SÁU NGHỆ : Tỉnh Bạc Liêu tổ chức Festival đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất


 

Tỉnh Bạc Liêu tổ chức Festival đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất

Đờn ca tài tử trong vườn nhãn cổ Bạc LiêuĐờn ca tài tử trong vườn nhãn cổ Bạc Liêu
TP – Festival Đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014, diễn ra từ ngày 24 đến 29/4/2014 tại tỉnh phố Bạc Liêu.

Có điều không ai ngờ, người đầu tiên lập ra ban cổ nhạc Bạc Liêu cuối thế kỷ XIX gần như là một phế nhân, ông Lê Tài Khí thường gọi Nhạc Khị, một nhạc sư mù hai mắt, liệt một chân. Ông đã ra công hiệu đính, hệ thống hai mươi bản tổ, phân chia làm bốn loại: Sáu Bắc, Ba Nam, Bốn Oán, Bảy Bài. Ông còn sáng tác những bản mới, bốn bản: Ngự giá đăng lâu, Minh hoàng thưởng nguyệt, Phò mã giao duyên, Ái tử kê của ông đã được giới cổ nhạc tôn xưng là Tứ Bửu (bốn báu vật).

Lúc đầu, ban nhạc của Nhạc Khị chỉ có các thầy đờn chuyên phục vụ ma chay, tế lễ. Về sau, đáp ứng yêu cầu của người hâm mộ, ban nhạc thêm người biết ca, phạm vi hoạt động mở rộng sang đám cưới gả, tiệc tùng, liên hoan, khánh tiết. Cũng từ đó cái tên Đờn ca tài tử Bạc Liêu được dùng để gọi loại hình hòa tấu cổ nhạc “có đờn lẫn ca” để phân biệt với nhạc lễ “có đờn không ca”.

Học trò ông đua nhau sáng tác, nên chẳng bao lâu ở Bạc Liêu đã có một loạt bản mới, như: Thu Phong, Dạ cổ hoài lang, Giọt mưa đêm của Cao Văn Lầu; Liêu giang, Ngũ quan, Lý con sáo, Mẫu đơn của Ba Chột; Bát man tấn cống, Cổ thi của Bảy Kiên; Khúc ca hoa chúc, Hoài tình, Lạc xuân hoa của Bảy Nhiêu; Vọng cổ nhịp 8 của Lư Hòa Nghĩa; Sáu câu Vọng cổ nhịp 32 của Trần Tấn Hưng .v.v. Đặc biệt, bản Vọng cổ sau khi ra đời đã phát triển rất mạnh.

Người thừa kế Nhạc Khị ngày càng đông, phong trào đờn ca tài tử ngày càng rộng. Lực lượng nghệ thuật gây sự chú ý nhất lúc ấy là Bạc Liêu và Cần Đước, nên có câu “Nhất Bạc Liêu, nhì Cần Đước”. Nghệ sĩ nhân dân Lê Long Vân (Ba Vân) xác nhận: “Bạc Liêu là cái nôi của phong trào đờn ca tài tử”.

Thuật ngữ “Đờn ca tài tử” có nhiều tên gọi như âm nhạc tài tử, ca nhạc tài tử, nhạc tài tử. Đây là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Nam Bộ, hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ XIX, gốc từ nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế kết hợp làn điệu dân ca ngọt ngào của các địa phương Nam Bộ. 

Nền tảng của đờn ca tài tử là 20 bản tổ. Giới đờn ca tài tử còn chia bài bản tài tử ra thành 10 loại, lưu truyền câu đối “Thức thời tối thiểu làu thông nhị thập huyền tổ bản/Quán thế thậm đa lịch luyện thất thập nhị huyền công”, nghĩa là người hiểu biết về đờn ca tài tử không chỉ am tường tối thiểu 20 bản tổ mà còn phải biết thông suốt 72 bài bản khác nhau.

Festival Đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất tại Bạc Liêu nhằm tôn vinh và quảng bá nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Với chủ đề “Đờn ca tài tử – Tình người tình đất Phương Nam”, Festival đồng thời là hoạt động hướng tới chủ trương của Tỉnh ủy tỉnh Bạc Liêu “Bạc Liêu đi lên từ văn hóa”.

Festival có 21 hoạt động chính, qua đó, còn nhằm xây dựng phong cách con người Bạc Liêu “hiếu khách, văn minh, lịch thiệp”.

Điện gió Bạc Liêu đầu tiên ở ĐBSCL

Tỉnh Bạc Liêu được thành lập ngày 20/12/1899, chính thức hoạt động từ ngày 1/1/1900. Năm 1956, tỉnh Bạc Liêu nhập vào tỉnh Ba Xuyên, đến năm 1973, tách ra. Sau ngày 30/4/1975, tỉnh Bạc Liêu nhập vào tỉnh Minh Hải và ngày 6/11/1996, tái lập để chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1997. Bạc Liêu giáp với tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng và có bờ biển dài 56 km phía Đông và Đông Nam.

