Giáo sư Trần Văn Khê – Tình thơ duyên nhạc


Ajoutée le 16 avr. 2013

Facebook: https://www.facebook.com/chuongvangvo…

Trong chương trình này, khán giả sẽ được thưởng thức những bài ngâm thơ thật hay, mượt mà của GS – Tiến sĩ – Nhạc sĩ Trần Văn Khê. Khách mời cùng ẩm trà, bàn thơ là NSND – Kỳ nữ Kim Cương. Các nghệ sĩ tham gia trình bày tiếng thơ của GS Trần Văn Khê gồm có: NSƯT Hồng Vân, NSƯT Ái Xuân, NSƯT Tuấn Phong, nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, NS Võ Ngọc Lan… Và một phần rất đặc biệt đó là phần đọc thơ của chính GS Trần Văn Khê.

Cùng sự hỗ trợ của dàn nhạc thơ: Đàn tranh – NSU&T Hải Phượng, Sáo trúc – Thành Bình, Đàn bầu – Thúy Hạnh, Đàn nguyệt – Việt Hùng, Đàn tỳ bà – Nguyễn Thị Thanh.

VOV3 : Nhớ giọng ca trù của nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc


Nhớ giọng ca trù của nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc

Thứ 3, 11:42, 08/04/2014

VOV.VN – Cùng nghe lại những tiết mục đặc sắc do nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc trình bày trong chương trình “Giọng ca nghệ sĩ” của VOV.

Nghe lại một số tiết mục đặc sắc do nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc trình bày trong chương trình “Giọng ca nghệ sĩ” của Đài TNVN.

Nghệ nhân dân gian Nguyễn Thị Chúc, một trong số ít “cây đại thụ” của nghệ thuật ca trù nói chung, ca trù đất Thăng Long nói riêng vừa trút hơi thở cuối cùng vào hồi 5h20’ ngày 7/4/2014, để lại bao tiếc thương cho những ai yêu mến loại hình âm nhạc dân gian này.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc sinh năm 1930 trong một gia đình có truyền thống Ca trù ở Ngãi Cầu, An Khánh, Hoài Đức, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Ngay từ khi bé, bà đã được bố mẹ chỉ bảo từng câu hát, nhịp phách. Lên 12 tuổi, bà đã bắt đầu đi hát ở quán Ca trù của gia đình. Dù còn rất trẻ, nhưng giọng hát trong và đẹp của bà đã làm say đắm biết bao người hâm mộ bộ môn nghệ thuật truyền thống này.

Trải qua rất nhiều lận đận với Ca trù, dần dần, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc đã tìm lại được chỗ đứng trong Ca trù. Nhờ giọng hát trời phú, tiếng tăm của bà đã được biết đến khắp nơi. Từ đó, bà được mời đi biểu diễn ở khắp các sân khấu Ca trù cũng như các lễ hội lớn ở Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác trong cả nước.

Năm 2002, nghệ nhân Nguyễn Thị Chúc được mời tham gia giảng dạy lớp Ca trù ở Nhạc viện Hà Nội. Bên cạnh đó, bà còn là giám khảo của những cuộc thi Ca trù lớn nhỏ khắp cả nước. Với tài năng và sự đóng góp của mình cho nghệ thuật Ca trù, ngày 28/12/2005, Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian cho bà Nguyễn Thị Chúc./.

VOV3
 

Bài liên quan

PHƯƠNG THÚY : 12 tỉnh, thành phố tham gia Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014


12 tỉnh, thành phố tham gia Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014

Thứ 3, 11:05, 19/08/2014

VOV.VN – Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014 sẽ diễn ra từ ngày 26-29/8 với sự tham gia của 26 đơn vị thuộc 12 tỉnh, thành phố.

Chương trình Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014 do Viện Âm nhạc phối hợp với các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố có di sản Ca trù tổ chức.

Theo Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, Tổng đạo diễn, cố vấn chuyên môn của Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014, Liên hoan năm nay sẽ không có nhiều nghệ nhân cao tuổi tham gia. Thay vào đó, nét mới của Liên hoan Ca trù năm 2014 là sự tập trung đầu tư cho nhiều ca nương trẻ, đánh giá việc trao truyền và gìn giữ nghệ thuật hát Ca trù của các thế hệ nghệ nhân kế cận.

