HOÀNG NHUNG : Sức sống bài chòi


Sức sống bài chòi

“Chiếu” bài chòi của các bà, các cô ở tổ 124 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà.  Ảnh: H.N
“Chiếu” bài chòi của các bà, các cô ở tổ 124 phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà. Ảnh: H.N

Ngày đầu năm, gặp anh Đỗ Hữu Quế, chủ nhiệm câu lạc bộ (CLB) Bài chòi Sông Yên (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) tại Hội Hoa xuân ở công viên 29-3, anh cười vui: “Năm nay thắng lợi lớn em ạ, có đến hàng nghìn lượt khách. Không chỉ người lớn tuổi, lớp trẻ cũng biết chơi bài chòi. Vậy là bài chòi vẫn còn đầy sức sống”. Nhớ câu ca “Rủ nhau đi đánh bài chòi/ Để con nó khóc mà lòi rốn ra…” mới thấy bài chòi hấp dẫn lắm, nam thanh nữ tú còn mê huống gì người lớn tuổi.

Khu vực bài chòi cũng được xem là nơi thu hút nhiều người xem, người chơi nhất Hội Hoa xuân. Tiếng hô, tiếng hát của người cầm trịch, tiếng cười vui của người thắng bài đôi khi như muốn át tiếng các làn điệu du dương, bay bổng. Đặc biệt là tiếng trống chầu vang lên giục giã. Sức sống của bài chòi là đây, một trò chơi truyền thống của vùng Khu 5, tồn tại hàng trăm năm, có lúc thăng, lúc trầm, nhưng nhiều năm trở lại đây đã thực sự tìm được đất sống qua các ngày hội làng, mừng xuân, mừng mùa vụ mới…

CLB Bài chòi mang tên Sông Yên của huyện Hòa Vang có 14 thành viên chính thức, ai cũng am hiểu thể lệ cuộc chơi, các làn điệu bài chòi và đặc biệt là có năng khiếu, chất giọng và tâm huyết. Nhiều năm nay, CLB ra đời đã làm được nhiệm vụ bảo tồn một loại hình văn hóa truyền thống, giúp những người yêu thích các làn điệu dân ca, bài chòi có điều kiện phát huy tiềm năng.

Mỗi ván bài chòi có 30 quân cờ với 30 tên gọi khác nhau chia thành 10 loại thẻ gỗ (3 quân cờ là một thẻ) và người chơi sẽ được chọn mua các loại thẻ đó. Sau khi “nhà cái” phát hết thẻ cho mọi người, ván cờ sẽ được bắt đầu bằng việc rút thăm que tre có ghi tên một quân cờ. Lúc này, anh “hiệu” (người hô hiệu) sẽ dẫn dắt cuộc chơi bằng những câu hát dân ca truyền thống mượt mà giai điệu quê hương, nhất là nội dung “Xuân đến Tết về” có liên quan đến tên quân cờ ghi trên chiếc thăm đó, lần lượt cho đến khi ba thẻ tre được rút liên tiếp có tên gọi trùng với các tên quân cờ ghi trên cùng một thẻ gỗ…

Khi tham gia, nếu thấy tên quân cờ của mình được nhắc đến trong câu hát, người chơi sẽ phải hô lên và trình thẻ gỗ để được phát một lá cờ vàng, tương đương với một phần thưởng nhỏ. Nếu người chơi có được chiếc thẻ gỗ ghi tên 3 quân cờ được nêu tên, người đó sẽ đoạt được phần thưởng lớn nhất của cuộc chơi và ván cờ kết thúc.

Anh Đỗ Hữu Quế cho hay, trước khi hô “hiệu”, anh phải tìm hiểu văn hóa, đặc trưng của địa phương nơi sẽ diễn hội bài chòi rồi ứng biến vào trong các câu thai nhằm tạo sự gần gũi và sinh động, thu hút được sự chú ý của bà con hơn. Người hô “hiệu” phải rành các điệu hát, điệu hò quen thuộc, phải lặn lội đi về những vùng quê để hỏi, ghi chép lại những điệu hô bài chòi cổ, rồi dựa vào đấy mà sáng tạo ra những lời hô vừa dân dã, vừa hiện đại để làm cho người chơi hội bài chòi thấy được hình ảnh quê hương thân yêu của mình lồng trong một trò chơi văn hóa đầy ý nghĩa đó.

Anh hiệu là người quản trò, làm cho cuộc chơi luôn luôn sôi động và hấp dẫn. Câu hô bằng thơ lục bát, bóng bẩy, ẩn chứa nội dung con bài một cách lắt léo để người nghe phỏng đoán là con bài gì. Mỗi con bài đều có hình vẽ khác nhau rất bình dân để vui chơi, giải trí. Người ta vẽ các hoàng tử, công chúa, thái tử, tướng… hoặc hình đồng tiền, con gà, hai người ôm nhau, hoặc những hình tròn, những nét lăng quăng, hài hước. Mỗi con bài đều có tên và có câu “hô thai” con bài đó để người chơi bài đoán ra.

Ở mỗi hội bài chòi, khi anh Hiệu quần áo chỉnh tề bước ra chắp tay cung kính xin phép hội chơi bắt đầu:

– Dạ dạ… chín chòi lẳng lặng mà nghe/Nay hiệu tôi phát bài đã đủ/Đây tôi xin thủ bài tì/Ai có lá gì phải nghe cho rõ/ Ai có lá đó, gõ mõ ba dùi/ Đừng tới đừng lui để hiệu tôi đem tới…

Anh hiệu vừa hô vừa làm điệu bộ như múa chân tay, vuốt tóc và làm cho các người chơi bài ngồi ở các chòi phải theo dõi, hồi hộp, chờ đợi đến câu chót mới biết đó là con bài gì để gõ mõ.

Anh hiệu hô: Lấy chồng từ thuở mười lăm/Chồng chê em nhỏ không nằm với em/Bây giờ mười tám đẹp xinh/Em ngủ dưới đất chồng rinh lên giường/Một rằng thương, hai rằng thương, ba bốn cũng nói rằng thương/Huớ anh ơi! Thương chi hung rứa? Có bốn cẳng giường gãy 1 còn 3. Đó là lời hát con bài Tứ cẳng

Hay lời của con bài Nhứt trò: Đi đâu mang sách đi hoài/Cử nhân chẳng đậu, tú tài cũng không?

