TRẦN THANH PHONG – TIẾN TRÌNH : Đờn kìm ‘khủng’ chờ festival


Đờn kìm ‘khủng’ chờ festival

Cây đờn kìm cách điệu lớn nhất, biểu tượng văn hóa tỉnh Bạc Liêu - Ảnh: T.T
Cây đờn kìm cách điệu lớn nhất, biểu tượng văn hóa tỉnh Bạc Liêu – Ảnh: T.T 

Thành phố Bạc Liêu những ngày này đang tất bật “sửa soạn” để chào đón sự kiện văn hóa được xem là lớn nhất từ trước tới nay của tỉnh. Điểm nhấn là nhiều công trình kiến trúc – văn hóa ấn tượng, biểu trưng đậm nét địa phương. Trong đó, công trình Trung tâm triển lãm văn hóa – nghệ thuật và Nhà hát Cao Văn Lầu gây nhiều ấn tượng.

3 chiếc nón lá khổng lồ

Công trình được thiết kế gồm 3 khối nhà chính (khối nhà hát, nhà trưng bày và trung tâm hội nghị với gần 1.000 chỗ ngồi). Kiến trúc công trình trên là hình 3 chiếc nón lá đan xen nhau. Các nón lá quay về phía trục đường chính có khối đế hình tròn, liên kết với hồ nước được xem như một trong những biểu trưng văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Phối cảnh Nhà hát Cao Văn Lầu và Trung tâm triển lãm văn hóa - nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu - Ảnh: T.T
Phối cảnh Nhà hát Cao Văn Lầu và Trung tâm triển lãm văn hóa – nghệ thuật tỉnh Bạc Lieu
– Ảnh: T.T
 

Ông Nguyễn Chí Thiện, Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Bạc Liêu, cho biết công trình này là vườn ươm các tài năng nghệ thuật của Bạc Liêu; giới thiệu, trưng bày, triển lãm các thành tựu văn hóa, văn học – nghệ thuật của tỉnh; nơi diễn ra các hoạt động giao lưu văn hóa, hội nghị mang tầm khu vực, quốc gia và quốc tế.

“Quân tử cầm”

Đờn kìm trong nghệ thuật đờn ca tài tử còn được gọi là “quân tử cầm”, là nhạc cụ thường “làm chủ cuộc chơi” trong các ban nhạc tài tử. Tỉnh Bạc Liêu, nơi sản sinh ra bài Dạ cổ hoài lang vừa cho xây dựng công trình tôn vinh loại nhạc cụ này, cũng là tôn vinh bộ môn nghệ thuật đờn ca tài tử (ĐCTT). Đờn kìm là một loại nhạc cụ phổ biến trong dàn nhạc của nghệ thuật ĐCTT và là nhạc cụ mà cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã sử dụng để sáng tác ra bài Dạ cổ hoài lang.

Cây đờn kìm cách điệu, được xây dựng trên tổng diện tích khoảng 5.000 m2, cao 18,6 m, ngay tại trung tâm quảng trường Hùng Vương (P.1, TP.Bạc Liêu). Được nâng đỡ bởi 5 cánh sen nằm trong hồ nước hình ngôi sao 5 cánh cùng với hệ thống phun nước ở hồ sen và ánh sáng nghệ thuật. Vì thế, việc phối hợp hình khối cây đờn kìm cách điệu với ánh sáng lung linh và hệ thống nhạc nước hiện đại xung quanh làm tăng nét thẩm mỹ trong tổng thể kiến trúc của Khu trung tâm hành chính tỉnh Bạc Liêu.

Sân phun nước “lộc phát”

Công trình được xây dựng trên mặt sân quảng trường Hùng Vương, sàn phun gồm 3 đoạn, với 68 vòi phun cao từ 1,5 – 3 m. Số lượng vòi ứng với con số “lộc phát”, cầu mong sự phồn thịnh và phát triển không ngừng cho miền đất này và cho du khách đến với Bạc Liêu. Các vòi phun với những tia nước có độ cao thấp khác nhau theo 9 chương trình phun nước tạo nên yếu tố “động” cho quảng trường; tạo nên những “vũ điệu nước” thể hiện nhịp sống năng động và hiện đại của một thành phố trẻ. Sân phun nước nghệ thuật được thiết kế để tạo nên điểm nhấn, vẻ đẹp cho quảng trường trong các dịp tổ chức các ngày lễ lớn của tỉnh, diễu hành, mít tinh, tổ chức các sự kiện giao lưu văn hóa và là nơi diễn ra các hoạt động cộng đồng.

 

Biểu tượng kết nghĩa

Biểu tượng kết nghĩa Bạc Liêu – Ninh Bình được xây dựng có phần hồ nước với diện tích 176 m2, trên hồ là 3 vòm cong liên kết với nhau, tượng trưng cho sự trùng trùng, điệp điệp, hùng vĩ của thiên nhiên Ninh Bình hòa quyện với những ruộng muối đặc trưng của Bạc Liêu. Ba khối đá được lấy từ đá trân châu của tỉnh Ninh Bình thể hiện núi sông Ninh Bình và ruộng lúa Bạc Liêu. Chất liệu đá gợi lên ý niệm và liên tưởng về sự vĩnh cửu. Mặt sau của khối đá cao nhất khắc thông điệp về sự kiện kết nghĩa Bạc Liêu – Ninh Bình.

 

Trần Thanh Phong – Tiến Trình

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140422/don-kim-khung-cho-festival.aspx

 >> Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014: Nhiều hoạt động sôi nổi, độc đáo
 >> Khánh thành nhiều công trình dịp Festival Đờn ca tài tử
 >> Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất năm 2014: Bạc Liêu đã sẵn sàng

TRỌNG DUY : Bạc Liêu trước giờ khai mạc Festival Đờn ca tài tử


Bạc Liêu trước giờ khai mạc Festival Đờn ca tài tử

Thứ ba, 22/04/2014 – 10:56 AM (GMT+7)

    

Cổng chào vào khu Quảng trường Hùng Vương của tỉnh Bạc Liêu- nơi sẽ diễn ra các hoạt động Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất

NDĐT- Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất – sự kiện văn hóa lớn nhất tỉnh Bạc Liêu kể từ trước đến nay – sắp chính thức khai mạc.

Những ngày này TP trẻ Bạc Liêu như “khoác trên mình chiếc áo mới” rực rỡ. Đường phố được trang hoàng lộng lẫy, xanh- sạch- đẹp hơn bao giờ hết. Mỗi người dân Bạc Liêu đang hồ hởi, náo nức đón chờ giờ phút khai mạc chính thức Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất…

Tỉnh vừa khánh thành nhiều công trình văn hóa trọng điểm của địa phương. Nổi bật nhất là công trình Quảng trường Hùng Vương nằm tại trung tâm TP Bạc Liêu, khu vực chính sẽ diễn ra lễ khai mạc và các hoạt động chính của Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất, tổ chức từ ngày 24 đến 29-4.

Công trình Quảng trường Hùng Vương có diện tích hơn 85 nghìn m2, diện tích lát đá rộng hơn 40 nghìn m2, tổng mức đầu tư hơn 160 tỷ đồng. Theo đánh giá của nhiều cán bộ và người dân, đây là quảng trường được xây dựng có quy mô và đẹp nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long tính đến thời điểm hiện nay.