Diện tích tự nhiên 2.570 km2, dân số 874.107 người (tính đến năm 2013), hiện gồm 7 đơn vị hành chính: Thành phố Bạc Liêu, trung tâm tỉnh lỵ và 6 huyện: Vĩnh Lợi, Hoà Bình, Giá Rai, Đông Hải, Phước Long và Hồng Dân. Tỉnh đang lập hồ sơ trình Trung ương nâng huyện Giá Rai thành thị xã vào năm 2015.

Bạc Liêu hội tụ nhiều dòng văn hoá, đặc biệt là sự giao thoa văn hoá của người Kinh, Khmer và Hoa để tạo nên một diện mạo văn hóa riêng. Trong giao tiếp, người Bạc Liêu hiếu khách, trọng nghĩa tình, giàu lòng nhân ái, hào hiệp. Trong sinh hoạt, người Bạc Liêu cần cù, phóng khoáng, yêu nghệ thuật. 

Trong chiến đấu chống ngoại xâm, người Bạc Liêu dũng cảm, kiên trung, còn lưu những chiến tích oai hùng quật khởi như cuộc nổi dậy của nông dân Ninh Thạnh Lợi, Đồng Nọc Nạng. Nhiều anh hùng của Bạc Liêu trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà nay tên tuổi đã thành tên đất, tên trường như khúc ca hùng tráng của Bạc Liêu nói riêng và Nam Bộ nói chung.

http://www.tienphong.vn/van-nghe/tinh-bac-lieu-to-chuc-festival-don-ca-tai-tu-quoc-gia-lan-thu-nhat-702097.tpo

Dân ca ví, giặm trong đời sống hiện nay


Dân ca ví, giặm trong đời sống hiện nay

 
THỨ SÁU – 11/04/2014 07:55 – ĐÃ XEM: 99 

Dân ca ví, giặm xứ Nghệ là một hình thức văn nghệ hình thành từ chính trong những công việc hàng ngày của nhân dân.
Ở bất cứ nơi đâu, bên khung cửi, trên đồng ruộng, trên sông nước hay non cao… người dân xứ Nghệ có tài năng ca hát và khả năng ứng biến ngôn ngữ linh hoạt đều có thể cất lên khúc hát của tâm hồn mình mà không cần sự hỗ trợ của bất kỳ nhạc cụ nào.

Ngày nay, cùng với sự biến chuyển trong phương thức sản xuất cũng như tập quán sinh hoạt, không gian diễn xướng, hình thức diễn đạt trước đây của những làn điệu ví, giặm cũng thay đổi. Tuy nhiên, sự thay đổi đó không làm dân ca ví, giặm biến mất mà vẫn âm thầm tồn tại trong đời sống nhân dân dưới một số hình thức lưu giữ (sân khấu hoá; tồn tại trong băng đĩa, đài PTTH; trong các lễ hội, phong trào xây dựng đời sống, trong ma chay, cưới hỏi; các CLB dân ca và đưa vào giảng dạy ở các trường học…).

Đầu tiên đó là hình thức sân khấu hóa. Tại Nghệ An, với sự ra đời của Nhà hát Dân ca, Đoàn ca múa kịch… với nhiệm vụ lưu giữ, bảo tồn và thể nghiệm đưa dân ca ví, giặm trở thành bộ môn ca kịch sân khấu đã tạo bước phát triển mới cho hình thức này. Sự nỗ lực không mệt mỏi của các thế hệ nghệ nhân, nhạc sĩ, diễn viên, hàng trăm làn điệu cổ đã được sưu tầm và hàng chục làn điệu mới ra đời.

Nhiều vở diễn phản ánh hiện thực đời sống, chuyển tải những giá trị nhân văn sâu sắc đã được công chúng đón nhận và giành nhiều giải thưởng sân khấu như: Cô gái sông Lam, Mai Thúc Loan, Chuyện tình ông vua trẻ, Đốm lửa núi Hồng, Lời Người lời của nước non…Từ sân khấu kịch hát cũng đã xuất hiện nhiều thế hệ nghệ sĩ có tài, có tâm như: Lê Hàm, Hồ Hữu Thới, Xuân Năm, Hồng Lựu, Nguyễn Thị Minh, Tiến Dũng, Thái Bảo…
 

 

Dân ca ví, giặm có mặt hầu hết ở các lễ hội
Dân ca ví, giặm có mặt hầu hết ở các lễ hội

Để lưu giữ và bảo tồn, dân ca ví, giặm xứ Nghệ đã được tồn tại dưới hình thức phát hành thành ấn phẩm sách, băng đĩa nhạc… Ngày nay, muốn nghe hoặc tìm hiểu về dân ca ví, giặm, người ta chỉ cần vào mạng, hoặc xem thông qua một số chương trình truyền hình.

