trong cảnh nghèo túng.

Nhưng được cái là: “Hồi đó ba tui đẹp trai lắm, trắng tươi à, lại hay mặc bộ bà ba trắng – ông Tư Hoai hào hứng kể – nên năm 20 tuổi ông đã chiếm được cảm tình của cô Hai Sang, con gái thầy đàn Nhạc Khị nổi tiếng trong vùng”.

Cũng theo lời ông Hoai, chuyện “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” của họ kéo dài đến hai năm mà không ai dám bước tới. Hai người không đến được với nhau vì kỵ tuổi khiến ông Sáu Lầu đau khổ vô cùng. Cô Hai Sang sau đó cũng khép lòng lại, gần hai năm sau mới đi lấy chồng vì sự ép buộc của gia đình.

Ngày cưới của cô Hai Sang, ban nhạc tài tử của Cao Văn Lầu cũng được mời đến. Ông lòng đau như cắt. Mãi cho đến khi một bạn đồng môn trong lớp học nhạc đem xe tới ép rước đi thì ông mới miễn cưỡng đi mà không kịp thay áo. Ra đến đám tiệc, vì chiếc áo của mình bị rách bên vai nên ông cởi ra máng lên ghế rồi lo đờn ca, hát xướng phục vụ quan khách.

Lúc này cô Hai Sang ngồi trong phòng, nhìn thấy chiếc áo bà ba rách vai ấy mà khóc nức nở. Cô lặng lẽ lấy xuống vá lại nguyên vẹn. Rồi cô Hai Sang theo chồng. Chiếc áo vá vai trở thành vật kỷ niệm duy nhất còn lại, được ông trân trọng.

Hai người con còn sống của ông Cao Văn Lầu là ông Cao Văn Hoai và Cao Văn Bỉnh đều cho rằng chính kỷ niệm buồn của mối tình đầu đã là niềm cảm hứng cho ông sáng tác bài ca Chiếc áo rách vai.

Theo tài liệu của nhà văn Phan Trung Nghĩa, sau này khi ban nhạc tài tử của ông Sáu Lầu trở nên nổi tiếng, ông đứng ra tổ chức một đoàn nghệ sĩ cổ nhạc ca ra bộ được đông đảo khán giả mộ điệu ủng hộ.

Trong đoàn có cô Ba Phấn nổi tiếng xinh đẹp, dịu hiền lại có giọng ca ngọt ngào, truyền cảm. Giới địa chủ, công tử nhà giàu say mê cô Ba Phấn. Tuy nhiên, cô Ba Phấn chỉ dành tình cảm đằm thắm của mình cho ông Sáu Lầu. Chính điều này đã làm bọn công tử ghen ghét, tức giận. Một ngày nọ cô Ba Phấn bị bắt cóc, bị bóp cổ rồi bị vứt thi thể dưới chân cầu quay Bạc Liêu.

 

Tình yêu son sắt

Chúng tôi tìm đến ngôi chùa Vĩnh Phước An, cũng không xa khu mộ và mảnh đất ngày xưa gia đình ông Sáu Lầu đã sống. Theo thầy trụ trì, hầu hết các tài liệu đều khẳng định chính tiếng trống đêm từ ngôi chùa này đã tác động sâu sắc vào tâm hồn nhạy cảm của Cao Văn Lầu, từ lúc còn bé cho đến khi trưởng thành và đóng vai trò là chất xúc tác để ông sáng tác bản Dạ cổ hoài lang.

Nghệ sĩ lão thành Lâm Tương Vân – người từng có nhiều dịp gặp gỡ nhạc sĩ Cao Văn Lầu – kể rằng qua hai cuộc tình dang dở, khổ đau và bất hạnh, ông Sáu Lầu đã nghe lời cha mẹ lấy cô thôn nữ Trần Thị Tấn với lý do “nhà họ cũng nghèo như nhà mình”.

Ngặt nỗi ăn ở với nhau suốt ba năm mà vợ ông Sáu Lầu vẫn không có thai khiến mẹ chồng phật ý, khuyên hai người nên ly dị để ông kiếm vợ khác, sinh con trai nối dõi. Không dám cãi lời má nhưng cũng không đành bỏ vợ, ông Sáu Lầu lại một lần nữa đối diện với nỗi đau xa cách người thương. Ngày chia tay, bà ôm trong người một gói quần áo cũ, đầu đội chiếc khăn rằn của ông rồi bước cao bước thấp đi về nơi vô định.

Ở lại, ông Sáu Lầu ngày ngày xách đờn ra phía bìa ruộng, nơi vợ chồng biệt ly lần đầu để đàn những bản mà vợ ông rất thích. Một đêm trung thu năm 1919, ông trằn trọc không ngủ được với bao nỗi ngổn ngang. Tiếng trống sang canh vọng lại từ ngôi chùa Vĩnh Phước An ở đầu xóm càng khiến ông thấy đau lòng. Bởi sang canh rồi lại sang canh, lại hết một đêm dài không ngủ. Mình thì chưa ra trận mà vợ đã thành người vọng phu.

Và thế là: Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phán lên đàng. Vào ra luống trông tin nhạn. Năm canh mơ màng… Ông lẩm nhẩm những đoạn lời đầu tiên rồi tìm chữ nhạc ghép vào. Trải qua bao nhiêu đêm viết đi viết lại, Dạ cổ hoài lang ra đời. Mượn tiếng trống đêm (dạ cổ) để làm nhịp cầu chở những nhớ thương, mong đợi của người thiếu phụ vọng phu (hoài lang).

Bản nhạc được viết ra tự đáy lòng đã góp phần trùng phùng đôi vợ chồng son sắt. Những buổi nói dối mẹ đi hát đám nhạc lễ, ông Sáu Lầu đã lén gặp lại người vợ hiền. Rồi vợ ông có thai nên được mẹ chồng rước lại về làm dâu. Người con trai đầu lòng ấy chính là ông Cao Kiến Thiết – sau này là cán bộ cao cấp của Đại sứ quán Việt Nam tại Mông Cổ.

Ông Cao Kiến Thiết kể lại có lần nghe cha mình tâm sự với bạn bè rằng: “Lúc ấy tôi nghĩ giờ này vợ mình đang ở đâu? Chắc chắn là vợ mình thương mình nhiều hơn mình thương vợ mình. Số phận vợ mình như nàng Tô Huệ, vì quá thương chồng mà dệt bức cẩm hồi dâng lên vua. Hay như nàng Tô Thị chờ chồng đến hóa đá! Và tôi viết bản Hoài lang”.

HOÀNG OANH

>> 90 năm, Dạ cổ hoài lang vẫn chưa già
>> Hội thảo 90 năm bản Dạ cổ hoài lang
>> “Bài ca vua” nhắc nhớ cội nguồn

———————–

Dạ cổ hoài lang ra đời, trở thành một hiện tượng âm nhạc có một không hai khi từ một sáng tác cá nhân đã trở thành sáng tác của tập thể, khai sinh ra cả một loại hình mới: sáu câu vọng cổ.

Kỳ tới: Nghe tiếng đàn ai rao sáu câu

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/339294/da-co-hoai-lang-suc-song-90-nam.html#ad-image-0

HƯƠNG QUỲNH : Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục


Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục

16.02.2014 | 15:28 PM

Danh ca Bạch Yến sẽ góp mặt trong Dấu ấn Hiền Thục – liveshow đầu tiên của Hiền Thục trong gần 25 năm ca hát.

Ngay sau Tết Nguyên đán 2014, Hiền Thục là nữ ca sỹ đầu tiên làm liveshow ca nhạc. Đây cũng là liveshow đầu tiên của Hiền Thục trong gần 25 năm ca hát và là show thứ 7 của chương trình Dấu ấn.

Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục - Ảnh 1

Chương trình dài 90 phút, sẽ tái hiện lại những “dấu ấn” của Hiền Thục với những ca khúc gắn liền với tên tuổi của cô kể khi còn là một giọng hát nhí cho đến những thành công rực rỡ gần đây.

Chương trình mang đến bất ngờ cho khán giả với tiết mục kết hợp đặc biệt giữa Hiền Thục và nữ danh ca Bạch Yến. Bạch Yến là nữ ca sĩ Việt Nam duy nhất có sự nghiệp âm nhạc thoát khỏi phạm vi cộng đồng người Việt, từng tham gia những show truyền hình ăn khách nhất ở Mỹ và biểu diễn cùng nhiều danh ca, ban nhạc lừng danh thế giới… Đây cũng là ca sỹ mà Hiền Thục vô cùng yêu thích và thần tượng.

Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục - Ảnh 2

Danh ca Bạch Yến

Ngoài ra, chương trình còn có sự góp mặt của các giọng hát đến từ cuộc thi Giọng hát Việt nhí – cuộc thi mà Hiền Thục làm huấn luyện viên.

Chương trình còn có sự góp mặt của một “khách mời bí mật” – vốn cũng là ca sỹ hàng đầu hiện nay tại Việt Nam. Bí mật này sẽ được Hiền Thục tiết lộ trong những ngày sắp tới.

Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục - Ảnh 3

Lê Nguyên Giọng hát Việt nhí sẽ góp mặt trong liveshow của Hiền Thục.

Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục - Ảnh 4

Hiền Thục và các thí sinh Giọng hát Việt nhí.

Góp mặt trong liveshow Dấu ấn Hiền Thục còn có nhạc sỹ Thanh Tâm trong vai trò Giám đốc Âm nhạc và Họa sỹ Phạm Hồng Minh – họa sỹ từng gây ấn tượng mạnh tại chương trình Vietnam’s Got Talent mùa thứ hai. Anh sẽ mang đến cho khán giả những bức phác họa độc đáo, được vẽ trực tiếp trong chương trình.

