Giáo sư, Tiến sĩ, nhạc sĩ Trần Quang Hải: Hiểu âm nhạc cha ông để thoát khỏi mặc cảm


Giáo sư, Tiến sĩ, nhạc sĩ Trần Quang Hải:
 
Hiểu âm nhạc cha ông để thoát khỏi mặc cảm
Thứ tư, 04/06/2014 – 03:30 PM (GMT+7)
    
GS, TS Trần Văn Khê (trái) và GS, TS Trần Quang Hải ngày 17-5-2014.
GS, TS Trần Văn Khê (trái) và GS, TS Trần Quang Hải ngày 17-5-2014.

Vội vội vàng vàng về nước tham dự Hội thảo quốc tế Bảo tồn và phát huy giá trị dân ca trong xã hội đương đại (trường hợp dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh) vừa diễn ra tại thành phố Vinh (Nghệ An), GS, TS nhạc sĩ Trần Quang Hải lại mải miết lên đường. Lịch thỉnh giảng ở Pháp, I-ta-li-a và nhiều quốc gia luôn ken đặc, vẻ đẹp bí ẩn của âm nhạc cổ truyền Việt Nam ngày càng có sức hấp dẫn sinh viên nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới. Đến nay sau nửa thế kỷ miệt mài cùng phận sự của một người truyền bá, khai sáng, “ông vua” đàn môi Trần Quang Hải vẫn chưa có nhiều thời gian để ngơi nghỉ:

Tên tuổi GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS, nhạc sĩ Trần Quang Hải thì đã nhiều người biết. Nhưng có lẽ chưa hẳn nhiều người đã tỏ tường ông cùng cha mình từng góp công sức lớn vào các bộ hồ sơ trình UNESCO để được công nhận di sản văn hóa phi vật thể cho ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử…?

Thân phụ tôi (GSTS Trần Văn Khê) và tôi đã tham gia vào việc bảo tồn và phát huy dân nhạc của Việt Nam. Cha tôi đã đóng góp rất nhiều vào hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế (được công nhận năm 2003) và cồng chiêng Tây Nguyên (2005). Chúng tôi cùng nhau tham gia việc dựng hồ sơ quan họ (2009), ca trù (2009), hát xoan (2011), đờn ca tài tử (2013) và gần đây nhất là hát ví giặm Nghệ Tĩnh.

Ví giặm Nghệ Tĩnh liệu có vượt qua khỏi những thử thách mà UNESCO đưa ra để giúp Việt Nam có thêm một di sản tinh thần nữa trong năm nay, thưa Giáo sư?

Tôi không thể khẳng định điều này vì cần nhất là phải có hồ sơ đủ bề dầy lịch sử và bề sâu nghệ thu   ật. Bề dầy lịch sử đã được xác nhận qua những nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, nhất là đóng góp của cố giáo sư Nguyễn Đổng Chi và cố giáo sư Ninh Viết Giao. Bề sâu nghệ thuật đang được các nghệ nhân Nghệ An, Hà Tĩnh biểu hiện xuyên qua sự hình thành nhiều câu lạc bộ và chương trình giảng dạy các điệu ví giặm ở trường học. Tôi chỉ hy vọng rằng với sự nhiệt tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có thể mang thêm cho Việt Nam một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại ngay trong năm 2014.

Để thuyết phục một người chưa bao giờ nghe, chưa bao giờ biết đến ví giặm Nghệ Tĩnh có ham muốn tiếp cận loại hình dân ca độc đáo này, Giáo sư sẽ làm gì?

Việc làm đầu tiên theo tôi là cho họ nghe những làn điệu đặc trưng của ví (ví phường nón, ví phường vải) và của giặm (giặm ru, giặm cửa quyền) qua những tài liệu nguyên xi thu thập từ những cuộc điền dã cho thấy loại hát này gắn liền với đời sống hằng ngày, những sinh hoạt liên hoan qua tài diễn xuất của những nghệ nhân tên tuổi.

Sẽ khó để giữ gìn phát huy giá trị của ví giặm Nghệ Tĩnh nói riêng và âm nhạc truyền thống nói chung nếu công chúng trong nước, nhất là giới trẻ chỉ thích nghe nhạc Hàn Quốc, nhạc Anh Mỹ và nhạc trẻ đương đại?

