CẢNH VŨ – BẢO TRÂN : Những yếu tố quan trọng để dân ca Ví, Giặm có thể trở thành di sản văn hóa của nhân loại


Những yếu tố quan trọng để dân ca Ví, Giặm có thể trở thành di sản văn hóa của nhân loại
09:51:00 30/05/2014
 
Điểm mạnh của dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ (Nghệ An và Hà Tĩnh) là sức sống, sự lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Đây cũng là điểm tựa tạo nên sự tự tin cho Ví, Giặm trong hành trình tiến đến sự công nhận của UNESCO để trở thành di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, so sánh giữa yêu cầu bảo tồn nguyên gốc của UNESCO với sự biến đổi của môi trường diễn xướng trong thực tế hiện nay, thì đây lại là một bài toán khó đối với loại hình âm nhạc truyền thống như dân ca Ví, Giặm.

Ông Nguyễn Ngọc Ất- Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản dân ca xứ Nghệ cho biết, ông rất kì vọng sẽ không lâu nữa dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ sẽ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bởi một lẽ, dân ca Ví, Giặm đã ăn sâu trong cộng đồng người dân xứ Nghệ. Bản thân cộng đồng đã nắm giữ, trao truyền hết đời này đến đời khác, gắn liền với đời sống sinh hoạt của người dân. Thực chất ngôn ngữ, âm điệu của dân ca Ví, Giặm – sản phẩm của Ví, Giặm là tiếng nói Nghệ, là phương ngữ tiếng nói Nghệ.

Lý giải cho điều này, ông Nguyễn Ngọc Ất cho biết: Có lẽ không ở đâu như Nghệ An và Hà Tĩnh, bất cứ người dân nào cũng biết ít nhất đôi ba câu Ví, Giặm. Ở các xóm làng, người ta thành lập các câu lạc bộ hát dân ca. Những ngày nông nhàn hay khi mùa vụ tới, họ cũng tranh thủ hát Ví, Giặm rồi cùng tham gia vào phong trào văn nghệ quần chúng xã nhà, thỉnh thoảng lại có dịp gặp nhau ở mỗi kì liên hoan ở tỉnh. Đã từ lâu, phong trào hát dân ca được duy trì đều đặn ở mỗi địa phương và được người dân ở đây coi như món ăn tinh thần không thể thiếu. Bắt đầu gây dựng phong trào từ năm 1998, đến nay riêng tỉnh Nghệ An, số lượng câu lạc bộ đã tăng lên con số  77 (chưa kể câu lạc bộ tại các trường học). Bên cạnh đó, các tầng lớp nhân dân xứ Nghệ cũng thường xuyên vận dụng các làn điệu Ví, Giặm để biểu diễn văn nghệ quần chúng, hay đơn giản chỉ mượn câu hát ví von, sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày.

Minh chứng thêm cho sức mạnh của Ví, Giặm xứ Nghệ, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Đặng Hoành Loan cho biết: Ví, Giặm đã tạo nên một vùng văn hóa có cá tính – xứ Nghệ. Nghề nông theo phường hội từ xa xưa góp phần đưa Ví, Giặm đi sâu vào ngõ ngách sinh hoạt nông nghiệp của người dân nơi đây. Thứ nữa, Ví, Giặm có giá trị cao về mặt văn học khi bên cạnh những người dân lao động, loại hình âm nhạc truyền thống này còn thu hút đông đảo lực lượng trí thức đương thời mà Đại thi hào Nguyễn Du, nhà yêu nước Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ là ví dụ. Một yếu tố không thể không kể đến là môi trường văn hóa với sông nước, đồi núi, các ngành nghề thủ công nghiệp được phản ánh một cách sâu sắc trong từng câu hò, điệu ví.

 

Một tiết mục trong lễ tổng kết Liên hoan dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ năm 2012.