Cũng như các chương trình Dấu ấn lần trước, liveshow của Hiền Thục cũng sẽ có một “Góc dấu ấn” – khu trưng bày những kỉ vật vô giá gắn liền với những cột mốc đáng nhớ trong sự nghiệp, cũng như trong cuộc sống của Hiền Thục. Tại đây, khán giả sẽ tận mắt chiêm ngưỡng những kỷ vật lưu niệm của Hiền Thục trong hơn 2 thập niên đi hát trong đó có nhiều món đồ giá trị lần đầu được trưng bày.

Danh ca Bạch Yến góp mặt trong liveshow đầu tiên Hiền Thục - Ảnh 5

Dấu ấn Hiền Thục là liveshow đầu tiên của cô trong gần 25 năm ca hát.

Ngoài ra, theo tiết lộ của ban tổ chức, sân khấu của chương trình rộng hơn 300m2 cũng được đầu tư hoành tráng với 60m2 màn hình LED P5 tân tiến bậc nhất hiện nay, với nhiều hiệu ứng được thiết kế riêng cho từng tiết mục… Sự đầu tư của chương trình hứa hẹn sẽ mang đến cho khán giả một đêm nhạc hoàng tráng, một liveshow ấn tượng để mở đầu cho năm 2014.

Liveshow Dấu ấn Hiền Thục diễn ra vào lúc 20h ngày 1/3/2014 tại Nhà thi đấu Nguyễn Du (Q.1 – TP.HCM) và được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV9 và một số đài địa phương khác. 

Trailer liveshow Dấu ấn Hiền Thục.

Hương Quỳnh 

http://www.nguoiduatin.vn/danh-ca-bach-yen-gop-mat-trong-liveshow-dau-tien-hien-thuc-a124543.html

TRẦN QUANG HẢI VIẾT VỀ NHẠC SƯ VĨNH BẢO : tiểu sử, thành tích, sự nghiệp


TRẦN QUANG HẢI VIẾT VỀ NHẠC SƯ VĨNH BẢO : tiểu sử, thành tích, sự nghiệp
14.02.2014 14:09
Xem hình
 

Có rất nhiều người viết về nhạc sư VĨNH BẢO . Cũng có rất nhiều nhạc sinh biết và học với nhạc sư VĨNH BẢO. Nhưng rất ít người biết rõ quá trình âm nhạc cũng như sự đóng góp của nhạc sư VĨNH BẢO trong lĩnh vực ĐỜN CA TÀI TỬ miền Nam . Tôi may mắn có hai người “khai quang điểm nhãn” giúp tôi hiểu và học hỏi gia tài âm nhạc cổ truyền Việt Nam . Đó là thân phụ tôi (GSTS Trần Văn Khê) về sự hiểu biết gia đình tôi 5 đời nhạc sĩ cổ truyền cũng như phương pháp nghiên cứu dân tộc nhạc học , và nhạc sư VĨNH BẢO về truyền thống đờn ca tài tử qua nhiều cuộc đàm thoại trên mạng cũng như thừa hưởng tiếng đờn tranh có một không hai của nhạc sư .

 

 

o-b-vinh-bao-12-2007

nhạc sư VĨNH BẢO và phu nhân

Đối với tôi, một hậu sinh trong lĩnh vực tìm hiểu nguồn gốc nhạc cổ truyền Việt Nam, tôi đã học hỏi rất nhiều nơi hại vị “đại thụ” của nhạc truyền thống việt nam . Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ viết về nhạc sư VĨNH BẢO đã cống hiến trọn cuộc đời cho nhạc đờn ca tài tử miền Nam. 

Ông là người đã sống với nhạc cổ miền Nam gần 80 năm (sinh năm 1918) , một thời gian quá dài mà không có một nghệ nhân nào ở Việt Nam so sánh nổi. Ông là người đã gặp hầu hết những nhạc sư đờn ca tài tử, có dịp hòa đờn chung, biết rõ sự nghiệp của từng nhạc sư đã quá vãng cũng như những nhạc sư còn sinh tiền. Ông là người duy nhứt phổ biến phương pháp dạy đờn tranh qua mạng (internet) để phổ biến đờn tranh khắp thế giới. Ông còn là người sáng tạo đờn tranh từ 16 dây lên 17, 19 và 21 dây để cho tiếng đờn tranh phong phú hơn, dồi dào hơn, tự chế cách ký âm cho đờn tranh một cách hoàn mỹ hơn. 

Ký âm cho đờn tranh do nhạc sư VĨNH BÁO sáng chế.

notation for dan tranh vinh bao

tu dai oan

tu dai oan notation vinh bao

Ông là nhạc sư sử dụng ngoại ngữ thông thạo : viết, đọc, thuyết trình bằng tiếng Việt, Pháp, Anh mà không có một nghệ nhân nào ở Việt Nam có thể đạt được . Ngoài ra ông còn là một nhà thơ lỗi lạc đã làm rất nhiều bài thơ đủ loại bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh . Đó là khía cạnh rất ít người biết về tài năng của nhạc sư VĨNH BẢO .

  1. 1.     SƠ LƯỢC ĐẴC ĐIỂM, TÌNH HÌNH

-Họ và tên : NGUYỄN VĨNH BẢO

-Sinh ngày : năm 1918, tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp), Việt Nam

-Giới tính : Nam

-Đơn vị cộng tác : cựu giáo sư trường quốc gia âm nhạc Saigon (1955-1964), cựu giảng viên âm nhạc của trường đại học Southern Illinois University, Hoa Kỳ (1970-72)

-Trình độ chuyên môn nghiệp vụ : giảng dạy âm nhạc cổ truyền việt nam , đàn tranh cho nhạc sinh Việt Nam và ngoại quốc theo phương pháp vi tính trên mạng từ nhiều năm qua cho tới ngày nay .

10940599-vinhbaotovinh bao day don tranh cho ngoai quoc

Nhạc sư VĨNH BẢO dạy trên mạng và học trò ngoại quốc

      2. THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC

         80 năm trong nghề nghiệp âm nhạc . Ông khởi sự đóng đờn cò từ năm 12 tuổi . Ông sở trường đàn tranh, đàn kìm, đàn cò, đàn gáo. Ngoài ra ông còn biết đàn độc huyền, măng cầm (mandoline ) tây ban cầm (guitare espagnole ), vĩ cầm (violon), và dương cầm (piano).

Ông học đờn từ nhỏ với các thầy Hai Lòng (Vĩnh Long), Sáu Tý, Năm Nghĩa (Trà Ôn). Tính ra ông đã học với gần 200 “thầy) (theo nghĩa nhứt tự vi sư, bán tự vi sư) khắp ba miền Nam Trung Bắc trên xứ Việt .

Năm 1935, ông sang chế ra dây Tỳ (hò – liu – sol – sol) và dây Xề (Re – sol) trên cây đàn gáo.

Vào cuối thập niên 30, ông đã tạo một chỗ đúng quan trọng  trong hang ngũ nhạc sĩ trẻ miền sông Cữu Long .

Năm 1938 ông được hãng dĩa BEKA mời đàn cho cô Ba Thiệt (chị của cô Nam Cần Thơ) ca.

  1. 1.     Được mời giảng dạy và thuyết trình ở ViệtNam và hải ngoại

–         Từ năm 1955 tới năm 1964, ông được bổ nhiệm với chức vụ trưởng ban cổ nhạc miền Nam ở trường quốc gia âm nhạc Saigon với sự cộng tác của các nhạc sư Chín Kỳ, Hai Biểu, Chín Trích, Hai Khuê, Bảy Hàm.

–         Năm 1963, ông được mời tham dự hội nghị về âm nhạc với 11 nước Đông Nam Á tại Tân gia ba (Singapour)

–         Năm 1969, ông đã thực hiện hai cuồn băng nhạc đờn ca tài tử do ông Nam Bình sản xuát và do ông điều khiển chương trình với sự cộng tác của 11 nhạc sư đờn tài tử lúc bấy giờ . Tất cả đã ra người thiên cổ ngoại trừ ông và nhạc sĩ Bảy Bá còn sống .(1)

–         Năm 1970, ông được đài truyền hình NHK của Nhật Bản mời sang Đông Kinh (Tokyo) để thuyết trình về nhạc cổ truyền Việt Nam với phần minh họa đàn tranh

–         Từ giữa năm 1970 tới 1972, trường đại học Hoa kỳ (Southern Illinois University) mời ông sang dạy nhạc cổ truyền Việt Nam với tư cách giáo sư biệt thính. Trong dịp này GSTS Trần Văn Khê cũng có mặt và đã cùng ông góp mặt tại nhiều buổi hội thảo về âm nhạc học (musicology) với các nhà dân tộc nhạc học Mỹ .

vinh bao tvk

–         Năm 1972, ông được trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale) ở Paris mời sang Pháp trong một tháng để cùng với GSTS Trần Văn Khê trao đổi kiến thức về nhạc cổ truyền việt nam , đồng thời thuyết trình nhiều buổi về nhạc đờn ca tải tử nam bộ cho khan giả Pháp. Ông cũng có thuyết trình về nghệ thuật đóng đờn theo phương pháp của ông tại trung tâm âm thanh học (Laboratoire d’Acoustique musicale) của cố giáo sư âm thanh học Emile Leipp . Ngoài ra trong thời gian này ông đã cùng GSTS Trần Văn Khê thực hiện 2 dĩa hát về nhạc tài tử miền Nam (VIETNAM : tradition du Sud với hãng dĩa OCORA , và một dĩa về nhạc đờn tài tử nam bộ “ VIETNAM : Tradition of the South” do hãng dĩa Philips sản xuất ở Hà Lan , collection UNESCO / Musical Sources) 

disque ocora vinh bao tvk

–         Từ năm 1975 tới ngày hôm nay, nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn tiếp tục dạy đờn tại gia và đóng đờn. Công việc của ông là dạy trực tiếp hay hàm thụ qua băng nhạc hay với máy vi tính trên mạng cho một số người Việt  hay nhạc sinh ngoại quốc tới Việt Nam (Pháp , Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ). Năm 1967, nhạc sĩ dân ca người Mỹ, Stephen Addiss (bây giờ là GSTS của trường đại học University of Richmond, School of Arts and Sciences) sang Saigon học đàn tranh và đàn bầu với nhạc sư Vĩnh Bảo. Năm 1973, sinh viên cử nhân đàn vĩ cầm John Paul Trainor từ Denver, tiểu bang Colorado (Hoa kỳ) sang Saigon, ở nhà nhạc sư Vĩnh Bảo một năm để học nhạc tài tử nam bộ và sau đó bảo vệ luận án tiến sĩ về đề tài này vào năm 1977. Năm 1997, giáo sư Jean Christophe Maillard, nhạc sĩ nhạc baroque, dạy nhạc học ở trường đại học Le Mirail, tỉnh Toulouse (Pháp) tới thăm nhạc sư Vĩnh Bảo để tìm hiểu nhạc tài tử nam bộ. Từ năm 2008 tới nay, TS Alexander Cannon, phó giáo sư trường đại học Michigan (Hoa Kỳ) sang Saigon một hai tháng để học đàn tranh và lý thuyết về nhạc tài tử nam bộ với nhạc sư Vĩnh Bảo . GSTS Trần Quang Hải, dân tộc nhạc học gia của trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) thường xuyên liên lạc với nhạc sư Vĩnh Bảo qua thơ từ, điện thoại để học hỏi thêm về bài bản và nguồn gốc đờn ca tài tử.

