THIÊN HƯƠNG : Nghệ sĩ Vũ Minh Vương và những năm khốn khó cuối đời


Nghệ sĩ Vũ Minh Vương và những năm khốn khó cuối đời

07/03/2014 18:35

 

(TNO) Từng là kép chính của nhiều đoàn cải lương nổi tiếng vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990 nhưng những năm cuối đời, nghệ sĩ Vũ Minh Vương lại lâm vào cảnh khốn khó, sống nhờ vào lòng hảo tâm của mọi người.

>> Nghệ sĩ Vũ Minh Vương qua đời
>> Chuyện cổ tích Vũ Minh Vương


Lễ viếng nghệ sĩ Vũ Minh Vương diễn ra tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8, TP.HCM) – Ảnh: Thiên Hương

Nhiều lần giành giật sự sống từ tay thần chết

Mang trong mình nhiều căn bệnh như bệnh gan, tim mạch, tiểu đường, cao huyết áp, đau bao tử…, những năm cuối đời của nghệ sĩ cải lương Vũ Minh Vương hầu như gắn liền với chiếc giường bệnh với bao lần vào sinh ra tử.

Chị Ngọc Oanh (người vợ sau của nghệ sĩ Vũ Minh Vương) kể lại, vào năm 2005, chị và người thân từng một phen rụng rời chân tay khi bác sĩ lắc đầu trước căn bệnh gan, tiểu đường thời kỳ cuối của anh. Thế nhưng, “nhờ trời thương”, nghệ sĩ Vũ Minh Vương đã vượt qua được một cách thần kỳ.  

Dẫu vậy, bệnh tật vẫn liên tiếp hành hạ người nghệ sĩ tài hoa. Cách đây vài năm, trong một lần đi diễn bằng xe máy, anh đã gặp tai nạn dẫn đến dập bán cầu trái, tích tụ máu bầm trong não, rơi vào trạng thái hôn mê phải nằm điều trị dài ngày tại Bệnh viện 115 (TP.HCM).

 
 
Dù không làm việc hay tiếp xúc nhiều với anh Vũ Minh Vương nhưng gia cảnh khó khăn của anh ấy, anh em trong nghề đều biết. Cách đây khoảng 10 ngày, khi nghe tin anh ấy nhập viện trong tình cảnh khó khăn, chúng tôi từng góp tiền để giúp anh ấy. Không ngờ anh ấy lại ra đi nhanh như vậy…  
 
NSƯT Minh Vương
 

Từ sau đợt điều trị này, sức khỏe của anh suy yếu và phải nằm dưỡng bệnh ở nhà. Đến tháng 6.2013, một lần nữa, anh lại nhập viện trong nguy kịch với các triệu chứng ói ra máu và khó thở.

 

“Lúc đó trong người không một đồng dính túi, gia cảnh lại đơn chiếc, tôi phải nhờ hàng xóm cùng đưa anh vào bệnh viện cấp cứu. Cũng may, có những người hàng xóm tốt bụng cho mượn một số tiền để giúp anh điều trị qua cơn nguy khốn”, chị Oanh kể.

Tuy nhiên, do không đủ tiền nằm viện, vài ba ngày sau, chị Oanh đành ngậm ngùi đưa anh về điều trị tại nhà…

Người vợ tận tụy 

Là nguồn thu nhập chính trong gia đình nên từ khi anh Vũ Minh Vương suy yếu, mọi gánh nặng đều trút lên vai người phụ nữ trẻ. Từ chuyện sinh hoạt cá nhân của anh cho đến việc xoay sở kiếm tiền thuốc thang, cơm cháo mỗi ngày đều do một tay chị Oanh lo liệu.

Gắn bó với nhau từ năm 1997, kém chồng gần 25 tuổi, người ta bảo “chồng già vợ trẻ là tiên” nhưng đời chị hầu như dành trọn thời gian để chăm sóc chồng. Những lần bác sĩ lắc đầu, bó tay nhưng chị vẫn nhất quyết không chịu đầu hàng, cố giữ lại anh trên cõi đời.

Trong câu chuyện với Thanh Niên Online, chị luôn nhắc đến người chồng với vẻ trìu mến: “Anh ấy lúc nào cũng tốt với tôi. Tình cảm bao nhiêu năm không đổi. Đó là lý do vì sao khi anh ấy bệnh, tôi vẫn luôn bên cạnh ảnh”.

Nói đến đây, chị lại không cầm được nước mắt: “Thôi thà anh ấy cứ nằm đấy để tôi được chăm sóc, để có anh bên cạnh…”.

