HIỀN VY / đài Little Saigon Radio, Houston : Nhạc Sĩ Trần Quang Hải – Một Nhân Tài Của Việt Nam / chương trình Tuổi Thơ, Houston, USA


  • Nhạc Sĩ Trần Quang Hải – Một Nhân Tài Của Việt Nam

32628-tqhvuamuong

Chương Trình Tuổi Thơ – November 11, 2003
Trên làn sóng 880 AM của Little Sàigòn Radio tại Houston
Hiền Vy biên soạn. 

ThụyMai:
Đây là Chương Trình Tuổi Thơ do Hiềnvy và ThụyMai thực hiện. Chương Trình Tuổi Thơ đến với quí thính giả và các em thanh thiếu niên, mỗi chiều Thứ Ba, từ 4 đến 5 giờ, trên làn sóng 880 AM của LittleSaigonRadio tại Houston.
Chương Trình Tuổi Thơ nhằm khuyến khích các em trau dồi tiếng Việt, cũng như muốn giới thiệu với các em những Trang Sử Oai Hùng và những nét đặc thù của Văn Hóa Dân Tộc Việt, hầu giúp các em biết rõ về nguồn gốc và hãnh diện mình là người Việt Nam. Chào
HiềnVy:
Kính chào quí thính giả, chị Thụy Mai và các em.
ThụyMai:
Tuần rồi HiềnVy hứa với Thụy Mai và các em là sẽ nói về Nhạc Sĩ TrầnQuangHải (TQH) làm TMai mong quá. Hôm nay HiềnVy đã sẵn sàng chưa ?
HiềnVy:
Dạ em sẵn sàng rồi đây. Nhưng mà chị ơi, trong CTTT dành cho các em Thanh thiếu niên, mình chỉ nói được rất giới hạn, để các em có thể hiểu được, nên em không biết bắt đầu từ đâu nữa đây nè.
ThụyMai:
Vậy để TMai hỏi HVy nè, Hai tuần trước, khi qua bên Paris, HVy nói là có gặp anh TQHải, vậy thì HVy gặp anh tại đâu ? Tại nhà hay là tại tiệm phở ?
HiềnVy:
Tại sao chị TMai lại nhắc đến tiệm Phở ở đây vậy ? Chị Mai muốn đi ăn Phở hả ?
ThụyMai:
Không phải là TMai muốn đi ăn phở mà vì trong cuốn Video mới đây, thấy chị Lệ Thu nói là mỗi lần anh Trường Sa viết xong bản nhạc mới, muốn đưa cho Lệ Thu thì hẹn ra tiệm Phở
HiềnVy:
Ơ thì ra vậy, nhưng có lẽ vì em không phải là Ca Sĩ nên anh TQHải đã không hẹn ngoài tiệm phở mà cho tụi em đến gặp tại nơi làm việc của anhHải
ThụyMai:
Wow! chỗ làm việc của anh TQHải ở đâu vậy ?
HiềnVy:
Dạ ở trong Bảo Tàng Viện Nhân Chủng Học, tại ngay Paris.
ThụyMai:
Bảo Tàng Viện Nhân Chủng Học ? Là cái gì vậy ?
HiềnVy:
Dạ tại đây họ chưng bày và cất giữ nhiều tài liệu về rất nhiều giống người trên thế giới.
ThụyMai:
HiềnVy nói sao ? cất giữ rất nhiều giống người trên thế giới, là sao ?
HiềnVy:
Dạ, theo như anhHải nói, có rất nhiều những bộ xương và sọ người được cất giữ ở đây.
ThụyMai:
HiềnVy có thấy những bộ xương và sọ người đó không ?
HiềnVy:
Dạ em đâu có dám hỏi, nội cái đi qua một dãy hành lang tối om để đến văn phòng của anhHải với những dãy tủ 2 bên mà nghe là trong đó chứa toàn những phần của cơ thể người ta, là em đã sợ hết hồn rồi, làm gì mà dám hỏi.
ThụyMai:
Nói vậy rồi trong đó có Ma không ?
HiềnVy:
Em nghe nói là mỗi đêm đều có Ma, đó chị.
ThụyMai:
Trời, sao ghê vậy ? Nhưng thôi TMai không muốn nghe chuyện Ma đâu, để TMai hỏi HVy nè, anh TQHải năm nay bao nhiêu tuổi rồi.?
HiềnVy:
Dạ, anh TQHải sinh năm 1944 tại làng Linh Đông Xã, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam.
ThụyMai:
Vậy là anh gần 60 tuổi rồi, mà lúc nhỏ anh Hải học ở đâu ?
HiềnVy:
Lúc còn nhỏ anh Hải học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký và học nhạc tại trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1955 tới 1961. Mà mặc dù nay đã gần 60 tuổi nhưng nhìn anh rất là trẻ trung, chỉ giống như mới 40 thôi.
ThụyMai:
Rồi anh qua Pháp năm nào, và học trường nào bên Pháp ?
HiềnVy:
Dạ, Anh Sang Pháp năm 1961, học khoa nhạc-học tại trường đại học Sorbonne, và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Và cũng trong thời gian đó, anh lại học môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao-học khoa-học-xã-hội (School of Studies for Social Sciences).
ThụyMai:
Vậy đến năm nào anhTQHải mới học xong ?
HiềnVy:
Dạ anh đậu tiến sĩ dân-tộc-nhạc học vào năm 1973. Anh liên tục làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) từ năm 1968 tới ngày nay (35năm) với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, mà đặc biệt về giọng hát.
ThụyMai:
Sau khi đậu bằng Tiến sĩ, anh TQHải làm việc luôn tại Pháp ?
HiềnVy:
Dạ, Anh có việc làm ở Pháp đúng với môn học của Anh, tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research). Nhờ vào làm việc tại đây mà sau hơn 34 năm nghiên cứu, việc làm của anh ngày nay được nhiều người biết tới (có trên 50 websites trên thế giới có nối vào trang nhà của anh). Theo như anh Hải nói thì, vì lúc đó ở Việt Nam, chính phủ không chú trọng tới việc nghiên cứu âm nhạc, nhất là dân tộc nhạc học, một ngành có thể nói là quá mới đối với Việt Nam, và đối với cả Á châu vào thời đó.
ThụyMai:
Tuần rồi mình có nói anh TQHải là con trai của nhạc sĩ Trần Văn Khê, và cháu ruột của Quái Kiệt Trần Văn Trạch, phải không ?
HiềnVy:
Đúng rồi chị, nhưng em còn được biết thêm là anh TQHải là nhạc sĩ đời thứ 5 của dòng họ Trần nữa.
ThụyMai:
Ủa như vậy là có tới mấy đời làm Nhạc Sĩ sao ?
HiềnVy:
Vâng, Theo như em biết thì Ông Sơ của anh Hải là Cụ Trần Quang Thọ, là nhạc sĩ cung đình ở Huế. Cụ sinh năm 1830 và mất năm 1890. Cụ Trần Quang Thọ đã làm tới chức án sát và đã tháp tùng cụ Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thảo về 3 tỉnh miền Nam, mà trong tương lai mình sẽ học tới.
ThụyMai:
Rồi sau cụ Trần Quang Thọ thì đến ai vậy ?
HiềnVy:
Dạ đến cụ Trần quang Diệm, tức là Ông Cố của anh Hải . Cụ Trần Quang Diệm là một nhạc sĩ đàn Tỳ Bà rất nổi tiếng trong miền Nam. Cụ đã chế ra nhiều cách để ghi chép nhạc, nhưng vì chiến tranh nên những tài liệu này bị thất lạc rất nhiều.
ThụyMai:
Vậy đời thứ 3 là ai ?
HiềnVy:
Dạ là cụ Trần Quang Triều, tức là ông nội của anh TQHải, Cụ còn có biệt hiệu là Bảy Triều. Cụ giỏi về Đàn Kìm, chế ra dây Tố Lan, để đàn các bài oán, rất được các nhạc sĩ trong cải lương và cổ nhạc miền nam biết đến. Cụ Trần Quang Triều sinh năm 1897 và mất năm 1931
ThụyMai:
Và đời thứ 4 là nhạc sĩ và cũng là giáo sư tiến sì âm nhạc Trần Văn Khê, tức là Ba của anh TQHải phải không ?

tran quang hai & tran van khe 2010
HiềnVy:
Dạ đúng rồi, chị nói cho HVy và các em nghe về Nhạc Sĩ Trần văn Khê đi, vì chị là ca sĩ, chắc chắn chị phải biết nhiều về Nhạc Sĩ hơn em rồi
ThụyMai:
Nhạc sĩ Trần văn Khê sinh năm 1921, là người ViệtNam đầu tiên đậu Tiến Sĩ Nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris vào năm 1958
HiềnVy:
Wow! dạo đó chị em mình còn chưa có trên đời này nữa.
ThụyMai:
Và chú của anh TQHải là Trần văn Trạch

1188406425_tran van trach tran quang haiNHO
HiềnVy:
Hồi nãy chị nói là Quái Kiệt Trần Văn Trạch, tại sao lại gọi như vậy ?
ThụyMai:
HiềnVy có nhớ hồi xưa Trần Văn Trạch hay chọc cười và hát bài xổ số không ?
HiềnVy:
Ô, em nhớ rồi, hình như là Ông đã tự cho mình là Quái Kiệt, phải không chị . Bây giờ mình nói về anh Trần Quang Hải nha. Anh TQHải biết đàn 15 nhạc khí khác nhau. Lúc 5 tuổi, Anh học đàn măng cầm (mandoline) ở Vĩnh Long, rồi học banjo. Lúc 6 tuổi thì anh học Violon tức là Vĩ Cầm với một ông thầy ở Vĩnh Long. Tới 8 tuổi thì lại bắt đầu học đàn Piano với cha Lựu cũng ở Vĩnh Long.
ThụyMai:
Sau đó thì Anh lên Saigon, học nhạc ở trường quốc gia âm nhạc vào năm 1955 với thầy Phạm Gia Nhiêu về môn vĩ cầm (violin). Năm sau Anh học với thầy Đỗ Thế Phiệt.
HiềnVy:
Tốt nghiệp ở trường quốc gia âm nhạc Saigon. Anh sang Pháp, gặp lại Bố của anh là nhạc sĩ Trần Văn Khê, Anh đã bỏ tất cả nhạc Tây phương, quay trở về nhạc Việt Nam, học đàn tranh, đàn cò, tự học đàn độc huyền, đàn sinh tiền. Và Anh tự chế một số kỹ thuật đánh muỗng, tự học đàn guitar, sáo tây. Sau 10 năm theo học hỏi với Ba của anh, anh hấp thụ nhạc Việt qua đàn tranh, và lý thuyết nhạc cổ truyền. Và từ đó, anh có dịp phổ biến nhạc Việt khắp nơi ở hải ngoại cho tới ngày hôm nay.
ThụyMai:
Đánh muỗng là sao ?
HiềnVy:

TQH MUONG 2010
Nghệ thuật đánh muỗng do anhHải phát triển ở hải ngoại từ gần 40 năm nay. Theo lời anh kể lại thì: Lúc anh được 5 tuổi, một buổi tối, ở tại một làng nhỏ gần tỉnh Vĩnh Long,anh gặp mấy người lính kháng chiến quây quần bên ánh lửa hồng và hát những ca khúc hùng tráng. Bửa đó có một anh lính kháng chiến trẻ, gõ nhịp với hai cái muỗng. Tò mò, anh lại gần quan sát, và rất thích thú.
ThụyMai:
Wow! Dùng 2 cái muỗng, làm thành nhạc khí. Nghe hấp dẫn quá, HVy kể tiếp đi.
HiềnVy:
Em bé TrầnQHải lúc ấy mới nhờ anh chàng lính trẻ chỉ cách cầm muỗng và gõ như thế nào. Sau đó lên Saigon học, có một lần, thấy trên sân khấu phụ diễn tân nhạc, một nữ ca sĩ nhỏ tuổi vừa hát vừa nhịp muỗng. Lúc đó là năm 1955. Khi sang Pháp, anh khám phá ra kỹ thuật gõ muỗng không phải chỉ có ở Việt Nam mà có ở Ái nhĩ Lan, Anh Quốc, Âu châu, Mỹ, Canada, Liên Xô, Thỗ nhĩ kỳ. Ngay ở Á châu, Phi luật Tân, Nam Dương cũng có dùng muỗng để gõ nhịp.
ThụyMai:
Như vậy là nghệ thuật đánh muỗng có ở nhiều quốc gia ?
HiềnVy:

tqh & roger mason
Vâng, theo lời anh TQHải thì đến năm 1965, anh gặp một nhạc sĩ Mỹ tên là Roger Mason, đánh muỗng rất hay. Sau đó 2 người trở thành bạn và thường trình diễn chung tại American Center ở Paris và tại một vài địa điểm chơi dân nhạc (folk music centers).
ThụyMai:
Chắc là mỗi lần gặp nhau, hai anh thi đua “đấu muỗng” với nhau. ?
HiềnVy:
Sao chị đoán hay vậy ? Đúng y như chị vừa nói, hai anh hay đấu muỗng với nhau và mỗi người phải “sáng tác ” kỹ thuật mới để hạ “đối phương “.
ThụyMai:
Chắc là anh Hải thắng luôn, phải không ?
HiềnVy:
Chị lại đoán đúng nữa rồi, Thường thì anhHải thắng, nhưng cũng có vài lần thua. Tuy nhiên, nhờ những lần gặp gỡ đó, anh đã tự tạo một trường-phái Gõ Muỗng đặc biệt. Năm 1967, anh tham dự một đại-nhạc-hội-dân-nhạc tại Cambridge (Anh quốc) (Cambridge Folk Music Festival). Trong dịp này có một cuộc thi gõ muỗng, gồm 30 nhạc sĩ thuộc 20 quốc gia tham dự. Anh đã tham dự với tư cách là nhạc sĩ Việt Nam.
ThụyMai:
Anh có được thắng không ?
HiềnVy:
Dĩ nhiên là có, mà còn thắng lớn nữa đó chị. Anh thắng và được “tôn ” là “Vua Muỗng ” (King of Spoons). Từ đó anh đã gặp rất nhiều người gõ muỗng giỏi trên thế giới. Mà theo như em biết là chưa có ai giỏi hơn anh cả. Anh đã sáng tác hơn 10 kỹ thuật mới, và đặc biệt là anh đã biến cặp muỗng thành đàn Synthetizer, có thể gõ bất cứ bài nhạc nào cũng được.
ThụyMai:
Vậy là Anh trở thành nhạc sĩ đánh muỗng duy nhứt trên thế giới, độc tấu muỗng trên sân khấu, phải không ?

TQH MUONG 2010
HiềnVy:
Vâng, đúng là vậy. Nhưng có một môn đàn khác mà anhTrầnQuangHải rất nổi tiếng nữa là Đàn Môi đó chị.
ThụyMai:
Đàn Môi là sao, có phải là cái đàn có hình dáng giống cái Môi của người ta, hay là nói theo tiếng Bắc thì Cái Môi tức là cái Vá múc canh của người Nam mình ?
HiềnVy:
Em cũng đã thắc mắc y như chị vậy, nhưng sau đó anh TQHải giải thích cho em biết rõ về Đàn Môi. Vậy để em cố nói lại coi có được không, nha. Đàn môi là nhạc khí có tại Á châu, Âu châu và Thái Bình Dương. Xứ Việt Nam có trên 10 loại đàn môi khác nhau (đàn môi tre, sắt, thép, đồng thau, vv.) nhưng rất ít người Việt để ý tới, vì cho rằng người Việt không có khiếu đối với Đàn Môi của các sắc tộc (53 sắc tộc). AnhHải khám phá ĐànMôi khi sang Pháp. Vào năm 1967, trong một buổi trình bày về Đàn Môi tại Phòng thí nghiệm âm thanh học (Laboratoire d’Acoustique musicale ), đại học Paris quận 6, anhHải gặp một nhạc sĩ người Anh tên là John Wright, đánh Đàn Môi rất hay.
ThụyMai:
Đàn môi hình dáng ra sao?

Dan_Moi_traditio_481eb84991aa9
HiềnVy:
Đàn môi gồm có một cái khung cố định. Bên trong có một cái lưỡi gà, lưỡi gà này di động khi khảy một đầu bằng ngón tay trỏ hay ngón tay cái (tùy theo truyền thống). Để hai thanh thép của cái khung đó, ấn vào hai hàm răng, dùng cái miệng làm một nơi vang âm và tạo cao độ theo sự biến đổi của bên trong miệng. Âm thanh và giai điệu phát xuất từ những bồi âm thay đổi tùy theo miệng lớn hay nhỏ.
ThụyMai:
Wow! Vậy rồi anhHải học Đàn Môi từ đó sao ?
HiềnVy:

tqh & john wright
Vâng, Chỉ qua năm, mười phút học được cách đàn căn bản với John Wright, là anh tự luyện tập và nghe rất nhiều nhạc Đàn Môi trên thế giới. Sau đó anh tổng hợp các kỹ thuật Đàn Môi của Á châu, Âu châu, và vùngThái Bình Dương. Sau hơn 30 năm nghiên cứu, thí nghiệm và trình diễn, anh đã đưa tiếng Đàn Môi và hát Đồng Song Thanh vào nhạc phim ở Pháp, nhạc điện thanh (electro-acoustical music), dân nhạc (folk music), nhạc thế giới (world music), nhạc free jazz.
ThụyMai:
Vậy chắc anh TQHải là nhạc sĩ Việt Nam đưa Đàn Môi vào phim nhạc ở Pháp
HiềnVy:

cd guimbardes du monde
Vâng đúng vậy và anh còn hoàn thành một CD toàn là nhạc đàn môi, do anh sáng tác (17 bài), trình diễn với nhiều loại đàn môi và hợp chung với hát Đồng Song Thanh. (CD “Guimbardes du Monde /Jew’s Harps of the World by Trân Quang Hai”, do hãng Playasound phát hành, tại Paris, 1997).
ThụyMai:
HVy có được nghe anh TrầnQHải trình diễn Đàn Môi chưa ?
HiềnVy:
Dạ có, Lúc đứng chờ anh Ba của em đậu xe, dưới Lobby của Viện bảo Tàng, anhHải đã dùng một cái hộp nhỏ xíu, hình như là cái bật lữa thì phải, và đàn môi cho tụi em nghe.
ThụyMai:
Wow! Còn lúc nãy Hiền Vy nói Hát Đồng Song Thanh là gì vậy ?
HiềnVy:
Hát Đồng Song Thanh là kỹ thuật hát hai giọng cùng một lúc của người Mông cổ và người Tuva ở Tây Bá Lợi Á.
ThụyMai:
Làm sao mà hát một lúc bằng hai giọng được ?
HiềnVy:
Vâng mới nghe thì không làm sao hình dung được, nhưng khi chị đứng bên cạnh anhHải thì sẽ nghe được.
ThụyMai:
HiềnVy có được anh Hải hát Đồng Song Thanh cho nghe không ?