Đối với giới trẻ ít quan tâm tới nhạc dân tộc mà chỉ thích nhạc ngoại hay tân nhạc đương đại, việc làm đòi hỏi khá nhiều khó khăn. Ta có thể từng bước gây sự chú ý của giới trẻ, bước đầu là sân khấu hóa các bộ môn dân nhạc (quan họ, ca trù, hát xoan, hát ví giặm, hát xẩm, hát bài chòi…).

Qua tìm hiểu của Giáo sư, liệu hệ thống nhà trường phổ thông ở Việt Nam đã làm tròn chức phận giới thiệu, hướng dẫn, truyền bá cái hay cái đẹp của âm nhạc truyền thống tới học sinh các lứa tuổi?

 

Một hoạt cảnh trong Liên hoan dân ca ví giặm 2013 tại TP Hà Tĩnh.

 

Như tôi đã nói, hệ thống nhà trường phổ thông ở Việt Nam chưa có đủ điều kiện hoàn tất việc giới thiệu, hướng dẫn, truyền bá cái hay cái đẹp của nhạc truyền thống tới học sinh các lứa tuổi. Thứ nhất là thiếu cán bộ có đủ căn bản hiểu biết và minh họa một số loại hình nhạc dân tộc. Sách vở về nhạc cổ truyền viết cho giới trẻ không có, phim ảnh từng bộ môn không có. Học sinh ở miền nam không biết gì về hát xoan, hát xẩm, hát ví phường vải của miền bắc hay hát bài chòi của miền trung. Học sinh miền trung không có một khái niệm gì về hò và lý, với đờn ca tài tử của miền nam hay các loại nhạc dân ca của miền bắc mà tôi vừa kể phần trên . Học sinh miền bắc không am tường sự phong phú của nhã nhạc cung đình Huế, hát bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên hay đờn ca tài tử Nam Bộ… Tôi chưa thấy một chương trình toàn diện tìm hiểu âm nhạc Việt Nam trong nhà trường. Hầu hết các sinh viên du học Việt Nam mà tôi thường gặp ở Âu Mỹ đều không có một khái niệm sơ đẳng về nhạc dân tộc. Họ chỉ biết vài bài dân ca (quan họ), hoặc chỉ biết đàn tranh, đần bầu, hát cải lương hay một chút ít hát chèo. Đây là việc làm khẩn cấp giúp học sinh ngày nay hiểu biết thêm về sự phong phú của gia tài âm nhạc Việt Nam, để các em không còn bị mặc cảm khi đi du học và có thể trao đổi với các bạn ngoại quốc về sự giao lưu văn hóa nhạc dân tộc.

Cha con GS, TS Trần Văn Khê và GS, TS Trần Quang Hải được coi như những người có đóng góp khó định lượng để đưa dân ca nhạc cổ Việt Nam ra nước ngoài. Trong suốt quá trình đó ông đã chiêm nghiệm được gì từ cha mình và đâu là căn nguyên để một nhạc công violon như ông có bước ngoặt khác xa thế?

Khi còn bé, tôi học đàn violon ở âm nhạc viện Sài Gòn (từ năm 1955 tới 1960). Lúc đó tôi hoàn toàn mù tịt về âm nhạc dân tộc. Từ lúc sang học bộ môn nhạc học (musicology) tại trường đại học Sorbonne, Paris, và dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao đẳng khoa học xã hội đã giúp tôi khám phá rất nhiều truyền thống nhạc dân tộc của thế giới. Đến khi vào làm việc tại Viện bảo tàng con người (Musée de l’Homme) ở Paris, Pháp, tại viện dân tộc nhạc học, tôi được giao phó nghiên cứu nhạc Việt Nam và Đông-Nam Á. Tôi khám phá kho tàng nhạc dân tộc Việt Nam của dân tộc Kinh và 53 dân tộc anh em (Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Xê Đăng, Mnong Gar, Chăm, Mông, Mường, Dao, Tày, Thái, Nùng) và bắt đầu quay về nguồn, đồng thời đối chiếu với các loại nhạc dân tộc của Ấn Độ, Myanma, Thái-lan, Campuchia, Lào, Indonexia, Philippines. Tôi được cha truyền sự hiểu biết qua những năm học tại trường nghiên cứu nhạc Đông phương (Centre of Studies for Oriental Music) tại Paris. Sinh trưởng trong gia đình có năm đời nhạc sĩ cổ truyền, tôi mới thức tỉnh và nhận thấy bổn phận tiếp nối truyền thống dòng họ. Tôi học về lý thuyết và thực tập về đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị, sinh tiền rồi tự phát triển kỹ thuật gõ muỗng và chơi các loại đàn môi (xứ Việt mình là xứ duy nhất trên thế giới có 10 loại đàn môi kim loại và tre). Sự phối hợp giữa lý thuyết và thực tập nhạc cụ đã giúp tôi có kiến thức sâu đậm và đủ điều kiện để phát huy nhạc dân tộc Việt ở Pháp và các quốc gia Âu Mỹ qua các buổi trình diễn nhạc cổ truyền. Sự quay về nhạc cổ Việt Nam sau hơn 41 năm nghiên cứu đã cho tôi một chỗ đứng cao trong việc truyền bá nhạc cổ truyền Việt Nam khắp năm châu. Tôi mong có dịp mang sự hiểu biết của tôi về giảng dạy ở Việt Nam để giúp cho thế hệ trẻ cảm nhận chân giá trị của nền quốc nhạc mà các em sẽ là những người thừa kế và tiếp nối trong tương lai.

