TUỆ ĐÌNH : Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc: Cây đại thụ nền ca trù đất Bắc qua đời


Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc: Cây đại thụ nền ca trù đất Bắc qua đời

ĐĂNG BỞI  – 16:12 07-04-2014

 

Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc đã qua đời lúc 5 giờ sáng nay (7.4) tại quê nhà ở thôn Ngãi Cầu, Hoài Đức, Hà Nội. Bà ra đi ở tuổi 85 do tuổi cao, sức yếu…

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống nhiều đời làm nghề hát ca trù, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc từng được đông đảo công chúng biết đến như một danh ca nổi tiếng và hiếm hoi của thế kỷ 20 trên đất Hà Thành.
Tài năng không đợi tuổi
Được thừa hưởng truyền thống của gia đình cộng với niềm đam mê và nhiệt huyết, bà đã sớm bộc lộ những tố chất đặc biệt của một ca nương thực thụ khi tuổi đời còn rất trẻ. Sinh năm 1930, nhưng tới năm 12 tuổi đã theo cha mẹ đi hát ca trù kiếm sống ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Dường như những thanh âm của lời ca, tiếng đàn đáy, nhịp phách đã ngấm vào máu thịt của bà một cách rất tự nhiên. Để rồi như duyên nghiệp, người ta đã biết tới ca nương Nguyễn Thị Chúc – một danh ca nức tiếng xứ Hà Thành với giọng ngâm trong trẻo và kỹ thuật ém hơi, đổ hột điều luyện mà tài tình. Chiếm được cảm tình của vô số người nghe khi bà mới mười tám, đôi mươi.
Ca trù là một môn nghệ thuật truyền thống khá đặc biệt rất kén người nghe. Trước đây, ca trù thường chỉ được biểu diễn chốn cung đình cho tầng lớp cao cấp trong xã hội xưa thưởng thức. Từ những năm 1950 của thế kỷ trước, do hoàn cảnh lịch sử mà ca trù đã bị cấm đoán vì bị quy là “tàn dư của chế độ phong kiến”. Các ca nương kép đàn đều phải giấu thân phận của mình. Cụ Chúc từng tâm sự, phải sau 44 năm (tới năm 1994) cụ mới lại được mời đi hát trở lại khi Nhà nước có ý định phục dựng nghệ thuật Ca trù trên cả nước. 
Nghệ nhân ca trù Nguyễn Thị Chúc            
Bằng niềm đam mê và tài năng vốn có của mình, lúc sinh thời bà đã lặng lẽ truyền dạy cho bao lớp học trò những kiến thức và bí quyết của nghề để rồi cho “ra lò” không ít các ca nương đi biểu diễn ở các sân khấu trên cả nước. Nổi bật trong số đó là ca nương Phạm Thị Huệ – Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Thăng Long, là đệ tử chân truyền của bà từ năm 2006. Có thể nói, sau ngần ấy năm rời xa tiếng đàn, nhịp phách nhưng ẩn chứa đằng sau thân hình nhỏ nhắn là cả một kho tư liệu sống về nghệ thuật Ca trù. Bà được giới chuyên môn đánh giá rất cao về khả năng ém hơi, đổ hột, nhả chữ… vô cùng điêu luyện và tinh tế. 
Năm 2002, bà Chúc từng được mời tham gia giảng dạy lớp Ca trù ở Nhạc viện Hà Nội. Bên cạnh việc giảng dạy, bà còn là ban giám khảo những cuộc thi ca trù lớn nhỏ khắp cả nước. Năm 2004, bà đã cùng với ông Chu Trí Cang thành lập CLB Ca Trù Ngãi Cầu và CLB Ca trù Hoài Đức với gần 40 thành viên gồm các ca nương và kép đàn nhằm giữ lại nét truyền thống cho chính mảnh đất quê hương mình. Với tài năng và sự đóng góp của mình cho Ca trù, ngày 28.12.2005, nhà nước đã phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho bà Nguyễn Thị Chúc.
Mặc dù vậy, bà vẫn rất trăn trở về tương lai của môn nghệ thuật truyền thống này. Và như có cái “duyên tiền định”, vào tháng 8.2006, bà đã cùng với đệ tử chân truyền của mình là đào nương Phạm Thị Huệ thành lập CLB Ca trù Thăng Long, nay là Giáo phường Ca trù Thăng Long để tạo không gian và môi trường tryền dạy ca trù cho lớp thế hệ kế cận hôm nay và mai sau. Tháng 10.2009, Tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc chính thức công nhận nghệ thuật ca trù của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 
Tháng 12.2009, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc nhận giải thưởng Đào Tấn. Năm 2010, bà đã cùng với Giáo phường Ca trù Thăng Long tham gia nhiều chương trình và tổ chức nhiều đêm diễn chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Trong những lần diễn ra Liên hoan Ca trù tại Hà Nội từ năm 2011 đến nay, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc là một nhân vật không thể thiếu trong thành phần ban giám khảo.
Còn đó những trăn trở…
Tính đến trước ngày bà ra đi, cũng được 20 năm bà được sống lại niềm đam mê của mình. Đó cũng là quãng thời gian mà bà đã có những hoạt động không biết mệt mỏi để gìn giữ và truyền đạt nghệ thuật Ca trù. Ở tuổi ngoại bát tuần, nhưng lúc ấy bà vẫn luôn trăn trở để làm sao cho những nét đặc sắc của ca trù sẽ còn mãi với dòng chảy của nền văn hóa dân tộc; giúp thế hệ trẻ hiểu hơn, thêm yêu những giá trị riêng của những môn nghệ thuật truyền thống như ca trù. 
Cả một đời theo nghiệp ca trù nhưng bà vẫn không quên nghĩa vụ của mình trước các bậc tiền nhân. Bà là nghệ nhân hiếm hoi truyền dạy vốn nghệ thuật dân tộc này tới nhiều học trò nhất. Ngoài các ca nương, đào đàn trẻ của Giáo phường Ca trù Thăng Long, hầu hết các ca nương nổi bật của Hải Dương, Thái Bình, Hà Nội, Hà Tây đều do bà truyền dạy. Bà từng chia sẻ, nếu để nét văn hóa đặc sắc này mai một theo thời gian mà không phổ biến rộng ra thì sẽ là có tội lớn với tiền nhân. Ẩn sâu trong những câu hát đó còn là hồn của dân tộc, chớ để ca trù bị thất truyền… 
Có lẽ, chính bởi tài năng và cái tâm trong sáng của mình, dù nay đã ra đi nhưng bà hoàn toàn xứng đáng được mọi người tôn vinh là một trong số các cây đại thụ của nền ca trù đất Bắc.
Tuệ Đình

