BPHẠĐỎ : BẠCH YẾN – Giọng Hát Huyền Thoại


DÒNG CHẢY NGHỆ THUẬT ……………………………với BPHạĐỏ

BẠCH YẾN – Giọng Hát Huyền Thoại

 

bachyen 8

«Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống . Đâu đấy buông lững lờ tiếng

chuông. Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời. Cùng mây xám về ngang

lưng trời….» Lời nhạc Đêm Đông của Cố Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Thương

đang bắt đầu trải ra một đêm vắng, chỉ thấy một nẻo đường hun hút xa

xăm với vóc dáng đơn độc của người «cô lữ đêm đông không nhà »

ngơ ngác không biết về đâu… Tôi nhắm mắt lại, suy nghĩ thêm về hình

tượng tha phương thì dường như tâm tình cô liêu trong bài nhạc bỗng

dưng rạn vỡ và tan chảy qua giọng hát huyền thoại của Danh Ca Bạch

Yến với hành trình 60 năm âm nhạc của chị … Được biết, nhịp điệu gốc

của bài Đêm Đông (ra đời năm 1939) là Tango. Tuy nhiên, khi trình diễn

năm 1957, Bạch Yến đã sáng tạo hát với điệu Slow Rock, được nhiều

thính giả tán thưởng từ đó, kể cả tác giả Nguyễn Văn Thương. Từ đó,

bản Đêm Đông luôn đi liền với ca sĩ BY khắp năm châu.

9-bach-yen-7

 

Bạch Yến tên thật là Quách Thị Bạch Yến sinh năm 1942, chào đời tại

vùng châu thổ sông Cửu Long (miền Nam VN). Gia đình Bạch Yến

cho biết B.Y đã biết hát từ lúc 2 tuổi rưỡi (dù chưa biết nói)… nhưng

lần đầu tiên, B.Y được hát trên sân khấu lúc 7 tuổi tại rạp Norodom

Phnom Penh, Cao Miên (Cambodia). Năm 1953, đoạt Giải Nhất HUY

CHƯƠNG VÀNG Thi Ca Nhi Đồng do Đài Phát Thanh Pháp-Á (Radio

Diffusion France-Asie Saigon) trao tặng. Năm 1954, B.Y là nghệ sĩ biểu

diễn “MôTô Bay” được nhiều người hâm mộ, nhất là giới trẻ. Năm 1956,

B.Y trở lại với âm nhạc. Ca Sĩ Bạch Yến sớm nổi tiếng tại SG với giọng

hát đặc biệt “trầm” dù thuộc loại giọng cao (mezzo-soprano) ngân nga

với làn hơi phong phú qua những nhạc phẩm bất hủ như “Đêm Đông” và

các nhạc phẩm ngoại quốc bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý, Nhật

hoặc Do Thái . Năm 1961, B.Y sang Paris để trau dồi nghệ thuật, được

hãng đĩa Polydor mời thâu và đưa đi trình diễn vòng quanh Pháp, Bỉ,

Đức và Áo…và theo hợp đồng, Bạch Yến phải hát loại nhạc twist thịnh

hành lúc bấy giờ. Thời gian ở Âu châu này được đánh dấu bằng ba đĩa

hát và vài phim Scopitones (như clips hiện giờ). Ca Sĩ Bạch Yến cho

biết “ làm việc với hãng diã Polydor là một kinh nghiệm lớn trong bước

đầu đi hải ngoại từ những tập dượt tới thâu thanh lưu diễn quanh Âu

châu …đều là những kỷ niệm không thể quên”.

bachyen 1bachyen 2bachyen 6bachyen 3

 