Trân trọng cảm ơn GS, TS, nhạc sĩ Trần Quang Hải.

Tôi đã trình diễn khoảng 3.500 buổi tại 70 quốc gia trên thế giới, phát hành 23 đĩa hát về nhạc đàn tranh, đoạt hai giải thưởng quốc tế về đĩa hát tại Pháp (Academy of Record Charles Cros) vào năm 1983 và 1995, phát hành 4 DVD   , viết một quyển sách về nhạc cụ thế giới (bằng tiếng Pháp, Anh, Đức và Tây Ban Nha) và đã giảng dạy tại hơn 130 trường đại học trên thế giới. Công trình nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp đã được tổng thống Jacques Chirac ban tặng huân chương Bắc đẩu bội tinh (legion of Honour) vào năm 2002. Trung tâm kỷ lục Việt Nam đã tặng cho tôi một danh hiệu “vua muỗng” vào năm 2011 và một kỷ lục khác là “người đã trình diễn đàn môi Mông tại nhiều quốc gia nhất thế giới” vào năm 2012.

http://www.nhandan.com.vn/hangthang/van-hoa/item/23407102-hieu-am-nhac-cha-ong-de-thoat-khoi-mac-cam.html

QUANG ĐẠI : PGS Ninh Viết Giao, sâu nặng tình yêu với văn hóa xứ Nghệ


PGS Ninh Viết Giao, sâu nặng tình yêu với văn hóa xứ Nghệ
 
Thứ năm, 20/03/2014 – 05:19 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
 
 
GS Ninh Viết Giao trò chuyện với các học trò trường Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Internet.
 
 
GS Ninh Viết Giao trò chuyện với các học trò trường Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Internet.
 

NDĐT – Nhà nghiên cứu văn hóa, PGS Ninh Viết Giao vừa ra đi ở tuổi 82, để lại khoảng trống lớn trong đời sống văn hóa xứ Nghệ. Nghĩ về ông, chúng tôi liên tưởng đến hình ảnh dòng sông miệt mài ngày đêm bồi lắng phù sa cho đời, dù trải qua bao ghềnh thác gian nan.

 

Chàng trai xứ Thanh “bén duyên” với văn hóa xứ Nghệ

Quê ở Hoằng Hóa -Thanh Hóa, tuổi thơ đắm mình trong dòng sữa ngọt mát của văn hóa dân gian và văn chương cổ điển từ truyền thống gia đình và quê hương, tốt nghiệp khoa Văn trường ĐHSP Hà Nội, chàng sinh viên trẻ Ninh Viết Giao được phân công về giảng dạy tại trường cấp III Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An.

Trường Huỳnh Thúc Kháng là một trong những vườn ươm nhân tài của xứ Nghệ, mảnh đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học. Đặc biệt, những vỉa tầng văn hóa dân gian, bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng giàu có và quý giá của xứ Nghệ đã “hút hồn” người thầy giáo trẻ quê xứ Thanh.

Với vốn văn hóa có được từ những tháng năm miệt mài tích lũy từ ghế nhà trường phổ thông và đại học, thầy Ninh Viết Giao say mê đọc sách báo, tư liệu, tìm hiểu qua các nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh, đi điền dã sưu tầm các “hạt ngọc” văn hóa dân gian nơi thôn dã hay thâm sơn cùng cốc, từ các nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian hay những người lao động bình thường. Bước chân của người thầy giáo đã “trải khắp trên ngàn dưới sông”, không quản xa xôi, mưa nắng, khó khăn.

