Hoa quê hương bừng nở / Chương trình Hoa quê hương lần thứ 52 của CLB Tiếng hát quê hương


Hoa quê hương bừng nở

Báo Phụ Nữ Online – 22/06/2014 17:05

PNO – Chương trình Hoa quê hương lần thứ 52 của CLB Tiếng hát quê hương vừa diễn ra tưng bừng tại Cung Văn hóa Lao Động vào sáng 22/6.

GS.TS Trần Văn Khê – người thầy đỡ đầu của CLB cũng có buổi nói chuyện sâu sắc và dí dỏm với khán giả tham dự. Ông chuyện về những chuyến đi, những cuộc gặp gỡ với người nước ngoài cụ thể là người Pháp, Nhật và Trung Quốc.

Thông qua viện dẫn thuyết phục những tác phẩm dân tộc của Trạng Trình, những câu ca dao tục ngữ, giáo sư đã minh chứng sự đặc sắc phong phú và “giá trị cao” của những công trình văn học, âm nhạc trong nước, đồng thời cung cấp kiến thức quý báu cho những khán giả có mặt. Vì nói như giáo sư – “nếu chúng ta không hiểu biết về văn hóa dân tộc, thì lấy gì để tự hào dân tộc” . Dù tuổi cao sức yếu, trong mọi hoạt động của CLB GS.Trần Văn Khê đều nhiệt thành tham gia và đóng vai trò cổ vũ tinh thần rất lớn cho các thế hệ.


Các em học sinh Trường Phan Đình Phùng – những mầm non từ CLB

Ba tháng một lần, CLB Tiếng hát quê hương tổ chức một mùa “Hoa quê hương”. Được thành lập từ năm 1981 với mục đích bảo tồn phát huy ca múa nhạc dân tộc, đến nay Hoa quê hương đã “trổ” đến mùa thứ 52, ngày càng nhộn nhịp và đặc sắc. Riêng lớp đàn tranh có đến 60 học viên, đa dạng đủ mọi thành phần không chuyên từ học sinh cấp hai cho đến thạc sĩ, “đông hơn cả lớp đàn tranh của Nhạc viện” – như lời nghệ sĩ Hải Phượng, người thầy tận tụy của lớp chia sẻ.


Song tấu Phương Thảo – Phương Linh

Nhiều tiết mục đàn tranh đặc sắc đã được trình diễn trong chương trình. Đó là song tấu Lý lu là – Lý ngựa ô – Lý con sam của đôi nghệ sĩ trẻ Phương Thảo – Phương Linh, hay tốp tấu Lý cây xanh – Bài ca đi học bao gồm những thành viên xuất sắc nhất của lớp đàn tranh… Đây được xem như một cuộc “tổng dợt” những tiết mục hay sẽ xuất hiện trong đêm hội ngộ Đàn tranh 30/6 tới tại Nhạc viện TP.HCM cùng các nghệ sĩ đến từ Pháp, Mỹ…


Tiết mục quan họ Nhất quế nhị lan của nghệ sĩ Thanh Thanh

Tại buổi diễn, nhiều tiết mục ca múa dân tộc cũng được dàn dựng đặc sắc. Chỉ huy dàn nhạc CLB Tiếng hát quê hương – Văn Tấn – độc tấu sáo Mèo ca khúc Xuân về trên bản Mèo của nhạc sĩ Tiến Vượng, ca sĩ Thanh Thanh trình diễn ca khúc dân ca quan họ Bắc Ninh Nhất quế nhị lan


Nghệ sĩ Văn Tấn độc tấu sáo mèo

Như “truyền thống” của CLB, tiết mục Trống Cơm đã kết thúc chương trình biểu diễn của ban Đàn tranh với sự hỗ trợ của các em thiếu nhi và khán giả tại Cung văn hóa.

Bài, ảnh: ĐINH HÀ

HỒNG THI : Lắng nghe hồn dân tộc qua tiếng đàn tranh


Lắng nghe hồn dân tộc qua tiếng đàn tranh

Báo Phụ Nữ Online – 30/06/2014 03:17

PNO – Ngày 2 và 3/7 tới đây, tại Cung Văn hóa Lao Động TP.HCM sẽ diễn ra chuỗi hoạt động giới thiệu tiếng đàn Tranh của nhiều nghệ sĩ Việt từ khắp mọi nơi trên thế giới.

