TRẦN QUANG HẢI : CÁC LOẠI ĐÀN TRANH Ở VIỄN ĐÔNG


Các Loại Đàn Tranh Ở Viễn Đông 

Trần Quang Hải

 Tran Quang Hai 2 (1)

Viễn Đông là một phần của Á châu và chịu ảnh hương văn minh vàvăn hóa Trung Quốc rất sâu đậm. Các xứ Nhựt Bổn, Đại Hàn và Việt Nam đều sử dụng Hán tự để diễn tả tư tưởng, dù rằng mỗi xứ đều có chữ viết riêng (Nhựt với hiragana, katakana, kanji; Đại Hàn với hyangul; Việt Nam với quốc ngữ). Vì thế, ảnh hưởng của nhạc Trung Quốc đối với ba xứ vừa kể trên rất là hiển nhiên .

Cổ Cầm (Trung Quốc)

jiuxiaohuanpeiqinplayer

Dù muốn dù không, các cây đàn tranh ở Viễn Đông đều xuất xứ từ Trung Quốc. Có lẽ cây đàn tranh cổ xưa nhứt là cây cổ cầm (ku qin ) bên Trung Quốc . Tiếng đàn khi khoang khi vồn, nghe rất du dương. Xưa kia, đức Khổng Tử chỉ nghe tiếng đàn cổ cầm mà đã mất ăn mất ngủ ba tháng

Theo truyền thuyết, cây đàn cổ cầm được sáng chế vào thời Nghiêu Thuấn, và chỉ có 5 dây thôi, nên được gọi là “ngũ huyền cầm”. Về sau, hai vị hoàng đế Văn và Võ, mỗi người thêm vào một dây làm thành cây đàn 7 dây hay “thất huyền cầm”. Hai dây thứ 6 và thứ 7 được gọi là dây Văn và dây Võ . Nhà thi hào Nguyễn Du có lẽ không am tường về nhạc nhiều nên nhà thơ Tố Như , lúc tả Thúy Kiều khảy đàn mà chúng ta đã đặt nhiều giả thuyết không biết có phải là cây đàn tỳ bà, hoặc cây đàn nguyệt, hoặ một cây đàn bốn dây nào đó, đã viết như sau :

“So dần dây Võ dây Văn,

Bốn dây to nhỏ một vần cung thương “

Dây Võ dây Văn chỉ có hai dây mà thôi, chứ làm sao mà bốn dây được !!! Hơn nữa, hai dây Văn Võ chỉ dùng để nói đến hai dây thứ sáu và thứ bảy của cây cổ cầm . Ở Việt Nam, Phạm Đình Hổ, trong quyển “Vũ Trung Tùy Bút “, có nhắc đến một danh cầm đời nhà Trần là Nguyễn Sĩ Cố đánh đàn cổ cầm rất hay . Trong quyển “Toàn Thư ” cũng có nói tới một nhạc sĩ thời nhà Trần đàn cổ cầm 5 dây của Trung Quốc thật điêu luyện, tên là Trần Cụ Ở Nhựt Bổn và Đại Hàn không thấy nói tới cây cổ cầm .

Hình dáng cây cổ cầm ra sao ?

Cổ cầm gồm có một âm bảng bằng cây ngô đồng dài độ một thước được sơn đen bóng nhoáng . Trên mặt âm bảng , ngoài 13 chấm tròn nạm xa cừ dùng làm dấu để người đàn coi theo đó mà bấm dây, có 7 sợi dây căng dài từ đầu tới cuối âm bảng . Đàn này không có trục và nhạn như đàn tranh thường thấy .

Đặc điểm của cổ cầm là cách sử dụng phiến thanh hay bồi âm (sons harmoniques / harmonic sounds) giống như âm thanh phát ra từ cây đàn bầu hay đàn độc huyền của Việt Nam . Cây cổ cầm rất khó đàn cho hay . Hiện nay chỉ còn độ 200 người Trung quốc biết đàn cây đàn này . Số người ngày càng thưa thớt . Các ông thầy già rồi chết đi. Số nhạc sĩ trẻ đàn hay rất hiếm. Có vài sinh viên Trung quốc và Hồng Kông có viết luận án về cây cổ cầm . Cây đàn sắc 25 dây ngày nay không còn có ai biết đàn .

 

ZHENG (đọc là Tsân) , đàn tranh Trung Quốc

古筝2Gu-Zheng-Chinese-Harp

Theo huyền thoại Trung Quốc, ngày xưa có một ông già sống chung với hai cậu con trai tre, và ngoan và rất thích đàn . Trong nhà, ông bố có một cây đàn tranh 25 dây.Ở đây, tôi xin mở dấu ngoặc, tự hỏi không biết có phải là cây đàn sắc hay chăng ? Vì cây đàn sắc có 25 dây . Đó chỉ là nghi vấn mà thôi . Trở lại chuyện hai cậu học đàn tranh . Một hôm bỗng dưng hai cậu cùng muốn đàn tranh một lúc . Trong nhà chỉ có mỗi một cây đàn tranh. Lúc đầu còn lời qua tiếng lại . Dần dần, cãi nhau dữ dội . Ông bố nghe tiếng cãi lộn, mới đi vào hỏi cớ sự ra làm sao . Khi hiểu ra sự tình , ông bố mới khuyên môt trong hai người nên nhường cho người kia đàn trước. Nhưng rốt cuộc không sao hòa giải được . Tức giận quá, ông ta mới đi tìm một con dao, rồi xách cây đàn chặt ra làm đôi theo chiều dọc để làm thành hai cây đàn tranh : một cây 13 dây, bây giơ ` còn thấy ở miền Bắc Trung Quốc và ở Nhựt Bổn, còn cây kia 12 dây hiện vẫn còn thấy ở Mông cổ và Đại Hàn . Lại có một giả thuyết khác cho rằng cây đàn tranh Trung Quốc là do ông Mông Điềm sáng chế ra vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch Hình thù cây đàn tranh Trung Quốc rất giống cây đàn tranh Việt Nam nhưng to hơn . Bề dài cây đàn dài lối 1m,50. Mặt đàn làm bằng cây ngô đồng . Có 13 dây tơ theo truyền thống Bắc Kinh hay 16 dây sắt theo truyền thống Quảng Đông, được căng dài trên mặt âm bảng . Cũng có một hàng trục và một hàng nhạn xê dịch được. Người đàn dùng ngón tay trỏ, ngón giữa và ngón áp út của bàn tay mặt để khảy và ba ngón trỏ, giữa và áp út của bàn tay trái để nhấn. Họ chỉ dùng móng tay để khảy và rất ít khi dùng móng sắt, hay đồi mồi như người Việt . Cây đàn thường để trên bàn trước mặt người đàn hoặc để trên đùi . Ngày nay ở Đài Loan, cây đàn tranh có cây ngắn độ 1 thước và cây dài tới 1m,80 . Kỹ thuật đóng đàn làm theo kỹ nghệ hóạ Khúc cây đưa vào máy cắt, vàkhi ra khỏi máy đã gần thành cây đàn . Thành ra cây đàn tranh rất tốt, kích thước không sai chạy, và hình dáng hoàn hảo, nhưng lại rất yếu về âm thanh. Họ không còn tuyển lựa khúc cây tốt, già, có gân màchỉ lấy bất cứ khúc cây ngô đồng nào cũng được . Tất cả mọi việc đều kỹ nghệ hóa, máy móc hóa, chuyên về lượng mà làm giảm đi phần phẩm . Ở Đài Loan, các cô học đàn mua cây đàn tranh hoặc sơn xanh, sơn đỏ, sơn vàng. Mặt âm bảng không còn là cây ngô đồng màlà một loại ván ép rẻ tiền. Các ông thầy bị đồng tiền làm chi phối nghệ thuật và thường đàn với mục đích thương mại . Đàn tranh thường được sử dụng độc tấu, song tấu hoặc trong một dàn nhạc .

 

KAYAKEUM (đọc là câyđa-cum), đàn tranh Đại Hàn

Gayageum_12_stringKayagumplayer2

Cây đàn tranh Kayakeum là một trong ba cây đàn tranh chính của triều đại Silla, có 12 dây tơ căng dài trên mặt âm bảng, trên 12 con nhạn hình chữ A, nhưng không có trục . Trong quyển Silla cổ ký, hoàng đế Kashil của vương quốc Kaya đã sửa đổi thêm bớt một cây đàn của nhàĐường bên Trung Quốc. Theo truyền thuyết cho rằng cây đàn tranh Kayakeum được phát triển từ một cây đàn dây gọi là “cầm” (qin) đã có từ thời Tam Quốc . Như thế thì cây đàn tranh Kayakeum có trước thời vương quốc Kaya .

Vào thế kỷ thứ 6 Công nguyên, một nhạc sĩ nổi tiếng tên là Uruk không những giỏi về tài đàn tranh Kayakeum, mà còn có tài sáng tác. Ông ở tại vương quốc Kaya . Khi vương quốc Kaya có loạn, ông Uruk mới chạy sang vương quốc Silla và tại đây ông ta rất được hoàng đế Jinhung mến chuộng. Ông Uruk mở lớp dạy đàn tranh Kayakeum, dạy hát và múa tại Kookwon (bây giờ là Choongjoo, tỉnh Choongchung-bookdo). Ông Uruk đã sáng tác 12 bản nhạc như là Ha-Karado, Sang Karado, vv…. Những nhạc phẩm của Uruk đều dựa trên nhạc dân gian bởi vì tên các nhạc phẩm thường lấy tên các tỉnh lỵ thời đó . Ông Uruk đã sáng tác hai điệu Hahlim và Noojook và 115 bản nhạc nhưng chỉ có 12 bản của ông và ba bản nhạc của học trò ông là Eemoon, là còn được truyền tụng tới bây giờ . Có hai loại đàn tranh kayakeum: một loại gọi là Poongyoo Kayakeum dành cho nhạc cổ điển và nhạc cung đình, và một loại gọi là Sanjo Kayakeum dành cho nhạc dân gian . Kỹ thuật đánh đàn tranh của người Đại Hàn có phần khác .Họ dùng phần thịt của lóng tay đầu của cả năm ngón tay của bàn tay mặt và ba ngón tay trỏ giữa, và áp út của bàn tay trái để nhấn. Họ đàn rất mạnh, và thường cây đàn tranh kayakeum đi kèm với trống changgo, một loại trống giống hình thù cái bồng của Việt Nam nhưng to hơn . Đàn tranh Kayakeum có thể độc tấu chung với trống changgo như trong thể điệu Sanjo, hay đàn trong dàn nhạc cung đình Ah-ak (Nhã nhạc), hay trong dàn nhạc Hyang-ak (Hàn nhạc). Từ 50 năm nay , có nhiều nhạc sĩ soạn nhạc phẩm cận đại cho kayakeum , nổi tiếng nhứt là nhạc sĩ Hwang Byong Gi .