–         Năm 1998-1999, trường Colette ở TP Hồ Chí Minh mời ông dạy nhạc cổ truyền Việt Nam cho học sinh người Pháp .

–         Năm 2002, hãng dĩa OCORA (Pháp) đã phát hành một CD về cổ nhạc đờn tài tử nam bộ với nhạc sư Vĩnh Bảo, và ban nhạc đờn tài tử gồm nhạc sĩ Ba Tu  nhạc sĩ Sáu Tỵ, nhạc sĩ Hoàng Cơ Thụy.

–      Năm 2010, nhạc sư Vĩnh Bảo thuyết trình và minh họa về đờn ca tài tử miên Nam tại trung tâm Trần Văn Khê, quận Bình Thạnh, TP HCM

vinh bao tvk bisNhạc sư VĨNH BẢO nói chuyện và minh họa về đờn ca tài tử tại trung tâm Trần Văn Khê

  1. 2.     Người sáng tạo cây đàn tranh từ 16 lên 17, 19 và 21 dây

Nhạc sư đã sáng chế ra cây đàn tranh cải tiến từ thập niên 50, từ cây đàn tranh 16 dây loại nhỏ, thành đàn tranh có kích thước lớn hơn với 17, 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại “hơi, điệu” mà khi đờn không cần phải sửa dây , kéo nhạn . Sau 60 năm , cây đàn tranh này đã được chấp nhận và ngày nay , hầu hết các đàn tranh thấy ở Việt Nam đều có 17 dây .

vinhbao-pix[1]

Nhạc sư VĨNH BẢO với đờn tranh do ông sáng chế

 

3.SÁCH và DĨA HÁT PHÁT HÀNH

 

“Vietnam / Tradition du Sud” do hãng  dĩa OCORA phát hành, OCR 68, Paris Pháp, 1973, với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê. (dĩa 30cm/33 vòng)

“South Vietnam / Entertainment Music” do hang dĩa Philips phát hành, 658028, collection UNESCO/Musical Sources, Amsterdam , Hà Lan, 1973 (dĩa 30cm/33 vòng)  (2)

“Vietnam / Tradition du Sud” do OCORA sản xuất , C580043, Paris, Pháp, 1993 (dĩa CD) với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê

“South Vietnam / Entertainment Music” do hang AUVIDIS phát hành, D8049, Paris , Pháp (dĩa CD) với nhạc sư Vĩnh Bảo và GSTS Trần Văn Khê.

“Vietnam / Ensemble Nguyen Vinh Bao” do OCORA sản xuất , C 560160, Paris , Pháp, 2002,(dĩa CD)

 

“Thử tự học đàn tranh” do Trung tâm Văn Hóa Thông Tin của tỉnh Long An ấn hành, 229 trang , 2003 .

dvd-bia-3-thu-tu-hoc-dan-tranh-vinh-bao

     Đây là công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị về mặt sư phạm và nghệ thuật âm nhạc cổ truyền do nhạc sư Vĩnh Bảo đã dày công nghiên cứu chú trọng về hai mặt lý thuyết và thực tạp tự học đàn tranh. Có dĩa CD kèm theo để minh họa , cho nên rất dễ học, dễ hiểu. Với hai phương pháp ký âm (do re mi vv…) và ký hiệu riêng do nhạc sư sang tạo rất chính xác và khoa học. Có khoảng 100 bài bản từ các bài đàn tài tử  đến các bài trong cải lương từ dễ tới khó

“Thử tự học đàn tranh” do một nhóm học trò Việt Nam ở Hoa Kỳ sản xuất , 4 DVD bằng tiếng Việt do nhạc sư Vĩnh Bảo dẫn giải và minh họa, 2004, Hoa Kỳ

“Self taught Vietnamese Zither” do một nhóm học trò Việt Nam của nhạc sư Vĩnh Bảo ở Hoa Kỳ sản xuất, 3 DVD bằng tiếng Anh do nhạc sư Vĩnh Bảo giải thích và minh họa, 2004, Hoa Kỳ

 

  1. Giải thưởng

–         2005 : Giải thưởng ĐÀO TẤN do hội đồng  giải thưởng Đào Tấn khen tặng ông là người đã có nhiều cống hiến trong sự nghiệp, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc

vinh bao dao tan

–         2006: GSTS Nguyễn Thuyết Phong tại hội thảo dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 tại thành phố Honolulu (Hawaii, Hoa Kỳ) qua bài tham luận “Considering the Fate of Tài tử Music : Nguyễn Vĩnh Bảo , the Last Guardian of the Tradition” (Nỗi quan tâm đến vận mạng của đờn ca tài tử : Nguyễn Vĩnh Bảo, người bảo vệ vau cùng của truyền thống) đã đề nghị tôn vinh nhạc sư Vĩnh Bảo là một trong sáu nhạc sư của thế giới là người có công đóng góp cho nhạc dân tộc và nổi tiếng nhứt trong xứ

NT Phong & NV Bao

GSTS Nguyễn Thuyết Phong và nhạc sư Vĩnh Bảo

–         2009 : xứ Pháp ban tặng ông huy chương văn học nghệ thuật (médaille des Arts et des Lettres) cấp bực “officier” . Ở Việt Nam chỉ có hai người thuộc cấp bực này là GSTS Trần Văn Khê và nhạc sư Vĩnh Bảo. Sự vinh danh này không chỉ dành riêng cho nhạc sư Vĩnh Bảo mà cho toàn bộ mộn đờn ca tài tử nam bộ (lời phát biểu của nhạc sư trong buổi gắn huy chương tại toà Tổng lãnh sự Pháp ở TH Hồ Chí Minh)

vinh bao huan chuong arts et lettres

Nhạc sư VĨNH BẢO nhân huân chương Nghệ thuật và văn học đứng giữa ông đại sứ Pháp và GSTS Nguyễn Thuyết Phong

–         2010 : trung tâm kỷ lục Việt Nam trao bằng kỷ lục Việt Nam cho nhạc sư Vĩnh Bảo về việc truyền dạy cổ nhạc Việt Nam và đàn tranh trên toàn thế giới qua phương pháp mạng trên vi tính

vinh-bao-ordi

Nhạc sư VĨNH BẢO dạy trên mạng

 

3.KẾT LUẬN

130815164031_vinh_bao_traditional_vietnamese_musician_640x360_bbc_nocredit

     Nhạc sư Vĩnh Bảo là một nhân vật đã sống trọn vẹn cuộc đời cho đờn ca tài tử nam bộ qua việc dạy học, diễn giảng , biểu diễn, đóng đàn và sang tạo nhạc cụ và các loại lên dây (tunings),cùng với kỹ thuật diễn tấu cũng như tư duy mỹ quan âm nhạc Việt Nam. Ông là “cây cổ thụ, đại thụ”,  là “báu vật sống” , là “gia tài âm nhạc cổ truyền” , là “hậu tổ của đờn ca tài tử” (theo GSTS Trần Văn Khê), là “nhạc sĩ toàn tài – đàn, dạy và đóng đàn – duy nhứt của Việt Nam và Thế giới “ (theo GS Trần Quang Hải).

 

Muốn biết thêm về hoạt động âm nhạc của nhạc sư Vĩnh Bảo và những thành quả được trong nước và hải ngoại khâm phục qua báo chí, các chương trình phát thanh, truyền hình Việt Nam và nước ngoài (Hoa Kỳ, Pháp, Anh quốc), xin mời xem các trang nhà sau đây :

https://tranquanghai1944.wordpress.com/category/nguyen-vinh-bao-2/

http://tranquanghai.com/c41-tieu-su-nhac-si.html

http://vinhbao.theonly1.net

(1) danh sách các nhạc sư cộng tác với nhạc sư Vĩnh Bảo trong hai cuồn băng do ông Nam Bình sản xuất năm 1969:

Đàn KÌM
HUỲNH VĂN SÂM (Sáu Tửng)
VỎ VĂN TIỀNG    
Năm VỈNH
DƯƠNG VĂN CƠ (Năm Cơ)
Đàn CÒ
HỒNG TẤN PHÁT (Hai Phát)
HÀ VĂN TÂN  (Chín Trích)
NGUYỂN THẾ HUYỆN
Đàn TAM
HỒNG TẤN PHÁT
Đàn TRANH
TRƯƠNG VĂN BẢY (Bảy Bá)
NGUYỂN VĨNH BẢO
 

tancogiaoduyen (Theo GSTS Trần Quang Hải)

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1557

TRẦN QUANG HẢI : NGUỒN GỐC CẢI LƯƠNG VÀ CÁC BÀI BẢN


Nguồn gốc cải lương và các bài bản
16.11.2013 09:17
 

Khi nói đến cải lương , đối với người miền Nam cũng như người miền Bắc đều nghĩ đến bài Vọng cổ trước tiên . Nhưng ít ai biết đến xuất xứ, hình thành, và diễn tiến của ngành nghệ thuật sân khấu đặc biệt của miền Nam nầy . Trong phạm vi bài này tôi sẽ lần lượt đề cập đến nguồn gốc của hai chữ « Cải Lương », quá trình, hình thành, và cấu trúc dàn nhạc và bộ môn bài bản .

