HOÀNG KIM : Gia đình nghệ thuật kỳ nữ Kim Cương: Cô đào hát bội lọt mắt xanh vua Thành Thái


Gia đình nghệ thuật kỳ nữ Kim Cương: Cô đào hát bội lọt mắt xanh vua Thành Thái

Đã 10 năm NSND Bảy Nam qua đời (2004), để lại nỗi tiếc thương khó phai trong lòng NSND Kim Cương – con gái bà –  và người hâm mộ. Để tưởng nhớ cây đại thụ của cải lương và kịch nói miền Nam, chúng tôi xin phác họa những ngày tháng quang vinh trong dòng họ nghệ thuật của bà.

 

 Cô đào hát bội lọt mắt xanh vua Thành Thái 1
Ảnh vua Thành Thái trên bàn thờ gia tộc tại nhà Kim Cương – Ảnh: Tư liệu gia đình

 

“Nữ tướng” lãnh đạo đoàn hát

Khán giả từng ngạc nhiên và ngưỡng mộ bà bầu Thơ của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga như một “nữ tướng” lãnh đạo đoàn hát thăng hoa, vượt qua biết bao sóng gió. Thì lạ sao, trong dòng họ của NSND Kim Cương hầu như cũng xuất hiện toàn “nữ tướng” như thế, chỉ trừ ông Nguyễn Ngọc Cương, còn lại từ bà cố, bà nội, dì, mẹ và bản thân Kim Cương đều có duyên làm bầu.

Bắt đầu từ bà cố với gánh hát bội lừng lẫy ở vùng Chợ Lớn Sài Gòn. Gánh tên là Phước Thắng, nhưng bà cố tên gì thì nghệ sĩ Kim Cương rất tiếc là không biết được, vì thời gian đã quá xa. Theo lời kể của gia đình mà Kim Cương được nghe từ lúc nhỏ thì bà cố không biết hát nhưng lại mê nghề hát, nên lập gánh để được thỏa chí. Gánh hát bội thời ấy hoạt động sôi nổi vì cải lương chưa ra đời, nên bà cố rất oai phong. Người ta gọi bà là “bà lớn” vì cung cách của bà nghiêm nghị, đi đứng, ăn nói đều ra cái “uy” của người lãnh đạo, như thế mới điều khiển nổi mấy chục con người mà lại toàn là “nghệ sĩ”, có những nét không thể giống như người bình thường. Kim Cương nói: “Hồi đó hát bội thường được chọn để vào đình cúng Ông. Nghi lễ long trọng lắm. Tới giờ cúng, các vị hương chức khăn đóng áo dài chỉnh tề đứng hai bên, nổi 3 hồi trống kèn rồi bà cố xuất hiện, với chiếc áo dài đỏ tay rộng, uy nghi. Bà đốt nhang xong thì từng cặp đào kép dâng từng món lên cúng Ông. Rồi ba ngày ba đêm hát thả dàn không bán vé”. Hình ảnh bà cố chỉ còn lại bấy nhiêu thôi, nhưng cái khí chất ấy còn chảy trong dòng máu con cháu để sau này tiếp tục là những “nữ tướng” cầm đầu những đoàn hát lớn.

Gánh Phước Thắng được truyền lại cho bà nội của Kim Cương, là cô đào Ba Ngoạn. Bà vừa đẹp vừa hát hay vừa có tài lãnh đạo, đổi tên gánh thành Phước Xương, hoạt động mạnh hơn, cất luôn một rạp hát ở Chợ Lớn gọi là rạp Palikao, là rạp hát đầu tiên của Sài Gòn có lầu. Lúc đó người Pháp đã sang Việt Nam, bà Ba Ngoạn hấp thụ văn minh phương Tây, lịch lãm, tân thời, thậm chí bà dám thi lấy bằng lái xe hơi, là người thứ 100, cũng là người phụ nữ duy nhất trong 100 người được Pháp cấp bằng lái xe. Bà còn đào tạo diễn viên trẻ, trong đó có cô đào Năm Nhỏ nức tiếng, sau này thành dâu của bà.

