ANVI HOÀNG BÀN/REVIEWS THE TALE OF LADY THỊ KÍNH BY P.Q. PHAN


ANVI HOÀNG BÀN/REVIEWS THE TALE OF LADY THỊ KÍNH BY P.Q. PHAN

Anvi Hoàng has been writing about this opera, The Tale of Lady Thị Kính, for two years. Here are some of her observations about the world premiere of The Tale of Lady Thị Kínhat IU Opera in Bloomington, Indiana on February 7, 8, 14-15, 2014.

Have you subscribed to diaCRITICS yet? Subscribe and win prizes! Read more details.

First, a note: The Tale of Lady Thị Kính is an opera, not a musical. One fascinating thing about opera singers is that they don’t use microphones the way singers in musicals do. What you hear in an opera is the  singer’s own true voice projecting over the orchestra to reach the end of the hall. Opera singers must be able to read music, and their music is a hundred times more complicated. Further, it is an insult to call an opera singer by any other name other than opera singer. There are many more differences between these two forms of theater, opera and musical, if you are interested in the subject. For the review of The Tale of Lady Thị Kính, please scroll down for a Vietnamese version followed by anEnglish one.

Anvi Hoàng đã viết nhiều về vở opera The Tale of Lady Thị Kính trong 2 năm qua. Sau đây là một số nhận xét của cô về 4 buổi trình diễn ra mắt lần đầu trên thế giới vở opera này tại nhà hát opera IU ở thành phố Bloomington tiểu bang Indiana vào ngày 7, 8, 14, 15 tháng 2 vừa qua.

Một ghi chú: The Tale of Lady Thị Kính là một vở opera, chứ không phải musical=nhạc kịch. Một điều kỳ diệu về ca sĩ opera là họ hát không cần micro như ca sĩ hát trong nhạc kịch. Những gì người ta nghe trong một vở opera chính là giọng hát thật của những ca sĩ opera đó. Ca sĩ opera cũng bắt buộc phải đọc được nhạc, và nhạc họ hát thì khó hơn gấp trăm lần nhạc kịch. Còn có nhiều sự khác biệt nữa giữa hai hình thức sân khấu này (opera và nhạc kịch) mà quý vị có thể tra cứu thêm nếu muốn. Nên biết rằng, gọi ca sĩ opera là ‘ca sĩ’ bình thường thôi thì họ sẽ cảm thấy bị xúc phạm đấy, bởi vì không phải dễ mà trở thành ‘ca sĩ opera’. Bây giờ quay lại vấn đề bình về vở opera The Tale of Lady Thị Kính. Bài tiếng Anh theo sau bài tiếng Việt.

 

Finale scene - Cảnh thăng hoa. Photo: Anvi Hoàng.

 

Bàn ba chữ cho The Tale of Lady Thị Kính

Cả tháng Một và đầu tháng Hai, tôi đã bỏ hàng chục giờ đi quan sát người ta tập dượt The Tale of Lady Thị Kính, nào là với dàn nhạc giao hưởng, nào là với dàn đồng ca, nào là diễn xuất với đạo diễn sân khấu. Tôi chụp hàng ngàn tấm hình. Rồi tham dự cả 4 buổi trình diễn thử y như thật. Và tham dự cả 4 buổi trình diễn thật vào ngày 7, 8, 14, 15 tháng 2. Liệu tôi có thể bình luận một cách khách quan về vở opera The Tale of Lady Thị Kính hay không? Được chứ. Với một vài dữ liệu thực tế và một chút thời gian để suy nghẫm, tôi sẵn sàng chia sẻ những quan sát sau.

Trang phục, phông cảnh, âm nhạc 

The Tale of Lady Thị Kính  là câu chuyện về quá trình thăng hoa trở thành Phật của một cô gái trẻ. Khi bị đuổi khỏi nhà chồng vì sự hiểu lầm, Thị Kính phải giả trai đi tu ở chùa. Tại đây, Thị Kính, nay là Tiểu Kính Tâm, lại bị cô Thị Mầu lẳng lơ tán tỉnh, và sau đó bị Thị Mầu đổ oan cho là cha của đứa bé trong bụng mình. Về chùa, Tiểu Kính Tâm lại mất nơi nương náu vì Su Cụ cũng đuổi Kính Tâm ra khỏi chùa. Nghĩ đến những oan trái trong đời mình, Tiểu Kính Tâm lần nữa chấp nhận hy sinh để cho người khác được sống yên ổn. Tiểu Kính Tâm quyết định bồng con của Thị Mầu ra đi tìm đường sống mới. Tiểu Kính Tâm sau đó chết đi vì kiệt sức và đói khát. Cảm động trước sự hy sinh quên mình của Thị Kính, Đức Phật tôn bà làm Phật Quan Âm Thị Kính. câu chuyện này làm tôi nhớ đến những người sống hy sinh vì người khác như Mẹ Teresa, hoặc cả Chúa Giê Su cũng vậy. Quả thật The Tale of Lady Thị Kính là một câu chuyện đầy tính nhân bản phổ quát (universalism) về tình yêu (love), sự độ lượng (compassion) và sự hy sinh không giới hạn (selflessness), được biết đến từ thế kỷ 10 ở Việt Nam. Đến thời điểm này, nói rằng ba chữ: tình yêu (love), sự độ lượng (compassion) và sự hy sinh không giới hạn (selflessness) là những gì khán giả cảm nhận được sau khi xem The Tale of Lady Thị Kính không phải là quá chút nào. Những lời nhận xét tôi thường nghe nhất từ khán giả là vở opera The Tale of Lady Thị Kính “tuyệt vời”, “cảm động” và “xúc động”.

Đến cuối vở diễn, khán giả đứng dậy vỗ tay đồng loạt (standing ovation), cả 4 buổi diễn đều như thế cả. Đây chính là dấu hiệu của sự thành công không thể chối cãi được của vở opera The Tale of Lady Thị Kính. Hay lắm thay cho nhà soạn nhạc cũng là người viết tuần bản P.Q. Phan; hay lắm thay cho tài điều khiển của nhạc trưởng David Effron; hay lắm thay cho đạo diễn sân khấu Vince Liotta và nhóm nghệ sĩ thiết kế: thiết kế cảnh Erhard Rom, thiết kế trang phục Linda Pisano, thiết kế ánh sáng Todd Hensley; hay lắm thay cho giám đốc kỹ thuật nhà hát opera IU Alissia Garabrant và nhóm dựng cảnh: các nghệ nhân ở xưởng gỗ, xưởng sơn và đồ dùng sân khấu, xưởng trang phục; hay lắm thay cho hai ê kíp diễn viên; hay lắm thay cho nhóm thợ điện và toàn bộ nhân viên sau bức màn nhung đã làm cho mọi việc trôi chảy.

 

The trial - Phiên xử Thị Mầu chửa hoang. Photo: Anvi Hoàng.