Tiêu biểu có những ca khúc như: Xa khơi, Chào em cô gái Lam Hồng, Cô dân quân làng Đỏ, Trông cây lại nhớ đến Người, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Hương cau vườn Bác, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ … đã khẳng định tầm ảnh hưởng của dân ca ví, giặm đối với nền âm nhạc hiện đại. Kế tục thành quả đó, ngày nay, nhiều nhạc sĩ ở 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cũng đang khai thác thành công chất liệu âm nhạc này như: Hồ Hữu Thới, Lê Hàm, Mạnh Chiến, Ngọc Thịnh, Quốc Nam, Quốc Việt…

Nhằm bảo tồn và phát huy dân ca ví, giặm một cách hiệu quả, nội dung đưa dân ca vào trường học và dạy hát dân ca trên truyền hình Nghệ An được xem là hình thức quan trọng trong việc “chuyển giao” giữa các thế hệ. Bằng cách học các làn điệu dân ca và thông qua các cuộc thi hát dân ca trong các trường học, thế hệ trẻ đã có những hiểu biết nhất định về vốn văn hóa truyền thống của quê hương.

Từ những phong trào này, rất nhiều giáo viên và học sinh đã say mê những câu hò, điệu ví. Không chỉ hát, diễn, họ còn có thể sáng tác lời mới phục vụ các hoạt động văn nghệ quần chúng của nhà trường cũng như địa phương.

Việc thành lập các CLB dân ca ví, giặm trên các địa bàn dân cư (Nghệ An có 59 CLB/14 huyện, Hà Tĩnh 15 CLB/12 huyện) đã tạo tiền đề cho việc đưa sinh hoạt dân ca trở về gần hơn với không gian và môi trường diễn xướng ban đầu của người dân lao động. Trước những thay đổi để thích ứng với hình thái kinh tế – xã hội mới, những người hát dân ca ví, giặm không chỉ có nghệ sĩ, những nghệ nhân, con cháu nghệ nhân, những người nông dân trong thôn, trong xóm làng, mà có cả cán bộ, công chức, bộ đội, công an đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu.

Hát dân ca ví, giặm không chỉ ở từng cá nhân, từng nhóm người, mà nhân rộng tại các CLB, các cơ sở, đội văn nghệ, cơ quan, đơn vị và trường học. Hiện nay, số lượng người yêu và thích hát dân ca ngày một tăng, không chỉ tại làng quê xứ Nghệ mà con em khắp đất nước cũng hâm mộ, hướng về dân ca ví, giặm, xem đó là hồn cốt quê hương, là tình yêu quê hương đất nước như tại TP HCM, Đắk Lắk…

Có thể nói rằng, cùng với những thay đổi trong tập quán sinh hoạt cũng như sự phát triển của đời sống, sự hiện diện của dân ca ví, giặm xứ Nghệ cũng có lúc thăng, lúc trầm. Dẫu vậy, với những đặc trưng văn hóa rất riêng, với nhiều hình thức lưu giữ như hiện nay, dân ca ví, giặm vẫn là mạch ngầm bền sâu trong lòng công chúng.

Giữa sự phong phú và đa dạng của đời sống âm nhạc hiện đại, những điệu hát được cất lên từ hồn quê xứ Nghệ vẫn trường tồn cùng thời gian. Để rồi người xứ Nghệ sống ở nơi đâu chăng nữa vẫn nhớ về cội rễ của những câu hát dân ca ngọt bùi này. Nó cũng đã ăn sâu vào tâm hồn những người con quê hương.
 

Theo CA Nghệ An

http://www.nguoinghetinh.vn/news/Giai-tri/Dan-ca-vi-giam-trong-doi-song-hien-nay-1628.html

 
Đăng bởi Sông Lam

NGÀNH MAI / RFA : “100 Năm Cải Lương Việt Nam”


“100 Năm Cải Lương Việt Nam”

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-04-18
 

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này
Cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành

Cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành

RFA files
 

 Nghe bài này

Hôm nay thì quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai đã hoàn thành, do nhà xuất bản Người Việt phát hành hôm đầu tuần, và đã phổ biến khắp trên thế giới qua hệ thống sách Amazon.

Quyển sách ra đời, ra mắt bạn đọc cùng thân hữu gần xa, đã đáp ứng được sự mong đợi của nhiều người, nhiều giới vốn hằng quan tâm đến việc lưu lại cho các thế hệ sau, những tài liệu quí giá của môn nghệ thuật xuất phát từ trong nhân gian với tên gọi “cải lương”, một cái tên dễ kêu dễ gọi được người đời mặc nhiên chấp nhận.