 

 Cô đào hát bội lọt mắt xanh vua Thành Thái 2
Bà Ba Ngoạn – Ảnh: tư liệu gia đình

 

Mối tình với vua

Và một chuyện ly kỳ mà NSND Kim Cương giấu kín cho đến tận bây giờ, vì không muốn mọi người nghĩ mình “thấy sang bắt quàng làm họ”. Đó là chuyện bà Ba Ngoạn lọt vào mắt xanh của vua Thành Thái khi ông đi du ngoạn phương nam. Mối tình ngắn ngủi đó đã sinh ra người con trai Nguyễn Ngọc Cương (ba của Kim Cương).

Vua Thành Thái vốn tâm hồn nghệ sĩ, lãng mạn, nên gặp cô đào Ba Ngoạn tài sắc như thế làm sao ông khỏi rung động. Và bà Ba Ngoạn ắt không chỉ phải lòng vua vì ông “là vua”, mà còn vì những đồng cảm nghệ thuật, những  tiếng cầm tiếng sắt hòa quyện bên chén trà, bên hoa cỏ tri âm… Trong lịch sử vẫn còn ghi, vua Thành Thái rất giỏi hát tuồng (hát bội), thường ngồi đánh trống tuồng thành thạo, thậm chí có khi lên đóng một vai ở Duyệt Thị Đường cho mọi người trong cung thưởng thức. Xem ra như thế cũng không ngạc nhiên khi ông bị tiếng sét ái tình với cô đào hát tuồng lừng danh đất phương nam. Thành Thái còn là người cấp tiến, học tiếng Pháp, học lái xe, nghiên cứu vũ khí Pháp, gặp bà Ba Ngoạn cũng cấp tiến, cũng biết lái xe, lãnh đạo oai phong, quả là đồng điệu. Khi ấy, mối tình của vua với bà Ba Ngoạn được giấu kín, cho đến lúc vua bị đi đày sang đảo Rénion thì càng được giấu hơn nữa. Nhưng sau giải phóng, hậu duệ của vua ở Huế có đi tìm nghệ sĩ Kim Cương để nhận dòng họ, và Kim Cương cũng ra Huế bái lạy lăng tẩm hoàng triều. Nhưng Kim Cương không chịu công khai nhìn nhận, bà sợ người ta nói bà bắt quàng người sang. Cuối cùng, tên bà cũng được ghi vào gia phả, âm thầm suốt mấy chục năm nay. Trên bàn thờ gia tộc tại nhà Kim Cương vẫn có tấm ảnh của vua Thành Thái mặc khăn đóng áo dài, dù không ghi chú chữ gì nhưng Kim Cương nói: “Đó là ông nội tôi”. Và bà trầm ngâm: “Chắc lá rụng về cội. Trong thời gian má tôi dẫn đoàn hát đi diễn từ bắc tới nam thì má tôi lại đẻ tôi đúng ngay cửa Thượng Tứ, Huế. Sau này, khi dòng họ của vua vô tìm tôi thì nhận ra ngay dấu hiệu di truyền của vua là mắt lớn mắt nhỏ, từ cha tôi tới anh em tôi đều có đôi mắt như vậy. Thời gian đã phủ lớp rêu phong lên một chuyện tình, hãy để nó ngủ yên với sự lãng mạn như tấm màn nhung sân khấu khép lại sau một đêm dài”. (Còn tiếp)

Hoàng Kim

>> NSND Kim Cương với niềm vui “7 tỉ đồng”
>> NSND Kim Cương trở lại sau 15 năm: Trả nợ ân tình
>> NSND Kim Cương “như cá về với nước
>> Live show đầu tiên của NSND Kim Cương

 

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140709/co-dao-hat-boi-lot-mat-xanh-vua-thanh-thai.aspx

Sinh hoạt “Đem hát thơ trở lại các thính phòng”, 12 tháng 7, 2014, tại thiền trà Thanh Sơn, TP HCM, VIETNAM