Anh Giỏi, người làm việc tại Viện dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8, TP.HCM), nói: “Anh Vương được một cái là đến cuối đời có một người vợ tuyệt vời, sẵn sàng hi sinh tuổi xuân chăm sóc anh ấy suốt 5 – 6 năm nay”. 

 


Vợ của nghệ sĩ Vũ Minh Vương chia sẻ về người chồng của mình – Ảnh: Thiên Hương

 

Sống trọn với nghề

Nghệ sĩ Vũ Minh Vương tên thật là Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1955, tại Tân Châu, An Giang. Anh từng là kép chính trong nhiều đoàn cải lương nổi tiếng như đoàn Văn Công, Thanh Nga, Trúc Giang…, từng hát cặp cùng các nữ nghệ sĩ Lệ Thủy, Mỹ Châu… và được khán giả yêu mến qua các vai diễn trong những vở như Thạch Sanh – Lý Thông, Lưu Bình – Dương Lễ…

Khi sân khấu cải lương khó khăn, anh chuyển sang làm bầu các chương trình ca nhạc và hát tân cổ. Một dạo, anh cùng vợ mở quán theo kiểu “hát với nhau”, một mặt để kiếm sống, một mặt để duy trì đam mê ca hát và tạo sân chơi cho anh em yêu thích ca hát, cải lương. Nhưng rồi, chuyện làm ăn thất bại, nợ nần chồng chất khiến gia đình rơi vào cảnh túng thiếu.

Anh Quang Phú, anh em kết nghĩa của nghệ sĩ Vũ Minh Vương, cho biết những năm sau này, dù sức khỏe yếu nhưng nghệ sĩ Vũ Minh Vương vẫn gắng gượng đi hát cho đỡ nhớ nghề và kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Anh chủ yếu hát đám tiệc nên thu nhập khá bấp bênh, có tháng chỉ kiếm được vài trăm ngàn. Hai vợ chồng cứ thế mà sống nương tựa vào nhau trong cảnh ở thuê, ở mướn suốt 10 năm trời.

“Mấy lần gặp nhau, anh ấy cứ thở dài cầu cho tổ đãi để có thể lấy lại được hơi mà đi ca hát phục vụ mọi người”, anh Quang Phú chia sẻ.

Khi sắp lâm chung, nghệ sĩ Vũ Minh Vương vẫn thều thào nói rằng: “Anh muốn khỏe lại, muốn được đi hát vì nhớ anh em nghệ sĩ”.

Nguyện vọng của người nghệ sĩ này là được nằm lại cùng các anh em nghệ sĩ trong Chùa Nghệ Sĩ (quận Gò Vấp, TP.HCM) nên gia đình đã quyết định hỏa táng, sau đó mang tro cốt vào chùa.

Thiên Hương

>> Bất ngờ với cải lương
>> Nở rộ cải lương phòng trà
>> Violin “giao duyên” với cải lương giữa phố
>> 100 nghệ sĩ Việt Nam trong bài hát cải lương
>> Nhiều hoạt động kỷ niệm 95 năm nghệ thuật cải lương
>> Xem “Đêm trước ngày hoàng đạo”: Khi cải lương đẹp đến bất ngờ!

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140307/nghe-si-vu-minh-vuong-va-nhung-nam-khon-kho-cuoi-doi.aspx

VÂN TRƯỜNG : Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 4: Bạch công tử và cô đào Phùng Há


Mỹ Tho – Tiếng đờn câu hát trăm năm – Kỳ 4:

Bạch công tử và cô đào Phùng Há

08/03/2014 12:40 (GMT + 7)
 
 
TT – Gần cùng thời với gánh hát Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho còn có gánh hát Huỳnh Kỳ của Bạch công tử cũng đình đám ngang nhau. Bạch công tử cũng cất một rạp hát cho riêng mình ngay bên cạnh nhà ông ở tại P.3, TP Mỹ Tho bây giờ.

>> Kỳ 1: Ban nhạc tài tử Mỹ Tho đi Tây
>> Kỳ 2: Rạp Thầy Năm Tú và vở diễn đầu tiên
>> Kỳ 3: Bạch công tử và cô đào Phùng Há

 

Sở dĩ gánh hát Huỳnh Kỳ gây tiếng vang là vì có dàn diễn viên hùng hậu, đi lưu diễn khắp nơi bằng thuyền máy chứ không phải thuyền chèo như các gánh hát khác. Ngoài ra, gánh hát này còn thu hút mọi người bởi sự hiện diện của cặp vợ chồng rất nổi tiếng thời bấy giờ: Bạch công tử và cô đào Phùng Há.

