Ðặc điểm của quyển ‘100 Năm Cải Lương Việt Nam’ là gì? , tác giả Ngành Mai


Ðặc điểm của quyển ‘100 Năm Cải Lương Việt Nam’ là gì? 
Friday, May 09, 2014 3:49:14 PM 

Ngành Mai

Về cuốn sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” của tác giả Ngành Mai vừa phát hành, có người hỏi trong đó gồm những gì, có đầy đủ không? Thật vậy, nếu như đã gọi là 100 năm cải lương, thì dĩ nhiên những gì liên quan đến hoạt động cải lương trong quãng thời gian dài ấy được tập trung vào, như tên tựa của quyển sách. Vì đó là yêu cầu của người đọc, không ai muốn mình phải đọc trong sự thiếu sót.

 



Hình bìa cuốn sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam”, với hình ảnh các nghệ sĩ lừng danh: Nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há – Ðệ nhứt danh ca Út Trà Ôn – Vương Hậu cải lương Thanh Nga. (Hình: Sưu tập của Ngành Mai)

 

Cải lương hoạt động cùng khắp từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến thôn quê đâu đâu cũng có. Rồi thì cải lương đi sang Miên, qua Lào, bay theo người Việt sang nước Pháp cùng vài nước Châu Âu, đến năm 1975 thì cải lương hiện diện ở Hoa Kỳ. Ðâu có môn nghệ thuật nào mà có cuộc hành trình lớn lao như vậy.

Riêng ở trong nước thì cải lương không chỉ hoạt động ở đô thị tỉnh thành, mà cả khu kháng chiến trong rừng sâu cũng có cải lương. Nếu như chỉ nói cải lương ở ngoài thành mà bỏ đi cải lương trong khu là coi như thiếu sót, lịch sử cải lương sẽ không chấp nhận. Do vậy mà tác giả đã đề cập luôn hoạt động cải lương ở bên kia chiến tuyến, cả hai thời kỳ chiến tranh từ 1945 đến 1975.

Sở dĩ trước đây người ta chỉ nghe nói đến cải lương ở ngoài thành, là do bởi thời kỳ chiến tranh đang diễn ra, các nhà viết sử đã e ngại không dám viết. Lý do là làm sao kiểm chứng đúng hay sai chớ! Kể cả báo chí có trang kịch trường ở Sài Gòn thời trước cũng chỉ nói cải lương ngoài thành mà thôi, chưa có tờ báo nào đề cập cải lương trong mật khu, dù rằng họ có nguồn tin thu thập được. Trường hợp soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang và cô đào Thanh Loan vợ ông Trần Tấn Quốc vào mật khu, rất nhiều người rõ biết nhưng chẳng ai dám nói rằng mình biết. Tại sao vậy chớ? Bởi nếu loan tin ấy chắc chắn sẽ bị lôi thôi phiền phức cho bản thân người viết, sẽ bị điều tra thẩm vấn do đâu lại có tin tin tức này, có liên lạc trong mật khu không? Dù rằng chỉ là tin tức văn nghệ, văn hóa nghệ thuật, chứ không dính dáng gì đến chính trị.

Do vậy mà các nhà viết sử cải lương đã không dám viết, để rồi thời gian vật đổi sao dời họ không còn khả năng, điều kiện. Cải lương hoạt động cùng khắp mà không ai viết sử, kể ra là một thiệt thòi cho lịch sử nghệ thuật cải lương của ta vậy.

Nếu không ai viết thì hằng bao nhiêu sự kiện, chứng liệu quí giá sẽ thất lạc, theo thời gian sẽ dần dần tản mác biến mất đi. Tuy vậy vẫn có người lưu giữ, bảo toàn suốt mấy chục năm, chờ cơ hội viết thành sách. Ðặc điểm của “100 Năm Cải Lương Việt Nam” là vậy.