 

KOTO (đọc là cô tô) , đàn tranh Nhựt

Japanese_Koto844Y8633

Theo truyền thuyết, một nhạc sĩ người Trung Quốc đem một cây đàn tranh vào xứ Nhựt và cây đàn ấy gọi là So-no-koto hiện vẫn còn được sử dụng trong vũ điệu cung đình cổ truyền Bugaku . Hoặc một huyền thoại cho rằng vào thế kỷ thứ 7, có một bà thuộc dòng dõi quý tộc tên là Ishikawa Iroko, trong thời gian đi nghỉ ở miền quê. Một hôm tình cờ bà nghe một âm thanh lạ khi đi dạo gần một động núi. Bà mới đi lại gần nghe và gặp một ông đạo sĩ người Trung Quốc đang khảy đàn tranh. Bà Ishikawa Iroko mê mẩn tâm thần và xin thọ giáo . Sau một thời gian học tập, bà ta mới trở về nhà, thuật lại cho mọi người nghe. Không ai chịu tin rằng chuyện đó có thật . Bà ta tức quá mới dẫn mọi người lại động núi thì không thấy ai hết, mà chỉ thấy trên vòm trời xanh ngay trên đỉnh núi lơ lửng một vần mây trắng . Từ đó bà Ishikawa Iroko mở trường dạy đàn tranh và thành lập môn phái Kyushu. Điều chắc chắn là đàn tranh Koto Nhựt có từ thời đại Nara (710-793) được dùng trong dàn nhạc Gagaku (Nhã nhạc). Mãi tới đầu thế kỷ thứ 16, vào thời đại Momoyama (1574-1602) , một nhà sư đạo Phật ở miền Bắc Kyushu tên là Kenjun (1547-1636) sáng tác những bài hát đầu tiên với tiếng đệm của đàn tranh. Loại nhạc mới này gọi là Tsukushi-goto lấy tên của tỉnh thành nơi nhà sư đã sống . Sau đó có một nhà sư khác tên là Yatsuhashi Kengyo (1614-1685) ở Kyoto học cách đàn và hát theo thể nhạc mới tsukushi-goto và ông lại tạo ra một thể điệu mới cho nhạc koto bằng cách phỏng theo hình thức cấu tạo sáu bài hát của tsukushi-goto, và được gọi là kumi-uta . Sự khác biệt giữa hai trường phái Tsukushi-goto và Yatsuhashi nằm trong cách lên dây đàn và cách sử dụng điệu . Trường phái Tsukushi-goto lên dây đàn theo điệu Ryo của nhã nhạc (gagaku), nghĩa là âm giai với 12 bán cung trong khi trường phái Yatsuhashi chỉ dùng hai điệu mới gọi là Hirajoshi (Sol- sol thấp một bát độ-SiĐo-Mi-Fa-La-SiĐo-Mi-Fa-La-Si) và Kumoijoshi (Mi- La thấp một quãng 5 – Sib-Re-Mi-Fa-La-Sib-Re-Mi-Fa-La-Si) dựa theo điệu In (âm) âm giai lên gồm các nốt: Mi-Fa-La-Si-Re-Mi trong khi âm giai xuống gồm các nốt : Mi-Đo-Si-La-Fa-Mị Hai điệu Hirajoshi và Kumoijoshi trở thành hai thang âm tiêu biểu và đặc thù của nhạc Nhựt Bổn ngày naỵ. Nhà sư Yatsuhashi và những người học trò của ông có sáng tác một số bài độc tấu đàn tranh nhưng hầu hết các bài đặt ra đều làbài hát với phần đệm đàn koto. Đồng lúc với sự phát triển thể nhạc mới Tsukushi-goto, nhạc shamisen (shamisen là một đàn dây giống như cây đàn tam của Việt Nam ) cũng bắt đầu lộ diện ở Nhựt . Ông Ikuta Kengyo (1656-1715) mới phối hợp đàn shamisen và đàn tranh koto trong khi trình diễn Ji-Uta ( một loại hát đệm đàn Shamisen) . Từ đó về sau, những bài bản gồm có một phần ngắn hát và một phần dài đàn tranh koto . Phần đánh đàn gọi là Te-goto và thể cách trình diễn các bài hát kiểu đó gọi là Te-goto-monọ Trong khi Te-goto-mono được bành trướng mạnh ở Kyoto và Osaka, thì ở Edo, một nhạc sĩ khác tên là Yamada Kengyo (1757-1817) mới tạo ra một thể cách mới cho nhạc koto là phối hợp nhạc hiện đại shamisen và nhạc koto . Vào cuối thời đại Edo (1603-1867) ông Yoshizawa Kengyo ở Nagoya lại nghĩ ra cách để đàn koto một mình đệm bài hát mà thôi . Kiểu này đã từng dùng trong Kumi-Uta, nhưng có khác là ông Yoshizawa Kengyo trích lời ca qua các bài thơ cổ điển trong các cổ thi tuyển danh tiếng như Kokin Waka Shu, Kin Yo Shu, vv… Ông ta lại chế ra một cách lên dây hoàn toàn khác hẳn hai điệu âm (In) và dương (Ryo) và đặt tên là Kokin-joshi lấy từ tên Kokin Waka Shu mà ra . Âm giai như sau : Mi-La-Si (thấp)-Re-Mi-Fa-La-Si-Re-Mi-Fa-La-Si.

Từ khi nhạc Tây Âu bắt đầu xâm nhập đất Phù Tang vào đầu thời đại Meiji (1868 trở về sau), nhiều nhạc sĩ cổ truyền Nhựt thử sử dụng các âm giai mới vào trong nhạc Nhựt và một số ít đã thành công . Miyagi Michio (1895-1956) , nhà soạn nhạc Nhựt đầu tiên đã phối hợp hai luồng nhạc Á Âu, sử dụng hai nhạc ngữ Đông Tây trong khi soạn các nhạc phẩm cho đàn koto . Từ đó những nhạc sĩ trẻ tuổi và các người đánh đàn tranh koto đều bắt chước ông Miyagi Michio. Có một số phê bình ông và lại thử một hướng đi khác . Gần đây, nhứt là từ khi sau thế chiến thứ hai (1939), rất đông nhà soạn nhạc Nhựt thi đua nhau sáng tác nhạc đương đại dựa trên nhạc cổ truyền . Cây đàn tranh Koto làm bằng cây pawlonia , dài 1m80. Mười ba dây tơ căng dài trên mặt âm bảng. Mười ba con nhạn hình chữ A hứng chịu 13 dây đàn . Đàn tranh Koto không có trục giống như đàn Kayakeum của Đại Hàn. Người khảy đàn mang móng vào ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay mặt và dùng ba ngón tay trỏ, giữa, và áp út của bàn tay trái mang móng đeo ở ngón tay thì đủ biết người đàn thuộc trường phái nào (Gagaku, Tsukushi-goto, Ikuta, Yamada).Đàn tranh koto có thể đàn độc tấu, tam tấu với với đàn tam shamisen, ống tiêu shakuhachi, hay đàn trong dàn nhạc cổ điển hay cận đại

 

Đàn Tranh Việt

bai002_dientacaydantranh1

gs-tvk-va-dan-tranh-1

vinhbao2

Có lẽ đàn tranh là cây đàn được nhiều người Việt biết đến nhiều nhứt và có đông người học nhứt trong số các nhạc khí cổ truyền Việt Nam . Thật ra đàn tranh không phải bắt nguồn từ Việt Nam mà đúng ra là từ Trung Quốc . Có một giả thuyết cho rằng tiếng đàn khi đánh lên nghe giống như âm từ “tranh”. Nhưng giả thuyết này không đứng vững . Về sau có một số giả thuyết khác cho rằng đàn tranh là do chữ “tranh” có nghĩa là “tranh luận thêm một bộ trúc phía trên . Giả thuyết này có đưa ra một huyền thoại . Nói rằng ngày xưa có hai người tranh nhau một cây đàn “sắc’ có 25 dây . Mông Điềm , một vị quan thời nhà Tần, mới chặt cây đàn sắc ra làm hai, một cây đàn 12 dây và một cây đàn 13 dâỵ Từ đó người ta mới gọi là đàn tranh . Một huyền thoại khác nói rằng dưới thời nhà Tần có hai chị em nhà kia tranh nhau một cây đàn sắc có 25 dây . Dành qua dành lại , cây đàn rớt xuống bể làm hai. Người chị lấy cây đàn có 13 dây , còn người em lấy cây đàn 12 dâỵ Từ đó mới phát xuất tên đàn tranh . Điều chắc chắn là đàn tranh Trung Quốc đọc là zheng (tsân) được xuất hiện giữa khoảng thế kỷ thứ ba trước công nguyên vào cuối nhà Tần . Ở Việt Nam, đàn tranh xuất hiện đầu tiên vào lúc nào, không ai biết rõ . Có thể vào cuối thế kỷ thứ 9 . Nhưng có điều chắc chắn là đàn tranh được nhắc đến lần đầu tiên trong dàn tiểu nhạc dưới thời nhà Trần (1225-1400) trong quyển Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ . Ông Phạm Đình Hổ kể rằng cây đàn tranh chỉ có 15 dây chứ không phải 16 dâỵ Người đánh đàn mang móng bằng bạc để khảy hoặc dùng hai khúc cây sậy nhỏ đánh lên dây theo kiểu đánh đàn tam thập lục ngày nay . Cách dùng cây sậy khỏ lên dây không còn được truyền tụng nữa .

Đàn Tranh còn được gọi là Đàn Thập Lục (16 dây). Thùng đàn dài khoảng từ 100cm tới 110cm . Một đầu rộng từ 17cm tới 20cm, và một đầu nhỏ cỡ 12cm tới 15cm. Mặt âm bảng làm bằng cây ngô đồng hình cầu vòng . Thành đàn làm bằng gỗ trắc . Đáy đàn làm bằng một miếng ván có khoét ba cái lỗ: lỗ hình bán cầu ở phía dưới đầu đàn để có chỗ cột dây đàn cho đừng bị tuột dây; lỗ thứ nhì hình chữ nhựt ở giữa đáy đàn dùng để cho người đàn có nơi để xách đàn, và lỗ thứ ba tròn và nhỏ dùng để treo đàn trên vách tường sau khi hết muốn đàn nữa .Đầu đàn có một sợi dây bằng đồng uốn cong gọi là “cầu đàn” dùng làm điểm tựa cho 16 dây đàn bằng thép . Mỗi sợi dây căng từ cầu đàn tới trục đều chạy trên một con nhạn (còn gọi là ” ngựa đàn” – chevalet theo tiếng Pháp hay bridge theo tiếng Anh). Nhạn có thể di chuyển tùy theo cách lên dây đàn theo điệu Bắc, Nam, Xuân, Ai , Đảo, Oán,vv… Âm vực của đàn tranh cổ truyền là ba bát độ hay quãng 8 (octave) . Theo truyền thống miền Trung và Bắc, người đàn sử dụng ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay mặt hoặc với móng tay thật để dài mà khảy nhưng âm thanh phát ra không được trong trẻo) hoặc với móng gẩy (onglet / plectrum) đeo vào . Ở miền Nam chỉ dùng có hai ngón tay mặt: ngón cái và ngón trỏ mà thôi . Có nhiều thủ pháp cho tay mặt rất được phổ thông cho đàn tranh. Cách gẩy lướt trên các dây đàn tạo thành một chuổi âm dài . Có hai cách đàn chữ Á .