Thạc sĩ Phạm Minh Hương, Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc và nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, Tổng đạo diễn Liên hoan Ca trù 2014 chủ trì cuộc họp báo về Liên hoan Ca trù diễn ra vào sáng 19/8

“Lần tổ chức này, các địa phương tham gia đông hơn, chứng tỏ rằng lớp trẻ kế cận trong cộng đồng Ca trù là khả quan. Đặc biệt lần này, Viện Âm nhạc đã có cách tổ chức tôi thấy rất hay là các câu lạc bộ gửi băng âm thanh về cho Viện thẩm định trước” – nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nói. 

Tại Liên hoan, mỗi đơn vị tham gia liên hoan sẽ tự xây dựng chương trình nghệ thuật với thời lượng tối đa là 30 phút. Ngoài những thể cách hát quen thuộc thường hát trong câu lạc bộ, các tổ chức, cá nhân tham gia liên hoan còn phải biết đàn, hát, gõ phách, cầm chầu 5 trong 15 thể cách Ca trù có tính kinh điển như: Hát Mở (hoặc Hát Mở Cửa Đình), Thét Nhạc, Gửi Thư, Ngâm thơ cô đầu…

Ngoài ra, ban tổ chức cũng khuyến khích các câu lạc bộ, cá nhân trình diễn những thể cách hát hoặc hát múa Ca trù mới được phục hồi, khai thác./.

Phương Thúy/VOV – Trung tâm Tin
 

Bài liên quan

NHẠC SĨ DÂN HUYỀN : Sự thâm thúy ẩn trong bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết“


Sự thâm thúy ẩn trong bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết“

Thứ 7, 11:43, 23/08/2014

VOV.VN – Bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” về hình thức là bài thơ hát nói không chỉ có một “nghĩa đen” mà còn có “nghĩa ẩn dụ”.

Năm 2005 tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội, trong liên hoan ca trù toàn quốc do Bộ Văn hóa – Thông tin tổ chức có 14 tỉnh, thành phố tham gia. Một vấn đề đặt ra về yêu cầu là các chiếu hát của những đơn vị ấy, khi trình diễn bắt buộc phải trình bày bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” trước khi hát những bài sở trường quen thuộc của mình. Đây là một trong những bài mẫu mực về nghệ thuật và có giá trị tư tưởng tốt.

Từ trước đến nay, khoảng trên dưới 100 năm, những nhà nghiên cứu văn học và yêu thích nghê thuật ca trù đã biết khá rõ những bài thơ nói của tiến sĩ Dương Khuê (1839-1902) trong toàn bộ di sản văn chương và thơ ca của cụ ở nửa thế kỉ XIX trong thiên niên kỉ trước, nhưng ít ai đánh giá đúng giá trị đích thực phẩm chất Dương Khuê trong mảng văn chương được thể hiện bằng loại ca trù, đặc biệt là bài “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”. Chúng ta chỉ biết cái nghĩa đen của lời ca mà không hiểu gì hoàn cảnh và tâm trạng của tác giả, bối cảnh lịch sử cụ thể mà cụ Dương Khuê đã trải qua.

Ảnh minh họa: Quang Trung

Cụ Dương Khuê sinh năm Kỷ Hợi (1839), quê làng Vân Đình, tổng Phương Đình, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Năm Mậu Thìn, niên hiệu Tự Đức 21 (1868) cụ thi Hội đỗ tiến sĩ, ngay sau đó được bổ nhiệm chức tri phủ Bình Giang, Hải Dương. Cụ bước váo quan trường, đến khi Tự Đức qua đời (16/6/1883) và Hòa ước mất nước ký giữa triều Nguyễn và Pháp (1883). Đó là giai đoạn 15 năm đầu trong cuộc đời làm quan của cụ có nhiều tâm trạng mà cụ đã gửi gắm trong bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”. Năm 1897, cụ cáo quan về ở ẩn, và mất năm 1902, hưởng thọ 63 tuổi. Có thể dự đoán bài ca trù ấy được viết vào năm 1883 với đầy đủ những sự kiện lịch sử và tâm trạng của tác giả .