 

 

The trial - Phiên xử: Thị Mầu (Sandra Periord) - Lý Trưởng (Jeremy Gussin) - Sư Cụ (Adam Walton) - Tiểu Kính Tâm (Sarah Ballman). Photo: Anvi Hoàng.

 

Đạo diễn sân khấu Vince Liotta nhấn mạnh trong nhiều lần phỏng vấn là nhóm thiết kế của ông không hề có ý định dựng lại một sân khấu Việt Nam. Hơn nữa, đằng nào thì nhạc của nhà soạn nhạc P.Q. Phan cho vở The Tale of Lady Thị Kính cũng là nhạc hiện đại phương Tây. Do đó, điều họ cố gắng làm là tạo ra cảm giác Việt Nam trong vở diễn sao cho khán giả người Việt biết về văn hóa Việt Nam và cả khán giả người Mỹ không biết về văn hóa Việt Nam đều có thể cảm nhận được. Đây là một quyết định rất khôn ngoan và một hướng đi rất khéo léo. Và họ đã thành công.

Kết quả là một sân khấu hiện đại mang tính tượng trưng để thích hợp với định hướng dàn dựng của đạo diễn cũng như âm nhạc mang phong cách phương Tây của vở The Tale of Lady Thị Kính. Cách dùng màu sắc tươi sáng như màu hồng, vàng, cam, xanh lá, vàng gold để ám chỉ không gian và thời gian; cách dùng những chất liệu có bề mặt đặc biệt như sợi đay nhám để làm phông và tre làm cửa; cùng với đường nét thiết kế gọn gẽ sắc sảo, đã tạo ra không gian đẹp mở rộng trí tưởng tượng của người xem, trên nền cảm giác Việt Nam đã được gợi lên trong các chi tiết thiết kế. Về mặt diễn xuất, cảm giác Việt Nam được nhấn mạnh hơn nữa qua một số điệu bộ của diễn viên và việc dùng một số vật dụng sân khấu được lựa chọn cẩn thận và mang tính ước lệ như quạt xếp, cái lọng, mâm quả, tượng Phật, v.v. Về phần mình, trang phục đóng góp vào việc tạo ra sự khác biệt về văn hóa bằng những màu sắc rực rỡ mang hơi ấm mùa Xuân của Việt Nam mà trước kia các nghệ sĩ nước ngoài chưa từng được thấy trong bất kỳ một vở opera nào, và kiểu mẫu thiết kế trang phục lại vô cùng phong phú, đưa người xem vào một không gian và thời gian khác hẳn. Sau nữa, ánh sáng trong vở opera The Tale of Lady Thị Kính lại được sử dụng theo một phương cách trái ngược truyền thống. Theo phương pháp truyền thống, ánh sáng thường được thiết kế để che giấu một phần phông cảnh và chỉ chiếu sáng một phần nào mà thôi. Ở đây, ánh sáng lại được dùng để làm nổi bật hết cỡ các đường nét của chất liệu và màu sắc trên sân khấu.

 

The wedding - Đám cưới - Mãng Ông (Ross Coughanour) - Thị Kính (Veronica Jensen) - Thiện Sĩ (Christopher Sokolowski) - Sùng Bà (Julianne Park) - Sùng Ông (Daniel Lentz). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

The wedding - Đám cưới - Thiện Sĩ (Will Perkins) - Sùng Bà (Sooyeon Kim) - Sùng Ông (Bruno Sandes). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Mãng Ông - Sùng Ông - Thị Kính. Photo: Anvi Hoàng.

 

 

The affair - Tư tình. Photo: Anvi Hoàng.

 

Trong vở opera The Tale of Lady Thị Kính, mỗi khi một nhân vật xuất hiện, họ rực rỡ dưới ánh đèn trong bộ trang phục đặc biệt của mình, mỗi nhân vật đều có những điệu bộ và tính cách đặc trưng của nhân vật, và những giai điệu rất riêng cho nhân vật của mình. Âm nhạc là yếu tố đầu tiên cũng là yếu tố cuối cùng kết nối mọi sự việc và mọi người mọi thứ lại với nhau. Thế là, khán giả được dịp tôn trọng vẻ yêu kiều của Thị Kính, mê điệu bộ lẳng lơ của Thị Mầu, cười sự ngây ngô của đầy tớ Nô, kinh hãi trước sự hung dữ của Sùng Bà, cười nhạoSùng Ông say xỉn vô duyên. Đến khi các nhân vật mở miệng hát thì thật mê ly. Tôi đã được tận mắt xem họ tập dợt cả tháng và trò chuyện với họ. Ai cũng bảo rằng họ yêu thích phần nhạc của mình. Một là nhạc quá hay. Hai là mỗi nhân vật đều có một khoảnh khắc để hát về chính mình và khoe giọng hát của mình – đây là điều ca sĩ opera nào cũng thích. Và như thế,Nô hát điệu ngây ngô đáng yêu; Thị Kính tha hồ ‘đan’ một lưới giai điệu từ thấp lên cao từ trong sáng đến đứng đắn, trưởng thành, và rồi thăng hoa; Thiện Sĩ thì luyến láy một cách mơ mộng ngây thơ nhưng cũng đầy ngạo mạn; Vợ Mõ đúng là múa mỏ khôn ngoan giọng cao như hét; Thị Mầu cũng hát cao vút, điệu nhạc tuy nông nổi nhưng pha đẫm sự đam mê cuộc sống và tình yêu xác thịt; trong khi đó 4 bạn gái của Thị Mầu thì không ngừng tụng Nam Mô A Di Đà Phật, lúc thì khiêu khích lúc thì răn đe. 

 

Sư Cụ (Adam Walton). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Mãng Ông (David Rugger) - Thị Kính (Sarah Ballman). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Sùng Bà (Julianne Park) - Sùng Ông (Daniel Lentz). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Kính (Sarah Ballman)-Sùng Bà (Sooyeon Kim)-Sùng Ông (Bruno Sandes). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Mầu's four friends: Veronica Amandola, Natalie Weinberg, Anna Hashizume, Joan Snyder. Photo: Anvi Hoàng.

 

Cảm nhận chung là phần âm nhạc hay tuyệt vời. Trong khi nghe nhạc, lúc thì bạn thấy một bông hoa, lúc thì cả một vườn đầy hoa; bạn cảm nhận được sự đau buồn, niềm hạnh phúc, sự xấu xa, sự nghịch lý của linh hồn con người ta; bạn thấy những khoảng không gian mỏng và dày; bạn thấy ánh sáng và bóng tối trong không gian; bạn cảm thấy các chất liệu. ‘Đầy màu sắc’ là cụm từ nảy ra trong đầu bạn và bạn cảm thấy hợp lý quá. Rồi bạn ngỡ ra rằng, thì ra khi các nhạc sĩ nói đến ‘âm nhạc đầy màu sắc’ là thế này đây. Đúng là âm nhạc của The Tale of Lady Thị Kính đầu màu sắc sống động. Càng để ý kỹ bạn sẽ cảm thấy âm nhạc càng mê ly. Nhà soạn nhạc P.Q. Phan chủ trương viết nhạc cho vở opera sao cho bề ngoài có thể thu hút người nghe bình thường nhưng đào sâu bên dưới cũng hấp dẫn được những người trong giới chuyên môn ngành âm nhạc hàn lâm. Ông đã làm đúng như ông nói.