Năm 1965, Bạch Yến được Host Ed Sullivan mời sang Mỹ tham gia Ed

Sullivan Show – đây là chương trình truyền hình ăn khách nhất nước

Mỹ thời bấy giờ với 35 triệu khán giả. Từ một Hợp Đồng hai tuần với

Ed Sullivan Show, B.Y đã được cơ hội tiếp nối 12 năm lưu diễn khắp

nước Mỹ với những nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby,

bach yen bing crosby bob hope

Bing Crosby, Bạch Yến, Bob Hope

bach yen bob hope

Bạch Yến trong chương trình của Bob Hope

Mike Douglas, Joey Bishop, Pat Boone. Sau đó, B.Y tiếp tục trình diễn

ở Canada, Mexico, Venezuela, Colombia, Panamá…bên cạnh những

Danh Hài như Jimmy Durante, Carlos Amarán (Panamá) kiêm Tác Giả

bài Historia de Un Amor (1955 ) – bài này có một thời rất phổ biến trên

thế giới với tên Pháp là Histoire d’un Amour. Ca Sĩ Bạch Yến đã cùng

với Nhạc Sĩ Dương Cầm danh tiếng Liberace diễn quanh 46 tiểu bang

nước Mỹ. Cánh chim Bạch Yến bay cao trong thế giới nghệ thuật và từ

từ quen biết giới nghệ sĩ rộng hơn… Với Jimmy Durante thì được quen

Frank Sinatra. Với Liberace thì học hỏi thêm kinh nghiệm cách trình

diễn. Với Danh Ca Frankie Avalon thì hiểu thêm cách hát trong các phim

ảnh. Đặc biệt nữa là Frankie Ạvalon, Mike Wayne cũng đã mời B.Y về

Hollywood để hát trong phim “Mũ nồi xanh” (The Green Berets) do Tài

Tử John Wayne đóng vai chính.

 

Ca Sĩ Bạch Yến thích nghe nhạc, điện tử và đi bộ. Lúc Bạch Yến tái ngộ

Paris cũng là lúc cuộc đời và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai

đoạn mới cực kỳ quan trọng với duyên gặp gỡ Nhạc Sĩ kiêm Nhà Nghiên

Cứu Dân Tộc Nhạc Học Trần Quang Hải (con trai của Giáo Sư Tiến Sĩ

Trần Văn Khê). Thời gian sau, TQH đã trở thành phu quân của B.Y. Đây

chính là người đã thuyết phục B.Y trở về với nhạc Dân Tộc Việt Nam.

bachyen 5

Kết quả là đôi uyên ương đã cùng nhau trình diễn trên 3,000 buổi hát

Dân Ca khắp năm châu, dù thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc

để đáp lại tấm thịnh tình của những người hâm mộ mình… Cả hai đã

thâu chung 8 dĩa hát 33 tua (LP 33). Một CD cùng một Dĩa đã được giải

thưởng Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.

bachyen 4

Ca Sĩ Bạch Yến rất tin duyên số trong tình cảm và nghề nghiệp. Chị tâm

sự rằng “Tôi thích hát nhạc thời trang “quốc tế“ vì đã được thấm nhuần

từ lúc trẻ thơ 2 tuổi. Đồng thời, tôi thích Dân Ca Việt Nam khi trưởng

thành. Tuy là ca sĩ nhạc thời trang, nhưng tôi rất thích nghe nhạc cổ điển

Tây phương”. Tôi hỏi B.Y về quan niệm / ý thức / kỹ thuật âm nhạc để

thể hiện tốt, để toát ra được cái hồn thơ trong nhạc khi hát thì chị không

do dự và nói rằng “Âm nhạc là nguồn sống của tôi, nó là hơi thở rất cần

thiết cho cả đời tôi. Đương nhiên ca sĩ phải thuộc làu bài hát, luyện thật

kỹ lời ca, hiểu ý bài mới lột tả hết tình cảm của mình rồi mới truyền tới

người nghe. Thuộc làu tất cả bài… nhờ luyện tập nhiều”.

 

Ca Sĩ Bạch Yến thông thạo 6 sinh ngữ nên việc hát những ngôn ngữ

khác nhau đối với chị không có gì khó khăn. Sức mạnh giúp B.Y tồn tại

đến hôm nay là nhờ chị yêu nghề và luôn luôn giữ gìn sức khỏe. B.Y cho

biết “Từ khi trở thành ca sĩ chuyên nghiệp tới nay gần 60 năm rồi mà tôi

vẫn tiếp tục trình diễn. Nếu sức khỏe cho phép, tôi sẽ tiếp tục hát mãi

mãi »

