ANVI HOÀNG: MỞ MÀN VỞ OPERA CHUYỆN BÀ THỊ KÍNH/ PREMIERE OF THE TALE OF LADY THỊ KÍNH


ANVI HOÀNG: MỞ MÀN VỞ OPERA CHUYỆN BÀ THỊ KÍNH/ PREMIERE OF THE TALE OF LADY THỊ KÍNH

 

lady thi kinh

 

If you want to hear the Buddhist chanting of Nam Mô A Di Đà Phật performed by Americans on large stage and learn something incredible about Vietnamese culture and people, you cannot miss The Tale of Lady Thị Kính by PQ Phan. Explanation about the chanting and observation of the workshop performance was published earlier on diaCRITICS. During the first two weekends in February 2014, the lights are on and the curtains are rolling up for real for the live performances. Here is some behind-the-scene information about the creation and production of The Tale of Lady Thị Kính. Scroll down for the English version that follows the Vietnamese one.

Nếu các bạn muốn nghe người Mỹ tụng Nam Mô A Di Đà Phật trên sân khấu lớn ở Mỹ và học thêm vài điều gì đó tuyệt vời về văn hóa và con người Việt Nam, các bạn không thể bỏ qua vở opera The Tale of Lady Thị Kính (Chuyện Bà Thị Kính) của nhà soạn nhạc P.Q. Phan. Một số lời giải thích về câu tụng niệm này và một số quan sát về buổi diễn tập hội thảo trước đây đã được diaCRITICS đăng rồi. Lần  này, vào các ngày cuối tuần của hai tuần lễ đầu tháng 2 năm 2014, đèn sẽ sáng choang và màn sân khấu sẽ được kéo lên thật sự: các buổi trình diễn bắt đầu. Sau đây là những thông tin ‘phía sau sân khấu’ về việc sáng tạo và dàn dựng vở opera Chuyện Bà Thị Kính.

Have you subscribed to diaCRITICS yet? Subscribe and win prizes! Read more details.

 Bà Thị Kính và tre ở IU Opera

Vở opera “Chuyện Bà Thị Kính” (The Tale of Lady Thị Kính) của nhà soạn nhạc P.Q. Phan (Phan Quang Phục) là vở opera lớn về văn hóa Việt Nam đầu tiên của nhà soạn nhạc người Mỹ gốc Việt được dàn dựng quy mô và chuyên nghiệp trên sân khấu Mỹ.

“Chuyện Bà Thị Kính” được sáng tạo dựa vào cốt truyện của vở chèo “Quan Âm Thị Kính” – một câu chuyện mà hầu như người Việt Nam nào cũng biết hoặc nghe qua ít nhiều, dù ít người biết cặn kẽ tất cả các chi tiết đặc sắc của nó.

“Chuyện Bà Thị Kính” / The Tale of Lady Thị Kính sẽ được mở màn tại sân khấu lớn của trường nhạc Jacobs tại trường đại học Indiana University vào ngày 7, 8, 14, 15 tháng 2 năm 2014.

Về quá trình sáng tạo

“Chuyện Bà Thị Kính” là câu chuyện về quá trình thăng hoa trở thành Phật của một cô gái trẻ. Thị Kính lấy chồng để cha được yên lòng. Sau đó bị đuổi khỏi nhà chồng vì sự hiểu lầm, Thị Kính phải giả trai đi tu ở chùa. Tại đây, Thị Kính, nay là Tiểu Kính Tâm, lại bị cô Thị Mầu lẳng lơ 13 tuổi tán tỉnh, và sau đó bị Thị Mầu đổ oan cho là cha của đứa bé trong bụng mình. Về chùa, Tiểu Kính Tâm lại mất nơi nương náu vì Su Cụ không thể che chở cho Kính Tâm nên cũng đuổi Kính Tâm ra khỏi chùa. Nghĩ đến những oan trái trong đời mình, Tiểu Kính Tâm lần nữa chấp nhận hy sinh để cho người khác được sống yên ổn. Tiểu Kính Tâm quyết định bồng đứa bé con Thị Mầu ra đi tìm đường sống mới. Sau ba năm ăn xin ở chợ, đứa bé đủ lớn, còn mình thì kiệt sức và đói khát, Tiểu Kính Tâm chết đi để lại một lá thư kể rõ mọi chuyện. Cảm động trước sự hy sinh quên mình của Thị Kính, Đức Phật tôn bà làm Phật bà Thị Kính.

The Tale of Lady Thị Kính là một câu chuyện đầy tính nhân bản phổ quát (universalism) về tình yêu, sự độ lượng (compassion) và sự hy sinh không giới hạn (selflessness), được viết lại dựa vào cốt truyện của vở chèo Quan Âm Thị Kính bắt nguồn từ thế kỷ thứ 10. Tuần bản chèo xưa đã được phát triển, nhiều chi tiết được thêm bớt suốt lịch sử biểu diễn của nó để thích nghi với môi trường và điều kiện biểu diễn ở từng nơi. Tiếp nối truyền thống này, P.Q. Phan đã viết nhạc, dựng lại tuần bản, và đặt tên tiếng Anh mới cho vở opera của mình là The Tale of Lady Thị Kính – tiếng Việt là Chuyện Bà Thị Kính. Để làm cho câu chuyện thích hợp với truyền thống opera của châu Âu, trong quá trình sáng tạo, nhà soạn nhạc đã phải lượt bỏ một số nhân vật hài được yêu thích đối với người Việt như Cụ Đồ, Cụ Hương, Thầy Bói; một số đoạn chọc cười không có ý nghĩa trong văn hóa châu Âu. Tuy nhiên, ông giữ lại những chi tiết gây cười mà người phương Tây có thể hiểu được, và viết thêm lời để tạo cơ hội cho dàn đồng ca lớn trình diễn.

 

thi kinh

 

Tuần bản mới không những giữ được bản chất văn hóa và văn chương Việt của tuần bản gốcQuan Âm Thị Kính mà còn làm cho người đọc cảm nhận được vở diễn về mặt tôn giáo hoặc/và như một tác phẩm phê phán xã hội. Trong những năm gần đây, câu chuyện Thị Kính đã được khai thác vì yếu tố tôn giáo là chủ yếu. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ từng dòng trong tuần bản, người ta sẽ nhận ra rằng tác phẩm này không đơn giản như thế. The Tale of Lady Thị Kính là tập hợp những tiếng nói đòi quyền sống. Dưới lăng kính xã hội, Thị Kính đại diện cho lối sống đứng đắn, mẫu mực, vị tha; Vợ Mõ là tiếng nói của những người được cho là thuộc tầng lớp thấp trong xã hội nhưng thông minh, đáo để; Thị Mầu là tiếng nói muốn phá vỡ sự kiềm chế của lễ giáo để đòi được tự do yêu đương. Có một câu chuyện ở thế kỷ thứ 10 ca ngợi một nhân vật đàn bà làm trọng tâm của các xung đột trong xã hội như thế này giống như một giấc mơ trở thành hiện thực đối với các nhà nghiên cứu về đàn bà ở phương Tây.

