Nhạc sư VĨNH BẢO : THỬ BÀN QUA NGHỆ THUẬT ĐÓNG ĐÀN


Nhạc sư VĨNH BẢO : THỬ BÀN QUA NGHỆ THUẬT ĐÓNG ĐÀN

vinhbao2

Nhạc sư VĨNH BẢO 

Phong trào học đàn và chơi đàn dân tộc hiện nay rất thịnhhành, không những ở trong nước, mà đồng bào ta ở nước ngoài cũng rất ưa chuộng.

Nhiều người trước đây đã thờ ơ, nếu không nói xem thường, nay tìm để học, nếu không để trở thành một nhạc sĩ thì ít ra cũng để có một số kiến thức nào đó hầu thưởng thức nó.

Khi mà người chơi đàn, ngày một nhiều thì vấn đề sản xuất đàn tất nhiên phải nhiều để đủ đáp ứng với nhu cầu.

Người mới chơi đàn, đa số không mấy hiểu biết gì về cây đàn mà mình ưa thích. Họ chú trọng đến cái mả bên ngoài của nó mà quên đi rằng một cây đàn tốt phải mang trong nó hai tiêu chuẩn cơ bản là “thanh” và “sắc”. Nếu vì lẽ gì mà cây đàn thiếu đi một trong hai tiêu chuẩn trên thì người sành điệu sẽ chọn phần “thanh” mà hy sinh phần “sắc”, bởi việc mua đàn là cho lỗ tai chớ không phải cho con mắt.

Nhạc khí dân tộc có nhiều loại đàn khác nhau, trong phạm vi hạn hẹp của bài này, tôi chỉ nêu vài qui tắc để cho chúng ta có một ý niệm khái quát mà thôi .

Muốn đóng một cây đàn có chất lượng thì người đóng đàn phải hội những điều kiện tối thiểu sau đây:

a) Phải là nhạc sĩ biết sử dụng  loại đàn mà mình đóng để có thể thử cây đàn khi làm xong

b) Lỗ tai thẩm âm tinh tế để đánh giá  “âm lượng” và âm sắc của cây đàn

c) Thẩm mỹ và kỹ thuật

d) Một số vốn về vật lý học để nắm vững  tính chất của gỗ

e) Âm thanh học để hiểu vai trò của từng bộ phận trong cây đàn

Là nghệ nhân đóng đàn, ai ai cũng biết rằng một cây đàn chia ra làm hai phần chánh đó là :

a) Bộ phận chấn động trực tiếp

b) Bộ phận chuyền đi và tiết chế những chấn động

Trong việc đóng đàn, cái quan trọng  hàng đầu là gỗ. Nhưng gỗ không như miếng sắt, thép , hay thau có một độ cứng, độ dẽo như nhau, do đó mặt đàn cũng như đáy đàn không có một độ dây cố định hay một độ dây đã định trước .

Bắt tay vào đóng một cây đàn,

một là dựa vào kích thước của cây đàn, tính chất của gỗ, độ cong của mặt đàn (trường hợp đàn tranh) để mà định độ dầy của mặt đàn.

Hai là: căn cứa vào độ dầy của mặt đàn mà đặt nẹp bên trong  (nẹp loại gỗ nào, dẹp, vuông, ba góc và vị trí của chúng ).

Ba ; dây đàn. Thường khi đáy đàn phải là loại gỗ cứng hơn mặt hoặc cùng một thứ gỗ nhưng lại hơi dầy hơn . Đáy đàn có nhiệm vụ là phản hồi  âm thanh từ mặt đàn chuyền xuống..

Bốn: lỗ thoát hơi lớn, nhờ và vị trí của nó

Năm .: con nhạn, gỗ cứng , gỗ mềm, cao thấp, hình dáng của nó.

Sáu: dây, tính chất  và kích cỡ lớn, nhỏ,….

Trong cây đàn có rất nhiều bộ phận, mỗi bộ phận có một vai trò khác nhau nhưng lại có liên quan mật thiết  với nhau để tạo ra “âm thanh” và “âm sắc “, nhờ cái vốn hiểu biết trên,chúng ta có thể hài hòa chung lại với nhau .

có người nghĩ đơn giản lá cứ mua đại một cây đàn tốt về nhà tháo ra coi theo đó mà bắt chước làm .Trong nghệ thuật đóng đàn, không nghệ nhân nào đóng hai cây đàn mà cách xừ lý y hệt như nhau, chưa kể làm sao tìm ra được loại gỗ cùng một tuổi, cùng một tính chất vật lý với gỗ của cây đàn mà chúng ta phải làm theo.