Những người ngồi chơi niềm vui đong đầy với tâm trạng thấp thỏm, hồi hộp. Anh Hữu Quế cho biết, đối với dân sành đánh bài chòi thì chỉ cần nghe câu hò đầu tiên là có thể đoán con bài. Ví dụ: con ba bụng, ở Quảng Nam-Đà Nẵng hô: Chồng nằm chính giữa / Hai vợ hai bên / Lấy chiếu đắp lên / Gọi là ba bụng / Huơ ba bụng!. Người ta đánh bài chòi để thử thời vận hên xui dịp đầu năm, chứ không tính ăn thua đỏ đen, và trở thành một loại hình nghệ thuật dân gian. Hiện nay có nhiều nghệ nhân phát triển loại hình bài chòi ở nhiều vùng khác nhau ở Đà Nẵng như anh CLB của anh Tấn ở Hòa Minh, chị Nguyệt ở Nam Ô…

Vốn “tài sản” là các bài ca dao, câu vè, câu thơ của CLB Sông Yên giờ đã lên đến hàng trăm, được sưu tầm ở nhiều vùng quê, đặc biệt là vùng Hòa Tiến, Hòa Phong, nơi còn lưu giữ nhiều làn điệu dân ca Khu 5, nơi dòng sông Yên mượt mà chảy qua. Nhiều câu hát bài chòi có ý nghĩa như một “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội.

Đi vào nhiều khu dân cư thấy bài chòi không còn thịnh hành như ngày xưa, đến cái nôi bài chòi Đà Nẵng là Hòa Vang thấy bài chòi thưa vắng. Nhưng rất bất ngờ là tại nhiều khu dân cư ở phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà, nhiều ông, bà đầu hai thứ tóc vẫn tổ chức hội bài chòi cho các bạn già, và cũng là cho chính mình. Chỉ có thể gọi là “chiếu” bài chòi, với mươi người tham gia, nhưng nói như bà Ba Hồng, ở tổ 124 phường Nại Hiên Đông là “vui đáo để”…

HOÀNG NHUNG

http://baodanang.vn/channel/6061/201402/suc-song-bai-choi-2305795/

NGỌC HÀ : Khôi phục bài chòi


Khôi phục bài chòi

Hô hát bài chòi tại phố cổ Hội An thu hút khá đông người xem.
Hô hát bài chòi tại phố cổ Hội An thu hút khá đông người xem.

Bài chòi là một trong những loại hình dân gian độc đáo không thể thiếu trong các lễ hội của người dân miền Trung, nhất là dịp Tết. Vì vậy, phục hồi, giữ gìn và phát huy giá trị loại hình nghệ thuật đặc sắc này là nhiệm vụ khẩn thiết.

Loại hình dân gian độc đáo

Theo nhạc sĩ – nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Hồng, vẫn chưa có câu trả lời chính xác bài chòi ra đời lúc nào, ở đâu, mặc dù đã có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu, tìm tư liệu để xác nhận nguồn gốc nhưng tất cả đều là giả định, ước đoán, chưa có cơ sở khoa học. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vào thế kỷ thứ 15, tại miền Trung, xuất phát từ việc giữ hoa màu khỏi bị thú dữ phá hoại, người dân làm các chòi để canh. Những đêm khuya thanh vắng, họ nghĩ ra các trò chơi, hát ổng để giải trí và tâm tình với nhau từ chòi này sang chòi kia. Hoặc các chòi nằm sát nhau thì tổ chức “đánh bài chòi”, trong khi chờ đợi ván bài kết thúc, người ta dùng ca dao, câu vè, câu thơ thích hợp để đọc, để hát.

Qua thời gian, đánh bài chòi trở thành trò diễn xướng dân gian và là hình thức giải trí lành mạnh, không thể thiếu của người dân miền Trung (từ Quảng Trị vào đến Bình Thuận). Diễn xướng hô hát bài chòi thường diễn ra ở sân đình – những nơi có sân rộng, tập hợp được nhiều người. Nơi đó, người ta dựng 9 cái chòi, có nơi 11 chòi. Chòi trung ương lớn hơn, các chòi còn lại dựng thành hai hàng dọc. Người hô bài (người hiệu) đứng chính giữa hát diễn xướng, chia bài cho các chòi.

Hiện nay, hô hát bài chòi có nhiều cải biến, đơn giản hơn chỉ gồm một chòi chính dành cho người hiệu, còn lại là một vài chòi của người chơi. Để thực hiện một chương trình hô hát bài chòi, cần có một bộ thẻ cờ gồm 10 thẻ, 30 quân cờ và mỗi thẻ tương ứng 3 quân cờ, chia đều cho người chơi. Cuộc chơi bắt đầu khi người hiệu cất tiếng hát: Lẳng lặng mà nghe, tôi hô con bài, con gì nó ra đây… Sau những câu hát mở đầu, người hiệu đưa tay rút một quân cờ trong ống tre và hát làn điệu dân ca sao cho kết thúc với những từ liên quan tới tên quân cờ đó, sau đó xướng tên quân cờ đó rõ to cho tất cả mọi người đều nghe.

Trong số những người chơi, ai có tên quân cờ trên thẻ trùng với tên quân cờ người hiệu vừa xướng thì hô to báo hiệu, lập tức một người chạy cờ chạy đến trao cho người đó một lá cờ nhỏ màu vàng. Ván chơi kết thúc khi một trong những người chơi có đủ 3 lá cờ. Người chiến thắng sẽ nhận được một món quà từ ban tổ chức. Nhạc cụ của chương trình diễn xướng hô hát bài chòi gồm: đàn cò, kèn, một trống chiến.

Diễn xướng hô hát bài chòi với không gian gần gũi tạo sự gắn kết mọi người với nhau. Đồng thời, những câu hát có nội dung hấp dẫn, dân dã, hoặc đả kích những thói hư tật xấu trong xã hội được người chơi hưởng ứng, mang lại không khí vui vẻ, thỏa mái. Vì vậy, bài chòi đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của những người dân và họ mê đến nỗi có câu nói vui rằng: “Rủ nhau đi đánh bài chòi. Để con nó khóc mà lòi rốn ra”.

Khôi phục bằng cách nào?

“Kể từ khi tách tỉnh, đoàn ca kịch Quảng Nam về với tỉnh Quảng Nam, hình thức bài chòi chuyên nghiệp ở thành phố xem như không có. Bài chòi ở Đà Nẵng chỉ còn hình thức dân gian và hiện diện ít ỏi ở các quận, huyện vùng ven như phường Hòa An (Cẩm Lệ), CLB bài chòi Hòa Liên, CLB bài chòi sông Yên (huyện Hòa Vang) và tồn tại trong các khu dân cư ở các quận Sơn Trà, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn”, nhạc sĩ Trần Hồng cho biết.

Cũng theo nhạc sĩ Trần Hồng, các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam gìn giữ, bảo tồn bài chòi khá tốt. Chẳng hạn, mỗi tối cuối tuần, người dân và du khách tụ tập bên bờ sông Hoài (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam) để chơi bài chòi đầy hứng khởi. Trong khi đó, ở tỉnh Bình Định, từ năm 2011, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở VH-TT&DL phục dựng hội bài chòi dân gian nên loại hình nghệ thuật này dần lan tỏa trong nhân dân. Còn ở Đà Nẵng, bài chòi vẫn mang tính tự phát do những người yêu mến loại hình này lập.