Đặc biệt, tại khu vực quảng trường này, tỉnh Bạc Liêu vừa xây dựng, hoàn thành nhiều công trình văn hóa đặc sắc như: Trung tâm văn hóa Nghệ thuật và Nhà hát Cao Văn Lầu (ba nón lá), Cây đờn kìm cách điệu. Đây là hai công trình vừa mang ý nghĩa, vừa hoàng tráng, được Tổ chức kỷ lục Việt Nam (VietKings) quyết định công nhận công trình “Nhà hát Cao Văn Lầu và Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu” và “Cây đờn kìm cách điệu lớn nhất, biểu tượng văn hóa tỉnh Bạc Liêu” đạt danh hiệu kỷ lục Việt Nam.

Bí thư Tỉnh uỷ Bạc Liêu Võ Văn Dũng khẳng định: Việc tổ chức Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất của Bạc Liêu kết hợp chặt chẽ với việc xây dựng và hoàn tất Quảng trường Hùng Vương hoành tráng cùng quần thể các công trình văn hóa, nghệ thuật kèm theo như Nhà hát Ba Nón Lá, Tượng đài Cây Đờn Kìm – nhạc cụ đặc trưng cho đờn ca tài tử Nam Bộ mà Bạc Liêu là cái nôi nổi tiếng; Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ; Tượng đài các liệt sĩ Mậu thân; Đài lưu niệm kết nghĩa Bạc Liêu – Ninh Bình và công trình cải tạo Trung tâm văn hóa tỉnh…

Festival Đờn ca tài tử có rất nhiều hoạt động thiết thực, như: Giới thiệu tác phẩm tiêu biểu của soạn giả Yên Lang, soạn giả Trọng Nguyễn, Liên hoan đờn ca tài tử Nam bộ, Không gian đờn ca tài tử Nam bộ, Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa phi vật thể Đờn ca tài tử Nam bộ, Chung kết giải thưởng Trần Hữu Trang, Lễ hội ẩm thực Nam Bộ, Hội chợ thương mại du lịch, Triển lãm nhạc cụ dân tộc, Triển lãm tranh- ảnh nghệ thuật, chấm các cuộc thi văn hóa nghệ thuật, hội thả diều, Carnaval xe cổ “Hành trình kết nối di sản văn hóa”…

Ở Bạc Liêu những ngày này, không chỉ cán bộ mà chúng tôi ghi nhận mọi người đều quan tâm góp phần vào việc tổ chức thành công sự kiện Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất. Ông Tô Huy Phong, Chủ tịch Hội đồng Công ty Du lịch Cẩm Quyên, chủ đầu tư dự án Khu du lịch Công tử Bạc Liêu cho biết: Trong thời gian qua Công ty đã đầu tư hơn 30 tỷ đồng cải tạo, nâng cấp Khu du lịch, khu khách sạn với hệ thống phòng nghỉ cao cấp. Trong đó, có gần 20 phòng nghỉ cao cấp, sang trọng nhằm phục vụ khách cấp cao của Trung ương. Ngoài ra, Khu du lịch Công tử Bạc Liêu còn đầu tư hàng chục tỷ đồng cải tạo, nâng cấp khu du lịch, khu ẩm thực, các gian hàng truyền thống…nhằm phục vụ tốt du khách mọi miền của đất nước đến Bạc Liêu nhân sự kiện Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất- Bạc Liêu 2014.

Ông Nguyễn Chí Luận, Chủ tịch HĐQT Công ty du lịch sinh thái Hồ Nam – Bạc Liêu nói: Những công trình xã hội hóa sẽ phục vụ sáu hoạt động festival đờn ca tài tử như: không gian đờn ca tài tử, hội chợ thương mại – du lịch, Lễ hội ẩm thực Nam bộ, họp mặt doanh nhân… Đặc biệt, tại khu vực quanh Hồ Nam còn xây dựng 21 chiếc nón lá nghiêng nghiêng, ẩn dưới hàng cây xanh, tựa lưng bờ hồ, hướng ra đường thoáng đãng tạo thành Không gian đờn ca tài tử cho 21 tỉnh, thành Nam Bộ thi triển tinh thần và tài nghệ loại hình ca nhạc dân gian vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại…

Bí thư Tỉnh Đoàn Bạc Liêu Trương Hồng Trang cho biết: Tuổi trẻ Bạc Liêu lập đội hình tình nguyện viên phục vụ Festival Đờn ca tài tử quốc gia, với hơn 300 ĐVTN năng động, nhiệt tình.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Ban Chỉ đạo Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014 chia sẻ: “Festival này, chúng tôi muốn nhấn mạnh tinh thần giao lưu, liên kết với các tỉnh trong vùng và với cả nước. Các nghệ sĩ từ các tỉnh thành sẽ làm chung các tiết mục trong lễ khai mạc và bế mạc và họ sẽ đóng góp tài nghệ riêng để cùng tạo dựng một không gian đờn ca tài tử, tái hiện lại được quá trình hình thành, phát triển cũng như tinh thần của loại hình di sản văn hóa nhân loại đặc biệt này. Có thể nói, Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất, tỉnh Bạc Liêu chọn chủ đề “Tình người, tình đất Phương Nam” đã nói lên phần nào niềm vinh dự và trọng trách của Bạc Liêu với Đờn ca tài tử Nam bộ…

Bạc Liêu đã và đang sẵn sàng chờ đợi giờ phút chính thức khai mạc Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất- Bạc Liêu 2014 đang đến rất gần…

TRỌNG DUY

http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/nghe-doc-xem/item/22985002-bac-lieu-truoc-gio-khai-mac-festival-don-ca-tai-tu.html

 

KHÔI NGUYÊN : Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ I – 2014: Kích cầu du lịch bằng… di sản


Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ I – 2014: Kích cầu du lịch bằng… di sản

Thời báo Ngân hàng – 21/04/2014 09:39

Kết quả kiểm kê chưa đầy đủ, nước ta có hơn 29.000 người đang thực hành nghệ thuật Đờn ca tài tử ở 21 tỉnh, thành miền Nam, trong đó tỉnh Tiền Giang có nhiều người thực hành đờn ca tài tử nhất.

Mọi người đều có thể là chủ nhân di sản

Bà Lê Thị Ái Nam – Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu, Trưởng Ban tổ chức Festival Đờn ca tài tử lần này nhấn mạnh: “Đây là dịp nhằm tôn vinh và quảng bá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc Việt Nam nói chung và người dân Nam bộ nói riêng, là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại với du khách trong và ngoài nước.


Đờn ca tài tử có ở bất cứ đâu trong sinh hoạt hàng ngày của người Nam bộ

Điều này cũng khẳng định Việt Nam đã và đang quyết tâm bảo tồn, phát triển nghệ thuật và phong trào Đờn ca tài tử trong đời sống hiện đại; góp phần gìn giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc”.

Kết quả kiểm kê chưa đầy đủ, nước ta có hơn 29.000 người đang thực hành nghệ thuật Đờn ca tài tử ở 21 tỉnh, thành miền Nam, trong đó tỉnh Tiền Giang có nhiều người thực hành đờn ca tài tử nhất.