Á xuống gẩy với ngón cái từ các âm cao đến âm thấp khoảng 7 hay 8 dây liên bậc

Á lên gẩy với ngón tay trỏ từ âm thấp tới âm cao. Kỹ thuật này rất được ưa thích tại Việt Nam và nhứt là các nhạc sinh thế hệ trẻ sau này thường đàn trong các nhạc phẩm mới sáng tác Đánh chồng âm , hợp âm thường được thấy trong nhạc đàn tranh, có nghĩa là hai âm thanh cùng đánh một lúc tạo thành hai âm cách nhau một quãng tám, gọi là song thanh ( miền Nam), hay song long (miền Bắc), có khi liên bậc hay có khi cách bậc. Đánh song huyền là cách đánh hai dây cùng một lúc nhưng âm thanh không cách nhau một quãng tám như song long/song thanh màcó thể là quãng 2, 3, 4, 5 vv

Đánh nhiều dây là đánh cùng một lúc ba hay bốn dây tạo thành một hợp âm . Kỹ thuật này mới được áp dụng sau này co chiều hướng tây phương. Ngón vê làdùng các ngón tay mặt gẩy liên tục thật mau trên một dâỵ Có thể vê hai dây. Một số thủ pháp như ngón láy rền, ngón vuốt, vv… làm tăng thêm sự phong phú của kỹ thuật đàn tranh Việt Nam. Thủ pháp của bàn tay trái góp phần để tạo rõ hiệu quả âm thanh tính qua các ngón rung, ngón nhấn, ngón vỗ . Mấy lúc sau này tay trái còn được sử dụng phối hợp với bàn tay mặt để đánh các chồng âm hay một vài kỹ thuật khác . Thủ pháp tay trái gồm có:

Ngón rung là dùng 2 hay 3 ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dây tạo một âm thanh phát ra giao động như làn sóng nhỏ

Ngón nhấn thể nhấn nửa bậc, một bậc hay một bậc rưỡi Ngón nhấn láy được dùng rất thường ở đàn tranh

Ngón vỗ dùng ngón tay mặt gẩy dây cùng một lúc ngón tay trái vỗ và nhấc lên ngay.

Ngón vuốt dùng tay mặt gẩy đàn, tiếp theo dùng 2 hay 3 ngón tay trái vuốt trên dây đàn đó làm tăng sức căng của dây đàn một cách đều đều , liên tục âm thanh được nâng cao lên nửa cung hay một cung là thủ pháp của tay trái mà trước đây quá ít người biết sử dụng . Có thể gẩy bằng hai tay để tạo thêm chồng âm . Thường là tay trái gẩy những âm rải trong khi tay mặt phải sử dụng ngón vê , hoặc trong khi tay mặt nghỉ. Đôi lúc có thể gẩy giai điệu trong bản nhạc, đặc biệt là những đoạn nhạc êm dịu, trữ tình .

Bồ âm là kỹ thuật mới bắt nguồn từ kỹ thuật đàn bầu, nghĩa là chạm cạnh bàn tay trái lên giữa dây đành tính từ cầu đàn tới con nhạn trong khi tay mặt gẩy dây đó

Cách lên dây đàn

Có nhiều cách lên dây đàn tranh tùy theo điệụ Sau đây là một số lên dây căn bản

Dây Bắc, Quảng: Sol – La – Do – Re – Mi – Sol

Dây Đảo : Sol – La – Do – Re – Fa- Sol

Dây Nam Ai,Xuân:Sol – Sib – Do – Re – Fa- Sol

Dây Vọng cổ : Sol – Sib + Do – Re – Mi – Sol

Sa Mạc : Sol – Sib+ Do – Re – Fa- Sol

Tây Nguyên : Sol – Si Đo – Re – Fa#- Sol

 

Bài bản căn bản

Vềbài bản cho nhạc sinh học đàn tranh, tôi chỉ ghi lại đây một số bài căn bản theo truyền thống miền Trung và miền Nam mà thôi .

Theo truyền thống miền Trung, dây Bắc có 10 bài ngự

1. Phẩm tuyết

2. Nguyên tiêu

3. Hồ quảng

4. Liên hoàn

5. Bình nguyên

6. Tây mai

7. Kim tiền

8. Xuân phong

9. Long hổ

10.Tẩu mã

 

Về bài bản theo dây Nam thì có :

1 Nam ai (còn gọi là ai giang)

2. Hành vân

3. Nam xuân (còn gọi là Hạ giang hay Nam chiến)

4. Nam bình (còn gọi là vọng giang)

5. Chinh phụ

6. Tứ đại cảnh

7. Tương tư khúc

 

Truyền thống miền Nam trong nhạc đàn tài tử gồm có một số bài dây Bắc:

bài nhỏ:

1. Lưu thủy đoản

2. Bình bán

3. Kim tiền Huế

4. Tây thi vắn

5. Khổng Minh tọa lầu

6. Mẫu tầm tử

7. Long Hổ hội

8. Thu hồ

 

6 bài lớn:

1. Lưu thủy trường

2. Phú lục

3. Bình bán chấn

4. Xuân Tình

5. Tây thi

6. Cổ bản

 

7 bài lớn trong nhạc lễ :

1. Xàng xê

2. Ngũ đối thượng

3. Ngũ đối hạ

4. Long đăng

5. Long ngâm

6. Vạn giá

7. Tiểu khúc

 

Các bài theo hơi Quảng gồm có:

1. Ngũ điểm

2. Bài tạ

3. Khốc hoàng thiên

4. Xang xừ líu

Nhạc sĩ sân khấu cải lương , để thay đổi không khí hay đáp ứng nhu cầu của vở tuồng , thỉnh thoảng có sử dụng bản Bắc, đàn theo hơi Quảng (ví dụ như bản Tây Thi theo hơi Quảng  theo cách họ xưng hô với nhau là đờn “Tây thi theo điệu Quảng” (điệu ở đây có nghĩa là hơi, giọng)

Dây Nam gồm có:

1. Nam ai

2. Nam xuân

3. Đảo ngũ cung

4. Tứ đại oán

 Hai bản Văn Thiên Tường và Vọng cổ không thuộc vào danh sách 20 bài tổ vì được sáng tác sau này theo điệu ai oán .

Sự đóng góp của một số giáo sư cổ nhạc như GS Nguyễn Hữu Ba, GS Bửu Lộc, GS Vĩnh Phan, GS Nguyễn Vĩnh Bảo, đã tạo ra một số nhạc sĩ trẻ có đầu óc muốn cải tiến và phát triển như Phạm Thúy Hoan và các nhạc sĩ nhóm Hoa Sim như Quỳnh Hạnh, Phương Oanh, Ngọc Dung ở Saigon trước 1975 . Năm 1955, nhạc sư Vĩnh Bảo cải tiến cây đàn tranh từ 16 dây thành đàn 17, 19 và 21 dây rất tiện lợi để có thể đờn các loại “hơi, điệu” mà không cần phải sửa dây, kéo nhạn. Cây đàn tranh này đã được chấp nhận, các tiệm đóng đàn cũng theo khuôn mẫu của ông. Từ đó cây đàn tranh 16 dây không còn được sử dụng tại Việt Nam đến tận ngày nay. NSND Phương Bảo (âm nhạc viện Hà nội)  sau này có sáng chế một loại đàn tranh nhiều dây với hai dàn nhạn với cách lên dây 12 bán cung để có thể đàn bất cứ bản nhạc nào của Tây phương . Tại Paris, Trung Tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre d’Etudes de Musique Orientale / Centre of Studies for Oriental Music) do GS Trần Văn Khê sáng lập vào năm 1958 đã đào tạo hàng trăm nhạc sinh đàn tranh đủ các quốc tịch trong vòng 30 năm (tính cho tới năm 1988 là năm trung tâm này đóng cửa). Tại Pháp, Phương Oanh đã dạy đàn tranh  ở 3 nhạc viện ngoại ô Paris ( nhạc viện Louis Kervern tỉnh Sevran từ năm 1987, nhạc viện Darius MILHAUD tỉnh Antony năm 2000, nhạc viện tỉnh Villepinte năm 2010). Hồ Thụy Trang mở lớp dạy đàn tranh ở nhạc viện tỉnh Bussy Saint Georges (ngoại ô Paris). 

Ngày xưa, đàn tranh ít được phổ biến, chỉ hòa đàn trong dàn nhạc ngũ tuyệt, đàn tài tử miền Nam, hay là độc tấu, hoặc đệm cho một người hát . Ngày nay, với những kích thước lớn nhỏ khác nhau, với số dây từ 16 lên tới 21 dây hay nhiều hơn nữa, với những thủ pháp tân kỳ, đàn tranh có thể độc tấu, hòa tấu, đệm cho hát, cho ngâm thơ và luôn cả trong nhạc điện thanh (electro-acoustical music/ musique electro-acoustique) mà nhà sọan nhạc Nguyễn Văn Tường và tôi đã cọng tác để thực hiện qua nhạc phẩm Về Nguồn trình bày lần đầu tại Pháp năm 1975 . TS Lê Tuấn Hùng đã bảo vệ luận án tiến sĩ nhạc học về Đàn Tranh, bài bản đàn tranh tại trường đại học Monash University, Melbourne, Úc Châu vào năm 1991. Lê Tuấn Hùng – Đặng Kim Hiền là đôi nghệ sĩ Việt Nam vừa sáng tác và trình diễn nhạc truyền thống và đương đại ở Úc châu. Tại Pháp có GS Trần Văn Khê ( đã trở về sống tại Việt Nam từ năm 2004), Trần Thị Thủy Ngọc, Quỳnh Hạnh , Phương Oanh, Hồ Thụy Trang, Nguyệt Ánh mở lớp dạy đàn tranh . Tại Canada, có Đức Thành ở Montreal dạy đàn tranh hàm thụ và trình diễn đàn tranh .Tại Úc châu có Lê Tuấn Hùng. Tại Hoa kỳ có TS Nguyễn Thiếu Phong, BS Đào Duy Anh, Ngọc Dung, Hồng Việt Hải, Võ Vân Ánh (đoạt giải huy chương vàng đàn tranh năm 1995 tại Việt Nam) có lớp dạy đàn tranh .