Công tử nhà giàu mê cải lương

Bạch công tử tên thật là Lê Công Phước (sinh năm 1897), là con ông đốc phủ Lê Công Sũng ở Mỹ Tho. Nhà giàu nên Phước được cho đi du học tại Pháp bảy năm và nhập quốc tịch Pháp, lấy tên là Phước George. Thời ấy ở miền Tây có hai công tử giàu có, nức tiếng ăn chơi là công tử Bạc Liêu (Hắc công tử) và công tử Mỹ Tho chính là Phước George (Bạch công tử).

Ông Vương Hồng Sển kể trong hồi ký của mình thế này: một năm nọ ở chợ Sóc Trăng xảy ra cuộc đụng độ giữa hai công tử, một người đen là Hắc công tử ở Bạc Liêu, một người là Bạch công tử ở Mỹ Tho nổi tiếng đào hoa, ăn chơi hào phóng. Khi buổi hát đã về khuya, Hắc công tử lấy ví thuốc ra hút. Loay hoay thế nào mà tờ giấy con công 5 đồng bạc lúc ấy từ trong túi rơi xuống đất nên phải sờ soạng, mò mẫm dưới đất tìm như lão thợ may đánh mất kim. Bạch công tử thấy mắc cỡ giùm nên hỏi:

– Toa (Toi – tiếng Pháp có nghĩa là anh, mày…) làm gì kỳ cục vậy?

– Moa (Moi – tiếng Pháp có nghĩa là tôi, tao…) kiếm tờ giấy con công. Đ.M. mới rớt xuống đây là mất tiêu như có ma giấu.

– Nè, để moa cho mượn cây đuốc.

Nói rồi Bạch công tử lấy tờ giấy Vingt (20 đồng bạc) đốt lên soi sáng cho Hắc công tử tìm tờ 5 đồng bạc.

Sau khi thầy Năm Tú mở gánh hát cải lương, vùng đất Mỹ Tho cũng rộ lên phong trào lập gánh hát. Bạch công tử cũng rất mê cải lương và quen nhiều đào, kép ở xứ này nên cùng với ông Nguyễn Ngọc Cương lập gánh hát Phước Cương năm 1926. Thế nhưng chỉ khoảng một năm thì Bạch công tử tách ra thành lập gánh hát Huỳnh Kỳ và cưới cô đào nổi danh lúc bấy giờ là Phùng Há làm vợ (bà Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo, sinh năm 1911 và mất năm 2009). Sau đó Bạch công tử đầu tư tiền của xây dựng rạp hát Huỳnh Kỳ vào năm 1928 và sắm bốn chiếc thuyền lớn chạy bằng máy được trang bị đầy đủ để đi lưu diễn khắp nơi. Gánh hát Huỳnh Kỳ của vợ chồng Bạch công tử-Phùng Há nổi danh không thua gì gánh hát Thầy Năm Tú lúc bấy giờ vì quy tụ lực lượng đào, kép đình đám như Phùng Há, Ba Vân, Tám Du, Năm Phỉ…

GS-TS Trần Văn Khê cho biết thêm thời ấy chỉ có duy nhất gánh hát Huỳnh Kỳ đi lưu diễn bằng ghe máy, dùng cờ vàng làm hiệu. Chiếc đi đầu dành riêng cho chủ gánh có lầu, giống như một du thuyền hay dinh thự trên bờ với nhiều phòng đầy đủ tiện nghi như: phòng ngủ, phòng ăn, phòng giải trí. Ba chiếc sau dành riêng cho đào-kép hát và chở đạo cụ. Để tạo khí thế, mỗi lần thuyền rời bến Bạch công tử cho đốt pháo vang dội rồi cả ba chiếc ghe hụ còi inh ỏi. Bạch công tử bắn chỉ thiên một phát súng lục, ra lệnh khởi hành. Khi đến nơi diễn thì Bạch công tử cho kéo cờ lên, bắn ba phát súng, đào kép cùng ca bài Đoàn ca viết về đoàn Huỳnh Kỳ. Gánh hát này đi đến đâu gây tiếng vang đến đó, khán giả tới xem rất đông. Bạch công tử còn thuê võ sĩ quyền anh người Philippines theo bảo vệ đoàn cùng với các thân hữu là võ sĩ người Việt.