Theo hồ sơ khoa học về nghệ thuật Đờn ca tài tử đệ trình Tổ chức UNESCO để được vinh danh, Đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa bác học, ra đời ở miền Nam Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, được sáng tạo trên cơ sở nhạc lễ, nhạc cung đình, nhạc dân gian miền Trung và miền Nam.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử chính vì thế chịu ảnh hưởng giao thoa với một số loại hình di sản văn hóa khác ở miền Trung, miền Nam như nhạc lễ, hát bội, dân ca và được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2012.

Đờn ca tài tử được sáng tạo không ngừng nhờ tính “ngẫu hứng”, “biến hóa lòng bản” theo cảm xúc trên cơ sở 20 bài gốc (bài tổ) và 72 bài nhạc cổ. Điều đặc biệt của đờn ca tài tử còn được thể hiện ở việc thực hành theo nhóm, câu lạc bộ và gia đình tại lễ hội, ngày giỗ, cưới, sinh nhật, họp mặt…

Hơn thế, “chủ nhân” của nghệ thuật Đờn ca tài tử có thể là bất cứ ai và người thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau như nông dân, ngư dân, công nhân, trí thức. Mọi người trong một không gian của lời ca tiếng nhạc có thể cùng tham gia thực hành, bình luận và sáng tạo để loại hình nghệ thuật này phong phú hơn.

Nhiều hoạt động để phát triển du lịch

Bà Lê Thị Ái Nam chia sẻ, qua Festival Đờn ca tài tử nhằm tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước và con người Nam bộ nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng, thu hút khách du lịch đến với vùng đất giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Do đó, Festival Đờn ca tài tử sẽ được tổ chức quy mô với nhiều hoạt động, chương trình đan xen với nghệ thuật Đờn ca tài tử.

Theo Ban tổ chức, Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất sẽ có 21 hoạt động diễn ra liên tục trong 5 ngày. Các hoạt động chính rất đáng chú ý, gồm: Hội chợ Thương mại – Du lịch; Lễ hội ẩm thực Nam bộ; Chương trình nghệ thuật tôn vinh soạn giả Trọng Nguyễn và soạn giả Yên Lang.

Bên cạnh đó, các cuộc triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật cũng sẽ được tổ chức; những không gian đờn ca tài tử đậm nét Nam bộ sẽ được tái hiện một cách gần gũi, ấm cúng.

Dịp này, tỉnh Bạc Liêu cũng sẽ khánh thành dự án mở rộng khu lưu niệm Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu – tác giả bài đờn nổi tiếng “Dạ cổ hoài lang”. Đồng thời các cuộc hội thảo và ký kết tour, tuyến du lịch sẽ diễn ra. Ban tổ chức Festival Đờn ca năm nay cũng tổng kết và trao giải cho các cuộc thi: Sáng tác ca khúc, vọng cổ và sáng tác lời mới 20 bản tổ Đờn ca tài tử – Nam bộ…

Ông Võ Văn Dũng, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch HĐND tỉnh Bạc Liêu cho biết, Festival Đờn ca tài tử quốc gia là sự kiện quan trọng, là cơ hội để tỉnh Bạc Liêu phát triển, nhất là lĩnh vực du lịch, nên kỳ vọng qua sự kiện này; Bạc Liêu sẽ là điểm đến hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước bởi sự độc đáo, gần gũi và mến khách!

Từ ngày 24 đến 29/4, tại tỉnh Bạc Liêu sẽ diễn ra một sự kiện văn hóa đặc sắc và nhiều ý nghĩa, đó là Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ I – 2014 với chủ đề “Đờn ca tài tử – Tình người tình đất Phương Nam”. Với những giá trị đặc biệt, Đờn ca tài tử đã được Tổ chức Văn hóa – Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại” vào ngày 5/12/2013. 

Bài và ảnh Khôi Nguyên

http://www.baomoi.com/Festival-Don-ca-tai-tu-quoc-gia-lan-thu-I–2014-Kich-cau-du-lich-bang-di-san/137/13618186.epi#

 

VŨ ĐỨC SAO BIỂN : Dạ cổ hoài lang niềm cảm hứng của tôi


http://svhttdl.baclieu.gov.vn/dat_nguoi_BL/Lists/Posts/Post.aspx?List=0fcefd2c-865c-4148-92f1-8ffc7a314a21&ID=16

 

Dạ cổ hoài lang niềm cảm hứng của tôi
Tôi sinh ra tại Quảng Nam, là con của một gia đình nghèo. Mười tám tuổi, tôi xách một chiếc va-ly nhỏ đựng vài bộ quần áo, một tấm bằng tú tài, một cây đàn violon đi về phương Nam.
Tôi sinh ra tại Quảng Nam, là con của một gia đình nghèo. Mười tám tuổi, tôi xách một chiếc va-ly nhỏ đựng vài bộ quần áo, một tấm bằng tú tài, một cây đàn violon đi về phương Nam.

Tôi không đi tìm công danh qua con đường đại học. Tôi đi là bởi tôi lỡ say mê hồn tính lãng mạn phương Nam trong “Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu. Bởi tôi học Hán văn và thuộc khá nhiều thi ca Đường Tống nên trong tâm thức của tôi, ông Viễn Châu viết “Tình anh bán chiếu”cũng có cái lãng mạn say đắm như Thôi Hộ đời Đường viết bài thơ “Đề tích sở kiến xứ” (Viết tại nơi đã trông thấy ngày xưa).

Tốt nghiệp sau bốn năm học, tôi được bổ về Bạc Liêu dạy học. Ngày ấy tôi mới 22 tuổi. Ba mươi chín năm qua, tôi nghĩ lại mới thấy mình thật may mắn khi được đến vùng đất Bạc Liêu. Bởi Bạc Liêu là cái nôi của Dạ cổ Hoài lang – bài ca tóm thâu gần như trọn vẹn chất oán trong hồn tính lãng mạn tươi đẹp của âm nhạc phương Nam. Bởi Bạc Liêu là quê hương mà người nhạc sĩ tài hoa Cao Văn Lầu viết “Dạ cổ Hoài lang” tràn đầy những suy tưởng triết lý về tình yêu và sự xa biệt. Và bởi Dạ cổ Hoài lang là bản gốc, được phát triển qua thời gian thành bài ca vọng cổ.

Tôi lỡ say mê “Tình anh bán chiếu” của Viễn Châu nhưng về đến xứ Bạc Liêu, tôi mới hiểu được “Dạ cổ Hoài lang” là nguồn gốc phát tích này của bài ca vọng cổ.

Năm 18 tuổi, tôi xa NTH – người bạn gái đầu đời; 20 tuổi, tôi mất người bạn ấy, mãi mãi. Chút tình đầu trong sáng, ngây thơ dằn vặt , ray rứt mãi trong tâm hồn tôi. Năm 1968, tôi viết “Thu, hát cho người”, “Chiều mơ”, “Người xưa” (Huyền xưa) và may mắn thành danh nhạc sĩ thực thụ. “Thu, hát cho người” được công nhận là bài tình ca kinh điển trong âm nhạc Việt Nam. Nguồn nhạc mà tôi được học là nhạc Tây phương với những quy luật chặt chẽ, những nhạc cụ định âm.

Về đến xứ Bạc Liêu, tôi may mắn tiếp cận với một nguồn nhạc mới của Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, Líu, U; với những loại nhạc cụ dân tộc bán định âm. Người nghệ sĩ phương Nam thật lãng mạn với những nốt nhất chơi trên phím đàn, với tiếng ca đổ hột ngân dài lãng đãng sương khói cho âm thanh phát ra lơ lửng ¼, 1/8 và thậm chí là 1/16 của toàn âm (ton) so với thanh nhạc Tây phương. Đây là điều mà tôi chưa được học trong giáo trình âm nhạc.