Tọa đàm “Đem hát thơ trở lại các thính phòng” tối 12/07/2014 tại Thiền trà Thanh Sơn (17 Trần Quý Khoách, phường Tân Định, quận 1, Tp.HCM) là sự kiện trong khuôn khổ “Chương trình Việt Nam” của dự án Giao lưu Văn hóa Đông Nam Á tại Việt Nam với sự tham gia của TS. Nguyễn Nhã, các nghệ sĩ trẻ đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ Âm nhạc Dân tộc Hương Sắc Ba Miền (Trung tâm Văn hóa Tp.HCM), đại diện các câu lạc bộ âm nhạc dân tộc và những người có quan tâm tại Tp.HCM.

Chương trình sinh hoạt gồm các nội dung:
Phần 1: Tọa đàm với các nội dung:
– Phát biểu khai mạc về loại hình hát thơ của TS. Nguyễn Nhã, Chủ nhiệm CLB Âm nhạc Dân tộc Hương Sắc Ba Miền.
– Phát biểu về vai trò của hát thơ trong âm nhạc cải lương và bảo tồn và phát triển nghệ thuật cải lương từ kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á của nhà nghiên cứu trẻ Hoàng Sơn Giang.
– Phát biểu kinh nghiệm 18 năm duy trì và phát triển mô hình câu lạc bộ dân ca của Đặng Thanh Tùng, đại diện CLB Dân ca Đại học Kinh tế Tp.HCM.
– Phát biểu về kinh nghiệm xây dựng phong trào dân ca dân nhạc thiếu nhi của cô Trần Bạch Liên (phụ trách đội nhạc dân tộc Bông Sen Trắng, Nhà thiếu nhi Tp.HCM)
– Các phát biểu khác về góp ý xây dựng không gian thính phòng, hình thức phục vụ kết hợp biểu diễn nghệ thuật và những đề xuất hình thành đầu mối liên kết giữa các nhóm hoạt động dân ca theo lứa tuổi và nghề nghiệp…
– Phát biểu tổng kết của TS. Nguyễn Nhã

Phần 2: Giao lưu hát thơ Quốc đạo và Văn hóa Gia đình với sự tham dự của nhà thơ Tôn Nữ Thi Nhơn

Phần 3: Ra mắt nhóm hát thơ đầu tiên tại Tp.HCM do nhiếp ảnh gia Bích Hồng làm trưởng nhóm và Thanh Tùng làm phó nhóm với sự tham gia cố vấn của TS. Nguyễn Nhã, cô Trần Bạch Liên và cô Bùi Thị Ngọc Mỹ. Nhóm sẽ bắt đầu tiến hành các hoạt động nghiên cứu, quảng bá, sáng tác và biểu diễn hát thơ bằng các làn điệu hát thơ trong không gian thính phòng từ ngày 19/07/2014 dự kiến bằng đêm nhạc hát thơ đầu tiên.

Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã tài trợ tặng mỗi đại biểu có phát biểu đóng góp cho tọa đàm một ấn phẩm “Phở Việt (http://hannguyennguyennha.com/an-pham/tu-sach-bep-viet/pho-viet).

Phim tư liệu về tọa đàm xem tại: http://www.hannguyennguyennha.com/am-nhac-dan-toc/quang-ba/172-dem-hat-tho-tro-lai-cac-thinh-phong

Dự án Giao lưu Văn hóa Đông Nam Á là một nhóm hoạt động độc lập phi lợi nhuận về nghiên cứu học thuật và giới thiệu các mô hình giao lưu văn hóa ASEAN hướng tới sự hình thành Cộng đồng ASEAN 2015 và tập trung và những vấn đề quan tâm hàng đầu của người dân ASEAN như hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Tại mỗi nước thành viên ASEAN có một ban liên lạc địa phương của dự án để thực hiện các chương trình với sự hỗ trợ của ban điều phối khu vực. Tại Việt Nam, dự án được sự bảo trợ của Câu lạc bộ Văn hóa Trà đạo Việt và Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã bao gồm hai chương trình chính:

1. “Chương trình Việt Nam” nhằm chuẩn bị cho giới trẻ các kỹ năng giao lưu học thuật ở Đông Nam Á và đặc biệt về kiến thức về văn hóa và âm nhạc dân tộc.

