NGUYỄN NHÃ : Thập ân phụ mẫu: Điệu hát xẩm lời cổ qua giọng hát nghệ nhân Hà Thị Cầu


Thứ hai   , 09 Tháng 6 2014 10:33
User Rating: / 0
Poor   Best 

“Thập ân phụ mẫu” hay “Thập ân” là một trong tám làn điệu chính của thể loại hát xẩm và giọng hát của nghệ nhân dân gian Hà Thị Cầu được cho là thể hiện thành công nhất làn điệu này.

ha-thi-cau

Nghĩa mẹ sinh thành, chớ có quên công cha ngãi mẹ sinh thành
Mẹ mang con chín tháng, thai sinh một dạ, trong lòng mẹ chả ngại tanh dơ
Nuôi con từ thở trứng nước, ngây thơ
Chớ có quên công cha ngãi mẹ sinh con ra
Công mẹ cũng lắm, công cha thời nhiều, là khi bồng bế cơm sữa nâng niu
Sinh con trai, con gái
Công lao cha mẹ thì nhọc nhằn, cho đêm ngày con bú con ăn
Đêm nằm quần áo, chiếu chăn nó ướt đầm đầm
Ướt thời mẹ chịu đành tâm, ráo xê con lại con nằm cho nó êm
Đốt ngọn đèn con ơi suốt cả thâu đêm, chờ cho con đi ngủ ấm êm
Mẹ nằm mong ngày, con ơi thì mong tháng mong đủ cho đầy năm
Mong bao    giờ được, lớn khôn bằng người
Trước là con thành kính con phải đạo trời
Kính thời đôi bên cha mẹ là người hiếu trung
Công thái sơn phụ mẫu ngàn trùng
Đói nghèo mẹ khuyên con cứ ở hiếu trung thảo hiền
Cha mẹ thì thời phòng khi chân yếu tay mềm
Đền cơm trả sữa kẻo phiền mẹ cha
Nuôi con mong con tươi tốt được bằng hoa.
Phòng khi mình già mà tuổi luống, cha già nhờ con
Bõ công con lội suối trèo non
Cha tu nhân, mẹ còn tích đức cho con sau này
Ở có tiên, con ơi thời hậu được vấy ai

(Cha giồng cây đức, mẹ ơn giầy đền ân
Trong phép làm người mẹ khuyên con giữ đạo lý hiếu thân
Cảm thương cha mẹ, ân cần ra con mặc lòng ai thời phải đạo làm con
Phải nhớ đến công cha mẹ lại càng nhớ thương
Đường thập ân nói đến cha mẹ con thương
Lặng mà nghe tôi kể đoạn trường khúc nhôi)

Kể từ một ân trong lòng mẹ mới có thai
Âm dương nhị khí, nào ai biết gì nơi trong lòng mẹ chịu sầu bi
Miệng thời cay đắng, dạ thời mẹ héo hon
Bữa cơm ăn mẹ ăn không, biết miếng ngon
Lòng mẹ đắng cay chua xót về con đêm ngày

Sang    đến hai ân mà công cha ngãi mẹ biết bao tày
Mẹ mang con chín tháng, có thai nặng nề
Thương con mẹ đi sớm về trưa
Của ngon vật lạ mẹ chả hề ước ao
Mang mẹ cùng con thì khó nhọc đã ôm giao
Não nề mẹ chịu, quản bao công trình

Sang tới ba ân con ơi vừa tới tháng sinh
Khác nào ruột mẹ một mình ái ương
Kể từ, con ơi thập nguyệt thai dương
Thêm vào mẹ mang mẹ cùng con nhọc nhằn
Có mang con vật lạ mẹ không ăn
Đã được chín tháng mẹ trông mong cho nó đủ mười ngày
Mong tới tuần bông hoa nở liền tay
Bao giờ con đấy cha mẹ thì đứng đây với mừng
Quý con lạng vàng con ơi cân giá đã nào bằng
Lưng bằng thì bằng ngọc coi bằng bông hoa
Láng thấy tai    nghe thời con khóc ở trong nhà
Tuy nó đau lòng mẹ, nhưng mà được làm con
Công sinh thành đạo đức bằng núi non
Vì con cha mẹ chịu chiếu giường tanh hôi
Đường cù lao vất vả con ơi, góc bể bên trời lai láng cồn toan

Sang đến bốn ân nuôi con tha thiết mẹ cơ hàn
Tanh dơ mà lai láng, chứa chan    ướt đầm
Chỗ ướt thời mẹ chịu cho đành tâm
Ráo xê con lại con nằm cho nó êm
Đốt ngọn đèn con ơi suốt cả thâu đêm để chờ cho con đi ngủ ấm êm
Mẹ nằm mong mấy ngày con ơi mong tháng mong đủ đầy năm