Tôi đã giới thiệu đàn tranh tại Pháp và ở hải ngoại từ năm 1966 qua hàng nghìn buổi trình diễn và tại hàng trăm đại hội liên hoan nhạc truyền thống khắp năm châụ Với 23 dĩa hát thực hiện tại Pháp (15 dĩa như 33 vòng , 8 CD), tôi đã mang tiếng đàn tranh đi vào 60 quốc gia và nhờ đó ai ai đều biết tới tiếng đàn tranh Với một cái nhìn tổng quát vềcác loại đàn tranh ở Viễn Đông, tôi hy vọng mang lại cho độc giả một cái nhìn xác thực về sự đa diện của cây đàn tranh và sự giàu có về âm thanh, thủ pháp, bài bản, cũng như về các nhạc sĩ, các nhà viết nhạc cho một nhạc khí đặc trưng của Viễn Đông: Đàn Tranh.

Tại Việt Nam ngoài nhạc sư Vĩnh Bảo, giáo sư Trần Văn Khê, Phạm Thúy Hoan,Hoàng Cơ Thụy , hiện nay còn có ba nữ nhạc sĩ đàn tranh trẻ tuổi là Hải Phượng (đoạt giải Tài năng trẻ đàn tranh toàn quốc 1992), Thanh Thủy (đoạt giải tài năng trẻ đàn tranh năm 1998) và Trà My (giảng viên học viện âm nhạc Hà nội) . Một hội đàn tranh Châu Á lần đầu được tổ chức tại Saigon từ 10 tới 14 tháng 9, 2000 với sự tham dự của hơn 200 nhạc sĩ đàn tranh của Việt Nam, Đại Hàn, Nhựt Bổn và Tân Gia Ba thổi một luồng gió mới vào nhạc dân tộc trong xứ, và có thể làm phát triển đàn tranh ở Việt Nam . Phạm Thúy Hoan thường tổ chức những cuộc gặp gỡ , giao lưu giữa đàn tranh Việt Nam và các loại đàn tranh Á châu. Một cuộc hội ngộ đàn tranh 2014 dành cho đàn tranh việt nam  được Phạm Thúy Hoan và Hải Phượng tổ chức tại TP HCM, Việt Nam từ 30 tháng 6 tới 4 tháng 7, 2014 với sự tham gia của những người đàn tranh Việt khắp thế giới (Mỹ, Pháp và Việt Nam cho kỳ này) cho thấy sự duy trì, phát huy đàn tranh trong nước và hải ngoại .

Nhạc sĩ đàn tranh miền Bắc

phương bảo

 

Phương Bảo

trà my 1

Trà My

nghe sy Thanh thuy

Thanh Thủy

Nhạc sĩ đàn tranh miền Nam

 

vĩnh bảo đàn tranh

Nhạc sư Vĩnh Bảo

tvk

GS Trần Văn Khê

images171436_ThuyHoan1

Phạm Thúy Hoan

hải phượng

Hải Phượng

hoàng cơ thụy

 

Hoàng Cơ Thụy

Nghệ sĩ đàn tranh tại Pháp

tran quang hai

Trần Quang Hải

phuong_oanh_zither

 

Phương Oanh

quỳnh hạnh

 

Quỳnh Hạnh

ho thuy trang

 

 

Hồ Thụy Trang

nguyet anh

Nguyệt Ánh

thuy ngoc don tranh va tran van khe don kim

Trần Thị Thủy Ngọc

Nghệ sĩ đàn tranh ở Mỹ

vân ánh 1

Vân Ánh

ngoc dung

Ngọc Dung

nguyenthuyetphong

Nguyễn Thuyết Phong

Nghệ sĩ đàn tranh ở Úc châu

le_tuan_hung_zither

Lê Tuấn Hùng

==========================================

Trong phần sách tham khảo và CD vềnhạc đàn tranh, tôi chỉ lựa một vài quyển sách và CD về nhạc đàn tranh Việt Nam mà thôị Còn sách và dĩa CD vềnhạc ba quốc gia kia : Trung quốc, Nhựt Bổn và Đại Hàn không đề cập tới vì số trang có hạn .

Sách tham khảo

VIETNAM

Trần Quang Hải, 1989: Âm nhạc Việt Nam – biên khảo, 362 trang, nhà xuất bản Nhóm Bắc Đẩu, Paris.

Trần Quang Hải /Michel Asselineau, Eugene Berel, 1994: Musics of the World, (Nhạc thế giới ), nhà xuất bản JM Fuzeau, 360 trang, 3 CD, Courlay, Francẹ

Trần Văn Khê, 1962 : Musique traditionnelle vietnamienne (Nhạc cổ truyền Việt Nam), nhà xuất bản Presses Universitaires de France (PUF) 382 trang, Paris .

Trần Văn Khê, 1967 : Vietnam , Traditions Musicales (Vietnam, Truyền Thống Âm Nhạc), nhà xuất bản Buchet Chastel, 225 trang, Paris

 

Dĩa hát CD về Đàn tranh Viễn Đông

VIETNAM

 

TRAN QUANG HAI

CD: Vietnam: Rêves et Realite / Tran Quang Hai & Bach Yên , nhà xuất bản Playasound, PS 65020, Paris, 1988

CD: La cithare vietnamienne, Dan Tranh par Tran Quang Hai, nhà xuất bản Playasound, PS 65103, Paris, 1993.

CD : Landscape of the Highlands, Dan Tranh by Tran Quang Hai, nhà xuất bản Latitudes LAT 50612, Chapel Hill, North Carolina, Hoa Kỳ, 1994

 

NGUYEN VINH BAO

CD: Vietnam / Tradition du Sud par Nguyên Vinh Bao / Tran Van Khê, nhà xuất bản OCORA C 580043, Paris,1992 .

CD : Vietnam /Tradition of the South / Nguyên Vinh Bao (đàn tranh) Trân Van Khê (tỳ bà ), nhà xuất bản AUVIDIS, Unesco, D 8049, Paris, 1993 .

 

HAI PHUONG

CD : Vietnam / Le Dàn Tranh : Musiques d’hier et d’aujourd’hui / Hải Phượng (đán tranh) Tran Van Khê (đàn kìm ), nhà xuất bản OCORA C560055, Paris, 1994.

 

TRAN VAN KHE

CD : Vietnam / Poésies et Chants / Tran Van Khê (đàn tranh, kìm, ngâm thơ), Trân Thi Thuy Ngoc (đàn tranh), nhà xuất bản OCORA C 560054, Paris, 1994.

 

LE TUAN HUNG /LE THI KIM

CD : Musical Transfiguration : A journey across Vietnamese Soundscapes / Lê Tuân Hùng & Lê Thi Kim, nhà xuất bản MOVE MD 3128, Úc Châu, 1993. LêTuấn Hùng (đàn tranh, bộ Gõ, hát), Lê Thị Kim (tranh, sinh tiền, hát)

 

CD: Echoes of Ancestral Voices / Traditional Music of Vietnam/ Đặng Kim Hiền & Lê Tuấn Hùng , nhà xuất bản, Move Records MD 3199, Úc Châu, 1997. Lê Tuân Hùng & Đặng Kim Hiền (tranh, giọng, percussions)

 

 

THANH HIỆP : Đàn tranh hội ngộ tiếng tơ lòng/ Hội ngộ đàn tranh 2014, TP HCM , 30.06 – 04.07.2014


Đàn tranh hội ngộ tiếng tơ lòng

Chủ Nhật, 29/06/2014 23:13

Tối nay (30-6), chương trình Hội ngộ đàn tranh 2014 do Nhạc viện TP HCM tổ chức sẽ diễn ra tại phòng hòa nhạc Nhạc viện TP. Chương trình nhạc hội đàn tranh quốc tế những lần trước do Cung Văn hóa Lao động và Nhạc viện TP HCM phối hợp tổ chức diễn ra ở hội trường Cung Văn hóa Lao động TP.

Sự kiện này làm nức lòng công chúng mộ điệu đàn tranh, mở ra những hoạt động giao lưu, kết nối.

Chương trình có sự tham gia biểu diễn của các nghệ sĩ thuộc CLB Tiếng hát Quê hương, ban tứ tuyệt Duyệt Thị Trang (Việt Nam), ban đàn tranh Hướng Việt (Mỹ), ban VA’V Tranhsemble của nghệ sĩ Võ Vân Ánh, đại diện Trường Âm nhạc Phượng Ca (Pháp)…

Đến Cung Văn hóa Lao động TP HCM trong những ngày qua sẽ nhận thấy không khí tập dượt hết sức xúc động của nhiều thế hệ nghệ sĩ sinh sống trong và ngoài nước. Họ cùng nâng niu, nắn nót tiếng đàn như trút vào dây tơ những tình cảm thắm thiết dành cho quê hương.

Những tiết mục sẽ làm nức lòng khán giả mộ điệu khi sân khấu mở màn với gần 60 cây đàn tranh cùng hòa điệu: Xàng xê, Sương chiều tú anh, Tùng quân – Đăng đàn cung, Thu Hồ – Khổng Minh tọa lầu, Lý cây đa, Khúc hát ân tình, Long ngâm… và những độc tấu điêu luyện: The Legend – Huyền thoại mẹ, Khúc nhạc ngày mùa hoặc song tấu đàn tranh của nghệ sĩ Hải Phượng với Uyên Trâm qua bản Lưu thủy trường… sẽ đưa khán giả đến với bức tranh âm nhạc dân tộc đậm màu dân gian, chan chứa tình cảm con người Việt Nam và tình yêu quê hương, đất nước.

Nghệ sĩ đàn tranh Vincent Hiếu 19 tuổi đến từ Pháp đang hòa tấu cùng các nam nghệ sĩ đàn tranh của CLB Tiếng hát Quê hương bài Xàng xê tại buổi tập sáng 29-6 ở Cung Văn hóa Lao động TP HCM
Nghệ sĩ đàn tranh Vincent Hiếu 19 tuổi đến từ Pháp đang hòa tấu cùng các nam nghệ sĩ đàn tranh của CLB Tiếng hát Quê hương bài Xàng xê tại buổi tập sáng 29-6 ở Cung Văn hóa Lao động TP HCM

Say sưa tập luyện, hai mẹ con nghệ sĩ Thùy Trang và Vincent Hiếu đến từ Trường Âm nhạc Phượng Ca (quận 13, Paris – Pháp) phấn khởi khi hòa ngón đàn cùng 40 nghệ sĩ của CLB Tiếng hát Quê hương. Chị Thùy Trang kể: “Con tôi nghe được tiếng Việt chứ nói chưa rành nhưng từ năm 9 tuổi đã học đàn tranh và năm nay 19 tuổi theo mẹ về Việt Nam biểu diễn. Cháu phấn khởi còn hơn tôi nữa”.

Nghệ sĩ đàn tranh Minh Ngọc, Thủy Tiên từ Mỹ về, có người chưa quen bày tỏ cảm xúc bằng tiếng Việt nhưng khi ngồi trước cây đàn tranh, mọi tiếng lòng cùng cất chung một giai điệu, “quê hương chính là đây, thông qua tiếng đàn để kết nối tấm lòng yêu nước, làm tốt những công việc xuất phát từ trái tim chính là góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước ” – bác sĩ Việt Hải tâm sự.