 

Nhận xét về sự tương quan giữa tính nguyên gốc theo yêu cầu của UNESCO và thực tiễn đang có xu hướng sân khấu hóa của dân ca Ví, Giặm, ông Nguyễn Ngọc Ất khẳng định, sức mạnh của Ví, Giặm nói riêng và dân ca xứ Nghệ nói chung chính là sự đồng thuận trong cộng đồng. Người dân nắm giữ và trao truyền nó qua nhiều thế hệ, gắn bó sâu sắc trong đời sống thường nhật. Ông Ất bày tỏ: “không ở đâu có một sinh hoạt đặc sản Ví, Giặm khác biệt với những nơi khác khi xuất phát của nó là trong lao động, trong chính những ngành nghề và trong sinh hoạt cộng đồng. Dân ca Ví, Giặm hát không kể thời gian, không gian, ru con ngủ có Giặm ru, hát trên môi trường sông nước thì có đò đưa sông Lam, đò đưa nước ngược…”.

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của Ví, Giặm xứ Nghệ chính là sự biến mất của không gian văn hóa. Hát Ví, hát Giặm ra đời gắn liền với những nghề thủ công: làm nón, dệt vải, hay những điệu Giặm lại gắn với những phường cày, phường cấy. Cuộc sống hiện đại khiến cho môi trường diễn xướng bị thay đổi. Không gian diễn xướng cũng chính là thách thức lớn khi chúng ta đưa hồ sơ dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ trình UNESCO.

Nghệ sĩ nhân dân Trịnh Thị Hồng Lựu – một trong những người gây dựng dân ca xứ Nghệ trong cộng đồng bày tỏ quan điểm: “Bảo tồn là gì? Là bảo vệ nó, phát huy nó để tồn tại. Giữ nguyên cái gốc là rất quan trọng. Nhưng mình đã giữ được cái gốc thì phải phát triển nó lên. Nếu không phát triển được thì nó chỉ ở trong bảo tàng thôi. Ở đây vừa song song bảo tồn với việc phát huy, bởi vì người dân lao động vừa là chủ thể, vừa là khách thể sáng tạo.

Do vậy, theo NSND Hồng Lựu thì một trong những tiêu chí quan trọng nhất để dân ca Ví, Giặm được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là dân ca phải được trở về với cộng đồng, tức là dân ca phải trở thành sinh hoạt thường ngày của đa số người dân. Riêng yêu cầu này, tính đến thời điểm hiện tại có thể khẳng định: dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ đang ngày càng bắt rễ sâu trong cộng đồng, trở thành nhu cầu sinh hoạt rộng rãi.

Nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan cũng khẳng định: Người xứ Nghệ đã biết chuyển đổi vị trí và chức năng của nó cho phù hợp với đời sống xã hội trải qua tất cả các thời kì. Người xứ Nghệ đã làm cho Ví, Giặm thích nghi, tương tác với tất cả phương thức sinh hoạt. Ví, Giặm không chỉ tồn tại trong đời sống, được bảo tồn từ phía các nhà quản lý văn hóa, các cuộc liên hoan văn nghệ quần chúng, mà còn là cảm hứng trong sáng tác âm nhạc. “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh” của nhạc sĩ Trần Hoàn, “Đêm nghe Ví đò đưa nhớ Bác” của nhạc sĩ An Thuyên hay “Khúc hát sông quê” của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ… là minh chứng để nối dài sức sống của âm hưởng dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ.

Tuy nhiên, rút kinh nghiệm từ những hiện tượng biến tấu như “kỷ lục quan họ, chèo hóa hát xoan”, những người làm công tác bảo tồn di sản cũng  cần cảnh giác với việc sân khấu hóa, vì việc này sẽ khiến người dân không còn cảm thấy đó là di sản văn hóa của chính mình nữa. Nó khiến cộng đồng có cảm giác ngăn cách, xa lạ, dần đi đến thái độ dửng dưng hoặc tham gia thụ động trong việc thực hành và bảo tồn di sản

Cảnh Vũ – Bảo Trân

 

QUỲNH PHẠM : Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh


DÂN CA, VÍ GIẶM 
  Nâng tầm lan tỏa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe…

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) làm các thủ tục cần thiết gửi hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” trình Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) xem xét đưa vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.


Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, một loại hình nghệ thuật độc đáo của dân tộc

Theo quyết định mới của UNESCO, mỗi năm một nước chỉ được trình 1 loại hình di sản văn hóa phi vật thể. Năm 2012, Việt Nam có hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); năm 2013 là hồ sơ Đờn ca tài tử và đang chờ kết quả từ UNESCO trong cuối năm nay. Vì thế, hồ sơ Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh sẽ trình UNESCO xét duyệt là Di sản văn hóa phi vật thể nhân loại vào năm 2014.

Cần phải nhắc lại, cuối tháng 6/2012, để góp phần gìn giữ, bảo tồn, tôn vinh và phát triển những giá trị bền vững của loại hình nghệ thuật dân ca ví, giặm, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã từng phối hợp tổ chức “Liên hoan dân ca ví, giặm xứ Nghệ lần thứ nhất năm 2012” với chủ đề “Dâng Người câu hát dân ca”. Đây là bước quan trọng và là tiền đề để các cơ quan chức năng, hội nghề nghiệp có thêm niềm tin, căn cứ để lập hồ sơ trình UNESCO công nhận Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại.

Không biết chính xác dân ca ví, giặm có từ bao giờ, chỉ biết rằng điệu hát này xuất phát từ sinh hoạt cộng đồng của người dân vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Khi mới xuất hiện, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh còn thô sơ, mộc mạc, giản dị nhưng sau đó theo thời gian loại hình này đã phát triển lên tầm cao mới với bố cục chặt chẽ, câu từ trau chuốt, vần điệu chắt lọc để hấp dẫn và làm say đắm lòng người nghe.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, các làn điệu dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vẫn tồn tại và phát triển cho đến ngày nay và mỗi loại hình lại mang những đặc trưng riêng. Bởi thế, dân ca, ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản tinh thần vô giá, đã thấm sâu vào tâm hồn, trí tuệ, đời sống người dân của 2 tỉnh miền Trung này.

Môi trường diễn xướng của hát ví Nghệ Tĩnh rất đặc biệt, không cần phải chờ đến mùa vụ, hay hội hè mà vừa lao động vừa ca hát. Những năm gần đây, ví giặm mới được đưa lên sân khấu biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật lớn của đất nước. Hát ví chỉ giới hạn trong đối đáp, giao duyên. Trai thanh, gái lịch hát đối đáp với nhau, hát vọng từ ngoài đường vào nhà, từ trong nhà với ra, hay cũng có thể là từ trên sông vọng lên bờ…

Do hát ví gắn liền với lao động, nên mỗi một loại hát ví lại gắn với một loại hình lao động riêng biệt như: hát ví của những người đi cấy thì gọi là ví phường cấy, hát ví của những người đi củi thì gọi là ví phường củi, hát ví của những người dệt vải thì gọi là ví phường vải…

Theo điều tra, kiểm kê của UBND tỉnh Nghệ An thì hiện nay trên toàn tỉnh có 52 Câu lạc bộ đàn và hát dân ca ví, giặm với khoảng hơn 2.000 thành viên, trong đó có 8 người đã được tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.

Hát ví Nghệ Tĩnh đa dạng về thể loại, mỗi nghề nghiệp, mỗi công việc lao động đều được ghép tên theo hát ví và những người lao động chính là những người sáng tạo ra hát ví. Nhưng dựa theo tính chất kết cấu trong âm nhạc cũng như cách gọi tên các lối ví trong nhân dân, ta có thể chia hát ví thành hai hình thức:

Ví phường vải (hay còn gọi là giọng phường vải) và ví đò đưa (hay còn gọi là giọng đò đưa). Ví phường vải thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức nam xuân, vừa tình tứ lại lửng lơ, bay bổng, không nghiêng về màu sắc của điệu trưởng (Bắc) mà cũng không nghiêng về điệu thứ (Nam).