Nghệ sĩ Võ Vân Ánh sẽ có mặt trong chương trình Giai điệu quê hương

Chuỗi hoạt động bao gồm chương trình biểu diễn âm nhạc dân tộc mang tên Giai điệu quê hương sẽ được tổ chức vào 19g30 ngày 2/7 tại Hội trường A của Cung Văn hóa Lao Động.

Tại đây, khán giả có cơ hội được lắng nghe những giai điệu quê hương qua phần trình bày của những nghệ sĩ đàn tranh nổi tiếng như nghệ sĩ Võ Vân Ánh, nghệ sĩ Hải Phượng, CLB Tiếng hát Quê Hương, đoàn ca nhạc dân tộc Hướng Việt và các nghệ sĩ đàn tranh người Mỹ gốc Việt biểu diễn.

Ngay sau đó, chương trình tọa đàm trao đổi kinh nghiệm Phát triển âm nhạc dân tộc và đàn tranh cũng sẽ được tổ chức vào 8g30 sáng ngày 3/7.

Buổi tọa đàm có sự tham gia và trao đổi ý kiến của diễn giả – GS.TS Trần Văn Khê và NGƯT Phạm Thúy Hoan, NSND Phương Bảo, NGƯT Nguyễn Văn Đời, nhạc sĩ Huỳnh Khải, Hoàng Cơ Thụy, Vĩnh Tuấn, Trần Bộ…

HỒNG THI

http://www.baomoi.com/Lang-nghe-hon-dan-toc-qua-tieng-dan-tranh/71/14187364.epi

Nên đưa nghệ thuật đàn tranh vào trường học phổ thông


Nên đưa nghệ thuật đàn tranh vào trường học phổ thông

VOV Online – 05/07/2014 15:52

VOV.VN – Để giữ gìn và phát triển âm nhạc dân tộc, Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê mong muốn bộ môn nghệ thuật đàn tranh sẽ được đưa vào trường học, phổ biến sâu rộng hơn nữa trong cộng đồng.

Trong đời sống văn hóa nghệ thuật Việt Nam, đàn tranh là loại hình nghệ thuật âm nhạc dân tộc được rất nhiều người yêu thích. Tiếng đàn tranh đã trở nên thân thuộc trong tâm thức mỗi người Việt Nam, bởi đó là một phần bản sắc văn hóa và tâm hồn Việt. Ngày nay, nghệ thuật đàn tranh không chỉ được lưu giữ và phát triển trong nước mà đã lan tỏa khắp nơi,ở bất cứ quốc gia nào có cộng đồng người Việt sinh sống.

Trải qua 7-8 thế kỷ du nhập và phát triển, đàn tranh đã được người Việt Nam tạo cho một phong cách đặc thù trong thủ pháp, ngón đàn, thang âm, điệu thức. Và đàn tranh đã trở thành nhạc cụ dân tộc, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt, mang ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam. Đến nay, đàn tranh là nhạc khí hiếm hoi có thể biểu diễn với nhiều hình thái khác nhau như: đàn một mình, song tấu và hòa tấu. Đàn tranh cũng có thể diễn đạt được theo nhiều thể loại, từ nhạc Chèo miền Bắc, ca Huế miền Trung hay tài tử miền Nam.

Nghệ sĩ đàn tranh Nguyễn Thanh Thủy.

Nhà giáo ưu tú, Nghệ sĩ ưu tú Phạm Thúy Hoan cho biết: “Đàn tranh có tiếng nói gần gũi với tiếng nói dân tộc mình. Khi nghe một tiếng đàn tranh, tôi luôn cảm thấy có điều gì đó rất gần gũi.”

Chính nét đẹp của nghệ thuật đàn tranh đã thu hút không ít người tìm đến bộ môn nghệ thuật này. Những người yêu thích đàn tranh hiện nay đều biết đến Thạc sĩ- nghệ sĩ Hải Phượng. Tiếng đàn tranh ngọt ngào, sâu lắng của Hải Phượng có một vẻ đẹp rất riêng. Tiếng đàn ấy đã theo chị qua hơn 20 quốc gia, ở hầu hết các liên hoan, sự kiện âm nhạc lớn. Thông qua đó, đàn tranh đã dần trở nên quen thuộc với bạn bè quốc tế khi nhắc đến nhạc cụ truyền thống của Việt Nam.