Ông Đỗ Hữu Quế, Chủ nhiệm CLB bài chòi sông Yên cho biết, hiện các thành viên trong CLB làm những công việc khác nhau, còn hát bài chòi chỉ là nghề tay trái. “Thế nhưng, chúng tôi mê hát lắm, có ai mời thì đi diễn ngay, thỉnh thoảng biểu diễn tại các lễ hội của thành phố, các nhà thờ tộc… Để thỏa lòng đam mê và đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người dân, chúng tôi cũng thường biểu diễn ở các xã, thôn. Đến đâu cũng được bà con hưởng ứng. Nhưng chúng tôi mong có “đất” biểu diễn ở trung tâm thành phố nhiều hơn để người dân và du khách biết đến loại hình nghệ thuật này. Gìn giữ nghệ thuật bài chòi là gìn giữ vốn quý của văn hóa phi vật thể và cũng là gìn giữ truyền thống cho thế hệ mai sau. Nhiều người tâm huyết với nghề cảm thấy buồn vì bài chòi chưa được quan tâm đầu tư nhiều như một số loại hình nghệ thuật truyền thống khác”, Chủ nhiệm CLB bài chòi sông Yên nói.

Trong khi đó, trao đổi với chúng tôi, ông Hồ Tấn Tuấn – Giám đốc Trung tâm Quản lý di sản thành phố – cho biết Bộ VH-TT&DL đã đề nghị 11 tỉnh, thành phố miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận (không bao gồm Tây Nguyên), xây dựng hồ sơ quốc gia về nghệ thuật bài chòi dân gian. Các đơn vị phải hoàn thành hồ sơ trước ngày 31-3-2015 để tạo thuận lợi cho việc xây dựng hồ sơ “Tục chơi bài chòi mùa Xuân của người Việt” trình UNESCO xem xét ghi danh vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016.

“Đây là cơ hội tốt để khôi phục bài chòi cho thành phố, nhưng việc xây dựng hồ sơ đang gặp khó khăn. Cuối tháng 8 vừa qua, nghệ thuật bài chòi của 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam đã được Bộ VH-TT&DL công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong khi đó, tại Đà Nẵng, công tác kiểm kê di sản nghệ thuật bài chòi vẫn chưa được thực hiện. Chúng tôi đã đề xuất kinh phí cho hoạt động này nhưng bị gạt bỏ”, ông Tuấn trăn trở.

Ông Hồ Tấn Tuấn cho biết thêm, nếu bài chòi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại thì loại hình nghệ thuật này sẽ được tôn vinh đúng giá trị đích thực về khoa học, lịch sử, văn hóa của di sản và có các kế hoạch bảo tồn, phát huy nghệ thuật bài chòi. “Trước mắt, chúng tôi mong muốn các cấp chính quyền quan tâm, tạo điều kiện để tiến hành khảo sát sớm, hoàn thành hồ sơ trình Bộ VH-TT&DL công nhận bài chòi Đà Nẵng là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia”, ông Tuấn nói.

NGỌC HÀ

;
.

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : SUY TƯ CỦA MỘT NHẠC SƯ NHẠC CỔ TRUYỀN


 chan-dung-vinh-bao

NHẠC SƯ VĨNH BẢO : Tôi bắt đầu học đàn từ tuổi lên năm.

Mãi cho tới này này tôi đã có dịp tiệp cận với trên 200 nhạc sư nhạc sĩ của ba miền đất nưới. Mỗi người tôi gặp đều có một chút gì đó đáng cho tôi học . Nếu nói theo danh từ « Nhứt tự chi sư bán tự chi sư – một chữ cũng thầy , nửa chữ cũng thầy) thì tôi có rất nhiều thầy – Thầy trực tiếp dạy tôi đàn, những nhạc sư nhạc sĩ tôi có dịp giao lưu, những người nghe tôi đàn, kể cả học trò của tôi mà tôi xem họ như là tri âm .

Âm nhạc là nỗi đam mê của tôi. Nó gắng liền với cuộc sống sâu kín của tôi . Giúp tôi có đủ nghị lực vượt qua mọi chán nản cay nghiệt mà tôi phải đương đầu với cuộc sống hằng ngày . Mỗi khi tôi đàn, tôi thấy mình đang đắm chìm trong trạng thái tĩnh lặng, rất gần với Thiền, điều này giúp tôi thắng được chính mình hầu dễ dàng chấp nhận cái tối thiểu mà cuộc sống mang lại. Phản kháng cũng chẳng được gì, bởi cuộc sống chỉ đãi ngộ cho những ai ít đòi hỏi và biết phục tùng

« Je ne gagnerai rien à me rebeller, car la vie ne s’offre qu’aux humbles et à ceux qui ne refusent de se soumettre)

Thà chết đứng, không sống quỳ gối (mourir debout que de vivre à genoux)

Tánh tham lam của tôi cho tôi sử dụng được một số loại nhạc cụ như : đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn gáo, đàn đoản, đàn xến, đàn tỳ bà, đàn bầu, đàn guitare phím lõm, đàn violon và 3 năm đàn piano.

Tôi xem những nhạc sụ trên là bạn thân, nếu không bảo là người yêu, nói lên thay cho tôi những gì tôi muốn nói, trung thành, không xu nịnh tôi .

Nhả chút tơ tằm lên phím nhạc

Gởi vào cung bực ít tâm tư

Nắn cung giọng oán từng hơi thở

Gởi vào đường tơ muôn mảnh lòng

Tôi đước cái diễm phúc thụ hưởng đôi chút của tiền nhân. Tự xem mình như người cộng tác của đương thơì, nơi nương tựa của hậu thế . Nhưng vì tôi thuộc cây mọc trên mảnh đất cằn cỗi, một phiến đá che phủ bởi rông rêu, nên những gì tôi làm được chỉ là một giọt nước trong đại dương, chẳng có gì để mà hãnh diện .

Bởi nghĩ cuộc sống thu giữ là cuộc sống thối mục

Chết mà không lưu lại gì , kể như chết luôn, tôi luôn sẵn sàng và nhiệt tình sang sẻ những hiểu biết của mình

Chín mươi bảy tuổi, tâm huyết vẫn còn

Như cây cổ thụ, che bóng cành non

Muốn trao báu vật, cả đời tích lũy

Cho cả mọi người , không chỉ cháu con .

Mắt vẫn sáng, không danh lợi che lấp

Tinh thần trẻ trung, vật chất xem thường,

Nặng đời người , chỉ hai chữ Tình Thương,

Nên suối nhạc, như hương bay bổng…..