Trong tuần lễ đầu khai diễn vở opera The Tale of Lady Thị Kính, nhiều khán giả bảo rằng họ sẽ đi xem vở opera lần thứ hai vào tuần sau đó. Và chúng tôi đã gặp lại họ lần thứ hai tại buổi trình diễn của tuần thứ hai. Sau tuần lễ khai diễn đầu tôi cũng bắt đầu thu thập những lời cảm tưởng về vở opera The Tale of Lady Thị Kính từ khán giả. Hầu hết mọi người đồng ý rằng phông cảnh và trang phục tuyệt đẹp, diễn xuất hay, và âm nhạc tuyệt vời. Rất nhiều những cảm tưởng này là đến từ 200 người Việt Nam hoặc gốc Việt Nam từ các thành phố khác lái xe hoặc bay tới Bloomington chỉ để xem vở opera The Tale of Lady Thị Kính, hoặc khán giả Việt Nam xem vở opera qua internet. Nên nhớ rằng những người Việt Nam hoặc gốc Việt xem vở opera The Tale of Lady Thị Kính ai cũng ít nhiều biết đến câu chuyện Thị Kính rồi. Họ biết Thị Mầu hoặc Vợ Mõ là ai, tính cách ra sao. Do đó khi họ xem vở opera The Tale of Lady Thị Kính do người Mỹ diễn mà không cảm thấy xa lạ, ngược lại còn cảm thấy hay và đáng yêu nữa thì đây đã là một sự thành công của vở opera. Việc này cộng với việc những người nước ngoài khi xem The Tale of Lady Thị Kính đã thật sự xúc động và yêu thích vở diễn cho thấy sự thành công của The Tale of Lady Thị Kính đã vượt khỏi ranh giới văn hóa Việt Nam mà hòa vào văn hóa thế giới.

 

Sư Cụ (Rafael Porto) & Tiểu Kính Tâm (Veronica Jensen). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Mầu (Sandra Periord)-Tiểu Kính Tâm (Sarah Ballman). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Mầu (Angela Yoon) - Tiểu Kính Tâm (Veronica Jensen). Photo: Anvi Hoàng.

 

Đi sâu hơn nữa

Nhà soạn nhạc P.Q. Phan hoàn thành xuất sắc công việc viết tuần bản cho vở opera của mình. Ông bỏ 25 năm nghiên cứu và suy nghĩ về dự án vở opera Thị Kính cho đến khi ông tự tin có thể dựng một vở opera dựa vào câu chuyện Thị Kính một cách thành công. Không ngạc nhiên là tuần bản của The Tale of Lady Thị Kính có nhiều lớp ý nghĩa cần được giải thích ra để khán giả có thể hiểu được vở opera nhiều hơn và có cảm nhận sâu sắc hơn về văn hóa Việt Nam. Đây là điều rất bình thường đối với một vở opera mới. Thế nhưng có một điều rất vui là tại buổi diễn và qua nhiều email cảm tưởng, một số khán giả người Mỹ và người Việt đã có lời ca ngợi về sự sâu sắc trong lời thoại của tuần bản. Họ còn muốn mua một bản copy của tuần bản nữa. Khi nghe những lời tốt lành này từ khán giả, có lẽ không ai có thể vui hơn chính người viết tuần bản, P.Q. Phan. Bởi vì có gì vui bằng, khi thấy đỉnh cao của văn hóa Việt Nam thể hiện trong vở The Tale of Lady Thị Kính đã có người nhìn nhận và tiếp thu ở tầm quốc tế.

Thỉnh thoảng tôi cũng muốn vắt óc nghĩ ngợi cho vui về sự thâm thúy của vở opera The Tale of Lady Thị Kính. Càng nghĩ càng thấy rằng sự châm biếm ở đây đúng là rất sâu sắc. Mỗi một nhân vật trong The Tale of Lady Thị Kính, trừ Thị Kính, đều vừa là nhân vật hài vừa là nhân vật bi. Mỗi nhân vật, trừ Thị Kính, đều vừa châm biếm bản thân mình để vừa châm biếm xã hội. Đây chính là một cách làm khôn khéo của các tác giả nông dân ngày xưa để mua vui và để chỉ trích xã hội, để làm cho cuộc sống của họ được nhẹ nhàng và vui tươi trong một vài phút giải lao. The Tale of Lady Thị Kính cũng được sáng tạo ra với tinh thần như thế – nó là một tác phẩm nghệ thuật mang tính bi-hài.

Tôi rất mừng thấy rằng tính hài trong The Tale of Lady Thị Kính cũng được khán giả cảm nhận đúng mức. Trong nhiều lời cảm tưởng tôi nhận được, người ta khen rằng tính hài làm cân bằng tính bi trong vở opera. Còn nhiều người khác trong đó có cả trẻ em thì chỉ đơn giản cười thích thú với phần hài hước của vở diễn. Thế là tính hài của vở The Tale of Lady Thị Kính đã làm được một chức năng của nó rồi: tạo sự kết nối với khán giả, làm cho họ cười và giúp họ thư giãn. Còn chức năng châm biếm thì tôi cứ tiếp tục giải thích mỗi khi có dịp.

 

Mãng Ông (David Rugger) - Sùng Ông (Bruno Sandes). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Lý Trưởng (Jerome Sibulo) - Vợ Mõ (Marlen Nahhas). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Lý Trưởng (Jeremy Gussin) - Vợ Mõ (Christa Ruiz). Photo: Anvi Hoàng.

 

Không biết có ai thất vọng hay không, nhưng thật tình tôi không có gì để chê vở opera The Tale of Lady Thị Kính. Ngay lúc này đây khi đài VietFace TV đang chiếu phóng sự nhiều kỳ về công việc sáng tạo và dàn dựng vở opera The Tale of Lady Thị Kính tại nhà hát opera IU, cả P.Q. Phan và tôi đều nhận được thêm nhiều email của khán giả bày tỏ sự yêu thích và quan tâm đối với vở opera. Bản thân tôi thì thú thật đến bây giờ đã thuộc lòng cả vở opera này rồi và có thể hát theo bất kỳ ai. Có ai muốn hát theo với tôi không nào?

* Xem lại trên mạng video The Tale of Lady Thị Kính: Buổi diễn của ê kíp 1 ngày February 7, 2014 và ê kíp 2 vào February 14, 2014.