HỒNG MINH : Quan tâm nghệ nhân để bảo tồn di sản/ ca nương Nguyễn Thị Chúc từ trần / Ca trù


Quan tâm nghệ nhân để bảo tồn di sản
Image
 
Thứ tư, 09/04/2014 – 01:32 AM (GMT+7)
 
 
Ca nương Nguyễn Thị Chúc và kép đàn Nguyễn Phú Đẹ cùng học trò Phạm Thị Huệ trong một tiết mục ca trù.
 
 
Ca nương Nguyễn Thị Chúc và kép đàn Nguyễn Phú Đẹ cùng học trò Phạm Thị Huệ trong một tiết mục ca trù.
 

Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, một “di sản” hiếm hoi còn sót lại của nghệ thuật hát ca trù người Việt vừa tạ thế.

 

Cụ Chúc sinh ra trong gia đình có truyền thống hát ca trù và thời trẻ đã theo hát tại các giáo phường nổi tiếng. Khi nghệ thuật hát ca trù được UNESCO vinh danh, mặc dù đã gần 80 tuổi nhưng cụ Chúc là một trong số ít ỏi nghệ nhân tích cực tham gia hát và truyền dạy cho lớp nghệ nhân mới. Hình ảnh của cụ trở nên quen thuộc với những người yêu nghệ thuật ca trù, khi gần như ở hầu hết các điểm hát ca trù tại Hà Nội và các cuộc liên hoan, ở đâu có ca trù là ở đó có cụ tham gia. Ở nhiều cuộc hát, dù lặng lẽ người hát và hiu hắt người nghe, cứ có cụ tham gia biểu diễn là ấm lòng. Tiếng hát trong vắt phiêu linh cùng dáng vẻ mảnh mai quý phái của cụ luôn là linh hồn, là tâm điểm chú ý của các cuộc hát.