Tóm lại, việc đóng đàn là một nghệ thuật , phải có học hỏi và từ cái học hỏi ấy rút tỉa ra kinh nghiệm, chớ không phải làm theo kiểu cha truyền con nối mà được

Trích báo SÂN KHẤU thành phố HCM, số 174 (28.03. 1994), trang 7

HAI MƯƠI BÀI TỔ CỔ NHẠC MIỀN NAM


Cổ Nhạc Miền NamNHẠC TÀI TỬ20 BÀI TỔ
HAI MƯƠI BÀI TỔ
CỔ NHẠC MIỀN NAM
Song song với nghệ thuật trình diễn trên sân khấu là Hát Bội, các bộ môn ca Huế, Nhạc Lễ và Nhã Nhạc cung đình cũng theo bước chân khẩn hoang của những người dân miền Trung vào Nam, qua mỗi vùng đất nước, thâu nhận thêm những bài dân ca, câu hò, điệu lý của từng vùng mà tạo thành một loại ca nhạc “sa lông”, tức là loại nhạc thính phòng để đờn ca giải trí vui chơi trong lúc nhàn hạ chứ không có trình diễn gọi là Nhạc Tài Tử. Sau cuộc binh biến kinh thành Huế vào năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra chiếu Cần Vương, một số nhạc quan và nhạc công của triều đình lánh nạn vào miền Nam sinh sống, trong đó có Nguyễn Quang Đại, người đã có công rất nhiều trong việc phổ biến Nhạc Tài Tử tại miền Nam. Nguyễn Quang Đại được các báo chí hồi đầu thế kỷ 20 gọi là Ba Đại, nhưng sau này đổi thành Ba Đợi (có người cho là do gọi theo cách phát âm của miền Trung, nhưng có lẽ do kỵ húy tên vua Bảo Đại thì đúng hơn vì trước khi vua Bảo Đại lên ngôi, báo chí vẫn gọi Nguyễn Quang Đại là Ba Đại), nguyên quán ở Hải Lăng, Quảng Trị vào sinh sống tại các vùng Đakao, Cần Giuộc, Cần Đước để truyền dạy Nhạc Lễ và Nhạc Tài Tử. Ông đã đào tạo được nhiều nhạc sĩ lừng danh như ở Đakao có Tám Hạnh, Sáu Thới (thầy của các nhạc sư Tư Nghi, giáo Thinh, Năm Cần), Cao Quỳnh Cư, Cao Quỳnh Diêu, Bảy Nhỏ… Tại các vùng Long An, Cần Giuộc, Cần Đước có các môn sinh như nhạc Láo, Sáu Thoàn, Chín Chiêu, nhạc Thời, Hai Tò Le, Năm Tịnh, cô Sáu Giỏi, cô Bảy Lung v.v… là những nhạc sĩ tài ba mà tiếng tăm còn truyền lại tới bây giờ. Từ những môn sinh của ông, các nghệ sĩ tài danh của thế hệ thứ ba đã được nối tiếp truyền nghề như Tư Huyện, Sáu Quý, Bảy Hàm, Chín Kỳ, Hai Phát, Hai Biểu, Tư Tụi, Ba Lựa v.v… Ngoài việc truyền dạy nghề đờn, Ba Đợi còn đem một số Nhạc Cung Đình cải biên thành Nhạc Lễ miền Nam, hệ thống hóa Nhạc Tài Tử thành bốn điệu Bắc, Hạ, Nam, Oán (còn được gọi là 20 bài tổ). Hai mươi bài tổ gồm có: Ba Nam:

  1. Nam Xuân
  2. Nam Ai
  3. Đảo Ngũ Cung

Bài Đảo Ngũ Cung còn gọi là Nam Đảo. (Tài liệu xưa là sách Cầm Ca Tân Điệu và Nhạc Cổ Điển Việt Nam chỉ gọi là Đảo Ngũ Cung mà thôi).

Sáu Bắc:

  1. Lưu Thủy Trường
  2. Phú Lục Chấn
  3. Bình Bán Chấn
  4. Cổ Bản Trường
  5. Xuân Tình Chấn
  6. Tây Thi Trường

Giới đờn ca tài tử thường chơi Cổ Bản Vắn và Tây Thi Vắn mà ít chơi hai bài Cổ Bản Trường và Tây Thi Trường.