“Việc chơi đàn tranh cũng là thể hiện lòng yêu nước. Mình vẫn luôn luôn dạy cho các em là: khi đàn, phải hiểu rằng mình là người Việt Nam, yêu âm nhạc Việt Nam. Lúc các em học, các em từ từ thấm được các giai điệu âm nhạc của Việt Nam và các em yêu nước thông qua những giai điệu âm nhạc dân tộc đó.”, thạc sĩ – nghệ sĩ Hải Phượng tâm sự.

Khi tiếng đàn tranh ngân lên, trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người Việt Nam, hình ảnh đất nước thanh bình, yên ả lại ùa về. Chẳng thế mà, những người Việt xa quê luôn đau đáu một nỗi niềm với âm nhạc truyền thống. Không chỉ nghe hay xem biểu diễn, nhiều người Việt xa xứ còn luôn tìm cách đưa âm nhạc dân tộc ra thế giới mà vẫn giữ được bản sắc Việt.

Một trong số đó là anh Hồng Việt Hải, một bác sĩ Y học cổ truyền ở Seattle, Mỹ, rất yêu đàn tranh. Hơn 10 năm qua, ngoài công việc khám chữa bệnh hằng ngày, anh Hải xem đàn tranh là bạn đồng hành, san sẻ những niềm vui và thực hiện hoài bão gìn giữ âm nhạc truyền thống Việt Nam trên đất khách.

Biểu diễn đàn tranh trong tủ kính. (Ảnh: Việt Hòa)

Anh Hồng Việt Hải đã thành lập câu lạc bộ đàn tranh Hướng Việt với gần 100 thành viên: “Tôi luôn cố gắng truyền tải để các em lớn lên ở hải ngoại có thể biết được ít nhiều về văn hóa của Việt Nam. Nhằm giúp các em có được niềm tự hào hãnh diện về nguồn gốc của dân tộc mình.”

Trên thực tế, để giữ gìn và phát huy giá trị của nghệ thuật đàn tranh nói riêng và âm nhạc dân tộc nói chung là điều không dễ dàng, nhất là với cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Bởi ngày nay, trong nhịp sống hối hả, các loại hình văn hóa, giải trí ngày càng đa dạng, phát triển nhanh, công chúng dễ dàng tiếp cận. Trong khi đó, âm nhạc dân tộc đòi hỏi người thưởng thức phải có thời gian và trong không gian biểu diễn nhất định.

Nghệ sĩ Vân Ánh, người từng biểu diễn tại Trung tâm hòa nhạc nổi tiếng nhất thế giới tại New York, Mỹ và tham gia biểu diễn đàn tranh tại nhiều nơi trên thế giới chia sẻ: “Đối với nghệ sĩ nhạc dân tộc, việc đem nhạc dân tộc ra biểu diễn đáng lẽ ra rất là dễ dàng, bởi đây là cái gốc của tâm hồn người Việt. Nhưng trên thực tế là một điều hết sức khó khăn. Bởi ngôn ngữ của âm nhạc dân tộc tương đối là khó, nó đòi hỏi 1 sự kiên nhẫn, đòi hỏi những người yêu âm nhạc phải có nột sự đầu tư nhất định để làm sao hiểu được và giải mã nó.”

Vì vậy, để giữ gìn và phát triển âm nhạc dân tộc, trong đó có nghệ thuật đàn tranh, Giáo sư – Tiến sĩ Trần Văn Khê mong muốn bộ môn nghệ thuật đàn tranh được đưa vào trường học, phổ biến sâu rộng hơn nữa trong cộng đồng. Có như thế, mỗi người Việt Nam sẽ hiểu hơn, yêu hơn, trân trọng hơn một trong những giá trị của âm nhạc dân tộc. Từ đó, mỗi người đều có thể góp phần duy trì và phát huy những tinh hoa âm nhạc truyền thống./.

http://www.baomoi.com/Nen-dua-nghe-thuat-dan-tranh-vao-truong-hoc-pho-thong/71/14237277.epi

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ : tiểu sử


Giáo sư Trần Văn Khê

 
 
 
Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.
https://tranquanghai1944.files.wordpress.com/2014/08/fbf52-1.jpg

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng”, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

https://tranquanghai1944.files.wordpress.com/2014/08/4046a-gs-khe.jpg

Ra nước ngoài sinh sống từ năm 27 tuổi và đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 55 năm sinh sống tại nước ngoài, Giáo sư Trần Văn Khê quyết định về nước, mang theo 450 kiện hàng chất đầy 1 container, gồm: sách báo, tạp chí, băng đĩa, máy móc, nhạc cụ… mà phần nhiều là những tư liệu quý giá về âm nhạc dân tộc Việt Nam và thế giới.