Thưa quí vị, trong nhân gian người ta nói cái “tôi” là cái đáng ghét, do vậy mà gần 3 năm nay hàng tuần đến với quí vị thính giả trên làn song phát thanh của đài Á Châu Tự Do – RFA, tôi đã tránh nói về cái “tôi”. Do vậy mà rất nhiều thính giả thắc mắc không biết Ngành Mai là ai? Có phải là nghệ sĩ cải lương không mà lại biết nhiều như vậy?

Thế nhưng, hôm nay trong buổi nói chuyện nầy, nếu không nói về cái “tôi” thì không có gì để nói, thành thử ra tôi có lời xin lỗi trước.

Vậy trước khi nói về quyển sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” tôi xin giới thiệu lướt qua về tiểu sử của Ngành Mai.

 

Bìa cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả  Nghành Mai
Bìa cuốn “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Nghành Mai

 

Tác giả Ngành Mai gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, xuất thân trường Sĩ Quan Thủ Đức, phục vụ ngành truyền tin và huấn luyện ở các Tiểu Khu Gò Công – Hậu Nghĩa – Tây Ninh. Sau 1975 qua các trại cải tạo Trãng Lớn – Phú Quốc – Long Giao – Phước Long. Định cư tại Hoa Kỳ cuối năm 1990 trong chương trình HO.

Là tác giả các tiểu thuyết:

– Cá Bóng Kèo Kho Tộ 1995.

– Cô Gái Việt Và Người Chiến Binh Mỹ 1996, tác phẩm này được được Giáo sư Lê Tú Vinh dịch sang Anh Ngữ với tên A Vietnamese Girl and an American Soldier, và nhà xuất bản Dorrance Publishing ở Pennsylvania phát hành.

cuốn “50 Năm Mê Hát” của nhà khảo cổ Vương Hồng Sển…với hình thức “hồi ký” ghi lại những sự kiện có liên hệ đến “cuộc đời mê hát” của ông. Cụ Vương mê hát đến đỗi từ Sóc Trăng lên học ở Sài Gòn, nhà trọ ở đường Bonard gần chợ Bến Thành, mà đi bộ vô tới Chợ Lớn coi hát, hoặc có lúc thì cũng đi bộ vô Bà Chiểu, Gia Định coi cải lương

– Quyển thứ 3 Tình sử cải lương Cuộc Đời Thanh Nga 2005.

– Sáng lập Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại và giữ chức vụ Hội trưởng từ năm 2000 đến nay. Hàng năm tổ chức thi cổ nhạc Giải Phụng Hoàng.

– Phụ trách trang Cổ Nhạc Kịch Trường hàng tuần trên Nhựt Báo Người Việt.

-Phụ trách tạp chí cổ nhạc Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia) gần 3 năm nay, mà quí vị đang nghe đây.

Tôi không phải là nghệ sĩ cải lương, nhưng thời còn trẻ rất thường tham gia đờn ca tài tử. Hiện nay tôi là nhà văn, nhà báo. Thế thôi! Thưa quí vị, nghệ thuật sân khấu cải lương từ buổi hình thành, tính đến nay đã 100 năm với bao nhiêu thăng trầm, biến chuyển. Trong quá trình hoạt động đã diễn ra hằng bao sự kiện, đã xảy ra không biết bao nhiêu là câu chuyện liên hệ từ sân khấu đến hậu trường, liên quan đến nghệ thuật, đến con người làm nghệ thuật.

Thế nhưng, cho tới bây giờ người ta chưa thấy cuốn sách nào nói về sự ra đời cùng diễn tiến của hoạt động cải lương một cách tương đối rõ ràng. Ngoại trừ cuốn “50 Năm Mê Hát” của nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, được in ấn cách đây gần nửa thế kỷ, xuất bản năm Mậu Thân (1968), với hình thức “hồi ký” ghi lại những sự kiện có liên hệ đến “cuộc đời mê hát” của ông. Cụ Vương mê hát đến đỗi từ Sóc Trăng lên học ở Sài Gòn, nhà trọ ở đường Bonard gần chợ Bến Thành, mà đi bộ vô tới Chợ Lớn coi hát, hoặc có lúc thì cũng đi bộ vô Bà Chiểu, Gia Định coi cải lương.