Có nghĩa là đổi những gì cũ còn lại ra thành những gì mới và hay. Danh từ cải lương được xuất hiện đầu tiên trên bảng hiệu của gánh Tân Thinh của ông Trương Văn Thông vào năm 1920. Sân khấu được trang hoàng đẹp đẽ, có màn nhung, có tranh cảnh, và hát bài La Madelon bằng tiếng Việt trước khi kéo màn .

 

Quá trình và hình thành

Miền Nam của xứ Việt Nam là nơi phát xuất ra Hát cải lương. Con người miền Nam có một đời sống nhàn hạ, sung túc. Ruộng cò bay thẳng cánh. Cá đầy sông , rạch. Không lo đói nhờ đất đai phì nhiêu, rau cải và lúa gạo đầy đồng . Người miền Nam mang dòng máu của những dân đến sinh sống trên đất Nam kỳ đầu tiên. Họ thuộc những người bị triều đình Huế đày vào trong Nam để khai khẩn đất hoang , hay bị bất mãn với sự phân tranh Trịnh Nguyễn. Thêm vào đó có nhiều người Tàu sang di trú vì không chịu thần phục nhà Thanh .

Dân ca miền Nam phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc, miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ.

Lúc khởi đầu vào cuối thế kỷ thứ 19, những cuộc hát cúng đình hay hát bội được tổ chức hàng năm vào kỳ lễ thần linh. Có những gánh được mời tới những gia đình khá giả vào dịp làm chay. Vì vậy có câu « trong chay ngoài bội ». Có những cuộc « hát chập » vào những dịp tiệc tùng giải trí với các ca sĩ nổi tiếng tới giúp vui.

Vào đầu thế kỷ 20, ngành ca hát được bành trướng hơn và trở thành một bộ môn giúp vui trong các dịp tiệc tùng , cưới hỏi. Điệu hát được ưa thích nhất thời đó là điệu Tứ đại oán với các bài Khóc chồng, « Bùi Kiệm thi rớt », « Bá Ngộ Mai ».

Trước thế chiến thứ nhất (1914-18), nhà cầm quyền Pháp khuyến khích người Việt dịch các vở tuồng của Molière hay của Victor Hugo ra tiếng Việt để diễn cho người mình xem.

Ở miền Nam vào thời đó, một số nhà yêu nhạc cổ như Trần Văn Thiệt (thân phụ của cố nhạc sĩ Duy Lân), Tống Hữu Định đã đưa một số bài nhạc cổ trong đàn tài tử lên sân khấu vừa hát vừa ra bộ diễn cảnh Bùi Kiệm thi rớt, hay Bùi Ông rầy Bùi Kiệm trích trong vở Lục Vân Tiên và bài ca Tứ đại oán được đem trình bày và rất được ưa thích . Ông Tống hữu Định người Trung hoa, sang Việt nam lấy vợ Việt, giữ  chức Phó Cai Tổng, trong gia đình là con thứ 12 nên người ta gọi ông là Thầy Phó mười hai. Nhà của ông la villa trệt ở đường Cầu lộ tỉnh Vĩnh Long. Ông thích nghe đờn ca tài tử nên thường tổ chức những buổi hòa đờn tài tử tại nhà  (theo lời kể của nhạc sư Vĩnh Bảo). 

Có một ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho do ông Nguyễn Tống Triều lập ra, với Nguyễn Tống Triều sử dụng đàn kìm, ông Bảy Vô kéo đàn cò, ông Chín Quán thủ cây đàn độc huyền, ông Mười Lý thổi ống tiêu, cô Hai Nhiễu đàn tranh và cô Ba Đắc hát . Mỗi tối thứ bảy ban nhạc này trình diễn tại Minh Tân khách sạn ở gần nhà ga xe lửa Mỹ Tho. Người đến nghe loại nhạc tài tử này càng ngày càng đông. Ông chủ rạp hát bóng Casino ở Mỹ Tho thấy khách sạn Minh Tân sao đông khách quá, mới nghĩ đến việc đem ban nhạc này trình diễn trước giờ chiếu phim. Bắt đầu từ đó mới có phụ diễn cổ nhạc trên sân khấu hát bóng. Ca nhạc cải lương bước lên sân khấu đầu tiên là sân khấu hát bóng .

Cô Ba Đắc là một nữ danh ca hát « sa-lông » nổi tiếng qua lối hát dậm thêm vài câu hài hước trong các bài « Đại lang dậm », « Bùi Kiệm dậm », Bùi Kiệm -Nguyệt Nga ». Lúc đầu chỉ ngồi trên bộ ván để hát. Về sau mới đứng dậy vừa hát vừa ra bộ. Từ đó mới sinh ra loại hát « Ca ra bộ ».

Từ loại hát Ca ra bộ rất đơn sơ tiến tới ca kịch, tức là vừa hát vừa diễn tả lời ca với những động tác . Bài bản được sáng tác thêm, hay dựa trên một số điệu sẵn có như Hành Vân, Bình Bán Vắn, Kim Tiền Huế, Ngũ Điểm, Bài Tạ, Ngâm Thơ,vv…

Sau đó, có những nhóm ca kịch đầu tiên của Hai Ngọc, Bộ Vang ở Mỹ Tho đi biểu diễn lưu động để giúp vui chứ chưa nghĩ đến việc kiếm tiền. Đây là giai đoạn tài tử chứ chưa phải chuyên nghiệp.

Đoàn hát chuyên nghiệp đầu tiên được Thầy André Thận ở tỉnh Sa Đéc thành lập vào năm 1918 lấy tên là gánh Thầy Thận. Có đủ đào kép, có cả người soạn tuồng và đặt lời ca. Lúc đầu chỉ hát ở các chợ nhỏ trong làng, rồi mới đi ra thành phố. Nhưng gánh này sống không lâu, phải rã gánh .

Đào kép gánh Thầy Thận mới nhập vô Gánh Thầy Năm Tú (tên thật là Châu văn Tú) ở Mỹ Tho. Đây là một gánh hát đại quy mô, có soạn giả Trương Duy Toản (tác giả vở Kim Vân Kiều), có họa sĩ Trần Ngọc Điều vẽ phong sơn thủy. Danh tiếng gánh hát vang tới Saigon. Đoàn hát len diễn tại rạp hát bóng Moderne ở vùng Tân Định. Hãng dĩa Pathé của Pháp đã sản xuất rất nhiều dĩa hát 78 vòng. Nhờ vậy tiếng tăm của gánh Thầy Năm Tú vang dội khắp ba miền Nam Trung Bắc.

Sự hình thành gánh Thầy Năm Tú đánh dấu sự chào đời sân khấu cải lương và có tầm vóc quốc giá hơn là địa phương .

Lần lượt các gánh khác được lập ra một cách mau chóng : Văn Hí Ban ở Chợ Lớn, Tập Ích Ban ở Thốt Nốt, Nghĩa Đồng Ban, Tân Thinh. Gánh Nam Đồng Ban với nữ nghệ sĩ Năm Phỉ nổi tiếng trong vở « Tham phú phụ bần ». Gánh Tái Đồng Ban ở Mỹ Tho với các nghệ sĩ nổi tiếng như Phùng Há, Năm Châu, Ba Du.

Các vở tuồng đầu tiên đều lấy từ truyện Tàu nhưng cách ăn mặc đi đứng, nói năng đều khác hẳn với hát bội. Các vở tuồng như « Phụng Nghi Đình », « Một Quế Anh », « Hạng Võ Biệt Ngu Cơ », « Trảm Trịnh Ân », «Hoa Mộc Lan tùng chinh », « Mổ Gan Tỉ Can », « Khương Hậu Thọ Oan », « Hoàng Phi Hổ phản Trụ đầu Chu », vv.. rất được ưa chuộng .Dần dần, nhiều bài hát khác được đưa vào cải lương như « Xuân Phong », « Hành Vân », và sự xuất hiện của hai bài mới là « Xuân Nữ », và « Dạ Cổ Hoài Lang ».

Bài « Dạ Cổ Hoài Lang » còn gọi là « Hoài Lang ». Bài này do ông Cao Văn Lầu, biệt hiệu là Sáu Lầu, quê ở Tân An, đến định cư ở Bạc Liêu lúc còn nhỏ, sáng tác bài này vào khoảng năm 1918, chịu nhiều ảnh hưởng của bài Tứ Đại Oán và bài Hành Vân. Khởi đầu chỉ có hai nhịp cho mỗi câu (bài Dạ Cổ Hoài Lang gồm 20 câu 2 nhịp). Sau khi phát triển thành nhịp tư được hát đầu tiên trên sân khấu Tập Ích Ban năm 1921, và thành nhịp 8 trên sân khấu Tái Đồng Ban vào năm 1922. Năm 1930, bài Dạ cổ hoài lang chuyển sang nhịp 4 với nhiều lời ca khác nhau. Sau chuyến lưu diễn tại Hà nội, thanh niên miền Bắc mê lối diễn và ca của cô Bảy Phùng Há (Trương Phụng Hảo), kép hát Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung , gốc Bến Tre) tức hứng soạn lời ca bài vọng cổ nhịp tư như sau :

Câu 1. Nhạn đàn kêu sương nởi biển Bắc.

Câu 2. Én cam khóc hận góc trời Nam.