Nhà giáo Ưu tú – nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan cho biết đây là lần đầu tiên một chương trình biểu diễn đàn tranh được bán vé, dù mức giá không cao (100.000 – 200.000 đồng/vé) nhưng sẽ giúp ban tổ chứctrang trải chi phí. Quan trọng hơn, đây sẽ là dịp để những nghệ sĩ đàn tranh đánh giá được mức độ quan tâm và yêu thích thật sự của khán giả qua việc họ bỏ tiền mua vé thay vì thói quen đi xem âm nhạc dân tộc bằng vé mời hoặc vào cửa miễn phí như lâu nay. Bà cũng cho biết lượng vé bán rất khả quan.

Ngoài đêm diễn chính, cuộc hội ngộ lần này còn có chương trình Giai điệu quê hương diễn ra lúc 19 giờ 30 phút ngày 2-7 tại hội trường Cung Văn hóa Lao động TP HCM (vé mời nhận tại đây), chương trình tọa đàm về nhạc dân tộc và đàn tranh tại Cung Văn hóa Lao động sáng 3-7 (vào cửa tự do) và buổinói chuyện chuyên đề “Đàn tranh xưa và nay” với diễn giả – giáo sư Trần Văn Khê cùng các nghệ sĩ biểu diễn: Nhà giáo Ưu tú – nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan, Vĩnh Tuấn, Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Xuân Yên, nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng, Vân Ánh… diễn ra vào tối 4-7 (nhận giấy mời tại Cung Văn hóa Lao động từ 8 giờ đến 11 giờ ngày 29-6).

 

Bài và ảnh: Thanh Hiệp

MY LY : Đoàn Chuẩn: Hào hoa & chuyện đời hư thực


Đoàn Chuẩn: Hào hoa & chuyện đời hư thực

Thứ Hai, 30/06/2014 14:13
(Thethaovanhoa.vn) – Thập niên 40 – 50 thế kỷ trước, nhạc sĩ nức tiếng Đoàn Chuẩn đã ghi dấu ấn vừa bằng những ca khúc trữ tình và cả những giai thoại yêu đương say đắm. Những giai thoại đó, đến nay, người con trai của ông lại bảo rằng chỉ vì công chúng quá yêu mà thêu dệt nên.

20 năm trước, Đoàn Chuẩn khi đó 70 tuổi đã đến Nhà hát Lớn Hà Nội để dự đại hội của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Nay, khi ông không còn nữa, cũng tại Nhà hát Lớn tối 21/6 diễn ra đêm nhạc mừng sinh nhật ông 90 tuổi, mang tên một ca khúc đầy kỷ niệm Gửi người em gái miền Nam.

Nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính, con trai thứ của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, cho biết gia đình sẽ tổ chức đêm nhạc Đoàn Chuẩn hàng năm, bắt đầu từ năm nay. Đầu năm nay, gia đình con cháu Đoàn Chuẩn đã chuyển từ Montreal, Canada về sống tại Hà Nội, trở lại căn nhà cũ ở phố Cao Bá Quát, nơi nhạc sĩ sống mấy chục năm trời. Riêng gia đình người con trai cả, Đoàn Chính, vẫn còn ở Canada. “Về đây vui hơn mà” – ông Đoàn Đính nói. Nói về cuộc sống của gia đình hiện tại, ông Đính không nhắc đến từ “giàu có”, ông chỉ nói “Chúng tôi đang sống tốt” dù người cha là thiếu gia nức tiếng đất Bắc, con trai của chủ hãng nước mắm Vạn Vân danh giá một thời.

Đôi bạn tri kỷ Đoàn Chuẩn (trái) và Từ Linh thời trẻ

 

Nhắc lại quá khứ, Đoàn Chuẩn cũng được biết đến như một công tử phiêu lưu trong tình yêu. Nhiều bài báo, cuốn sách trích dẫn lời kể của người cùng thời về cuộc tình của ông với các danh ca Mộc Lan, Thanh Hằng sắc nước hương trời. Có những tình tiết đáng chú ý: Đoàn Chuẩn đã bỏ ra một số tiền lớn tặng cho người đẹp mỗi ngày một bó hoa tươi thắm trong suốt 3 năm trời. Hay chuyện ông đưa người đẹp đi chơi Đồ Sơn tại bãi biển dành cho giới thượng lưu, thuê ô che nắng cho xe hơi, xe chạy đến đâu tính tiền đến đó, mà ông cho xe ra tận mép nước để nàng không phải đi bộ. Mới đây nhất, nhà thơ Nguyễn Bảo Sinh, từng là học trò guitar Hawaii của Đoàn Chuẩn, kể chuyện từng chứng kiến cảnh người thầy ân ái với ca sĩ Thanh Hằng trong ngôi nhà ở phố Chợ Gạo, nhìn từ phố Ô Quan Chưởng thấy rất rõ. Năm đó, nhà thơ khoảng… 10 tuổi, còn chưa theo học thầy Đoàn Chuẩn.

Tuy nhiên, trước bạn bè và người hâm mộ trong buổi tiệc gia đình được tổ chức đúng ngày sinh của Đoàn Chuẩn (hôm 15/6 mới đây), nghệ sĩ Đoàn Đính lên tiếng phủ nhận những giai thoại về người cha. “Tất cả là thêu dệt. Ông tính nghệ sĩ nhưng cũng có giới hạn. Người ta mến mộ ông quá nên thêu dệt nên chuyện yêu đương phiêu lưu vậy thôi. Sinh thời ông không hề kể về những chuyện này. Riêng chuyện tặng hoa hồng tôi cho là tưởng tượng, cha tôi không nhiều tiền đến thế đâu. Chuyện đi Đồ Sơn thì có thật, nhưng không ghê gớm đến như người ta nghĩ, không khác gì chuyện gửi xe hơi thời nay cả. Nhưng tôi thừa nhận thế này, sinh thời ông có những tình cảm mang đến nguồn cảm hứng mãnh liệt giúp ông viết nên những bản tình ca say đắm. Nếu đó chỉ là tình cảm tưởng tượng thì không thể nào chân thực và có sức sống trong lòng người đến thế. Đó là cái tài và cái duyên của cha tôi, tôi vẫn thường nói đùa là nếu tôi có 10 bóng hồng trong đời thì cũng không thể nào sáng tác được như ông”.

Nhưng dường như hư hay thực những câu chuyện đó giờ không quan trọng nữa. Nổi tiếng đến như Đoàn Chuẩn thì giai thoại cũng trở thành một phần không thể tách rời của cuộc đời.

Bản nhạc Thuở trâm cài viết ngược

Người cháu họ của nhạc sĩ, chị Đoàn Quỳnh Hoa, năm ngoái vừa có công phát hiện ra bản nhạc bolero duy nhất của ông, Thuở trâm cài, năm nay chị giới thiệu cả một giai thoại phía sau bài hát này. Nữ học trò xinh đẹp Bùi Bạch Liên là người được nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết tặng ca khúc Thuở trâm cài. Bùi Bạch Liên về sau trở thành kỳ nữ một đời theo đuổi cây đàn guitar Hawaii, hiện là Chủ tịch câu lạc bộ “Đêm Hawaii Hà Nội”. Bà Liên theo học thầy Đoàn Chuẩn từ năm 1966 đến 1968, một thời kỳ khó khăn, đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh. Trong số học sinh ít ỏi của thầy, chỉ có Bùi Bạch Liên là học trò nữ duy nhất còn trụ lại được nên thầy rất quý.

Bà Liên kể lại: “Một lần tôi đạp xe từ Văn Điển về Hà Nội để theo lớp học ngày Chủ nhật, khi tan lớp, thầy giữ tôi lại và lấy ra bản nhạc ra tặng riêng tôi. Đó là bản nhạc bolero rất hay, ca từ đẹp trong sáng. Tôi dò mãi mà không chơi được nên đợi đến Chủ nhật sau để được thầy dạy. Lòng tôi rất kính yêu thầy. Vì bản nhạc thầy bảo dành tặng tôi nên tôi giữ kín, không tiết lộ cho ai cả. Nay tôi hiểu rằng ai cũng đến lúc ra đi, nên mang bản nhạc tặng lại cho Quỳnh Hoa, may mắn là cháu cũng thể hiện rất hay bài hát này”.

Trong hôm kỷ niệm sinh nhật, nghệ sĩ Bùi Bạch Liên mang đến kỷ vật độc đáo: bản phóng to của bản nhạc Thuở trâm cài được nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết ngược cả nốt nhạc lẫn ca từ, phải soi gương mới đọc được.

Nhà sử học Dương Trung Quốc bày tỏ cảm nghĩ: “Tôi ghi nhận những gì chị Liên kể là một sự thật rất đáng quý, lâu nay được giấu kín. Có thể giới trẻ ngày nay không quen lắm với việc viết chữ ngược nhưng với thế hệ chúng tôi, đây là điều cực kỳ thân quen. Chúng tôi thậm chí còn viết chữ ngược đứng. Thật xúc động khi được nghe câu chuyện về một tác phẩm xuất hiện rất muộn của Đoàn Chuẩn”.

Đêm nhạc Gửi người em gái miền Nam diễn ra tối 21/6 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với các giọng ca Quang Dũng, Tùng Dương, Phạm Thu Hà, Tuấn Hiệp và nghệ sĩ saxophone Quyền Văn Minh. Nghệ sĩ Đoàn Đính, con trai nhạc sĩ, cũng góp mặt với vai trò nhạc công guitar Hawaii.

“Tiếng đàn guitar Hawaii sẽ luôn vang lên trong đêm nhạc, làm nền cho cả những lúc giao lưu trò chuyện. Sẽ không có giới thiệu từng bài hát như những đêm nhạc khác mà cả đêm nhạc là một câu chuyện xuyên suốt, mỗi bài hát là một phần của câu chuyện” – Nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính, con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn.

 

 

Mi Ly
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần

http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/doan-chuan-hao-hoa-chuyen-doi-hu-thuc-n20140620152747034.htm

HOÀNG OANH : VỀ VỚI TIẾNG ĐÀN QUÊ HƯƠNG / HỘI NGỘ ĐÀN TRANH 2014, TP HCM 30.06/04.07.2014


Về với tiếng đàn quê hương

30/06/2014 12:39 (GMT + 7)
 
 
TT – Sáng 29-6, phòng tập của Câu lạc bộ Tiếng hát quê hương (Cung văn hóa Lao động) nhộn nhịp hơn thường lệ. Mọi thành viên từ em nhỏ 5 tuổi đến cụ già 70 tuổi đều chăm chỉ tập luyện để chuẩn bị cho chương trình Hội ngộ đàn tranh 2014.

Các thành viên của ban Hướng Việt (từ trái sang): Minh Ngọc, Việt Hải, Thủy Tiên và Etsuko trong buổi tập sáng 29-6 – Ảnh: H.O. 

 

Sự xuất hiện của những tay đàn từ hải ngoại vừa trở về đã làm không khí buổi tập càng thêm sôi nổi, hào hứng.