Vậy thì câu hỏi được đặt ra là: Liệu đây có phải là một câu chuyện về quyền lợi đàn bà? Nếu không thì tại sao các nhân vật đàn ông lại được miêu tả một cách tiêu cực trong tác phẩm? Vậy thì có phải câu chuyện Thị Kính được kể theo quan điểm của đàn bà hoặc còn có thể do tác giả đàn bà sáng tác? Câu chuyện Thị Kính sâu sắc nhiều tầng nhiều lớp và có thể đào sâu thêm nữa. Lúc đó, danh sách các câu hỏi có thể kéo dài ra.

Vở opera Chuyện Bà Thị Kính/ The Tale of Lady Thị Kính kể câu chuyện về Thị Kính, đồng thời sẽ miêu tả cuộc sống và văn hóa Việt Nam của thế kỷ 10. Theo phân tích của P.Q. Phan, cuộc đời của Thị Kính là một ví dụ cho thấy rằng một người đàn bà bình thường sống vì mục đích cao cả có thể trở thành một biểu tượng có ý nghĩa trong xã hội. Không thể chối bỏ ý nghĩa tôn giáo trong sự thăng hoa của Thị Kính, nhưng vở opera cũng là bằng chứng cho thấy rằng với tình thương, lòng độ lượng, sự kiên trì, một người đàn bà cuối cùng có thể thăng hoa trở thành Phật. Hơn thế nữa, Thị Kính cho thấy rằng ai cũng có thể trở thành Phật.

Về quá trình dàn dựng

IU Opera rất tự hào là có khả năng xây dựng phông cảnh từ đầu tới cuối, một điều mà rất ít các công ty opera ở Mỹ có thể làm được. Quá trình dàn dựng đang diễn ra ngay tại thời điểm này.

 

lady Thi Kinh-1

 

Các xe tải chở tre đã tới. Các bạn đã nghe tre nổ lách tách bao giờ chưa?

Giám Đốc Xưởng Vẽ, Mark Smith nói rằng: “Chưa bao giờ chúng tôi dùng tre với với quy mô lớn thế này. Một điều thú vị về tre là chúng vẫn tiếp tục giãn nở như một vật thể sống khi nhiệt độ thay đổi. Thỉnh thoảng chúng nổ tách một cái.” Những người khác trong xưởng gỗ như thợ mộc sân khấu cũng có thể làm chứng và kể cho bạn nghe về chuyện này vì họ cũng làm việc trực tiếp với tre.

Một điều thú vị hơn nữa là một phần tre được dùng trong vở opera Chuyện Bà Thị Kính là được lấy ngay tại Bloomington, trong vườn của một người dân Bloomington!

Lại nói, khái niệm âm nhạc của vở opera là ‘thăng hoa’. Đầu vở Chuyện Bà Thị Kính, âm nhạc mang tính ngây thơ, trong sáng, vui tươi, có thể nói là dễ dãi. Khi câu chuyện tiếp diễn, âm nhạc trở nên nghiêm túc hơn, nặng nề hơn, thiêng liêng hơn, và đầy kịch tính hơn. Để giúp chuyển tải khái niệm âm nhạc này, và cũng để khuyếch trương thế mạnh của trường nhạc Jacobs, nhà soạn nhạc đã cố tình dùng dàn cồng (chiêng) có giọng (pith gongs) gồm 30 cái. Chỉ có vài ba trường đại học và những nhà hát opera lớn trong nước Mỹ mới có một dàn cồng như thế mà thôi. Thật là một điều đặc biệt!

Nói chung, đạo diễn sân khấu Vince Liotta nói rằng “để làm cho vở opera mang cảm giác Việt Nam mà không phải châu Á chung chung hoặc giống Trung Hoa, nhóm dàn dựng (tất cả đều là người phương Tây) quyết định rằng thay vì cố gắng tìm cách dựng lại thật chính xác xã hội Việt Nam và sân khấu truyền thống của nó, chúng tôi lọc chúng qua con mắt phương Tây của mình.” Do đó vở opera sẽ vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại.

 

lady Thi Kinh-2

 

Và như thế, mời bạn tham gia vào một cuộc hành trình thăng hoa với nhiều tình tiết hấp dẫn, nhiều cám dỗ, đầy tình thương, sự dối trá, lòng độ lượng… đến Niết Bàn!

* Muốn đọc thêm chi tiết về quá trình sáng tạo và dàn dựng vở opera, xem tại:www.anvihoang.com. 

The Tale of Lady Thị Kính 
(Chuyện Bà Thị Kính) 
Âm nhạc và tuần bản: P.Q. Phan                                        

Do trường đại học Indiana University – Jacobs School of Music
đặt viết và dàn dựng lần đầu 

Biểu diễn tại Nhà hát Musical Arts Center 
Bloomington, Indiana
Ngày 7, 8, 14, 15 Tháng 2 Năm 2014 – Lúc 8g tối.

Giáo sư nhạc sĩ P.Q. Phan (Phan Quang Phục) là một nhạc sĩ sáng tác nhạc cổ điển đương đại (contemporary classical music), hiện sống tại Mỹ. Sáng tác của ông đã được trình tấu tại nhiều nơi trên thế giới và nhiều giàn nhạc nổi tiếng đã đặt ông soạn nhạc. Ông đã từng dạy nhạc tại University of Illinois ở Urbana-Champaign và Cleveland State University. Hiện ông là giáo sư hàm “Associate Professor” ngành sáng tác tại trường nhạc Jacobs School of Music, thuộc trường đại học Indiana University, ở Bloomington, IN. Xem thêm chi tiết tại đây.

Anvi Hoàng sinh trưởng tại Việt Nam, tốt nghiệp Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, sang Mỹ học cao học và rồi tìm thấy niềm vui trong việc viết lách tự do. Anvi viết thuần thục cả tiếng Anh và tiếng Việt. Viết để tung hô văn hóa Việt Nam và viết về sự thay đổi. Anvi thích khám phá thế giới ‘chân trong chân ngoài’ mà cô đang sống, và thích nước. Cô sống ở thành phố Bloomington, thuộc tiểu bang Indiana.

 

lady thi kinh

 

 Thị Kính and Bamboo at IU Opera

The Tale of Lady Thị Kính by P.Q. Phan is the first grand opera about Vietnamese culture by a Vietnamese American composer on large stage in the US.