Năm ân sài ghẻ con cam
Của ngon vật lạ, mẹ không ham    không hề
Bao nhiêu của lạ vật gì
Miếng ngon miếng ngọt cha mẹ nhường thì để cho con
Miếng nào cay đắng không ngon
Chịu khó mẹ ăn vậy cho con nhưng là

Sang đến sáu ân nuôi con phải đứa hay khóc cha mẹ mà lo thay
Ru đêm mẹ quên ngủ, ru ngày mẹ quên ăn
Sang đến mùa đông trời làm cho giá rét căm căm
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo mẹ để xê con
Thiếu gì của lạ miếng ngon, thiếu gì thịt cá, giò nem ngọt bùi
Bữa cơm mẹ ăn với muối, mẹ lại khen bùi
Cái bát nước nhân trần uống vào đắng ngắt chả biết màu gì ngon

Sang đến bảy ân mẹ giật mình về lúc con lên hoa
Biết bao cha mẹ khó nhọc xót xa đêm ngày
Tha hồ cha mẹ nặng nhọc, đắng cay
Tổn bao tiền của, thuốc ông thầy quản chi
Trông mong con từng cự từng kỳ
Cha mẹ lo cho chúng con từng tí, tí tị từng ti
Lo hoa con đau lòng cha mẹ chả an thân
Lòng cha mẹ nát, lo vì con
Thương thay lòng mẹ ngồi bế con
Nước mắt nó chảy ra cuồn cuộn
Như nguồn non xanh
Đói lo bấm gan mẹ nhịn cho đành
Cầu cho con khỏe mạnh lành là hơn

Sang đến tám ân kể bao siết nỗi nguồn cơn
Thời lòng cha mẹ, nhi quên bối sầu
Bể trời rộng cả cao sâu
Ai lấy câu mà nhắc, ai hầu được chưa
Cha mẹ lo cho chúng con ngày tháng đã thoi đưa
Để dương cao thì bay    ráo
Bây giờ đã hay, nào là Quế, Nhung tiền nợ ông thầy
Lo cho con hết bao nhiêu của, đêm ngày vì con
Thương thay lòng mẹ vì con
Gia tài cơ nghiệp vì con nhưng là
Mừng có cầu cao bể rộng đã qua
Bây giờ cha mẹ mới đà an thân
Con lớn khôn đôi bên cha với mẹ đã mừng thầm
Đêm khuya hoàng cầm, dạy bảo mà nuôi
Trông thấy con ăn nói đã tươi cười
Bây giờ cha mẹ vấy nguôi trong lòng
Trông thấy con tươi tốt đẹp đẽ thì hình rong
Bây giờ cha mẹ bằng lòng dưỡng sinh

Sang đến chín ân, nuôi con nay đã trưởng thành
Gái trai định liệu học hành đèn sách thì văn chương
Trai với thời cho thi đỗ khoa trường
Khôi nguyên thì nhất cử bảng vàng đề danh
Cô con gái thời cha mẹ thì lại dạy hiển vinh
Dạng rỡ muôn đình, rể ngọ sang đông

Sang đến mười ân nuôi con đủ cả vợ chồng
Con con thì cháu cháu, chắt chắt thong rong được thọ trường
Cả gì hơn ông bà phụ mẫu đại đường
Tử tôn huynh thịnh văn chương đời đời
Chuyện thập ân từ đó mà thôi.

 

 

Trong chương trình truyền hình thực tế “Gương mặt thân quen” số 11 của năm 2014, nghệ sĩ Hoài Lâm đã hóa thân thành nghệ nhân dân gian Hà Thị Cầu cũng với trích đoạn mở đầu của bài “Thập ân phụ mẫu” và được cộng đồng chuyên môn đánh giá là rất thành công so với tuổi đời và tuổi nghề chênh lệch hơn nửa thế kỷ.

http://www.hannguyennguyennha.com/an-pham/da-phuong-tien/161-thap-an-phu-mau-ha-thi-cau

 

 

 

DƯƠNG KIM THOA : TS. Trần Quang Hải: “Tôi Tự Hào Vì Được Ba Tin Tưởng!”