 

Hết tiền thì bán đất để hát tiếp

Một trong số ít người còn sống hiện nay biết khá rõ về cuộc đời của bà Phùng Há chính là người cháu gọi bà bằng ngoại-bà Nguyễn Thị Bích Hoa (52 tuổi, thường gọi là Thủy) đang sống ở chùa Nghệ sĩ tại Gò Vấp, TP.HCM. Bà Hoa kể rằng từ nhỏ bà đã theo phụ giúp bà Phùng Há nên biết và được nghe kể lại nhiều chuyện từ rất xưa. Bà Hoa cũng là người ghi chép lý lịch và các sự kiện liên quan đến bà Phùng Há khi bà còn sống.

Bà Hoa kể cho chúng tôi nghe khá nhiều chi tiết về gánh hát Huỳnh Kỳ và mối tình ngắn ngủi của Bạch công tử – Phùng Há. Tài sản mà bà Hoa cất rất kỹ và nâng niu như báu vật mấy chục năm nay chính là album hình thời trẻ của ngoại Phùng Há. Chỉ tay vào bức ảnh cô gái trẻ đẹp mặc áo dài có ghi chú “Phùng Há 17 tuổi – gánh Huỳnh Kỳ”, bà Hoa nói rằng bà Phùng Há làm vợ Bạch công tử khi chỉ mới 16-17 tuổi. Trước đó, năm 15-16 tuổi bà Phùng Há đã làm vợ của nghệ sĩ Tư Chơi nhưng chia tay sau đó không lâu.

Tuy nhiên mối lương duyên Bạch công tử-Phùng Há chỉ kéo dài được bảy năm. Hai người sinh hai con nhưng cả hai đều chết khi chỉ được vài tháng tuổi. “Ngoại kể lại là khi sống với Bạch công tử bà rất hạnh phúc, được xem như bà hoàng lúc bấy giờ. Có điều Bạch công tử nổi tiếng đào hoa, ăn chơi xả láng nên nhiều lúc ngoại cũng buồn. Ngoại là người rất mê hát, được Bạch công tử bỏ tiền lập gánh hát rồi đi diễn khắp nơi nên dù buồn ngoại cũng không phiền hà chồng bởi bà quan niệm về hạnh phúc rất giản đơn là được hát cải lương phục vụ khán giả là vui rồi” – bà Hoa kể.

Vở cải lương ra mắt của gánh hát Huỳnh Kỳ là Giọt máu chung tình do thầy tuồng Nguyễn Công Mạnh dựng. Trong vở này, Phùng Há đóng vai Bạch Thu Hà, Năm Thiên đóng vai Võ Đông Sơ. Ngoài ra, gánh hát Huỳnh Kỳ còn diễn nhiều vở gây tiếng vang là: Trần Hưng Đạo bình Nguyên, Người đàn bà không tên, Kim Tinh nương xuất thế, Tình chung tình…

Ghe hát của đoàn Huỳnh Kỳ đi các tỉnh miền Tây thường chọn các sân đình lớn để dựng sân khấu, bán vé, biểu diễn. Mỗi nơi như vậy gánh hát thường ở lại hát liên tục 7-10 ngày vì mỗi lần dựng và tháo dỡ sân khấu rất cực nhọc. Phùng Há chỉ mê ca hát, không quan tâm chuyện làm ăn của gánh hát Huỳnh Kỳ. Bạch công tử cũng không quan tâm mà giao cho người quản lý. Nhiều lúc bán vé ế, gánh hát khó khăn thì Bạch công tử về Mỹ Tho bán đất. Cách bán đất của Bạch công tử cũng không giống ai vì bán lần một “mớ” chứ không đo đạc gì hết. Nếu người mua đất than thở thiệt thòi thì Bạch công tử cho thêm một “mớ” nữa như bán rau ở chợ vậy.

Ngoài ra, theo thạc sĩ Lê Ái Siêm, Bạch công tử luôn mang theo một đội bóng để thi đấu giao lưu với địa phương nơi gánh hát Huỳnh Kỳ tới. Ban ngày đội Huỳnh Kỳ đấu với đội bóng địa phương. Dù thắng hay thua Bạch công tử cũng chiêu đãi tiệc và mời xem hát cải lương buổi tối. Vì vậy buổi diễn nào cũng rất đông người xem. Một bằng chứng khác cho thấy gánh hát Huỳnh Kỳ có khán giả rất đông là hồi ký Nổi trôi trong ánh đèn màu của nghệ sĩ Bảy Nhiêu. Trong hồi ký này ghi: “Đến 3 giờ chiều thì vé các hạng của gánh Huỳnh Kỳ đều hết. Nhiều người thất vọng đón buổi tối để mua cho được vé đêm mai”.