Tinh thần trẻ trung, vật chất xem thường,

Nặng đời người, chỉ hai chử Tình Thương,

Nên suối nhạc, như hương bay bổng ………

Nói về nhạc tài tử nam bộ, tôi tự xem mình là người ngoại đạo, đơn độc âm thầm làm cái công việc phục vụ, truyền bá, Thích giao du, phục vụ tri âm , tri kỷ. Quan niệm của tôi về một nhạc sĩ đúng với cái tên gọi là không vì danh vì lợi . Luôn đứng sau mọi người phục vụ mọi người . Cống hiến năng lực của mình để làm nẩy sinh cuộc sống trong chính mình và trong mọi người chung quanh mình . Khi nghĩ đến người khác thì tà sẽ tìm ra mình .

Tôi ví Nhạc như Hội họa. Thích những nốt nhạc mang nhiều màu sắc khác nhau, những nốt nhạc biết suy nghĩ (musique qui peint, qui pense ), nghĩa là có thể làm cho tôi rung động. Giúp tôi giải tỏa hay làm tan biến những nỗi lo âu (dextérioriser ou dissoudre mes angoisses )

Nhà nghiên cứu TRẦN HỒNG : BÀI CHÒI –


BÀI CHÒI – Nhà nghiên cứu TRẦN HỒNG
Ngày xưa, cứ đến Tết Nguyên đán người ta thường tổ chức các hội vui chơi nào là đua ghe, đá gà, hội vật, đấu võ, hát sắc bùa, hát bội, đánh Bài Chòi…Đánh Bài Chòi là trò diễn xướng dân gian rất thịnh hành ở Miền Trung từ những năm đầu thập kỷ 20 cho đến sau những năm kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do còn tổ chức. Hát Bài Chòi, Nói Vè, Hô Lô Tô, Hát Dân ca được đưa vào các chương trình văn nghệ quần chúng để động viên, tuyên truyền các chính sách của Đảng rất đắc lực.Bài Chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đến Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai cho đến nay. Bài Chòi vẫn tồn tại mạnh mẽ, sâu rộng trong làng xã khắp nơi trong tỉnh Bình Định.

Bài Chòi ra đời vào lúc nào, ở đâu? Đã có nhiều người sưu tầm, nghiên cứu, tìm tư liệu để xác nhận nguồn gốc Bài Chòi, nhưng đều là giả định và ước đoán, chưa có cơ sở khoa học.

Ông Phan Đình Lang, tức Bốn Trang, còn gọi là Bốn Que, sinh năm 1910, ở xã Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định đã nói rằng hồi còn nhỏ ông đã nghe ông nội và bà con kể là Bài Chòi do ông Đào Duy Từ (1571 – 1634) ở ngoài Bắc vào Bình Định khai khẩn đất hoang, sinh cơ lập nghiệp, xây làng lập ấp. Ông còn lập gánh hát Bội, dạy hát, múa Tuồng, vui trong các ngày lễ, ngày Tết và bày ra chơi Bài Chòi. Từ việc làm các chòi giữ hoa màu khỏi bị heo, nai, thú rừng ăn phá, khi có thú về họ gõ mõ, gõ các dụng cụ để xua đuổi, các chòi làm gần nhau để hỗ trợ, canh gác, họ căng dây nối vào 2 ống tre, có bịt da ếch, nói vào ống, người phía đầu ống ở chòi bên kia để tai vào ống nghe được, “Hát ống” có từ đó, ông Đào Duy Từ mới sáng kiến bày ra trò chơi Bài Chòi trong các ngày Tết.

Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên (trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974) có nhà Âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.”

Tại những vùng mới khai hoang, nhà ở tạm bợ, họ dựng các nhà chòi để canh giữ, chống thú vật, ăn phá rẫy nương, hoa màu. Các chòi cao để chống lũ lụt và khi chuyển vùng canh tác, tháo dỡ được nhanh chóng.

Khảo sát về tập quán người Việt xưa ở vùng Trung du, miền núi, hai ông P. Huard và M. Durand, các nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp đã mô tả: “Thôn dân ngủ đêm trên Chòi để canh heo rừng và thú dữ ra phá hoại hoa màu. Trên một chòi cao của mỗi rẫy, họ làm liên hoàn các rẫy và có nhiều chòi quanh nhau, khi có thú rừng về, các chòi đều đánh mõ, khua phèng la và xua đuổi vang động khắp vùng để hỗ trợ cho nhau. Những đêm thanh vắng họ nghĩ ra các trò chơi, hát ống để giải trí và tâm tình với nhau từ chòi này qua chòi kia. Từ đó họ sáng tạo ra Hô Bài Chòi, “Đánh Bài Chòi” được hình thành. Qua một thời gian dài Bài Chòi đã trở thành một nhu cầu giải trí lành mạnh trong kho tàng Văn nghệ dân gian Miền Trung”. (Ca dao, dân ca Phú Yên 1994).

Cụ Phan Đình Long có truyền thuyết Hội Bài Chòi từ việc dựng Chòi cao để khua mõ đuổi thú rừng canh giữ hoa màu. Ông G.L. Bouvier, ông P. Huard, ông M. Durand là những nhà nghiên cứu âm nhạc học người Pháp, các ông này đã đến Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, đã dành một chương dài có tên là La chanson Populaire de L”Anam (trong quyển La Rousse Musicale – Paris 1928) để nói về nguồn gốc Bài Chòi cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau năm 1470, các ông này cũng nói Bài Chòi phát xuất từ các chòi giữ thú rừng, các trò chơi giải trí trên chòi, rồi bày ra Hội Bài Chòi”. (Ca dao, dân ca Phú Yên, 1994).

“G.L.Bôviơ, một học giả, người Ba Lan gốc Pháp từng có mặt trong nhóm nghiên cứu văn hóa Phương Đông của Bồ Đào Nha, Italia đến Việt Nam từ trước đại chiến thế giới lần thứ nhất. Năm 1902, Bôviơ hoàn thành tập sách: về Hát Bài Chòi (Voici quelques pièces Hat Bai choi tireés du Phong trao Can Vuong). Mới đây trong khi tìm hiểu về nghệ thuật Hát Bài chòi, tôi tìm được một vài trang trong tập sách trên và xin giới thiệu với bạn đọc.

Hát Bài chòi, theo Bôviơ xuất hiện ở những tụ dân cư vùng rừng núi xa xôi. Tại những nơi này, từ việc xây cất nhà cửa đến việc làm ruộng, làm rẫy, săn thú… đều dựa theo kinh nghiệm lâu đời của người địa phương. Theo đó, nhà được dựng lên bằng hình thức “dã chiến”, có thể tháo – gỡ – lắp ráp dễ dàng mỗi khi cần chuyển vùng canh tác (du canh – du cư). Nhà càng gần rừng núi, gần dã thú càng cất thu hẹp lại và càng cao hơn ở phần chân trụ (dạng nhà sàn – ngày nay vẫn còn). Dựa vào phương tiện nhà ở và nhà chòi giữ rẫy sẵn có, người ta bày ra trò chơi. Giải trí là chủ yếu, nhưng để “sát phạt – hơn thua” nhau cũng thường xảy ra. Trò chơi này về sau người ta quen gọi là “đánh Bài chòi”.