Mấy chục năm cuối đời, dù tuổi già, lại mắc bệnh hiểm nghèo, ông vẫn không chùn bước, dù bước chân đã chậm hơn, ánh mắt không còn tinh tường như trước, nhưng vẫn tiếp tục hành trình chắt lọc những tinh hoa của nền văn hóa dân gian xứ Nghệ, chạy đua với thời gian, với sự hữu hạn của đời người. Những người dân chân lấm tay bùn, những nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian xứ Nghệ quen ông, biết ông, quý ông, sẵn lòng cởi mở cùng ông, hát, thổi khèn, sáo cho ông nghe, múa cho ông xem, tin tưởng gửi gắm cho ông những hạt vàng mười của văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Một điều kiện thuận lợi đối với thầy Ninh Viết Giao là ông có rất nhiều “cộng tác viên” tích cực, vô tư và hết lòng tận tụy. Đó là các thế hệ học trò của ông, từ tình yêu văn chương, yêu thầy, kính thầy đã say mê đồng hành với thầy trên hành trình sưu tầm, ghi chép, lưu giữ những lời ca, điệu hát, những câu chuyện…từ các thôn làng của quê hương xứ Nghệ. Trong tác phẩm viết về hát ví giặm Nghệ Tĩnh, thầy Giao kể lại và tri ân những đóng góp của các học trò vào gia tài văn hóa dân gian của mình.

Trước tác đẳng thân

Những vất vả, gian nan, lao tâm khổ tứ, những giọt mồ hôi nhỏ xuống trên khắp mảnh đất xứ Nghệ của thầy Ninh Viết Giao đã kết tinh thành những hạt vàng mười quí giá cho kho tàng nghiên cứu, sưu tầm về văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Ngày 20-5-2013, Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã trân trọng trao tặng ông chứng nhận kỷ lục “Người có nhiều công trình nghiên cứu nhất về văn hóa dân gian xứ Nghệ” với hơn 50 đầu sách nghiên cứu, phê bình, sưu tầm bao quát hầu hết các lĩnh vực văn hóa dân gian xứ Nghệ, từ lịch sử, địa chí, di sản vật thể và phi vật thể.

Không chỉ là một trong những người đặt nền móng, PGS Ninh Viết Giao là người có công lớn nhất trong việc lưu giữ và làm sáng tỏ các phương diện khác nhau của kho tàng văn hóa dân gian xứ Nghệ. Những công trình như: Câu đố Việt Nam (1958), Hát phường vải (1961), Hát giặm Nghệ Tĩnh (viết chung với Nguyễn Đổng Chi)-1962), Kho tàng truyện cổ dân gian xứ Nghệ (1993-1995), Thơ văn Xô Viết Nghệ Tĩnh (1971),Kho tàng vè xứ Nghệ (9 tập, 1999-2000)…đã trở thành những tài sản vô giá của văn hóa xứ Nghệ, là tài liệu tham khảo quan trọng không thể thiếu đối với bất cứ ai muốn tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa dân gian xứ Nghệ.

Có thể nói những người yêu xứ Nghệ phải chịu ơn ông vì những công lao gìn giữ, kiếm tìm và làm sáng lên những giá trị của văn hóa quê hương. Bao thế hệ học sinh, sinh viên, thanh niên đã hấp thu những giá trị tinh hoa của văn hóa xứ Nghệ từ những trang sách của thầy Giao. Đôi lúc chúng tôi giật mình thảng thốt tự hỏi: “Giá như không có những người như thầy Giao, những công trình của thầy, thì biết bao tài sản vô giá của văn hóa dân gian xứ sở sẽ bị mai một theo thời gian?”.

Đọc sách của thầy Giao, chúng tôi thấy có hai đặc điểm nổi bật: về tư liệu vô cùng phong phú, tỉ mỉ và sâu sắc; còn về văn phong trong các bài nghiên cứu thì trong sáng, đậm chất văn chương, rất hấp dẫn. Thầy Giao có phong cách của một nhà nghiên cứu và một thầy giáo dạy Văn.