2. “Chương trình Đông Nam Á” nhằm trang bị các thông tin và tổ chức các hoạt động giao lưu học thuật văn hóa với các quốc gia Đông Nam Á dành cho giới trẻ.

Mọi chi tiết liên hệ ban tổ chức qua địa chỉ:

Dự án Giao lưu Văn hóa Đông Nam Á
+84 902 848 163
acep.vietnam@gmail.com
http://www.facebook.com/ASEAN.Cultural.Exchange

Chụp hình lưu niệm với tất cả báo cáo viên và người tham gia tọa đàm và giao lưu hát thơ.
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã Foundation's photo.
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã Foundation's photo.
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã Foundation's photo.
Like · Comment · Share · 23

Tọa đàm “Đem hát thơ trở lại các thính phòng” (phần 1), TP HCM , VIỆT NAM


 

http://www.youtube.com/watch?v=3LM0_9P2FQM&list=PL8nqNFgzfCmNm63I6bkOnwSTMzWeY13CH#t=3968

Mise en ligne le 12 juil. 2014

Tài liệu lưu hành nội bộ của Quỹ Văn hóa Giáo dục Hãn Nguyên Nguyễn Nhã.

Tọa đàm “Đem hát thơ trở lại các thính phòng” tối 12/07/2014 tại Thiền trà Thanh Sơn (17 Trần Quý Khoách, phường Tân Định, quận 1, Tp.HCM) là sự kiện trong khuôn khổ “Chương trình Việt Nam” của dự án Giao lưu Văn hóa Đông Nam Á tại Việt Nam với sự tham gia của TS. Nguyễn Nhã, các nghệ sĩ trẻ đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ Âm nhạc Dân tộc Hương Sắc Ba Miền (Trung tâm Văn hóa Tp.HCM), đại diện các câu lạc bộ âm nhạc dân tộc và những người có quan tâm tại Tp.HCM.

ANH NGỌC – HỒNG NHUNG : “Ông đi con dắt ông đi…”


THỜI SỰChủ nhật, 13/07/2014 10:56

“Ông đi con dắt ông đi…”

Ở độ tuổi xưa nay hiếm, GS Trần Văn Khê vẫn không ngừng cống hiến cho sự nghiệp âm nhạc dân tộc với trí nhớ minh mẫn, tinh thần lạc quan.


>> TƯ VẤN TÂM LÝ – KHÁM BỆNH MIỄN PHÍ TẠI AloBacsi.vn

Bước vào những ngày hè tháng 7 năm nay, GS-TS Trần Văn Khê mừng thượng thọ tuổi 94. Những người ở độ tuổi này đa số chỉ nghỉ ngơi, an hưởng ngày tháng tuổi già. Trái lại, GS-TS Trần Văn Khê vẫn còn làm việc sung sức với tinh thần minh mẫn, trí nhớ tuyệt vời như chỉ đang 49 tuổi.

 

Sáng sớm GS Khê đã thức dậy và ra vườn hít thở không khí trong lành, hưởng chút ánh nắng ban mai, tập khí công rồi vào nhà ăn sáng và theo dõi tin tức thời sự. Đến 8 giờ giáo sư (GS) bắt đầu làm những việc thường ngày: trả lời email, dịch tài liệu tiếng Pháp, viết bài… Đến trưa, GS chỉ ăn cơm, nghỉ ngơi trong 1-2 tiếng, sau đó lại tiếp tục công việc cho đến tận 6 giờ chiều.