Trong quyển sách cũng có các bài đề cập đến:

– Cải lương trong khu kháng chiến hoạt động song song với cải lương ngoài thành. Các đoàn hát ở khu kháng chiến miền Ðông, miền Tây Nam Việt hát xướng ra sao trong thời chiến. Các nam nữ nghệ sĩ ở trong mật khu gồm những ai? Thời gian có Hòa Ðàm Ba Le,ạ đoàn Thanh MinhThanh Nga đi Pháp, thì trước đó các nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc đã có mặt trình diễn các rạp ở Paris rồi.

– Soạn giả Trần Hữu Trang-Tư Trang đã dựa vào tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của Nhà văn Giáo sư Nguyễn Công Hoan để soạn thành kịch bản “Lan và Ðiệp,” vở hát được coi như sống mãi với thời gian. Từ lâu nay đại đa số khán giả cải lương đâu có biết rằng cô Lan, cậu Ðiệp là người Bắc. Ngôi chùa Lan đi tu là chùa Phương Thành thuộc tỉnh Bắc Giang nằm cách Ga Kép độ 5 cây số. Cuốn bài ca Hoa Rơi Cửa Phật được sao chép lại đầy đủ trong quyển sách.

Năm 1961, soạn giả Trần Hữu Trang rời Sài Gòn, vào mật khu hoạt động văn nghệ, với chức vụ chủ tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng. Trong bài nói về soạn giả Trần Hữu Trang, tôi có đề cập đến trận giội bom rải thảm của pháo đài bay B. 52 đầu Xuân Bính Ngọ 1966.

Quí vị muốn mua sách “100 Năm Cải Lương Việt Nam” có tại tòa soạn nhựt báo Người Việt.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=187773&zoneid=268#.U5Kzv_l_u8A

DU TỬ LÊ : Tương quan giữa tiếng hát Bạch Yến và nội dung Đêm Đông.


Tương quan giữa tiếng hát Bạch Yến và nội dung Đêm Đông.

(05/07/2014 02:53 PM) (Xem: 446)


(Tiếp theo và hết).
 

Khi tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Đêm đông” của Nguyễn Văn Thương, Tự Điển Bách khoa toàn thư – Wikipedia, tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau, đã ghi nhận như sau:

“…Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương từng chia sẻ: Vào dịp Tết năm 1939 (thời gian này ông đang theo học tại Trường Thăng Long – Hà Nội), do không có tiền nên ông không thể về quê (cố đô Huế) ăn Tết với gia đình. Lần đầu tiên phải ăn Tết xa nhà, ông rất buồn. Năm ấy, Hà Nội rất rét. Để chống lạnh, có bao quần áo, ông ‘nhồi’ tất vào người. Như bản năng, ông cứ thế rời phòng trọ lững thững đi về phía Ga Hàng Cỏ, và nhớ ra là mình không có vé tàu.


Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương kể lại: ‘Khi tàu chuyển bánh, tôi cũng theo tàu đi về phương Nam, dọc theo đường Nam Bộ bây giờ. Tiếng còi tàu mỗi lúc một xa càng làm tăng thêm nỗi nhớ nhà da diết! Đến chỗ chắn tàu ở phố Khâm Thiên, tôi chợt nảy ra ý định đi tìm những người cùng cảnh ngộ với mình trong đêm nay. Phố Khâm Thiên hồi ấy có nhiều nhà hát ả đào. Tôi muốn xem trong đêm giao thừa này, có người nào không ở nhà với gia đình mà đi hát. Hoặc ca nhi nào, vì kế sinh nhai mà phải ở lại hành nghề không? Đêm ấy, có hai nhà còn để đèn ngoài cổng để chờ khách. Tôi đi qua nhà đầu tiên. Cửa mở, nhưng không có người ra. Đến nhà thứ hai thì có một ca nhi đi ra mở cửa. Nhưng khi nhìn thấy một cậu thanh niên, tuổi vừa đôi mươi, ăn mặc lôi thôi thì cô ta đã thất vọng. Khi quay trở vào, cô không quên soi mình trong tấm gương treo cạnh cửa, và đưa cánh tay trần vuốt nhẹ lên mái tóc. Tôi còn đi lang thang mãi trên nhiều đường phố Hà Nội tối hôm đó – cho đến khuya, khi thấy các bà mang hương, đèn ra cúng trước thềm nhà tôi mới quay về căn gác trọ số 10 ngõ Hội Vũ. Lên giường nằm, nhưng nỗi nhớ nhà và cảm giác cô đơn nơi đất khách khiến tôi không tài nào ngủ được. Và nảy ra ý định sáng tác một bài hát để nói lên cảm xúc và suy nghĩ của mình trong đêm giao thừa đầu tiên phải xa nhà. Tôi đã đưa vào ca khúc hình ảnh thực tế đã đập vào mắt tôi lúc đi qua phố Khâm Thiên. Đó là người ‘ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng’. Còn ‘Thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư’ hoặc ‘Cô lữ đêm đông không nhà’ là hình ảnh của bản thân mình – còn ‘chinh phu’”, chinh phụ là những hình ảnh mượn từ trong Tiểu thuyết Thứ Bảy của Tự Lực văn đoàn (8) rất thịnh hành lúc bấy giờ, chứ ta có đi chinh phục ai đâu mà có chinh phu để nói!…”