The story is based on an ancient Vietnamese folk tale familiar with Vietnamese near and far, though not everyone can recall all the details in the story.

The Tale of Lady Thị Kính is premiered at IU Jacobs School of Music on February 7, 8, 14, 15 of 2014 in Bloomington, IN.

diacritics-donate_header_box_640x120

About the creation

The Tale of Lady Thị Kính is about a transcendental journey of a young fair lady to her Buddhahood. Kicked out of her in-law house because of a misunderstanding, Thị Kínhdisguises herself as a man to enter a monastery. There, pursued by a sexy 13-year old girl,Thị Mầu, for ‘his’ beauty and later accused of getting the girl pregnant, Thị Kính, nowTiểu Kính Tâm, once again faces denial of shelter when the head monk asks him to leave the temple. Tiểu Kính Tâm decides to accept the sins of others to grant them a new life by taking in Thị Mầu’s baby and goes to the market place to beg for food to raise the baby. Three years later he dies of exhaustion and starvation. He leaves behind the baby and a note telling his/her whole story. Admired for her self-sacrifice, Thị Kính is invited into Nirvana.

The Tale of Lady Thị Kính is a universal story about the beauty of love, compassion, and selflessness based on the long-standing theatrical script of Quan Âm Thị Kính in Vietnamese believed to be originated around the 10th century. This work is the most well-known in thehát chèo repertoire. The script has developed, details being added and subtracted throughout its history to make it suitable for performance purposes. Following this tradition, PQ Phan reconstructed the script and gave it a new title, The Tale of Lady Thị Kính. To make it adaptable to a Euro-centric Grand Opera work, during the creation process, the composer has eliminated some of the most beloved comic characters to the Vietnamese audience as well as a number of satiric sections which have no parallel meanings in Western culture. At the same time, he retained those that are understandable to the Western audience and added several sections to create an opportunity for the presence of a large chorus.

 

thi kinh

 

The reconstructed script adopts the substance and literary integrity of the original Quan Âm Thị Kính as closely as possible. Yet, it allows the readers to perceive the play as a religious and/or a social commentary work. In recent years, the story was explored and exploited mostly for its religious value. However, if one carefully examines each line in the script, then one can easily find it is not that simple. The Tale of Lady Thị Kính is a collection of critical voices wishing to tell their stories. Under the social kaleidoscope, Thị Kính represents the righteous, kind and generous people; Vợ Mõ is in for lower class people who are clever and wise; Thị Mầu is a voice of free love. To have a tenth-century story like The Tale of Lady Thị Kính featuring an esteemed female character (Thị Kính) at the center of all social tension is a dream-come-true story for Women Studies scholars, at the very least.

So the questions are: Is it a story about women rights? Why are all the male characters in their usual righteous ways not favorably portrayed in the work? Was this story in fact told from the female perspectives, or even created by female author(s)? And the list of questions can expand.

The Tale of Lady Thị Kính, after all, will be portraying Vietnamese life and culture in the 10thcentury as it tells the story of Thị Kính. Her life is a good example to show that an ordinary woman who lives life for a higher cause can become a meaningful symbolic figure in society. Without rejecting the inevitable religious interpretation of Thị Kính’s transformation, the opera presents evidence that with love, compassion, and perseverance, a woman can eventually transcend to become a higher being, and that you don’t have to be born a Buddha to become Buddha – in fact, as Thị Kính has shown, anyone can become Buddha.

About the production

IU Opera is proud to be building the set from scratch, something very few opera companies out there can do. The whole process is going on right now at the Musical Arts Center in Bloomington, IN.

Trucks of bamboo have arrived. Have you ever heard the bamboo pop?

 

lady Thi Kinh-1

 

Mark Smith, director of Scenic Painting and Props, said that they “have never used bamboo at this scale. It is interesting that the bamboo in the shop is still expanding like a living thing with the temperature changes, it pops once in a while.” Other people such as the scenic carpenters in the woodshop can testify to this as well for they are among those who work directly with the bamboo.

More interestingly, part of the bamboo used in the show is from Bloomington, right from the backyard of a Bloomington lady!

Musically, the concept of the opera is ‘transcendence.’ The The Tale of Lady Thị Kính starts with something naïve, bright, almost too cheerful, even cheesy, as PQ Phan described it. As the story progresses the music becomes more serious, darker, more sacred and more dramatic. To help deliver this musical theme and also to showcase IU Opera’s incredible capability, the composer used two full octave of pitch gongs (30 in total) in the orchestra. Less than a handful of universities in the US possess a full set of these tune gongs! What a privilege!

In general, “… to make the opera feel Vietnamese and not generic Asiana or pseudo-Chinese,” stage director Vince Liotta said “[…] the production team (all Westerners) decided that instead of trying to duplicate a strict representation of Vietnamese society and its theatre traditions, we would filter them through our Western eyes.”

 

lady Thi Kinh-2

 

That said, please join us for a transcending journey full of intrigue, lust, love, deceit, compassion … to Nirvana!

* For more in-depth analysis and description about the creation and production processes, visit www.anvihoang.com.

The Tale of Lady Thị Kính
A Two-Act Melodrama Opera
Music and Libretto by P.Q. Phan                                        

Commissioned, Produced and Premiered by
Indiana University – Jacobs School of Music 

Performances at the Musical Arts Center
Bloomington, Indiana
February 7th, 8th, 14th, and 15th of 2014 at 8 PM

 

P.Q. Phan has written a large variety of genres including symphonies, opera, chamber music, and song cycles. He is currently an Associate Professor of Music in composition at Indiana University, Jacobs School of Music. He had previously taught at University of Illinois at Urbana-Champaign and Cleveland State University. More details here.

Anvi Hoàng grew up in Vietnam and received her bachelor degree from the National University in Hồ Chí Minh city. She came to the US for graduate studies and have found happiness in writing. She makes it one aim to celebrate Vietnamese culture in her writing. A bilingual writer in English and Vietnamese, Anvi enjoys exploring the in-between worlds she is in, and loves water. She lives in Bloomington, IN.

   

Do you enjoy reading diaCRITICS? Then please consider subscribing! See the options to the right, via feedburner, email, and networked blogs.

Please take the time to rate this post (above) and share it (below). Ratings for top posts are listed on the sidebar. Sharing (on email, Facebook, etc.) helps spread the word about diaCRITICS. And join the conversation and leave a comment! What are you most looking forward to on the premiere of The Tale of Lady Thị Kính? Which aspect of its creation and production surprised you the most?

                                                                                                                                                                              

This entry was posted in Anvi HoàngArtColumnsLiteratureMost Critical January 2014MusicPerformanceUSA,Vietnam and tagged . Bookmark thepermalink.