Muốn trò chơi kiểu này được tập trung hơn, mỹ quan hơn… dần dần người ta chọn những nơi có nhiều nhà san sát nhau để tổ chức “đánh bài chòi” với nhau trong những dịp hội hè, tết nhất. Hình thức “đánh bài chòi” giai đoạn sơ khởi chỉ có thế. Sau đó không lâu được hoàn chỉnh dần dần, trở thành trò chơi dân gian không bao giờ thiếu vắng trong thôn xóm vào những ngày vui được mùa hoặc những lần đình đám khác…

Nếu trò chơi “đánh bài chòi” chỉ có hình thức dựng lên một số “nhà chòi” và bắt buộc người dự cuộc phải trèo lên “chòi” ngồi đợt kết quả mỗi ván bài (có khi phải chờ hàng giờ) thì không có gì gọi là hấp dẫn cả, do đó người ta đã dùng ca dao, câu vè, câu thơ thích hợp và chọn người có giọng đọc quyến rũ, đọc lên những câu đó trong những lúc cần chờ đợi kết quả ván bài. Thế rồi thói quen này vô tình tạo ra cho người đọc thơ, đọc vè… vốn có sẵn giọng ngân nga tốt từ bẩm sinh ấy trở thành chuyên nghiệp. Cứ như thế theo năm tháng, càng lâu càng biến đổi, hoàn chỉnh dần… biến thành thể điệu hò hát riêng.

Về sau, càng có nhiều ca dao, câu vè, câu thơ được lượm lặt, sưu tầm, rộng rãi hơn dành cho những dịp cạnh tranh tổ chức giữa các nhóm hò hát bài chòi với nhau. Trong sự cạnh tranh nghề nghiệp đó “hát bài chòi” có lúc đã trở thành “diễn đàn văn nghệ” có tác dụng phê phán những thói hư tật xấu, ca ngợi những nét đẹp, cái hay trong xã hội lúc bấy giờ. Họ làm được việc ấy dù ngẫu nhiên, song đối với các vị khoa bảng, những nhà yêu nước trong lớp người đi khai hoang – lập ấp… đã chú ý và triển khai để… đưa tác phẩm văn học đại chúng của mình vào “lợi thế” diễn đàn này. Cho tới giai đoạn hát bài chòi đã được rất nhiều người yêu chuộng, kể cả các nhân vật quý tộc, nó không còn đơn độc với giọng hò trước đó chỉ có phần đệm bằng “bộ gõ” đơn giản (đệm bằng cặp sanh – Sanh là 2 thanh gỗ chuốt tròn giống như 2 con găng cỡ lớn) mà còn có cả đàn nhị (đàn cò) và kèn lưỡi tre. Kèn này có lần người Pháp đã gọi đùa bằng tên một loại kèn xưa nhất của xứ Ả Rập (Cotarisiplet) (phát âm qua lưỡi gà, tương tự như chiếc Ascsê của Clarinét ngày nay). Phần nhạc đệm tất nhiên có trống tum (trống con) và xụp xòa làm nòng cốt.

Viết đến đoạn này, G.L. Bôviơ bỗng quay sang câu chuyện tương tự xảy ra trong nền dân ca Angêri. Ở đất nước nhỏ bé đó cũng có một thể loại dân ca xuất xứ từ một trò chơi kiểu như “đánh bài chòi” của Việt Nam. Nếu có khác, chỉ khác ở chỗ họ dùng những chiếc bàn con xếp vòng quanh một chiếc bàn lớn, thay vì ở Việt Nam dựng lên những chiếc chòi.

Điểm giống nhất giữa hai trò chơi của hai nước này là đều dùng “hệ chu kỳ 12 con giáp” (cycle Décimal + Cycle Doudécimal) vào trong danh sách những con bài Xuyên qua sự mô tả trên để rồi Bôviơ quả quyết cho rằng, lối chơi bài có mang tên ghép của mỗi con bài lấy từ hệ chu kỳ trên là lối chơi du nhập từ Đông Dương hay nói chính xác hơn đó là lối chơi của người dân xưa kia tại vùng phía nam Việt Nam – nơi có những cụm “nhà sàn” xinh xắn san sát nhau, tuần tự mọc lên phía bên mạn Bắc của dãy núi miền Panduranga… sau những năm đầu có phong trào Nam tiến của người Việt”[1].

Các truyền thuyết trên chưa biết thực hư ra sao? Nhưng xin trích dẫn ra đây, để nhằm giúp cho các nhà nghiên cứu tham khảo sau này.

Trong những ngày Tết Nguyên đán thường tổ chức các Hội Bài Chòi ở sân đình, những nơi có sân rộng, bãi chợ, những nơi tập hợp được nhiều người. Nơi đó người ta dựng lên chín cái chòi, có nơi mười một chòi. Chòi Trung ương ở giữa lớn hơn, chòi dựng thành hai hàng, có tên là chòi Càn, chòi Khảm, chòi Cấn, chòi Chấn xếp 1 hàng dọc, chòi Tốn, chòi Ly, chòi Khôn, chòi Đoài xếp 1 hàng dọc, theo “Bát Quái đồ”: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Còn loại dựng 11 chòi, chòi Trung ương ở giữa, xếp mỗi hàng 5 chòi hai bên, có tên là chòi Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu 1 hàng, chòi Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý 1 hàng theo “Thập can”. Cách dựng chòi như sau:

Chòi Trung ương lớn gấp đôi chòi con. Chòi Trung ương dành cho gia đình các vị chức sắc có thể ngồi được 5, 6 người. Chòi con chỉ ngồi 2, 3 người mà thôi. Nhà Hội làm ở đầu sân, rộng lớn có phản to, bàn ghế, để trà nước, quà thưởng, bánh trái, rượu… Các vị chức sắc trong làng, Tổng và Ban tổ chức hội họp, nghỉ ngơi trong nhà Hội. Xung quanh chòi Trung ương và nhà Hội có cắm cờ đuôi nheo và giăng cờ tam giác đủ màu sắc, trước nhà Hội cắm 1 cây nêu bằng 1 cây tre nhỏ, trảy hết mắt cành, chỉ để lá ở đầu ngọn, 1 lá cờ làng vuông to được treo nghiêng ở đầu cây nêu, ở mỗi chòi con có đặt một khúc chuối nhỏ để khi nào tới 1 con bài, anh Hiệu dâng lá cờ nhỏ hình tam giác cắm vào đó, khi cắm 2 cây cờ là chờ “Tới” con bài thứ 3, anh Hiệu nghe tiếng mõ giục thì đem quà thưởng và cờ tới dâng lên đủ 3 cây cờ. Chòi dựng bằng 4 cây tre, khi trảy mắt còn chừa mỗi mắt 1 đoạn để làm thang trèo lên chòi. Chòi cao bằng nhau, độ 2 mét, có giường tre, lợp 2 mái bằng rạ, hoặc tranh, ba bên che kín, phía trước để trống. Cột chòi có đục thành mõ để gõ ở 2 cột gần chỗ ngồi. Một khoảng đất rộng ở giữa có cắm 1 cây tre có ống đựng con bài, con bài dán vào thẻ tre, 1 đầu dẹp 1 đầu tròn như chiếc đũa bếp, anh Hiệu lúc lắc, rung xóc cho các con bài xáo trộn trước khi rút con bài ra. Dựng 9 chòi thì có 27 cặp bài, chia ra 2 ống. Anh Hiệu đứng chính giữa bắt đầu diễn xướng, có đờn nhị, kèn, nhịp phách đệm, gọi là “Hô thai“, hoặc “Hô bài chòi”.

Anh Hiệu là người hát hay, có tài ứng khẩu linh hoạt, có khả năng làm trò duyên dáng, hài hước, nhanh nhẹn. Anh Hiệu là người chia bài cho các chòi, mỗi chòi 3 con bài dán trên thẻ tre, xong rồi rung, xóc các bài tỳ trong ống ra và hô tên từng con bài, để các chòi nào có con bài đó thì gõ mõ, anh Hiệu liền hô: “Vâng lịnh làng lãnh lấy khay tiền. Hiệu khẩn cấp dâng cờ đệ nhất”. Anh Hiệu bưng khay tiền và cờ giao cho chòi có gõ mõ. Chòi nào trúng được 3 con là “Tới”. Hết 1 hiệp, anh Hiệu thu các con bài về, xáo trộn 1 hồi rồi đem chia cho các chòi và tiếp tục rung xóc ống bài tỳ, hô lên, cho đến khi nào có chòi trúng 3 con đã “Tới” hiệp 2, và cứ như thế các chòi chơi hết 7 hiệp là hết 1 Hội, khi nộp tiền chơi 1 hội là 9 chòi, nhưng chơi 7 hiệp, còn 2 hiệp để lại cho làng dùng mua quà thưởng cho 7 hiệp đã chơi. Xong 1 hội, ai tiếp tục chơi thì nộp tiền và cho các người mới đến nộp tiền để chơi.

Mỗi buổi chơi liên tục được 10 Hội, người chơi và người đến dự chung vui rất đông. Họ lắng nghe các con bài do anh Hiệu hô có sẵn hoặc kiến tại để khen và tán thưởng câu thai này. Hội Bài Chòi ngày Tết thu hút từ trẻ em đến các ông cụ bà cụ trong làng, các cô các cậu thanh niên, các bà lão miệng nhai trầu móm mém, tất cả ai nấy đều xúng xính trong bộ quần áo mới, đẹp nhất tụ hội xung quanh sân hội Bài Chòi. Ai cũng muốn chơi 1 Hội đầu năm, xem vận hên, may đầu năm ra sao, nên đều nô nức đến tham gia chơi Bài Chòi một cách tự nguyện và say mê. Có những gia đình liên tiếp gõ mõ, chòi được may “tới” liền mấy Hội, cờ cắm đỏ cả chòi, có những chòi chỉ được 2 con, chờ con thứ 3 mỏi cả tai mà không “tới”. Chính sự hồi hộp, chờ đợi con bài thứ 3 đó rất hấp dẫn kể cả người đang chơi và người đến tham dự.

Chơi Bài Chòi ngày Tết là thú vui Xuân, nhưng còn có ý nghĩa thử đầu năm vận mệnh có được “hên” không, để phấn khởi làm ăn trong năm tới được phát đạt hay không? Anh Hiệu là người quản trò, làm cho cuộc chơi luôn luôn sôi động và hấp dẫn. Câu hô gọi là “Hô Thai” hay “Thai Bài Chòi” – Chữ “Thai” là đố. Do đó câu hô thường là nôm na bằng thơ lục bát, bóng bẩy, ẩn chứa nội dung con bài 1 cách lắt léo để người nghe phỏng đoán là con bài gì?

Huớ mà huơ…

Chầu rày đã có trăng non

Để anh lên xuống có con em bồng.

(Con bài Bát bồng)

Mỗi con bài đều có hình vẽ khác nhau rất bình dân để vui chơi, giải trí. Người ta vẽ các hoàng tử, công chúa, thái tử, tướng… hoặc hình đồng tiền, con gà, hai người ôm nhau, hoặc những hình tròn, những nét lăng quăng, có con bài vẽ rất thô tục mang chất dân gian quê mùa mà hài hước. Mỗi con bài đều có tên và có câu “hô thai” con bài đó để người chơi bài đoán ra.

Ví dụ: – Một hai bậu nói rằng không

Dấu chân ai đứng bờ sông hai người?

(Tứ Cẳng)

Hoặc: – Lấy chồng từ thuở mười lăm

Chồng chê em nhỏ không nằm với em

Bây giờ mười tám đẹp xinh

Em ngủ dưới đất chồng rinh lên giường.

Một rằng thương, hai rằng thương, ba bốn cũng nói rằng thương

Huớ anh ơi! Thương chi hung rứa? Có bốn cẳng giường gãy 1 còn 3.

(Tứ cẳng)

– Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng đậu, Tú Tài cũng không?

(Nhứt trò)

– Đầu rồng, đuôi phượng cánh tiên

Ngày năm bảy vợ, tối ngủ riêng một mình.

(Ba Gà)

– Nghèo mà làm bạn với giàu

Đứng lên ngồi xuống nó đau cái l…

(Bạch Huê)

– Vợ đôi chồng một ra gì

Mỗi người mỗi bụng ở thì sao nên.

(Ba Bụng)…

Khi các người chơi đã lên chòi, anh Hiệu đã chia bài cho 9 chòi xong, làng đánh một hồi trống chầu báo hiệu Hội Bài Chòi bắt đầu vào chơi hiệp thứ nhất, các chòi đều gõ mõ báo hiệu đã sẵn sàng. Anh Hiệu quần áo chỉnh tề bước ra chắp tay cung kính xin phép Hội chơi bắt đầu:

– Dạ dạ… chín chòi lẳng lặng mà nghe

Hoặc: Thập nhất chòi lẳng lặng mà nghe:

– Nay Hiệu tôi phát bài đã đủ

Đây tôi xin thủ bài tì

Ai có lá gì phải nghe cho rõ

Ai có lá đó, gõ mõ ba dùi

Đừng tới đừng lui để Hiệu tôi đem tới.