Ví đò đưa thuộc dạng 5 âm trong hệ thống điệu thức Nam ai, tạo được tính chất nhẹ nhàng, bâng khuâng, lại thêm chút vương buồn sâu lắng, có thế ổn định, nghiêng về màu sắc của điệu thứ (Nam). Cùng là một câu thơ lục bát nhưng ví đò đưa hát khác mà ví phường vải hát khác.

Ví phường vải là lối hát bắt nguồn từ nghề trồng bông, nuôi tằm, dệt lụa. Còn ví đò đưa là lối hát bắt nguồn từ sông nước. Người hát thường là những trai bạn chèo chống trên thuyền xuôi ngược dọc sông, hoặc các phường buôn, phường nón… Họ cho hai thuyền đi song song, có khi ghép hai thuyền lại cùng xuôi, cùng ngược và hát với nhau thâu đêm suốt sáng. Tuy nhiên, giọng ví phường vải không chỉ hát trên cạn, trên làng và giọng đò đưa không chỉ hát dưới sông, dưới thuyền mà trong hát phường vải có giọng đò đưa, trong ví đò đưa có giọng phường vải.

Như vậy, việc trình hồ sơ “Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh” lên UNESCO để công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được xem là hành động kịp thời và cần thiết để vinh danh loại hình nghệ thuật độc đáo này. Đồng thời thúc đẩy công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy nét sinh hoạt văn hoá lành mạnh, mang đầy tính nhân văn trong đời sống nông nghiệp ở nông thôn nước ta, góp phần không nhỏ tạo nên sắc thái văn hoá độc đáo của dân tộc Việt Nam.

Bài và ảnh Quỳnh Phạm

http://ngheantourism.gov.vn/index.asp?options=items&code=1886

MAI QUỲNH NGA : Ca sĩ Bạch Yến: Én trắng có hờn quên tuổi ngọc…


Ca sĩ Bạch Yến: Én trắng có hờn quên tuổi ngọc…
8:00, 18/03/2014
Nhạc dìu dặt, chị bước lên, lộng lẫy, dịu dàng trong tà áo dài. Tiếng hát trầm ấm. Đêm liveshow “Dấu ấn” của Hiền Thục, chị ca bài “Cho em quên tuổi ngọc” – khúc ca mà Lam Phương viết cho chị. Đó là mối nợ. Đó là ân nghĩa. Và đó là tình yêu những ngày thơ ngây, đẹp như những vần nhạc tình mà dự cảm bao khổ lụy. Như lần này chị trở về đây để vương lại, để trả nợ thuở ban đầu đã mất…

 

 

1. Chị có đôi mắt cười. Đôi mắt lấp lánh trước bao đổi mới lạ lẫm của quê hương. Đôi mắt như con én nhỏ muốn sà vào bắt chuyện với tất thảy người lạ người quen. Bởi đơn giản họ là những người thấm cái nắng cái gió của dải đất chữ S thân thương này. Không vui sao được khi đứa con bao năm trời cách biệt xứ người nay về thăm quê. Từ đất Pháp, nhìn cảnh phố phường nhộn nhịp, cảnh chiều tàn trên tán dừa nhiệt đới, lòng chị bỗng rưng rưng. Chẳng thế mà hôm gọi điện hẹn hò, chị cứ thủ thỉ: “Em phải chọn quán nào có món ăn Việt đó nha”. Đội mũ bảo hiểm, đeo cặp kiếng và cái bóp trước bụng, chị quay qua hỏi tôi: “Nhìn chị có giống người xứ mình không?”.

Đã 74 tuổi, cái tuổi gần đất xa trời nhưng chị như trẻ nít. Thấy cái gì lạ, chị chụp hình lại để gửi cho chồng xem, khoe hôm nay mình đi đâu làm gì. Người ngoài nhìn vào cứ ngỡ chị mới chớm 40. Chị bảo cuộc sống hôn nhân viên mãn cho chị cái sắc vóc dễ so bì. Chị cũng đâu có ngờ lời cầu hôn như đùa của Giáo sư Trần Quang Hải lại mang đến cho chị một tổ ấm hạnh phúc đầy ắp tiếng cười hơn 30 năm nay.