Giáo sư nhạc sĩ P.Q. Phan (Phan Quang Phục) là một nhạc sĩ sáng tác nhạc cổ điển đương đại (contemporary classical music), hiện sống tại Mỹ. Sáng tác của ông đã được trình tấu tại nhiều nơi trên thế giới và nhiều giàn nhạc nổi tiếng đã đặt ông soạn nhạc. Ông đã từng dạy nhạc tại University of Illinois ở Urbana-Champaign và Cleveland State University. Hiện ông là giáo sư hàm “Associate Professor” ngành sáng tác tại trường nhạc Jacobs School of Music, thuộc trường đại học Indiana University, ở Bloomington, IN. Xem thêm tại đây.

Anvi Hoàng sinh trưởng tại Việt Nam, tốt nghiệp Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, sang Mỹ học cao học và rồi tìm thấy niềm vui trong việc viết lách tự do. Anvi viết thuần thục cả tiếng Anh và tiếng Việt. Viết để tung hô văn hóa Việt Nam và viết về sự thay đổi. Anvi thích khám phá thế giới ‘chân trong chân ngoài’ mà cô đang sống, và thích nước. Cô sống ở thành phố Bloomington, thuộc tiểu bang Indiana.

 

Finale scene - Cảnh thăng hoa. Photo: Anvi Hoàng.

 

diacritics-donate_header_box_640x120

  Three words for The Tale of Lady Thị Kính

For the entire month of January and for the first week of February, I attended hours of rehearsals with the orchestra, the chorus, and the staging. I witnessed four dress rehearsals,  four performances on February 7, 8, 14 and 15, and took thousands of pictures. Is it possible for me to be objective about The Tale of Lady Thị Kính? Yes, it is. With facts and some time to reflect, I am ready to share the following thoughts.  

Costumes, set, and music 

The Tale of Lady Thị Kính is about a transcendental journey of a young fair lady to her Buddhahood. Kicked out of her in-laws’ house because they thought she tried to kill her husband, Thị Kính disguises herself as a man to enter monkhood. At the temple, pursued by a beautiful young girl and later accused of getting her pregnant, Thị Kính, now Tiểu Kính Tâm, once again is kicked out of her/his shelter. He decides to accept the sins of others to grant them a new life by taking in Thị Mầu’s baby and goes to the marketplace to beg for food to raise the boy. Tiểu Kính Tâm later dies of exhaustion and starvation. Admiring Thị Kính’s self-sacrifice, the Buddha declares her Phật Quan Âm Thị Kính(Our Benevolent Buddha Thị Kính). The emotional force of this story leads me to think about people like Mother Teresa as the reference emerges quite naturally. One would even think of Jesus. The Tale of Lady Thị Kính is indeed a universal story about love, compassion, and selflessness, set in the 10th century Vietnam. It is not an overstatement for me at this point to say that these three words – love, compassion and selflessness – are what the audience felt after they experienced The Tale of Lady Thị Kính. The most common words I heard were “amazing,” “moving,” and “touching.” 

A standing ovation, for a new opera, and for all four performances of The Tale of Lady Thị Kính is a red stamp of approval no one can deny. Well, in some places, blue, purple, or black stamp works in the same way. Bravo to composer and librettist P.Q. Phan; conductor David Effron; stage director Vince Liotta and his artistic team; set designer Erhard Rom; costume designer Linda Pisano; lighting designer Todd Hensley; IU Opera Theater technical director Alissia Garabrant; and her building/realization team: artists in the woodshop, the paint and properties shop, the costume shop; the two casts; and the electric team and the crew behind the curtains making everything work.

 

The trial - Phiên xử Thị Mầu chửa hoang. Photo: Anvi Hoàng.

 

 

The trial - Phiên xử: Thị Mầu (Sandra Periord) - Lý Trưởng (Jeremy Gussin) - Sư Cụ (Adam Walton) - Tiểu Kính Tâm (Sarah Ballman). Photo: Anvi Hoàng.

 

Vince Liotta stressed many times in interviews that recreating an anthropologically Vietnamese theater is the last thing he and his team would do, especially given the modern music of The Tale of Lady Thị Kính by P.Q. Phan. Instead, they filtered things through their Western view to create feelings that both people who were familiar with Vietnamese culture and those who were not, could relate. This was a wise decision and approach – and they most certainly succeeded. 

The result is a very modern and abstract stage setting to fit the general vision and to reflect the predominantly Western music of The Tale of Lady Thị Kính. The use of vivid colors such as pink, yellow, orange, green, gold to indicate time and space, and interesting textures, such as jute for the drops and bamboo for the sliding panels, together with the clean line design, provide a lot of space for imagination, while demonstrating Vietnamese sensibility in the design details themselves. In terms of staging, the Vietnamese sensibility is further enhanced by the selected and symbolic use of movements and theater properties such as the fans, the umbrellas, the offerings, the Buddha statues, etc. The costumes contribute to the cultural differences in that the colors are the most vibrant anyone has ever seen in an opera. So diverse in style, the costumes were definitely befitting of the universalist value of the opera. The lighting accentuates all the textures and colors on stage  when an unconventional approach was used to illuminate everything on stage. The traditional method is usually to hide different details of the set and to show only certain spots.

 

The wedding - Đám cưới - Mãng Ông (Ross Coughanour) - Thị Kính (Veronica Jensen) - Thiện Sĩ (Christopher Sokolowski) - Sùng Bà (Julianne Park) - Sùng Ông (Daniel Lentz). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

The wedding - Đám cưới - Thiện Sĩ (Will Perkins) - Sùng Bà (Sooyeon Kim) - Sùng Ông (Bruno Sandes). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Mãng Ông - Sùng Ông - Thị Kính. Photo: Anvi Hoàng.

 

 

The affair - Tư tình. Photo: Anvi Hoàng.

 

In The Tale of Lady Thị Kính, when each character appears, they shine in the light, with their unique movements, characterization, costume, and most of all, music – the first and last element that connects everything together. The audience appreciated Thị Kính‘s demure expressions, loved Thị Mầu‘s flirtatious movements, laughed at Nô’s silly agility as a servant, feared Sùng Bà‘s ferocious mother-in-law threatening behavior, beamed atSùng Ông’s drunk walking and burps, and so on. Having had a chance to witness them work and talk to them, I could tell you that every single member of the two casts loved their singing parts. One, the music is beautiful. Two, everyone has a chance to sing and to showcase their voice. In other words, each character has their own rhymes and rhythms, literally, to sing. For instance, Nô sings jagged lines as a servant; Thị Kính weaves a thoughtful, proper and transcending nest of arias; Thiện Sĩ embellishes arrogant, naïve melodies; Vợ Mõ boats her wicked wit; Thị Mầu soars with songs that seem to come off the top of her head; while her four friends chant the mesmerizing Nam Mô A Di Đà Phật, provoking at times, sacred others. 