TQH-CHANT-DIPHONIQUE
HiềnVy:
Dạ có, lúc đầu em tưởng là anhHải có một cái máy cassette nhỏ, dấu trong áo vì khi anh hát thì em nghe như cả một ban nhạc đang hoà tấu. Nhưng không phải vậy, anhHải đã dùng 2 gịong trong một lúc để hát cho em nghe. Và em đã cố đứng thật gần để nghe
ThụyMai:
Rồi HiềnVy có thấy cái cassette nào không ?
HiềnVy:
Đương nhiên là không rồi, đặc biệt là khi anhHải vừa hát xong Đồng Song Thanh thì từ mọi phía của Viện Bảo Tàng, người ta vỗ tay quá chừng, lúc đó tụi em cũng còn đang đứng dưới Lobby của Viện Bảo Tàng, làm em rất là ngạc nhiên, thì anhHải bảo em là đi ra thật xa, đừng cần nhìn anh thì sẽ nghe rõ hơn nữa.
ThụyMai:
HiềnVy có thử như lời anhHải nói không ?
HiềnVy:
Dạ thử liền chứ. Và quả thật là đứng xa thì nghe rõ hơn bội phần. AnhHải giải thích cho tụi em biết là thời xưa, những người chăn ngựa, khi ngồi trên núi một mình nghe tiếng gió thổi xuyên qua lá, và tiếng nước suối chảy róc rách trên núi, mới bắt chước để hát giải sầu. Từ đó mới phát xuất hát đồng song thanh gọi là Khoomei (giọng hầu).
ThụyMai:
Rồi anhHải bắt đầu nghiên cứu hát Đồng Song Thanh lúc nào ?
HiềnVy:

tran quang hai workshop
Dạ khi khám phá kỹ thuật hát Đồng Song Thanh vào năm 1969, anh đã tự tập và tạo một trường phái Âu châu cũng hơn 30 năm. Hiện nay có hơn 20 người (đa số là học trò anhHải ) hát giỏi và dạy môn này khắp thế giới.
ThụyMai:
Hồi nãy HiềnVy nói là anhTQHải đã đem kỹ thật hát Đồng Song Thanh vào phim ảnh bên Pháp là sao ?
HiềnVy:

tqh-chant-des-harmoniques
Dạ, Đó là cuốn phim ‘Le Chant des Harmoniques’ (The Song of Harmonics, dịch tiếng Việt là Bài Hát Bồi Âm) về kỹ thuật hát đồng song thanh do anhHải phát triển, được quay vào năm 1988 do TS Hugo Zemp, một điện ảnh gia chuyên về dân tộc nhạc học quay và đạo diễn. Cuốn phim này nhấn mạnh về hai khía cạnh: phân tách giọng qua quang tuyến X (một chuyện rất nguy hiểm cho sức khỏe), và phân tách giọng qua âm thanh học (acousctics).
ThụyMai:
Anh Hải không sợ nguy hiểm cho sức khỏe khi dùng quang tuyến X để phân tách giọng sao ?
HiềnVy:

tqh rayon x film le chant des harmoniques
Dạ vì tha thiết đến chuyện nghiên cứu, nên anh đã không ngần ngại khi phải dùng quang tuyến X, chiếu ngang qua gò má, để xem thấy bên trong miệng của anh, trong lúc hát. Và anh đã phải để cho tia quang tuyến X chạy trong 10 phút như vậy
ThụyMai:
Làm vậy rất là nguy hiểm tới sức khỏe. HVy có biết là khi rọi kiếng phổi chỉ có 1/10 giây thôi, mà anhHải cho chạy đến 10 phút tức là tương đương với 6000 lần rọi kiếng trong một ngày.
HiềnVy:
Vâng, Bác sĩ đã “cảnh cáo” anh là nếu làm như vậy tức là anh sẽ nhận chất phóng xạ rất cao, có thể gây ra ung thư dây thanh quản. Vậy mà anh đã chấp nhận sự nguy hiểm này. Nhưng nhờ đó mà cuốn phim thu hút giới nghiên cứu và giới học về giọng.
ThụyMai:
Wow! Thật là một sự hy sinh cho nghệ thuật
HiềnVy:

film le chant des harmoniques
Vâng, cuốn phim có ba phần: một phần phân tách khoa học (scientific analyses), một phần phương pháp sư phạm (pedagogical method), một phần kỹ thuật hát đồng song thanh (overtone singing technique). Sau khi thực hiện xong vào tháng 6 , 1989, cuốn phim được chiếu lần đầu tiên tại hội nghị Quốc tế ICTM (International Council for Traditional Music) tại Schladming, Áo quốc trước 700 nhà dân tộc nhạc học của 120 quốc gia.
ThụyMai:
Cuốn phim chắc đọat được nhiều giải thưởng lắm ?
HiềnVy:
Dạ, Cuốn phim đã đoạt giải nhứt của đại hội quốc tế phim nghiên cứu tại Parnu, xứ Estonia, 1990 (Grand Prize về Phim nghiên cứu khoa học và Giải thưởng phim dân tộc nhạc học hay nhứt (Prize of Best Ethnomusicological Film). Cùng năm 1990, phim này tham dự một đại hội phim nghiên cứu tại Palaiseau, Pháp, và đoạt giải thưởng Phim nghiên cứu khoa học hay nhứt (Best Film of Scientific Research), Palaiseau. Năm 1991, phim này lại đoạt giải Phim hay nhứt của đại hội phim khoa học (Grand Prize of the Festival of Scientific Film) tại Montreal, Canada.
ThụyMai:
Là cuốn phim về nghiên cứu chắc là ngoài những thành quả đã đạt được như HiềnVy vừa nói, chắc là phim còn được chiếu cho sinh viên, học sinh nữa phải không ?
HiềnVy:
Vâng, phim được chiếu trên 70 đài truyền hình trên thế giới. Phim này đã được trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học chuyển sang phim video nói tiếng Pháp, và nói tiếng Anh. Và phim này đã bán được hơn 50.000 cuốn cho các trường đại học, các trường trung tiểu học, các trung tâm nghiên cứu về giọng.
ThụyMai:
Vậy chắc hẳn là học trò của anh TrầnQuangHải đông lắm ?
HiềnVy:

DSC02536
Dạ anh Hải có trên 7.000 người đã học với anh về kỹ thuật hát Đồng Song Thanh. Nhưng cái hay của môn này là dùng để chữa bệnh
ThụyMai:
Chữa bệnh gì vậy ?
HiềnVy:
Dạ chữa bệnh thần kinh, bệnh tâm lý, và nhất là chữa bệnh cuống họng mà làm mất tiếng nói của người ta.
ThụyMai:
Chữa bằng cách nào ?
HiềnVy:
Dạ những người bị đau cuống họng làm họ không nói được nữa thì với cách học Đồng Song Thanh, anhHải sẽ dạy họ cách tập luyện bắp thịt cổ và họng để dùng một chổ khác mà phát âm, và họ sẽ nói lại được mà không cần qua những cuộc giải phẩu rất đau đớn và nguy hiểm. Ngoài ra những người bị cà lăm, tức là nói lắp, nếu học cách này thì sẽ bớt cà lăm hoặc có trường hợp hết nói cà lăm luôn.
ThụyMai:
Còn chữa tâm lý thì như thế nào ?
HiềnVy:
Dạ vì qua cách phát âm khi mới học Đồng Song Thanh, anhHải có thể biết người học trò của mình là người cứng còi hay người nhu nhược, thì qua cách tập luyện giọng Đồng Song Thanh, anh Hải sẽ giúp người này lấy lại nghị lực, tập trung tư tưởng để lấy lại được niềm tin. Và hiện bây giờ thì anh đang nghiên cứu và sắp hoàn tất phương pháp dùng âm thanh để viết chữ trên máy computer.
ThụyMai:
Dùng âm thanh viết chữ trên máy computer là sao vậy ?
HiềnVy:
Dạ tức là khi mình hát hay nói vào microphone thì giọng hát của mình, trực tiếp hiện ra trên màn ảnh computer, và cái program này do chính anh viết lấy, để biến đổi tần số âm thanh ra hình vẽ các mẫu tự, do đó anh có thể dùng miệng để viết chữ.
ThụyMai:
Wow! sao hay vậy, HiềnVy có được xem tận mắt cách viết này không ?
HiềnVy:

minimum
Dạ có, trong văn phòng làm việc của anhTQHải, tụi em được anh cho coi rất nhiều thứ, và dĩ nhiên là thấy được khi anh hát vào microphone thì trên màn ảnh computer những hàng chữ xuất hiện.
ThụyMai:
Wow! Hay quá. TMai nghe là vào ngày 10 tháng Tư năm 2002, Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải được Tổng Thống Pháp Jacques Chirac ban huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh, phải không ?

tqh_by chirac 59 Ko
HiềnVy:
Vâng đúng vậy, Tổng thống Pháp đã ban huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh cho anh Trần Quang Hải để tôn vinh những đóng góp của anh về công việc nghiên cứu hát Đồng Song Thanh trên thế giới và làm rạng danh xứ Pháp trong lĩnh vực hát Đồng Song Thanh. Nhưng điều đặc biệt nhất là lúc nào đi trình diễn, anh cũng mặc áo dài khăn đóng ViệtNam cả. Anh luôn hãnh diện mình là người ViệtNam mặc dù bây giờ anh là con-ngườì-quốc-tế và anh đã chỉ sống ở ViệtNam một thời gian ngắn, khi còn nhỏ mà thôi.
ThụyMai:
T.Mai thấy anh Trần Quang Hải hay đi trình diễn Đàn Tranh nữa đó, HVy có nghe anh kể về Đàn Tranh không ?

Tran Quang Hai 2
HiềnVy:
Dạ có, theo anh TQHải thì Đàn Tranh ViệtNam mình hay về thủ pháp bàn tay trái (nhấn , vuốt, rung) nên phong phú hơn các đàn tranh của Trung quốc, Nhựt, Đại Hàn, Mông Cổ. Cách nhấn của bàn tay trái làm cho câu nhạc trở nên não ruột, buồn thảm. Đó là ưu điểm của đàn tranh. Ngoài ra trong nhạc Việt, phần “rao” hay “dạo” là đặc điểm của nhạc Việt. Chỉ có nhạc Việt mới có “rao” giáo đầu, để tạo một bầu không khí cho người nghe “nhập tâm” vào điệu thức của bài nhạc. Theo anh TQHải, cái hay của nhạc Việt là đàn chậm rãi, nhấn cho ngọt, làm cho người nghe cảm thấy “nhức xương”. Đó là đặc điểm đàn tranh, mà theo anh, chúng ta cần phải duy trì, bảo vệ.
ThụyMai:
Anh TrầnQHải có con không ?
HiềnVy:
Dạ anh có một người con gái tên là Trần thị Minh Tâm, mà có khi viết bài về sinh hoạt cộng đồng, anh dùng tên của Trần thị Minh Tâm làm biệt hiệu.
ThụyMai:
Cô Minh Tâm chắc cũng là một nhạc sĩ ?
HiềnVy:

minh-tam-tran
Dạ, Trần Thị Minh Tâm (sinh năm 1973 tại Pháp), học piano 12 năm tại trường âm nhạc ở Pháp, học nghiên cứu nhạc học (musicology) tại Đại học đường Sorbonne, Paris, đậu cao học nhạc-học, nhưng cô đã không tiếp tục cho tới tiến sĩ vì cô thích tổ chức đại nhạc hội (festivals). Nên sau khi ra trường, cô Minh Tâm tìm được việc làm ở Thụy Sĩ, và chỉ sau một thời gian ngắn làm việc tại đây, bây giờ cô giữ một chức vụ quan trọng của Classical Music Verbier Festival, một trong ba festivals lớn nhứt của Thụy Sĩ. Cô Minh Tâm là người tổ chức lớp nhạc hè (Summer Academy of Music) dành cho những nhạc sinh giỏi trong các trường nhạc nổi tiếng trên thế giới, vì lớp nhạc này do các giáo sư nổi tiếng nhứt thế giới tới dạy (như ông Rostropovitch, Isaac Stern, vv.)
ThụyMai:
Wow! Đúng là Con nhà Tông, không giống lông cũng giống cánh, phải không HiềnVy ?
HiềnVy:
Vâng em nghe anhHải kể là lúc còn nhỏ, MinhTâm bị ‘mặc cảm’ về nhạc, vì có ông nội và cha là người giỏi nhạc. Nhưng điều làm em ái mộ cô Minh Tâm nhất, là mặc dù sinh ra và lớn lên bên Pháp, cô đã nói và viết tiếng Việt rất giỏi, có thể giỏi hơn em nhiều.
ThụyMai:
Làm sao hay được như vậy ?
HiềnVy:
Dạ anhHải kể là lúc Minh Tâm còn nhỏ, nếu muốn ăn gì, muốn xin gì, muốn Bố làm cho việc gì thì phải nói, phải xin bằng tiếng Việt, chứ nếu nói bằng tiếng Tây thì không có được gì cả. Và vì vậy mà bây giờ MinhTâm nói được nhiều ngôn ngữ, mà tiếng Việt là một trong những tiếng cô nói và viết rất giỏi.
ThụyMai:
TMai nghe nói là anh đang muốn tìm một người để truyền dạy lại những gì anh đã nghiên cứu đưọc, phải không ?
HiềnVy:
Vâng, em cũng nghe như vậy, nhưng theo anh TQHải thì việc truyền nghề lại cho một người trẻ rất khó khăn vì phải hội đủ một số điều kiện mà anh đòi hỏi.
ThụyMai:
Tại sao lại khó khăn và đòi hỏi của anh Hải là gì?
HiềnVy:
Dạ anh bảo là khi anh chọn người nào thì anh sẽ bảo đảm việc học, ăn ở, tức là anh nuôi người đó từ nhỏ cho tới lớn, học thành tài xong rồi, anh mới trả lại cho gia đình người đó.
ThụyMai:
Tức là phải ăn ở luôn trong nhà của anhHải và chị Bạch Yến ?
HiềnVy:
Vâng, vì điều kiện như vậy, cho nên tới nay anh chị vẫn chưa tìm được người đúng như ý, nên anh vẫn đang tiếp tục tìm.
ThụyMai:

bach yen vietnam 1
Nhắc đến chị bạch Yến, TMai nhớ ngày xưa, chị Bạch Yến là một nữ danh ca nổi tiếng ở Việt Nam qua bài Đêm Đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và những bản nhạc ngoại quốc loại rock and roll (Tutti Frutti, Rock Around the Clock) hay loại nhạc mambo (như bài Mambo Italiano) hay các bản do Brenda Lee, Dalida (Bambino). Mà sao bây giờ chị toàn trình diễn với anh TQHải về loại nhạc dân tộc vậy ? Hiền Vy có hỏi anh TQHải không ?
HiềnVy:
Dạ có, lúc trước em tưởng là anhHải đã làm (pressure) áp lực dữ lắm, nên chị Bạch Yến mới đổi như vậy, nhưng không phải. AnhHải kể rằng: Việc chị Bạch Yến trở về nguồn là do chị Bạch Yến muốn. Sau khi lập gia đình với nhau, anhHải chỉ đưa cho chị Bạch Yến những tài liệu dân nhạc Việt Nam để nghe và thấm nhuần. Khi chị Bạch Yến có ý định trở về nhạc dân tộc, thì chị không nghe nhạc ngoại quốc nữa và chỉ nghe nhạc Việt Nam thôi, để cho tai không bị chi phối bởi loại nhạc khác. Vì cách ngân nga giữa hai loại nhạc Pop tây phương và dân nhạc Việt Nam hoàn toàn khác biệt. Do đó, phải mất nhiều thì giờ để cho dòng nhạc Việt thấm sâu vào trong huyết quản.
ThụyMai:
Vậy chắc là chị Bạch Yến phải nghe nhiều nhạc dân ca lắm ?
HiềnVy:

bachyen 5
Chị Bạch Yến đi nghe anhHải thuyết trình, trình diễn dân nhạc tại các trường học. Dần dần chị khám phá cái hay, cái đẹp trong nhạc dân tộc. Và anhHải đã cảm hóa chị Bạch Yến trở về nguồn sau một năm sống chung. Từ đó anh chị đi lưu diễn khắp các quốc gia trên thế giới. Tính cho tới ngày đã gần 3000 buổi trình diễn, thực hiện 3 dĩa loại lớn, 3 CD chung với nhau và tham dự hơn 100 đại nhạc hội quốc tế (traditional music festivals) tại 50 quốc gia.
ThụyMai:
Wow!TMai nghe là anh TranQHải có viết sách nữa, phải không ?
HiềnVy:

Musiques-Du-Monde-Guide-Pedagogique-Avec-1-Cahier-De-Travaux-Pratiques-3cd-Audio-Livre-863268088_ML
Dạ,Về sách vở anhTQHải có viết một vài cuốn như quyển ‘Musiques du Mondé (Nhạc thế giới) vào năm 1993, được dịch ra tiếng Anh năm 1994, dịch ra tiếng Đức năm 1996 và dịch ra tiếng Tây Ban Nha năm 1998. Sách dày 360 trang, được dùng làm sách giáo khoa ở Pháp. Đã bán được trên 50.000 quyển. Ngoài ra có một số sách khác, dĩa 33 vòng, tức là loại dĩa lớn, dĩa CD (15 dĩa nhựa, 8 CD), tổng cộng đã hơn 1 triệu dĩa bán.
ThụyMai:
Ngoài cuốn phim The Song of Harmonics, lúc nãy mình đã nói đến, anh TQHải còn làm phim nào nữa không ?
HiềnVy:
Dạ có, anh đã làm tặng cho bộ giáo dục Úc Đại Lợi một cuốn phim về nhạc ViệtNam, phim được quay năm 1986 tại tỉnh Perth (Úc châu). Phim này được dùng tại các trường tiểu học trên toàn xứ Úc từ mười mấy năm qua. Anh cũng đã cộng tác với 40 đài truyền hình của nhiều quốc gia để làm những chương trình giáo dục âm nhạc (rất tiếc là không có chiếu trong cộng đồng VN)
ThụyMai:
Như vậy thì người ngoại quốc biết anh nhiều hơn người Việt mình ?
HiềnVy:
Vâng Khán giả của anh thường là người ngoại quốc. Có thể nói là 95 phần trăm. Thị trường làm việc của anh là người ngoại quốc. Mỗi năm anhchị trình diễn cho người Việt khoảng 10 buổi hay ít hơn vì theo anh thì, đã có nhiều nhạc sĩ Việt diễn cho cộng đồng Việt rồi. Việc làm của anh là giúp cho ngoại quốc khám phá nhạc Việt và việc nghiên cứu hát Đồng Song Thanh
ThụyMai:
Thường thường anh trình diễn loại nào nhiều nhất ?
HiềnVy:
Dạ Đàn muỗng và đàn môi là thường nhứt. Đó là hai nhạc khí mà anh đã sáng tạo nhiều kỹ thuật mới. Năm 1967, khi diễn tại đại hội dân nhạc (Folk Music Festival) ở tỉnh Cambridge ở Anh quốc,anh được bầu là Vua muỗng (King of Spoons). Từ đó tới nay anh vẫn tiếp tục giữ ngôi vị này. Năm 1998 anh tham dự đại hội Đàn Môi thế giới (World Jew’s Harp Festival) ở tỉnh Moll (Áo quốc), anh được bầu là người chơi đàn môi hay nhất đại hội (The Best Jew’s Harp Player of the Festival ). Nhưng Đàn tranh là nhạc khí chánh của anh, nên khi nào cũng có Đàn Tranh trong chương trình của anh, khi anh đi trình diễn.
ThụyMai:
ThụyMai và HiềnVy cũng như các em thanh thiếu niên của ChươngTrình Tuổi Thơ thật là hãnh diện vì trên thế giới có một người Việt Nam tài giỏi như anh Trần Quang Hải.
HiềnVy:
Vâng đây là niềm hãnh diện chung cho người Việt mình, AnhHải còn nói là ước nguyện của anh là làm sao về ViệtNam để trao lại cho dân tộc ViệtNam những gì anh đã học hỏi được, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại thì anh chưa thực hiện được ước nguyện của anh. Anh cũng mong là với gia tài âm nhạc anh để lại cho đời, thì sau này người ta sẽ nhớ tới một Nhạc Sĩ Việt Nam, đã lưu lạc ở hải ngoại, đã hiến dâng cuộc đời cho âm nhạc nói chung và cho Văn Hóa Nghệ Thuật âm nhạc Việt Nam nói riêng.
ThụyMai:
Trong khuôn khổ hạn hẹp của Chương Trình Tuổi Thơ, T.Mai và HiềnVy không thể nào nói hết được những công trình cũng như những thành đạt của Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải. TMai và HiềnVy xin lập lại câu nói của Nguyễn Bá Học mà anh Trần Quang Hải đã dùng để nhắn nhủ cho thế hệ trẻ Việt Nam tại Hải Ngoại, trong một bài phỏng vấn của Vương Huyền thực hiện trên HồnQuê.com:
Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông.

tran quang hai en costume
HiềnVy:
Xin cám ơn Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Quang Hải đã cho phép HiềnVy và ThụyMai làm chương trình đặc biệt này cho các em thanh thiếu niên. Nếu quí thính giả hay các em muốn đọc thêm hay tìm hiểu thêm về Tiến sĩ TrầnQuang Hải và những công trình nghiên cứu Văn Hóa và Âm Nhạc của anh, thì xin vào những website sau đây:
http://honque.com/PhongVan/pvTQH/.htm
http://www.vietnhac.org/baivo/thotho-tqh.html
http://tranquanghai.info

https://tranquanghai1944.wordpress.com

http://tranquanghaidanmoivn.wordpress.com

http://haidiphonie.wordpress.com

http://facebook.com/tranquanghai

hay trên google.com , gõ chữ “trần quang hải” thì sẽ đọc hàng trăm nghìn bài về Trần Quang Hải