 

Có những ngày GS miệt mài trả lời thư từ, viết tài liệu mãi 8-9 giờ tối hoặc bận rộn tiếp khách, tham dự nói chuyện ở nhiều nơi. Gần đây nhất, GS có mặt trong cả 4 ngày của chuỗi chương trình Hội ngộ đàn tranh 2014 tại TPHCM.

e1bChi-Nalam-viec

Một buổi làm việc của GS Trần Văn Khê tại nhà riêng

Ai cũng ngỡ ngàng trước cường độ làm việc của GS nhưng thực ra, sức khỏe của người không còn như xưa bởi đôi tai nghe kém, mắt mờ dần, bệnh tiểu đường khiến GS phải đo đường huyết và tiêm insulin mỗi ngày. Tim cũng không khỏe, mỗi ngày phải uống thuốc đều đặn và khám sức khỏe định kỳ hàng tháng, hàng tuần. Lại thêm đôi bàn chân sưng to, đau nhức…

Nhưng dẫu đau nặng thế nào, GS vẫn luôn tươi cười rạng rỡ, vẫn say sưa ca hát và vỗ nhịp theo tiếng đàn tranh, đàn kìm. Trò chuyện cùng các môn sinh, GS nêu cao tinh thần lạc quan: “Hôm nay thầy đau nhiều, đau nhiều nhưng chưa chết. Mờ con mắt chưa hẳn là mù, thầy mừng vì mắt mờ mà vẫn còn nhìn thấy. Không đọc được thì có người khác đọc giùm cho nghe, không nghe được thì có máy trợ thính giúp. Thầy không bao giờ tuyệt vọng, mình phải thích nghi với hoàn cảnh của mình”.

 

Triết lý sống giản dị, chấp nhận thực tế giúp GS Trần Văn Khê giữ tinh thần thoải mái và trí nhớ minh mẫn làm việc liên tục suốt ngày này sang ngày khác dẫu tuổi đã gần đất xa trời. Bên cạnh GS cũng luôn có những người yêu mến, luôn sát cánh cùng thầy.

 

Chi-NaHuong

Chị Mai Hường, thư ký hỗ trợ Thầy Khê sắp xếp giải quyết công việc hàng ngày

Chi-Nabai-tho-22

Bài thơ ứng tác của GS Khê trong dịp sinh nhật của mình được chị Mai Hường chép lại

 

Thầm lặng bên cạnh giúp GS Trần Văn Khê giữ sức khỏe ổn định và làm việc mỗi ngày là chị giúp việc Nguyễn Thị Na, chị thư ký Mai Hường cùng các môn sinh. Từ năm 2007, mỗi ngày chị Mai Hường cùng giáo sư trả lời email, thư từ liên lạc, tỉ mỉ sắp xếp công việc giấy tờ rõ ràng, khoa học để lưu trữ và sử dụng.

 

Đặc biệt, những ghi chép công việc hàng ngày của GS Khê do chị Hường phụ trách lưu lại rất nhiều tư liệu quan trọng mà sau này khi có dịp công bố rộng rãi, mọi người sẽ hiểu hơn về sức làm việc bền bỉ, cống hiến không mệt mỏi của GS trong những năm tháng cuối đời tại Việt Nam cho sự nghiệp bảo tồn nghệ thuật truyền thống dân tộc.

 

Và không thể không nhắc đến sự chăm nom tận tình của chị Nguyễn Thị Na, người túc trực bên GS suốt ngày đêm. TS. Trần Quang Hải, con trai GS. Trần Văn Khê cho biết: “Na là người giúp việc của ba tôi từ năm 2005 sau khi ông trở về định cư hẳn ở Sài Gòn năm 2004. Thuở ban đầu Na chỉ là người lo việc nấu nướng và dọn dẹp phòng. Khi ba tôi bắt đầu đi đứng khó khăn và không thể tự mình lo việc vệ sinh, Na là người kiểm soát thuốc men hàng ngày, đẩy xe lăn đưa ông đi khắp nơi hội thảo, thuyết trình, thăm bạn bè từ Nam chí Bắc…”

chi-NaTiec-Tan-Nien-32

Chị Na quán xuyến việc nhà và săn sóc từng bữa ăn, giấc ngủ của GS Khê

 