5 RESPONSES TO ANVI HOÀNG: MỞ MÀN VỞ OPERA CHUYỆN BÀ THỊ KÍNH/ PREMIERE OF THE TALE OF LADY THỊ KÍNH

  1. Lantuat says:

    My congratulations!!!

  2. Lantuat says:

    You are great, phuc!

  3. Almost ready – Congratulations!

  4. Le Dao says:

    That is wonderful! My forever dream! Congratulation!!!

LEAVE A REPLY

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Name * 

Website 

Comment 

http://diacritics.org/2014/anvi-hoang-mo-man-vo-opera-chuyen-ba-thi-kinh-world-premiere-tale-lady-thi-kinh

Giọng ca trù mượt mà của các nghệ nhân dân gian


Giọng ca trù mượt mà của các nghệ nhân dân gian

VOV Online – 27/10/2011 07:18

Giong ca tru muot ma cua cac nghe nhan dan gian

(VOV) – Các ca nương một thời vang bóng như Nguyễn Thị Chúc, Nguyễn Thị Khướu, Nguyễn Thị Vượng và NSƯT Phó Thị Kim Đức vẫn làm say đắm lòng người.

Nghe đọc truyện đêm khuya Nghe Tiếng thơ Những tình khúc thế kỷ Cửa sổ tình yêuGiọng hát của họ là nhân chứng cho sức sống tiềm tàng của một di sản văn hóa, đại diện của nhân loại.

Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống lâu đời, hết sức độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, mang tư tưởng và triết lý sống của người Việt sâu sắc.

Ra đời từ sớm, Ca trù được hoàn thiện cơ bản về lối hát chơi vào thế kỷ XV, và trải qua quá trình phát triển lâu dài, Ca trù đã xâm nhập vào hầu hết các mặt của đời sống người Việt, khẳng định tư cách độc lập và độc đáo trong bức tranh văn hóa chung của dân tộc.

Sự hồi sinh của nghệ thuật Ca trù trong khoảng vài năm trở lại đây ít nhiều ghi dấu ấn của các câu lạc bộ Ca trù, mà hoạt động của họ dần dà đã đem đến cho nghệ thuật Ca trù hơi thở mới./.

http://www.baomoi.com/Giong-ca-tru-muot-ma-cua-cac-nghe-nhan-dan-gian/52/7243315.epi

XUÂN PHONG – PHƯƠNG LAN : Giáo phường ca trù Thăng Long: Mong được trở lại… như xưa


Giáo phường ca trù Thăng Long: Mong được trở lại… như xưa

Báo Tin tức – 18/10/2012 09:47

CLB ca trù Thăng Long do đào đàn Phạm Thị Huệ, giảng viên khoa Nhạc cụ dân tộc, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Chủ nhiệm Giáo phường ca trù Thăng Long (tiền thân là CLB ca trù Thăng Long), cùng hai người thầy của mình là nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc và Nguyễn Phú Đẹ thành lập tháng 8/2006 với mong muốn bảo tồn nghiệp tổ ca trù, gìn giữ những nét độc đáo của văn hóa dân tộc.

 

Hơn 6 năm nay, Giáo phường ca trù Thăng Long đã góp phần không nhỏ vào việc gìn giữ và phát huy ca trù, đồng thời là nhóm đi tiên phong trong việc phục hồi hình thức hát cửa đình với đầy đủ các thể thức như dàn bát âm và các làn điệu múa hát cổ cửa đình.

Là người được học chân truyền từ hai nghệ nhân nổi tiếng là cụ Nguyễn Phú Đẹ, nghệ nhân đàn đáy nổi tiếng ở Tứ Kỳ (Hải Dương) và cụ Nguyễn Thị Chúc – một trong số ca nương đích thực hiếm hoi của làng ca trù còn sót lại cho đến ngày nay, chị Phạm Thị Huệ thấy mình là người thật may mắn, và chị mong muốn sẽ có nhiều người cùng học, cùng gìn giữ để nghệ thuật này phát triển. 

Lúc đầu, chị dạy cho người trong nhà, nhưng lại lo khi con, em mình trưởng thành, nếu không yêu nghề mà bỏ. Vì vậy, trong đêm kỷ niệm một năm thành lập CLB, chị đã đưa ra một số phiếu mời đăng ký tham gia lớp dạy ca trù miễn phí. Rất may, có khá đông em đăng ký xin học. Từ đó đến nay, CLB của chị vừa tổ chức biểu diễn, vừa dạy hát, dạy đàn cho nhiều người theo học. Hiện chị đang truyền dạy cho hàng chục học trò, thính giả, trong đó có cả cô con gái nhỏ của chị là đào nương Nguyễn Huệ Phương. Tuy mới hơn 10 tuổi, nhưng Phương đã có thể trình diễn những làn điệu khó nhất của môn nghệ thuật này. 

Một buổi biểu diễn của Giáo phường ca trù Thăng Long.

Với tinh thần trở về với cội nguồn, CLB ca trù Thăng Long đã thuyết phục được Ban quản lý đình làng Giảng Võ, quận Đống Đa, đình Ngọc Hà, đình Cống Vị (quận Ba Đình) cho phép được hoạt động trong khuôn viên. Sau 3 năm “đỏ đèn” biểu diễn và truyền dạy ca trù ngay trong khuôn viên cửa đình, đến làng Giảng Võ. Từ tháng 10/2010, Giáo phường ca trù Thăng Long kết hợp với Ban Quản lý phố cổ Hà Nội biểu diễn tại đền Quan Đế, 28 Hàng Buồm vào tối thứ 7 hàng tuần. Đến tháng 10/2011, Giáo phường ca trù Thăng Long tiếp tục có thêm điểm biểu diễn mới tại Ngôi nhà di sản 87 Mã Mây vào các ngày thứ 3, 5, 7 hàng tuần. 

Với mục đích phục dựng lại canh hát chơi, ca quán mẫu mực của giáo phường xưa kia, nên các tiết mục biểu diễn ở đây chủ yếu là những làn điệu cổ như: Hát dâng hương, Tỳ bà hành, Bắc phản, Hát ru, Thét nhạc, Hát nói, Hát mưỡu… Hoạt động này đã mang lại nhiều hy vọng cho ca trù trở lại với đời sống xã hội ngày nay, đồng thời tôn vinh, trân trọng những di sản của cha ông để lại.

Tháng 3/2010, CLB ca trù Thăng Long chính thức ra mắt Giáo phường ca trù Thăng Long. Từ đây Giáo phường ca trù Thăng Long bắt đầu khôi dựng tổ chức mẫu mực của giáo phường xưa kia với mong muốn ca trù sẽ luôn được truyền dạy trong tương lai.