Với cuốn hồi ký 50 năm mê hát ấy, ông “nhớ gì viết nấy, nghe sao ghi vậy” chớ không có tính cách sưu tầm sâu rộng về lịch sử cải lương, thành thử ra có những sự kiện, cụ Vương đã viết không chính xác, chẳng hạn như khi nói về soạn giả Trần Hữu Trang – Tư Trang, người soạn vở hát Lan và Điệp – Đời Cô Lựu…, soạn giả Tư Trang qua đời tại vùng biên giới Việt – Miên, thì ông lại ghi là mất ở miền Bắc. Và điều này chính ông cũng nhìn nhận bằng mấy giòng chữ: “Và cũng không thấy ai chịu viết nên tôi đánh bạo vọc vạch mấy hàng, không dè đếm được trên trăm trang, trong ấy biết bao là sai lạc vì có khi chỉ nghe lóm…”

 

Hồi Ký 50 Năm Mê Hát - Năm Mươi Năm Cải Lương của cụ Vương Hồng Sển
Hồi Ký 50 Năm Mê Hát – Năm Mươi Năm Cải Lương của cụ Vương Hồng Sển

 

Ông nói đúng, không ai chịu viết nên ông đánh bạo vọc vạch mấy hàng, và nghe lóm thì đâu chính xác.

Tóm lại là cuốn “50 Năm Mê Hát” của cụ Vương Hồng Sển cũng cho người ta biết được một số sự kiện trong hoạt động cải lương của thời xa xưa, nhưng thu hẹp trong phạm vi nghệ thuật được thể hiện quanh ông mà thôi, trong tầm mắt của một người mê hát như tựa đề cuốn sách vậy.

Riêng tôi, Ngành Mai tác giả quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, thì do hoàn cảnh cuộc sống đã vô tình giúp tôi có được cơ hội, cùng điều kiện thuận lợi để tìm hiểu. Và cũng do yêu thích môn nghệ thuật đặc thù này nên đã lưu giữ được rất nhiều chứng liệu, hình ảnh về cải lương

Và cũng kể từ ngày cuốn sách “50 Năm Mê Hát” của cụ Vương Hồng Sển ra đời đã gần nửa thế kỷ nay, mà cũng chưa thấy ai viết cuốn nào khác, dù rằng cải lương vẫn tiếp tục hoạt động. Tuy rằng khi thăng lúc trầm, nhưng chung quy cải lương vẫn tồn tại, vẫn được nhiều người hâm mộ. Dù cải lương sân khấu có yếu ớt, tê liệt, nhưng cải lương truyền hình vẫn có mỗi ngày. Các kênh truyền hình trong nước và hải ngoại đều có cải lương. Như vậy cải lương vẫn sống với một hình thức khác, đó là chưa nói đến băng dĩa tràn ngập đầy dẫy khắp nơi.

Vậy do đâu mà không có người viết về cải lương? Theo tôi thì do bởi cải lương không phải chỉ hoạt động hạn hẹp ở một vài nơi, nào đó, mà môn nghệ thuật này sau khi hình thành ở Nam Kỳ Lục Tỉnh đã tỏa rộng đi khắp 3 miền đất nước. Cải lương không dừng lại ở trong nước, mà đã theo chân người Việt đi Miên đi Lèo phục vụ đồng bào xa xứ. Tiếp đó thì đi Pháp cùng các nước Âu Châu, và từ năm 1975 thì cải lương hiện diện ở Hoa Kỳ.

Do cải lương hoạt động cùng khắp, thì cái khó khăn của vấn đề là làm thế nào tập trung hằng bao sự kiện, diễn ra ở mọi nơi để đưa vào một bộ sách. Công việc ấy đòi hỏi người thực hiện phải liên tục sưu tầm suốt thời gian dài, nếu không muốn nói là suốt một đời người bỏ công tìm tòi và ghi lại.

Thời gian qua nhiều vị thức giả, độc giả bốn phương của nhựt báo Người Việt, là tờ báo lớn nhứt ở hải ngoại đã khuyến khích tôi nên sớm hoàn thành quyển sách nói về cải lương. Bởi theo như quí vị thì những bài viết về cải lương, được đăng hàng tuần trên tờ báo Người Việt, rất có giá trị về mặt văn hóa, mà kho tàng văn học nghệ thuật nước nhà không thể bỏ sót.

Riêng tôi, Ngành Mai tác giả quyển “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, thì do hoàn cảnh cuộc sống đã vô tình giúp tôi có được cơ hội, cùng điều kiện thuận lợi để tìm hiểu. Và cũng do yêu thích môn nghệ thuật đặc thù này nên đã lưu giữ được rất nhiều chứng liệu, hình ảnh về cải lương. Trong nhiều thập niên theo dõi hoạt động sân khấu, tôi đã thu thập khá nhiều sự kiện, đồng thời với sự khuyến khích của nhiều người, do đó là động lực cho tôi thực hiện bộ sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”. Ngay chương 1 mở đầu, tôi đề cập đến nguồn gốc phát sinh nghệ thuật cải lương xuất hiện ở Nam Kỳ Lục Tỉnh. Từ ngữ “Cải Lương” có từ bao giờ, ai là người đã “chế” ra hai chữ cải lương, được coi như đại diện cho loại hình văn hóa nghệ thuật dân tộc?