 

Sư Cụ (Adam Walton). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Mãng Ông (David Rugger) - Thị Kính (Sarah Ballman). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Kính (Sarah Ballman)-Sùng Bà (Sooyeon Kim)-Sùng Ông (Bruno Sandes). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Sùng Bà (Julianne Park) - Sùng Ông (Daniel Lentz). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Mầu's four friends: Veronica Amandola, Natalie Weinberg, Anna Hashizume, Joan Snyder. Photo: Anvi Hoàng.

 

The orchestration is breathtaking, as many people described in their responses. When you listen to the music, sometimes you see a single flower, sometimes a garden full of flowers; you feel the sadness, the happiness, the ugliness, the irony of the human souls; you see the thin and thick space; you see light and darkness in the air; you feel textures. ‘Colorful’ is one exact word that comes to mind that makes sense to you. You suddenly understand what musicians mean when they say, “The music is very colorful!” For one thing, the music of The Tale of Lady Thị Kính is very colorful. The more attention you give to it, the more mesmerizing it becomes. Composer P.Q. Phan intended to create a type of music that is entertaining for audiences, while remaining sophisticated for academic music experts. He stays true to his statement.

During the first week of the premiere, many people came and told us they would come to see the opera the second time. And they did. After the first week world premiere, I have been collecting responses about the opera from anyone who is willing to share (and will post morehere.) The unanimous agreement is that the set and costumes are stunning, the acting of each character amazing, and the music beautiful. Among the responses are those from 200 Vietnamese and Vietnamese Americans from out of town who drove or flew to Bloomington just for the show and those who watched it online. Don’t forget that most Vietnamese and Vietnamese Americans who experienced The Tale of Lady Thị Kính are already familiar with the characters in this popular ancient folk story. They know who Thị Mầu or Vợ Mõ is, what they look like and are supposed to act like.  The Vietnamese and Vietnamese Americans did not feel alienated but, on the reverse, found it endearing to listen and watch Thị Kính, Thị Mầu, Vợ Mõ, etc. be performed by Americans. For the non-Vietnamese to be truly touched by the story and the performance is already an immense cross-cultural success for the opera.

 

Sư Cụ (Rafael Porto) & Tiểu Kính Tâm (Veronica Jensen). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Mầu (Angela Yoon) - Tiểu Kính Tâm (Veronica Jensen). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Thị Mầu (Sandra Periord)-Tiểu Kính Tâm (Sarah Ballman). Photo: Anvi Hoàng.

 

Go deeper 

Composer P.Q. Phan outdid himself as the librettist for The Tale of Lady Thị Kính in an outstanding endeavor to translate and reconstruct the original script. It took him 25 years to research and to reflect on this opera before he was totally confident he could bring it to life. Needless to say, there are layers of meanings in the libretto that require explanation in order for the audience to really appreciate the opera and Vietnamese culture at a deeper level. Yet, after the performances and in the emails received, many Americans as well as Vietnamese and Vietnamese Americans, commented on the sophistication of the libretto. They even wanted to buy a copy of it. I don’t think anyone is happier than the librettist himself, PQ Phan, to hear such words from the audience. It highlights the transcendent essence of Vietnamese culture that Phan strives to bring to life in The Tale of Lady Thị Kính.

Sporadically, as I try to pick my brain, the sophisticated satirical sections in The Tale of Lady Thị Kính appear in my mind as layered cultural nuances that I can keep peeling. Each character, except Thị Kính, is both comical and serious. Each character, except Thị Kính, mocks themselves to mock society. This is one way the witty peasant authors of this thousand year-old folk lore had fun in their own way. That is how The Tale of Lady Thị Kínhis created to be – a satirical, dramatic work. 

I was happy to see that the satire is not lost to the audience. Many responses I received praised the comical part of the opera as it balances the dramatic element, and many audience members – including children – simply enjoyed it. This is exactly an intended function of  humor in The Tale of Lady Thị Kính: to find a way to connect to the audience, to entertain, and to relax them.

 

Mãng Ông (David Rugger) - Sùng Ông (Bruno Sandes). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Lý Trưởng (Jerome Sibulo) - Vợ Mõ (Marlen Nahhas). Photo: Anvi Hoàng.

 

 

Lý Trưởng (Jeremy Gussin) - Vợ Mõ (Christa Ruiz). Photo: Anvi Hoàng.

 

It could be disappointing for you to hear this, but I have no negative comments for The Tale of Lady Thị Kính. Right this moment, as VietFace TV broadcasts their multi-part documentary about the making of The Tale of Lady Thị Kính, countless individuals have emailed PQ Phan and myself to express their interest in the opera. By now, I have memorized by heart the whole opera and can sing along with anyone. Who wants to join me? 

* Watch the live recordings of The Tale of Lady Thị Kính: Available are performances of cast 1 on February 7, 2014 and cast 2 on February 14, 2014.

 

P.Q. Phan has written a large variety of genres including symphonies, opera, chamber music, and song cycles. He is currently an Associate Professor of Music in composition at Indiana University, Jacobs School of Music. He had previously taught at University of Illinois at Urbana-Champaign and Cleveland State University. Read more here.

Anvi Hoàng grew up in Vietnam and received her bachelor’s degree from the National University in Hồ Chí Minh city. She came to the United States for graduate studies and has then found happiness in writing. She makes it her goal to celebrate Vietnamese culture in her writing. A bilingual writer in English and Vietnamese, Anvi enjoys exploring the in-between worlds she is in, and loves water. She lives in Bloomington, IN.

                                                                                                                                                                            

Do you enjoy reading diaCRITICS? Then please consider subscribing!

Please take the time to share this post (below). Sharing (on email, Facebook, etc.) helps spread the word about diaCRITICS. Join the conversation and leave a comment!

What do you think about the satirical element in The Tale of Lady Thị Kính? What do you think about the set, costumes, lighting, acting, and singing in The Tale of Lady Thị Kính?

                                                                                                                                                                  

http://diacritics.org/2014/anvi-hoang-reviewsbinh-tale-lady-thi-kinh

VỞ OPERA “THE TALE OF LADY THỊ KÍNH” by P.Q. PHAN (Phan Quang Phục)


Trân trọng giới thiệu với các anh chị vở Opera “The Tale of  Lady Thị Kính” (trình diễn tại Musical Arts Centre, Indiana, ngày Feb 7 2014 vừa qua). Tác giả vở opera là Giáo Sư âm nhạc Phan Quang Phục.
Xin mời anh chị ghé thăm  http://music.indiana.edu/iumusiclive/streaming/
và chọn    The Tale of  Lady Thị Kính

OPERA REVIEW: ‘TALE OF LADY THI KINH’

Image

This production deserves a bravo!