Thầy Ninh Viết Giao vinh dự được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 (2001); 23 giải thưởng khác, trong đó 17 giải thưởng của Hội VNDG Việt Nam từ Khuyến khích đến giải nhất; nhận 6 giải thưởng VHNT Hồ Xuân Hương và nhiều Bằng khen của UBND tỉnh Nghệ An, của Hội VNDG Việt Nam. Nhưng có lẽ vinh dự lớn nhất của thầy là tình cảm yêu mến, kính trọng và biết ơn của bao thế hệ những người yêu quê hương và văn hóa Nghệ Tĩnh. Nhà nghiên cứu văn hóa Đào Tam Tỉnh, Giám đốc Thư viện Nghệ An nhận xét: “Kho tàng công trình nghiên cứu của PGS. Ninh Viết Giao về văn hóa dân gian xứ Nghệ là tài sản vô giá của đất nước và địa phương. Đây là nguồn di sản quý giúp cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh, sinh viên khai thác, phát huy cho các công trình của mình mãi mãi, vô tận…”.

Còn mãi một tình yêu

Nhìn lại những việc PSG Ninh Viết Giao đã làm, giới nghiên cứu văn hóa và độc giả không khỏi ngạc nhiên và khâm phục trước sức làm việc, khả năng sáng tạo phi thường của thầy. Hơn 50 năm gắn bó với xứ Nghệ, hơn 50 đầu sách, cuốn nào cũng công phu, dày dặn, ngồn ngộn tư liệu, có chiều sâu trí tuệ, trung bình mỗi năm thầy viết được một cuốn sách. Mức sống, điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn. Bao nhiêu năm làm việc, với những cống hiến lớn lao, nhưng thầy vẫn giữ cho mình một cuộc sống hết sức giản dị, thanh bạch đến nao lòng. Những trang sách được viết lên từ căn nhà tập thể cũ tại khu Quang Trung và hiện nay đang trở thành tài sản đáng giá nhất trong căn phòng mà ông đã sống hơn mấy chục năm qua.

Từ năm 2000, phát hiện bệnh ung thư, thầy vẫn không nản lòng, nhụt chí. Từ đó cho đến khi từ giã cõi đời, ròng rã 15 năm trời, hành trang điền dã của thầy có thêm những viên thuốc chữa bệnh, giúp thầy chống chọi với cơn đau để tiếp tục niềm đam mê của mình. Thầy Giao tâm niệm: “Tôi cố gắng bao nhiêu cũng không đủ vì tình yêu với văn hóa xứ Nghệ. Tôi muốn sống có ích, muốn đóng góp chút công sức cho sự nghiệp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Nghệ Tĩnh”.

Chính tình yêu đó đã tạo cho thầy niềm đam mê và nghị lực phi thường, vượt qua những gian khó của đời thường, của bệnh tật, sống có ích cho đến hơi thở cuối cùng, trở thành nhà “Nghệ học số một Việt Nam”, được những người yêu xứ Nghệ mãi mãi kính trọng và biết ơn

QUANG ĐẠI

http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/chan-dung/item/22653202-pgs-ninh-viet-giao-sau-nang-tinh-yeu-voi-van-hoa-xu-nghe.html

LƯ NHẤT VŨ : Thầy tôi, giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ


Thầy tôi, giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ

14/05/2014 00:39 (GMT + 7)
 
 
TT – LTS: “Một người thầy thật hiền, sắc sảo và hóm hỉnh, còn về chuyên môn thì rất uyên bác”, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ nghẹn ngào nói qua điện thoại về nhạc sĩ Tô Vũ – người thầy vừa ra đi của mình – khi gửi đến choTuổi Trẻ bài viết này…

Nhạc sĩ Tô Vũ – Ảnh: T.T.D.

>> Nhạc sĩ Tô Vũ: Một hành trình đa thanh điệu 
>> Nhạc sĩ Tô Vũ qua đời

 

Ngày 26-10-1956 là ngày khai giảng đầu tiên Trường âm nhạc VN tại số 32 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Lớp sáng tác khóa 1 do thầy Tô Vũ dạy tác khúc gồm nhiều nhạc sĩ nổi tiếng qua chín năm chống Pháp và sau này trong những năm chống Mỹ như: Hoàng Việt, Ngô Huỳnh, Hoàng Hiệp, Hồ Bông, Nguyễn Thành, Huy Thục, Hồng Thau, Tô Ngọc Thanh, Lê Quang Nghệ, Hồng Đăng, Trương Đình Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Cát, Nguyễn Liệu và Văn Tuyền.