“Điều tự hào nhất với tôi cho tới lúc này là được ba tôi công nhận. Ba đã khẳng định với mọi người, tôi sẽ là người đủ năng lực nối tiếp ba trong lĩnh vực nghiên cứu và truyền bá âm nhạc dân tộc”. Đó là chia    sẻ của TS. Trần Quang Hải – người con cả của GS. Trần Văn Khê.

images1023744_22_5__cha_con_hoa_dan

GS Trần Văn Khê và con trai trưởng GS Trần Quang Hải hòa tấu tùy hứng đàn kìm và muỗng

Hai    sáu năm không được ba nhắc tới

Có lẽ, với một người đã ở tuổi bảy mươi tuổi như TS. Trần Quang Hải, câu nói ấy thật đáng suy ngẫm. Ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vì những đóng góp trong nghiên cứu âm nhạc năm 2002. Người ta gọi ông là “vua muỗng” vì nghệ thuật gõ muỗng (thìa) có một không hai. Ông là nghệ sỹ đàn môi bậc thầy của thế giới, từng tham gia biểu diễn trong không ít sự kiện âm nhạc quốc tế. Ông cũng là thầy của khoảng 8000 học trò trên bảy mươi quốc gia….

Nhưng tất cả những thành tựu đó, với ông, không thể sánh với sự công nhận từ ba ông, GS. Trần Văn Khê.

Khi nói điều ấy, TS. Trần Quang Hải cũng cho biết, ba ông, GS. Trần Văn Khê chỉ thực sự tin tưởng năng lực của ông bắt đầu từ khoảng năm, sáu năm trở lại đây. Trước đó, trong suốt hai sáu năm kể từ ngày về nước (từ 1976-2002), GS. Trần Văn Khê chưabao    giờ nhắc tới tên người con trai cả của ông trước công chúng hay báo giới.

Hướng nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh của TS. Trần Quang Hải bắt nguồn từ niềm đam mê với lối hát của người Mông Cổ. Đó là hướng nghiên cứu GS. Trần Văn Khê không muốn con trai ông dồn tâm sức. Dành cả đời cho sự nghiệp nghiên cứu, bảo tồn, phát huy và quảng bá âm nhạc dân tộc, GS. không tán đồng chuyện con trai cứ lo tìm tòi, nghiên cứu âm nhạc ngoại quốc. Thái độ “tảng lờ” của ông cụ với TS. Trần Quang Hải cũng là vì thế.

Cũng chính GS. Trần Văn Khê đã hết lời ngăn cản con trai đem chính bản thân ra làm thí nghiệm với các tia X. Trong 45 năm nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh, TS. Trần Quang Hải đã tự “biến mình thành một con vật để tự thí nghiệm” theo    lời ông.

Mỗi ngày, ông chấp nhận rọi tia X khoảng 10 phút chỉ vào một điểm nhất định của cơ thể, điều đó tương đương với khoảng 6000 lần chụp X-quang (như thông thường ta vẫn chụp phổi) để nghiên cứu cơ chế phát âm, cơ chế hoạt động tinh vi bên trong của não bộ.

Ai cũng biết, những tia X mang theo chất phóng xạ khi vào cơ thể người, gây tổn thương hoặc biến đổi tế bào, gây nguy cơ ung thư rất cao. Tuy nhiên, vì niềm đam mê quá đỗi say sưa, TS. Trần Quang Hải đã bỏ ngoài tai    lời can ngăn của ba.

Đam mê và quyết tâm đi đến tận cùng

Từ năm 1969, TS. Trần Quang Hải gặp một nhà nghiên cứu nước ngoài và được bà cho nghe đoạn băng ghi âm một người đàn ông Mông Cổ có cách hát rất lạ. Chỉ một mình nhưng với cách hát độc đáo, người nghe tưởng có hai giọng hát cùng thể hiện. Nhà nghiên cứu đó đã khẳng định với TS. Trần Quang Hải, chính bà là người thu âm trực tiếp và cũng hết sức ngạc nhiên.

Trong suốt hơn hai năm, TS. Trần Quang Hải đã nghe đi nghe lại tới vài ngàn lần đoạn băng dài cỡ một phút rưỡi ghi âm tiếng hát đồng song thanh của người Mông Cổ. Ông nghe và phân tích, hát theo để cố hiểu được kỹ thuật đặc biệt của cách hát.

Thế rồi một lần, trong lúc chờ đèn đỏ, ông bật băng âm thanh đó và hát theo. Rất bất ngờ, ông nhận ra mình đã có thể làm được như người hát trong băng ghi âm. Ngỡ ngàng, sung sướng, về tới nhà, ông vội vàng thu âm lại cách hát đó bằng giọng mình rồi hôm sau mang tới nhờ một vị giáo sư thẩm định.

Vị giáo sư thoạt đầu không tin, yêu cầu TS. Trần Quang Hải làm lại. Sau vài lần bất thành vì quá hồi hộp, rốt cuộc, ông đã chứng minh được khám phá mới về kỹ thuật hát đồng song thanh.