Bảy Bài (tức 7 bài nhạc lễ):

  1. Xàng Xê
  2. Ngũ Đối Thượng
  3. Ngũ Đối Hạ
  4. Long Ngâm
  5. Long Đăng
  6. Vạn Giá
  7. Tiểu Khúc

Bốn Oán:

  1. Tứ Đại Oán
  2. Phụng Cầu
  3. Giang Nam
  4. Phụng Hoàng

Bài Giang Nam còn gọi là Giang Nam Cửu Khúc (vì có 9 lớp), bài Phụng Cầu còn gọi là Phụng Cầu Hoàng Duyên, bài Phụng Hoàng còn gọi là Phụng Hoàng Lai Nghi. (Tài liệu xưa là sách Cầm Ca Tân Điệu và Nhạc Cổ Điển Việt Nam chỉ gọi là Phụng Cầu, Phụng Hoàng mà thôi).

Hai mươi bài tổ này bao gồm đủ cả các âm điệu vui, buồn, thương, giận nên được nhạc giới miền Nam dùng làm căn bản cho nền cổ nhạc từ đó cho đến bây giờ. Vì sự đa dạng của 20 bài tổ nên ít có người đờn hoặc ca làu thông 20 thể điệu này. Vào năm 2007, nhạc sư Ba Tu đã độc tấu đờn kìm đầy đủ 20 bài, xin được giới thiệu sau đây.

Xin nhấn vào hình loa màu xanh phía dưới kế bên mỗi bài để nghe nhạc.

BA NAM:

    Nam Xuân: Điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này thường được dùng để mở đầu các chương trình đờn ca tài tử hoặc ca nhạc cải lương.     Nam Ai: Buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.     Đảo Ngũ Cung qua Song Cước: Tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.
    Nam Xuân: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh     Nam Ai: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(lớp 1, 2 qua lới Mái 7 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh     Đảo Ngũ Cung: Hiệp Nhứt Trường – (20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh
SÁU BẮC:
    Lưu Thủy Trường: Điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).     Phú Lục Chấn: Sôi nổi, rộn rã, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).     Bình Bán Chấn: Phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.     Cổ Bản Vắn: Câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.
    Lưu Thủy Trường: Bá Nha Tử Kỳ – (lớp 1, 2). Ca sĩ: Đoàn Dự     Phú Lục Chấn: Khổng Tử Khóc Nhan Hồi – (lớp 1, 2 và 4), Ca sĩ: Đoàn Dự     Bình Bán Chấn: Họa Tượng Vân Tiên – lời: Mười Phú. Ca sĩ: Từ Hải     Cổ Bản Vắn: Duyên Hậu Nghệ – Ca sĩ:Cao Thị Thắng
    Xuân Tình Chấn: Vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.     Tây Thi Vắn: Êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).
    Xuân Tình: Tống Tửu Đơn Hùng Tín – Ca sĩ: Hề Sa (Trình Giảo Kim), An Danh ( La Thành), Thanh Phú ( Đơn Hùng Tín).     Tây Thi Trường: Lưu Bình Dương Lễ – lời: Mười Phú (26 câu). Ca sĩ: Thế Hùng
BẢY BÀI:
    Xàng Xê: Hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.     Ngũ Đối Thượng: Có tính uy nghi, nghiêm trang của kẻ trên đối với người dưới.     Ngũ Đối Hạ: Còn gọi tắt là bài Hạ, uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.     Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. Bài này giống như bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
    Xàng Xê: Nhớ Quê Ngũ Tân, Thanh Bình – lời: Thanh Hiền (8 câu đầu). Ca sĩ: Đoàn Dự     Ngũ Đối Thượng: Lữ Bố Hí Điêu Thuyền – (16 câu lớp 1). Ca sĩ: Thanh Tuyết     Ngũ Đối Hạ: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Long Ngâm: Nam Quốc Sơn Hà – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ
   Long Đăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. Giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.     Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị.     Tiểu Khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.
    Long Đăng: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Vạn Giá: Cải Lương Tiền Giang – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Tiểu Khúc: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ
BỐN OÁN:
    Tứ Đại Oán: Điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.     Phụng Cầu: Như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.     Giang Nam Cửu Khúc: Trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.     Phụng Hoàng: Như Phụng Cầu.
    Tứ Đại Oán: Mong Chờ – lời: Trần Ngọc Thạch (lược bớt lớp Xang dài). Ca sĩ: Kim Thanh     Phụng Cầu: Từ Hải Thọ Tiễn – lời: Trần Ngọc Thạch (10 câu đầu lớp 1). Ca sĩ: Kim Thanh     Giang Nam Tam Khúc: Tình Hoài Hương – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ     Phụng Hoàng: Nhớ Cha – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Kim Thanh