Tôi đến với những ban đàn tài tử, những đêm biểu diễn bỏ túi, nghe các anh chị đàn ca. và không hiểu tự bao giờ, giai điệu “Dạ cổ Hoài lang” của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu thấm thấu vào tâm hồn tôi. Tôi hình dung ra giai điệu ấy, những quãng âm nhạc đặc trưng ấy trên khuôn nhạc của thanh nhạc Tây phương. Giai điệu (mélodie) và các quãng âm (intervaux) của “Dạ cổ Hoài lang” đẹp đến não nùng. Nếu ký âm lại bài ca với thanh nhạc Tây phương theo cung Mi mineur đúng cao độ quốc tế (tương đương với giọng đào ca bài vọng cổ), thì ta mới thấy được cái tài hoa của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Những chữ cuối câu của bài ca được tác giả thay đổi cao độ liên tục:

1. Từ là từ phu tướng (Tướng: Do#, quãng 6).

2. Bảo kiếm sắc phong lên đàng (Đàng: La, quãng 4).

3. Vào ra luống trông tin nhạn (Nhạn: trở lại chủ âm Mi).

4. Năm canh mơ màng (Màng: trở lại âm Mi).

5. Em luống trông tin chàng (Chàng: Si, quãng 5)…

Nói theo nhạc pháp Tây phương, bài ca chuyển âm giai phong phú: hạ lục trình át âm, hạ tứ trình át âm, chủ âm, hạ ngũ trình át âm. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu quả thật tài hoa khi ông thay đổi âm giai cho bài ca, khử hẳn tính đơn điệu vốn rất dễ gặp trong dân ca nhạc cổ. Tôi thẩm thấu giai điệu này của ông và tôi nghĩ đúng là một bài ca kinh điển.

Năm 1994, tôi viết “Điệu buồn phương Nam” vì nhớ thương hình bóng TNY – một cô gái đất Bạc Liêu. “Chiêu thức” của ca khúc là phát triển điệu “Xuân nữ” nhưng “nội công” của bài hát là chất oán đẹp tươi của “Dạ cổ Hoài lang”. Bài hát được các nhạc sĩ hòa âm khen tặng là bài phát triển dân ca hay nhất của thế kỷ 20.

Năm 1999, tôi trở lại Bạc Liêu, được nghe ông Vưu Long Vỹ và các nghệ nhân Bạc Liêu ca lại bài “Dạ cổ Hoài lang”. Tôi ký âm lại bài “Dạ cổ Hoài lang” trên nền tảng được nghe các nghệ nhân hát. Mỗi người hát một cách khác nhau, giữa họ có sự khác biệt về cao độ một số nốt nhạc và một số chữ dùng trong câu. Tôi đối chiếu, lựa chọn và cuối cùng, tôi chọn ca từ trong tiếng hát của ông Vưu Long Vỹ.

Tôi đưa bài “Dạ cổ Hoài lang” (ký âm lại) cho Hương Lan và Hạnh Nguyên đi hát ở Hà Nội như một số ca khúc độc lập (không liên hệ với sân khấu cải lương). Hương Lan vốn quen với sân khấu cải lương nên hát có sửa đổi vài chi tiết về thanh nhạc nhưng Hạnh Nguyên thì hát đúng bài.

“Dạ cổ Hoài lang” là một giá trị văn hóa phi vật thể quý giá của đất Bạc Liêu, xứng đáng để lại cho ngàn sau. Làm thế nào để giữ lại lâu bền trước sự xâm thực của nguồn văn hóa mới? Tôi đưa bài hát cho Công ty MASECO làm karaoke rồi sau đó, các kênh truyền hình thông post lên mạng. Tôi chỉ mong cho lớp đàn em, thanh niên biết say mê, trân trọng tác phẩm “Dạ cổ Hoài lang” của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. May mắn thay, điều đó đã trở thành hiện thực.

Trên nền giai điệu “Dạ cổ Hoài lang”, tôi viết hai ca khúc mới kính tặng nhân dân Bạc Liêu. Đó là “Trở lại Bạc Liêu” và “Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài lang”. cả hai điều có trích dẫn thanh nhạc và ca từ trong “Dạ cổ Hoài lang” của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. “Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài lang”được công nhận là bài tình ca độc đáo, giai điệu và ca từ cực đẹp. Mọi người Việt trên toàn thế giới đều có thể vào mạng Google nghe ca khúc này để hiểu tâm hồn Bạc Liêu, tình yêu Bạc Liêu.

 Tôi có được gần 200 ca khúc, công bố 64 ca khúc, trong đó 25 ca khúc phát triển từ dân ca, nhạc cổ phương Nam. Giai điệu “Dạ cổ Hoài lang” của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu là niềm cảm hứng của tôi khi tôi cầm bút viết những bài tình ca về phương Nam. Phía sau từng lời ca vẫn lấp lánh hình tượng tươi đẹp, trong sáng của cô gái Bạc Liêu mà én nhạn không bao giời có thể hiệp đôi!

Lên sân khấu, mỗi nghệ sĩ cải lương ca “Dạ cổ Hoài lang” theo cách riêng của họ, khác nhau về ca từ, khác nhau về thanh nhạc. Nhưng âm nhạc là một nghệ thuật quy ước, không thể chấp nhận tình trạng ấy. Muốn con cháu chúng ta cùng giữ gìn, trân trọng “Dạ cổ Hoài lang” thì không có cách nào hơn là Bạc Liêu phải có một bản “Dạ cổ Hoài lang” chuẩn, được ký âm với thanh nhạc Tây phương, được in ra và được post lên mạng. Ca từ phải được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp thật chuẩn để phục vụ cho những người nghiên cứu văn hóa. Những nhạc sĩ, nghệ sĩ Bạc Liêu dưới sự chủ trì của ngành Văn hóa – Du lịch có thể làm việc ấy. Chúng ta phải làm cho bốn chữ “Dạ cổ Hoài lang” trở thành thương hiệu của đất Bạc Liêu – một thương hiệu hết sức văn hóa mà chỉ có Bạc Liêu mới có được./.