Hội ngộ

Anh Hồng Việt Hải vốn là một bác sĩ y học cổ truyền ở Seattle (Mỹ). Ngoài công việc khám chữa bệnh hằng ngày, anh dành toàn bộ thời gian còn lại để luyện ngón đàn và thành lập ban đàn tranh Hướng Việt hơn 10 năm qua tại Mỹ. Số lượng thành viên của Hướng Việt có khi lên đến hơn 100 người, nhưng cũng có khi chỉ còn lại hơn chục người kiên trì tấu nhạc cùng nhau. Một cây đàn tranh mua trong nước đã đắt, cộng thêm tiền vận chuyển sang Mỹ thì còn đắt hơn nhiều lần nhưng không thể làm hao mòn tình yêu âm nhạc dân tộc của những người con xa xứ.

 

Chương trình Hội ngộ đàn tranh 2014 diễn ra từ ngày 30-6 đến 4-7 tại TP.HCM. Tiếp nối chương trình Đàn tranh do khoa âm nhạc dân tộc Nhạc viện tổ chức vào 20g hôm nay 30-6 tại Nhạc viện TP.HCM là hai chương trình diễn ra tại Cung văn hóa Lao động: Giai điệu quê hương (19g30 ngày 2-7, vé mời phát tại cung), tọa đàm về nhạc dân tộc và đặc biệt về đàn tranh (8g30 ngày 3-7, vào cửa tự do). Cuộc hội ngộ khép lại với buổi nói chuyện “Đàn tranh xưa và nay” tại tư gia của giáo sư Trần Văn Khê (19g30 ngày 4-7).

 

Lần này ngoài anh Việt Hải, ban Hướng Việt còn có các thành viên khác cùng về để tham gia cuộc hội ngộ: cô bé Thủy Tiên 14 tuổi sinh ra và lớn lên tại Mỹ, nhờ học đàn tranh mà nói được tiếng Việt dù chưa sõi; chị Minh Ngọc vốn sang Mỹ định cư cùng gia đình khá lâu, học đàn tranh gần hai năm và còn hướng dẫn cho cậu con trai 8 tuổi của mình theo học để nhớ về nguồn cội; cô gái người Nhật tên Etsuko (tên Việt Nam là Hương) vì quá yêu thích âm nhạc Việt Nam mà quyết tâm theo học đàn tranh được hơn bảy năm và nay đã trở thành cô giáo dạy đàn.

Cùng với Hướng Việt, ở Mỹ hiện còn có ban đàn tranh VA’V Tranhsemble ở San Francisco của nghệ sĩ Võ Vân Ánh Vanessa. Vân Ánh vốn là một nghệ sĩ đàn tranh nổi tiếng từng đoạt giải nhất đàn tranh quốc gia 1994, nhận đề cử Oscar năm 2003 và nhận giải Emmy năm 2009. Lần này chị về nước để hội ngộ cùng những nghệ sĩ và khán giả yêu quý âm nhạc dân tộc, đồng thời cũng là để kêu gọi gây quỹ ủng hộ cho dự án Music Bridge Under 25 – một dự án khuyến học dành cho những bạn trẻ dưới 25 tuổi có niềm đam mê với âm nhạc dân tộc, có khả năng sáng tác và chơi nhạc cụ. Theo đó, những bản nhạc do những bạn trẻ này sáng tác sẽ được lựa chọn, trình diễn và trao phần thưởng, với mục đích nhằm bảo tồn âm nhạc truyền thống và nuôi dưỡng một thế hệ nghệ sĩ mới.

Mẹ con cùng lo

Ở một góc của phòng tập, chị Thùy Trang và con trai Văn Hiếu đang trao đổi với nhau để chuẩn bị cho đêm diễn. Họ vừa trở về từ Paris (Pháp) với tư cách là đại diện của Trường âm nhạc Phượng Ca tham gia cuộc hội ngộ đàn tranh. Anh chàng Văn Hiếu năm nay tròn 19 tuổi, có dáng dấp to lớn như một anh Tây và chỉ nói được một ít tiếng Việt nhưng lại có thâm niên chơi đàn tranh hơn 10 năm. Chị Thùy Trang vì đưa con đi học đàn từ bé nên dần dần cũng mê và quyết định theo học ở Trường Phượng Ca. Cuộc hội ngộ này cũng là lần đầu tiên hai mẹ con sẽ cùng tấu lên những bản nhạc quê hương trên chính mảnh đất quê hương. Đó là điều làm họ thấy vui và háo hức nhất.

Nhà giáo ưu tú Phạm Thúy Hoan cho biết vé của đêm diễn chính vào ngày 30-6 tại Nhạc viện TP.HCM đã được bán gần hết, trong đó có những đơn vị mua vé giá cao để ủng hộ hết mình cho âm nhạc truyền thống. Bà cùng với con gái là nghệ sĩ Hải Phượng có lẽ là những người tất bật nhất trong cuộc hội ngộ lần này. Mong muốn của họ là tiếng đàn tranh dù là ở Việt Nam hay từ Âu, Mỹ xa xôi sẽ được hòa nhịp tấu lên những bài bản quê hương mà bất cứ ai khi nghe cũng sẽ thấy xúc động.

HOÀNG OANH

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/615217/ve-voi-tieng-dan-que-huong.html

GS TRẦN VĂN KHÊ : TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC, HỎI, HIỂU, HÀNH


TẢN MẠN VỀ PHƯƠNG PHÁP

HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH

Image

Khi tôi mới được mời vào cộng tác với trường đại học Bình Dương, Hiệu Trưởng

nhà trường – GSTS khoa học Cao Văn Phường có cho tôi biết qua về tôn chỉ và phương

pháp đào tạo của trường. Nghe thầy Hiệu Trưởng nói về việc này tôi rất thích vì trường

không đặt trọng tâm vào kỹ thuật mà luôn luôn có kèm theo văn hóa. Trong yêu cầu chất

lượng đào tạo, luôn luôn đặt trọng vấn đề đạo đức gắn liền với kiến thức. Trong phương

pháp đào tạo, thầy Hiệu Trưởng đã đưa ra một phương pháp “Cộng Học” giữa thầy

và trò, giữa trò và trò, giữa người học với người xung quanh và với cộng đồng xã hội.

Phương pháp cộng học được xây dựng dựa trên 4 chữ H:

“HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH”

“Học” là để biết cách học như thế nào

“Học” là để biết cách “hỏi”

“Hỏi” để “học”

“Hỏi” để hiểu (hiểu bằng cách tập hợp thông tin, xử lý thông tin, khai thác thông tin

để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đặt ra)

“Hiểu” phải “hiểu” đúng

“Hiểu” đúng thì “hành” mới đúng

“Hành” đúng mới có hiệu quả

“Hành” có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất lượng,

đảm bảo nhu cầu bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ

Mọi người vừa có thể là người học mà vừa có thể là người dạy

Phương pháp “Cộng Học” giúp cho các em ngay từ nhỏ được rèn luyện tính tự lập,

chủ động, tư duy độc lập, lao động sáng tạo và tạo mối liên kết làm việc tập thể. Đây vừa

là triết lý, vừa là mục tiêu, vừa là nội dung, vừa là phương pháp mà Đại học Bình Dương

phấn đấu đạt đến.

Chỉ có năm nay Hiệu Trưởng Cao Văn Phường mới nói rõ ra như thế trong bài tham

luận khai mạc cuộc họp Hội đồng Khoa học 2011 của nhà trường. GS Mạc Đường – Chủ

nhiệm Viện Châu Á – Thái Bình Dương của trường Đại học sau khi nghe bài tham luận

của Hiệu Trưởng đã nêu ý kiến: “Tôi rất tâm đắc và đánh giá cao quan điểm triết lý giáo

dục của nhà trường, đó là Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Triết lý về quan điểm giáo dục này

của trường Bình Dương rất hay, rất lớn, rất đáng để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, trao

đổi”. Các thành viên Hội đồng Khoa học người nước ngoài cũng đã cùng viết chung và

đồng ký tên vào bản ý kiến nhận xét có dịch ra tiếng Việt như sau đây:

“ … Viện sĩ Cao Văn Phường đã đưa ra một chương trình giáo dục quan trọng đối

với sự phát triển tiến bộ cho tương lai của Việt Nam. Chương trình này được đặt trên cơ

sở triết lý giáo dục Học – Hỏi – Hiểu – Hành. Chúng tôi – với tư cách là các thành viên

Hội đồng Khoa học và Đào tạo của trường Đại học Bình Dương hoàn toàn nhứt trí tán

thành các nội dung tư tưởng và sáng kiến mà Viện sĩ Cao Văn Phường đưa ra”.

Khi tôi được mời tham luận để góp ý kiến với tư cách một người Cố vấn đặc biệt, tôi

cũng có đôi lời tán thành chương trình đổi mới căn bản toàn diện hoạt động đào tạo khoa

học công nghệ của Trường Đại học Bình Dương, đặc biệt về chiến lược của trường để

thực hiện sự phát triển kinh tế thực tế của đất nước và những phẩm chất đạo đức của con

người. Sau đó, tôi cũng xin góp thêm một vài ý kiến về phương pháp Học – Hỏi – Hiểu –

Hành. Tôi rất tâm đắc với những điều Viện sĩ Cao Văn Phường và Giáo sư Mạc Đường

đã nói về triết lý đó. Tôi chỉ muốn dùng những kinh nghiệm bản thân để nói rõ hơn về

cách học, cách hỏi, cách hiểu và cách hành trong cả cuộc đời của tôi. Mong rằng những

thí dụ cụ thể sẽ giúp cho các sinh viên thấy rõ hơn cách học, cách hỏi, cách hiểu để có thể

thực hiện đầy đủ những điều mà trường đã đặt ra, đồng thời giúp cho các em sau này khi

ra đời có được một phương cách làm việc hiệu quả hơn nếu áp dụng 4 chữ này.

I. Về cách HỌC:

Có dịp tiếp xúc với các em sinh viên, tôi thấy các em chỉ biết nhiều đến cách “cộng

học”. Nhưng khi hỏi đến cách tự học thì các em bảo rằng cứ tìm những quyển sách cùng

một đề tài để đọc hoặc tìm trên mạng internet các tài liệu liên quan rồi ghi chép, in ra

những gì cần thiết phục vụ cho chuyện học của mình… Khi đi vào chi tiết, tôi hỏi các em

ghi chép những điều quan trọng trong quyển sách đã đọc bằng cách nào, có biết cách làm

phiếu để cho mình nhớ lại đại cương về quyển sách đã đọc hay không, những thư viện

nào có lưu trữ hay những tiệm sách nào có thể mua được… thì các em có phần bối rối.

Vì những lẽ trên, để giúp cho các em sinh viên trong việc học như thế nào cho khoa

học, hợp lý, tốn ít thời gian mà thu được nhiều hiệu quả, chúng tôi đặt ra hai câu hỏi cho

phương pháp HỌC này: Học với ai? Và học cách nào?