Lúc đó, từ công trường nhà máy gỗ dán Cầu Đuống, tôi được về học bổ túc với nhiều thầy cô, chủ yếu là học piano và kiến thức âm nhạc cơ bản. Được hai năm thì tôi thi tuyển vào bộ môn sáng tác khóa 3 (1958 – 1962). Và người thầy đã tạo cho tôi bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác là giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ.

 

“Phải nói thầy là một bậc thầy về âm thanh học, một chuyên gia âm nhạc hàng đầu của VN và của cả thế giới về đàn đá VN”

Nhạc sĩ THẾ BẢO

 

Năm 1957, bài hát đầu đời của tôi là Gửi bạn Algérieđược Đài Tiếng nói VN dạy hát trên làn sóng và được biểu diễn trong tháng ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Algérie chống thực dân Pháp. Thầy Tô Vũ phát hiện tôi có năng khiếu sáng tác và đã đề nghị ban giám hiệu cho tôi thi chuyển hệ chính quy ngành sáng tác. Vậy là tôi được học thầy, được thầy truyền dạy những kỹ thuật cơ bản trong việc sáng tác một bài hát. Dạy tác khúc, thầy đã trao cho tôi “cẩm nang” để khi tốt nghiệp có thể làm hành trang trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.

Năm 1970, trên đường vượt Trường Sơn về chiến trường Nam bộ, tôi mang theo nhiều tài liệu âm nhạc, trong đó có quyển Tác khúc của thầy Tô Vũ, và tôi lại truyền đạt nội dung cuốn Tác khúc trong trại sáng tác của Cục Chính trị Quân giải phóng và trại viết nhạc của tiểu ban văn nghệ R…

Trên con đường sáng tạo gian khổ, tôi đã học hỏi được nhiều từ sự uyên bác của người thầy. Thầy Vũ luôn luôn động viên, khích lệ những người học trò trong công việc sưu tầm và nghiên cứu dân ca. Nhiều công trình của nhóm sưu tầm dân ca Nam bộ chúng tôi ra đời, thầy đều nhiệt tình nhận viết lời giới thiệu. Trong các công trình sưu tầm ở nhiều vùng đất, tại Đồng Nai, Sông Bé, Bình Dương hay Đồng Tháp… chúng tôi đều lắng nghe những phản biện của thầy, thu nhận những góp ý chuyên môn, những kiến thức cổ kim, những tận tình chia sẻ của một người thầy.

Một người thầy thật hiền, sắc sảo và hóm hỉnh, còn về chuyên môn thì rất uyên bác. Chỉ riêng về các điệu lý thôi, thầy Tô Vũ đã có một cách nhìn sâu sắc khi khái quát: “Các điệu lý ở miền Bắc nói chung đều có phong thái trang trọng, duyên dáng và nếu có chút nào dí dỏm thì cũng biểu lộ kín đáo và tế nhị; các điệu lý miền Trung phần lớn đậm nét trữ tình, khắc khoải, man mác nỗi buồn. Và đại bộ phận điệu lý miền Nam lại tràn đầy tinh thần lạc quan, phóng khoáng và đặc biệt tính trào lộng hài hước” (trích Tản mạn quanh những điệu lý).

Chúng tôi vừa ra mắt cuốn sách Đi tìm kho báu vô hình, chưa kịp gửi tặng thầy thì thầy đã đi xa… Dẫu biết rằng thầy tôi tuổi tác đã cao, bệnh tật kéo dài nhưng sự ra đi của thầy làm cho tôi cảm thấy đang chịu một mất mát không thể nào tìm lại được – tình thương yêu của một người cha, tình thân thiết gắn bó, mối quan hệ thầy trò. Gần 60 năm như thế. Thầy luôn luôn có mặt trong mỗi công việc của tôi, luôn dành cho tôi những lời động viên khích lệ.

Thay mặt gia đình, tôi xin kính cẩn gửi nén nhang tiễn biệt người thầy kính yêu và nguyện luôn xứng đáng là học trò của thầy – giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ.