Vũ Đức Sao Biển

Hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam

 

Th.S. LÊ QUANG ĐỨC : DẠ CỔ HOÀI LANG VÀ BÀI HỌC SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT


DẠ CỔ HOÀI LANG VÀ BÀI HỌC SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT
ThS.LÊ QUANG ĐỨC*
* Cơ quan đại diện Bộ VHTTDL tại TP.HCM
TÓM TẮT
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu để lại đời nhiều tác phẩm có giá trị, song nổi bật nhất
vẫn là danh tác “Dạ cổ hoài lang”. Nghiên cứu giá trị tự thân cũng như quá trình
sống của tác phẩm sân khấu kinh điển này sẽ giúp chúng ta rút ra được nhiều bài
học có giá trị về sáng tạo nghệ thuật. Với sự tích hợp nghệ thuật kỳ diệu, với một
cấu trúc nghệ thuật mở, danh tác này là kết quả của một quá trình học hỏi và sáng
tạo liên tục học hỏi. Ở đó, cảm hứng nghệ thuật của người nghệ sĩ đã hòa chung với
cảm thức của thời đại nên tác phẩm đã trở thành tiếng lòng của nhân dân. Song,
bài học lớn nhất của người nghệ sĩ Cao Văn Lầu khi sáng tác nhạc phẩm này là ông
đã đạt tới một trạng thái “vô nhiễm” trước danh, quyền và lợi khi thực hiện sứ
mệnh sáng tạo nghệ thuật của mình.
ABSTRACT
“NIGHT SONG OF THE MISSING HUSBAND” FOLK AND THE
LESSON OF CREATIVE ART
Cao Van Lau – a musician composed many excellent masterpiece . But the
most excellent is “ Night Song of the Missing Husband ‘’ masterpiece. The research
on value in this folk as well as of classic folk will help us to create art. Integrated
magic art with an open architecture results from innovative learning process. Thus,
inspiration of the artist mixed a sense of time has become the heart of people. The
biggest lesson of this masterpiece reached a state of ‘’ immaculate’’ before fame
and wealth in his creative mission.
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892 – 1976) để lại đời sau nhiều tác phẩm có giá trị
như Thu phong, Minh loan thưởng nguyệt, Chiết hoa, Oanh vàng, Bái đường, Long
châu, Ái cầm, Chim chiều, Giọt mưa đêm, Mai xuân, Tơ vàng, Hậu đình lê,… Song
nổi bật nhất trong danh sách nhạc và làm nên sự nghiệp của Ông vẫn là “Dạ cổ hoài2
lang”. Đến nay, danh tác này đã trên chín mươi năm tuổi. Hơn chín mươi năm đã
qua, nhưng ngày nay, trên các sàn diễn đờn ca tài tử, cải lương, vọng cổ,… tại khu
vực Nam bộ, danh tác “Dạ cổ hoài lang” vẫn còn được sử dụng thường xuyên như
một tác phẩm chủ chốt, một “bài ca vua” trong các buổi ca nhạc truyền thống ở loại
hình này. Vinh dự này đã khẳng định “Dạ cổ hoài lang” là một tác phẩm sân khấu
kinh điển, có giá trị vĩnh cửu. Điều này khiến những người làm công tác sân khấu
nói riêng và những người làm nghệ thuật nói chung tự hỏi: điều gì đã làm nên sự bất
tử ấy? Có lẽ giải thích tường tận lý do này chắc chắn chúng ta sẽ rút ra rất nhiều bài
học về sáng tạo nghệ thuật.
Bài học 1: Tác phẩm là một sự tích hợp nghệ thuật kỳ diệu với một cấu
trúc nghệ thuật mở
“Dạ cổ hoài lang” có nét nhạc dễ nghe, có cấu trúc thanh âm, điệu thức gần
với những điệu dân ca Nam bộ như ru em, hò cấy lúa, lý con sáo, lại có cả cách
tụng hơi “Ai” của sư sãi miền Nam và nói thơ Lục Vân Tiên… Theo nhiều nhà
nghiên cứu âm nhạc, danh tác này đã mang trong mình cả ba điệu thức đặc trưng
của ba miền: giai điệu Hành vân, Xuân nữ trên nền điệu thức oán Phương Nam.
Giai điệu phong phú nhờ có sự kết hợp hài hòa giữa dân ca và cổ nhạc, giữa ca và
nói. Nhưng nó không hời hợt dễ dãi mà theo nguyên tắc lấy yếu tố dân tộc làm gốc
rễ cho yếu tố hiện đại phát triển.
Ở “Dạ cổ hoài lang”, người ta dễ nhận thấy sự kết hợp hài hòa giữa chất tự
sự và trữ tình. Hai mươi câu trong ca từ ngắn gọn nhưng đã kể lại câu chuyện tình
“chia ly, lên đàng – nhớ thương và hi vọng”. Ở đó mỗi sự tình là mỗi phiến đoạn của
tâm tư hợp thành một chuỗi trữ tình dài với những phức hợp của một thế giới nội
tâm đa dạng.
GS-TS Trần Văn Khê từng nhận xét: “…Nhờ tánh chất động, chữ xang dằn
và già hơn một chút, chữ cống lại non và thấp hơn một chút làm cho cái buồn thêm
rũ rượi, cho hơi thêm bay bướm, cho câu ca thêm mượt mà”*
. Bởi vậy, chính từ
trong ca từ, Dạ cổ hoài lang đã có một sự đa dạng về nhịp, bản chất “động”, với một
cấu trúc mở, đã khiến từ nhịp 2, dần dần tiến tới nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, rồi nhịp 32,
nhịp 64… Có lẽ, trong lịch sử sáng tạo nghệ thuật, ít tác phẩm nghệ thuật nào như
“Dạ cổ hoài lang” đã không chỉ sống dài lâu cùng thời gian mà lại còn có khả năng
biến hóa, tạo sinh thêm nhiều tác phẩm cháu con khác nhau trong một mô thức
chung nhưng lại được “hiện đại hóa” liên tục.
*
Theo Vọng mãi bản Dạ cổ hoài lang, Sở VHTTDL Bạc Liêu, 2008, trang 9.3
Bài học 2: Quá trình sáng tạo là một sự tích luỹ kinh nghiệm, liên tục
học hỏi và sáng tạo
Trên con đường trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp, Cao Văn Lầu đã trải
qua nhiều đoạn đời cam khổ. Và chính những thăng trầm ấy, Ông đã tích lũy được
khá nhiều kinh nghiệm cũng như học hỏi các cung bậc, âm giai để sau này cộng
hưởng trong sáng tác. Cha Ông là một nghệ nhân thổi kèn, đánh trống nhạc lễ, có
lúc làm thầy tuồng cho gánh hát bội, vì thế người con Sáu Lầu ngày nào cũng đã