Tình yêu quê hương

Có một tình yêu rất lớn dành cho âm nhạc dân tộc, đã nhiều lần GS Trần Văn Khê mong muốn về định cư hẳn tại Việt Nam, nhưng ông không thực hiện được chỉ vì một nguyên nhân – ông về nước mà không được mang theo kho tư liệu khổng lồ của mình mà ông đã sưu tầm, lưu giữ suốt mấy chục năm qua. Với ông, đó là cả một gia tài lớn mà ông muốn hiến tặng đất nước, cho những người có chung tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc giống như ông. Mãi đến năm 2004, khi được Sở VH-TT-DL TPHCM đồng ý tiếp nhận số tư liệu này, GS Trần Văn Khê mới chính thức về định cư tại quê nhà và mang theo 450 kiện hàng ra khỏi nước Pháp để lên tàu về Việt Nam và ông cũng đã tự bỏ ra 10.000USD lo chi phí vận chuyển số tư liệu này. 450 kiện hàng ấy đã 4 năm nằm im trong một căn phòng tại Bảo tàng TPHCM, trong quá trình thành phố tìm kiếm nhà cho giáo sư có nơi định cư ổn định. Giờ đây, với căn nhà rộng 200m2 nằm trên một con đường yên tĩnh tại quận Bình Thạnh, GS Trần Văn Khê đã có thể yên lòng khi toàn bộ số tài liệu, tư liệu mà ông công phu mang từ nước ngoài về đã có nơi chốn riêng biệt để bảo quản và được nhân viên Thư viện TPHCM hàng ngày đến phân loại, sắp xếp theo đúng quy chuẩn của một thư viện về sách, báo, tạp chí, tài liệu dành cho việc nghiên cứu, tham khảo.

Đến thăm kho tư liệu, cảm giác thật ngỡ ngàng, xúc động khi được nhìn thấy quá nhiều tài liệu có giá trị và mang đậm tính thời gian. Những cuốn sách về âm nhạc, nhạc cụ dân tộc Việt Nam; những đĩa hát gốc từ những thập kỷ và thế kỷ trước; những băng nhạc cùng vô số máy chụp hình, máy ghi âm và máy nghe nhạc… mà ông đã từng sử dụng trong thời gian 2 năm ông làm báo và thật cảm động khi nhìn thấy gần 100 cuốn sổ tay lớn nhỏ được ông ghi chép trong những lần đi công tác, giảng dạy hoặc được mời tham gia những buổi hòa nhạc, xem phim, thậm chí là những buổi gặp gỡ bạn bè thân tình, những chuyện trao đổi thật riêng tư… Ngoài ra còn có những tấm thiệp nhỏ, hộp diêm bé xíu, mảnh giấy có thủ bút của những người nổi tiếng, như: Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy…