Bài viết tổng hợp từ những tài liệu:

  • Nhị Tấn, Nhạc Tài Tử Nam Bộ, TP HCM, Câu lạc bộ Đờn Ca Tài Tử quận 8, 1997.
  • Nguyễn Tuấn Khanh, Bước Đường Của Cải Lương, California-USA, Viện Việt-Học, 2014.
  • CD 20 Bài Tổ do nhạc sư Ba Tu độc tấu đờn kìm, Long An, Sở VHTT&DL Long An, 2007.
  • CD Đồng Điệu Tri Âm, Long An, Sở VHTT&DL Long An, 2013.
  • Cassettes Đờn Ca Tài Tử do soạn giả Trần Ngọc Thạch thu trong những buổi Đờn Ca Tải Tử.

http://www.namkyluctinh.org/a-amnhac/ntkhanh-HaiMuoiBaiTo.html

Nhạc sư BA TU đờn kìm 20 bài tổ trọn bản dưới đây

BA NAM : Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung

Nam Xuân: Điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này thường được dùng để mở đầu các chương trình đờn ca tài tử hoặc ca nhạc cải lương.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Nam%20Xuan.mp3

Nam Xuân: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Luu%20Thuy%20Truong%20Ba%20Nha%20Tu%20Ky-Doan%20Du.mp3

Nam Ai: Buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dùng nhất.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Nam%20Ai.mp3

Nam Ai: Tô Huệ Chức Cẩm Hồi Văn –(lớp 1, 2 qua lới Mái 7 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Nam%20Ai%20-%20To%20Hue%20Chuc%20Cam%20Hoi%20Van-Kim%20Thanh.mp3

Đảo Ngũ Cung qua Song Cước: Tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Dao%20Ngu%20Cung%20qua%20Song%20Cuoc.mp3

Đảo Ngũ Cung: Hiệp Nhứt Trường – (20 câu đầu). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Dao%20Ngu%20Cung%20Hiep%20Nhut%20Truong-Doan%20Du.mp3

SÁU BẮC : Lưu Thủy Trường, Phú Lục Chấn, Bình Bán Chấn, Cổ Bản Vắn, Xuân Tình Chấn, Tây Thi Vắn

Lưu Thủy Trường: Điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Luu%20Thuy%20Truong.mp3

Lưu Thủy Trường: Bá Nha Tử Kỳ – (lớp 1, 2). Ca sĩ: Đoàn Dự

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Luu%20Thuy%20Truong%20Ba%20Nha%20Tu%20Ky-Doan%20Du.mp3

Phú Lục Chấn: Sôi nổi, rộn rã, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Phu%20Luc%20Chan.mp3

Phú Lục Chấn: Khổng Tử Khóc Nhan Hồi – (lớp 1, 2 và 4), Ca sĩ: Đoàn Dự

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Phu%20Luc%20Chan%20Khong%20Tu%20khoc%20Nhan%20Hoi-Doan%20Du.mp3

Bình Bán Chấn: Phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Binh%20Ban%20Chan.mp3

Bình Bán Chấn: Họa Tượng Vân Tiên – lời: Mười Phú. Ca sĩ: Từ Hải

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BINHBANCHAN-HOATUONGVANTIEN-MUOIPHU-TUHAI-MINHNHUT-VANXINH-D.mp3

Cổ Bản Vắn: Câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Co%20Ban%20Van.mp3

Cổ Bản Vắn: Duyên Hậu Nghệ – Ca sĩ:Cao Thị Thắng

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/Co%20Ban%20Van%20-%20Duyen%20Hau%20Nghe%20-Cao%20Thi%20Thang.mp3

Xuân Tình Chấn: Vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Xuan%20Tinh%20Chan.mp3