Cũng theo bà Nguyễn Thị Bích Hoa, lúc sinh thời bà Phùng Há hay nhắc nhiều đến Bạch công tử dù hai người chia tay nhau từ lâu. Bà bảo thời ấy người ta còn gọi Bạch công tử là “công tử Uy” (oui, tiếng Pháp có nghĩa là đồng ý). “Bạn bè đến nhà chơi, thấy bộ salon đẹp nên ngỏ ý xin, Bạch công tử lập tức nói: “Uy, toa cứ lấy về xài đi!”. Rồi bất cứ thứ gì trong nhà, thậm chí đang mang trên người mà bạn bè xin ông cũng trả lời ngay “Uy”. Cũng vì xem trọng bạn bè, ăn chơi xả láng, phóng khoáng như vậy nên chẳng mấy chốc tài sản, của cải của Bạch công tử “đội nón ra đi” hết và trở thành người trắng tay. Khoảng năm 1930, hầu hết gánh hát cải lương ở VN rơi vào khó khăn. Gánh hát Huỳnh Kỳ của đại công tử Bạch công tử cũng không ngoại lệ.

Đến năm 1935 Bạch công tử cho phục hồi gánh hát Huỳnh Kỳ nhưng không còn gây tiếng vang nữa. Một thời gian ngắn sau gánh hát này tan rã và mối tình trai tài gái sắc Bạch công tử – Phùng Há cũng kết thúc. Sau khi chia tay Phùng Há, Bạch công tử tiếp tục ăn chơi đến mức phải sống nhờ bạn bè. Ông được Nguyễn Hoàng Phi (con trai Huyện Chung) ở Chợ Gạo, Tiền Giang đưa về cưu mang, chăm sóc. Khoảng năm 1950 Bạch công tử qua đời. Còn Phùng Há sau khi chia tay Bạch công tử đã được gánh hát Trần Đắc của ông Trần Đắc Nghĩa ở Cần Thơ mời về làm đào cho gánh hát này.

VÂN TRƯỜNG

_____________________

Kỳ tới: Thầy Năm Châu

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/596991/bach-cong-tu-va-co-dao-phung-ha.html#ad-image-0

TRAN QUANG HAI : ABOUT DR. TRẦN VĂN KHÊ (life honorary member of the ICTM)


ABOUT DR. TRẦN VĂN KHÊ (life honorary member of the ICTM)Image

 

The Board of the ICTM asked me to have an interview with my father, Dr. Trần Văn Khê when he was offered the title of “life honorary member” of the ICTM .

         Dr. Trần Văn Khê is now living in Vietnam, therefore I had to interview him over the telephone.

Trần Quang Hải (TQH) : Hello, Daddy. Are you there?

Trần Văn Khê (TVK): Who’s speaking ?

TQH: I am Hải, your son calling you from France.

TVK : Oh, my dear son. I’m glad to hear your voice. How are you?

TQH : I’m fine Dad. I would like to ask you something and I wish you will accept it.

TVK : What is it? If it’s not so difficult, I’ll be happy to do it for you, my son.

TQH: You know, I made a recommendation that you be offered the title of “life honorary member” of the ICTM last year in Shanghai during the board meeting. As the Board accepted my recommendation, all Board members asked me to write a paper about you under the form of a dialogue . I accepted that request .

And that is the reason why I am calling you today to ask you if we can have a talk over the telephone about your life, career and especially your activities when you were member of the ICTM. Is it possible for us to do so now?

TVK (after a short silence): You know, son, I am getting old. My memory is not good enough to remember all those things . But if you ask me easy questions, I‘ll try to do my best to give you the answers you are looking for. OK ?

TQH (with a smile and laugh): Thank you very much Daddy. You are really my beloved father, always . Now I can start the interview with you. Are you ready ?

TVK: I am. What can I start with ?

TQH: You can start by telling me about who you are, where you were born, and a summary of your career.

TVK : Well, I was born on July 24th 1921, in a small village called Bình Hòa Đông in the province of Mỹ Tho, in the southern part of Vietnam. During my time in Vietnam, I studied medicine at the Medical College of the University of Hanoi from 1942 to 1943. Then I went to France in 1949. In Paris, I first studied political science at the Institut d’Etudes Politiques where I obtained my diploma in 1951. Then I was very ill, and for 4 years, I was  hospitalized at many hospitals in France. During that time, I thought a lot of Vietnamese traditional music. As I was born into a family of 4 generations of traditional musicians, I decided to study musicology at the Sorbonne University in Paris upon my recovery from illness in 1955. In 1958, I obtained the degree of Doctor in Musicology at the Sorbonne University. Since that date, I devoted all my time to do research and teaching musicology and participating in various international conferences on musicology until I decided to go back and live in Vietnam in 2004.