Kỹ thuật đã biết, vấn đề còn lại là tiếp tục rèn luyện cho thành thục và sau đó, mô tả cách thức luyện tập để truyền đạt cho người khác. Những bước liệt kê ra thì đơn giản thế nhưng để làm được, đã “ngốn” mất của TS. Trần Quang Hải gần nửa thế kỷ nghiên cứu, làm việc, thực hành và biểu diễn.

Mất hai năm liên tục để tìm ra kỹ thuật, ông lại tìm cách mô tả và rút ngắn dần thời gian cho người học. Từ một giờ đồng hồ, tới nửa tiếng, rồi mười lăm phút, mười phút, 5 phút, và hiện tại chỉ còn 1 phút để người học nắm được kỹ thuật hát. Dĩ nhiên, biết kỹ thuật chỉ cần vậy, nhưng quá trình rèn luyện để có hiệu quả sẽ phải mất hàng chục năm.

Cho tới nay, kỹ thuật hát đồng song thanh (thực chất là kỹ thuật làm chủ giọng nói) không chỉ giúp ích trong lĩnh vực nghệ thuật âm nhạc, biểu diễn, nghệ thuật lồng tiếng, mà còn có tác dụng trị liệu các chứng bệnh như ung thư thanh quản, vỡ tiếng, khàn tiếng, v.v…

Cũng theo TS. Trần Quang Hải, tới nay, sau 26 năm kể từ khi công bố kết quả nghiên cứu (1988) tất cả các công trình nghiên cứu về kỹ thuật hát đồng song thanh trên thế giới đều trích dẫn nghiên cứu của ông như một tài liệu lý thuyết kinh điển. Ông là người khởi xướng nghiên cứu có tính khoa học và sau đó trở thành chuyên gia duy nhất của thế giới về hát đồng song thanh. Ngay việc Chính phủ Pháp trao tặng ông Huân chương Bắc đẩu bội tinh năm 2002 cũng vì đóng góp này.

Tới nay, TS. Trần Quang Hải là người duy nhất trong lĩnh vực âm nhạc được trao huân chương Bắc đầu bội tinh. Nếu xét về cấp độ, ông đã làm được việc gọi là “con hơn cha” vì GS. Trần Văn Khê cũng mới chỉ được tặng Huân chương về văn học và nghệ thuật của chính phủ Pháp, một cấp độ vinh danh thấp hơn so với Huân chương Bắc đẩu bội tinh.

Trong một chia sẻ riêng, TS. Trần Quang Hải cho rằng, ở Pháp cũng như ở các nước phát triển khác như Mỹ, Canada   , muốn tồn tại, muốn có việc làm, người ta phải chuyên nghiệp và độc đáo trong lĩnh vực mình theo đuổi. Việc đi sâu vào nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh của TS. Trần Quang Hải cũng chịu tác động phần lớn từ thực tiễn này. Cũng như thế là đam mê của ông với đàn môi và đánh muỗng (thìa).

Tâm đắc với đàn môi

TS. Trần Quang Hải đã cùng 1300 người ở Yakutia (vùng tự trị ở Xi-bê-ria) biểu diễn đàn môi tại một thời điểm năm 2011. Sự kiện này đã được đã được Guiness xác nhận kỷ lục.

Thật thú vị khi biết, khu tự trị Yakutia chỉ có chín trăm ngàn dân, nhưng có tới 700 ngàn người chơi đàn môi. Đàn môi được coi là một trong những nhạc cụ phổ biến nhất ở đây, từ em bé lên ba tới cụ già tám mươi tuổi đều chơi đàn môi. Họ có riêng một bảo tàng dành cho đàn môi, và TS. Trần Quang Hải vinh dự có hình ảnh và tiểu sử cá nhân tại bảo tàng đó

Dịp trở về nước gần đây dự hội thảo khoa học về hát ví, dặm tại Nghệ An, TS. Trần Quang Hải có dịp gặp mặt một “đệ tử chân truyền” về đàn môi mà chưa từng gặp mặt ở Đồng Nai. Đó là bạn Đặng Văn Khai Nguyên, mới 23 tuổi ở Đồng Nai.