Cố nghệ sị Lư Hòa Nghĩa, tự Năm Nghĩa, cũng do âm cảm tiếng chuông chùa núi Sam (Châu Đốc) đã đưa bản này thành nhịp 8 với tên khác là Vọng cổ Bạc Liêu vào năm 1935, thu vô dĩa nhựa Asia năm 1935 bài “Vì tiền lỗi đạo” có câu “văng vẳng tiếng chuông chùa”

Vọng 

Khoảng đầu năm 1951, nghệ sĩ Nguyễn Thành Út, biệt hiệu Út Trà Ôn đã biến thành Vọng cổ nhịp 16, rồi thành nhịp 32 mà đa số nghệ sĩ cải lương hiện nay vẫn còn hát. Vọng cổ nhịp 64 bắt đầu phát triển. Có người còn hát thành nhịp 128 nhưng không mấy phổ biến . Các nghệ sĩ muốn được nổi tiếng và thành công thì phải hát thật mùi bài Vọng cổ. Nghệ sĩ Út Trà Ôn đã nhờ bài Vọng cổ mà được nổi tiếng trong giới cải lương .

Cải lương dần dần lan ra Trung và Bắc sau thế chiến thứ nhất (1914-18). Người đầu tiên giới thiệu nghệ thuật cải lương trên sân khấu Hà nội là ông Nguyễn Văn Súng, tự Sáu Súng . Đúng ra, là một gánh xiệc có chen vào giữa chương trình một vài bài hát cổ nhạc, chưa có tuồng tích rõ ràng. Ít lâu sau mới có hai gánh Phước Hội và Tân Lập Ban từ Nha Trang ra Hà Nội trình diễn tại rạp Quảng Lạc .

Cho tới năm 1925, Hà Nội vẫn chưa có gánh hát cải lương chuyên nghiệp. Chỉ có một số người ưa thích cải lương hợp nhau lại đóng tuồng với danh nghĩa cứu trợ trong chiến dịch « Nam Kỳ tương tế ». Năm 1923, một nhóm sinh viên trường Luật diễn tuồng « Bội phụ quả báo » của Phạm Công Bình tại rạp Philharmonique.

Năm 1925, một nhóm sinh viên cao đẳng diễn tuồng « Châu Trần Tiết Nghĩa » của Nguyễn Văn Tệ.

Năm 1927 một nhóm phụ nữ ở Hà Nội diễn tuồng « Trang Tử Cổ Bồn » dựa vào tích xưa. Dư luận thời đó đã công kích ban « Nữ tài tử » với những lời chỉ trích các bà thích lên sân khấu làm trò .

Đến cuối năm 1925 và đầu năm 1926 mới có nhóm tài tử Đồn Ấu ở Sán Nhiên Đài và nhóm tài tử phố Hàng Giấy mướn rạp ông Ba Bỏ ở Ô Chợ Dừa.

Năm 1927, gánh Nghĩa Hiệp Ban ra Bắc với những tuồng Tàu như « Lã Bố Điêu Thuyền », « Tra Ấn Quách Hòe »,vv… Rạp Quảng Lạc, rồi rạp chèo Sán Nhiên Đài đều đổi thành rạp cải lương .

Đến giai đoạn 1928-37, các tuồng Tàu, tuồng Tây được đem đi diễn khắp nơi và nhiều điệu hát mới được sáng tác như bài « Tiếng Nhạn Trong Sương », « Hoài Tình » , « Chuồn Chuồn ». Những bài hát Tây được dịch ra lời Việt như « Pouët Pouët » trong vở tuồng Tiếng Nói Trái Tim, bản « Tango mystérieux » trong vở Đóa Hoa Rừng. Nhiều soạn giả phóng tác những tác phẩm văn học Pháp như « Giá Trị Danh Dự » (Le Cid của Corneille), « Túy Hoa Vương Nữ » (Marie Tudor của Victor Hugo), « Tơ Vương Đến Thác » (La Dame aux Camélias của Alexandre Dumas). Một số truyện của văn sĩ Việt cũng được đưa lên sân khấu như « Lan và Điệp » phỏng theo tiểu thuyết « Tắt Lửa Lòng » của Nguyễn Công Hoan, « Bùn Lầy Nước Đọng » phỏng theo tác phẩm « Tắt Đèn » của Ngô Tất Tố. Trong thời gian này, một đoàn cải lương thường có hai dàn nhạc : dàn nhạc cải lương thì ngồi ở cánh gà đàn ra, còn dàn nhạc Tây phương với dương cầm (piano), saxo, các loại kèn Tây, trống thì ngồi ở phía trước sân khấu để đàn lúc trước khi kéo màn khai diễn và những tuồng Tây. Sau đó mới tới giai đoạn tuồng Phật, tuồng Tiên với những màn đấu phép biến hóa song song với các vở tuồng kiếm hiệp La Mã. Nhạc sĩ Mộng Vân là người viết rất nhiều bài bản cho loại tuồng kiếm hiệp. Loại nhạc này còn được gọi là nhạc cà chía .

Từ năm 1935 tới năm 1941 nhiều gánh hát được thành lập ở miền Bắc như Nhật Tân Ban, Quốc Hoa, Tố Như, Ái Liên (nữ nghệ sĩ Ái Liên là mẹ của nữ ca sĩ Ái Vân, nữ ca sĩ Ái Xuân, từ trần năm 1992), Đức Huy, Nam Hồng, vv… NSND Nguyễn Sỹ Tiến (1916-1982) có tên thật là Nguyễn Xuân Kim. Ông là “vua cải lương đất Bắc”,là người nghệ sĩ duy nhất của giới cải lương miền Bắc cho đến nay, vinh dự được tặng giải thưởng danh giá bậc nhất Việt Nam – Giải thưởng Hồ Chí Minh – một nghệ sĩ toàn năng của nền sân khấu cải lương VN thế kỷ 20, người được giới nghề ghi nhận tài năng xuất chúng và nhân cách lớn. Nhiều gánh còn vô trong Nam diễn được thành công . Một số gánh hát như An Lạc Ban, Phước Cương, Tân Hí Ban, Trần Đắt, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Thanh Tùng, Năm Châu, Kim Thoa ra Bắc được khán giả mến mộ.

Giai đoạn 1940-45, các loại tuồng vừa kể trên không còn ăn khách nữa . Cố nghệ sĩ Năm Châu mới viết một số tuồng xã hội như « Tìm Hạnh Phúc », « Khi Người Điên Biết Yêu » nói lên tâm trạng xã hội Việt Nam thời đó và rất được hoan nghinh. Tuồng dã sử rất được ăn khách trong thời này . Sau thế chiến thứ hai (1939-45), một số tuồng chiến tranh do cố nghệ sĩ Bảy Cao đề xướng và tạo một chỗ đứng đặc biệt trong làng cải lương .

Giai đoạn 1960-70, loại hồ quảng dù đã được phát hiện từ năm 1935 với nữ nghệ sĩ lão thành Phùng Há, bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Nữ nghệ sĩ Phượng Mai (hiện chuyển sang tân nhạc ở hải ngoại) đã được nổi tiếng trong lĩnh vực này trước 1975 cùng với nữ nghệ sĩ Bạch Lê (hiện sinh sống tại Pháp).

Ở miền Nam , ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc đã sáng lập ra giải Thanh Tâm hàng năm tặng cho một nghệ sĩ cải lương . Người đầu tiên nhận giải là cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó Ngọc Giàu, Bạch Tuyết , Lệ Thủy, Mộng Tuyền, Diệp Lang, vv… đã tiếp nối nhận giải cho tới năm 1975.

Sau bao biến chuyển trong cải lương với những đề tài khác nhau, bài vọng cổ càng ngày càng có một chỗ đứng quan trọng trong cải lương nói riêng, và trong cổ nhạc nói chung. Không một vở tuồng nào không được nghe ít nhất là năm hay sáu lần. Khán giả đi xem hát cải lương với mục đích là để nghe hát bài vọng cổ cho thật mùi .

Năm 1975, sau khi chấm dứt chiến tranh giữa miền Nam và miền Bắc, một số nghệ sĩ cải lương ra đi tỵ nạn. Việt Hùng phối hợp với một số nghệ sĩ như Vương Kiệt, Hùng Cường (sang Mỹ từ năm 1982 và từ trần năm 2002 ?), Kim Tuyến để lập thành đoàn hát cải lương nhưng rồi phải dẹp gánh. Bên Pháp, một số nghệ sĩ tài danh như Hữu Phước (từ trần năm …..), Chí Tâm (sang Mỹ định cư năm 1990), Hương Lan (rời bỏ cải lương sang hát tân nhạc và cũng định cư ở Mỹ từ 1987), Phương Thanh, Hà Mỹ Liên, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Minh Thanh, Kim Chi, Tài Lương , Minh Tâm, Ngọc Lưu với sự cộng tác của nữ nghệ sĩ lão thành Bích Thuận đã thành lập một đoàn hát Năm Châu Paris vào năm 1983 với hy vọng bảo tồn và duy trì nghệ thuật cải lương ở hải ngoại. Chỉ ít lâu sau rồi phải tự rã gánh . Sau đó , có hai đoàn cải lương được thành lập. Đoàn Nghệ sị tỵ nạn Paris với Hữu Phước, Kiều Lệ Mai, Minh Đức, Hà Mỹ Liên, và đoàn Hội Nghệ Sĩ Trẻ với Chí Tâm, Tài Lương , Minh Tâm. Hai đoàn này hoạt động mạnh trong năm 1987 rồi hai năm sau lại giải tán . Hai nghệ sĩ Thành Được và Phượng Mai tỵ nạn ở Đức có một thời gian đi lưu diễn Âu châu, Mỹ châu và Úc châu nhưng không lâu dài . Cả hai cũng sang định cư ở Mỹ . Thành Được giải nghệ nghề hát , mở nhà hàng ở San Jose, California, Mỹ . Sau này có một số nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như Phượng Liên, Bích Sơn , rồi Ngọc Huyền, Tài Linh sang định cư ở Mỹ nhưng không thể gầy dựng một đoàn cải lương dù số nghệ sĩ danh tiếng có thừa , cũng như số nhạc sĩ cổ nhạc đủ sức lập thành dàn nhạc .