Những món ăn ngon phù hợp với khẩu vị và bệnh tình của GS do chị Na chế biến chứa đựng tình cảm kính yêu của cô cháu gái với người ông. Vì vậy, GS Khê thương quý Na như con cháu trong nhà: “Na không phải là cật ruột của tôi mà còn hơn người cật ruột, bởi Na ở gần giúp đỡ tôi 24 giờ mỗi ngày. Na vừa là một người nấu ăn, một người y tá lo thuốc men, một người thư ký liên hệ, nghe telephone, đẩy xe lăn cho tôi đi chỗ này chỗ kia, một người quét dọn nhà sạch sẽ và săn sóc tôi hết sức tận tâm. Thí dụ Na thương mẹ rất nhiều, mỗi ngày Na gọi điện thăm mẹ luôn luôn. Nhưng có mấy lần Tết tôi cho tiền mua vé xe lửa cho Na về quê thăm mẹ nhưng đến sân ga Na lo lắng không ai chăm sóc tôi nên bỏ vé quay lại. Mỗi khi tôi bệnh, Na săn sóc mà không thấy bệnh bớt thì buồn rầu, lo lắng”.

 

Tấm lòng chân thành của chị Na còn được thể hiện qua những bài thơ, bài hát do chị tự sáng tác như:

 

Ông tôi biến chứng tiểu đường

Sưng chân mờ mắt đâu thấy đường mà đi

Ông đi con dắt ông đi

Tinh thần sảng khoái có gì vui hơn.

 

Chi-Nabua-com

Bữa cơm trưa của GS Trần Văn Khê do chị Na chế biến

 

Chi-NaBen-Tre

Chị Na luôn đồng hành cùng giáo sư Khê trong mọi sự kiện (ảnh chụp tại festival Dừa Bến Tre 2012)

 

Ở độ tuổi xưa nay hiếm, ngọn lửa nhiệt huyết của GS Trần Văn Khê với sự nghiệp âm nhạc dân tộc vẫn bùng cháy mạnh mẽ. Dù thân mang trọng bệnh suốt bao năm nay nhưng GS không ngơi nghỉ một ngày nào, luôn là tấm gương để lớp trẻ noi theo. Tiếp sức cho ngọn lửa của GS liên tục cháy bền bỉ là sự chăm sóc lặng thầm của chị Na, chị Hường mỗi ngày bằng tất cả tình thương yêu, vì chỉ có tình thương mới đem lại sức mạnh thực sự.

 

AloBacsi.vn

Theo Anh Ngọc – Hồng Nhung

VIỆT HẢI : QUỠN hay HƯỠN


 
Viet-Hai_1Về ý nghĩa, quỡn tức là ”rảnh rỗi, ở không”, là từ ngữ mang ý nghĩa bình dân dân dã của địa phương miền Nam. Nếu nói ”hổng quởn” nghĩa là ”tui hổng có quởn làm ba cái chiện đó đâu nà!”. Chữ quỡn bản thân nó gây ra tranh cãi rất nhiều. Nguyên văn, viết là “hưỡn” nhưng mà người miền Nam hay đọc H thành QU, ví dụ anh Hòang thành anh “Quàng”, hóa học phát âm hay nói thành “quá” học.
Khi đọc chính tả cho con cái ta thì phải phát âm là “huỡn”. “Huỡn” là biến âm của hoãn (ví dụ trì hoãn). Người miền Nam hay nói huỡn đãi với nghĩa là rảnh rỗi, chậm chạp (xem truyện Mối Tình Năm Cũ của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư). Tuy nhiên, khi người miền Nam phát âm thì huỡn hay quỡn hay “quởn”, hay “quởng” thì đều “xêm xêm” như nhau, đều phát âm thành “guởng”. Vì vậy mà nhiều người khi nghe “guởng” thì tự động “dịch” ngược ra tiếng “chuẩn” văn phạm là “quởn” mà không biết rằng huỡn mới đúng chính tả.
 
Chữ “huỡn” là một chữ rất đặc biệt Nam Kỳ Lục Tỉnh. Tự điển Phương Ngữ Miền Nam của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Văn Ái có chữ này, Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của (Quỳnh Tịnh Của có từ ngữ này nhé!).
 