 

 

LÊ TRUNG TÍN : Vua muỗng Việt Nam và thế giới: kỷ lục gia Trần Quang Hải, VIETNAM


LÊ TRUNG TÍN : Vua muỗng Việt Nam và thế giới: kỷ lục gia Trần Quang Hải

Vua muỗng Việt Nam và thế giới: kỷ lục gia Trần Quang Hải
(Kỷ lục) – Dầu ở độ tuổi 68 nhưng trông kỷ lục gia Trần Quang Hải còn rất trẻ qua phong cách tiếp chuyện với chúng tôi tại một ngôi nhà trên đường Lý Chính Thắng, quận 3, TP. HCM, nơi ông trú ngụ trong chuyến về Việt Nam để dự hội nghị đờn ca tài tử và chương trình hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 do Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam tổ chức tại khách sạn Rex…

Từ Pháp bay về Việt Nam, “vua muỗng” Trần Quang Hải xuất hiện lần đầu tại hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 đã lập tức gây nên ngạc nhiên và thu hút cả khán phòng chú ý theo dõi màn biểu diễn muỗng có bài bản và độc chiêu của ông. Song có lẽ hôm đó ít người biết về sự nghiệp âm nhạc và các hoạt động nghệ thuật vang bóng của ông ở nước ngoài trong hơn 40 năm qua.

GS.TS Trần Quang Hải biểu diễn nghệ thuật gõ muỗng

Bắt đầu từ gốc tích và gia cảnh, theo chúng tôi tìm hiểu và được biết “vua muỗng” Trần Quang Hải là hậu duệ đời thứ năm của nhạc sĩ cung đình Huế: Trần Quang Thọ (1830-1890), hậu duệ đời thứ tư của danh cầm đàn tỳ bà: Trần Quang Diệm (1853-1925), cháu nội tác giả chế ra cách lên dây đàn Tố Lan cho đàn kìm là nhạc sĩ Trần Quang Triều (tức Bảy Triều 1897-1931), là con trai của GS TS nhạc sĩ Trần Văn Khê và là chồng của nữ danh ca Bạch Yến. Ca sĩ Bạch Yến vốn là một trong vài nữ ca sĩ Việt Nam hát nhạc ngoại quốc đầu tiên và nổi tiếng qua nhạc phẩm Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương.

Về đường học vấn, “vua muỗng” là cựu học sinh Pétrus Ký – Sài Gòn (1954-1961), tốt nghiệp Trường quốc gia âm nhạc Sài Gòn, sang Pháp học đại học Sorbonne về văn học và dân tộc nhạc học, lấy chứng chỉ Anh văn ở đại học Cambridge (Anh 1964), Cao học dân tộc nhạc học trường Cao đẳng khoa học nhân văn (Paris 1968), nhận danh hiệu Giáo sư nhạc cổ truyền trong kỳ thi do Bộ văn hóa Pháp tổ chức (Paris 1969), tiến sĩ dân tộc nhạc học (Pháp 1973)… chừng đó cũng chứng minh những kiến thức vững chắc và uy tín, vị trí của ông trong lĩnh vực âm nhạc.

Về quá trình giảng dạy, hơn 40 năm qua ông là nhà dân tộc nhạc học, giáo sư đàn tranh và là giảng viên đại học tại nhiều trường đại học ở Pháp, Đức, Mỹ, Nam Phi, Úc, Philippines, Hàn Quốc, Nhật, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Hà Lan, Na Uy, Tây Ban Nha, Brasil…

Về sáng tác và biểu diễn, với tư cách là nhạc sĩ ông thực hiện 15 đĩa hát (30cm/33 vòng) cộng tác với nhiều hãng đĩa ở Pháp như Le Chant du Monde, Société Francaise de Productions Phonographiques, ở Mỹ như Music of the World, ở Ý như Albatros… Một đĩa compact Rêves et Réalité (Ước mơ và hiện thực), các video về nhạc cổ truyền Việt Nam, đàn nhạc trong 23 cuốn phim thương mại Pháp, tham dự trên 80 đại nhạc hội quốc tế, diễn hơn 1.000 buổi về nhạc dân ca Việt trong các trường học ở Pháp, Bỉ, Na Uy và Thụy Điển…

Về nghiên cứu và biên khảo, ông là tác giả cuốn Âm nhạc Việt Nam xuất bản tại Paris, tác giả trên 200 bài viết về nhạc Việt Nam và châu Á. Ông cũng có viết một số bài trong tự điển nhạc Encyclopédia Universalis phát hành ở Pháp những năm 1984 – 1991, đồng điều hành biên soạn tự điển New Grove’s Dictionary of Music and Musicians xuất bản lần thứ 6 tại Luân Đôn, nước Anh.

Ông cũng là người sáng lập nên Hội đàn môi thế giới với thành viên của trên 30 quốc gia trên thế giới và là hội viên của 14 hội văn hóa nghệ thuật khắp Âu Mỹ như Hội Society for Ethonomusicology (Hoa Kỳ), Société de Musicologie (Pháp), International Musicological Society (Thụy Sĩ), International Association for Sound Archives (Thụy Điển)…

Những soạn phẩm chọn lọc mang hồn Việt của ông có thể nhắc đến bài Nhớ miền thượng du (dùng cho đàn tranh), Tiếng hát sông Hương (đàn độc huyền),Ảo thanh (cho muỗng), Độc tấu đàn môi H’mông (cho đàn môi), Nhịp tấu sinh tiền(cho sinh tiền) và một số ca khúc như Mừng Phật đản, Tân hôn dạ khúc…

Qua hơn 40 năm hoạt động nghệ thuật, đặc biệt là ở nước ngoài, ông đã nhận được 20 giải thưởng quốc tế. Trong đó có giải thưởng có Viện hàn lâm Charles Cros, Viện hàn lâm văn hóa châu Á, tổ chức quốc tế về âm nhạc tại Hoa Kỳ, Canada, Anh… đặc biệt là Huy chương Thủy Tinh (Médaille de Cristal) của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia (Centre National de la Recherche Scientifique – Pháp) vào năm 1996, Huy chương cao nhất của Pháp Hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh(Chevalier de la Légion d’Honneur) năm 2002, Huy chương lao động, cấp bậc Đại Kim (Médaille du Travail, catégorie Grand Or) của Pháp vào năm 2009. Chặng đường hoạt động nghệ thuật của ông ở nước ngoài cũng được nhiều cuốn tự điển đăng tiểu sử và giới thiệu về ông.

GS.TS Trần Quang Hải (bìa phải) nhận bằng kỷ lục Người thể hiện tiết tấu âm thanh đa dạng nhất từ nghệ thuật gõ muỗng

Trong buổi tiếp xúc với chúng tôi nhân dịp đầu năm 2011, ông đã nhắc đến ước vọng của ông là trình diễn 5.000 buổi nhạc Việt, tham gia 100 đại nhạc hội quốc tế (đến nay ông đã dựng trên 80 đại nhạc hội và biểu diễn 1.000 buổi nhạc Việt khắp nơi trên thế giới). Trên thế giới hiện có nhiều nghệ sĩ “đánh muỗng” nhưng hầu như chỉ ở vai trò “phụ diễn” bên cạnh một dàn nhạc, hoặc cạnh một tiết mục nào đó, chứ không biểu diễn riêng thành bài bản như “vua muỗng” Trần Quang Hải. Điều đó đã được thể hiện ở sân khấu khách sạn Rex tại Hội ngộ kỷ lục gia lần thứ 20 nói trên. Với phong cách điêu luyện, tiến sĩ kỷ lục gia Trần Quang Hải đã ra mắt đại gia đình kỷ lục gia Việt Nam cũng như các khán giả yêu âm nhạc có mặt tại cuộc hội ngộ nghệ thuật đánh muỗng với 2 hoặc 4 và 5 ngón tay liên tục 15 phút trong tiếng vỗ tay từng chập… “Vua muỗng” (the King of spoons) cống hiến những bài tự biên và một chuỗi âm thanh khác lạ trong “thế giới muỗng” theo các nhịp điệu của jazz, pop, hiphop, cả những nét bay bướm của flamenco vốn có từ tâm hồn lãng đãng như mây trời của những nghệ sĩ di-gan ngày nọ…

Ẩn Hoa – T.Tín – kyluc.vn

TRỊNH THANH THỦY : BI PHẪN CA , một bài phân tách nhạc Phan Văn Hưng


BI PHÃN CA
Image

Khuôn mặt anh chứa chan cảm xúc, rập rờn âm điệu. Thính giác khán giả căng, dãn, đàn hồi, nhảy múa theo hấp lực của từng làn điệu, lời ca. Những ca từ hiện thực, tả chân cuộc sống con người đang ở đáy địa ngục. Những truyện ca có thật tạo năng lực cấu nhoi nhói tim đỏ người nghe. Nếu mỗi người là một cá nhân khác biệt có nhiều điểm khó hoà hợp, thì phút giây hiện tại này, mức đồng cảm giữa người và người ở khán giả đang lên cao nhất. Mọi vật rơi vào thể tĩnh của bất động ngoại trừ anh. Những đôi mắt không kịp nháy, tụ hội về vóc hình người đàn ông có dáng dấp thư sinh. Thế rồi bất chợt họ hiểu ra bài hát đã đến hồi dứt. Tiếng chuyển động rào rào của những bàn tay vỗ nhất loạt oà lên bao vây lấy hội trường, phủ lấp hình hài nhỏ bé của người đàn ông đang ngồi ôm đàn ấy. 

Anh cúi chào khán giả với một phong thái nho nhã, điềm đạm. Anh, Phan Văn Hưng, đến từ Úc, đem tiếng hát, dòng nhạc trải dài khắp vòng quay trái đất. Nơi nào mời anh, anh đến, nơi nào đón anh, anh lại. Anh giản dị, chân tình, nhẹ nhàng, thư thái, nhưng khi cây đàn được đặt vào vòng tay bồng bế, nó biến anh thành một con người khác. 