TQH: Great Dad. Can you tell me about different positions you held during your professional life ?

TVK : There are many. I was Director of Research at the Centre National de la Recherche Scientifique (C.N.R.S.), professor at Paris-Sorbonne University (1958-1988), and Honorary Member of the Conseil International de la Musique (UNESCO). My scientific research along with my activities in traditional music (participation in numerous festivals, several recordings edited with Ocora, l’Unesco and A.C.C.T.) have enabled me to receive many distinctions and prizes from prestigious universities, academies and international institutions around the world. My expertise includes all Asian music, particularly Indian, Persian, Chinese, Japanese and Arabic musical traditions. Having lived in Paris for about 55 years, and travelled around the world to lecture and to perform, I have played a key role in introducing Asian music into the western world. In the past 55 years, I have supervised  a  sizable number of Ph.D. dissertations and taught thousands of students all over the world.

TQH : Can you give me some important dates of your working experience ?

TVK : I can’t remember them all. But I can give you some dates: from 1960 to 1988, I was researcher at the Centre National de la Recherche Scientifique in Paris. I was guest professor at many universities (1968 at UCLA, California, USA; 1972 at University of Southern Illinois, USA; 1973 at University of Montreal, Canada; 1975-1985 at Catholic Institute in Paris, France; 1979 at Intercultural School in Venice, Italy; 1981 at Liszt Academy of music in Budapest, Hungary; 1983 at University of Hawaii at Manoa, USA; 1984-1987 as Director of a seminar at Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, in Paris, France; 1985 at University of Western Australia in Perth, Australia; 1988 at University of Hawaii at Manoa as a Fullbright scholar; 1989 at University of the Philippines, in Manila, Philippines. From 1966 to 1988, I was professor at University of Paris – Sorbonne and supervised more than 40 Ph.D. dissertations on Asian music. I was the founder of the Centre d’Etudes de Musique Orientale in Paris in 1959, etc… Those were my major activities when I lived in France.

TQH : Thank you Dad. Apart from all the things you have just mentioned, did you give any lectures on musicology in other countries? I suppose that you had given many.

TVK : You are right my son. I gave 2 lectures on Asian music and on methodology in ethnomusicology, as well as several hundreds of other lectures at numerous Universities around in the world, namely Berkeley, Maryland, Baltimore County USA, (1988) Central Conservatory of Beijing, Conservatory of TianJian, Xian (People’s Republic of China 1987), Antatanarivo, Madagascar (August 1985), Kunitachi College, Japan (July 1985), Wellington, New Zealand (November 1984), Venice, Italy (March 1984-April 1985), Harvard, USA (June 1982) Conservatory Tchaikovsky, Moscow, USSR (May 1981), National Institute of Music of Algeria (August 1980), National Center for the Performing Arts, Bombay, India (Sept. 1979), Teheran, Iran (June 1976) Conservatory of Saigon, Buddhist University of Vạn Hạnh, Catholic Institution Taberd, Centre Culturel Français, Vietnam-USA Association, South Vietnam (August 1974), Sau Paulo, Brasil (July 1974), Shiraz, lran (August 1972), Sangeet Natak Akademi, New Delhi, India (May 1961), Traditional Musicians Association, TaiPei, (April 1961), Ueno University, Japan (April 1961).

TQH : It’s amazing Dad . How could you recall all these facts? It’s really unbelievable. Now, I’d like to ask you about your activities when you were a member of the IFMC, which later became ICTM. Can you recall a few important dates ?

TVK : It was a long story but I’ll cut it short. In 1958, I took part in the IMC conference on the Universe of Music, at the UNESCO House, where I met several musicologists and ethnomusicologists such as Samuel Baud-Bovy, Willard Rhodes, Walter Wiora, Marius Schneider and Paul Collaer. They appreciated my paper that I had presented and woud like to invite me to join the IFMC (Internationnal Folk Music Council)…. They introduced me to Dr. Maud Karpeles and then I  became member of the IFMC in 1960 after having been elected member of the Executive Committee of the  IMC (International Music Council of UNESCO). I did not have  much time for the IFMC because of my heavy workload at the French CNRS (Centre National de la Recherche Scientifique), at in the IMC, and at in the CEMO (Centre d’Etudes de Musique Orientale). But I attended regularly the General Assemblies of the IFMC. I often met many members of the IFMC to exchange experiences in their personal researches and sometimes to collaborate with them in certain topics of research such as folk and traditional musics, theatre music in Vietnam with Paul Collaer; tone languages in China and Vietnam with Marius Schneider, ethnomusicology with Claudie-Marcel Dubois. I also wrote a few articles for the Journal of the IFMC in 1966.