Sang qua chương 2 của quyển sách, tôi nói về vở hát “Tây Thi gái nước Việt” được gánh Năm Châu đưa lên sân khấu từ mấy năm đầu thập niên 1950. Có nhiều bí ẩn quanh việc ra đời của vở hát lừng danh này, mà trong quyển sách tôi trình bày nhiều chi tiết. Các chương kế tiếp của quyển sách tôi đã đề cập:

– Cải lương trong khu kháng chiến hoạt động song song với cải lương ngoài thành. Các đoàn hát ở khu kháng chiến miền Đông, miền Tây Nam Việt hát xướng ra sao trong thời chiến. Các nam nữ nghệ sĩ ở trong mật khu gồm những ai? Thời gian có Hòa Đàm Ba Lê đoàn Thanh Minh Thanh Nga đi Pháp, thì trước đó các nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc đã có mặt trình diễn các rạp ở Paris rồi.

– Soạn giả Trần Hữu Trang – Tư Trang đã dựa vào tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của nhà văn Giáo sư Nguyễn Công Hoan để soạn thành kịch bản “Lan và Điệp”, vở hát được coi như sống mãi với thời gian. Cuốn bài ca Hoa Rơi Cửa Phật được sao chép lại đầy đủ trong quyển sách. Từ lâu nay đại đa số khán giả cải lương đâu có biết rằng cô Lan, cậu Điệp là người Bắc. Ngôi chùa Lan đi tu là chùa Phương Thành thuộc tỉnh Bắc Giang nằm cách Ga Kép độ 5 cây số.

– Năm 1961 soạn giả Trần Hữu Trang rời Sài Gòn, vào mật khu hoạt động văn nghệ, với chức vụ chủ tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Trong bài nói về soạn giả Trần Hữu Trang, tôi có đề cập đến trận dội bom rải thảm của pháo đài bay B. 52 đầu Xuân Bính Ngọ 1966.

– Ông Ba Bản bầu gánh hát Thủ Đô, sau 1975 định cư ở Hoa Kỳ, ông có đi Pháp gặp Cựu Hoàng Bảo Đại. Cựu Hoàng có hỏi ông về gánh hát, thì ông Ba Bản nói rằng, ông từng cứu mạng sống soạn giả Thu An, lại còn giúp cho làm giàu. Vậy mà Thu An đã phản, dẫn cô đào chánh Ngọc Hương ra đi, khiến cho gánh hát suy sụp và rồi thì rã gánh. Phải ai đó phản thì chẳng nói làm gì, Thu An phản nên ông nhớ hoài…

Nghe xong Cựu Hoàng nói:

– Thôi bỏ qua đi ông ơi! Thằng Thu An phản, ông chỉ bị tiêu mất có một gánh hát hát. Còn Ngô Đình Diệm phản tôi, tiêu tan cả một cơ đồ Nhà Nguyễn, thế mà tôi vẫn còn ngồi đây. Ông nhớ lâu dài thằng Thu An phản làm chi cho tổn thọ.

Câu chuyện này ông Ba Bản nói lại với tôi, lúc đến thăm ông ở San Diego miền Nam California Hoa Kỳ.

DU TỬ LÊ : BẠCH YẾN đem “đêm đông” đến cùng khắp nhân gian , phần 3


Bạch Yến, đem “đêm đông” đến cùng khắp nhân gian.

(04/30/2014 12:44 PM) (Xem: 63)
Tác giả : Du Tử Lê
Image

(Tiếp theo kỳ trước).

Người danh ca mang tài năng, nhân cách và chiếc áo dài, như một nữ đại sứ văn hóa đầu tiên của tổ quốc Việt, bước ra giữa quảng trường nghệ thuật thế giới, đã rất chân thật khi nghĩ rằng:

“…một đám cưới chưa có giấy đăng ký kết hôn thì việc chia tay cũng dễ dàng!…”

Nhưng định mệnh mới là ngọn hải đăng chỉ rõ đường bay của hạnh phúc (hay bất hạnh) trăm năm. Như đoản văn dưới đây của Nguyễn Hằng ghi nhận về cuộc tình định mệnh mang tên Bạch Yến-Trần Quang Hải:

“…Vậy là tính từ hôm họ gặp nhau sau gần 20 năm đến hôm tổ chức hôn lễ là tròn 15 ngày. Hôm đó, Trần Quang Hải bí mật mượn nhà người bạn chuẩn bị tiệc cưới nhỏ với rượu, ít bánh ngọt và trái cây. Đám cưới quá giản dị nhưng đầm ấm, rộn tiếng cười với sự tham dự của nhiều bạn bè nghệ sĩ. Quà cưới tặng đôi tân lang tân nương cũng đậm giá trị về tinh thần như một bức tranh, một bài hát, vài khúc thơ tình tứ… Nhưng ấn tượng nhất với Bạch Yến là ca khúc Tân hôn dạ khúc, Trần Quang Hải sáng tác tặng vợ mới cưới trong ngày hôn lễ. ‘Tối hôm nay ngày vui chúng mình / Hát bên nhau hạnh phúc dạt dào / Từ nay, từ nay vui sống trăm năm / Ước mơ nay tình yêu đã thành / Hứa cho nhau dù bao khổ sầu / Gần nhau, gần nhau nguyện sống bạc đầu’…” (6)

Và, cuộc tình định mệnh kia cũng đã mở một chân trời mới, khác nữa, cho con chim quý, Bạch Yến, cất tiếng hát đầu tiên, từ vòm trời VHNT miền Nam, hai mươi năm.

Theo trang mạng amnhacviet.net thì:

“…Lúc Bạch Yến tái ngộ Paris cũng là lúc cuộc sống và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng với sự gặp gỡ nhạc sĩ kiêm nghiên cứu nhạc dân tộc, học giả Trần Quang Hải, sau trở thành phu quân của Bạch Yến. Trần Quang Hải thuyết phục Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam và kết quả là hai người đã cùng nhau trình diễn trên 3,000 buổi hát dân ca khắp cả năm châu, mặc dù thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc để đáp lại tấm thịnh tình của những người hâm mộ mình. Hai người đã thâu chung 8 dĩa hát 33 vòng, và một CD với một đĩa trong đó được giải Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.

“Là một ca sĩ đa tài, Bạch Yến đã có công đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền ca nhạc Việt Nam và nhất là giới thiệu và phổ biến nhạc Việt Nam với người ngoại quốc…” (7)

Trở lại với Bạch-Yến, người ca sĩ sớm nổi tiếng với ca khúc “Đêm Đông”, không chỉ ở Việt Nam mà khắp năm châu; ngay cả ở những nơi chốn không một tài năng ngoại khổ nào không muốn chí ít, có được một lần xuất hiện là Hollywood và Las Vegas.

Trước nhất, theo ghi nhận của tôi thì, dường như bất cứ một ca khúc bất hủ nào, cũng giống như một đỉnh ngọn nghệ thuật chót vót, mang tính quyến rũ kỳ bí, khiến không một ca sĩ, dù thuộc thế hệ nào, không muốn thử thách, chinh phục bằng tài năng và, tất cả tự tin của họ.

Cũng thế “Đêm đông” của Nguyễn Văn Thương (1919-2002) – – Một trong những đỉnh ngọn tân nhạc tiền chiến. Tôi muốn nói không chỉ riêng Bạch Yến và, cũng không phải Bạch Yến là người đầu tiên đem “Đêm đông” thả vào tâm hồn khách thưởng ngoạn. Mà ngay từ thời tiền chiến, sau khi nhạc phẩm này ra đời, Ngọc Bảo, nam ca sĩ nổi tiếng thời đó đã chọn để trình bày. Kế tiếp, sau Bạch Yến là những ca sĩ đã thành danh như Lệ Thu, Lê Dung, Cẩm Vân, Đàm Vĩnh Hưng, cùng rất nhiều ca sĩ nổi tiếng khác…

Kế đến, vẫn theo tôi, nếu ở nhiều lãnh vực khác, như lãnh vực thể thao, leo núi… các kỷ lục lần lượt bị xóa bỏ, vượt qua những tài năng mới thì, ở lãnh vực nghệ thuật, lại có những thành tựu, một khi đã được “công-chứng” bởi đám đông và thời gian, dường như không một tài năng nào có thể xóa bỏ vị trí “bất khả bại” của cá nhân ấy.

Điển hình cho trường hợp này, chính là Bạch Yến với “Đêm đông” của Nguyễn Văn Thương.

Vinh dự hơn thế nữa, khi Bạch Yến còn được cha đẻ của ca khúc “Đêm Đông”, Nguyễn Văn Thương, bày tỏ sự khâm phục, lòng biết ơn của ông. Đồng thời tác giả cũng xác nhận, vì Bạch Yến mà ông đã đổi nhịp điệu đầu tiên của ca khúc từ Tango qua Slow Rock. Sự kiện hãn hữu này, đã được Bách khoa toàn thư mở – Wikipedia, tiêu đề “Đêm Đông”, tiểu mục “Ca sĩ và Phong cách thể hiện” ghi lại như sau:

“…Ca sĩ Bạch Yến có công lớn trong việc đổi mới phong cách thể hiện bài hát này.