Qua internet, những đam mê đồng điệu đã kết nối với nhau thật tuyệt vời. Ông gửi cho học trò tất cả những tài liệu có được về đàn môi. Được biết, tới nay, Nguyên đã sáng tạo ra vài loại đàn môi khác nhau bằng tre rất độc đáo. Không chỉ thế, cậu còn cải tiến, làm mới thêm các cây đàn môi của nước khác. Đàn môi do Nguyên làm giờ đã được cậu gửi tặng tới bạn bè chung ở thích ở nhiều quốc gia như Nhật, Nepal, Ấn Độ, Bangladesh, Argentina,… TS. Trần Quang Hải tin, đó sẽ là người kế tục đáng tin cậy của ông trong việc phát triển nghệ thuật đàn môi ở Việt Nam.

Lần này về Việt Nam, TS. Trần Quang Hải cũng mua 150 chiếc đàn môi mang qua Pháp cho những người bạn yêu thích. Cứ tưởng ông chỉ “chơi” thôi, chẳng dè, đàn môi cũng đem lại cho ông những lợi ích kinh tế không nhỏ. Tham gia biểu diễn độc tấu đàn môi cho cả ngàn người thưởng thức, lồng tiếng cho các bộ phim cao bồi của Mỹ, TS. Trần Quang Hải được nhận những khoản thù lao hàng ngàn euro.

Cũng vì lẽ ấy, ông rất ngạc nhiên khi ở Việt Nam, đàn môi của đồng bào Tây Bắc cũng như ở Tây Nguyên gần như không được biết tới. Trong khi đó, Việt Nam là xứ có nhiều loại đàn môi nhất thế giới, có cả chục loại khác nhau. Trong những lần đi, về Việt Nam, ông luôn tìm cách phát triển loại hình nghệ thuật âm nhạc này.

Nhân tiện nói về đàn môi, ông khoe đã “xúi” thành công một người bán nhạc cụ ở phố Hàng Mành (Hà Nội). Nghe lời ông bán thêm đàn môi, người chủ cửa hàng đã ăn nên làm ra, bán được cả trăm ngàn cây đàn môi, mua được nhà, tậu được xe hơi cũng từ việc đó. Một chiếc đàn môi ở Việt Nam chỉ có giá 1 đô la, nhưng khi đưa sang nước ngoài, giá bán đã đội lên gấp mười. Chẳng trách giàu nhanh thế! Ông cười sảng khoái.

Trên thế giới có rất nhiều người giỏi chơi đàn môi, nhưng số người biết làm đàn môi không nhiều, cũng chưa ai viết ra quy cách làm đàn môi. Chính vì thế, TS. Trần Quang Hải đã đề nghị học trò làm công việc này. Đó sẽ là đóng góp rất lớn trong việc cung cấp thông tin về việc chế tạo đàn môi bằng tre mà thế giới đang rất cần.

Tự tin nối nghiệp cha

Theo TS. Trần Quang Hải, việc ba ông – GS. Trần Văn Khê quyết định về hẳn Việt Nam có mục đích lớn nhất là “lôi kéo” ông trở về nghiên cứu âm nhạc dân tộc.

Suốt từ những năm được ba “lôi” vào các công trình nghiên cứu âm nhạc, TS. Trần Quang Hải phải nỗ lực tự học rất nhiều. Trước đó, ông dành nhiều thời gian nghiên cứu kỹ thuật hát đồng song thanh và âm nhạc nước ngoài, nay trở về nghiên cứu âm nhạc dân tộc, thách thức không hề nhỏ, dù “vốn liếng” âm nhạc dân tộc của ông không hề ít.

TS. Trần Quang Hải đã chơi đàn tranh hơn 50 năm, đã làm 23 đĩa hát đàn tranh, cũng đã bán hơn một triệu đĩa đàn tranh toàn thế giới. Ông là một trong những người bán nhiều đĩa đàn tranh nhất trên thế giới. Tuy nhiên, với ông, đó vẫn là “những việc phụ thuộc”, theo lời ông.

Nhớ những năm đầu mới về Việt Nam dự các hội thảo nghiên cứu, vốn liếng tiếng Việt chưa đủ, nhất là tiếng Việt chuyên ngành âm nhạc, ông phải dùng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Dần dần, ông rèn luyện, tích lũy tiếng mẹ đẻ thông qua đọc sách, xem báo. Qua các lần tham gia chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO trao tặng danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Ca trù, Hát xoan, Đờn ca tài tử,… ông đã dần tự tin hơn với hoạt động nghiên cứu âm nhạc dân tộc trong nước.

Điều ông sung sướng nhất là trong một năm trở lại đây, ông đã có thể viết tham luận và trao đổi tại các hội thảo bằng tiếng Việt. Với một người đã ở nước ngoài hơn năm mươi năm như ông, xóa bỏ được khoảng cách ngôn ngữ với chính đồng bào của mình quả là dấu mốc không thể quên. Và từ đó, niềm tin vào bản thân và niềm sung sướng được ba tin tưởng trở thành động lực khiến ông muốn làm được nhiều việc hơn nữa cho văn hóa nước nhà.