100 cuốn du ký

Nói về kho tư liệu này, GS Trần Văn Khê chia sẻ: “Gần 100 cuốn sổ tay tôi gọi là cuốn du ký và tôi quý lắm. Đi đến đâu tôi đều ghi lại đầy đủ và giữ từ tấm thiệp mời, thư từ của bạn bè, trong đó có cả thực đơn khi đi ăn cùng bạn bè, tôi giữ lại và đưa họ ký vào để làm kỷ niệm. Số sách báo có cái sưu tầm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; có cái tôi mua để xem chơi, nhưng là tài liệu rất tốt cho những ai muốn tìm hiểu về âm nhạc của thế giới. Mỗi cây đàn ở đây đều có “lịch sử” riêng…”. Kho tài liệu của GS Trần Văn Khê được sắp xếp theo ngôn ngữ, bộ môn… và gắn mã số để tiện việc tra cứu, tìm kiếm. Tuy nhiên, vì còn rất nhiều băng từ trong giai đoạn phân định, sang chép sang dạng DVD, CD, nên kho tư liệu này vẫn chưa thể mở rộng cho nhiều đối tượng tham khảo, tiếp cận.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (chi nhánh phía Nam) cũng đã tìm đến GS Trần Văn Khê để thực hiện việc xây dựng phông lưu trữ cá nhân cho ông. Có thời gian theo sát quá trình sắp xếp, phân loại kho tư liệu của GS Trần Văn Khê, bà Võ Thị Xuân Mai, Phó Trưởng phòng Thu thập Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cho biết: “Kho tư liệu của thầy quá phong phú và giá trị, chúng tôi không dám “đụng” tới. Trung tâm chỉ tập trung vào những khen thưởng quốc tế của thầy, quá trình cống hiến, giảng dạy và những kiến thức về âm nhạc dân tộc của thầy đã là một “kho” tư liệu đầy đặn lắm”.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 93, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm: “Muốn sống, muốn mua cái gì cũng được, cũng có. Thi thoảng, vẫn được nơi này nơi kia mời nói chuyện về âm nhạc và được trả thù lao đàng hoàng. 93 tuổi vẫn được như vậy, còn muốn gì nữa”. Tất cả những việc ông làm, đều chỉ với mong muốn làm sao cho thế giới biết và yêu mến âm nhạc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Với cảm nhận của cá nhân người viết, tự bản thân ông, đã cho bạn bè thế giới cảm mến về cốt cách, tài năng của một người Việt Nam đích thực.

WIKIPEDIA : Tiểu sử TRẦN VĂN KHÊ


Trần Văn Khê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Giáo sư Trần Văn Khê, năm 2013

Trần Văn Khê (24 tháng 7 năm 1921 –) là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền nổi tiếng ởViệt Nam.

Tiểu sử

Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[1], biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[2]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó[3]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca[3].

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hánvới nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng“, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner.Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies)[4].

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, nay ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Hội viên

Giáo sư Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội nghiên cứu âm nhạc trong nước Pháp, Mỹ, Trung Quốc và trên trường quốc tế:

  • Hội Nhà văn Pháp (Société des Gens de Lettres) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học (Société Française de Musicologie) (Pháp)
  • Hội Dân tộc Nhạc học Pháp (Société Française d’Ethnomusicologie) (Pháp)
  • Hội Âm nhạc học Quốc tế (Société Internationale de Musicologie)
  • Hội Dân tộc Nhạc học (Society for Ethnomusicology) (Mỹ)
  • Hội Nhạc học Á châu (Society for Asian Music) (Mỹ)
  • Hội Âm nhạc Á châu và Thái Bình Dương (Society for Asian and Pacific Music)
  • Hội Quốc tế Giáo dục Âm nhạc (International Society for Music Education)
  • Thành viên và chủ tịch hội đồng khoa học của Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc với Phương pháp Đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies) (Đức)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc truyền thống (International Council for Traditional Music) nguyên phó chủ tịch (Mỹ)
  • Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (International Music Council/UNESCO), nguyên uỷ viên ban chấp hành, nguyên phó chủ tịch, đương kim Chung sanh hội trưởng danh dự (Pháp)
  • Viện sĩ thông tấn, Hàn lâm viện Châu Âu, Khoa Học, Văn chương, Nghệ thuật…

Giải thưởng

  • 1949: Giải thưởng nhạc cụ dân tộc tại Liên hoan Thanh niên Budapest.
  • Huy chương bội tinh hạng nhứt của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
  • Văn hoá bội tinh hạng nhứt của Bộ giáo dục Việt Nam Cộng hòa.
  • 1975: Tiến sĩ âm nhạc danh dự (Docteur en musique, honoris causa) của Đại học Ottawa (Canada).
  • 1981: Giải thưởng âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique).
  • 1991: Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement français (Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hoá Pháp).
  • 1993: Cử vào Hàn lâm viện châu Âu về Khoa học, Văn chương, Nghệ thuật; viện sĩ thông tấn.
  • 1998: Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam.
  • 1999: Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương cấp.
  • 2005: Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng.
  • 2011: Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu

Chú thích

  1. ^ Mai Anh, “GS. Trần Văn Khê – Nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt“, trang Đại học Quốc gia Hà Nội. Truy cập 2008-10-22.
  2. ^ Trần Văn Khê, “Đờn ca tài tử trong không gian văn hóa Nam bộ“, Vietbao.vn. Truy cập 2008-10-22.
  3. ^ a ă Nguyễn Phúc Nghiệp, “Về một gia tộc nổi tiếng âm nhạc ở Việt Nam“, trang tỉnh Tiền Giang. Truy cập 2008-10-22..
  4. ^ Bạch Dương, “GS Trần Văn Khê và những ngôi nhà“, Báo Tiền phong. Truy cập 2008-10-23.