Đứng trên phương diện người quản lý CLB ca trù Thăng Long, hơn ai hết ca nương Phạm Thị Huệ ngoài việc làm sao cho các ca nương, kép đàn có thể sống được bằng nghề, chị còn mong ước ca trù có thể phát triển như… thuở xưa. Tuy nhiên, chị cũng rất buồn khi thấy một số người dân trong khu phố cổ Mã Mây phàn nàn và đề nghị dừng biểu diễn vì nghe… “ghê quá”. 

Nhưng nhiều người trong nghề thì cho rằng, đôi khi chỉ cần một khán giả nghe và hiểu, cảm nhận là đủ, không cần phải đòi hỏi quá nhiều, bởi loại hình âm nhạc nào cũng có một lượng khán giả nhất định. Hy vọng trong tương lai, số lượng khán giả biết nghe và thưởng thức ca trù sẽ ngày càng nhiều lên, lúc đó sẽ tăng được số lượng các buổi diễn, đêm diễn, để tiến tới, những đêm diễn của Giáo phường ca trù Thăng Long sẽ trở thành tụ điểm giới thiệu, giao lưu văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Xuân Phong – Phương Lan

http://www.baomoi.com/Giao-phuong-ca-tru-Thang-Long-Mong-duoc-tro-lai-nhu-xua/71/9564370.epi

NGUYÊN PHƯỚC : Nghệ nhân cao tuổi đã đôi phần yên tâm


Nghệ nhân cao tuổi đã đôi phần yên tâm

(PL&XH) – Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc đã lặng lẽ truyền dạy hát Ả đào cho nhiều người. Trong số đó, có người đã trở thành ca nương, xuất hiện trong nhiều đêm diễn ở Hà Nội, nhiều tỉnh thành, trên chương trình phát thanh, truyền hình.

Image

cụ Nguyễn Thị Chúc, ca nương nhí Huệ Phương, Phạm Thị Huệ, Nguyễn Phú D

Nhưng người mà nghệ nhân gửi gắm nhiều hy vọng, có lẽ là cô bé sinh năm 2000. Bà thổ lộ trong niềm vui không che giấu: Cháu Huệ Phương nhỏ tuổi nhưng sáng dạ, giọng hát trong trẻo hiếm có. Nhiều lời ca, điệu hát phức tạp, cháu chăm chú lắng nghe, tập tành. Vài ngày sau đã thấy cháu luyến láy, nhả lời khéo ra trò. Thật may mắn khi có các cháu đam mê, theo học Ca trù. Nếu có nhắm mắt, tôi cũng đôi phần yên tâm, Ca trù đang được lưu giữ trong tâm hồn những người yêu bộ môn dân ca cổ, kén người này… Cô bé mà nghệ nhân Chúc gửi gắm hy vọng là Nguyễn Huệ Phương. Năm nay em mới bước vào tuổi 13, nhưng đã sớm hấp thu Ca trù từ khi 6 tuổi. Mẹ Huệ Phương là ca nương Phạm Thị Huệ, Chủ nhiệm CLB Ca trù Thăng Long. Thoạt đầu, Huệ Phương vô tư bắt chước mẹ hát. Bà vừa làm vừa hát, cô con gái nhỏ cứ theo thế mà đớp lời. Nhưng đến một lúc người mẹ nhận ra con gái của mình đã hát khá chuẩn một số điệu đặc trưng của Ca trù. Lúc đó bà mới bắt đầu có ý dạy con gái những bài cơ bản, từ dễ đến khó. Biết tài năng của nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, dù đường xa, cách Hà Nội trên 40 cây số, mẹ con vẫn lặn lội đến thụ giáo. Tuổi đã cao, nhưng có người đến xin học Ca trù, nghệ nhân Chúc như trẻ lại, tay phách, miệng hát… cứ theo đó học trò của đào nương bắt chước mà nhập tâm. Biết cơ bản, chỉ mới là bước làm quen. Nhưng để hồn Ca trù vào được đào nương, phải công phu, bền bỉ dạy và học. Cuối khóa truyền dạy, nghệ nhân hài lòng với sự tiến bộ trông thấy của Nguyễn Huệ Phương. Mới 9, 10 tuổi, cô bé đã hát được 10 trong số 20 điệu Ca trù còn lưu giữ được cho đến ngày nay. 9 tuổi, Huệ Phương là thành viên CLB Thăng Long. Những khi mẹ và các cô bác đi biểu diễn, Huệ Phương cũng lên sân khấu, cùng các đào nương thành danh ca hát. Thật bất ngờ công chúng vỗ tay, đề nghị Huệ Phương biểu diễn thêm. Em coi đó như một khích lệ, giúp em tự tin vào mình hơn. Không chỉ hát, em còn tập gõ phách, đánh trống chầu. Phải biết những bộ môn liên quan đến hát, khi thể hiện mới thật ăn ý với trống, phách, một đòi hỏi khắt khe của Ca trù. 

Buổi đầu tiên đi biểu diễn, Huệ Phương hồi hộp, chỉ lo hát sai cả nhịp phách. Nhưng thật may, em đã thành công. Đó là năm Huệ Phương tròn 6 tuổi, mới đặt chân vào lớp một trường tiểu học Kim Đồng. Từ đó cô ca nương bé nhỏ đã được các cô bác đưa đi biểu diễn thường xuyên hơn. 

Năm 2010, Ca trù được UNESCO vinh danh là di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Cùng với hát Cung đình, dân ca Quan họ và hát Xoan là niềm tự hào văn hóa Việt Nam. Huệ Phương tâm sự:

– Thoạt đầu, cháu thấy mẹ hát, vui mà hát theo. Nhưng khi mẹ và đặc biệt cụ Chúc dạy, cháu mới hiểu Ca trù phong phú lắm. Muốn hát, muốn thưởng thức cái hay của Ca trù phải nhiều năm trau dồi, học hỏi. Giờ đây Ca trù trở thành niềm tự hào của nước mình, được thế giới tôn vinh, cháu càng hiểu. Được hát, được truyền bá Ca trù cho nhiều người biết để chia sẻ, thưởng thức cái hay, cái quý của Ca trù là một niềm hãnh diện.

Nguyên Phước

BÌNH MINH : Lớp ca trù toàn ả đào 9X


Thứ bảy, 28/9/2013 | 17:26 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|

Lớp ca trù toàn ả đào 9X

Chiều chủ nhật hàng tuần, tiếng phách, trống, đàn cùng tiếng hát của các cô đầu ở độ tuổi 10-19 tuổi lại vang lên trong ngôi nhà ngói của danh ca Nguyễn Thị Chúc (83 tuổi) ở thôn Ngãi Cầu, Hoài Đức, Hà Nội. 
ca-tru_1380075662.jpg
Con cháu cụ Chúc quây quần bên cụ học hát vào chiều chủ nhật hàng tuần. Các ca nương say sưa luyện tập suốt 4 tiếng đồng hồ. Ảnh: Bình Minh.