Khi di sản văn hóa được UNESCO vinh danh thì tên tuổi của cụ luôn gắn liền với nó, mòn mỏi cống hiến cho đến khi nhắm mắt, ngoài cái danh hiệu nghệ nhân do Hội Văn nghệ dân gian phong tặng, về mặt chế độ, cụ chưa hề được ưu đãi gì.

Cụ Chúc không phải là trường hợp duy nhất mang theo cả kho báu, ngậm ngùi ra đi trong khi chính sách đãi ngộ và việc phong tặng danh hiệu nghệ nhân của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sau nhiều năm soạn thảo lấy ý kiến, vẫn đang chờ hoàn thiện để ban hành. Khi khảo sát nghệ thuật ca trù trong cả nước để lập hồ sơ di sản đệ trình UNESCO, chúng ta tìm được 22 nghệ nhân – là những ca nương, kép đàn cũ. Cho đến nay, hơn ba phần tư trong số họ đã lần lượt về với tiên tổ.

Cụ Chúc có lẽ còn đỡ tủi thân hơn những nghệ nhân khác, khi ốm nặng về quê hương Ngãi Cầu và đến khi nằm xuống còn được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin. Còn những nghệ nhân như cụ Nguyễn Thị Kim ở Thanh Hóa, cụ Phan Thị Mơn ở Cổ Ðạm… khi họ sống thì luôn được nhắc đến trong các hồ sơ, báo cáo thành tích, là “linh hồn” của các kỳ, cuộc liên hoan. Họ nằm xuống lặng lẽ khi nào chẳng mấy người biết.

Tôi vẫn còn nhớ như in cảm giác vui sướng của giới cổ nhạc khi nghe tin nghệ thuật hát ca trù người Việt được UNESCO vinh danh là Di sản phi vật thể nhân loại cần được bảo vệ khẩn cấp. Ðó là vào tháng 10 năm 2009. Gần sáu năm kể từ khi được vinh danh, cái sự mừng chỉ lóe lên thoáng chốc, niềm vui và nhiệt huyết cũng cạn dần. Ca trù vẫn được hô hào bảo tồn và phát triển, nhưng sau mỗi kỳ liên hoan toàn quốc, ngồi đong đếm lại, giới nghiên cứu giật mình nhận ra các câu lạc bộ có vẻ ngày càng nhiều hơn nhưng giá trị của ca trù thì ngày càng phai nhạt.

Không khó khăn để ai cũng nhận ra, đối với loại hình cổ nhạc, di sản nằm trong tay lớp nghệ nhân cũ, họ không những có tài năng thiên phú mà còn giữ kỹ thuật trình diễn điêu luyện nhuần nhuyễn có được do cả đời thực hành trong môi trường diễn xướng thật sự. Khi họ mất đi mà không kịp trao truyền cho thế hệ mai sau, có nghĩa là mất đi phần hồn của di sản. Lớp nghệ nhân hiếm hoi quý giá đó giờ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay và hầu hết họ đều cận kề hoặc đã qua tuổi 80. Chỉ nói riêng lĩnh vực ca trù, các nghệ nhân còn lại như cụ Nguyễn Phú Ðẹ, cụ Nguyễn Thị Sinh, năm nay đã hơn 90 tuổi, các cụ Phó Thị Kim Ðức, Nguyễn Thị Khướu, Nguyễn Thị Vượn, hay các cụ Ðỗ Thị Sông, Ðỗ Thị Dị đều cũng đã hơn 80 tuổi mà có lẽ cũng không biết chính xác ai còn ai mất. E rằng, chờ đến khi có quyết định phong tặng danh hiệu của Nhà nước thì họ đã ra đi hết rồi.

Nhưng điều cấp thiết quan trọng hơn cái danh hiệu cầm tay để đi về cõi vĩnh hằng, những nghệ nhân như những “báu vật sống”, cần được cấp chế độ ưu đãi đặc biệt và tổ chức các lớp học để họ trao truyền vốn liếng cho lớp trẻ.