Qua nhiều tài liệu còn lưu lại thì bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” về hình thức là bài thơ hát nói khá mẫu mực, bài có điệu Mưỡu 1 và 2 ở đầu, phần hát nói có 11 câu với 3 trổ cơ bản, ý tứ khúc chiết, rõ ràng, và không chỉ có một “nghĩa đen” mà nhà thơ còn gửi tâm trạng của mình với một “nghĩa ẩn dụ” trong đó. Đoạn mở đầu, tác giả viết:

       Ngày xưa Tuyết muốn lấy chồng

       Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì

       Bây giờ Tuyết đã đến thì

       Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già

Nghĩa “đen” thì đã quá rõ, còn nghĩa “bóng” ta có thể hiểu là: Ngày xưa tôi là người trong trắng (như Tuyết) mới thi đỗ làm quan, muốn giúp vua nhưng bị chê là không biết gì (Dương Khuê dâng sớ lên Tự Đức phải quyết liệt với người Pháp, cụ bị chê là “Bất thức thời vụ” – Không hiểu thời cuộc). Bây giờ, tôi đã hiểu biết khôn ngoan, ông muốn dùng tôi thì tôi lại thấy ông già nua, nhu nhược (đầu hàng Pháp).

Tiếp đến phần hát, tác giả viết:

        Hồng Hồng Tuyết Tuyết

        Mới ngày nào chưa biết cái chi chi 

        Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì

        Ngoảnh mặt lại đã tới kì tơ liễu

Hồng Tuyết ngoài nghĩa “đen” là tên một cô đào hát hoặc hai cô đào hát, còn chứa đựng cái nghĩa “bóng” mà tác giả gửi gắm.

Phần này theo nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, nhà thơ Trần Huyền Trân, nhà báo Tô Dũng đã có chung nhận xét là: Mới ngày nào bước vào quan trường ta như cánh chim. Hồng bay tung hoành nào có biết cái chi chi, thấm thoắt cuộc đời làm quan đã 15 năm (1868 – 1883) mới đó bây giờ nhìn lại cũng đã khôn ngoan, trưởng thành rồi.

       Cười cười nói nói sượng sùng

       Mà bạch phát với hồng nhan chừng ái ngại

Khi Tự Đức lên ngôi vua (1847) ở tuổi 19, còn ít tuổi (lúc đó Dương Khuê chỉ là đứa trẻ 8 tuổi ham chơi). Nay vua hứa “gả bán” tôi cho người Pháp thì tôi đã già (trước khi Tự Đức mất 16/6/1883, Hòa ước mới được lập xong, nó công nhận cuộc bảo hộ của Pháp ở Nam Bộ và cho đặt công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kỳ mới chính thức “gả bán”). Trước thực trạng ấy cả vua tôi đều sượng sùng, thẹn đến đỏ mặt (hồng nhan) và lo buồn đến bạc tóc (bạch phát) thật là ái ngại…

Cuối bài tác giả đã viết:

        Riêng một thú thanh sơn đi lại

        Khéo ngây ngây dại dại với tình  

       Đàn ai? Một tiếng dương tranh

Chữ thanh sơn ở đây muốn chỉ triều đinh lúc bấy giờ, còn dương tranh  được hiểu là những cuộc tranh đấu đã nổi lên ở Bắc Kỳ (năm 1883 Hà Nội, Nam Định đã có các cuộc nổi dậy chống Pháp, viên đại tá Henri Riviere bị tử trận ở Cầu Giấy, Hà Nội). Chữ dương tranh, không phải là đàn tranh vì trong hát ca trù người ta đã sử dụng đáy cầm (dàn đáy). Vậy đoạn này hiểu là: Sau hòa ước bán nước 1883, vua quan nhà Nguyễn chỉ còn biết đi đi lại lại trong triều đình của mình như một thú vui ngây dại. Trong khi đó thì những cuộc nổi dậy chống Pháp ở Bắc Kỳ đã diễn ra như một tiếng cảnh tỉnh (ở đây tác giả mượn tiếng đàn).