Vì vậy như nói trên “hưỡn” là một từ ngữ vui vui, chữ đặc sệt nam kỳ và không phải là một chữ đứng riêng hoàn toàn với ý nghĩa riêng, mà là chữ nói trại đi từ chữ “hoãn” như chữ “hoãn binh”, “trì hoãn”. Tại sao lại từ “hoãn” mà ra “huỡn” và đọc là “quỡn” hay “quởn” (theo giọng Nam) thì còn nhiều đề tài tranh luận dài dài, như chuyện anh Võ Quang Đạt hỏi thầy Dương Ngọc Sum của môn sử địa năm xưa, giảng bài say mê.
 
 
 
Miền Nam chuyên môn kỵ húy, sợ đọc trùng tên. Thí dụ như ở Mỹ Tho có cổ tự Vĩnh Trường, vì sợ phạm húy tên của vua Minh Mạng đặt mà chùa cói tên Vĩnh Tràng. Số là ở Mỹ Tho có ngôi chùa Vĩnh Trường với ngụ ý mong ước cho chùa luôn được:
“Vĩnh cửu đối sơn hà. Trường tồn tề thiên địa”
Rồi lịch sử truân chuyên do sự phạm húy của vua. Về từ ngữ gọi Vĩnh Trường, phải đổi là Vĩnh Tràng vì có nguồn gốc hi hữu như sau:

Thứ nhất: Do hai câu thơ trên, tên chùa phải là Vĩnh Trường mà đến nay vẫn quen gọi là chùa Vĩnh Tràng, vì người ta kể là ngày xưa do huý kỵ trong bản đế hệ của Nhà Nguyễn. Đó là bốn câu do vua Minh Mạng đặt ra:
 
Miên Hồng Ưng Bủu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thụy Quốc Gia Xuong.
 
(Cũng giống như vậy nên thay vì cầu Trường Tiền ở Huế người ta gọi là cầu Tràng Tiền.) Nhưng dồi trường được miễn gọi là dồi tràng, trường túc bất chi lao được miễn theo nguyên tắc này.
Thứ hai: Trong từ Việt chữ “tràng” gốc nôm chỉ có nghĩa là dài ra, như “tràng hạt”  “tràng pháo” “tràng áo tức là vạt áo”…, chớ không có nghĩa là dài lâu của từ “Vĩnh Tràng”. Còn trong chữ Hán “trường” có ba lối viết khác nhau và ba nghĩa khác nhau như: một là dài lâu trong “trường cữu, trường tồn”, hai là ruột như “tá tràng, trường dịch”, ba là chỗ đất rộng, nơi tụ tập đông người như “trường ốc, công trường”. Người ta có thể đọc tùy tiện là “trường” hay “tràng” tùy theo âm điệu của hai từ ngữ gần nhau chẳng hạn như “trường tồn” mà không đọc “tràng tồn” như “Tràng An” mà ít người đọc “Trường An”. Riêng người miền Nam thường thích phát âm một cách dễ dãi, đơn giản, thoải mái… ”Vĩnh Tràng” nói dễ hơn “Vĩnh Trường” cũng như văn tui xin bổ túuc bằng câu nầy: “Thắng cha nầy nói chiện tràng giang đại hải quá trời!”.
 
Thầy Sum viết:
“Có Em nào “hưởn” ghé qua cho Thầy quá giang với. Thầy cũng có đôi điều cần bàn với các Em. Nhớ thông báo để Thầy chuẩn bị. Thầy SUM”.
 
Câu văn tương đương:
“Có Em nào rảnh ghé qua nhà cho Thầy đi quá giang với nghe. Thầy cũng có đôi điều cần bàn với các Em. Nhớ thông báo để Thầy chuẩn bị. Thầy SUM”.”
Tuy nhiên chữ “quỡn” mang ý nghĩa thân mật hơn, gần gủi hơn trong ý nghĩ riêng tư của người nói với đối tượng của mình.
 
Đôi điều quỡn quỡn tán gẫu…  idle chat.
 
Việt Hải Los Angeles
 
Việt Hải Viết Về Học Giả Trương Vĩnh Ký