Dịp gần đây nhất ông được mời tham gia Hội thảo khoa học của tỉnh Nghệ An để chuẩn bị hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận danh hiệu di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho hát ví, dặm Nghệ Tĩnh. Nếu trong tất cả các lần chuẩn bị hồ sơ âm nhạc trước, GS. Trần Văn Khê đều tham gia và góp tiếng nói quan trọng, thì lần này, TS. Trần Quang Hải đã có thể thay mặt ba đảm trách công việc tự tin và hiệu quả.

Với TS. Trần Quang Hải, sự công nhận của ba ông là điều quan trọng nhất, bởi ông đã làm được cho ba mãn nguyện, tiếp nối đời thứ năm trong gia đình họ Trần ở lĩnh vực nghiên cứu âm nhạc dân tộc.

Trong buổi sinh hoạt âm nhạc định kỳ gần đây tại nhà riêng, trước mặt bạn bè thân hữu và khách khứa, GS. Trần Văn Khê và con trai – GS. TS. Trần Quang Hải hòa đàn với nhau thật ngẫu hứng theo đúng phong cách của đờn ca tài tử.

Sau 36 năm, kể từ lần hòa đàn năm 1978, tới giờ, hai cha con – hai thế hệ nhạc sỹ dòng họ Trần – mới lại có dịp hòa chung một bản đàn như thế. Ở tuổi 94, GS. Trần Văn Khê chia sẻ nguyện vọng về việc con trai ông, sau những chuyến phiêu du trong âm nhạc của thế giới, sẽ trở về Việt Nam, nối nghiệp cha, góp sức vào sự nghiệp nghiên cứu âm nhạc dân tộc.

***

Có một sự thật thú vị không phải ai cũng biết, hồi nhỏ TS. Trần Quang Hải mắc chứng cà lăm suốt nhiều năm. Ông từng phải ngậm bi trong miệng để chữa tật. Có lần, vô tình nuốt luôn hòn bi, ông suýt bị tắc họng, may có người giúp kịp, nhả ra được. Dĩ nhiên, sau sự cố ông không dám ngậm bi nữa. Sau đó ông phát hiện, những người mắc tật cà lăm, dù nặng cỡ nào, khi hát đều không bị lắp. Thế là trong giao tiếp đời sống, thay vì nói, ông chuyển thành hát. Thoạt đầu mọi người trêu chọc rất nhiều, nhưng bất chấp, ông kiên trì rèn luyện. Tới giờ, ngoài những tình huống hy hữu do quá bất ngờ, xúc động, chứng cà lăm có thể tái diễn, nhìn chung, ông đã triệt bỏ được tật phát âm khó chịu đó./.

Dương Kim Thoa

http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:7SVfxDVdfZQJ:timtrongkhobau.vnweblogs.com/post/25927/454812+%22t%E1%BB%B1+h%C3%A0o+v%C3%AC+%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c+ba+tin+t%C6%B0%E1%BB%9Fng%22&cd=1&hl=fr&ct=clnk&gl=fr

Sinh hoạt của Trần Quang Hải và Bạch Yến trong tháng 8, 2006



 Sinh hoạt của Trần Quang Hải và Bạch Yến trong tháng 8, 2006

 Tin Âm Nhạc, TQH

 



Từ 18 tới 20 tháng 8, Trần Quang Hải đại diện cho Việt Nam tham dự đại hội liên hoan nhạc thế giới MELA Festival ở Oslo (Na Uy) với những màn biểu diễn đàn môi, muỗng và hát đồng song thanh. Đây là đại hội nhạc của nhiều quốc gia chuyên về nhạc thế giới (world music), nhạc các dân tộc di dân ở Na Uy như Pakistan, Việt Nam, Trung quốc, Ba Tư, Lỗ Ma Ní (Roumanie), vv… Liên lạc Aud Digernes, email : aud.digernes@horisont.org, Trang nhà :http://www.horisont.org/ 

Ngày chủ nhật 20 tháng 8, 2006 từ 15giờ tới 19 giờ tại vũ trường Majestic, 18582 Beach Blvd, Huntington Beach, California , một chương trình « Chiều nhạc và tâm tình với Bạch Yến » với Bạch Yến, Thanh Lan, Trọng Nghĩa, Hạ Vân, Kevin Khoa, Jean Louis Beydon, Lê Danh Hiền, ban nhạc Y2K, và MC Việt Dzũng . Liên lạc : điện thoại : (408) 802.9938.