Tại Saigon, sau khi nữ nghệ sĩ Thanh Nga từ trần trong một « tai nạn » mà tới nay vẫn chưa tìm được nguyên do vì sao, những nghệ sĩ kỳ cựu như Phùng Há, Bảy Nam (từ trần), Kim Cúc (từ trần), Kim Lan (từ trần), Út Trà Ôn (từ trần), hay các nghệ sĩ Văn Thái, Ánh Tuệ, Khánh Hợi của cải lương miền Bắc, những nghệ sĩ cải lương còn lại của chế độ cộng hòa miền Nam vẫn tiếp tục trình diễn và gặt hái nhiều thành công như Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Kim Cương, Thanh Vi, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Minh Vương, Diệp Lang. Những tài năng trẻ tiếp nối cũng rất ăn khách như Vũ Linh, Vũ Luân, Thoại Mỹ, Thoại Miêu, Phượng Loan, Phượng Hằng, Trọng Phúc, Tài Linh (định cư ở Mỹ năm 2005), Ngọc Huyền (định cư ở Mỹ), Kim Tử Long, Tú Sương, Ánh Hoa. Các nghệ sĩ có nhiều triển vọng qua các giải Trần Hữu Trang cho thấy số lượng ngày càng đông, đặc biệt là trong năm 2007 những giọng ca có thể trở thành những nghệ sĩ tài danh trong tương lai như Hồ thị Ngọc Trinh, Phan Minh Đức, Oanh Kiều, Hoa Phượng, Thi Nhung, Diễm Kiều, Ngọc Tuyền, Trung Thảo, Trúc Ly, Hoàng Khanh, Mỹ Vân, Hải Yến, Hải Long , vv…Giờ đây diễn xuất giữ phần quan trọng hơn là có giọng ca mùi như xưa . Nghệ sĩ phải thuộc tuồng chứ không có người nhắc tuồng như trước.

Cấu trúc dàn nhạc

Ban nhạc tài tử lúc hòa tấu ở phòng khách (đàn hát sa-lông) thường gồm có : 1 đàn kìm, 1 đàn tranh, 1 đàn cò, 1 đàn độc huyền, 1 sáo hay tiêu. Song lang luôn có mặt trong đờn ca tài tử và hát cải lương .

Khi trở thành dàn nhạc cải lương thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn : 1 trống ban, 1 song lang, 1 cặp não bạt, 1 đồng la, 1 đàn cò, 1 đàn gáo, 1 đàn kìm, 1 đàn tam, 1 đàn đoản, 1 đàn tranh. Lại có thêm sáo, tiêu, kèn củn, kèn nàm. Sau này có thêm đàn độc huyền, đàn xến, ghi ta phím lõm (còn gọi là lục huyền cầm), tam thập lục, vi-ô-long, hạ uy cầm nhứt là ở miền Nam. Câu lục huyền cầm hay ghi-ta phím lõm có nhiều khả năng về cung bực, âm thanh trầm bỏng lại có thể luyến láy do phím móc sâu. Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chánh trong dàn nhạc cải lương, và mấy lúc sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện của nhạc trẻ kích động . Cố nhạc sĩ Văn Vĩ là người có ngón đờn ghi-ta phím lõm huyền diệu nhất. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống , ghi-ta điện, và đàn synthé (hay organ).

Làn điệu hát trên sân khấu cải lương

Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca cổ nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài tử, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng như sau :

1. Từ những điệu ca dân gian như những điệu Lý . Trong Nam có hàng chục bài Lý : Lý con sáo, Lý thập tình, Lý ngựa ô, Lý giao duyên, Lý vọng phu, Lý chiều chiều, Lý bình vôi, Lý chuồn chuồn, vv… Có Lý ngựa ô Bắc, lý ngựa ô Nam. Từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Mỗi một bài diễn tả một tâm trạng mà người viết tuồng phải nắm vững để tránh bị sai lầm. Khi vui tươi thì sử dụng điệu Lý ngựa ô. Khi bâng khuâng thì điệu Lý con sáo. Lúc kể lể thương đau thì hát Lý chuồn chuồn. Khi ru con thì hát Lý giao duyên, vv… Đến những điệu ngâm cũng phải biết lúc nào ngâm theo thể ngâm nào . Có nhiều loại ngâm như Ngâm Kiều (còn gọi là Lẫy Kiều), ngâm Sa Mạc, Bồng Mạc, ngâm Sổng, nói thơ Lục Vân Tiên, ngâm thơ Tao Đàn , hò .

2. Từ những bài nhạc lễ cung đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biền Xuất Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Đăng, Tiểu Khúc, vv…

3. Từ những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát cải lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Thủy Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv…

4. Từ những điệu hát lấy từ nhạc nước ngoài nhứt là từ Trung quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bản Tiều, Lạc Âm Thiều, vv…

Theo một vài giả thuyết cho rằng thầy ký Trần Quang Quờn, tự Thầy Ký Quờn, quê ở Vĩnh Long, đã sáng tác hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường cách đây hơn 80 năm. Đặc biệt là bài Tứ Đại Oán đã khơi nguồn cho hát ca ra bộ trước khi hát cải lương thành hình .

Một điệu hát quen thuộc khác đã được ông Sáu Lầu sáng tác là bài Dạ Cổ Hoài Lang , trở thành Vọng Cổ Hoài Lang (1936) và Vọng Cổ sau đó. Chính bài hát này đã dính liền với sân khấu cải lương . Nhạc sĩ và thầy tuồng Nguyễn Tri Khương (từ trần 1962) (cậu của GS Trần Văn Khê, và ông cậu của tôi) đã sáng tác một số bài bản mới như « Bắc Cung Ai », « Phong Xuy Trịch Liễu », « Yến Tước Tranh Ngôn » cho vở tuồng « Giọt lệ chung tình » vào năm 1927 cho gánh hát Đồng Nữ Ban do bà cô ba của tôi là Trần Ngọc Viện sáng lập. Nhưng cho tới ngày nay không thấy ai dùng các bài này trong cải lương. GS Trần Văn Khê có thu vào dĩa hát bên Pháp vào năm 1959.

Nhạc sĩ Tư Chơi đã sáng tác một số điệu hát vào năm 1937 như Trông Thấy Ai Xinh Thay ! và Xin Thề. Cố nghệ sĩ Bảy Nhiêu đã sáng tác bài Hoài Tình .

Nhạc sĩ Mộng Vân trong những năm 1939-40 đã sáng tác nhiều bài ngắn như « Tấn Phong », « Túy Tửu », « Thu Phong Nguyệt », « Giang Tô », « Sương Chiều », « Tú Anh », « Tô Vũ », « Nặng Tình Xưa », vv…Nhạc của Mộng Vân có điệu gần gủi với phong cách cải lương, nhưng cũng có điệu lai căng, chịu nhiều ảnh hưởng Tây phương .

Ở hải ngoại, môi trường không có. Nghệ sĩ phải hành nghề phải hành nghề khác để mưu sinh cầu thực. Cho nên nghệ thuật cải lương ở hải ngoại bị dừng lại. Thế hệ trẻ của cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài có lẽ sẽ không còn hiểu hay không biết gì về ngành cải lương trong tương lai.Trong nước có tờ tuần báo « Sân khấu thành phố » thông tin những sinh hoạt của các nghệ sĩ cải lương. Trang nhà http://cailuongvietnam.com đăng tải những tin tức nghệ sĩ , hình ảnh, những bài viết về cải lương nói chung và một số trang nhà cho nghe và xem những vở tuồng cải lương hiện tại giúp cho chúng ta có một cái nhìn trung thực về hiện trạng của nghệ thuật cải lương. Nghệ thuật cải lương ngày nay vẫn tiếp tục phát triển trong nước và hy vọng rằng được bành trướng rộng lớn trong tương lai .

(Trần Quang Hải)

Image

keomienxa (Theo tranquanghai.info)

http://www.cailuongvietnam.com/clvn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1353

 Gửi tin qua email  Thảo luận

Những bản tin khác: 


Hà Đình Nguyên – Hoàng Kim – Đỗ Tuấn: Đờn ca tài tử từng xuất ngoại hơn 100 năm trước


MINH AN : Tình yêu trong chiến tranh qua nhạc tài tử


Tình yêu trong chiến tranh qua nhạc tài tử

Thứ ba, 18/02/2014, 00:11 (GMT+7)

Trong không gian nhỏ nhắn, ấm cúng, những tiếng đờn lời ca đã cùng nhau hòa quyện mang đến không khí khá sôi động tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh buổi tối cuối tuần. Những kỷ niệm của một thời đau thương nhưng hào hùng, tình yêu đôi lứa gắn liền với quê hương, đồng bào, đồng chí cứ ùa về trong xúc cảm. Thêm một lần nữa, âm nhạc tài tử lại trở thành nhịp cầu gắn kết người già với những người trẻ, gắn kết những tâm hồn đồng điệu.

        Sức mạnh tinh thần chiến đấu

Tình yêu, đề tài muôn thuở của thi ca nhạc họa, chính là điểm nhấn trong chương trình giao lưu đờn ca tài tử giữa CLB đờn ca tài tử (ĐCTT) xã Bình Ân, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang và các nghệ nhân tài tử của Hội Di sản văn hóa TPHCM. Không chỉ là cảm xúc mãnh liệt của người nam, người nữ mà tình yêu còn là tình cảm sâu sắc, bền chặt gắn liền với tâm thức dân tộc như: tình yêu quê hương, đất nước, con người; yêu cái thiện, cái đẹp, cái cao thượng. 