1/ La musique populaire au Vietnam. Ses attaches avec la musique de tradition savante ou musique rituelle (pp 2-4)

2/ Journal of the IFMC 1963

La musique vietnamienne traditionnelle (Review)

3/ Le pentatonisme est il universel ? Journal of the IFMC 1958.

(what are the above 5 lines???)

In 1961, while attending the General Assembly of the IFMC in Jerusalem, I took part in the international concert organized on that occasion by playing Vietnamese traditional music. Prof. Zolten Kodaly was in the audience. At the intermission, Dr. Kodaly congratulated me on my performance and wanted to meet me some day to discuss about pentatonic scales. After that General Assembly, I had an opportunity to meet Dr. Kodaly in Budapest where we had a very interesting exchange of our experiences on Pentatonism. In Vietnam, when the late Professor Lưu Hữu Phước organized a festival of traditional music in the whole country of Vietnam, he invited Dr. Eric Stockman, President of the ICTM to come to festival as a special guest. Dr. Stockman could not accept the invitation… because he was in poor health and could not make a long flight. Instead, Dr. Stockman asked me to go to Vietnam as a Vice President of the ICTM. At the festival, I was warmly welcome by the organizing committee. In 1984, the Annual General Assembly of the ICTM took place in Tunis, capital of Tunisia. I  came to Tunis wearing two hats: one was Vice President of the ICTM and the other one was special guest of the Festival of Arabic traditional music …

TQH : So, you were member of the IFMC in 1960, weren’t you?  Were you present at the IFMC conference in Seoul in 1981?

TVK : Yes, I was there as an Executive Board member (elected in 1978). At that conference, I witnessed the name change of the organization from IFMC (International Folk Music Council) to ICTM (International Council for Traditional Music). There was an important discussion about that matter. Poul Rovsing Olsen was President of the new council with Dieter Christensen as Secretary General. I was elected Vice President of the ICTM together with Prof. Claudie Marcel-Dubois from France. In 1987, without receiving any  notification,  Prof. Kishibe Shigeo and I were surprised when we did not see our names on the list of members of the Executive Committee.

TQH : Dad, I am obliged to interrupt you on the last point . As you know, according  to the rules of the ICTM, any vice president can only hold the position for 4 years. After that, he or she has to leave the title to someone else. On the other hand, he or she has the right to resubmit his/her candidacy for the same position for another 4 years. I don’t know whether you have attended the ICTM conferences in 1983, 1985 and 1987. If you were absent at these conferences, then I think that you and Prof. Kishibe Shigeo could no longer belong to the Executive Board. But I think that it is fair to inform you and Prof. Kishibe about this, and remind you of the rules. Anyhow, those were things of the past . We can change the subject, can’t we Dad ?

TVK : OK. What more do you want to know?

TQH :  I know that you have received many international awards . Can you name me a few important ones?

TVK : In 1949, I obtained  the 2nd Prize of the International Competition on Folk Music Instruments at the Youth Festival of Budapest in Hungary, a few months after my arrival in France. Then, in 1960  my first LP record published by La Boîte à Musique  got the Grand Prize from the French Music Academy in Paris . After that, my LP record “VIETNAM 1” edited by Barenreiter Musicaphon, UNESCO Collection in Germany won the Schallplatten Prize in 1969 and the Grand Prize from the French Music Academy of French Records  in 1970. For other awards, there were Doctor honoris cause from University of Ottawa (Canada) in 1975 and from Moncton University (New Brunswick, Canada) in 1999, UNESCO IMC music award in 1981, Fullbright scholarship in 1988, Officier des Arts et des Lettres (France) in 1991, Koizumi Fumio ethnomusicological prize (Japan) in 1994,, Chevalier de l’ordre des Palmes académiques (France) in 1999, and a dozen of awards obtained in Vietnam . The last one was the badge of Ho Chi Minh City as emerite citizen of Ho Chi Minh City in 2013.

TQH : Fantastic! As a distinguished ethnomusicologist, I suppose that you were also members of many scientific societies .

TVK : Well, I belonged to many international scientific societies such as Société Française de Musicologie (France), Société Française d’Ethnomusicologie (France), Société des Gens et des Lettres (France), International Musicological Society (Switzerland), Society for Ethnomusicology (USA), Society for Asian Music (USA), International Society for Music Education, International Folk Music Council (after 1981 becoming International Council for Traditional Music ( vice president from 1981-1987 and life honorary member since 2013) (USA then Slovenia), International Music Council (ex- vice president and now life honorary member)  UNESCO, France) .