Về nội dung ca từ của ca khúc “Đêm đông”, cũng được Bách khoa toàn thư mở dẫn giải sau đây: “Đoạn đầu miêu tả quang cảnh hiu quạnh, cô đơn của người lữ khách – tác giả – trong đêm đông.

Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống.
Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông.
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời.
Cùng mây xám về ngang lưng trời.
Thời gian như ngừng trong tê tái.
Cây trút lá cuốn theo chiều mây.
Mưa giăng mắc nhớ nhung, tiêu điều.
Sương thướt tha bay, ôi đìu hiu!

“Đoạn sau thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của tác giả, gồm hai lần điệp khúc.

“Đoạn điệp khúc thứ nhất thể hiện niềm thương cảm tới những số phận giống bản thân tác giả trong đêm đông: ca nhi, thi nhân, chinh phu, chinh phụ.

Đêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu.
Đêm đông, bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng.
Đêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư.
Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng. (…)

“Đoạn điệp khúc và kết thúc bài thể hiện cảm xúc thương chính bản thân mình và ước mong của tác giả trong đêm đông:

Đêm đông, ôi ta nhớ nhung đường về xa xa.
Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình, yêu đương
Đêm đông, ta lê bước chân phong trần tha phương.
Có ai thấu tình cô lữ, đêm đông không nhà. (…)

“Trước đây, căn cứ vào giai điệu của bài hát, cũng như vào câu Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông mà có ý kiến cho rằng, bài hát được sáng tác theo chiều hướng phục vụ nhà thờ Công giáo.. Nhưng theo trả lời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, trích từ lá thư viết ngày 4/11/1997 của ông thì: ‘Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông’. Tiếng chuông buông lững lờ, chỉ có thể là tiếng chuông chùa. Nhưng không cứ gì tôi phải đi ngang qua một ngôi chùa, mà chỉ cần nghe tiếng chuông; thường những người tu tại gia, khi niệm kinh buổi chiều, vẫn thỉnh thoảng gõ chuông từ một gác thờ nào đó. Vì tôi đi từ nhà ra Ga Hàng Cỏ, qua phố Khâm Thiên rồi đi lang thang khắp các nẻo đường trước khi trở về gác trọ thì có thể nghe được nhiều lần tiếng chuông ấy lững lờ buông. Còn nếu tiếng chuông nhà thờ thì phải dùng chữ chuông đổ, chứ không thể dùng buông lững lờ được…”

Tôi không biết và cũng không tiện hỏi danh ca Bạch Yến, những ngày niên thiếu, khi ba, mẹ chia tay nhau, ở tuổi 14, chị đã phải bương trải để giúp mẹ và các em, có bao lần chị vẫn đứng trên sân khấu, hát mua vui cho khán giả, khi những giây phút giao thừa thiêng liêng, theo truyền thống nghìn đời của người Việt? Nếu có, dù chỉ một lần, tôi tin từ vô thức, chị vốn có chung một nỗi lòng với nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, khi ông tâm sự: “…Tôi muốn xem trong đêm giao thừa này, có người nào không ở nhà với gia đình mà đi hát. Hoặc ca nhi nào, vì kế sinh nhai mà phải ở lại hành nghề không?…” Đó là hình ảnh hay tâm trạng của “Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng…”

“Ca nhi” ở đây, chỉ thiếu nữ chọn nghiệp ca hát. Nhưng, không ai cấm, Bạch Yến vốn có trái tim mẫn cảm, có cảm nghĩ khác. Tôi muốn nói, “ca nhi” với chị, cũng có thể hiểu là một “ca sĩ nhi đồng” mới lớn!