bach yen tran quang hai

GS Nhạc Sĩ Trần Quang Hải đã gặp Ca Sĩ Bạch Yến ở Paris và Tình

Yêu được bắt đầu ở thành phố lãng mạn này. Ông đã hướng dẫn B.Y đi

vào thế giới nghệ thuật âm nhạc dân tộc truyền thống, đã tạo cho khán

giả đến gần với nhạc truyền thống (traditional music). Chị nói “Tôi rất

hãnh diện hát nhạc quê hương mình. Anh Trần Quang Hải làm văn hoá,

tôi làm văn nghệ. Hai chúng tôi đều yêu và phụng sự âm nhạc. Nhờ vậy

chúng tôi yêu thương gắn bó nhau bền chặt tới nay. Sau nhiều năm trình

diễn nhạc cổ truyền khắp nơi, anh TQH và tôi đã phô trương nhiều điểm

hay của nhạc Việt Nam mà ít người biết tới. Đó là một sứ mạng làm cho

chúng tôi rất hãnh diện ». B.Y nói thêm «Dĩ nhiên là người, chúng ta

luôn có khuyết điểm. Lòng yêu mến của khán giả sẽ đền bù cho tất cả

những thiếu sót không thể tránh khỏi của chúng tôi”.

bach yen trinh dien dan ca

 

Đối với Ca Sĩ Bạch Yến, bí quyết giữ thăng bằng cho Tình Yêu & Gia

Đình & Đam Mê Nghệ Thuật tuy không dễ tìm nhưng chị đã tìm được.

Chị đã đồng ý với tôi là Trong tình yêu cũng cần có Tự Do nhưng mình

cần phải thể hiện sự thông thoáng trong tình yêu lứa đôi đúng nơi và

đúng lúc. Ca Sĩ Bạch Yến cũng rất tự tin khi nói ra bí quyết trong bao

nhiêu năm nay là «Trong tình yêu, Tự Do là một yếu tố rất quan trọng vì

Tự Do nuôi dưỡng tình yêu. Lòng tin tưởng và sự tôn trọng lẫn nhau là

nồng cốt cho tính cách trường tồn của tình yêu ».

 

Nói về Tự Do, tôi được biết trong dịp Lễ Độc Lập Hoa Kỳ (July 4th), Ca

Sĩ Bạch Yến được mời sang Mỹ để hát trong Show DạTiệc/ Dạ Vũ Lễ

Độc Lập July 4th, 2014 từ 7 :30pm đến 1am tại Nhà Hàng Mon Amour

cùng với nhiều Ca Sĩ khác như : Lam Anh, Hồ Lệ Thu, Nhật Hạ, Thúy

Hằng, Chung Tử Lưu, Huy Du, Quang Toàn, Quang Duy…….Tôi hỏi vị

Đại Diện Ban Tổ Chức là Ca Sĩ Chung Tử Lưu về lý do mời Danh Ca

Bạch Yến sang từ Âu Châu xa xôi… thì CTL trả lời một cách trân trọng

về chị như sau : « Bạch Yến là một tiếng hát tài năng và đầy ma lực. Từ

nhỏ , tôi đã gần như thuộc hết những giai điệu của tất cả những bài hát

VN lẫn Ngoại Quốc mà chị đã trình bày – từ Đêm Đông đến Nỗi Lòng ,

Em Tôi hay Tình Nữ Khóc Than , What ‘s Now My Love rồi Malaguena

Salerosa… Nói chung là không sót bài nào ! Và tôi vẫn ấp ủ trong lòng

sẽ thực hiện cho chị một Live Show tại Cali theo ý thích của mình. Tuy

nhiên, kỳ nầy mời được Chị là một điều rất vui. Tuy chưa phải là Live

Show riêng của chị nhưng sự góp mặt của Chị trong Show Dạ Tiệc /Dạ

Vũ trong ngày Lễ Độc Lập July 4th tới đây sẽ là một món quà cho những

người ái mộ giọng ca của chị, một ca sĩ có tầm vóc Quốc Tế rất đáng

ngưỡng mộ ».

porste by

Ca Sĩ Bạch Yến cho biết trong show July 4th Bạch Yến sẽ hát những bài khán

giả yêu thích và sẽ tặng thêm vài ngạc nhiên dành riêng cho khán giả

“hy vọng khán giả sẽ vừa ý để không bỏ công đến dự buổi nhạc này”.