Xuân Tình: Tống Tửu Đơn Hùng Tín – Ca sĩ: Hề Sa (Trình Giảo Kim), An Danh ( La Thành), Thanh Phú ( Đơn Hùng Tín).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TongTuuDonHungTin-HeSa-AnDanh-ThanhPhu.mp3

Tây Thi Vắn: Êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Tay%20Thi%20Van.mp3

Tây Thi Trường: Lưu Bình Dương Lễ – lời: Mười Phú (26 câu). Ca sĩ: Thế Hùng

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/Tay%20Thi%20Truong%2026%20cau%20Luu%20Binh%20Duong%20Le-The%20Hung.mp3

BẢY BÀI:  Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Ngâm, Long Đăng, Vạn Giá, Tiểu Khúc

Xàng Xê: Hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Xang%20Xe.mp3

Xàng Xê: Nhớ Quê Ngũ Tân, Thanh Bình – lời: Thanh Hiền (8 câu đầu). Ca sĩ: Đoàn Dự

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Xang%20Xe%20Nho%20que%20Ngu%20Tan-Thanh%20Binh-Doan%20Du.mp3

Ngũ Đối Thượng: Có tính uy nghi, nghiêm trang của kẻ trên đối với người dưới.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Ngu%20Doi%20Thuong.mp3

Ngũ Đối Thượng: Lữ Bố Hí Điêu Thuyền – (16 câu lớp 1). Ca sĩ: Thanh Tuyết

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/Ngu%20Doi%20Thuong%20-%2016%20cau%20Thanh%20Tuyet.mp3

Ngũ Đối Hạ: Còn gọi tắt là bài Hạ, uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Ngu%20Doi%20Ha.mp3

Ngũ Đối Hạ: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Ngu%20Doi%20Ha%20-%20Hon%20Thieng%20Song%20Nui-Bach%20Hue.mp3

Long Ngâm: Rồng xuống, tượng trưng Âm khí. Bài này giống như bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Long%20Ngam.mp3

Long Ngâm: Nam Quốc Sơn Hà – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Long%20Ngam%20-%20Nam%20Quoc%20Son%20Ha-Bach%20Hue.mp3

Long Đăng: Rồng lên, tượng trưng Dương khí. Giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Long%20Dang.mp3

Long Đăng: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Long%20Dang%20-%20Hon%20Thieng%20Song%20Nui-Bach%20Hue.mp3

Vạn Giá: Vạn vật sinh thành đều có giá trị.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Van%20Gia.mp3

Vạn Giá: Cải Lương Tiền Giang – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Van%20Gia%20-%20Cai%20Luong%20Tien%20Giang-Bach%20Hue.mp3

Tiểu Khúc: Nhỏ ngắn đều có định luật.mp3

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Tieu%20Khuc.mp3

Tiểu Khúc: Hồn Thiêng Sông Núi – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Tieu%20Khuc%20-%20Hon%20Thieng%20Song%20Nui-Bach%20Hue.mp3

BỐN OÁN: Tứ Đại Oán, Phụng Cầu, Giang Nam Cửu Khúc, Phụng Hoàng 

Tứ Đại Oán: Điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Tu%20Dai%20Oan.mp3

Tứ Đại Oán: Mong Chờ – lời: Trần Ngọc Thạch (lược bớt lớp Xang dài). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Tu%20Dai%20Oan%20Mong%20Cho-Kim%20Thanh.mp3

Phụng Cầu: Như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Phung%20Cau.mp3

Phụng Cầu: Từ Hải Thọ Tiễn – lời: Trần Ngọc Thạch (10 câu đầu lớp 1). Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Phung%20Cau%20Tu%20Hai%20Tho%20Tien-Kim%20Thanh.mp3

Giang Nam Cửu Khúc: Trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Giang%20Nam%20Cuu%20Khuc.mp3

Giang Nam Tam Khúc: Tình Hoài Hương – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Bạch Huệ

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/TranNgocThach-Giang%20Nam%20Tam%20Khuc%20-%20Tinh%20Hoai%20Huong-Bach%20Hue.mp3

Phụng Hoàng: Như Phụng Cầu.

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/BaTu-20%20bai%20to-Phung%20Hoang.mp3

Phụng Hoàng: Nhớ Cha – lời: Trần Ngọc Thạch. Ca sĩ: Kim Thanh

http://www.namkyluctinh.org/MUSIC/NAM/Nhac_Tai_Tu/DongDieuTriAm-Phung%20Hoang%20Nho%20Ca-Kim%20Thanh.mp3