1. Học với ai?

Lẽ tất nhiên theo cách “cộng học” là sẽ học với thầy, với bạn và những người xung

quanh. Đó là những người có mặt và gần gũi với mình.

Khi phải tầm sư học đạo, tức là những người ở xa mình, mình chỉ gặp trên tài liệu,

sách vở mà chưa từng gặp mặt hoặc khi phải vào thư viện, lên internet tìm sách cùng một

đề tài với bộ môn mình muốn học thì ngoài vấn đề biết cách hỏi còn phải biết cách ghi

lại những điều đã đọc được. Nhưng ghi lại bằng cách nào cho thật hiệu quả mà không tốn

thời gian? Do đó phải biết cách đọc sách và cách làm phiếu.

2. Học cách nào?

2.1. Khi học một vấn đề phải biết tận dụng những kỹ năng ghi nhớ bằng các giác

quan cho thật hiệu quả:

– Phải tự tay mình ghi tên đề tài và những chi tiết cần phải nhớ về đề tài đó. Như

vậy là bàn tay ta đã bắt đầu nhớ giúp ta (memoire tactile).

– Khi ghi bằng tay, mắt ta nhìn thấy những chữ hiện lên trên giấy thì thị giác đã bắt

đầu giúp ta nhớ (memoire visuelle).

– Miệng ta đọc lớn lên các chi tiết để lỗ tai ta ghi nhận những điều đã nghe, thị giác

lại góp phần vào việc nhớ (memoire auditive). Đồng thời miệng nói cũng góp

thêm một phần nữa.

2.2. Khi học về một niên đại nên cố gắng tìm 3 sự kiện xảy ra cùng niên đại đó để

nhớ một lượt, đó là cách chúng tôi “học một nhớ ba”.

Thí dụ: Đa số học sinh khi học lịch sử nước ngoài đều biết năm 1789 là năm cách

mạng tư sản Pháp thành công. Nhưng nếu chúng ta nhớ thêm rằng năm đó Nguyễn Huệ

đánh thắng quân Thanh tại Đống Đa và ngay sau khi thắng trận đã gởi một phái đoàn hữu

nghị đến vua Càn Long thì số 1789 giúp ta nhớ được cùng lúc 3 sự kiện.

Hoặc có thể nhớ thêm những sự kiện xảy ra ở các năm gần với niên đại đó nếu ta

có một trí nhớ tốt:

Thí dụ (theo kinh nghiệm bản thân từng trải qua): Những sinh viên học nhạc nước

ngoài nếu chỉ nhớ rằng 1770 là năm sanh của nhạc sĩ Beethoven thì không bằng đồng

thời nhớ luôn tại miền Nam Ấn Độ 3 năm trước, 1767, có một nhạc sĩ lớn đã đặt ra 1000

bài hát Kritis mà dân Ấn Độ miền Nam còn hát đến giờ. Đó là nhạc sĩ Tiagaradja. Và

cũng 13 năm trước, 1757, có một nhạc sĩ Nhựt Bổn đã lập ra 1 trường phái mới trong

truyền thống đàn Koto, gọi là Yamada Ryu (phái móng tròn – Sơn Điền lưu phái 山田流

2.3. Phải biết giản dị hóa những điều phức tạp:

Thí dụ: Muốn nhớ các triều đại trong lịch sử Trung Quốc từ đời Đường đến nay, nếu

phải nhớ kỹ thì chúng ta phải để ý rằng từ đời Đường về sau có 5 triều đại lớn: Đường

– Tống – Nguyên – Minh – Thanh, trung bình mỗi triều đại sống được 3 thế kỷ. Chỉ có

triều Nguyên trị vì trong hơn 80 năm (tức là 1 thế kỷ). Chúng ta chỉ có thể nhớ một cách

dễ dàng như sau đây:

Đường (trải qua 3 thế kỷ: thứ 7, thứ 8 và thứ 9)

Tống (thế kỷ 10 – 11 – 12)

Nguyên (thế kỷ 13)

Minh (thế kỷ 14 – 15 – 16)

Thanh (thế kỷ 17 – 18 – 19)

Cộng hòa Trung Hoa (từ thế kỷ 20)

Mặc dầu chưa thật chính xác nhưng trong 90% trường hợp thì chúng ta không sai khi

đặt một nhân vật nào trong một triều đại nào để tìm hiểu, nghiên cứu.

2.4. Áp dụng hai phương pháp của sử học và dân tộc nhạc học cho mỗi đề tài học.

2.4.1. Sau khi miêu tả đề tài một cách toàn diện, tức là từ cụ thể tới trừu tượng thì

phải bắt đầu đi dài trong thời gian theo “phương pháp của sử học”.

Thí dụ cụ thể: Muốn học về cây đờn Tranh Việt Nam thì phải biết miêu tả một cách

rành mạch về hình dáng, kích thước và các bộ phận của cây đờn. Phải biết ghi ảnh bề

mặt, bề trái, bề dày của đờn, đồng thời biết luôn về chất liệu dùng để làm ra cây đờn đó.

Tiếp theo mới bắt đầu đi dài trong lịch sử, cố gắng tìm coi cây đờn đó xuất hiện tại đất

nước Việt Nam từ lúc nào, do người Việt sáng tạo hay du nhập từ nước nào đi tới? Và

cố đi tận cùng để tìm ra được nguồn gốc chánh của cây đờn Tranh Việt Nam là từ cây

Guzheng (Cổ tranh) Trung Quốc truyền sang, xem xét sự biến chuyển của cây đờn Tranh

từ lúc được du nhập đến giờ, có sự biến chuyển về chất liệu sử dụng làm dây đàn: dây tơ

đã được đổi thành dây cước, rồi sau là dây thép; về những giai đoạn đờn Tranh từ 16 dây

biến thành ra 17, 19, 21, 22… dây; về kích thước của cây đàn, trục, nhạn đi theo như thế

Chúng ta được biết rằng, cây đờn Tranh của chúng ta gốc từ cây Guzheng (Cổ

Tranh) của Trung Quốc truyền sang nước Việt Nam sớm nhứt là từ thế kỷ thứ 13 dưới

thời nhà Trần, vì trong sách “An Nam chí lược” của Lê Tắc có ghi tên cây đờn Tranh lần

đầu tiên dùng trong dàn tiểu nhạc và trong dân gian.

Sau đó chúng ta lại xem xét sự biến chuyển của đờn Tranh trong nước Việt Nam từ

lúc nhạc sư Vĩnh Bảo bắt đầu cải tiến đờn Tranh, cho đến các nhạc sĩ thế hệ sau lần lượt

nối tiếp theo công việc này như nghệ sĩ Phương Bảo sáng chế cây đờn Tranh hình thức

cũng khác mà cách lên dây cũng khác, theo thang âm thất cung để mở rộng khả năng biểu

diễn phong phú hơn. Tuy có nhiều biến chuyển như vậy nhưng đến nay cây đờn Tranh

vẫn còn được thông dụng theo hình thức xưa, có cải biên chút ít.

2.4.2. Đi rộng trong không gian theo “phương pháp đối chiếu trong dân tộc nhạc

Tiếp theo với thí dụ về cây đờn Tranh, trong khi tìm hiểu thì chúng ta lại biết được

rằng tại Triều Tiên, dưới đời vua Kasil, khi nhìn thấy đờn Guzheng của Trung Quốc với

những âm thanh trầm bổng, đức vua đã sai người đóng một cây đàn tương tợ như thế

nhưng hình dáng con nhạn làm cho cao hơn, đặt tên là Gayageum và ra lệnh cho nhạc sĩ

Ujuk sáng tác ra 10 bài được coi như là những bài tổ của đờn Tranh Triều Tiên. Việc đó

xảy ra vào khoảng năm 551 (tức là thế kỷ thứ 6).

Tại Nhựt Bổn, dưới đời Hoàng Đế Temmu (khoảng năm 672 – tức là thế kỷ tứ 7), có

một truyền thuyết kể về nguồn gốc của cây đờn Koto: một người mạng phụ khi đi nghỉ

mát ở miền Nam Nhựt Bổn, trong lúc đang dạo chơi thì bỗng nghe một tiếng đờn vang ra

từ trong núi. Hiếu kỳ, bà bèn đi lần đến tìm thì thấy có một đạo sĩ Trung Quốc ngồi đờn

bên một cây đờn lạ mà người Nhựt ghi chép lại dưới cái tên Sono Koto. Khi thấy người

mạng phụ, đạo sĩ nói: “Ta biết hôm nay sẽ có người đến đây để ta trao lại tất cả những

truyền thống của cây đờn này. Nhà ngươi có sẵn sàng học đờn này chăng?”. Người

mạng phụ cúi đầu lạy tạ đồng ý và mỗi ngày đều đến học đàn với vị đạo sĩ kỳ dị. Sau một

thời gian, đạo sĩ nói: “Hôm nay thầy đã truyền hết nghề cho con rồi. Con nên về lập một

trường phái để truyền nghề. Con chỉ nhớ một điều rằng không nên truyền nghề cho một

người nhạc sĩ mù từ phía Bắc đi xuống vì người đó sẽ làm phương hại đến truyền thống

Nhờ tìm hiểu rộng trong không gian như vậy mà chúng ta không chỉ biết đờn Tranh

là một nhạc cụ truyền thống của Việt Nam mà còn thấy cả những nhạc khí cùng chung

một họ với nó, biết cách lên dây, cách diễn tấu khác nhau, hình thức khác nhau đồng thời

còn có thể tìm ra điểm chung nhứt của những loại đờn cùng họ này là có cùng một cách

đờn khảy dây bằng ba ngón tay mặt và nhấn dây bằng bàn tay trái.

2.5. Cách đọc sách & cách làm phiếu:

Như đã nói ở trên, tôi muốn điểm sơ qua vài nét trong 2 cách làm này khi chúng ta tìm

hiểu về một vấn đề gì và cần có phương tiện để thực hiện việc học đó một cách hiệu quả

hơn, thông qua việc ghi chép trong lúc đọc sách và làm phiếu.

2.5.1. Đọc sách như thế nào?

Có 2 cách đọc sách:

Cách thứ nhứt: nếu đọc để tìm vấn đề muốn biết thì chỉ đọc sơ và chú ý vào vấn đề

mình muốn tìm hiểu và những đoạn, những câu nào muốn ghi chép lại. Trước hết mỗi

người nên có một quyển sổ tay để thuận tiện cho việc ghi chép, trong đó sẽ ghi lại những

câu mình đã đọc sách mà muốn giữ lại và tốt nhứt là phải biết cách làm phiếu.

Cách thứ hai: nếu muốn tìm hiểu tác giả và một học thuyết của tác giả đó thì phải đọc

quyển sách thật kỹ lưỡng từ đầu chí cuối.

2.5.2. Làm phiếu như thế nào?

Ở đây chúng ta không cần đi vào chi tiết quá nhiều vì mỗi vấn đề lại có những cách

làm phiếu khác nhau, cách thức sắp xếp, tìm kiếm, ghi chép khác nhau… Chúng tôi chỉ

ghi lại đây những điều cần phải nhớ:

a. Cách làm phiếu về một quyển sách: trước hết phải đề họ của tác giả bằng chữ hoa,

tên tác giả để chữ thường (theo quy luật quốc tế), trong đó tên quyển sách viết nghiêng.