B.Y tâm sự là chị luôn hồi hộp mỗi khi trình diễn trước khán giả trong rạp

lớn hay nhỏ, do đó, dĩ nhiên chị cũng sẽ lo lắng trong buổi diễn 4 tháng

7 sắp tới vì muốn khán giả được hài lòng. Ca Sĩ Bạch Yến nói sẽ hát vài

bài của NS Lam Phương mà chị chưa bao giờ hát trước đây. Tôi nói

với chị tôi rất thích chị hát nhạc phẩm “Cho Em Quên Tuổi Ngọc” do NS

Lam Phương sáng tác thì B.Y cho biết Bài nhạc này luôn luôn đem cho

B.Y một cảm xúc lớn vì NS Lam Phương đã có nhã ý viết bài này cho

chị. Ca Sĩ BạchYến cũng tiết lộ thêm về Đêm Dạ Tiệc / Dạ Vũ July 4th,

chị sẽ cho ra mắt một CD toàn nhạc Lam Phương và “mong khán giả

sẽ yêu thích”. Đối với người yêu âm nhạc nghệ thuật và giới trẻ, Ca Sĩ

Bạch Yến “hy vọng những ca sĩ trẻ sẽ hát với tâm hồn và kỹ thuật. Còn

riêng cá nhân B.Y thì chỉ mơ ước được tiếp tục hát cho tới lúc tim ngừng

đập ».

bach yen vietnam 1

 

Bạch Yến là một Ca Sĩ đa tài, chị đã có công đóng góp vào sự phát triển

nền Ca Nhạc VN. Đồng thời, giới thiệu và phổ biến Nhạc VN với Cộng

Đồng Thế Giới. Sáu mươi năm đã đi qua trong một đời ca hát của Bạch

Yến. Thời gian vẫn không ngừng trôi … Âm Nhạc và Hơi Thở BạchYến

cũng vẫn còn đầy và bay bay theo ngày tháng …để rồi Giọng Hát Bạch

Yến sẽ mãi là Huyền Thoại cho dân gian.

bach yen vietnam 2

TK-1_5882a

,

GSTS TRẦN QUANG HẢI : VUA ĐÀN MÔI , Chương trình TV do Phương Linh và Mộng Thìn củaTTXVN thực hiện , tháng 5, 2014


GSTS TRẦN QUANG HẢI : VUA ĐÀN MÔI , Chương trình TV do Phương Linh và Mộng Thìn củaTTXVN thực hiện , tháng 5, 2014

dành cho báo THỂ THAO và VĂN HÓA, mục Văn Hóa Toàn Cảnh, chủ đề “Điệm Nhấn Văn Hóa” với GSTS Trần Quang Hải, Vua Đàn môi, phát hình vào ngày 20 tháng 5, 2014, Hà nội, Việt Nam

DƯƠNG KIM THOA : GS,TS Trần Quang Hải Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ


GS,TS Trần Quang Hải

Bảo tồn nhạc dân tộc là công việc của nhiều thế hệ

Thứ Hai, 02/06/2014, 07:37 [GMT+7]
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.
Hai cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải hòa đàn tại tư gia.

Theo GS, TS Trần Quang Hải, đâu cần phải đợi UNESCO xác nhận giá trị của di sản nghệ thuật dân tộc, chính người Việt phải biết nâng niu, gìn giữ trước khi các di sản phi vật thể đó mất đi…

Nhân việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, GS, TS Trần Quang Hải chia sẻ thêm về việc bảo tồn, phát triển nhạc cổ truyền dân tộc.

GS, TS Trần Quang Hải cho biết:

– Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được khởi xướng từ năm 2013. Năm nay, Bộ VH-TT&DL muốn bổ túc để hoàn thiện hồ sơ trước khi đưa trình chính thức vào ngày 30-6.

Tất cả chúng ta đều mong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhưng chuyện được hay không, theo tôi, cũng chỉ là vấn đề bề mặt. Nhìn sâu hơn, chúng ta không cần phải đợi được UNESCO công nhận rồi mới phát triển.

Tôi thấy mọi người hiện hướng về sự ghi nhận của UNESCO, đó là sai lầm. Chúng ta không thể dựa vào sự phán xét của người nước ngoài. Không có lý do gì cần phải có sự nhìn nhận của UNESCO ta mới thấy đó là loại hình nghệ thuật có giá trị. Chân giá trị của hát ví dặm không phải ở đó. Điều quan trọng nhất là khi chính người dân sở tại thấy được giá trị đặc sắc của nghệ thuật truyền thống ở địa phương mình và tìm cách bảo tồn, phát triển.