thấm chất ca từ trang trọng của nhạc tuồng. Những lời ca từ như: phu tướng, kiếm
sắc, tin nhạn, nghĩa tào khang, én nhạn hiệp đôi… mang hơi hướng bác học đã hòa
với những lời dân dã: lên đàng, đừng lợt phai, trở lại gia đàng… tạo cho tác phẩm
tinh thần “kinh điển” mà vẫn đậm chất đời sống dân dã. Vì thế, tác phẩm không chỉ
được nhiều tầng lớp công chúng khác nhau đón nhận, giới học sĩ cũng yêu mến mà
dân chúng cũng cảm thấy gần gũi… Nói theo ngôn ngữ ngày nay, tác phẩm đã có
“thị trường” rất sâu rộng.
Chín tuổi vì đói nghèo, cha Ông, cụ Cao Văn Giỏi đã cho Ông vào chùa học
kinh kệ, chữ nho và làm công quả. Sau thêm 4 năm nữa, chú tiểu của chùa Vĩnh
Phước lại được học xong lớp nhì và được thầy cô cho là giỏi Việt văn và Pháp văn.
16 tuổi tiếp theo, Ông được thụ giáo nghệ thuật từ thầy Hai Khị, người được xem là
Hậu tổ cổ nhạc. Ông học chuyên cần, chịu khó tập dượt rèn luyện, và nhờ tài danh,
lại khiêm tốn nên Ông đã thu hút được những danh tài khác đến để lập thành một
ban nhạc tài tử lớn của Bạc Liêu. Từ đó, tính chuyên nghiệp ngày càng rõ rệt hơn…
Nhìn lại bước đường thành danh nhạc sĩ của Ông, chúng ta hiểu vì sao trong “Dạ cổ
hoài lang” tích hợp được điệu dân ca Nam bộ, cách tụng hơi Ai của sư sãi và nói
thơ Lục Vân Tiên… Từ nhạc tế lễ đến nhạc tài tử giải trí, từ ca ra bộ, sự đổi mới
liên tục khiến ban nhạc tài tử của Ông nổi tiếng khắp lục tỉnh. Rõ ràng, vừa học tập
nhiều nơi, nhiều người, tích lũy kinh nghiệm, vừa năng động cải biên, hướng đến
người nghe, vì thế ban nhạc và những tác phẩm của Ông đã thu hút đông đảo công
chúng quan tâm. “Dạ cổ hoài lang” là tác phẩm kết tinh nhất những phẩm chất nghệ
thuật mà nhạc sĩ Cao Văn Lầu có được trên con đường sáng tạo của mình. Nếu
không tích lũy kinh nghiệm, không học hỏi liên tục và thiếu tư duy sáng tạo, chắc
chắn khó có thể sáng tác được danh tác “Dạ cổ hoài lang” như vậy và bản thân Ông
cũng khó trở thành một nghệ sĩ tài danh.
Bài học 3: Cảm hứng nghệ thuật của người nghệ sĩ hòa chung với cảm
thức của thời đại4
Ở “Dạ cổ hoài lang”, tiếng lòng của niềm riêng cá nhân đã hòa vào nỗi buồn
chung của thời đại vong quốc… Buồn nhưng không hề bi lụy, nét nhạc lạc quan trỗi
lên cuối bài đã khiến bài ca vừa thấm tháp nỗi lòng của điệu buồn ai oán Phương
Nam, nhưng cũng gợi mở một niềm tin về phận nước. Ở đấy, từng người nghe “Dạ
cổ hoài lang” vừa cảm nhận được nỗi lòng của mình, vừa thấy được mơ ước, khao
khát chính mình. “Dạ cổ hoài lang” nếu chỉ dừng lại cái riêng cô độc lạc lõng của cá
thể Sáu Lầu nhớ vợ thì chắc chắn giỏi lắm chỉ được vài trăm người đồng cảm, và
chỉ lay lắt sống sau vài năm sinh thành. Nhưng khi nghe lời nhạc mở đầu: “Từ là từ
phu tướng – Báu kiếm sắc phán lên đàng” thì bài ca ấy đã âm vọng tiếng gọi lên
đàng của thời đại, tiếng lòng chinh phu. Âm hưởng ai oán nhưng vẫn tràn chất bi
tráng. Từ đấy, nỗi buồn xa cách và nhớ chồng riêng tư đã ký thác, gửi gắm tiếng
lòng nhớ nước của bao nhiêu người giữa mờ mịt những năm đầu thế kỷ XX. Cùng
thời đại của bài thơ “Gánh nước đêm” với hình ảnh người phụ nữ thăm thẳm giữa
đêm đen vẫn ấp ủ tấm lòng vì nước của Á Nam Trần Tuấn Khải, “Dạ cổ hoài lang”
đã tự mang trong mình tiếng nói của bao người muốn vạch một lối nhìn và hi vọng
về một điều gì mới mẻ. “Dạ cổ hoài lang” là bài ca vừa mang niềm riêng của tác
giả, vừa chất chứa tiếng lòng của thời đại. Vì thế, bao nhiêu thế hệ, bao tầng lớp
khắp vùng Nam bộ, cả kẻ sĩ cùng dân quê đã gõ nhịp hát “Dạ cổ hoài lang” để tự
nghe thấy tiếng nói thầm thĩ buồn vui và hi vọng của chính mình.
Bài học 4: Tấm lòng hết mình vì nghệ thuật
Song, bài học lớn nhất của người nghệ sĩ khi sáng tác danh tác này là đạt tới
trạng thái “vô nhiễm” trước danh, quyền lợi khi thực hiện sứ mệnh sáng tạo nghệ
thuật của mình. Sinh thời, khi sáng tác “Dạ cổ hoài lang”, nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã
trải qua những nỗi niềm riêng – chung chất ngất để thăng hoa và sáng tác ra danh tác
này. Ở đấy, trong người nghệ sĩ Sáu Lầu chỉ có duy nhất làm sao tiếng nói nội tâm
thăng hoa, hiện xuất và đạt tới một ngôn ngữ biểu đạt tốt nhất, thể hiện đầy dủ và
súc tích nhất tình cảm, ước mong trầm tích bên trong nội tâm của mình. Đấy là bài
học vỡ lòng và yếu lược nhất của người nghệ sĩ khi sáng tạo nghệ thuật. Thế nhưng,
ngày nay cũng ít người có thể có được.
Vì thế, chúng tôi nhận thấy, “Dạ cổ hoài lang” của Cao Văn Lầu không chỉ là
một tác phẩm nghệ thuật sử dụng để biểu diễn mà còn là một mẫu tác phẩm điển
hình để nghiên cứu và rút ra những bài học hữu ích cơ bản cho sáng tạo nghệ thuật
hôm nay.5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ Dạ cổ hoài lang, Nxb Mũi Cà Mau, 1992.
2. Toan Ánh, Tìm hiểu nghệ thuật cầm ca, Nxb Đồng Tháp, 1998.
3. Trần Phước Thuận, Bàn về thời điểm ra đời và nguồn gốc của bản Dạ cổ
hoài lang, in trong Nam bộ – Đất và Người (Tập 2), Nxb Trẻ, 2004.
4. Huỳnh Văn Khải, Giá trị nghệ thuật của bản Dạ cổ hoài lang, Hội thảo
khoa học về chủ đề Văn hoá phi vật thể người Việt miền Tây Nam bộ do
Trường Đại học KHXH&NV TP.HCM tổ chức, 2010.