By Peter Jacobi

 

Xem vở nhạc kịch The Tale of Lady Thị Kính (Kỳ 1)
(VienDongDaily.Com – 12/03/2014)
Cao Thu Cúc

Nhà soạn nhạc P. Q. Phan ký tặng Libretto The Tale of Lady Thị Kính cho khán giả.
 
LTS: The Tale of Lady Thị Kính là một vở đại nhạc kịch (grand opera) do nhà soạn nhạc P. Q. Phan (Phan Quang Phục), giáo sư ngành Sáng Tác tại trường nhạc Jacob, thuộc đại học Indiana University, soạn nhạc và viết lời hát (libretto=tuần bản), dựa trên cốt truyện của vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính. Vở này đã được dàn dựng công phu và trình diễn trên sân khấu lớn của trường Indiana trong bốn buổi, tất cả đều được “standing ovation”. Các buổi này của được truyền đi qua internet, khán giả có thể ngồi nhà xem trên màn ảnh monitor, dù không thể so sánh với đi xem “live”. Dưới đây là cảm tưởng của một khán giả sau khi xem vở opera này qua internet.
Đầu tháng hai trời bỗng đổ mưa. Những cơn mưa nhẹ nhàng cứ làm ướt cả bầu trời. Bầu trời u ám làm cho tôi cứ nhìn trời mà buồn. Những ngày cuối tuần tôi không nhìn trời nữa, tôi nhìn vào màn hình chờ đợi. Cái gì sắp xảy ra đây? “Đến đúng ngày, nhấn vào link, màn hình sẽ hiện ra… sẵn sàng”. Xem gì đây? 8 giờ miền Đông là 5 giờ chiều California. A đây rồi: The Tale of Lady Thị Kính. Gia đình chúng tôi quây quần quanh chiếc truyền hình chờ đợi.
Ơi đồng quê thân thươngSân khấu trường Jacob School of Music không ngờ rộng lớn và hoành tráng. Nhạc êm nhẹ đưa người ta vào cuộc sống thanh bình. Khung cảnh đồng quê Việt Nam hiện ra. Ôi chao! Chưa gì đã thấy thân thương rồi. Nhà tranh vách đất, cây xanh hoa nở. Chà! Nhà thiết kế sân khấu hay thiệt, kiểu này sẽ làm cho khán giả Việt Nam chưa gì đã rớt nước mắt rồi.Tôi xem trên mạng thôi mà tôi cũng thấy mắt mình cay cay. Mãng Ông đi ra, tóc trắng râu trắng, áo quần nông dân. Ôi chao! Nghèo! Nông dân Việt Nam từ đời nhà Lý đã nghèo mà đến thế kỷ XXI cũng chẳng khá gì hơn! Rồi Thị Kính dịu dàng e thẹn đi ra, chiếc quạt hoa che mặt. Đúng là phong cách con gái nhà lành, chỉ có khác là Thị Kính ở đây giỏi quá, hát tiếng Anh rất hay, giọng trong và cao vút làm cho người xem vừa nhìn thấy đã mến mộ rồi.

Admiring how magnificent love may be
I remember the tale of Từ Thức, how he met his angelic love…
(Nghĩ về tình yêu có thể rực rỡ như thế nào
Tôi nhớ đến câu chuyện Từ Thức, hoàn cảnh nào ông đã gặp được tình yêu thiên thần của ông…)

Đúng là chàng thư sinh mặt trắng Thiện Sĩ đây rồi. Thiện Sĩ do Will Perkins thủ vai, cao lớn và mạnh mẽ hơn so với hình ảnh một chàng thư sinh Việt Nam, những chàng học trò ngày xưa vẫn được xem là “thư sinh mặt trắng, trói gà không chặt”. Hình ảnh chàng thư sinh tay cầm quyển sách ngâm nga vài câu thơ là hình tượng mơ ước của các cô gái Việt Nam thời xa xưa. Lấy được chồng thư sinh, lo cho chàng sôi kinh nấu sử, khi chàng thi đỗ ông trạng ông nghè vinh quy về làng là lúc vinh quang nhất đời. Ơi giấc mơ huy hoàng! “Lọng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Nếu chẳng may chàng suốt đời lận đận thì nàng không ngại ngần tuyên bố:

Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm. (Ca dao)

Trường hợp Thị Kính càng thảm thương hơn. Từ một cô gái ngây thơ trong sáng, lấy chồng không được bao lâu thì bị nghi có âm mưu giết chồng. Cảnh Thị Kính bị chồng nghi oan, bỏ mặc để cho mẹ chồng hành hạ trên sân khấu có lẽ là một sự ngạc nhiên lớn đối với khán giả Mỹ. Thân phận các nàng dâu Việt Nam trong chế độ phong kiến là như vậy. Diễn viên Sooyeon Kim đóng vai Sùng Bà chắc phải khổ lắm, vừa hát mà vừa phải hét, làm sao phải kềm chế cảm xúc giận dữ tuôn trào để hát không sai nhịp, không bị đạo diễn nhắc nhở.

Cả gia đình tôi ngồi xem. Scott, chồng của con gái tôi, theo dõi từ đầu nhưng có lẽ không hiểu gì mấy về phong tục Việt Nam. Đến đoạn đám cưới, Scott kêu lên: “Ồ đẹp quá!” Scott thích cảnh đám cưới truyền thống Việt Nam. Khi Thị Kính bỏ nhà đi tu, Scott không hiểu, Scott hỏi:

– Thị Kính hổ thẹn hả?

Xã hội Việt Nam dưới thời phong kiến, người phụ nữ không được coi trọng, tiếng nói của họ không được lắng nghe. Những người vợ bị bạc đãi bị nghi oan như Thị Kính, thông thường có hai cách giải quyết để bảo toàn danh tiết cho mình. Một là tự tử. Thắt cổ tự tử, nhảy xuống giếng hay nhảy xuống sông tự tử. Câu chuyện Thiếu Phụ Nam Xương là một điển hình. Đó là cách giải quyết của những người đàn bà thiếu ý chí, thiếu sức mạnh.

Cách giải quyết thứ hai là đi tu. Cách giải quyết này dành cho những người tự tin vào bản chất của mình, người có ý chí mạnh mẽ. Xã hội đã không tin họ, luật làng xã không giải oan cho họ, cả cuộc sống tốt đẹp của họ không đủ để minh oan thì họ tìm đến con đường sức mạnh tâm linh, họ đi vào chùa kiên trì tu hành, và họ tin rằng một ngày không xa tấm lòng ngay thẳng của họ sẽ được Trời Phật chứng giám, mối oan của họ sẽ được rửa sạch, trả lại cho họ một tâm hồn trong sáng như ánh hào quang. Thị Kính chính là một người sẽ làm được như vậy.