* Theo ông, điểm đặc sắc nhất ở dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh là gì?

– Hát ví dặm có điểm khác với hát quan họ và ca trù ở chỗ người hát không phải luyện tập, người dân nào cũng hát được. Họ hát ngẫu hứng, hát trong khi đi chơi, hát trong lúc lao động.

Điểm đặc sắc nữa của nó là tính tương tác, đối đáp. Đó là khi có anh chàng ngồi đan nón bên này, thấy bên kia có cô gái trông “vui vui”, bèn tìm cách hát trêu chọc. Cô gái kia bị chọc thì mắc cỡ, phải tìm cách ứng đối. Trong sự đối đáp đó, giai điệu không quan trọng bằng ngôn từ.

Đặc trưng tiếng nói của người Nghệ khá nặng, chỉ có ba âm. Theo đó, trong âm nhạc chỉ có tam cung, tứ cung chứ không phải ngũ cung như dân ca miền Bắc hay miền Nam. Riêng trong hát dặm, có điệu dặm ru có thang âm ngũ cung của miền Bắc, do sự du nhập từ Bắc vào. Tôi cũng nhận ra sự phong phú trong cách luyến láy rất hay của giai điệu dân ca ví dặm.

* Vậy có sự tương đồng hay khác biệt nào giữa tính ngẫu hứng trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh và tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử Nam Bộ?

“Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc”

GS, TS Trần Quang Hải

– Tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử thể hiện rõ nhất trong khi đờn với nhau. Tùy theo trình độ hiểu biết, tùy theo cách đờn chân phương hay hoa lá, một bản đờn hòa chung sẽ diễn ra theo những cách khác nhau. Trong khi đờn, tính ngẫu hứng còn khiến người ta chọc phá để thử tài nhau, điều này không có trong tính ngẫu hứng của dân ca ví dặm.

Trong đờn ca tài tử, một anh chạy xích-lô, anh thợ cắt tóc có thể đờn chung với một ông kỹ sư, bác sĩ. Còn trong hát ví dặm, sự giao lưu thường diễn ra giữa những người cùng một làng hay cùng một nghề như phường vải, phường nón.

Như vậy, khác biệt cơ bản ở chỗ, hát ví dặm Nghệ Tĩnh có sự phóng túng trong lời ca, không phải trong giai điệu. Còn ở đờn ca tài tử, phóng túng trong giai điệu (tiếng đờn), không phải trong lời ca.

* Cũng giống các loại hình nghệ thuật truyền thống khác, để tồn tại và phát triển, cần có không gian của nó, chúng ta vẫn gọi đó là không gian diễn xướng. Ông nói, năm ngoái đã có dịp đi thực địa tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Vậy không gian diễn xướng của dân ca ví dặm theo ông thấy như thế nào?

– Bây giờ về lại những vùng đó, tôi không thấy những gì như đã đọc trong sách vở vì tất cả đều được dựng lại. Tuy vậy, có thể thấy họ đã dựng lại với sự cố gắng và hồ hởi của những người muốn bảo vệ giá trị âm nhạc truyền thống. Họ tới gặp các nghệ nhân để thu âm và thống kê các làn điệu ví dặm còn lại.

Nhưng thời đại bây giờ khác nhiều. Chỉ nói riêng chuyện giặt giũ, ngày xưa người ta ra sông giặt áo, bây giờ còn ai ra sông La vừa giặt vừa hát hết nguyên một ngày, rồi vừa làm việc, lại vừa hát đối đáp với một anh đánh tôm đánh cá nào gần đó.

Chưa kể bây giờ người ta phải dùng loa đài để hát vì hát “chay” không mấy người đủ giọng. Cùng với hệ thống máy phóng thanh thì dàn nhạc đệm cũng khiến người hát không còn chú tâm được vào cảm xúc, tình cảm của làn điệu. Dù thế, vẫn phải khẳng định rất nhiều làn điệu trong dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh đã được các nghệ sĩ thanh nhạc vận dụng thành công trong tác phẩm của mình.

* Ông có thể phân tích rõ hơn nguy cơ sân khấu hóa có thể làm mất các giá trị bản sắc của dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh?