Tham khảo

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Kh%C3%AA

THANH HÀ : Nhìn từ Liên hoan ca trù toàn quốc: Phải chăng “khôn chưa tới trẻ…”?


Nhìn từ Liên hoan ca trù toàn quốc: Phải chăng “khôn chưa tới trẻ…”?

Thanh Hà (Dân Việt) 09:40 – 28 tháng 8, 2014
Câu lạc bộ Ca trù Đồng Trữ (Chương Mỹ, Hà Nội) tham gia liên hoan.
Liên hoan ca trù toàn quốc năm 2014 vừa khai mạc tại Hà Nội với sự tham dự của 26 đơn vị, câu lạc bộ ca trù đến từ 12 tỉnh, thành phố.

Sau nhiều năm vinh danh các nghệ nhân già, những người nhiều năm đã gìn giữ, bảo vệ di sản của dân tộc thì năm nay, liên hoan ca trù lại hướng tới lớp trẻ, lứa nghệ sĩ kế cận.

Với 126 tiết mục tham gia, có thể khẳng định đây là liên hoan ca trù có số lượng tiết mục cũng như nhóm nghệ nhân, CLB Ca trù tham gia đông đảo nhất trong các kỳ cuộc được tổ chức từ trước đến nay. Liên hoan có sự xuất hiện của nhiều nhóm, CLB Ca trù mới như nhóm Ca trù của nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc, CLB Ca trù Phú Thị, CLB Ca trù Thượng Mỗ, CLB Ca trù Đồng Trữ…

Những người trẻ chỉ chừng 11-13 tuổi nhưng giọng hát đã ăn với nhịp phách. Đa phần các em đến với môn nghệ thuật truyền thống vì đam mê, bởi môn nghệ thuật này không có đam mê thì sẽ khó có thể theo được đến lâu dài. Cứ cuối tuần các em lại tụ họp nhau lại để nghe biểu diễn và tập luyện. Những ca nương nhí này cho hay, ca trù không phải ai cũng có thể say mê ngay được.

Nhưng đã hứng thú rồi thì có thể sẽ phải theo suốt đời. Song theo ca nương Phạm Thị Huệ – Chủ nhiệm CLB Ca trù Thăng Long, một trong số ít đơn vị vẫn đỏ đèn mỗi tuần với những đêm diễn phục vụ du khách quốc tế, thì để kết nối tình yêu bền chặt với nghệ thuật này thì các ca nương nhí phải thường xuyên được dìu dắt, bồi dưỡng và truyền lửa đam mê.

Thực tế, nhiều giọng ca trẻ đã từng tỏa sáng như đào nương Nguyễn Thị Chinh được trao giải “Mở xiêm y” từ Liên hoan ca trù toàn quốc 2004 cho đến nay vẫn là một bóng dáng mờ nhạt, ít người biết đến. Hay như đào nương nhí Nguyễn Thị Minh Ngọc của CLB Ca trù Cổ Đạm (Hà Tĩnh) giành giải Gương mặt trẻ triển vọng thì nay việc sinh hoạt định kỳ của em với CLB cũng thưa thớt dần…

Bên cạnh việc niềm vui khi cuộc thi đã xuất hiện nhiều thêm nhiều giọng ca nương trẻ, ấn tượng thì những người làm nghề không khỏi cảm thấy chạnh lòng khi “bạn nghề” cứ thưa vắng dần đi. Năm nay, liên hoan thiếu hẳn 3 tỉnh là Thái Bình, Nghệ An, Nam Định, những nơi có truyền thống lịch sử về ca trù nổi tiếng nhất nhì trong cả nước.