 

 
HỒNG MINH

OVERTONE SINGING con TRAN QUANG HAI – WORKSHOP DAL 3 ALL’8 OTTOBRE 2014, ROMA, ITALIA


OVERTONE SINGING con TRAN QUANG HAI – WORKSHOP DAL 3 ALL’8 OTTOBRE 2014, ROMA, ITALIA

ROMA, DAL 3 ALL’8 OTTOBRE 2014: WORKSHOP “OVERTONE SINGING”

CON TRAN QUANG HAI 

sei giorni di workshop sul canto armonico con il più

grande esperto mondiale 

dal 3 all’8 ottobre 2014 (dalle ore 15,00 alle ore 19,00)

per un totale di 24 ore.

POSTI LIMITATISSIMI: GLI INTERESSATI POSSONO PREISCRIVERSI ED ASSICURARSI COSI’ LA PRIORITA’ AL MOMENTO DELL’ISCRIZIONE

associazionevoices@gmail.com

Raffinato interprete delle tradizioni musicali dell’Estremo Oriente, maestro di artisti come Demetrio Stratos, Tran Quang Hai è considerato il più grande specialista del mondo di canto difonico (overtones), tecnica vocale di origine sciamanica che permette l’emissione simultanea di due note, diffusa in Mongolia, in Siberia e in Sudafrica.
Tran Quang Hai proviene da una famiglia di cinque generazioni di musicisti.
tranquanghai.info

Refined interpreter of the musical traditions of the Far East, master of artists such as Demetrio Stratos, Tran Quang Hai is considered as the greatest expert in the world of overtone singing (overtone), vocal technique of shamanic origin that allows the simultaneous emission of two notes, widespread in Mongolia, Siberia and South Africa.
Tran Quang Hai comes from a family of five generations of musicians.
More information about him at http://tranquanghai.info  or http://tranquanghai.com
for information about overtone singing at : http://haidiphonie.wordpress.com

MAÎTRE VĨNH BẢO : LE GRAND ART NE S’ENSEIGNE PAS ….


vinh-bao_21

– 1 –

LE GRAND ART NE S’ENSEIGNE PAS ….

Cet écrit, fruit de mes soixante-dix années de travail ne légue qu’à mes fidèles disciples.

—x—

Un bon enseignement, c’est indiquer le chemin qui donne accès à l’art.

Il éveille chez l’élève la sensibilité musicale et dans la mesure de ses possibilités, les facultés créatrices elles-mêmes.

Préparer, éduquer, discipliner l’organisme afin de permettre la personalité de l’exécutant de s’exprimer librement et de régler la dépense harmonieuse de ses forces.

Dans l’éducation musicale, le rôle le plus important revient aux fonctions cérébrales et non au mécanisme des doigts.

Quand je regarde les doigts de l’élève que je fais travailler, je vois tout ce qui se passe dans sa tête: ce ne sont pas les doigts, c’est la tête qui m’intéresse.

– 2 –

Je n’aime pas les mains entrainées, mais les mains disciplinées. Si l’on n’éveille pas les yeux

qui dorment dans ses mains, on n’arrivera rIen de bon.

Pour savoir qu’on est imparfait, il faut se connaitre. Il faut lutter contre cette erreur.

Pour se corriger, il faut se vaincre.

Pour se vaincre, il faut savoir en quoi consiste le perfectionnement et la pratique.

L’instinct de l’artiste est un raisonnement inconscient. C’est toujours un phénomène spontané et mystérieux du à l’émotion éprouvée par l’artiste  en face de la beauté, de la vie et de ses maninfestations.

Le grand art ne s’enseigne pas; il procède de l’inspiration. Cependant la technique et l’art sont intimement liés, l’un agissant sur l’autre, dans une croissance simultanée. Il faut le dire, ce n’est pas la musique telle qu’elle est écrite par le compositeur que nous entendons, mais c’est la transfiguration idéale de cette musique

– 3 –

Le perfectionnement de l’art musical doit se former à travers nos trois principaux sens – le toucher, l’ouie et la vue -. Lorsqu’une oeuvre d’art nous émeut, nous vibrons “à l’unissons” avec elle. La mesure est dans le sens musical comme le rythme dans le vers.

La seule connaissance des lois, certes, ne suffit pas pour créer l’oeuvre d’art. Il faut l’apprendre à utiliser les hasards. Si l’on cultivait tous les hasards, comme l’on serait savant.

8-4-2014

Nguyển Vĩnh Bảo 

This blog is focused on Trân Quang Hai