– Khi bị sân khấu hóa, ví dặm có nguy cơ không còn là loại hình nghệ thuật ở trong nguồn gốc dân ca nữa. Từ việc bị sân khấu hóa, nó đi tới chỗ hướng về du lịch. Thêm vào đó, người ta còn phụ họa về hòa âm theo kiểu Tây phương. Họ nói làm như vậy để nâng cao giá trị âm nhạc, có bề dày âm nhạc là không đúng. Nhạc Việt Nam là nhạc đơn ca, đơn điệu, không phải nhạc đa âm. Do đó, việc đệm vào hòa âm là đi sai đường.

Thêm nữa, khi biểu diễn trên sân khấu, người hát bị đèn chiếu vào, đủ các loại xanh, đỏ, tím, vàng. Nguy hiểm nhất là vũ đạo. Những màn múa tới lui phụ họa làm phân tán người nghe khi thưởng thức dân ca.

Tôi nhận thấy, tình trạng sân khấu hóa ở ví dặm cũng nằm chung trong tình trạng sân khấu hóa tổng thể trên toàn quốc. Sân khấu hóa trong quan họ chúng ta đã thấy. Sân khấu hóa trong ca trù chúng ta cũng đã thấy. Rồi còn sân khấu hóa trong hát xoan, trong đờn ca tài tử… Tất cả nhạc dân ca Việt Nam đều đi tới tình trạng sân khấu hóa cũng bởi chuyện sinh kế. Người dân bây giờ không để ý tới chân giá trị của âm nhạc, nghe một điệu hát chay thì “chán lắm”. Giới trẻ nghe dân ca mà không có nhạc đệm đúng theo cách các bạn trẻ thường nghe trong các loại nhạc pop, rock thì cũng “chán lắm”.

Chưa kể tới vấn đề trang phục khi trình diễn hoàn toàn không liên hệ gì tới truyền thống. Cho nên nói tóm lại, sân khấu hóa là hướng đi có thể làm sai lệch tất cả những gì chúng ta cần phải bảo vệ và phát huy.

* Từ góc độ của một nhà nghiên cứu âm nhạc đã đi giảng dạy ở nhiều quốc gia trên thế giới, theo ông, đâu là cách giải quyết vấn đề hiệu quả lâu dài để vừa bảo tồn, phát triển, vừa giúp âm nhạc truyền thống của dân tộc hòa nhập với đời sống đương đại?

– Đây là vấn đề quan trọng, liên hệ tới cả một đường lối giáo dục. Phải đưa dân ca, nhạc truyền thống vào chương trình giáo dục. Chúng ta thấy rằng, cho tới hôm nay, trong chương trình giáo dục của Việt Nam, không có chương trình nào về âm nhạc dân tộc. Nếu có chỉ là một phần rất nhỏ, lại không có phần giảng về lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Thử hỏi có bao nhiêu sinh viên Việt Nam du học nước ngoài nắm được nguồn gốc âm nhạc và số loại hình nhạc dân tộc của đất nước mình. Cùng lắm họ chỉ biết tới cải lương, quan họ, hát chèo, đàn tranh, đàn bầu, mà quên mất rằng, ngoài dân tộc Kinh, chúng ta còn 53 dân tộc khác, mỗi dân tộc lại có âm nhạc với bản sắc riêng. Làm sao để đưa vào giáo dục kiến thức âm nhạc truyền thống của các dân tộc anh em khác. Chính vì không hiểu hết sự phong phú, độc đáo của gia tài âm nhạc dân tộc, nhiều người trẻ có tâm thế vọng ngoại, xem cái gì của Tây phương cũng hay hơn vốn cổ ông cha để lại.

Như vậy, muốn bảo tồn, phát triển di sản âm nhạc truyền thống, chúng ta cần thực hiện chương trình giáo dục đi từ cấp tiểu học, trung học và đại học. Trong 12 năm học phổ thông, mỗi năm chỉ cần dạy từng chút về lịch sử âm nhạc, giúp người học biết được âm nhạc của những vùng, miền, dân tộc khác. Như vậy phải có các nhạc viện, trong đó đặc biệt quan tâm bộ môn sư phạm âm nhạc, hay giáo dục âm nhạc. Đây là bộ môn không đi vào vấn đề biểu diễn nhạc cụ, mà chỉ tập trung vào phương pháp giáo dục âm nhạc, giúp người học có hiểu biết chính xác về nguồn gốc âm nhạc.