Lý do dù không được ban tổ chức nêu cụ thể nhưng ai cũng hiểu rằng để các câu lạc bộ, các nhóm ca trù duy trì hoạt động thường xuyên trong làng, trong xã đã là việc khó nói gì tới việc tìm nguồn kinh phí tốt để tham gia các kỳ cuộc. Lứa nghệ nhân già đã lần lượt ra đi, để lại những khoảng trống không thể lấp đầy và những người yêu mến ca trù chỉ còn trông cậy vào hai cây đại thụ là cụ Nguyễn Phú Đệ và Nguyễn Thị Khướu.

http://danviet.vn/thoi-su/nhin-tu-lien-hoan-ca-tru-toan-quoc-phai-chang-khon-chua-toi-tre-475420.html

HOÀNG THỊ : Liên hoan ca trù toàn quốc 2014: Mừng số lượng, cần lưu tâm hơn chất lượng!


Liên hoan ca trù toàn quốc 2014:
Mừng số lượng, cần lưu tâm hơn chất lượng!
Thứ tư, 27/08/2014 – 10:06 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
Ca nương Hồ Nga, kép đàn Việt Hùng – CLB ca trù Trung tâm văn hóa TP Hồ Chí Minh trong tiết mục “Hát nói – Hồng Hồng Tuyết Tuyết”.
Ca nương Hồ Nga, kép đàn Việt Hùng – CLB ca trù Trung tâm văn hóa TP Hồ Chí Minh trong tiết mục “Hát nói – Hồng Hồng Tuyết Tuyết”.

NDĐT – Liên hoan là dịp đánh giá sát thực hơn hiệu quả bảo tồn, phát huy nghệ thuật ca trù từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2009 đến nay. Bên cạnh niềm vui và tinh thần động viên về sự phát triển đội ngũ, rất cần những nhận xét, góp ý thẳng thắn về chất lượng biểu diễn, kỹ thuật thể hiện.

Mong ra khỏi khẩn cấp

Tối 26-8, Liên hoan ca trù toàn quốc 2014 đã mở màn tại Viện âm nhạc thuộc Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam. Liên hoan thu hút 300 nghệ sĩ, nghệ nhân thuộc 25 đơn vị đến từ 12 tỉnh thành. Ba tỉnh có nghệ thuật ca trù nhưng không tham gia là Nghệ An, Thái Bình và Nam Định.

Theo ghi nhận của BTC liên hoan, trong mấy năm qua, nghệ thuật ca trù đã được các nghệ nhân, nghệ sĩ, các CLB ca trù trong cả nước tích cực học tập, rèn luyện, lưu giữ, đang được truyền nối từ thế hệ nghệ nhân cao tuổi, già yếu và trung niên đến thế hệ trẻ và cả lớp măng non.

TS Lê Văn Toàn – Giám đốc Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam đánh giá, Viện âm nhạc đã thực hiện được nhiều chương trình khảo sát, kiểm kê, thu âm, thực hiện các ấn phẩm, các công trình nghiên cứu và tổ chức biểu diễn giới thiệu ca trù đến sinh viên, học sinh. TS Toàn nhấn mạnh: “Liên hoan lần này do viện tổ chức, là dịp đánh giá tình hình thực trạng của ca trù, nhìn nhận những thay đổi trong đời sống sinh hoạt của nghệ thuật ca trù ở các địa phương. Qua đó tiếp tục có hướng bảo tồn, phát huy giá trị di sản đặc sắc này”.

Ca nương nhí Thục Trinh trong tiết mục “Múa bỏ bộ”, CLB ca trù Lỗ Khê.

Một số chuyên gia như GS.TSKH Tô Ngọc Thanh – Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, TS Nguyễn Bình Định – Viện trưởng Viện âm nhạc, đại diện BTC liên hoan… cũng cho rằng, liên hoan là dịp để định lượng, nhằm đánh giá khả năng đưa ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp của ca trù. GS Tô Ngọc Thanh cũng đề nghị trực tiếp với lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) mà đại diện là thứ trưởng Vương Duy Biên về việc đề xuất “khoác áo mới” cho tình hình hiện tại của ca trù vì sức sống của ca trù đã trở nên mạnh mẽ rồi, ca trù đã chiếm được lòng yêu thích ngày càng nhiều của bà con các tỉnh!

Tất nhiên, có thể đánh giá đầy đủ, chính xác hơn về thực trạng ca trù, còn phải qua liên hoan lần này, để không chỉ thấy sự phát triển về số lượng nghệ sĩ, nghệ nhân, mà còn phải căn cứ vào chất lượng nghệ thuật.