Nhắc đến Phan Văn Hưng người ta không nhắc đến một giọng hát điêu luyện, trầm ấm hay đằm thắm mà người ta tưởng tượng ra được một giọng hát thấm đẫm chân thật, xoáy sâu chọc thủng bức tường trái tim con người. Chúng ta cảm được cái hay của nó nhưng không phân tích được tại sao. Bởi anh hát từ tim nên tim ta và tim người giao cảm. Giọng anh không thể lẫn với bất cứ giọng hát nào khác vì anh có một phong cách rất riêng trong lối nhả chữ. Kỹ thuật luyến láy chữ của anh phải nói là “được tinh luyện và rất khác biệt’. Một phong cách rất “Phan Văn Hưng”. Vả lại khi anh hay bất cứ ai hát loại nhạc của anh sáng tác, người ấy không cần một giọng hát thiên phú thật hay mà chỉ cần hát thật có hồn, hát bằng tất cả trái tim của người ấy. 

Phan văn Hưng không những mang giọng hát của mình đến với khán thính giả khắp nơi ở hải ngoại mà anh còn đem dòng nhạc rất đặc biệt của mình gieo rải bất cứ nơi nào người nghe muốn nghe. Nhạc của anh phần lớn là phổ thơ nhưng anh nổi tiếng đầu tiên ở những ca khúc chính anh viết như “Bạn bè của tôi”, sau này là “Bài ca tuổi trẻ”, “Dìu nhau”, “Nhớ những dòng sông”….. Thơ anh phổ nhiều nhất của Nam Dao, “người bạn đời” của anh từ những ngày hoạt động trong các phong trào sinh viên ở Paris. Người bạn đời sát cánh bên anh còn chung lưng cùng anh trong việc sáng tác. Có khi anh phổ thơ Nam Dao, có khi anh viết dựa trên lời thơ ND, rồi từ đó viết cả ca từ và nhạc. Có lúc anh viết cả hai nhưng ND sửa lời và góp ý. Cũng có một vài bài ND viết cả nhạc lẫn lời, anh sửa nhạc. 

Ngoài ra anh phổ thơ của nhiều thi sĩ khác trong cũng như ngoài nước. Mối giao cảm giữa thi sĩ và nhạc sĩ trong một bài thơ phổ nhạc như một hôn ước nhịp nhàng, du dương và hoà điệu. Nhưng không phải cuộc hôn phối nào cũng đẹp đẽ và hạnh phúc. Có những bài thơ hay bị giết chết thê thảm khi được phổ nhạc nhưng cũng có những bài thơ khi được phổ nhạc bỗng trở thành vang danh và bất tử. Theo ý riêng của tôi những bài thơ được anh Hưng phổ nhạc là những đứa con may mắn được đặc biệt ưu ái chạm vào van tim của những người nghe biết mở lòng. 

Phan Văn Hưng biết chọn cho mình một phong cách riêng trong âm sắc cũng như lối soạn nhạc và chơi đàn của mình. Âm Sắc là thứ màu sắc của âm thanh. Màu Sắc đóng vai trò tối quan trọng trong một tác phẩm nghệ thuật của người hoạ sĩ thì đối với nhạc sĩ, Âm Sắc cũng đóng vai trò tương tự. Nó là chữ ký, ngôn ngữ, âm thanh, tính khác biệt, nét độc đáo, tất cả đúc kết thành phong cách của một nhạc sĩ. 

Anh kể cho tôi nghe một thói quen đặc thù khác người. Người chơi guitar classic thường bằng bốn ngón trong khi anh chơi chỉ bằng hai ngón, ngón trỏ và ngón cái. 

Thế hệ ngày mới lớn của anh là những thập niên 60, 70, được nuôi dưỡng bằng dòng nhạc của The Beatles, Simon & Garfunkel, Peter,Paul & Mary và Cat Stevens nên một điều không thể phủ nhận là nhạc anh có mang âm hưởng nhạc Mỹ và dân ca Mỹ(Folk Music). 

Sau này khi ra ngoại quốc anh lại chỉ chơi nhạc Việt Nam, tuy nhiên, vì sống trong một môi trường đa dạng và phong phú ở hải ngoại nên anh biết cách pha chế rồi tổng hợp nên một dòng nhạc riêng cho mình bằng một tinh thần bạo dạn khai phá của người làm nhạc. Tỷ như trong bài “Những đứa bé” có nhiều gam chõi, lạ, và mang âm hưởng jazz và blues. 

Những đứa bé không chiếu chăn/ Nằm lây lất giữa hè phố
Nằm chui rúc nơi những xó tối tăm, rác rưởi.
Những đứa bé trong quán bia/ Em đón khách nơi phồn hoa
………………………………………….. ………
Những đứa bé không cánh tay/ Những đôi mắt không còn thấy
Đời em giam trong ngõ tối/ Hắt hiu, lụt lội
Những đứa bé đi bán rong/ Đạp xe mướn hay lượm rác
………………………………………….. ………..
Một ngày về trên quê hương
Tôi muốn nấc lên đau thương
Tôi muốn khóc cho tủi hờn
Tôi muốn ôm em vào lòng

(Những đứa bẻ/Phan văn Hưng-Nam Dao)

Nói đến PVH người ta nhớ ngay đến bài hát “Bạn bè của tôi”. “Bạn bè của Tôi” không những là nhân chứng của một thế hệ, hai thế hệ mà có lẽ của các thế hệ tiếp nối. Nó không đơn thuần là một bài hát mà là cuốn nhật ký ghi lại sự thật xảy ra ở Việt Nam, không chỉ của một cá nhân mà cả một dân tộc. Nó gắn chặt tên tuổi anh vào nó hay nói ngược lại nó đã khai sáng một PVH, một dòng nhạc mới ở hải ngoại. 

Bạn bè của tôi, 
Từng chiếc lá trong trận bão dân tộc 
Tuổi trẻ đôi mươi bị lãng phí như cỏ rác thôi
………………………………………….. …………………
Bạn bè của tôi 
đi lây lất trong cuộc sống vô vọng
…………………………………………
Ai thấu cho oan khiên này 
Người có lắng nghe…. 
Tiếng ai than dài 
(Bạn bè của tôi/Phan Văn Hưng)

Trong một bài phỏng vấn anh Hưng tâm sự:

Tôi sẽ hát những bài hát đầu tay của Nam Dao và tôi, những bài hát mộc mạc không tham vọng, nhưng cũng là những bài hát đã đánh dấu cuộc đời chúng tôi cũng như của các bạn của tôi. Thời đó chúng tôi đã khóc cho quê hương, cho đồng bào mình, thì ngày hôm nay tiếng khóc đó vẫn chưa dứt. Ngày hôm nay chúng tôi vẫn viết ca khúc, có thể kỹ thuật làm nhạc đã già dặn hơn, đề tài cũng có thể đã thay đổi theo những biến đổi của đất nước, nhưng trong tiếng uất nghẹn chưa nguôi đó, tôi vẫn cảm thấy lòng mình rực lửa vì con đường dân tộc mình đi nhất định sẽ có ngày rực sáng.”

Anh khóc cho quê hương trong ca khúc “Hai mươi năm

“Hai mươi năm, nhiều kẻ gian trong làng xóm 
Người hiền khô mang gông cùm 
Kẻ mộng du lên bạo chúa 
Người ngồi khóc trên sân chùa 
………………………………………….. ……………….
Hai mươi năm, những nụ hoa cho người hái 
Những thể xác cho ai đầy 
Một thầy cô trong nhà chứa 
Gặp trò xưa bỗng khóc òa”

(Hai mươi năm/ Phan Văn Hưng-Nam Dao)

Anh cũng đã khóc cho quê hương khi khúc đầu, khúc trán, khúc tai, hình chữ S bị xẻo ngang ngày đó, bây giờ lần lượt tới Trường Sa, Hoàng Sa: 

“PVH: Làm sao mà không nói cho được về chuyện mất Ải Nam Quan sau hàng chục thế kỷ tổ tiên ta đã giữ vững bờ cõi ở phương Bắc? Đau mất đất chỉ là một, nhưng đau và tủi nhục đối với tổ tiên là mười. Đã hát về đất nước VN ngày hôm nay thì đương nhiên ta phải hát về Nam Quan chứ.”

Ải Nam Quan ơi ta đã mất tên em/ Như một phần hồn tự nghìn năm.
Lòng ta đau như ai đem dao/ Xé nát da non cứa trên thịt gan.
………………………………………….. …………….
Ai đem hình hài/ Giang sơn đọa đày/ Cho thân lìa cành/ Cho cây lìa đất
Cho ta lìa cội/ Như sông bỏ nguồn/ Ta nghe tủi nhục/ Dâng vào lòng”
(Vọng Nam Quan/ Phan Văn Hưng-Nam Dao)

Ba mươi ba năm lưu vong, dòng nhạc Phan Văn Hưng để lại cho kho tàng âm nhạc hải ngoại một dòng nhạc tranh vẽ những thao thức, khắc khoải tâm tư: “Trái tim tôi là bến” phổ thơ Bắc Phong, “Giết một ước mơ” phổ thơ Chế Lan Viên, “Nơi phía bình nguyên” Ý văn Dương Thu Hương, “Kiểm tra” phổ thơ Hà Sĩ Phu, “Khát” ý thơ Thanh Thảo, “Ai trở về xứ Việt” thơ Minh Đức Hoài Trinh. Dòng nhạc truyện kể những mảnh đời bi thảm của “Bài ca cho bé Thảo” phổ thơ Nam Dao, “Em bé và viên sỏi” phổ thơ Trần Trung Đạo, “Em bé lên 6 tuổi” phổ thơ Hoàng Cầm, “Bậu”, “Con bé nhà quê” phổ thơ Thái Sơn, “Tiễn em rời K18”…. và còn nhiều nữa. Anh bắt đầu sáng tác từ năm 1970 cho tới nay, 38 năm anh có tất cả là 121 ca khúc. Bấy nhiêu tâm huyết làm nên dòng nhạc Phan Văn Hưng.