Tiết mục Tân cổ Rẽ mạ đầu mùa của 2 tài tử Thiên Liễu – Thế Châu

Hai bạn trẻ Hoài Hân – Trần Kim Phụng (CLB ĐCTT xã Bình Ân) đã mang đến buổi giao lưu câu chuyện của hai người yêu nhau với bài vọng cổ nhịp 32 Chợ Mới. Tác giả Trọng Nguyễn đã khiến cho tình yêu và nỗi nhớ nhung khi xa cách được dâng trào mãnh liệt qua những ca từ rất dung dị nhưng cũng đầy tính nghệ thuật, nhân văn. Hơn một tình yêu đẹp chính là tình yêu lớn đối với quê hương, là nhiệm vụ của người trai đối với Tổ quốc. Có lẽ vì vậy mà những người yêu tài tử cải lương đã quen thuộc với bài Chợ Mới trên sóng phát thanh từ hàng chục năm qua. Ngoài các bản tân cổ nổi tiếng, các nghệ nhân còn cống hiến cho khán giả nhiều bản hòa tấu đặc sắc thể điệu lưu thủy trường, ngũ đối hạ, liên nam, xuân tình, sương chiều – tú anh.

        Tự hào di sản văn hóa thế giới

Mấy chục năm công tác từ Đài Phát thanh Giải Phóng đến Đài Tiếng nói nhân dân TPHCM, NSƯT Ngọc Mai đã dành nhiều tâm huyết cống hiến cho nghệ thuật tài tử cải lương. Hành trang của những lần biểu diễn cải lương phục vụ chiến sĩ, bộ đội của chị có nhiều câu chuyện rất xúc động. “Trong một lần đi dự giải tài tử cải lương của một công ty cao su ở Tây Ninh năm 1978, tôi vừa ca xong thì có một anh bộ đội chạy ra ôm chầm lấy tôi không rời. Anh bảo vì tôi mà anh… thắng độ”, NSƯT Ngọc Mai kể. Chị còn đang ngạc nhiên thì anh kể câu chuyện của mình: Những ngày khói lửa chiến tranh, sau những giờ phút hành quân chiến đấu, anh và đồng đội hầu như không rời chiếc radio và đã hàng chục lần nghe giọng Ngọc Mai ca cải lương trên đài. Từ yêu mến giọng ca đến hình dung Ngọc Mai ngoài đời, các anh chia 2 phe “cá độ” nhau.

“Hôm nay gặp Ngọc Mai bằng xương bằng thịt tôi vui vì tôi thắng độ. Nhưng tôi cũng thật buồn vì người bạn thua độ của tôi năm xưa đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường. Bài ca này của Ngọc Mai tôi xin tặng lại cho người đồng đội ấy”, NSƯT Ngọc Mai kể lại câu chuyện mà mắt rưng rưng. Cùng góp thêm câu chuyện, nữ cựu tù chính trị Mười Thu cũng góp 6 câu vọng cổ dù không phải dân rành bài bản. 

Sau khi hưởng ứng chương trình bằng 2 câu vọng cổ bài Hoa mua trắng, bạn Trần Hoài Thương, sinh viên Trường Cao đẳng nghề du lịch Sài Gòn cho biết: “Là người dân Nam bộ, tôi rất tự hào vì ĐCTT đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được thế giới ghi nhận. Chúng tôi mong muốn có nhiều hơn những chương trình giao lưu như thế này để được hiểu biết thêm về nghệ thuật truyền thống của dân tộc”.

Đất thanh bình mạ xanh em cấy/ Một hạt mầm là mấy tình thương/ Hò lên ấm đất quê hương/ Cho mầm mở cánh mạ non đầu mùa… Lời bài ca như một bức tranh thanh bình phác họa một miền quê Nam bộ trù phú, giàu đẹp, một vùng sông nước hiền hòa, hoa thơm trái ngọt và những con người sâu nặng nghĩa tình. Cũng chính nơi miền quê thanh bình ấy, những giai điệu mượt mà của tài tử cải lương đã bén rễ, đơm hoa thành một “sản vật” không thể thiếu của bao thế hệ người Việt và của thế giới.

http://www.sggp.org.vn/amnhac/2014/2/340617/

MINH AN

HOÀNG PHƯƠNG : Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 2: Bạch Công Tử bị bỏ quên


Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 2: Bạch Công Tử bị bỏ quên

18/02/2014 03:15

Sau sự kiện UNESCO vinh danh nghệ thuật đờn ca tài tử là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, tỉnh Tiền Giang đã tổ chức lễ hội vinh danh những người có công đóng góp cho bộ môn này, nhưng đã bỏ quên một người có công lớn là Bạch Công Tử.

 >> Báu vật’ đờn ca tài tử

 Rạp hát Huỳnh Kỳ của Bạch Công Tử xưa, sau đổi thành rạp Lê Ngọc, rạp Viễn Trường và vài năm gần đây bị đập xây siêu thị sách - Ảnh: H.PH
Rạp hát Huỳnh Kỳ của Bạch Công Tử xưa, sau đổi thành rạp Lê Ngọc, rạp Viễn Trường và vài năm gần đây bị đập xây siêu thị sách – Ảnh: H.PH

Gánh hát, rạp hát đầu tiên

Tiền Giang được xem là cái nôi của nghệ thuật cải lương bởi vì ngay từ đầu thế kỷ 20, gánh hát và rạp hát cải lương đầu tiên của Việt Nam đã ra đời tại Mỹ Tho.

 

 
 
Trong bộ môn nghệ thuật sân khấu từ hát bội đến cải lương, chưa có nơi nào có rạp hát như thế, cho nên Tiền Giang hãnh diện có rạp Thầy Năm Tú, lại còn có rạp của Bạch Công Tử, rất phong phú
 
GS-TS Trần Văn Khê
 

 

Theo GS-TS Trần Văn Khê thì vào thời đó có một người không phải trong giới cải lương, nhưng lại mê cải lương và biến cải lương thành thương mại là ông André Lê Văn Thận, quê ở Sa Đéc. Bấy giờ ông Thận có gánh hát xiệc, vì vậy giữa những màn hát xiệc, ông cho xen vào tiết mục ca ra bộ để công chúng xem cho vui. Năm 1917, không hiểu vì sao ông Thận bán gánh xiệc lại cho thầy Năm Tú (tên thật là Châu Văn Tú, người làng Vĩnh Kim), một người rất mê nhạc tài tử cải lương. Năm 1918, thầy Năm Tú làm lại một gánh và đặt tên là “Gánh hát của thầy Năm Tú” chuyên giới thiệu nhiều tiết mục ca ra bộ. Tuy nhiên, thấy rằng cách làm đó không có vẻ nghệ thuật lắm vì khi diễn thì bài này không ăn với bài kia, vì vậy ông đã nhờ một nhà nho Trương Duy Toản đứng ra làm thầy tuồng và vở tuồng đầu tiên viết theo tích Kim Vân Kiều.

Cùng lúc, thầy Năm Tú cho xây một rạp hát cải lương đầu tiên ở Việt Nam tại Mỹ Tho và lấy tên là rạp hát Thầy Năm Tú. Bên trong rạp, khán giả được chia làm 3 hạng nhất, nhì, ba và hai bên sân khấu có một số phòng đặc biệt dành cho khách quý. Nhờ có rạp hát khang trang, chương trình đầy đủ nên gánh hát Thầy Năm Tú đã quy tụ được nhiều đào kép danh tiếng thời bấy giờ như Tám Danh, Ba Du, Năm Phỉ, Phùng Há… Ngoài ra, do có óc kinh doanh nên khi biết hãng đĩa hát của Tây là Pathé Phono, thầy Năm Tú đã mời đại diện hãng tới coi hát, họ thích quá nên đã ký hợp đồng ghi âm cải lương đưa vào đĩa. Và trong mỗi đĩa hát đều được mở đầu bằng câu: “Đây là gánh hát của thầy Năm Tú ở Mỹ Tho ca cho hãng Pathé Phono nghe chơi”.

Sau khi in đĩa, thầy Năm Tú còn nghĩ ra chuyện phối hợp với hãng Pathé Phono để lắp ráp máy hát đĩa đầu tiên tại Việt Nam. “Vào thời đó giá bán một máy hát tới 40 đồng và một đĩa hát 4 đồng, vậy mà khi đem xuống thôn quê giới thiệu được bà con thích quá. Đó là một cách “tiếp thị” vô cùng phong phú”, GS-TS Trần Văn Khê nói.

Không phải là nghệ sĩ cải lương mà làm ra rạp hát cải lương, làm ra đĩa hát cải lương và có công phổ biến nghệ thuật cải lương tới những nơi hẻo lánh của thôn quê Việt Nam, thông qua máy hát thầy Năm Tú. Đây là công lớn của thầy Năm Tú. Ông là người hào hoa phong nhã và cũng là người Việt Nam đầu tiên sở hữu xe hơi. Không thấy tài liệu nào ghi lại lý do vì sao thầy Năm Tú làm ăn sa sút, phải bán rạp hát lại cho người khác làm rạp chiếu bóng rồi được đổi tên thành Ciné Palace, sau đó đổi tên thành rạp Vĩnh Lợi, rồi bây giờ là Rạp Tiền Giang.

Người có công bị bỏ quên

Tại buổi tọa đàm Tiền Giang, cái nôi nghệ thuật cải lương ngày 18.1.2014, GS-TS Trần Văn Khê cho biết: “Ban tổ chức không nhờ tôi nói về Rạp Huỳnh Kỳ và gánh hát Phước Cương, nhưng ở Mỹ Tho thời đó có Bạch Công Tử (tên thật là Lê Công Phước, còn gọi là George Phước) con của Đốc phủ Lê Công Sủng. Ông Sủng không phải là người đờn ca tài tử, nhưng có đi cùng dàn nhạc của ông Nguyễn Tống Triều sang dự cuộc đấu xảo thuộc địa tại Pháp năm 1906, nhờ vậy mà Bạch Công Tử được đi du học ở Pháp vào năm 1909. Vốn là người mê nhạc tài tử, năm 1926 khi Bạch Công Tử gặp ông Nguyễn Ngọc Cương (thân phụ nghệ sĩ Kim Cương) thì hai người hùn lại lập ra gánh Phước Cương, là gánh hát đại quy mô đầu tiên và đã quy tụ được nhiều đào kép giỏi thời bấy giờ như Phùng Há, Năm Phỉ, Năm Châu… Tiếc là gánh này không tồn tại lâu. Sau đó Bạch Công Tử mới lập ra gánh Huỳnh Kỳ, lấy cờ vàng làm hiệu. Khi gánh Huỳnh Kỳ tan rã, cô Bảy Phùng Há (vợ Bạch Công Tử) mới lập gánh hát riêng”.