Anh Hiệu vừa hô vừa làm điệu bộ như múa chân tay, vuốt tóc và làm cho các người chơi bài ngồi ở các chòi phải theo dõi, hồi hộp, chờ đợi đến câu chót mới biết đó là con bài gì để gõ mõ.

– Huớ mà huơ! Một anh để em ra

Hai anh cũng để em ra

Em về em buôn em bán, trả nợ bánh tráng,

trả nợ bánh xèo. Còn thì em trả nợ thịt heo

Anh đừng cầm em nữa kẻo mang nghèo vì em!

Nghèo huớ là “Nhì Nghèo” (Con bài Nhì Nghèo)

Chòi nào có con bài Nhì Nghèo thì gõ 3 tiếng mõ, anh Hiệu cầm con bài tỳ Nhì Nghèo vội vàng đem đưa cho chòi có gõ mõ đó. Xong, anh trở lại vị trí của mình, cầm ống thẻ bài tỳ xóc 1 hồi rồi rút ra hô:

Huớ mà huơ!

Anh say chi say hủy, say hoài

Đã say quá chén còn nài uống thêm

Say sưa đôi mắt lim dim

Đường đi trơn trợt còn tìm thấy ai?

Huớ là con Ngũ Trợt! .v.v…

Điệu hô Bài Chòi ban đầu cũng rất đơn giản, dần dần anh Hiệu đã sáng tạo ra có giai điệu hay và hấp dẫn hơn, anh đã ứng tác những câu dài 4, 6 câu lục bát, rồi lên 10 hoặc 12 câu… Những câu có nội dung hấp dẫn, vui vẻ, hoặc có tính đả kích thói hư tật xấu trong xã hội, được người chơi hưởng ứng, tuy nói về những chuyện của làng xã, miễn sao đến câu cuối có chữ của con bài, hoặc nói bóng gió để người chơi đoán ra là được. Ví dụ:

1. Đi đâu mang sách đi hoài

Cử nhân chẳng có tú tài cũng không?

Huớ là con Nhứt Trò.

2. Huớ mà huơ… Lội suối trèo non

Tìm con chim nhỏ

Về treo trước ngõ

Nó gáy cúc cu

Huớ là con Chín Cu .v.v…

Bộ bài để đánh Bài Chòi chính là bộ bài “Tổ Tôm“, có nơi gọi là “Bài Tới”, hay “Bài Trùng” gồm 3 “Pho”.

Pho Văn: Các con bài có tên: Tráng Hai, Ba Bụng, Tú Tượng, Ngũ Rún, Sáu Miểng, Bảy Liễu, Tám Miểng, Chín Cu, Ông Ầm, Chín Gối.

Pho Vạn: Nhứt Trò, Nhì Bí, Tam Quăng, Tứ Móc, Ngũ Trợt, Lục Trạng, Thất Vung, Bát Bồng, Cửu Chùa, Bạch Huê…

Pho Sách: Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Sách, Ngũ Trưa, Sáu Hột, Bảy Thưa, Tám Dây, Cửu Điều, Tứ Cẳng.

Mỗi pho có 10 lá bài. Với hệ thống dựng 9 chòi chỉ có 27 cặp. Nếu chơi với hệ thống 11 chòi phải có 33 cặp, nên người ta thêm vào 3 lá. Ông Ầm đen, Cửu Điền đen và Tứ Cẳng đen. Ba con bài này trong bộ bài đều đỏ để dễ phân biệt.

Toàn bộ bộ bài có 30 con đều màu đen. Riêng 3 con Bài thêm là Ông Ầm đen- Cửu Điều đen, Tứ Cẳng đen- Để phân biệt với 30 con đen kia, người ta in 3 con này đều màu đỏ để không nhầm lẫn.

Hội chơi Bài Chòi trong các ngày Tết, có khi còn kéo dài thêm mấy ngày nữa mới thôi. Các anh Hiệu không còn nơi làm ăn, họ phải đi hát dạo ở những nơi tụ họp đông người, không có chòi thì họ trải chiếu ở sân đình, ngõ chợ để hát, ai hảo tâm cho tiền để họ sinh sống. Họ phải hát Bài Chòi bằng các bài lục bát dài có nội dung, cốt truyện quen thuộc như Ông Xã Bà Đội, Lâm Sanh, Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, bắt đầu có các nhân vật biểu diễn các vai trong truyện, có thay đổi quần áo cho phù hợp. Từ đó thành các tiết mục sân khấu Ca kịch. Họ tập họp thành “gánh” có ba bốn anh Hiệu nhập lại đi diễn quanh làng để kiếm kế sinh nhai. Các “gánh” Bài Chòi thường là một gia đình có vợ chồng, mẹ, cha, anh chị em cùng nhau, hoặc rủ thêm vài ba người bạn bè lập thành gánh với cái trống, vài cây đàn, cặp sanh là đi biểu diễn được. Đêm đêm, trên 3, 4 chiếc chiếu to trải ở sân nhà nào đó, với vài ngọn đèn dầu phụng hoặc dầu dừa, không có phông màn, họ chỉ mặc quần áo thường ngày mà biểu diễn, chỉ dùng cái khăn bịt đầu và cái nón lá, cái thắt lưng, thế mà họ đã đi biểu diễn khắp nơi, đến đâu họ cũng được nhân dân đón rước nồng nhiệt. Giai đoạn này gọi là Bài Chòi trải chiếu.

Nội dung là các bài chòi lẻ độc tấu, hoặc nam nữ đối đáp như hai vợ chồng, hay vài ba người thay nhau kể một câu chuyện có đầu, có đuôi như chuyện Lục Vân Tiên, Phạm Công Cúc Hoa, Thoại Khanh Châu Tuấn… Họ lấy từ cốt truyện đó mà sáng tác chỉ vài ba nhân vật nào đó, để diễn mà thôi. Tùy theo lực lượng và khả năng của “gánh” mà họ sáng tác có nhiều vai hay ít vai cho phù hợp. Từ lúc chỉ diễn trên tấm chiếu, hoặc dưới đất, lúc này họ đã diễn có cốt chuyện như một vở Ca kịch thật sự, khiến cho người xem càng ngày càng đông, không thể nào giữ được trật tự của buổi biểu diễn, nên họ phải mượn 3, 4 bộ phản rồi kê con ngựa và lót ván lên cao, như một sân khấu trống 4 mặt, để người xem khỏi chen lấn. Giai đoạn này gọi là “Bài Chòi từ đất lên giàn” (Sân Khấu).