I must leave to seek peace under a benevolent roof,
Turn myself into a monk,
Take buddha’s teachings, and find a peaceful life.
(Ta phải ra đi để tìm kiến một mái chùa nhân ái,
Sống đời người tu hành,
Học theo lời dạy của Phật và tìm một cuộc sống bình yên.)

(Còn tiếp)

 

One might say there was a lot of love exuded in the Musical Arts Center this past weekend for and during Indiana University Opera Theater’s world premiere performances of “The Tale of Lady Thi Kinh,” by Jacobs School composition faculty member P.Q. Phan.

However one might ultimately judge the artistic success of the opera, it came into being as a beloved subject for the composer who, after years of pondering and working on the project, brought to realization this musical setting for a revered folk tale of his homeland, Vietnam. It was obvious also, from what one saw on those two evenings, that stage director Vincent Liotta, who has teamed with Phan on this endeavor since before a workshop performance in summer 2011, labored lovingly to make the opera more stage worthy.

Conductor David Effron says, when shown the first 40 pages of the score, he fell in love with the music and its orchestration; he insisted that the opera must be produced by the IU Opera Theater and, after the go-ahead was given, followed up with his usual drive and diligence to shed a glow on the musical elements of the production.  The orchestra he trained, the Philharmonic, played superbly, no doubt strongly motivated by the maestro’s enthusiasm.  The two casts and the Walter Huff-trained chorus lavished energy on the opportunities afforded them.

The set design — wood and canvas panels that slide in and out, back and forth for scene changes; a movable wall made to look as if built of massive stones; a variety of outdoor backgrounds featuring a garden, wooded glen or town square — was the work of a visiting talent, Erhard Rom, and it is not only serviceable but handsome to view.  Linda Pisano’s costumes are both stunning and appropriate to place and a sort of ageless time.

So, one had a subject and score lovingly offered by the composer and a production lovingly delivered, with notable attention paid to artistic concept and detail. The result was an ovation each evening that, when composer Phan came to the stage for a bow, quickly mounted to standing and cheers-filled status. He was all smiles for what he must consider loving public reactions.

The composer’s aim for this “Tale of Lady Thi Kinh” was to create a multicultural entity, featuring music that blends Asian harmonies and instrumental effects with the musical ways and means of western opera.  That he managed to do quite adroitly. The Far Eastern influence suffused the orchestration and at least colored the vocal line.  Operatic traditions were cared for from the orchestral introduction to the choruses and the presence of arias.  The music was certainly accessible and, at most key moments, appropriate for the unfolding drama.

That drama concerns Thi Kinh, a lovely and goodhearted young woman who marries a studious fellow, hoping for a happy life.  In an act of intended kindness, while he sleeps, she attempts to cut off a single hair growing on his cheek, an out-of-place feature for an upstanding man.  He wakes in the middle of her action, thinks she’s trying to murder him, and sets off an ever-worsening chain of events: the immediate breakup of their marriage; her retreat, disguised as a man named Tieu Kinh Tam, into a monastery; her/his encounter with a flirtatious woman, Thi Mau, who’s distressed by the resulting rebuff; the woman’s impregnation by her family’s servant; her claim, after the baby’s birth, that the monk is its father; Tieu Kinh Tam’s ouster from the monastery; Thi Mau’s abandonment of the baby; the ousted monk’s act of kindness in saving the child and death from a worn-out, broken heart; the Buddha’s instillation of Thi Kinh into nirvana.

Whether Western audiences, probably so different from those who’ve grown up with the tale in Vietnam, can accept such a tragic flow of happenings following an act so trifling and explainable remains a question. The insertion of comic moments within so sad a story also may get in the way of acceptance although weekend audiences suggested approval.

It’s always hard to predict what lies ahead for a new opera. Many never get a second production. I hope this one will. I thought little of the workshop performance. I approved, with some reservation, the weekend’s first performance. I approved, with less reservation and more enthusiasm, the second.  Phan’s operatic tale is growing on me.

The opera requires a large cast.  The local production can boast of persuasive casting up and down the line: mezzos Sarah Ballman and Veronica Jensen rising to dramatic heights as the noble Thi Kinh; coloraturas Sandra Periord and Angela Yoon warbling through tough flourishes as the troublemaking Thi Mau; bass-baritones Adam Walton and Rafael Porto as Sur Cu, head of the temple; tenors Will Perkins and Christopher Sokolowski hitting some difficult high notes as husband Thien Si; tenors Lorenzo Miguel Garcia and Andrew LeVan as Thi Mau’s obliging servant No; baritones Jeremy Gussin and Jerome Sibulo as the village chief; sopranos Christa Ruiz and Marlen Nahhas as his brassy wife; sopranos Sooyeon Kim and Julianne Park  and baritones Bruno Sandes and Daniel Lentz as Thien Si’s parents, and baritones David Rugger and Ross Coughanour as Thi Kinh’s father.

If I’ve messed up who’s who, sorry, but everyone contributed to the whole, as did lighting designer Todd Hensley.  Bravo to the enterprise.

© Herald Times 2014

http://blogs.music.indiana.edu/opera/2014/02/13/opera-review-tale-of-lady-thi-kinh/

MINH NGA : Trả lại không gian cho đờn ca tài tử: Ngăn chặn lai căng


Trả lại không gian cho đờn ca tài tử: Ngăn chặn lai căng

Thứ Ba, 25/03/2014 22:43

Mang đờn ca tài tử vào hoạt động kinh doanh, du lịch sinh thái… chẳng khác nào biến loại hình nghệ thuật này thành một món hàng để những người làm dịch vụ kiếm tiền

Khi đờn ca tài tử (ĐCTT) được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được nhà nước triển khai công tác bảo tồn, bộ môn nghệ thuật này đang trở thành “đặc sản” kinh doanh ở các khu du lịch tại đồng bằng sông Cửu Long. Việc các công ty du lịch sử dụng ĐCTT để thu hút khách ngày càng nở rộ và tình trạng biến tướng ngày càng dị hợm.

Lệch lạc giá trị

Cũng giống như ở các quán nhậu, nhà hàng, những nơi du lịch sinh thái ĐCTT đã nhầm lẫn nghiêm trọng giữa ĐCTT và ca cổ, cải lương. Mang tiếng là trình diễn ĐCTT nhưng những người đờn, hát chỉ biết chơi quanh đi quẩn lại vài ba bản vọng cổ. “Chúng tôi được giới thiệu họ là những nghệ nhân đàn giỏi, những nghệ sĩ chơi những bản tài tử rất điệu nghệ nhưng khi nghe mới biết thực chất họ chỉ hát vài bản vọng cổ, có người cũng biết vài ba ngón đờn. Như vậy làm sao thể hiện hết tính chất của ĐCTT, làm sao người nghe hiểu hết bài bản một cách đúng nghĩa” – chị Huỳnh Thị Châu (quận Gò Vấp, TP HCM), người từng đến khu du lịch sinh thái ĐCTT ở tỉnh Tiền Giang, băn khoăn.