Rất hiếm khi Bạch Yến diễn tại miền Nam Cali . Hầu hết mỗi năm Bạch Yến đều có sang trình diễn tại Hoa Kỳ . Trong năm 2006, Bạch Yến đã diễn nhân dịp Tết cộng đồng Việt Nam tại tiểu bang Delaware và tiểu bang Virginia . Sau đó diễn chương trình Tết cộng đồng Việt Nam tại Seattle, tiểu bang Washington vào cuối tháng giêng 2006 .

Ngoài chương trình diễn cho người Việt ở Mỹ, Bạch Yến đã đi khắp Âu châu, Á châu trình diễn nhạc dân tộc với nhạc sĩ Trần Quang Hải trung bình 60 buổi mỗi năm , và tân nhạc ngoại quốc cho khán giả Tây phương . Năm nay để đánh dấu một quãng đường dài trong nghề ca hát, Bạch Yến ghé lại Huntington Beach để cùng tâm tình với khán giả mộ điệu qua những bản nhạc mà Bạch Yến đã từng nổi danh (« Đêm Đông », « Người tình nữ khóc than – La Llorona », « Malaguena ») . Ngoài ra còn có rất nhiều bài tiền chiến hay đương thời cùng với những sáng tác mới của nhạc sĩ hải ngoại cũng như những sáng tác của Trần Quang Hải cùng với Bạch Yến hay các nhạc phẩm nổi tiếng của Tây phương bằng tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây ban nha và Do thái . Bạch Yến chỉ hát với một piano do nhạc sĩ Jean Louis Beydon đàn . Ông Jean Louis Beydon là giám đốc nhạc viện thành phố Vanves, là một nhạc sĩ piano nổi tiếng ở Pháp , từng đệm cho nhiều ca sĩ Pháp, Nhật . Ông đã đệm đàn cho Bạch Yến từ hơn 10 năm nay và đã sang Mỹ nhiều lần với Bạch Yến . Đây là lối diễn xuất ít thấy vì ít có ca sĩ nào trình diễn với một nhạc cụ (guitar hay piano). Hầu hết đều hát với một ban nhạc với trống , đàn guitar, synthe, vv…
Chương trình « Chiều Nhạc và Tâm tình với Bạch Yến » do nữ ca sĩ Hạ Vân hợp cùng nam ca sĩ Kevin Khoa tổ chức với sự tham gia của các nghệ sĩ địa phương : Thanh Lan, Trọng Nghĩa, Hoàng Oanh, Hạ Vân, Kevin Khoa, Lê Danh Hiền, ban nhạc Y2K và do MC Việt Dzũng điều khiển chương trình .


Sau khi diễn xong tại Nam Cali, Bạch Yến cùng nhạc sĩ dương cầm Jean Louis Beydon tới Washington D.C. để chuẩn bị một chương trình hoàn toàn khác với chương trình ở Huntington Beach .
Có thể nói chương trình ở tỉnh Annandale , tại Virginia Community College, Annandale Campus, Ernst Cultural Center do bác sĩ Văn Sơn Trường cùng một số anh chị em nhạc sĩ đã từng quen biết với Trần Quang H ải và Bạch Yến đứng ra tổ chức buổi trình diễn đặc biệt « BẠCH YẾN : 50 năm âm nhạc » vào ngày chủ nhật 27 tháng 8, 2006 từ 14 giờ . Một chương trình chú trọng vào hai khía cạnh : tân nhạc và dân nhạc . Tân nhạc với sự trình diễn « one woman show » trên sân khấu , hát những bản nhạc trữ tình thời tiền chiến , cũng như những ca khúc nổi tiếng đã đưa tiếng hát Bạch Yến lên đài danh vọng từ 50 năm qua , không những ca khúc bằng tiếng Việt , mà luôn cả những bản nổi danh của thế giới Tây phương . Qua buổi trình diễn này , khán giả có thể biết qua quá trình cuộc đời đi hát của Bạch Yến từ lúc đi môtô bay vào đầu thập niên 50 .
Sau đó, Bạch Yến đi vào con đường ca hát đầy gian truân trước khi nổi tiếng qua bài « Đêm Đông » vào năm 1957 . Các phòng trà ở Saigon vào cuối thập niên 50 được nghe giọng hát Bạch Yến qua các giai điệu rock Âu Mỹ và những bản nhạc lừng danh do Dalida, Brenda Lee hát .