TQH : As member of many international scientific societies, I am quite sure that you must have had several extraordinary activities. Is it possible for you to cite some important events?

TVK : I participated in more than 180 International Congresses, Conferences, Symposia, and Music Festivals. (The lists of publications and the International Conferences could be sent on request). I can tell you about a few significant contributions to various works on research, documents on major traditional music in Asia, especially Vietnamese, events organized by the International Center for Comparative Music Studies and Documentation (Berlin) where I was a member, and for 8 years when I was President of the Scientific Council. Since 1988, I was nominated life honorary member of the International Music Council  belonging to UNESCO and I am now a special advisor for the Council in subjects related to traditional music of Asian countries.

TQH : Thank you Dad . What about your principal publications ?

TVK : I made 27 LP and CD records from 1959 to 1994, one film on Indian Dhrupad singing tradition, 4 tapes on Asian Music (GRM Group of Recherche Musicale, French Radio), 4 video tapes on the Chinese Sheng (mouth organ), Qin (Chinese 7 stringed board zither), Vietnamese Đàn  Tranh  (16-string board zither) Audio Visual Center University Dauphine, 4 books on Vietnamese Traditional Music (in French, German and Italian languages), 1 book on Water Puppets in Vietnam, 187 articles (in French and English languages) on Asian Music, Vietnamese Music, and musicological matters, 14 books, 140 articles (in Vietnamese) on autobiography, researches on Vietnamese traditional music and musicological matters.

TQH :  For the last question, what have you done since you went back to live in Vietnam from 2004 until now?

TVK : Before that, in 2003, I was invited to teach Vietnamese Traditional Music at the Private University of Hùng Vương (Ho Chi Minh City), to give several lectures on Asian Musical  Traditions at the Institute of Musicology of Vietnam (Hanoi). Since 2003 up to the present time, I have been actively participating in the cultural life of the whole country of Vietnam. I attended the Symposium on Court Music in Vietnam organized by the Center for the Preservation of Huế Relics, and together with Mrs. Noriko Nakamura from UNESCO,  helped the Vietnamese scholars to complete a file on Nhã Nhạc, Court Music  in Huế to be presented to UNESCO for the nomination as a master piece of Oral and Intangible Heritage of Humanity. In 2003, Nhã Nhạc Huế Court Music was recognized by UNESCO as a masterpiece of Oral and Intangible Heritage of Humanity. Then, the Vietnamese Embassy in France near the UNESCO Headquarters in Paris has organized a series of concerts in France and in Belgium to introduce Vietnamese Nhã Nhạc to the European audience  and has asked me to be the MC for those concerts. I accepted the invitation and I was happy to perform that task. In 2005, I was invited by the Minister of Foreign Affairs, and the Minister of Culture and Information of the Vietnamese Government to be a Special Advisor helping those Vietnamese specialists to prepare a file on Ca Trù (special vocal art of North Vietnam). At the same time, UNESCO invited me to write an evaluation of the file on Gongs on the High Plateaux in Vietnam. I compared the Gongs ensembles from Vietnam with the gamelan from Java, the Gong from Bali, the Kulingtan from the Philippines and finally proposed Unesco to recognize the “Cultural area of gongs from the High Plateaux in VietNam” as an Oral and Intangible Heritage representing humanity. I have been for several years, from 2006 to the present time, a special advisor of the scholars in charge to prepare the file of Quan Họ  from Bắc Ninh (2006), and of Ca Trù (2007). Recently, I played an active part in the preparation of the file on the Đờn Ca Tài Tử from Nam bộ (2011) . The People Committee of Ho Chi Minh City thanked me on my presentation of Vietnamese traditional music and particularly of the Đờn Ca Tài Tử (entertainment music from the south) throughout the world and gave me the title of “Emerite Citizen” of Ho Chi Minh City.

TQH : I am so sorry for taking so much of your time. I hope that with this interview, all members of the ICTM will know about you a lot better.

TVK : It’s quite all right. I am happy to be interviewed by my beloved son who has taken my place in the framework of the ICTM . Please convey my sincere thanks to the direction of the ICTM for accepting me as a life honorary member.

TQH : Thank you Dad . I wish you a good health and a long life in order to shore up the Vietnamese traditional music in Vietnam and around the world . Now I have to say goodbye to you and I hope to see you soon in Vietnam when I have an occasion to be there, perhaps in the very near future. Good bye Dad, I love you.

TVK : Thank you my dear son. Goodbye and I am looking forward to seeing you soon in Vietnam .

 Image

TRAN QUANG HAI

Executive Board Member of the ICTM