Học trò LƯ NHẤT VŨ
(Phan Thiết, tháng 5-2014)

 

 

Vĩnh biệt tác giả Em đến thăm anh một chiều mưa

Theo thông tin từ ban tổ chức tang lễ và gia đình, nhạc sĩ Tô Vũ – nguyên phó viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, phân viện tại TP.HCM – đã từ trần hồi 3g30 ngày 13-5 do tuổi cao, sức yếu, hưởng thọ 92 tuổi.

Ông tên thật là Hoàng Phú, sinh ngày 9-4-1923 tại Bắc Giang nhưng từ nhỏ đã cùng gia đình chuyển về sống tại Hải Phòng. Trong khi người anh trai – nhạc sĩ Hoàng Quý – nổi tiếng với bài Cô láng giềng, nhạc sĩ Tô Vũ nổi danh với ca khúc Em đến thăm anh một chiều mưa, sáng tác vào năm 1947 (xem thêm bài “Nhạc sĩ Tô Vũ: Một hành trình đa thanh điệu”, Tuổi Trẻ ngày 13-4). Một số ca khúc nổi tiếng khác của ông: Ngày xưa, Tạ từ, Như hoa hướng dương, Tiếng chuông chiều thu…

Không chỉ sáng tác, giảng dạy, ông còn là một nhà nghiên cứu có thâm niên và uy tín trong lĩnh vực âm nhạc dân tộc cũng như âm nhạc hiện đại. Ông đã soạn bốn giáo trình quan trọng: Tác khúc, Khúc thức, Lịch sử âm nhạc dân tộc và Nhạc lý cao cấp (luật học). Với những đóng góp đó, ông đã nhận được Giải thưởng nhà nước năm 2001 và nhiều huân chương, giải thưởng khác.

Tại TP.HCM, lễ viếng nhạc sĩ Tô Vũ bắt đầu từ 8g ngày 14-5 tại Nhà tang lễ TP.HCM. Lễ truy điệu lúc 17g ngày 14-5, sau đó đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa. Tại Hà Nội, lễ viếng tại gia đình (số 3 ngách 75, ngõ 173 đường Hoàng Hoa Thám) vào ngày 16 và 17-5; an táng tại nghĩa trang Phi Liệt, TP Hải Phòng lúc 8g ngày 18-5.

Q.N.

 

 

 

Nhạc sĩ THẾ BẢO:

Giáo sư Tô Vũ là thầy của những người thầy

Với âm nhạc, giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ gần như là tự học nhưng ông vẫn có được những thành tựu đáng nể. Có thể nói ông là một trong những người thầy đầu tiên của Trường Âm nhạc VN và tham gia giảng dạy từ đó (năm 1955) cho đến khi sức khỏe không cho phép ông đứng lớp nữa. Trong số học sinh đã thụ giáo thầy có tôi và rất nhiều giáo sư, nhạc sĩ, nghệ sĩ có tiếng tăm khác như: Hoàng Việt, Ngô Huỳnh, Hoàng Hiệp, Tô Ngọc Thanh, Thụy Loan, Vĩnh Cát, Huy Thục, Hồng Đăng, Lư Nhất Vũ…

Không chỉ sáng tác, giảng dạy, giáo sư Tô Vũ còn có rất nhiều công trình nghiên cứu, trong đó công trình hiện đang được rất nhiều người làm nghề như chúng tôi tham khảo là cuốn Âm nhạc VN truyền thống và hiện đại (phát hành năm 2001). Ngoài công trình đó, cá nhân tôi cũng đặc biệt quan tâm đến những bài viết âm nhạc về đàn đá của thầy. Phải nói thầy là một bậc thầy về âm thanh học, một chuyên gia âm nhạc hàng đầu của VN và của cả thế giới về đàn đá VN.

Trong đời sống, chúng tôi – những học trò của thầy không chỉ học được từ thầy kiến thức uyên bác sâu rộng từ đông tây kim cổ mà còn học thầy tấm lòng bao dung độ lượng. Với học trò, thầy sẵn sàng gặp gỡ, hướng dẫn, giải thích, bảo ban khi chúng tôi cần đến thầy. Thầy luôn hỏi thăm và dõi theo từng bước đi của chúng tôi. Đó là lý do vì sao đã có nhiều thế hệ học trò trưởng thành nhờ sự dìu dắt của thầy. Thầy cũng là người có tâm hồn trong sáng, nhân hậu, sống ung dung tự tại với nụ cười luôn nở trên môi.

Q.N. ghi

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Am-nhac/607209/thay-toi-giao-su-nhac-si-to-vu.html