Chị biết Trần Quang Hải lần đầu tiên trong một buổi ghi hình chương trình âm nhạc cùng Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê trên đất Pháp. Ngồi cạnh cô bé Bạch Yến, vị Giáo sư khả kính nói với cô: “Tôi có thằng con trai từ Việt Nam mới qua, nó đứng đằng kia kìa”. Bạch Yến thấy trong đám đông một cậu thanh niên gầy gò, vẻ nhút nhát. Chị nhìn đó rồi quên đó. Bởi khi ấy, Bạch Yến đã là cái tên được đông đảo người hâm mộ, là ngôi sao Việt hát tiếng Tây sáng giá khi đặt chân đến nơi hội tụ của những minh tinh nổi tiếng nước Mỹ. Mỗi khi giai điệu bài “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương vang lên, người ta reo vang tên Bạch Yến.

Khi đất nước thống nhất, gia đình bặt tăm tin tức khiến Bạch Yến hoang mang. Trên xứ người, chị đi thăm những người bạn cũ một phần để đỡ cô đơn, một phần để hỏi thăm tin tức người nhà. Trong đêm nhạc của người bạn, chị đang đứng đón khách thì bỗng một người đàn ông to cao, lịch lãm đi cùng cô con gái nhỏ ôm hôn, chào chị. Chị ngạc nhiên hỏi: “Ông có biết tôi là ai không mà hôn?”. “Ồ, biết chứ, ca sĩ Bạch Yến chứ ai”.

Chị trợn tròn mắt. Nghĩ có lẽ đây là fan hâm mộ. Hồi lâu trò chuyện chị mới nhận ra người đàn ông đó là Giáo sư Trần Quang Hải. Gần 20 năm xa cách, hai người mới có duyên hội ngộ trên xứ lạ. Vị Giáo sư ngỏ lời mời nữ danh ca đi ăn tối. Nhớ lại, Bạch Yến cười tủm tỉm: “Nếu như tôi không lịch sự quá thì có lẽ mối lương duyên đã không thành”. Sợ máy bay đáp trễ giờ nên Bạch Yến viết vội một tờ giấy dán trước cổng: “Tôi đi đón bạn ở sân bay. Nếu tôi về trễ, cảm phiền anh chờ cho”.

Bên bàn tiệc lấp lánh ánh nến lãng mạn, bỗng ông buộc miệng: “Yến nè, chúng ta cưới nhau đi”. Tưởng ông giỡn, chị cười giỡn lại: “Ok”. Ngay lập tức, hai tuần sau, bốn trăm thiệp mời được phát hết trong sự ngỡ ngàng của chị và gia đình. Chị tặc lưỡi, thôi thì đã phóng lao thì đâm theo lao.

 

Ca sĩ Bạch Yến.

 

Hỏi rằng có điều gì khiến cho hai người yêu nhau, gắn bó với nhau đến thế dẫu Bạch Yến không thể có con, chị cười mà rằng: “Anh chị có một tình yêu lớn là âm nhạc và luôn coi nhau như tình nhân. Cũng từ khi lấy chồng, chị từ bỏ con đường hát nhạc ngoại quốc mà theo ảnh học âm nhạc dân tộc”. Vào quá ngưỡng thất thập, nhưng chị vẫn miệt mài đi khắp nơi, đem giọng ca của mình phục vụ bao người. Một Bạch Yến ngày trở lại với những bản nhạc Pháp đầy quyến rũ, mê hoặc. Đối với Bạch Yến, khi hát không có chuyện xin lỗi khán giả mình bị cảm cúm mà hát dở. Bởi chị nguyện chết trên sân khấu để khán giả thưởng thức trọn vẹn bài hát được cất lên từ đáy lòng cháy bỏng của mình.