 

http://www.saigonact.edu.vn/doc/tapchi/tapchiso6/D%E1%BA%A1%20c%E1%BB%95%20ho%C3%A0i%20lang%20v%C3%A0%20b%C3%A0i%20h%E1%BB%8Dc%20s%C3%A1ng%20t%E1%BA%A1o%20ngh%E1%BB%87%20thu%E1%BA%ADt.pdf

GS TRẦN VĂN KHÊ : Dạ Cổ Hoài Lang – Một Xuất Xứ Buồn


Dạ Cổ Hoài Lang – Một Xuất Xứ Buồn

 Trần Văn Khê



Vào đầu thế kỷ thứ 20, âm nhạc Tài tử miền Nam đã thành hình, nhờ các nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn, theo phong trào Cần Vương vào Nam, đem theo truyền thống âm nhạc đất thần kinh, chuyển thành hơi miền Nam, có khi đi ngang qua các tỉnh miền Quảng Nam, Quảng Ngãi trước khi vào Nam, nên các bực thầy trong nghề thường nói gốc đờn tài tử là từ đờn Huế hay đờn Quảng. 

Chữ “tài tử” có nghĩa là “người có tài”, mà cũng có nghĩa là “không chuyên nghiệp”. Mà không chuyên nghiệp không phải là tài nghệ không cao, không cần luyện tập. Những người nổi tiếng trong giới Tài tử là những bực thầy, bài bản đầy đủ, lại có những ngón đờn, những chữ độc đáo, tuyệt diệu. Nhưng muốn nghe tiếng đờn kỳ diệu đó, không phải có tiền mà được. Người đờn “tài tử” chỉ gặp nhau trong những buổi hòa nhạc để thưởng thức tài nghệ chớ không phải đờn để kiếm tiền mưu sống.

Tác giả bài Dạ cổ hoài lang

Ông Sáu Lầu, tên là Cao Văn Lầu sanh ra vào lối năm 1890 tại xã Thuận Lễ, tỉnh Tân An. Năm lên 6 tuổi, theo cha về Bạc Liêu (theo ông Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Sài Gòn, Khai Trí, xuất bản năm 1970) hay là năm 1892 theo lời ông Bùi Trung Tín (Bản vọng cổ trên từng chặng đường phát triển, tạp chí Văn Hóa tháng 5.1994).

Trong bài báo Một cuộc phỏng vấn bất ngờ của Thanh Cao đăng trong báo Dân Mới ngày chủ nhật 20-12-53, khi Thanh Cao hỏi ông Sáu Lầu: “Chẳng hay từ ngày bác cho ra đời bản Vọng cổ, đến nay đã được bao nhiêu năm rồi. Và bác còn nhớ năm nào chăng?”. Ông Sáu Lầu đã trả lời:”Tôi không nhớ rõ đã được bao nhiêu lâu, nhưng chỉ nhớ năm ấy tôi được 29 tuổi và bây giờ tôi đã lên 63″. Báo đăng bài phỏng vấn năm 1953, ông 63 tuổi năm ấy, tức là ông chào đời năm 1890. Và năm ông sáng tác bài Dạ cổ hoài lang là năm 1919, lúc “khủng hoảng tinh thần”, trong “hoàn cảnh đau thương”, bị mẹ bắt buộc phải ly dị với vợ ông sau 8 năm chung sống, vì lý do bà vợ không sanh con nối dòng. Ông buồn nhớ bạn lang nên đặt ra bài ca tên Hoài lang.

Ông Bùi Trung Tín cũng nói lý lẽ như trên và thêm chi tiết là ông Bảy Kiên đề nghị thêm vô hai chữ Dạ cổ là tiếng trống ban đêm… Năm sáng tác là 1920, và nơi sáng tác là nhà đèn Bạc Liêu.

GS Thuyết Phong thì ghi rằng: ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ cổ hoài lang vào khoảng 1919-1920, không phải vì thương nhớ bạn lang, nhớ vợ bị bắt buộc ly dị, mà nhân dịp có một nhóm nghệ sĩ từ Huế vào trình diễn trong Nam, ông Sáu Lầu sáng tác bài Dạ cổ hoài lang để đáp lễ nhóm nghệ sĩ Huế (Thế giới âm thanh Việt Nam – Hoa Cau xb, California, tr.72).

Tuy những việc ấy không quan trọng lắm nhưng tôi ghi lại để các bạn thấy rằng chỉ có mấy điểm: năm sanh ông Sáu Lầu, năm sáng tác bài Dạ cổ hoài lang và trường hợp sáng tác, mà các nhà báo, nghiên cứu âm nhạc chưa nhất trí. Ông Sáu Lầu là học trò ông Nhạc Khi, thường gọi là ông Hai Khi thầy đờn tại Bạc Liêu. Ngoài bài Dạ cổ hoài lang, ông Sáu Lầu còn sáng tác bài Minh Hoàng thưởng nguyệt, Giọt mưa đêm nhưng không ai biết mấy bài ấy. (Thanh Cao, Báo Dân Mới 20-12-53, trang 3).

Lời bài Dạ cổ hoài lang

Từ là từ phu tướng
Báu kiếm sắc phán lên đường
Vào ra luống trông tin nhạn
Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng thêm đau
Đường dù xa ong bướm
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
Còn đêm luống trông tin bạn
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
Vọng phu luống trông tin chàng
Lòng xin chớ phụ phàng
Chàng là chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy ?
Duyên sắc cầm đừng lợt phai
Là nguyện cho chàng
Hai chữ bình an
Trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi

(Trích trong bài của Bùi Trung Tín đã dẫn phía trên).

Nhớ người ra đi, nhắc người đừng phụ tình bạc nghĩa. Người ở nhà mòn mỏi trông tin nhạn, luôn luôn mong mỏi từng giây phút trùng phùng. Tâm trạng đó là tâm trạng chung của nhiều thiếu phụ Việt Nam thời bấy giờ. Vì bổn phận, vì nhiệm vụ chồng phải “chấp kiếm lên đường”, đi ra biên ải. Biên ải thật sự hay biên ải của một cuộc đấu tranh giành độc lập cho xứ sở. Hay biên ải xa vời của những người lính Việt bị mộ sang Pháp trong thế chiến thứ nhất (1914-1918). Trong các trường hợp ấy, người thiếu phụ trông chồng phải vì nghĩa chung mà gác niềm tây. Cái buồn của người Việt Nam thường ém vào trong, muốn nói, lắm khi nghẹn ngào chẳng thốt nên lời, nhưng nó đã có từ khi lập quốc, vì phải chống thiên tai, chống ngoại xâm, cái buồn khó tả khôn nguôi trong thời bị trị. Cái buồn dính liền với bản chất người Việt Nam đa tình, đa cảm, hay quyến luyến, hay bịn rịn, dầu sanh ly hay tử biệt, khó cắt đứt sợi dây vô hình cột chặt người ở lại với người ra đi.

Bài Dạ cổ hoài lang gợi lên được cái buồn bí ẩn trong thâm tâm của con người Việt Nam.

Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản nhạc nào được như bài Dạ cổ hoài lang, biến thành “Vọng cổ”, từ một sáng tác tập thể, sanh ra từ thế kỷ, lớn lên, sống mạnh, phát triển không ngừng, biến hóa thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt trong nước và rải rác khắp năm châu.

GS. Trần Văn Khê

Paris – 1998

TRẦN PHƯỚC THUẬN : Bàn về xuất xứ và ý nghĩa của từ “Vọng cổ”


Bàn về xuất xứ và ý nghĩa của từ “Vọng cổ”

                  Trần Phước Thuận

Vọng cổ là một tên gọi rất quen thuộc với người Việt Nam, nhất là ở Bạc Liêu, ai cũng biết nó là một bản nhạc phổ thông nhất và tiêu biểu nhất trong cổ nhạc Nam Bộ. Vọng cổ hiện nay còn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu âm nhạc và thực tế đã có nhiều sách vở, nhiều cuộc hội thảo khoa học đề cập đến. Tuy nhiên tên gọi Vọng cổ từ đâu mà có và ý nghĩa đích thực của nó là gì thì đến nay vẫn chưa có lời đáp thỏa đáng. Lý giải vấn đề này có 2 ý kiến tiêu biểu. Một là, ông Cao Kiến Thiết 1 cho rằng: Theo ba tôi kể thì năm 1919 thầy Thống tức ông Trần Xuân Thơ 2 người miền Bắc, giỏi chữ Nho, ngụ tại An Trạch Đông, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã đề nghị ba tôi thay chữ Dạ cổ (tiếng trống đêm) thành Vọng cổ (tiếng trống vọng lại). Lý do là ba tôi lấy điển tích “Tô Huệ chức cẩm hồi văn” làm nội dung của bài ca và bản nhạc. Bởi lòng Tô Huệ khi chức Cẩm hồi văn thì nghe tiếng trống đánh từ xa vọng lại, chứ không phải là tiếng trống đêm, cho nên chữ Dạ cổ thì tối nghĩa còn chữ Vọng cổ thì càng làm rõ điển tích này đã chọn. Và trong cuộc họp đó ba tôi đã đồng ý đổi chữ Dạ cổ hoài lang thành Vọng cổ hoài lang, nghĩa là theo tiếng trống vọng lại mà nhớ chồng. Nhưng lúc đó bản Dạ cổ hoài lang đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều nơi, nên phải mất thời gian khá lâu mới thống nhất được tên gọi “Vọng cổ”. Đây là lời phát biểu của ông Cao Kiến Thiết trong cuộc hội thảo khoa học về Cao Văn Lầu tổ chức tại Bạc Liêu năm 1989 3.