“Theo lời nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, lúc bài hát ra đời chỉ mới có các nhịp điệu như Foxtrot, Valse, Tango,… mãi sau năm 1950 mới có Slow Rock. Lúc ban đầu Đêm Đông mang giai điệu Tango. Chính ca sĩ Bạch Yến đã đổi Đêm Đông từ Tango sang Slow Rock. Trong thư của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương kể về việc lần đầu tiên ông gặp ca sĩ Bạch Yến tại Pháp năm 1982, ông viết: Tôi muốn nói là cám ơn Bạch Yến rất nhiều về sự đóng góp đầy ý nghĩa trong cách thể hiện tác phẩm của tôi. Và cũng đã từ lâu, sau khi nghe băng của Bạch Yến hát, tôi đã bỏ chữ ‘Tango’ để thay vào đó là ‘Slow Rock’…”

Tôi không biết có phải ở tuổi 15, tâm hồn như tờ giấy chậm, lưu giữ, mẫn cảm với mọi cảnh đời, nhất là cảnh đời ngặt nghèo của chính gia đình Bạch Yến thời gian đó, nên chị đã không chỉ hát mà, còn sống thực với từng con chữ có trong ca từ “Đêm Đông” như:

Đêm đông, ôi ta nhớ nhung đường về xa xa
Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình, yêu đương
Đêm đông, ta lê bước chân phong trần tha phương
Có ai thấu tình cô lữ, đêm đông không nhà…”

Theo tôi, cũng có thể thanh quản của người “ca-sĩ-ở-cùng-khắp-nhân-gian” này, đã được thượng đế ban cho những tế bào đặc biệt, ứng hợp, tương thích với Đêm Đông… Để nhiều chục năm sau, chị đã đem “Đêm Đông” ca khúc, từ đông sang tây, nói hộ cho tâm cảnh bơ vơ của thân phận con người, căn bản vốn cô đơn, thất lạc giữa mênh mông vũ trụ và, đồng loại?

Du Tử Lê,

(Còn tiếp một kỳ).

________

Chú thích:

(6) Bđd.
(7) amnhacviet.net (Bách khoa toàn thư mở – Wikipedia).

 http://dutule.com/D_1-2_2-105_4-6106_15-2/bach-yen-dem-dem-dong-den-cung-khap-nhan-gian.html

Khai mạc “Không gian đờn ca tài tử Nam bộ”, festival đờn ca tài tử 2014, Bạc Liêu


Published on Apr 25, 2014
Lần đầu tiên đại diện đờn ca tài tử của 21 tỉnh, thành khu vực phía Nam đã hội ngộ, giao lưu tại chương trình “Không gian đờn ca tài tử Nam bộ” chính thức khai mạc tại tỉnh Bạc Liêu chiều 24 — 4
► Subscribers _ Like __ Share New Video Clip Daily: http://bit.ly/Giaitri6oGiay. Thank you!
► Bạn có thể gởi Video đặc sắc của mình theo địa chỉ Email: giaitri60giay@gmail.com, những Video có giá trị sẽ nhận được phí nhuận bút. Trân trọng!

Festival ĐCTT Bạc Liêu 03


Published on Apr 30, 2014
Festival Đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014.
Lễ Bế mạc và chương trình nghệ thuật bế mạc Festival.
20h00 – 29/04/2014 Trực tiếp truyền hình Đài Phát thanh Truyền hình Bạc Liêu.

00:30 Mở Màn
58:00 Hành Trình Trên Đất Phù Sa
1:03:30 LK Câu Hò Điệu Lý
1:23:45 Cập Bến Liêu Giang
1:42:00 Biển Sáng Tình Anh
1:46:30 Gần Lắm Trường Sa
1:57:30 Out

Festival ĐCTT Bạc Liêu 02 :Lễ Khai mạc và chương trình nghệ thuật khai mạc Festival.


Published on Apr 25, 2014
Festival Đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014.
Lễ Khai mạc và chương trình nghệ thuật khai mạc Festival.
20h00 – 2504/2014 Trực tiếp truyền hình Đài Phát thanh Truyền hình Bạc Liêu.

Festival ĐCTT Bạc Liêu 01A : giới thiệu tác phẩm của Trọng Nguyễn và Yên Lang


Published on Apr 25, 2014
Festival Đờn ca tài tử Quốc gia lần thứ nhất – Bạc Liêu 2014.
Giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của soạn giả Trọng Nguyễn & Yên Lang.
20h00 – 24/04/2014 Trực tiếp truyền hình Đài Phát thanh Truyền hình Bạc Liêu.

This blog is focused on Trân Quang Hai