2. Lần này về Việt Nam, Bạch Yến thu âm 10 bài hát của nhạc sĩ Lam Phương cho CD mới nhất. Mọi chuyện cũng tình cờ như gió đến, mây đi. Chị đâu ngờ một ngày, từ làn môi này sẽ bật lên những giai điệu của người nhạc sĩ tài hoa ấy. Chị còn nhớ lắm, dạo xem một chương trình âm nhạc, nhạc sĩ Lam Phương đã không ngần ngại mà tâm sự trước hàng vạn khán giả rằng: “Tôi sáng tác nhiều bài vì nhớ tới một người bạn gái. Người đó là ca sĩ Bạch Yến”. Chị nghe mà rụng rời, thổn thức.

Hỏi chuyện chị với Lam Phương, Bạch Yến thường gạt ngang, nhất là với cánh báo chí. Chị không muốn nhắc, không muốn gợi lại niềm đau khi ông đang ngồi xe lăn do cơn tai biến hành hạ. Một Lam Phương đau đớn giằng xé tâm hồn lẫn thể xác. Một mối tình chị nâng niu, trân trọng.

Nhưng trong đôi mắt cười ấy chất chứa một miền ấu thơ trong sáng đượm buồn. Thuở hoa niên, chị mới mười một, Lam Phương 15 tuổi. Biết nhau từ cái ngày chị đoạt huy chương vàng cuộc thi tiếng hát thiếu nhi do Đài Phát thanh Pháp Á tổ chức. Sau đó, Bạch Yến được mời về thu âm cho đài hằng tuần. Lam Phương cùng chúng bạn hay quanh quẩn ở nhà đài để tập tành sáng tác, hát với nhau những lời ca chưa khô vết mực. Lam Phương để ý đến cô bé xinh xinh có giọt hát trong trẻo, véo von như chim én mùa xuân. Bạch Yến hồn nhiên, coi chàng thanh niên có đôi mắt đa tình và tài hoa ấy như người anh trai. Anh em gặp nhau lại chuyện trò ríu ra ríu rít như bầy sẻ non. Anh dẫn cô bé về nhà mình chơi, gặp cha, gặp mẹ. Chẳng một lần vuốt tóc, cầm tay, vậy mà một ngày, Lam Phương đến nhà Bạch Yến, khoanh tay thưa với mẹ cô rằng: “Thưa bác, cháu xin được hỏi cưới Bạch Yến làm vợ”. Bà mẹ trợn trừng sửng sốt. Bạch Yến còn quá nhỏ để làm vợ người ta. Giọng bà lạnh tanh: “Khi nào cậu đậu tú tài, tui mới tính chuyện con nhỏ. Cậu về đi”. Bạch Yến khi đó không biết yêu đương là gì, chỉ thích người anh trai nhiệt tình, tốt bụng.

Hai năm sau cô bịn rịn chia tay Lam Phương, từ giã căn nhà tranh xiêu vẹo ở Sài Gòn để rong ruổi dọc miền Nam Bắc kiếm cơm cho gia đình. Bạch Yến phải đỡ đần cho đôi vai của mẹ bớt oằn khi cha đi biền biệt không về. Đoàn môtô bay của người chú giúp mấy mẹ con có cơm ăn qua ngày. Nhưng đó cũng là giọt mồ hôi thấm lẫn máu của tuổi thơ lượn theo những vòng xe mạo hiểm. Ngồi đây, giữa quê nhà lúc này, chị nhớ lắm ngày cùng chú ra Bắc vào Nam. Đoàn môtô bay đi đến đâu, người dân vây kín đến đó. Dân miền Tây, quanh năm lam lũ chỉ có con cá, củ khoai, đem ra xin: “Cô cô, cho tui vô coi nghen, tui hổng có tiền mà có giỏ cá này à”. Thỉnh thoảng Lam Phương lại bắt xe đò đi thăm nàng hôn thê bé nhỏ. Có lần ông đến Cần Thơ, chờ hoài vẫn chưa thấy bóng dáng Bạch Yến, ông bèn lấy giấy viết nên bài “Kẻ xa nhà” cho nàng.