Suốt 7 năm qua, lớp học đặc biệt của cụ Chúc diễn ra đều đặn trong ngôi nhà nhỏ này chỉ với 2-3 học trò. Quây quần bên ấm trà nóng, đĩa bánh nướng trên chiếu hát giữa nhà, 4 ca nương trẻ thay nhau cất giọng. Trên tay họ, 3 thẻ phách gõ lách cách xuống một thanh tre đặc tạo nên thanh âm vui tai. Vây quanh các ả đào là đám em nhỏ 9-10 tuổi ngồi nghe say sưa và thỉnh thoảng lẩm nhẩm theo lời bài hát. Ở mỗi câu hát hay, cụ Chúc gõ một tiếng “chát” bên hông chiếc trống nhỏ như để khen ngợi, hưởng ứng. Vừa gõ trống, cụ vừa chỉnh sửa, uốn nắn từng câu hát cho các ca nương rồi cùng hòa giọng cho đỡ nhớ nghề.

Ở tuổi ngoại bát thập, danh ca từng làm say đắm bao tao nhân mặc khách một thời vẫn giữ được chất giọng trong, nguyên chất ca trù. Cặp kính lão to bản của bà gật gù tâm đắc mỗi lần thưởng thức một làn điệu do học trò của mình thể hiện. Trong số 4 ca nương đến lớp học hôm nay, một nửa là con cháu của cụ Chúc.

Cháu chắt nội của cụ Chúc, Đặng Thị Hường (19 tuổi) và Nguyễn Nhung (17 tuổi) đã theo học ca trù được 7 năm nay. Hiện Nhung học văn hóa ở trường THPT Hoài Đức B và hệ trung cấp của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam, còn Hường là sinh viên năm nhất của ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. Hàng tuần, cả hai vẫn đều đặn biểu diễn ca trù phục vụ khách ở căn nhà cổ trên phố Mã Mây, Hà Nội.

ca-tru-1.jpg
Bài học đầu tiên các ả đào được dạy là gõ 5 khổ phách. Ảnh: Bình Minh.

10 tuổi, hai cô bé bắt đầu học hát. Một lần được xem cụ biểu diễn ở hội làng, Nhung và Hường bị hút hồn bởi tiếng phách chắc, nảy cùng tiếng hát trong vắt. Ngay hôm sau, Nhung và dì Hường dắt nhau tới nhà cụ “tầm sư học đạo”. Trong ký ức của mình, Nhung còn nhớ như in buổi học đầu tiên. Bên ánh đèn dầu leo lét lúc xẩm tối, hai dì cháu ngồi đối diện với cụ Chúc. Là con cháu trong nhà nhưng trước khi chính thức được nhận, cả Nhung và Hường đều phải qua vòng thử giọng. Cụ hát mẫu trước một câu rồi yêu cầu các cháu dùng giọng thật, không hát giọng gió, cả hai hát theo, thấy giọng ổn mới gật đầu.

Hai ả đào trẻ chia sẻ, lúc học, cụ Chúc thường kể cho cháu gái nghe, ngày xưa cụ hay đi hát ở phố Khâm Thiên. Các nhà trò mời cô đào, kép đàn đến còn quan viên là khách nhưng bây giờ quan viên là người trong nhóm hát. Khách nghe thấy hay sẽ ném thẻ gọi là trù xuống chậu vì thế mà gọi là ca trù hay hát thẻ. Trên thẻ trù có ghi mệnh giá tiền. Hết buổi, ca nương sẽ đem thẻ đi đổi tiền. Ca nương nào được càng nhiều thẻ thì nhận nhiều tiền và chứng tỏ hát hay.

Nhắc đến những ngày đầu mới làm quen với ca trù, hai cô đầu nhăn nhó kêu “khó lắm”. Nhung tâm sự, đã rất nhiều lần muốn bỏ cuộc nhưng sau đó được cụ và mẹ động viên, cô lại tiếp tục cố gắng.

“Mới đầu, em không nghe được đàn nên hát bị chênh. Nhiều lần như thế, em bực mình phát khóc. Sau đó, năm lớp 8 em thi vào nhạc viện, hiểu nhạc lý nên mới khắc phục được điểm yếu này”, Nhung nói.

Bài học đầu tiên cụ Chúc dạy cho các cháu là gõ 5 khổ phách. Hai cô bé được yêu cầu phải gõ đủ, đúng vào câu hát trong bài. Khó nhất ở bài học này là nẩy phách bởi lúc đầu tập, Nhung và Hường cầm phách gượng gạo, chỉ gõ được tiếng đơn mà chưa gõ được tiếng kép. Để tập luyện, hai dì cháu mua tre về chẻ ra làm phách học gõ ở nhà. 3 buổi tối trong tuần, cả hai lại chạy sang nhà cụ học phách, học hát rồi mới ghép phách.

Theo Nhung, cụ Chúc hát kiểu nhẹ nhàng, sâu lắng, không gân guốc nhưng khó bắt chước được cụ. Câu hát vắt xuống hay vắt lên phải đúng như cụ, hát sai sẽ bị cụ chỉnh. Ngày mới học, cả hai bị chỉnh từng câu, từng chữ nhưng giờ, chỉ chỗ nào quên, hai cô mới phải hỏi lại cụ. Nhiều lần nghe cụ hát, Nhung và Hường cũng có thể đoán được câu trước vắt lên hay vắt xuống.

ca-tru-2_1380075698.jpg
Nhung đến với ca trù không chỉ bởi gia đình có nghề mà còn muốn gìn giữ môn nghệ thuật truyền thống. Ảnh: Bình Minh.

Hai ca nương cho hay cụ ghi lời bài hát ra giấy cho các cháu học. Lời bài hát khó hiểu, khó đọc nên Nhung và Hường thường cố thuộc mà chẳng hiểu nghĩa, chỉ hát theo bản năng. Hát xong cụ nói ý nghĩa bài hát, hai cô mới vỡ ra.

“Cụ bảo có cô đào nhỏ được ông này thích nhưng lúc lớn lên, cô ấy lại chê ông đó già. Cụ nói qua như thế để mình cảm thụ và hát có hồn hơn. Bây giờ chúng em chỉ cần một tuần là hát được nhưng khi ấy phải mất 2-3 tháng”, Nhung nhớ lại.