Có người gọi dòng nhạc này là nhạc Tranh Đấu. Nghe kỹ lại những CD anh đã phát hành, từ “Sinh ra là người Việt Nam”, “Khát”, “Có phải em chờ mùa Xuân”, “Hai mươi năm”, cho đến “Nơi phía bình nguyên”….người ta không thấy một dấu hiệu nào anh gào thét tranh đấu, đòi cái này, cái nọ. Anh không kêu gọi, ủng hộ, hay tuyên dương cho một chủ nghĩa nào. Người bảo nhạc anh là Hưng Ca.Tôi không thấy anh có ý phục quốc, xây dựng một chính thể khác, đòi làm mới hay ẩn dấu trong dòng nhạc một tư tưởng vùng dậy nào cả. Nhưng có lẽ tác động tranh đấu và phục hưng của nó nảy sinh từ trong tâm thức thính giả sau khi nghe các bài nhạc vạch rõ những áp bức, bất công, lầm than, nên người ta đặt tên cho dòng nhạc này như thế chăng? Kẻ góp ý nhạc anh là Dân Ca. Tuy những dòng nhạc anh viết hầu hết cho người dân lầm than nhưng không thể ghép nó vào dòng nhạc dân gian.

Theo giáo sư Trần Quang Hải, Dân Ca nghĩa là:

“Định nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.

Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nó.
(Trích Dân Ca Việt Nam-Giáo sư Trần Quang Hải)

Nét bi ca và phẫn uất rực lên trong dòng nhạc. Riêng tôi, tôi nghĩ chúng ta nên gọi dòng nhạc này là “Bi phẫn ca” thì đúng hơn. Chữ “Bi” ở đây có thể hiểu là buồn vì cái buồn của người khác và khổ vì cái khổ của người khác.

Bàng bạc trong những ca khúc của anh điều nguời ta phát hiện nhiều nhất, rõ nhất là tính nhân bản của con người. Nghệ sĩ thì nhạy cảm. Họ nhìn thấy trước cái thiên hạ thấy, cảm trước cái thiên hạ cảm. Nên anh cảm và thấy cái khổ đau, thống thiết, bất công, tàn nhẫn, ngược đãi, nghèo đói, bạo lực, lầm than, áp bức, tù tội… nhan nhản trên đất nước Việt Nam từ thời điểm 1975 cho đến nay. Sự nhạy cảm cấu mềm sự tích cực, lúc ấy người ta chỉ thấy toàn tiêu cực. Khi nước mắt người nghệ sĩ nhỏ xuống cung bậc sẽ lên ngôi. Dòng nhạc hát cho người dân, hát cho đồng bào tôi ra đời. Hầu hết các ca khúc của anh viết cho quần chúng, đối tượng của anh phần lớn là trẻ thơ, người nghèo, anh bạn tù, những thân phận bị vùi dập, những cay đắng, thống khổ triền miên mà những kẻ yếu không thể nói hay không có cơ hội nói lên được. Anh không bao giờ nghĩ rằng chính mình mang sứ mạng của một người đánh chuông, nhưng dòng nhạc thay anh gióng tiếng chuông tỉnh thức tới mọi nơi, mọi nhà, viết dùm, nói dùm nỗi uất ức của những người không nói được. Những nét chấm phá bi thảm cuộc sống ấy pha màu cho những bức tranh màu xám, đầy gai, bấu rách màng tim người nghe. Dòng nhạc vô tình chuyên chở được nhu cầu được nói của kẻ yếu trong cái hữu tình của người soạn nên ca khúc.

Tất cả sự việc vô tình và hữu tình ấy tình cờ kết duyên tao ngộ làm nên dòng nhạc “Bi Phẫn Ca” của Phan văn Hưng.

Trịnh Thanh Thủy
Em bé Việt Nam và viên sỏi – Phan Văn Hưng, thơ: Trần Trung Đạo

https://www.youtube.com/watch?v=M6l5WPMJYH4

Phan Văn Hưng – Bạn Bè Của Tôi

https://www.youtube.com/watch?v=0rKYO0G_Fzs

Phan Van Hung -Trái Tim Tôi Là Bến

https://www.youtube.com/watch?v=FK6GXwSYOi4

Phan Văn Hưng – Chúng đi buôn

https://www.youtube.com/watch?v=UZ9VSnFs4l4

Bài Ca Tuổi Trẻ – Phan Văn Hưng (Asia Video 40)

 

 

PHẠM ANH DŨNG : NHẠC PHAN VĂN HƯNG


Nhạc Phan Văn Hưng
NhacSi-PhanVanHung
 
Nếu em nghe qua bài hát này:
Trái tim tôi là bến:

Phan Văn Hưng là một tên tuổi mới lạ trong làng âm nhạc Việt Nam, tuy anh đã hoạt động từ lâu. Anh Hưng, sinh năm 1950 tại Hà Nội, 1954 vào Nam, xa rời đất mẹ Việt Nam từ 1968.

Anh du học và tốt nghiệp về Kỹ Sư Hầm Mỏ và Cơ Khí ở Pháp. Trước khi rời Pháp để định cư tại Úc, Phan Văn Hưng đã sinh hoạt với Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris. Trong suốt 10 năm sinh sống ở Pháp, ngoài những sáng tác và trình diễn âm nhạc, anh còn là sáng lập viên của “Văn Đoàn Lam Sơn” và của tờ báo “Nhân Bản”, một trong những tờ báo Việt ngữ phổ biến rộng rãi ở Âu Châu.

Nhạc Phan Văn Hưng là một nét chấm phá khác thường, chưa thấy bao giờ trong âm nhạc Việt Nam.

Đã khoảng một phần tư thế kỷ hoạt động âm nhạc, với hơn 100 bản nhạc, Hưng đã có một con đường, có một hướng đi, khác hẳn những nhạc sĩ khác. Những tác phẩm đã phát hành gồm tập nhạc “Trái Tim Tôi Là Bến” với ba cái CD “Trái Tim Tôi Là Bến”, “Có Phải Em Chờ Mùa Xuân” và “20 Năm”.

Nếu nói nhạc Phan Văn Hưng là nhạc của những tình yêu lứa đôi như nhạc của những nhạc sĩ viết tình ca ngày xưa Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng … hoặc nhạc tình ngày nay của Đức Huy, Trịnh Nam Sơn, Mai Anh Việt, Nguyên Bích… thì là một điều sai lầm lớn lao.

Nhạc của anh, có một phần nào đó, ảnh hưởng loại nhạc tranh đấu, nhưng không hoàn toàn “lớn giọng” như vậy, dù là tác dụng có thể sâu đậm hơn nhiều.

Hãy tạm thử so sánh với “nhạc phản chiến” của Trịnh Công Sơn ngày xưa (ở đây không bàn đến những bản “tình ca” của Trịnh Công Sơn). Một điều khá rõ ràng, “nhạc phản chiến” Trịnh Công Sơn lời lẽ thường mơ hồ, ám chỉ, chứ không bàn thẳng vào sự việc và nhạc Phan Văn Hưng thường từ những bài thơ diễn tả những sự kiện có thật. Có lẽ cả hai loại nhạc đều có thể gây ảnh hưởng, xúc động mạnh đến người nghe, nhưng hai nhạc sĩ đã có hai con đường, có hai mục đích, hai lý tưởng trái ngược hẳn với nhau.

Nhạc của Phan Văn Hưng, hình như đa số là những bức tranh xã hội, mờ ảo nhưng có thật. Những bức tranh màu đen, những hình ảnh cực tối của những con người Việt Nam điển hình, những người thật. Những người Việt trong nhạc của họ Phan là những nhân vật có thật, họ đã chết tuyệt vọng, hay họ đang và sẽ bám víu vào tương lai mờ mịt…

Nhạc Phan Văn Hưng cũng có những người Việt đang sống sót một cách trầm, hùng, anh dũng… trong trận cuồng phong phủ kín bao tối tăm của nước Việt Nam, sau những ngày cuối của tháng Tư Đen 1975.

Đây cũng còn là tâm sự của những người Việt ly hương, những người đã phải đau đớn bỏ lại một đất nước đen tối, bỏ lại gia đình, tài sản, bỏ lại bạn bè trong những trại học tập, những trại tù, những địa ngục của nhân loại:

https://www.youtube.com/watch?v=MeJpDmawAeQ

Phan Văn Hưng hát bài “Ai trở về xứ Việt” do Hưng sáng tác, video clip năm 2009

“… Ai trở về xứ Việt
Nhắn giùm ta, người ấy ở trong tù
Nghe đâu đây vang giọng hờn rên xiết
Dài lắm không, đằng đẳng mấy mùa Thu
Ai đi về xứ Việt

Thăm dùm ta người ấy ở trong tù
Cho ta gửi một mảnh trời xanh biếc
Thay dùm ai màu trời ngục âm u
Các bạn ta ơi, bao giờ được thả
Đến bao giờ ăn được bát cơm tươi
Được lắng nghe tiếng chim cười
Đến bao giờ, đến bao giờ?…”
(Ai Trở Về Xứ Việt/thơ Minh Đức Hoài Trinh-Nhạc Phan Văn Hưng)

Phan Văn Hưng đã viết lên những “thương khúc” rất cảm động về các đồng bào ở trong và ngoài nước. Anh viết về những con người có cùng một tiếng nói, cùng một mầu da vàng, cùng một lịch sử Lạc Hồng như anh.

Niềm đau của những người Việt khốn khổ còn ở lại Việt Nam, hay những di dân gốc Việt mất nước, phải lang thang khắp tứ xứ, năm châu là niềm đau của Phan Văn Hưng. Và đấy cũng là nỗi đau của Nguyễn Chí Thiện, của Minh Đức Hoài Trinh, của Đinh Tuấn, của Bắc Phong, của Nguyễn Song Pha, của Giang Hữu Tuyên, của Nguyễn Phương Lam, của Nam Dao… là những thi sĩ có thơ được anh phổ nhạc. Và đấy cũng là tâm sự xót xa của tất cả các người Việt Nam khác hãy còn là “Người Việt Nam”.