Cô nhóc Bạch Yến rất mê đi rạp xinê. Trưa, cô bé không ngủ mà lén trốn đoàn đi xem phim. Đến gần chiều biểu diễn, cơn buồn ngủ ập đến. Đường võng lượn trước mắt phủ mờ như sương, xe cô loạng choạng đâm thẳng vào xe em gái đang cùng biểu diễn. Chiếc xe nặng trịch đè lên thân nhỏ gầy gò. Vùng sọ của Bạch Yến bị chấn thương, ảnh hưởng đến mắt sau này, xương sườn bị gãy. Sau vụ tai nạn kinh hoàng đó, đoàn môtô bay đóng cửa. Bạch Yến trở về quê xưa, rộn ràng trong tim lời hỏi cưới của chàng nhạc sĩ ngày nào.

Nhưng vết thương da thịt sao sánh bằng vết thương lòng. Lời thề nào bỏ ngỏ, cái hẹn xưa tan theo mây gió. Chàng tài hoa, bao người nguyện theo. Dẫu rằng chàng vẫn quan tâm đến cô nhưng trái tim đau vì bị dối lừa. 14 tuổi, con én trắng chông chênh giữa gió mưa ướt át đường về. Tình đầu dễ vỡ nhưng đâu dễ quên. Vậy mà nỗi đau lặng vào tim đến tận sau này, khi tóc xanh đã phai màu thì người kia mới hay, mới thấu. Thôi thì mình có duyên nhưng không có phận.

Khi Bạch Yến đã yên ấm bên chồng, nhạc sĩ Lam Phương vẫn thỉnh thoảng ghé thăm. Một lần ghé nhà Bạch Yến dùng bữa, nhìn cảnh hạnh phúc của chị, ông cảm thán mà lời ngân ngấn lệ: “Hạnh phúc của hai người tôi rất ao ước nhưng mãi mãi không bao giờ có được”.

Bao đau thương trong hạnh phúc lứa đôi đã khiến cõi lòng ông tan nát, xót xa cho một mối tình bé dại đã tự mình đánh mất. “Hôm đó, thấy ảnh buồn, chị động viên, anh đừng có ngừng sáng tác. Nếu muốn, anh cứ sáng tác cho tôi hát. Bẵng đi một thời gian, ảnh gửi cho chị bài “Cho em quên tuổi ngọc” bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Việt”.”Cho em quên cơn mộng ảo xa xôi thơ ngây ngày nào/ Em quên được phút trong tay mưa bay dạt dào/ Ðến muôn đời sau em không còn nhớ yêu đương bên nhau lần đầu/ Cho em trao một lời cuối ăn năn quê hương tội tình/ Em xin được khóc cô đơn ôi thân phận mình/ Thế gian còn ai ? Em xin từ giã thơ ngây xuôi theo dòng đời…”. Bạch Yến ngậm ngùi: “Đó là mối tình đẹp, trong trắng như những giấc mơ êm đềm. Mối tình đó anh dành cho chị, chị trân trọng lắm”.

Về Việt Nam, chị thu âm một số bài hát của Lam Phương cùng các ca sĩ trẻ. Rồi chợt nghe người ta hỏi: “Sao chị Yến không làm riêng CD nhạc Lam Phương?”, chị đã nghe lại nhạc của ông mà nước mắt chực rơi. Bạch Yến gọi điện thoại nhờ Lam Phương chọn cho mình một số bài. Ông gửi cho chị một danh sách để chị lựa 10 bài. Đó là “Phút cuối”, “Chờ người”, “Duyên kiếp”, “Em đi rồi”… và tất nhiên không thể thiếu “Cho em quên tuổi ngọc”. Nếu như Bạch Yến từng phá cách “Đêm đông” từ điệu tango sang điệu slow thì lần này một số bài của Lam Phương sẽ được Bạch Yến hát theo điệu swing mới lạ.

Và có lẽ, đó sẽ là món quà ý nghĩa nhất chị dành tặng Lam Phương, để tuổi ngọc mãi là kí ức đẹp đâu thể hờn quên…

 

  Mai Quỳnh Nga

http://vnca.cand.com.vn/vi-vn/doisongvanhoa/2014/3/58883.cand