Ca nương 17 tuổi tâm sự, không phải ả đào nào cũng chơi được cả phách, trống và đàn. Trên chiếu hát, ca nương là tâm điểm thu hút sự chú ý của người nghe nhưng thực tế họ chỉ là học trò của kép đàn. Với Nhung, cô học thêm đàn tỳ bà ở Học viện Âm nhạc, còn trống học lỏm mỗi lần ngồi nghe cụ gõ. Để khỏi quên, sau mỗi buổi học, cô mang đàn, phách về nhà cùng ngồi hát với mẹ. Hiện tại, Nhung và Hường đã có thể hát được vài chục làn điệu như hát nói, bắc phản, tỳ bà, xẩm… Mỗi làn điệu có nét đặc trưng và độ khó khác nhau, trong đó khó nhất là cung bắc, tỳ bà.

Khi đã biết hát, Nhung và Hường hay được cụ dẫn theo cùng trong mỗi lần được mời biểu diễn. Ngày còn nhỏ, bạn bè của Nhung và Hường hay trêu hai cô “dở hơi” đi học hát “ỉ a ỉ ơi, chẳng ra thế nào”. Lý giải cho điều này, Nhung chia sẻ, mỗi người có sở thích riêng và cô yêu thích ca trù không chỉ bởi gia đình có nghề mà còn muốn gìn giữ môn nghệ thuật truyền thống này.

Cô gái trẻ thừa nhận, “biết hát ca trù rất lợi thế khi đi thi ở trường”. Trong các cuộc thi tài năng, Nhung thường giành được giải đặc biệt. Đến giờ, thầy cô và bạn bè trong trường đều ủng hộ Nhung mỗi lần cô xuất hiện trên sân khấu. Hôm nào không xuống học cụ, cô nàng lại cảm thấy nhớ tiếng “i, ư”.

Khác với Nhung và Hường, Đặng Linh Hương (17 tuổi) tuy không phải con nhà nòi nhưng cuối tuần vẫn vượt vài chục cây số cùng bố xuống nhà cụ Chúc học đàn, hát. Chị của Hương, ca nương Đặng Thị Huệ, vốn là đệ tử chân truyền của cụ Chúc. Ngày còn nhỏ, Hương được bố mẹ đưa đi học hát, múa ở cung văn hóa cho vui. Sau, gia đình muốn con học một môn nghệ thuật nào đó, lại sẵn có chị gái theo đuổi ca trù, Hương đến với môn hát thẻ này từ đó. Lúc mới nghe thấy “buồn cười”, lạ lẫm nhưng càng học, những làn điệu ca trù ngấm dần khiến cô gái gốc Nam Định càng thêm gắn bó.

“Ca trù tĩnh, sâu sắc, ngấm rồi mới thấy hay. Không gian hát mang đậm hồn Việt nên lúc hát, em thấy tâm hồn thư thái”, Hương nói.

ca-tru-3_1380075730.jpg
Hương (ngoài cùng bên trái) và Hường (ngoài cùng bên phải) biểu diễn ca trù tại ngôi nhà cổ trên phố Mã Mây, Hà Nội. Ảnh: Facebook câu lạc bộ ca trù Thăng Long.

Ban đầu, Hương học chị gái nhưng sau vì bận học văn hóa nên không hát được thường xuyên. Sau này, cô đầu ấy được gửi xuống nhà cụ Chúc sinh hoạt trong lớp gồm các bạn cùng lứa. Hương thừa nhận, giọng mình không thuộc dạng xuất sắc nên phải thường luyện tập kỹ thuật lấy hơi. Ở nhà, ả đào này có bài tập là cúi đầu lúc ngồi hát để âm khỏe và dầy.

Hương cho biết, lúc hát, không lấy hơi từ cổ họng mà từ dưới bụng lên mới sâu. Lúc trước quen hát nhạc mới, giờ chuyển sang kiểu cổ nên bản thân Hương thấy rất khó. Ngoài luyện lấy hơi, ca nương trên còn phải tập nẩy và ém hơi. Mỗi lần nghe băng cụ Chúc hát, Hương đều “choáng” vì nghệ nhân nẩy và ngân nga rất nhiều.

Thích ca trù nhưng Linh Hương tâm sự sau này chỉ xem công việc biểu diễn như một nghề phụ bởi theo cô, ca trù không nhiều đất diễn và bấp bênh. Năm tới, cô dự định sẽ thi vào trường mỹ thuật theo nghề vẽ của bố.

Video biểu diễn của các ả đào 9x, 10x:

Ca trù là môn nghệ thuật lâu đời, sang trọng, tao nhã và kén người nghe. Trước đây, ca trù vốn chỉ được truyền cho những người trong dòng tộc nhưng nay, để bảo tồn văn hóa truyền thống, các danh ca như cụ Nguyễn Thị Chúc đã cởi mở dạy cho người ngoài, miễn học trò ấy phải có tài và tâm.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca trù, nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc học hát từ năm lên 9 tuổi. Thời ông bà, cha mẹ cụ thường được mời tới hát cho các quan nghe. Năm 12 tuổi, cụ bắt đầu cùng cha mẹ biểu diễn ở đình. Đi hát từ nhỏ lại được rèn luyện thường xuyên nên cô đào Nguyễn Thị Chúc ngày nào sớm lĩnh hội được những kỹ thuật khó của ca trù.

Theo cụ Chúc, cụ bắt đầu lớp học ca trù này từ năm 2006. Các ca nương chủ yếu là con cháu trong nhà. Ca nương già tâm sự, nhiều người ngoài thích học nhưng do nóng vôị nên chỉ theo được vài buổi. Chỉ vào Nhung và Hường đang ca, cụ Chúc chia sẻ: “Hai đứa ấy học đã 7-8 năm nay mà giờ mới ca được thế này, mười phần mới chỉ được chín rưỡi”.

Theo cụ, xét về khuôn khổ, mẫu mực, các cô đầu trẻ ấy hát khiến người trong nghề “không chê được”, tuy nhiên để hay, cần thời gian và sự trải nghiệm. Cụ Chúc cho biết thêm, nghe ca trù phải hiểu lời bài hát, nếu không sẽ không thích.

“Lời bài hát của các cụ ngày xưa cao siêu, sâu xa, nghe hay lắm. Vậy nên bây giờ mà bỏ thì tiếc”, danh ca tâm sự.