Bao nhiêu là những mẩu chuyện có thật, của những người không may mắn ở lại Việt Nam, đa số là những bài thơ đã được Hưng viết thành nhạc, để đưa đến hàng triệu người Việt trong và ngoài nước.

https://www.youtube.com/watch?v=lIEop0GQS3A

Phan Văn Hưng hát bản “bài ca cho em bé Thảo” (video clip năm 2008)

“Bài Ca Cho Em Bé Thảo”, nhạc Phan Văn Hưng phổ vào thơ Nam Dao, là một thương khúc cảm động. Em bé Thảo bệnh nặng, được cha mẹ đem vào nhà thương. Bị bỏ quên, mãi sau một bác sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa mới đến kê toa thuốc, nhưng cho biết “nhà thương không có thuốc”. Cha mẹ vội mượn tiền hàng xóm ra chợ trời, mua được thuốc, đem vào nhà thương, nhưng bé Thảo… đã lìa đời! Nhà nghèo, phải cưa chiếc bàn cũ long chân đóng đinh làm quan tài. Cha đạp xe lọc cọc chở áo quan ra nghĩa trang. Mẹ chạy theo cầm giữ chiếc quan tài nhỏ bé. Còn có gì đau đớn hơn hình ảnh này?

Nhưng, không phải chỉ có dân chúng miền Nam Việt Nam mới khổ. Những người dân ngoài Bắc còn có thể xấu số hơn. Những người theo kháng chiến ngày xưa cũng có những cay đắng, những hờn tủi không thể nói ra được. Họ Phan đã giúp họ và viết thành những lời nhạc chua xót.

Đó là nội dung một số bài hát như “Bậu” (thơ Bắc Phong-nhạc Phan Văn Hưng). Bậu là tên một thôn nữ đẹp và thích làm dáng, ngay cả sau khi gia nhập kháng chiến. Ngờ đâu, cái chết tức tưởi của người yêu khiến Bậu không còn là Bậu ngày xưa nữa.

Rồi đến bài “Có Phải Em Là Em Bé”, thơ Nguyễn Chí Thiện-nhạc Phan Văn Hưng. Thi sĩ của “Hoa Địa Ngục”, Nguyễn Chí Thiện, đã kể chuyện một em bé có cha bị ở tù đã hơn mười năm. Mẹ em bé, buộc lòng phải lấy một bí thư đảng nơi mẹ công tác. Còn em, còn em bé đáng thương chỉ mơ có được một đôi dép, chỉ mơ được đi học. Và đau đớn thay em, ngây thơ, lại mơ được trở thành thiếu nhi… quàng khăn đỏ!

Những câu chuyện thương tâm như vậy. Những câu chuyện xã hội tưởng chừng như nối tiếp nhau trong những bài hát tràn đầy những khổ đau, triền miên, bất tận… tưởng như không bao giờ có thể hết được những khổ sở, những chua cay.

Hãy cùng ngậm ngùi trong câu chuyện của hai em bé nhỏ, vẫn còn trong tuổi vô tư, đi tát dầu cặn nổi lềnh bềnh trên nước sông Sàigòn, gần xưởng Ba Son, lọc lấy dầu bán, để làm kế sinh nhai. Thằng bé anh, tuổi mười ba, đã bị gục ngã dưới làn đạn AK của Công An. Thằng bé em khóc ngất, ôm anh mình đã chết, máu nhuộm đầy người. Mọi người chắc phải có một cảm giác ớn lạnh ở xương sống khi nghe bài thơ nhạc sau đây:

https://www.youtube.com/watch?v=Xv4JoX9IUxI

Phan Văn Hưng hát “20 năm” và “Thằng bé tát dầu” do Hưng sáng tác

“… Tôi muốn hát cho thằng bé nước Việt
Chết như một kẻ thù vô danh
Phản động chăng hay là đế quốc?
Biết đâu rằng chỉ chủ nghĩa giết em!
Bé tát dầu, thằng bé tát dầu!
Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son
Thằng nhỏ chết với đôi mắt mở trừng
Trên giòng sông sóng gợn rưng rưng”
(Thằng Bé Tát Dầu/ý Nguyễn Song Pha – nhạc Nam Dao và Phan Văn Hưng)

Thật là đau thương: “Thằng nhỏ chết với đôi mắt mở trừng” làm cho giòng sông phải “rưng rưng” nước mắt!

Nhạc Phan Văn Hưng nhiều chuyện buồn. Nhưng không những chỉ kể lể những chuyện buồn như vậy đâu. Anh còn cho thấy có những hy vọng.

Trong một cuộc biểu tình tranh đấu cho Tự Do Nhân Quyền, tại một công trường ở Paris, Nam Dao và Phan Văn Hưng đã tình cờ bắt gặp những giọt lệ trên đôi má nhăn nheo của một người Mẹ Việt Nam. Giọt nước mắt của người mẹ già có mái tóc bạc phơ, tay cầm lá cờ vàng ba sọc đỏ, đã là cảm hứng cho bài hát “Giọt Nước Mắt Của Mẹ”. Bài hát này đã cho những giọt nước mắt của Mẹ là những giòng suối man mác tình người, niềm kiêu hãnh của 4000 năm Con Rồng Cháu Tiên, niềm hy vọng một ngày sẽ có ánh sáng ban mai. Giọt nước mắt của Mẹ sẽ là những dòng sông cuồn cuộn lên, là những thác nước đổ dồn dập ập xuống để phá tan gông cùm, xiềng xích.

Ba cái CD của Phan Văn Hưng rất giản dị. Anh Hưng hát tất cả. Cũng có đủ những nhạc cụ như tây ban cầm, dương cầm, vĩ cầm, trống… tuy nhiên, đa số phần hoà âm khá đơn giản do chính anh thực hiện.

Nhưng nghe “thấm” nhiều. Nghe thấm thía nhiều lắm!

Giọng hát của Phan Văn Hưng không phải là để hát tình ca. Giọng hát của anh, không thể điêu luyện như Anh Ngọc, không ấm áp và không ngọt ngào đằm thấm như giọng ca Duy Trác và cũng chẳng có cái ngang tàng nhưng ru hồn người của tiếng ca Tuấn Ngọc. Hưng cũng không có giọng hát thính phòng opéra của Vũ Anh, của Đoàn Chính.

Nhưng nghe Hưng hát, hát một cách mộc mạc và chân phương, người nghe sẽ thấy tiếng nói xoáy sâu vút lên từ đáy lòng, thấy những rung động của con tim người nghệ sĩ.

Có những lúc, tiếng nói người nhạc sĩ là những lời ao ước được góp phần vào công cuộc tranh đấu, giải phóng dân tộc. Không phải là những lời hô hào, những lời ồn ào…nhưng trống rỗng. Đây là tiếng nói từ tim, từ xương máu. Đây như là những lời chúc tụng, những câu nguyện cầu, đã và đang dìu những cánh buồm rách nát trong cơn bão tố đến bờ bến của Tình Thương. Bởi vì, từ mỗi một dập vùi sẽ nẩy ra một niềm tin. Bởi vì, từ mỗi một gục ngã sẽ đem lại một chí quật cường. Để làm gì? Để cho bạo lực, để cho dối trá ngày hôm nay được thay thế bởi lòng bao dung và chân lý của Tình Người:

https://www.youtube.com/watch?v=uBqsOvw4mic

Phan Văn Hưng hát bản “Trái tim tôi là bến” (video clip năm 2008)

“Buồm của anh rách nát
Bởi bao đợt sóng nhồi
Thì xin anh hãy vá
Bằng những miếng da tôi
Ngòi của anh đã gẫy
Hãy mài trên xương tôi
Chấm máu tôi mà viết
Về lương tâm con người
Dù đêm trăng không lên
Nhưng mắt trẻ là sao
Trái tim tôi là bến
Xin anh cứ bơi vào…”
(Trái Tim Tôi Là Bến/thơ Bắc Phong-nhạc Phan Văn Hưng)

Một thi sĩ được Phan Văn Hưng phổ thơ thành nhạc nhiều nhất là Nam Dao. Không thể tránh được, vì Nam Dao cũng là người bạn đường, đã chia sẻ cùng Phan Văn Hưng hàng chục năm đời. Nhưng, hình như cũng chính vì vậy, anh đã “cảm” được thơ Nam Dao, “cảm” hơn thơ của tất cả mọi người khác. Những khúc hát anh viết vào thơ Nam Dao, thật phải nói là đến mức độ tài tình.

Một bài ca, có thể làm người nghe rung động đến tuyệt đỉnh, và dễ “thấm”, dễ phải rưng rưng nước mắt là bài “Nếu Em Nghe Bài Hát Này”. Bản nhạc chắc phải là hòa hợp tuyệt diệu nhất của đôi uyên ương tài hoa Nam Dao và Phan Văn Hưng. Thoáng nghe cung điệu như là một bản tình ca. Nhưng không phải vậy! Không phải như vậy đâu! Đây không là một bản tình ca lứa đôi mượt mà. Đây là bài thương ca rên xiết, hấp hối từ trong ngục tù đen tối, gửi ra ngoài về cho người vợ, cho đứa con… Đây là lời vĩnh biệt của một người đang chết thảm khốc trong ngục tù. Bài hát để gửi đến những người tuy ở ngoài tù, nhưng cũng đau khổ trần ai. Vì người còn lại sẽ không bao giờ gặp lại được người tình, sẽ không nhìn thấy được người chồng yêu dấu. Vì người còn sống sót sẽ không thể gặp, dù chỉ một lần, để được biết mặt ai là người cha kính yêu của mình:

“Nếu em nghe qua bài hát này
Thì anh đã khuất theo rặng đường mây
Nếu em nghe những lời giã từ
Thì xin đôi mắt ngưng đọng mùa Thu
Tình anh ao ước trao muôn ngàn gió
Gởi bao trăn trối trong cơn mù xa
Giờ anh thoi thóp giữa gian ngục tối
Nào được thoát ly tâm hồn bay xa…
Nếu con nghe qua bài hát này
Thì con sẽ biết cha mình là ai
Nếu có đi qua vùng nước lầy
Mộ cha nằm đó trái tim nằm đây”
(Nếu Em Nghe Bài Hát Này / Thơ Nam Dao – nhạc Phan Văn Hưng)

pham van hung bis

Năm 1997, Phan Văn Hưng và Nam Dao, qua tập nhạc “Trái Tim Tôi Là Bến” được Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Khánh Việt Nam do Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam trao tặng.

Tháng Ba, 1999
Santa Maria, California, USA

Phạm Anh Dũng