Xem như vậy, bài ca trù “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” có hai nghĩa. Ngoài mối tình “trái khoáy” của một ông già với một cô đào trẻ, tác giả Dương Khuê còn gửi gắm tâm trạng của mình. Chính tâm trạng ấy cũng đủ làm nổi bật phẩm chất cao quý của một nhà nho, một viên quan đương thời trong sạch, có tấm lòng yêu nước, trăn trở với thế sự éo le lúc đó của đất nước.

Thông qua giai điệu âm nhạc, mà chủ yếu chỉ vẻn vẹn mấy nốt chính là Si, Sol, Sị, Sị sol, Si. Người nghệ nhân nhạc công đàn Đáy đã rất khéo biến hóa để tôn thêm cho lời thơ bay bổng và đi vào lòng người.

Đây cũng là một trong những bài ca trù mà trong những năm 60 của thế kỷ trước, Đài TNVN đã tổ chức nhiều buổi ca trù phục vụ các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại phòng thu M ở 58 phố Quán Sứ, Hà Nội. Hình ảnh các nghệ sĩ: Quách Thị Hồ, Nguyễn Thị Phúc, Thanh Lâm, Kim Đức, Đinh Khắc Ban, Phó Đình Kỳ, Ngô Linh Ngọc… vẫn như còn trong tâm khảm chúng tôi, những người tổ chức thực hiện chương trình ấy./.

Nhạc sĩ Dân Huyền
 

Bài liên quan

PHƯƠNG THÚY : Bế mạc Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014


Bế mạc Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014

 

Thứ 7, 05:38, 30/08/2014

VOV.VN – Sau 4 ngày diễn ra, tối 29/8, Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014 đã bế mạc tại Hà Nội.

Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2014 có sự góp mặt của 26 Câu lạc bộ thuộc 12 tỉnh, thành phố, tham gia biểu diễn hơn 100 tiết mục được đầu tư bài bản, thể hiện 3 xu hướng chính: sự trao truyền biểu diễn cho lớp trẻ; khôi phục vốn cổ; phóng tác nhằm mục đích làm phong phú hơn nghệ thuật hát Ca trù.

Ngoài những đề tài quen thuộc như nhân tình thế thái, tình yêu, những sáng tác mới đã mang tới cho Ca trù một săc thái hiện đại, thể hiện được những vấn đề mà cuộc sống đương đại đặt ra. Cấu trúc đội hình biểu diễn mới, đáng lưu ý là sự xuất hiện của một số nhóm biểu diễn mà cả ca nương, kép đàn, cầm chầu đều là nữ, nhiều tiết mục do các diễn viên nhỏ tuổi biểu diễn.

  Tiết mục “Tỳ bà hành” của câu lạc bộ Ca trù Thái Hà là một trong 6 tiết mục giành giải Nhất

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Vũ Nhật Thăng, Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật Liên hoan Ca trù toàn quốc 2014 nhận xét: “Ngày nay khi muốn tiếp thu truyền thống cha ông, chúng ta phải lưu ý đến những điều kiện tối thiểu, cần thiết phải thực hiện, mà cụ thể người trẻ cần phải học hành, luyện tập nghiêm túc trong thời gian dài chứ không thể dừng lại ở mức ăn xổi ở thì. Nói tới bảo tồn và phát huy là nói tới khai thác, bảo tồn, phục dựng và truyền dạy. Đó là 4 công việc chính chưa hẹn ngày kết thúc”.  

Kết thúc liên hoan, Ban tổ chức đã trao 5 giải vàng, 6 giải bạc, 12 giải đồng cho các tiết mục trình diễn hay nhất; 1 giải cho công tác phục hồi vốn cổ;  trao 9 giải cá nhân cho các đào nương xuất sắc, 8 giải kép đàn xuất sắc nhất, 1 giải kép đàn triển vọng và 1 giải sáng tác lời mới cho Ca trù./. 

Phương Thúy/VOV – Trung tâm Tin
 

Bài liên quan

TIỂU SỬ GSTS TRẦN VĂN KHÊ


TIỂU SỬ:
4046a-gs-khe
Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh[1], biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca[2]. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó[3]. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca[3].
Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.
Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.
Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.
Trần Văn Khê (ca sĩ Hải Minh) năm 1941
Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.
Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng”, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.
Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.
Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies)[4].
Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, nay ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.