Bình Minh

http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/nhip-song/lop-ca-tru-toan-a-dao-9x-2884950.html

NGUYỄN QUANG LONG : Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc: Như ngọn đèn trước gió


 

Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc: Như ngọn đèn trước gió

Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc và ca nương Phạm Thị Huệ trong một lần biểu diễn ca trùNghệ nhân Nguyễn Thị Chúc và ca nương Phạm Thị Huệ trong một lần biểu diễn ca trù
TP – Mới mấy hôm trước, ca nương Phạm Thị Huệ – chủ nhiệm Giáo phường ca trù Thăng Long, đệ tử chân truyền của nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc vẫn suốt ngày bần thần mong có phép màu giúp bà hồi lại. Nhưng giờ có lẽ khó, Bệnh viện Bạch Mai chẩn đoán suy thận nặng, bà đã trơ về Ngãi Cầu (Hoài Đức, Hà Nội).

Truân chuyên đời hát

Ngoài sân, anh em con cháu đã quây quần. Ông Nguyễn Bá Phi em ruột bà Chúc lập nghiệp trong Nam nay trở ra, bùi ngùi: “Nhà tôi có truyền thống hát ca trù, từ nhỏ chị đã thích hát nên được bố mẹ dạy. Hai cụ rất nghiêm khắc, gõ cái phách không đúng là cụ cầm cái dùi quật vào tay đau điếng”. 

12 tuổi Chúc chính thức hát cùng giáo phường của gia đình ở Khâm Thiên, Ngã Tư Sở nhưng tháng ngày êm đềm chẳng được bao lâu thì biến cố thời cuộc đã khiến ca trù chìm vào quên lãng.

Năm 1945, Nguyễn Thị Chúc tròn 16. Cao trào cách mạng tháng Tám đang hừng hực, ca nương trẻ tạm quên nhịp trống tiếng phách để tham gia đội văn công tuyên truyền. Ông Phi kể: “Chị tôi hát trên xe lưu động, bắt đầu từ phố Khâm Thiên đi qua Hàng Bột, Ô Chợ Dừa rồi qua Thái Hà tới Ngã Tư Sở. 

Đến giờ tôi vẫn thuộc những lời chị tôi hát: Ai có bầu nhiệt huyết, thề giết bọn xâm lăng, để cứu lấy hai mươi nhăm triệu đồng bào… Tuyên truyền động viên phong trào Nam tiến, động viên phụ nữ thì hát Giờ này chồng con chị em ta tiến ra sa trường, hát khúc quân ca vang lừng dậy bốn phương…”.

Chủ nhiệm CLB Ca trù Ngãi Cầu – Chu Chí Cang tiếp lời: Thời kỳ tản cư, nhiều người trở về quê nhưng bà Kim Đức (chị em họ hàng) vào Đài Tiếng nói Việt Nam, còn ông Hạ (nghệ nhân người Quốc Oai) cùng bà Chúc được vào Đoàn ca múa nhạc dân tộc trung ương. 

Có đợt xuống tận Hà Nam, bà hát bài về chài lưới bắt cá động viên làm nông nghiệp được đài truyền thanh Phủ Lý giới thiệu. Thời điểm đấy đi văn nghệ chủ yếu hát chèo, cải lương đủ cả nhưng ca trù thì ít được hát do không phù hợp với không khí vận động.

Đến năm 20 tuổi, gia đình bà chuyển hẳn về Ngãi Cầu sinh sống. Bà bén duyên anh lính Nam bộ tập kết. Hai ông bà có 6 mặt con. Đồng lương ít ỏi của ông không đủ nuôi gia đình, bà phải vất vả chợ búa với gánh hàng xén. Cuộc sống bộn bề lo toan bà vẫn không quên tiếng hát gia truyền. Bà tham gia văn nghệ ở làng, ngày hội thì ra đình hát thờ.

Bẵng đi hơn bốn chục năm, năm 1995 nhà nước chủ trương phục hồi ca trù. Kể từ thời điểm đó cho đến hôm nay là quãng thời gian hạnh phúc nhất đối với nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc bởi bà được thoải mái hát ca, truyền dạy cho lớp sau và được ghi nhận, cho dù chỉ là sự động viên tinh thần chứ chưa có chính sách hay ưu tiên vật chất nào.

Mong manh ngọn đèn

Image

Anh Vượng, con trai út của bà cho biết: “Chiều 24/3 cụ từ viện về, tối hôm sau tưởng cụ đi nhưng đến sáng lại thấy êm êm”. Bác Phấn, cháu gái bà tiếp lời: “Trước bà khỏe, hàng ngày rảnh các cháu lại đến để bà dạy. Giờ nhìn cả 3 đứa cháu nối tiếp nghề (hai cháu và một chắt ngoại) quây quần bên bà mà rớt nước mắt”. 

Phạm Thị Huệ chỉ chực khóc: “Bà đã truyền lại được cho các cháu rồi thì kể cả trường hợp xấu vẫn phải giữ bằng được truyền thống ca trù của gia đình, của làng. Hai hôm nay không dám nói ra vì không muốn bà nghĩ ngợi, nhưng phải có một nhà lưu niệm sau khi bà ra đi, nơi đó sẽ trưng bày những hình ảnh về cuộc đời bà. Các cháu sẽ là những người trực tiếp giới thiệu hoặc hát cho khách xa gần tới tìm hiểu về ca trù và truyền thống gia đình”.

Bà Chúc coi Huệ như con gái út. Ông Phi gợi mở: Xưa khi mẹ ông mất, có bà Phượng học trò đến xin khăn và chịu tang thầy như một người con. Theo ông Phi “quân sư phụng” là một nét đẹp trong ca trù, người trò có hiếu coi thầy không khác mẹ cha. Mấy hôm nay hôm nào Huệ cũng thức trắng đêm bên bà. 

Huệ cũng ngỏ ý muốn xin khăn đen cho mình và khăn vàng cho con gái nhưng bà còn do dự mặc dù lúc tỉnh bà vẫn liên tục hỏi Huệ đâu. Chắc có lẽ bà đã tính đến chuyện nếu cho Huệ khăn đen cũng đồng nghĩa với việc theo lệ làng, cùng với con cháu trong nhà bà, chị Huệ sẽ không được lên đình hát trong 3 năm. Đồng nghĩa hội làng sẽ thiếu vắng đi tiếng hát cửa đình mất vài năm, mà điều đó đối với bà là không thể được.

Image

Nguyễn thị Chúc (ca nương), Nguyễn Phú Đẹ (đàn đáy)

Kể từ sau khi NSND Quách Thị Hồ ra đi, cùng với nghệ nhân Phó Thị Kim Đức và Nguyễn Phú Đẹ, bà Chúc được ví như một trong số ít ỏi vốn quý còn sót lại của ca trù đất Thăng Long.

http://www.tienphong.vn/van-nghe/nghe-nhan-ca-tru-nguyen-thi-chuc-nhu-ngon-den-truoc-gio-690746.tpo

This blog is focused on Trân Quang Hai