Tôi đã giảng dạy âm nhạc ở nhiều nơi và thấy về thời lượng giảng dạy âm nhạc, ở Pháp mỗi tuần có một giờ, ở Hungary có 6 giờ một tuần về lịch sử âm nhạc. Ở Na Uy mỗi năm tổ chức 5.000 buổi trình diễn âm nhạc cổ truyền cho trẻ em. Tôi đã được mời sang Na Uy giảng 600 buổi về nhạc Việt Nam cho các em từ 3-16 tuổi. Na Uy là đất nước chỉ có khoảng 4 triệu dân mà họ còn để ý tới vấn đề nhạc Việt Nam, họ muốn trẻ em nước họ được thấy sự mới lạ trong âm nhạc của một đất nước tại Á châu.

Một điều quan trọng là một đứa trẻ sẽ nhớ suốt đời những gì được hấp thụ trong giai đoạn từ 6-10 tuổi. Cần đặt vào tiềm thức trẻ những hình ảnh rất đẹp của truyền thống âm nhạc Việt Nam. Đó là bước đầu của việc đào tạo.

Muốn vậy, giới chuyên môn cần bàn bạc, soạn thảo một chương trình giáo dục âm nhạc trên cả nước. Cũng cần có thêm nhiều học viện âm nhạc ở các địa phương khác nhau. Hiện tại, với 90 triệu dân, chúng ta mới chỉ có 3 nhạc viện, vậy là quá ít. Ở Pháp hiện có gần 6.000 nhạc viện. Tỉnh nơi tôi đang ở chỉ có 20.000 dân nhưng cũng có một nhạc viện nhỏ với 40 giáo sư và khoảng 700 sinh viên. Ở các tỉnh có 200.000-300.000 dân thì số sinh viên nhạc viện cũng tới vài ngàn, số giáo sư cũng tới vài trăm người.

Trong lĩnh vực giáo dục âm nhạc, ở Pháp có sự hỗ trợ của chính phủ trong việc bảo đảm đầu ra cho các bộ môn sư phạm âm nhạc, vì sự bảo đảm đó mà các bậc cha mẹ yên tâm gửi con vào học. Nhưng bây giờ thử hỏi, trong số các du học sinh hằng năm của Việt Nam, bao nhiêu người đi nghiên cứu về nhạc học dân tộc? Hầu như không có. Ngay cả những người đi học để biểu diễn cũng chú trọng nhạc cụ Tây phương vì tâm lý vọng ngoại, cho rằng học xong có thể trở về làm việc trong các nhạc viện.

Nhiều sinh viên theo học nhạc cụ dân tộc trong các nhạc viện có tâm lý mặc cảm vì không đủ khả năng, không đủ tiền để học nhạc cụ Tây phương. Thành ra trong xã hội Việt Nam có sự phân chia giai cấp, cho rằng những người có tiền mới học nhạc Tây phương, người nghèo mới học nhạc cổ truyền. Chúng ta phải làm sao xóa bỏ tất cả những chuyện này. Đây không phải câu chuyện của một ngày, một tháng, một năm, mà là công việc của nhiều thế hệ. Nhưng muốn đi tới đó, chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ.

Đất nước đã thống nhất 39 năm, nhưng trong 39 năm đó, chúng ta đã làm được gì để chấn hưng âm nhạc Việt Nam? Chưa gì cả. Những nghệ nhân dân gian – các “báu vật” của âm nhạc truyền thống đang mất dần, trong khi chính phủ vẫn chưa làm được nhiều trong việc đãi ngộ họ. Giới trẻ cũng nhìn vào thực tiễn đó để không ai muốn lăn xả vào con đường bảo vệ vốn cổ.

Trong vấn đề này, tôi khẳng định, cần có sự đồng tâm tham gia của chính phủ và hệ thống giáo dục. Giáo dục một thế hệ, không phải chỉ là vấn đề văn hóa, mà còn là giáo dục về âm nhạc. Tôi nghĩ, đó là cách thức có thể mang tới sự sống còn của nhạc dân tộc.

* Xin trân trọng cảm ơn GS, TS Trần Quang Hải.

DƯƠNG KIM THOA thực hiện

http://www.baodanang.vn/channel/5414/201406/gsts-tran-quang-hai-bao-ton-nhac-dan-toc-la-cong-viec-cua-nhieu-the-he-2332998/