Đờn ca tài tử phục vụ khách du lịch tại Cồn Phụng, tỉnh Bến Tre Ảnh: NGUYỄN ĐĂNG LÂN
Đờn ca tài tử phục vụ khách du lịch tại Cồn Phụng, tỉnh Bến Tre Ảnh: NGUYỄN ĐĂNG LÂN

Một nghệ nhân ở tỉnh Long An cho biết: “Những anh em đờn hát phục vụ du lịch hầu như chỉ đờn được đôi ba bài nhỏ, các bài tổ thì “ngoài tầm với” vì trình độ chưa tới. Riêng người hát chỉ hát những bài lý, vài câu vọng cổ quen thuộc”. Vì vậy mà có lần GS-TS Trần Văn Khê đưa ra lời cảnh báo: “Mang ĐCTT đi làm du lịch là một vấn đề hết sức nguy hiểm. Trong chút thời gian ngắn ngủi 15-20 phút nghe đờn, hát vài ba bản thì làm sao hiểu hết giá trị. Chưa kể, cứ mang ca cổ ra giới thiệu tràn lan sẽ khiến người nghe hiểu lầm, giá trị của ĐCTT bị lệch lạc”.

Thực tế, chơi ĐCTT ở những nơi này là một nghề kiếm sống không hơn không kém. Họ đi đờn hát như những người làm công ăn lương, được các công ty du lịch thuê biểu diễn mỗi khi có khách và được trả tiền theo sô. Tuy nhiên, tiền nhận được cho mỗi lần biểu diễn cũng không nhiều, nếu ai được khách thưởng thì được thêm chút đỉnh. Vì vậy, không biết tự bao giờ, vì áp lực mưu sinh, họ biến thành những “thợ đờn”, “thợ ca” máy móc, chỉ biết gảy lên những tiếng đờn vô hồn, ca với giọng vô cảm.

Danh cầm Năm Thê nói: “Đa số những người này chỉ biết vài ba ngón đờn đơn giản do học lóm chứ có học hành bài bản gì đâu mà đờn. Họ chẳng biết làm nghệ thuật là gì mà chỉ biết đờn để kiếm tiền thôi!”. Một thợ đờn phân trần: “Chúng tôi vẫn cố gắng đờn đúng nhịp, đúng bài nhưng để thả hồn vào từng lời ca tiếng đờn thì hiếm lắm. Ở hoàn cảnh đờn để mưu sinh chứ không còn là một thú chơi nữa”.

“Rất nhiều người day dứt khi mang tiếng đờn gảy cho vừa tai khách để kiếm tiền nhưng họ không thể làm khác được” – nghệ nhân dân gian Tấn Khoa cho biết. Rõ ràng, khi nghệ thuật bị thương mại hóa thì sẽ ít nhiều mất đi giá trị vốn có. Bởi vậy, nói như GS-TS Trần Văn Khê: “ĐCTT là một cuộc tiêu khiển nghệ thuật, người nghe không mất tiền và người chơi cũng không đờn để kiếm sống. Muốn giữ gìn cái chất của ĐCTT thì đừng biến nó thành món hàng kinh doanh”.

Phải trả về đúng bản chất của nó

GS-TS Trần Văn Khê là người trăn trở nhất với việc làm sao trả ĐCTT về đúng không gian vốn có. Ông cho rằng trước hết phải tôn trọng vốn cổ cha ông để lại. ThS – nhạc sĩ Huỳnh Khải nói: “ĐCTT ở những vùng quê, nông thôn miền Tây vẫn còn giữ nguyên giá trị. Chỉ đáng lo ngại là những hình thức đưa ĐCTT vào nhà hàng, quán nhậu, du lịch để kinh doanh”. Vậy nên, việc chấn chỉnh hoạt động ở những hình thức này phải được quan tâm hàng đầu.

Ông Huỳnh Khải cho biết: “Chúng tôi mê ĐCTT vì được học hỏi, giao lưu với những danh cầm, nghệ nhân của thế hệ trước quá xuất sắc. Các bạn trẻ bây giờ không mê ĐCTT vì họ không được tiếp xúc, học hỏi một lớp nghệ nhân đờn giỏi như thời trước nữa”. Thực tế, số lượng nghệ nhân “vàng” của ĐCTT không còn nhiều trong khi những người kế thừa lại phải lao vào cuộc mưu sinh. Vì vậy, nhà nước nên có chính sách tạo điều kiện để những người ĐCTT có thể sống bằng tiền lương, giúp họ học hỏi, nâng tay nghề, hiểu đúng giá trị của ĐCTT.

Vừa qua, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch TP HCM đã  phối hợp cùng Sở Giáo dục và Đào tạo TP triển khai dự án đưa ĐCTT vào học đường. Trường THPT Bùi Thị Xuân là điểm hẹn đầu tiên của dự án. Chương trình bất ngờ nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các tài tử, danh cầm và học sinh nơi đây. Vấn đề đặt ra là làm sao mang đến thế hệ trẻ một không gian của ĐCTT đúng nghĩa, không bị hiện đại hóa, lai căng hóa.

Cần cách làm phù hợp

Theo nghệ nhân dân gian Tấn Khoa, ĐCTT trong các quán nhậu, nhà hàng rất khó để dẹp bỏ. Nếu có dẹp được thì cũng chỉ vài ba bữa rồi đâu lại vào đó. Mà những quán này thu hút khách đông, chứng tỏ người ta rất mê ĐCTT. Vậy nên, phải tạo  điều kiện để họ được giao lưu, học hỏi trong những không gian ĐCTT đúng nghĩa.

Theo ThS – nhạc sĩ Huỳnh Khải, việc mở rộng không gian của ĐCTT như đưa lên sân khấu, vào nhà hàng, quán ăn, các khu du lịch… là một xu thế tất yếu, đáp ứng nhu cầu xã hội. Ông lý giải: “ĐCTT muốn phổ biến thì phải đưa lên sân khấu, khi đưa lên sân khấu thì phải ăn mặc chỉnh tề. Muốn quảng bá rộng rãi đến du khách thì tất nhiên phải đưa vào du lịch”. Nói chung, bất kỳ một loại hình nghệ thuật nào có chiều dài phát triển cũng phải chấp nhận đối mặt với nhiều thách thức trong thời buổi kinh tế, hội nhập. Đây là quy luật của cuộc sống. Bởi vậy, đây là cơ hội để ĐCTT có dịp thử sức mình, vượt qua để khẳng định giá trị. “Còn việc có tự mình vượt qua được hay không hay sẽ bị đào thải thì vẫn cần những chính sách, sự quan tâm hơn nữa của những người làm công tác bảo tồn, gìn giữ” – ông Huỳnh Khải nhấn mạnh.

 

MINH NGA