“Như vậy, trong thời kỳ sơ khai của cải lương, thầy Năm Tú có công lớn trong việc xây rạp hát đầu tiên rồi in đĩa, lắp ráp máy hát đĩa để phổ biến cải lương ra công chúng. Trong bộ môn nghệ thuật sân khấu từ hát bội đến cải lương, chưa có nơi nào có rạp hát như thế, cho nên Tiền Giang hãnh diện có rạp Thầy Năm Tú, lại còn có rạp của Bạch Công Tử, rất phong phú”, GS-TS Trần Văn Khê nhấn mạnh.

Tại Tiền Giang, Bạch Công Tử để lại một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên khu đất rộng bên cạnh rạp hát Huỳnh Kỳ, tọa lạc tại đường Đinh Bộ Lĩnh, Mỹ Tho. Là người đầu tư rất lớn cho nghệ thuật cải lương, vào thập niên 1930, khi Bạch Công Tử bị sạt nghiệp thì cả ngôi biệt thự và rạp hát đều bị bán lại cho ông Lê Ngọc Chiếu nên rạp hát được đổi tên thành rạp Lê Ngọc. Khoảng năm 1963, ông Chiếu bán rạp hát cho người khác và nó mang tên mới Viễn Trường, đến thập niên 1980 thì đổi thành rạp Mỹ Tho. Sau năm 1975, ngôi biệt thự của Bạch Công Tử được sử dụng làm trụ sở UBND P.3 rồi trụ sở Phòng VH-TT TP.Mỹ Tho và có thời gian bị bỏ không, gần đây thì được sửa chữa, sơn phết lại. Riêng rạp hát thì cách đây ít năm đã được đập để xây siêu thị sách. Nhưng có lẽ do kinh doanh ế ẩm nên siêu thị sách bây giờ thấy bán cả… quần áo, xoong nồi, dầu ăn, nước mắm… 

Hoàng Phương

 >> Vinh danh đờn ca tài tử – di sản văn hóa của nhân loại
 >> Tổ chức Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất
 >> Trao giải Hoa sen vàng Liên hoan Đờn ca tài tử TP.HCM 2013
 >> Đờn ca tài tử từng xuất ngoại hơn 100 năm trước
 >> Đờn ca tài tử được UNESCO công nhận di sản văn hóa phi vật thể

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140217/bau-vat-don-ca-tai-tu-ky-2-bach-cong-tu-bi-bo-quen.aspx

TIẾN TRÌNH : Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 4: 80 năm, một tiếng đờn


Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 4: 80 năm, một tiếng đờn

20/02/2014 03:15

 

Cây đờn kìm cứ vuột khỏi bàn tay ông. Bàn tay gầy guộc, run rẩy như không còn bấm nổi sợi dây căng. Đã 80 năm, tiếng đờn nhạt dần, yếu đi nhưng nghệ nhân già vẫn vui và tin rằng ngọn đuốc đã được truyền tay.

 >> Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 3: Nguyễn Vĩnh Bảo – đệ nhất danh cầm
 >> Báu vật đờn ca tài tử – Kỳ 2: Bạch Công Tử bị bỏ quên
 >> Báu vật’ đờn ca tài tử

 Nghệ nhân Tư Bền với ngón đờn kìm vang bóng một thời - Ảnh: Tiến Trình
Nghệ nhân Tư Bền với ngón đờn kìm vang bóng một thời – Ảnh: Tiến Trình

Tấm lòng “người giữ lửa”

95 tuổi, hơn 80 năm gắn bó với cây đờn, tiếng ca, nghệ nhân Tư Bền (Võ Văn Chuẩn, xã Mỹ Lệ, H.Cần Đước, Long An) giờ đã mãn nguyện khi liên tục nghe những tin vui về bộ môn nghệ thuật mà ông mang theo cả đời. Tại đình Vạn Phước (xã Lệ Thủy), nơi thờ linh vị nhạc sư Nguyễn Quang Đại – người được nhìn nhận như là một trong những “tổ sư” của bộ môn đờn ca tài tử (ĐCTT) Nam bộ, tên tuổi nghệ nhân Tư Bền cũng được vinh danh cùng với những nghệ nhân xứ Cần Đước như là người đã có công giữ gìn, truyền thụ bộ môn nghệ thuật này cho các thế hệ tài tử ở quê hương.

 

 
 
Không có đờn ca tài tử, người ta chẳng mấy khi tìm đến nhau và trở nên cô đơn biết bao ở vùng đất hãy còn hoang vắng. Đạo nghĩa, nhân tình cũng thiếu đi những cung bậc để ngợi ca…
 
 
 

 

Hôm chúng tôi đến, nghệ nhân Tư Bền lại hỏi: “Đình Vạn Phước có vui không?”, nơi các tài tử đờn, tài tử ca kéo về thi thố tại liên hoan được tỉnh Long An tổ chức đã 20 năm nay. Tối đến, anh Tám Toàn, con ông đờn kìm song tấu cùng nghệ nhân Út Bù (đờn ghi ta) đoạt giải A của liên hoan. Ông vui và nói tối nay sẽ kêu cháu nội chở đến đình. Mười mấy năm rồi ông ít ra khỏi nhà. Cũng đã mười mấy năm rồi, cây đờn kìm theo ông phần lớn cuộc đời giờ trở nên “ngang bướng”. Cánh tay yếu ớt để có thể đỡ cần, ngón tay run để có thể nắm phím… Nhưng nghệ nhân Tư Bền nói ông không buồn vì điều đó. Bởi lớp tri kỷ, tri âm của ông ngày trước giờ đã lần lượt về với ông bà. Ông nói, không có ĐCTT, người ta chẳng mấy khi tìm đến nhau và trở nên cô đơn biết bao ở vùng đất hãy còn hoang vắng. Đạo nghĩa, nhân tình cũng thiếu đi những cung bậc để ngợi ca…

Sinh ra trong gia đình có nhiều thế hệ theo nghề hát bội, nhạc lễ, ĐCTT, nghệ nhân Tư Bền lớn lên trong những ngày vùng Cần Đước quê ông đã nổi lên với nhiều tài tử đờn ca là thế hệ chân truyền của nhạc sư Nguyễn Quang Đại.

Học chơi nhạc từ năm 11 tuổi bởi người cha là nghệ nhân Tư Chí, lớn lên, Tư Bền còn tìm học ở các nghệ nhân tên tuổi trong vùng như Bảy Quế, Năm Giai, Năm Long, Hai Biểu… Những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, nghệ nhân Tư Bền đứng ra thành lập ban nhạc phục vụ khắp nơi. Cho đến khi chiến tranh ly loạn, phần lớn các thành viên trong ban ĐCTT của ông theo kháng chiến. Trong gia đình ông cũng có 4 người con thoát ly vào rừng… Ban ĐCTT của Tư Bền nổi danh một thời cũng đành rã đám.

Sống tốt hơn nhờ tiếng đờn

Trong bộ môn ĐCTT Nam bộ ở xứ Cần Đước, ông Tư Bền được coi là bậc “tiền bối” có nhiều đóng góp, giữ lửa phong trào, đào tạo nên các tài tử đờn, tài tử ca.

“Cháu coi, ai thích tiếng đờn, lời ca đều sống mở mang tấm lòng, đối xử với nhau bao dung hơn”, nghệ nhân Tư Bền tâm sự. Dân Lệ Thủy có lẽ nhiều người còn nhớ tình tri kỷ, tri âm giữa ông Tư Bền và thiếu tá Cang (Nguyễn Hữu Cang). Một người phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hòa, một người gia đình có nhiều thành viên theo kháng chiến. Thiếu tá Cang “ghiền” tiếng đờn kìm của ông Tư Bền, nên hay chạy về Chợ Đào để được nghe đờn hát. Một lần chạy xe về Chợ Đào tìm Tư Bền, thấy thiếu tá Cang trầm tư, Tư Bền hỏi khéo, ông Cang nói thiệt: “Có người “tố” tui chơi thân với gia đình Việt Cộng nên tui bị đổi đi”. Sau lần đó, biệt tin cho đến khi đất nước thống nhất. Sau khi “cải tạo” về, thiếu tá Cang gửi thư nói nhớ ngón đờn của ông Tư Bền. Nhận được thư, ông Tư Bền cùng một tri kỷ nữa đón xe lên Sài Gòn thăm ông Cang nhưng ông Cang đã xuất cảnh.

Sau này, ông Tư Bền vẫn cùng những bạn tài tử của mình xách đờn giao lưu khắp nơi. Ông truyền dạy cho nhiều đệ tử, hoàn thiện các ngón nghề. Trong số đệ tử của ông, có con ruột là Tám Toàn nối nghiệp cha với ngón đờn kìm nổi danh cả xứ Chợ Đào. Hôm chúng tôi ghé, ông nói bạn bè giờ cũng không còn, ông đờn cũng không còn như trước. Nhưng ông mãn nguyện vì ngọn lửa đã truyền tay.

Tiến Trình

 >> Vinh danh đờn ca tài tử – di sản văn hóa của nhân loại
 >> Tổ chức Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất
 >> Trao giải Hoa sen vàng Liên hoan Đờn ca tài tử TP.HCM 2013

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140220/bau-vat-don-ca-tai-tu-ky-4-80-nam-mot-tieng-don.aspx