Hai là, nhạc sĩ Trần Tấn Hưng 4 nói rằng: “Chính soạn giả Trịnh Thiên Tư 5 trong buổi lễ giỗ tổ cổ nhạc ở Bạc Liêu năm 1935 đã đề nghị với ông Sáu Lầu và mọi người như sau: Bản nhạc gốc 20 câu của ông Sáu vẫn nên gọi là Dạ cổ hoài lang vì đó chính là cái tên gốc, cái tên lịch sử không nên sửa đổi. Hơn nữa nhớ chồng lúc ban đêm là điều thích hợp với người chinh phụ, lại hợp với nội dung bản nhạc của ông Sáu. Chúng ta không thể lấy ý nghĩa và hoàn cảnh của nàng Tô Huệ như thầy Thống đã nói lúc trước để sửa đổi cái tên Dạ cổ hoài lang, vì đây là hai tác phẩm khác nhau, cũng như không thể lấy Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân để sửa Truyện Kiều của Nguyễn Du được. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay bản Dạ cổ hoài lang đã được biến thể sang nhịp 8, vậy cũng nên dùng 2 chữ Vọng cổ để đặt tên cho các bản đã được canh tân này. Nhưng Vọng cổ do tôi đề nghị hôm nay cũng không theo nghĩa “tiếng trống vọng lại” mà lại mang ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”, vì các bản nhịp 8 tuy chữ đàn đã khác xa bản gốc, nhưng vẫn từ Dạ cổ hoài lang mà ra, vì vậy “truyền thống xưa” ở đây chính là bản Dạ cổ hoài lang. Ý kiến của ông Trịnh Thiên Tư được ông Sáu cùng mọi người chấp thuận và hoan nghênh nhiệt liệt. Và cũng từ đó đến nay mọi người đều gọi bản nhạc gốc là Dạ cổ hoài lang và gọi chung các bản được canh tân là Vọng cổ”.

Như vậy, từ Vọng cổ được xuất hiện do lời đề nghị của hai ông Trần Xuân Thơ và Trịnh Thiên Tư, nhưng từ Vọng cổ được sử dụng là của ông Tư hay ông Thơ ? Muốn giải quyết vấn đề này ắt hẳn phải xác định cái nghĩa đang được sử dụng của nó, nói cách khác bản Vọng cổ ngày nay – cái tên của nó mang ý nghĩa gì ?

Như trên đã nói từ Vọng cổ (望 鼓) của ông Trần Xuân Thơ, thì có nghĩa là “tiếng trống vọng lại” ? còn từ Vọng cổ (望 古) của ông Trịnh Thiên Tư có nghĩa là “trông về xưa”. Như vậy về phần nghĩa của hai từ này không dính dáng với nhau nhưng phần âm lại đồng âm nên thường hay nhầm lẫn. Muốn xác định từ Vọng cổ mang ý nghĩa nào, tốt nhất là dùng tên gốc của nhạc bằng chữ Hán để chứng minh và dùng phương pháp so sánh để giải quyết vấn đề này?

Hiện nay có một bản rất phổ thông gọi là Tân cổ giao duyên (新 古 交 緣), bản được thành lập do phương pháp gối đầu Vọng cổ của soạn giả Mộng Vân và sau đó được nhiều soạn giả khác thực hiện bằng cách kết hợp giữa tân nhạc và bản Vọng cổ. Chúng tôi tạm mượn cái tên Tân cổ giao duyên này để làm cơ sở để truy tìm ra cái nghĩa đang được sử dụng của từ Vọng cổ. Tạm nêu ra hai trường hợp như sau:

1. Nếu từ cổ ở đây có nghĩa là cái trống thì Tân cổ giao duyên (新 鼓 交 緣) sẽ được hiểu là “cái trống mới giao duyên”. Nghĩa là không phù hợp với kết cấu và nội dung của bản Tân cổ giao duyên. Nếu cố hiểu là “mới” và “cái trống” giao duyên với nhau lại càng không có ý nghĩa gì cả.

2. Nếu từ cổ ở đây có nghĩa là xưa thì Tân cổ giao duyên (新 古 交 緣) theo nghĩa đen là “mới” và “cũ” giao duyên, nghĩa bóng muốn nói tân nhạc và cổ nhạc cùng hòa hợp, thật đúng với kết cấu và nội dung bản Tân cổ giao duyên.

Rõ ràng là trường hợp thứ nhất không hợp lý. Và như vậy, cổ ở đây được xác định là xưa thì Vọng cổ phải mang nghĩa “trông về xưa” hay “chiêm ngưỡng truyền thống xưa”, ý nghĩa này là do ông Trịnh Thiên Tư đề xuất.

Tóm lại, Từ Vọng cổ có xuất xứ tại Bạc Liêu và được sử dụng từ tháng 08 năm ất Hợi (1935) do lời đề nghị của soạn giả Trịnh Thiên Tư.

Căn cứ vào lời phát biểu của ông Tư và xét theo thực tế thì Dạ cổ hoài lang và Vọng cổ là hai bản khác nhau, nhưng Vọng cổ do Dạ cổ hoài lang mà có, vì vậy Vọng cổ phải mang ý nghĩa “trông về truyền thống xưa”.

Chú thích

(1) Con trai lớn của ông Cao Văn Lầu.

(2) Thầy tuồng đoàn hát bộ của ông Ba Xú, một trong những đoàn hát đầu tiên ở Bạc Liêu.

(3) Từ Dạ cổ hoài lang, Nxb. Mũi Cà Mau, 1992, tr.84-85.

(4) Nhạc sĩ Năm Nhỏ (1921-1982), học trò nhỏ nhất của Nhạc Khị, cũng là người thừa kế thờ Tổ Cổ nhạc Bạc Liêu sau khi thầy qua đời.

(5) Tác giả sách Ca nhạc cổ điển – 1962, nhà ở xã Vĩnh Mỹ, huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, ông cũng là bạn đồng môn với nhạc sĩ Cao Văn Lầu.

 Tác giả: TPT 
Nguồn bài viết: Từ nguyên học 

http://hkhls.dongthap.gov.vn/wps/portal/hkhls/!ut/p/c0/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os_jQEDc3n1AXEwMDC383A88QC59QJ2MTQ38nY_2CbEdFAJ4_LiA!/?WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/HKHLS/sithkhls/sitaditichlsvh/08012014+ban+ve+tu+vong+co