Bên cạnh đó, cùng với hoạt động biểu diễn dự thi, chấm chọn, tôn vinh các gương mặt, tiết mục nổi bật, trong liên hoan rất cần có những cuộc trao đổi mang tính tọa đàm, hội thảo giữa lãnh đạo Bộ, các Sở VHTT&DL với các chuyên gia, nghệ nhân, nghệ sĩ, để nhìn nhận rõ hơn, đánh giá cụ thể hơn về mức độ, hiệu quả đầu tư bảo tồn, phát huy nghệ thuật ca trù tại các tỉnh.

Để việc chấm điểm không gây khó!

Trong lễ khai mạc, khán phòng đã được xem và nghe lại những hình ảnh cùng giọng ca mạnh mẽ, chắc khỏe của cố nghệ nhân – ca nương Nguyễn Thị Chúc. GS Tô Ngọc Thanh chia sẻ, khi ông vào thăm cụ Chúc trong viện, cụ đã nắm tay ông và nói, ông ở lại, cùng với mọi người giữ gìn ca trù…

Các thành viên của Hội đồng nghệ thuật và Thứ trưởng Vương Duy Biên.

Một hình ảnh khác cũng khiến nhiều người cảm động là sự xuất hiện của nghệ nhân – kép đàn Nguyễn Phú Đẹ trong vai trò thành viên Hội đồng nghệ thuật. Cùng với cụ Đẹ có PGS.TS Vũ Nhật Thăng là Chủ tịch Hội đồng và các thành viên: Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, ca nương Nguyễn Thúy Hòa, bà Phan Thị Thư Hiền – Chủ tịch Hội di sản văn hóa tỉnh Hà Tĩnh. Theo TS Định, giải của liên hoan sẽ được mở rộng cho các cá nhân nhằm khuyến khích sự rèn luyện, nối tiếp giữ gìn nghệ thuật ca trù.

Tuy nhiên, có một chi tiết mà TS Định công bố gây băn khoăn, đó là thành viên hội đồng là người địa phương nào, khi chấm điểm cho tiết mục của địa phương đó, thì điểm ấy chỉ để tham khảo. Nhưng theo chương trình, mỗi địa phương lại có nhiều tiết mục dự thi, chẳng lẽ, điểm của hai thành viên hội đồng là nghệ nhân Nguyễn Phú Đẹ đến từ Hải Dương hay bà Phan Thị Thư Hiền từ Hà Tĩnh cho cả chục tiết mục của hai địa phương này, chỉ để tham khảo thôi sao? Chưa kể ba thành viên hội đồng còn lại đều đang sống tại Hà Nội, trong khi các CLB ca trù của Hà Nội lại chiếm con số vượt trội trong các đơn vị tham gia. Nếu theo quy định trên, thì rất nhiều tiết mục, nghệ nhân, nghệ sĩ ở khu vực Hà Nội, chỉ có thể nhận được những “số điểm tham khảo” từ ba thành viên này. Đây thực sự là bất cập mà BTC của liên hoan cần điều chỉnh ngay, không nhất thiết phải đề phòng sự “ưu ái” có tính địa phương như thế!

Tối 26-8, ba đơn vị đầu tiên tham gia dự thi là CLB ca trù Lỗ Khê, CLB ca trù Trung tâm văn hóa TP Hồ Chí Minh và CLB ca trù Hội văn nghệ dân gian Hải Phòng. Các nghệ nhân, nghệ sĩ đã trình bày những tác phẩm như “Ba mươi sáu giọng”, “Gửi thư” – bài “Tình thư một bức”, “Thét nhạc” – bài “Tiếng dương tranh”, “Hát nói” – bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”, “Gửi thư” – bài “Bút hoa thảo”… Độ tuổi của các “thí sinh” trong đêm đầu tiên khá phong phú, có người ngoài 60, 70, có lớp trung niên, lứa thanh xuân và cả các em bé.

Liên hoan sẽ tập trung chạy nhạc cho các đơn vị vào buổi sáng, biểu diễn dự thi buổi chiều và tối. Lễ tổng kết và trao giải sẽ diễn ra vào tối 29-8. Mong rằng trong những ngày liên hoan, điều kiện ăn ở, sinh hoạt của các đơn vị dự thi sẽ được BTC đảm bảo chu đáo.

HOÀNG THI

This blog is focused on Trân Quang Hai