Tiếp theo ghi nơi xuất bản, địa chỉ xuất bản, cơ quan xuất bản, năm xuất bản, số trang của

quyển sách bằng chữ đứng.

b. Nếu làm phiếu cho một bài viết trong một tạp chí thì tên bài phải viết chữ đứng,

tên tạp chí phải viết chữ nghiêng. Phải ghi rõ số trang của bài viết từ trang mấy đến trang

mấy để lúc muốn tìm lại hoặc người khác muốn kiểm tra khỏi phải mất thời gian đọc cả

tạp chí. Đó là những quy luật mà trên cả thế giới đều áp dụng. Chúng ta nên tuân thủ để

khi viết bài gởi ra quốc tế, độc giả sẽ không bỡ ngỡ.

II. Về cách HỎI:

Khi tầm sư học đạo, tức là phải tìm thầy để hỏi mà học thì chúng ta có nhiều phương

pháp hỏi, nhưng chúng tôi khuyên các bạn nên lưu ý những điều sau đây:

1/ Khi mở cửa nhà người thầy, được thầy tiếp mới chỉ là giai đoạn đầu, không nên

hỏi liền việc của mình muốn hỏi.

2/ Sau khi mở cửa nhà, việc quan trọng nhứt là phải mở “cửa lòng” của người mình

muốn hỏi tức là trong câu chuyện phải làm thế nào cho người đó thấy vui vẻ, hứng thú,

mình nên khéo léo gợi ra những câu chuyện, những điều mà người đó ưa thích. Khi đã có

hứng thú và tỉnh cảm rồi, thì việc trao đổi về vấn đề mình muốn tìm hiểu sẽ dễ dàng hơn

rất nhiều. Muốn như thế thì chúng ta cần nên nhớ một cách làm mà tôi cho rằng rất hiệu

nghiệm: “cho trước khi nhận”.

Một thí dụ cụ thể trong kinh nghiệm bản thân của riêng tôi:

Khi tôi muốn tìm hiểu nhạc truyền thống của Ba Tư, tôi được giới thiệu đến gặp nhạc

sư Hormozi. Sau khi chào hỏi, nhạc sư hỏi tôi: “Tôi nghe nói giáo sư muốn tìm tôi để hỏi

về nhạc truyền thống của Ba Tư phải không?”. Tôi trả lời: “Dạ thưa phải. Nhưng trước

khi làm rộn thầy, xin thầy cho phép tôi giới thiệu đôi nét về âm nhạc Việt Nam truyền

thống để thầy nghe chơi”. Ông rất vui và tò mò nhìn cây đờn Tranh rồi ngồi nghe tôi giới

thiệu một đoạn hơi Bắc chuyển qua hơi Nam. Khi tôi chuyển qua tới hơi Sa Mạc thì ông

chăm chú nghe rất kỹ rồi bỗng dưng chận tay tôi lại mà nói rằng: “Hơi này nghe rất thú

vị và gợi tình thương nhớ, giống như là điệu Segâh của Ba Tư”. Tôi nhân dịp đó mà bắt

đầu hỏi câu đầu tiên: “Thưa thầy, điệu Segâh là thế nào?”. Thầy Hormozi lấy cây đờn

Setar 4 dây đờn cho tôi một khúc và nói rằng đặc điểm của Segâh là quãng này, thì ra đó

là một quãng ba trung bình giữa thứ và trưởng, và đó cũng là quãng thường dùng để diễn

tả tình thương nhớ mà chỉ trong hơi Sa Mạc của Việt Nam mới có.

Sau đó ông say sưa nói thêm về điệu thức mahour: “Giáo sư thấy không, trong này

đâu có cái quãng 3 đó vì mahour diễn tả sự vui tươi”. Nói xong ông quay lại tôi đề nghị:

“Tôi muốn giáo sư ghi âm lại cho tôi một đoạn Sa Mạc để tôi tiếp tục về nghe thêm”. Tôi

sẵn sàng làm công việc đó. Vì thế nên đến khi tôi xin ghi âm lại điệu Segâh, tức thì ông

sẵn sàng đờn rất lâu, rất nhiều để cho tôi ghi âm và có thời gian thấm được điệu thức một

cách sâu sắc nhứt.

Tiếp theo ông lại cao hứng giới thiệu cho tôi hết điệu này qua điệu kia một cách say

sưa mà không biết mệt. Đến 12 giờ khuya là hết giờ hẹn thì tôi cảm ơn thầy đã cho tôi

một buổi tìm hiểu thú vị và xin thầy cho một cái hẹn lần sau để tôi tiếp tục đến trò chuyện

về âm nhạc Ba Tư. Ông níu tôi lại và nói: “Giáo sư đâu có về được. Giờ này là giờ mà

âm nhạc mới tuôn ra. Chúng ta uống thêm một bình trà nữa để tôi đờn thêm cho giáo sư

nghe”. Mãi đến 2 giờ sáng tôi mới “được phép” ra về, nhưng đã đem theo trên hành trình

về nhà một kết quả khả quan hơn cả những gì tôi mong đợi, với những cuộn băng ghi âm

nhạc sư đờn, giảng giải về nhạc Ba Tư rất hào hứng, lý thú mà không phải lúc nào cũng

3/ Không nên đặt những câu hỏi trực tiếp như những câu trực tiếp muốn biết về ngày

sanh, hỏi trực tiếp tuổi tác… như một người cảnh sát lấy khẩu cung, như vậy sẽ thể hiện

mình không tế nhị và thiếu phép lịch sự. Như vậy “cửa lòng’ của người thầy sẽ khép kín

và chúng ta khó có cơ hội tìm được những gì mình muốn.

III. Về cách HIỂU:

Khi học không phải chỉ học được câu trả lời của một người thầy mà vội cho đó là

chân lý. Phải nên tìm thêm trong sách vở, tài liệu hoặc internet nhiều câu trả lời, nhiều

nghiên cứu và phản ứng khác nhau về vấn đề đó để so sánh. Tốt hơn nữa nên gặp một

người thầy hay người bạn mình tin cậy nhứt để bàn về các câu trả lời. Nhờ sự soi sáng

của thầy, bạn mà chúng ta đôi khi có thể thấy rõ hơn vấn đề. Khi có người để thảo luận

thì từ việc thảo luận sẽ nảy ra ánh sáng cho những gì mình cần tìm hiểu.

IV. Về cách HÀNH:

Học thì lẽ đương nhiên là phải đem cái mình học được ra thực hành một cách có hiệu

quả, nếu không những thứ mình thu thập được sẽ dần mai một đi và không giúp ích gì

cho bản thân hay nhân quần xã hội. Và hơn hết, như tôn chỉ mà trường Bình Dương đã

nói đến: thực hành có hiệu quả mới tạo ra được sản phẩm vật chất hay tinh thần có chất

lượng, đảm bảo nhu cầu bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội, mới có điều kiện bảo vệ

thiên nhiên và nhứt là phụng sự xã hội, quê hương một cách đắc lực nhứt.

Hành như thế nào cho đúng? Có phải cứ hành một cách bài bản như những gì mình đã

học, đã biết thôi là đúng hay không? Hành, trước tiên phải thực hiện được những gì mình

đã học, đã nghiên cứu đúng với chuyên môn của mình, sau đó mỗi ngày mỗi tìm tòi, học

hỏi, nâng cao thêm những hiểu biết của bản thân, rèn luyện tay nghề của mình theo sự

tiến bộ của thời đại. Hơn nữa khi hành phải chú ý không sa đà vào những chuyện “hành”

không ích lợi, bền vững, không đem lại cái lợi thực tế, niềm vui, tình thương trong cuộc

sống đến cho con người cũng như thiên nhiên. Việc “hành” nên được sóng đôi cùng lý

trí, đạo đức để chẳng những đem lại cuộc sống tiện nghi, ấm no mà còn đem lại yên lành,

hạnh phúc thực sự cho tất cả. Đó mới là mục đích cao cả cuối cùng của việc đi từ “học”

Đây cũng chỉ là một vài quan điểm của riêng tôi về mô hình “Học – Hỏi – Hiểu –

Hành” mà nhà trường đã đưa ra rất thú vị và bổ ích. Tôi xin đóng góp những suy tư của

mình để có thể cùng quý thầy cô thảo luận, triển khai thêm về tôn chỉ này, hầu mong giúp

cho các em sinh viên trong trường Bình Dương nói riêng và sinh viên đại học nói chung

có được những phương pháp thực sự hiệu quả trong học tập để có được một tương lai

tươi sáng sau này.

Trân trọng kính chào và chúc quý thầy cô Đại học Bình Dương dồi dào sức khỏe để

dẫn dắt các học trò của mình, chúc các em sinh viên học tập ngày càng tiến bộ.

Bình Thạnh, tháng 11 năm 2011

GSTS TRẦN VĂN KHÊ

TIẾNG TƠ ĐỒNG: Cầm Ca (P2) do Chí Tâm và Ngọc Đan Thanh phụ trách, USA


Published on Apr 4, 2014
Chương trình TIẾNG TƠ ĐỒNG ngày hôm nay sẽ tiếp tục nói về đề tài Cầm Ca để rõ thêm về việc chơi nhạc và ca hát của người Việt Nam xưa và nay. Kính mời quý vị cùng thưởng thức!

Để xem trọn các chương trình của SBTN, xin hãy liên lạc với DirecTV hoặc các hãng cable địa phương của quý vị.
To watch the full programs of SBTN, please contact Direct TV or your local cable providers.

© Saigon Broadcasting Television Network (SBTN): http://sbtn.net
© Youtube: http://youtube.com/SBTNOfficial
© Facebook: http://facebook.com/SBTNOfficial
© Twitter: http://twitter.com/SBTNOfficial

Address: 10517 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843
Email: sbtn@sbtn.tv

TIẾNG TƠ ĐỒNG: Cầm Ca (P1) do Chí Tâm và Ngọc Đan Thanh, USA


Published on Mar 29, 2014
Chương trình TIẾNG TƠ ĐỒNG ngày hôm nay nói về đề tài Cầm Ca (P1). Giải thích rõ thêm về việc chơi nhạc và ca hát của người Việt Nam xưa và nay. Kính mời quý vị cùng thưởng thức!

Để xem trọn các chương trình của SBTN, xin hãy liên lạc với DirecTV hoặc các hãng cable địa phương của quý vị.
To watch the full programs of SBTN, please contact Direct TV or your local cable providers.

© Saigon Broadcasting Television Network (SBTN): http://sbtn.net
© Youtube: http://youtube.com/SBTNOfficial
© Facebook: http://facebook.com/SBTNOfficial
© Twitter: http://twitter.com/SBTNOfficial

Address: 10517 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843
Email: sbtn@sbtn.tv