Sang Pháp vào năm 1961 để học thêm kỹ thuật về giọng, Bạch Yến đã thu 4 dĩa 17cm/45 vòng với hãng dĩa Polydor trong giai đoạn nhạc Twist. Trở về Saigon vào cuối năm 1963, tiếp tục nghề hát ở phòng trà Tự Do .Rồi đi sang Mỹ vào năm 1965 theo lời mời của Ed Sullivan để hát trong chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng nhất xứ Mỹ thời đó . Bạch Yến được mời hai tuần và đã lưu lại sinh sống ở Mỹ 12 năm , đi diễn chung với các danh ca nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Pat Boone, và đi lưu diễn hai năm với nhạc sĩ dương cầm Liberace. Cô được mời hát trong phim « The Green Berets » (Lính Mũ Xanh) với John Wayne vào năm 1968. Cả thời gian ở Mỹ, Bạch Yến đã đi khắp 46 tiểu bang , trình diễn trong thế giới người Mỹ . Từng diễn nhiều shows tại Las Vegas . Đi nhiều nước ở Trung Mỹ (Mexico) và Nam Mỹ (Venezuela).
Năm 1978, Bạch Yến gặp lại Trần Quang Hải tại Paris và sau đó trở thành vợ của nhà nghiên cứu nhạc dân tộc . Từ đó, Bạch Yến quay về với nhạc dân tộc, học hát dân ca, tìm hiểu gia tài âm nhạc cổ truyền qua sự dìu dắt của chồng . Sau một thời gian học hỏi, Bạch Yến cùng Trần Quang Hải trình diễn nhạc dân tộc Việt Nam tại các trung tâm văn hóa, đại hội liên hoan nhạc cổ truyền quốc tế của hơn 60 quốc gia với hơn 2.000 buổi . Hai người đã cùng nhau thực hiện 3 dĩa 30cm / 33 vòng và 4 CD trong đó có một dĩa « Viet Nam : Tran Quang Hai & Bach Yen » do nhà sản xuất dĩa SM Studio ở Paris chiếm giải thưởng tối cao của Hàn lâm viện dĩa hát Charles Cros (Academie de Disque Charles Cros) vào năm 1983.
Bạch Yến tha thiết với sự phát huy nhạc dân tộc vào môi trường giáo dục âm nhạc . Bạch Yến đã cùng Trần Quang Hải lưu diễn tại nhiều trường tiểu , trung và đại học do cơ quan Jeunesses Musicales de France tổ chức trên 500 buổi ở khắp xứ Pháp từ năm 1985 tới năm 1997. Hai người cũng đã giới thiệu nhạc dân ca Việt Nam do Jeunesses Musicales de Belgique của vương quốc Bỉ từ 1983 tới 1985 và do trung tâm Rikskonsertene của Na Uy từ 1978 tới 2005. Chưa có một cặp nghệ sĩ nào diễn trên 1,200 chương trình giới thiệu nhạc dân tộc cho trẻ em Âu châu từ 30 năm nay .
Với tiếng đàn piano của nhạc sĩ Jean Louis Beydon từng theo Bạch Yến khắp nơi ở Pháp và Mỹ trong nhiều năm qua, chương trình tân nhạc Việt và ngoại quốc sẽ dành cho khán giả những bất ngờ .


Người thứ hai của chương trình là nhạc sĩ Trần Quang Hải . Lần này không có phần trình diễn dân ca với Bạch Yến mà là những màn biểu diễn một số nhạc cụ như đàn tranh, muỗng, sinh tiền, đàn môi và hát đồng song thanh . Đây là phần giới thiệu những đặc trưng của một số nhạc cụ mà anh đã trình diễn khắp năm châu . Từ 28 tới 30 tháng 7, 2006 vừa qua, Trần Quang Hải đã tham dự đại hội liên hoan quốc tế đàn môi tại Amsterdam (Hòa Lan) và đã tạo ấn tượng rất tót cho đàn môi Việt Nam . Từ 18 tới 20 tháng 8, 2006, anh lại trình diễn hát đồng song thanh, đàn môi và muỗng tại đại hội liên hoan quốc tế nhạc thế giới MELA Festival tại Oslo (Na Uy) đại diện cho nhạc Việt Nam trong địa hạt nhạc thế giới (World Music).

Với hai nghệ sĩ ngoại hạng , mỗi người ở một lĩnh vực, chương trình này sẽ có thêm một vài màn đặc biệt mà khán giả sẽ khám phá tại chỗ trong sự ngạc nhiên kỳ thú .


Liên lạc : BS Văn Sơn Trường, tel : (703) 283 4561, email : Vstruong@aol.com . Trang nhà để xem hình ảnh , tiểu sử và nghe một vài bản nhạc do Bạch Yến trình bày : http://www.vietdc.org


Back to Top

This blog is focused on Trân Quang Hai