Cũng vậy, khi cất tiếng hát ở những câu như: “…Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình, yêu đương / Đêm đông, ta lê bước chân phong trần tha phương / Có ai thấu tình cô lữ, đêm đông không nhà…” Theo tôi, Bạch Yến không chỉ hát như một ca sĩ mà, chị đang sống trong tâm cảnh riêng của chính đời mình.

Tôi biết, càng về sau, càng có nhiều ca sĩ được mời trình diễn ở những thời khắc cuối cùng của một năm. Họ cũng phải xa gia đình. Nhưng, tôi tin, không ca sĩ nào hát “Đêm đông” ở tuổi… “nhi đồng” như Bạch Yến. Hầu hết, họ đã ở tuổi trưởng thành. Và, cũng không một ca sĩ nào, ở tuổi Bạch Yến, hát “Đêm đông” với những vết thương chưa kịp lên da non! Đó là những sự kiện:

“…Mẹ con Bạch Yến sống chen chúc trong một căn nhà nhỏ ở một con hẻm trên đường Cao Thắng nhưng cũng chẳng được bình yên. Một cơn hỏa hoạn đã thiêu rụi căn nhà này thành tro bụi. Một ông cậu ruột của Bạch Yến từ Cần Thơ lên, nảy ra ý định thành lập một gánh xiếc môtô bay thiếu nhi, lưu diễn khắp miền Nam để kiếm sống. Bạch Yến cùng với chị ruột, em trai và em họ đi theo cái nghề nguy hiểm này trong nỗi lo ngay ngáy của người mẹ. Một lần biểu diễn tại Thị Nghè, khi đang bay môtô trên độ cao 4 mét, Bạch Yến đã đạp nhầm thắng và rơi xuống sàn gỗ, bị chiếc môtô đè lên người, gãy ba xương sườn, màng tang trái bị chấn thương, phải điều trị mất một thời gian dài. Đoàn môtô bay của ông cậu cũng ngưng hoạt động sau tai nạn này!…” (9)

Nên, vẫn theo tôi, đó là định mệnh bất khả tư nghì của tài năng thiên bẩm, mang tên Bạch Yến vậy.

Du Tử Lê
(Calif. May. 2014)

_________

Chú thích:
(8) Có thể vì tuổi tác, nên nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương đã lầm lẫn khi nói “Tiểu Thuyết Thứ Bảy của nhóm Tự Lực Văn Đoàn”. Sự thực chẳng những họ không liên hệ gì với nhau mà còn là đối thủ của nhau nữa. Về sự kiện này, Bách Khoa Toàn Thư Mở – Wikipedia, có đoạn nguyên văn như sau: “…Nhiều nhà văn viết cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy sau này đã trở thành những văn sĩ lớn trên văn đàn Việt Nam. Là một đối thủ cạnh tranh của tờ Phong hóa, tờ báo của nhóm Tự lực văn đoàn cùng thời (…) Nhiều nhà văn có tài ở Bắc Kỳ, thời trước Cách Mạng Tháng Tám không được Tự lực văn đoàn dung nạp đều viết cho Tiểu thuyết thứ bảy và các báo khác của nhà xuất bản Tân Dân như Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Triệu Luật, Ngọc Giao, Thanh Châu…, muộn hơn một chút là Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…”
(9) Yên Huỳnh, bđd.

http://dutule.com/D_1-2_2-44_4-6121_5-10_6-1_17-12_14-2_15-2_10-459_12-1/tuong-quan-giua-tieng-hat-bach-yen-va-noi-dung-dem-dong.html