Khi đã có sân khấu rồi, các “gánh” phải lo các khâu của đêm diễn, sao cho nó “bề thế” hơn khi còn diễn trải chiếu, thế là về nội dung phải có “vở kịch”, họ ngồi lại với nhau và bàn bạc, kẻ thêm, người bớt về cốt chuyện, về câu hát, về nhân vật, sao cho ăn ý, rồi “liệu cơm gắp mắm”, nhắm anh chị nào có giọng hát hay, có mặt mũi sáng sủa, có điệu bộ dễ nhìn mà sắp xếp vai để cùng nhau tập luyện. Các cô gái thì có kiềng vàng, bông tai, thêm cái xây thêu tua quanh cổ. Thắt lưng xanh, vàng, đầu bịt khăn, hay vắt vai tùy từng nhân vật mà ăn mặc cho phù hợp. Con trai thì khăn đóng, áo the, quần trắng, có thắt lưng điều, hay hoa lý, chân đi guốc hay giày hạ, tùy vai mà sắm sửa cho đúng. Về nhạc thì cái trống, cây đàn nhị, cặp song loan, thêm sáo, phèng la, có gánh còn có kèn nữa. Về ánh sáng thì dùng cái nắp vung đất đặt ngữa lên, đổ dầu phụng và 9, 10 cái bất thắp lên. Trước sân khấu và 2 bên có chừng 3, 4 cái đèn cũng đủ sáng, để xem mặt diễn viên. Đồng bào nghe rao bảng, từ trẻ con, đến trai, gái, ông bà già, ăn cơm tối xong, họ kéo nhau đến sân khấu Bài Chòi để xem; với giá vé 2 xu cho trẻ em, 3 xu cho người lớn. Có người hứng chí còn ném tiền thưởng lên sân khấu cho anh, chị nào sắm vai hát hay diễn giỏi, tiếng đàn, tiếng ca Bài Chòi vang lên trong đêm, mọi người say sưa thưởng thức tài nghệ của các vai diễn.

“Ở Bình Định vào những năm 1930, 1935 đến năm 1937, xuất hiện nhiều “gánh Bài Chòi” như gánh Ông Sáu Cóc, gánh vợ chồng Ông Trang, gánh vợ chồng anh Sinh ở An Thái, gánh vợ chồng chị Lợi ở Phước Nghĩa, gánh vợ chồng anh Dần ở Bồng Sơn, gánh vợ chồng anh Miệt lấy tên là “Long Vân“, gánh anh Phạm Đình Chi lấy tên là “Ý Chung”, gánh cụ Lang, cụ Hượt lấy tên là “Ý Đồng” rồi “Đồng Hòa”… Các nghệ nhân Hát Bài Chòi nổi tiếng ở Bình Định các năm ấy có ông Năm Oanh ở An Lương (Phù Mỹ), Thầy Ma Mại (Thầy Thủy), ông Chín Oanh ở Kiến Hàn (An Nhơn), ông xã Sáu Sơn ở Nhạn Tháp (An Nhơn), ông Trương Ân ở An Thái (An Nhơn), hiện nay còn một số nghệ nhân tham gia Câu lạc bộ Bài Chòi cổ của anh Phan Ngạn như nghệ nhân Lê Thị Đào (Minh Trung), nghệ nhân Trần Thị Xuân Mai, bà Nguyễn Thị Đức, bà Cao Thị Bĩnh (Hồng Lợi), các cụ đã ngoài 70 tuổi nhưng tiếng hát vẫn còn hay và thường xuyên đi biểu diễn khắp làng xã trong tỉnh”. (Hoàng Lê)

Các gánh Bài Chòi hoạt động mạnh nhất cho đến ngày Cách Mạng Tháng Tám 1945. Trong những năm trước Cách mạng Tháng Tám, các gánh Hát Bội, Cải lương biểu diễn rất mạnh khắp mọi nơi. Các gánh Bài Chòi sinh sau đẻ muộn, nên phải tìm mọi cách để cạnh tranh, để kiếm sống và tồn tại bộ môn này. Các diễn viên Hát Bội, Cải lương và nhạc công của hai ngành này cũng tham gia biểu diễn Bài Chòi, do đó họ đưa một vài câu ca Cải lương, câu hát Tẩu, Hát Nam của Tuồng vào, khiến cho Bài Chòi có sự giao lưu và ảnh hưởng rất lớn trong Quan Công phục Huê Dung, có mở đầu bằng nói lối Tuồng và chen vào giữa bằng câu hát Nam, hát Khách. Nhạc còn chơi đệm các bản Kim Tiền, Ngũ Điểm, Khổng Minh tọa lầu, thêm một sắp Tây Thi, một lớp Xàng xê của Vọng cổ vào để câu khách. Sự vay mượn, giao lưu để câu khách có tính tự phát và tùy tiện, thiếu tính nghệ thuật đó, đã bị thời gian chọn lọc và loại bỏ. Cũng nhờ đó Bài Chòi mới có thêm điệu Hò Quảng, Điệu Cổ bản ảnh hưởng điệu Nam Xuân của Tuồng. Điệu Hò Quảng đã ảnh hưởng các bài bản Quảng của Cải lương rất đậm nét, nhưng đã bị “Bài Chòi hóa” bằng lời thơ lục bát nên khi hô lên ai cũng nói đó là Bài Chòi.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, Bài Chòi phát triển mạnh để phục vụ nhân dân khắp các tỉnh từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa… Các Đoàn Văn Công, các Đội Văn nghệ quần chúng trong chương trình biểu diễn đều có Hô Bài Chòi, Ca kịch Bài Chòi 1 màn, chen kẽ với Múa, Ca, nói thời sự, tuyên truyền giáo dục nhân dân với các nội dung “Học bình dân học vụ, đóng thuế nông nghiệp, đi Tòng quân, công tác địch vận, tăng gia sản xuất, đánh giặc giữ làng…, ca ngợi người tốt, đả kích thói hư tật xấu. Các đơn vị nghệ thuật đã hoạt động suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Liên Khu Năm, từ Thanh Thiếu niên, dân quân du kích, các mẹ chị, trong cơ quan, trường học, quân đội, anh chị em cán bộ làm công tác Văn hóa Văn nghệ, Tuyên truyền xung phong đều đã nghe có người còn thuộc các Bài Chòi: ca ngợi anh Bế Văn Đàn, chị Nguyễn Thị Chiên, anh Cù Chính Lan, em Đằng Anh Dũng, các vở Ca kịch Bài Chòi như: Giải phóng Kon Tum, giải phóng Man – Đen, Hạ đồn Tú Thủy, Tây cướp thịt heo, Bắn máy bay bà già, Thư em gái gởi anh bộ đội… Bài Chòi đã hoàn thành nhiệm vụ văn nghệ phục vụ chính trị, có công trong cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Liên Khu Năm một cách tự hào.

Sau ngày Hòa bình được lập lại, Đoàn Văn công Liên Khu Năm tập kết ra Bắc, đã được Trung ương Đảng, Bộ Văn hóa thành lập Đoàn Ca kịch Liên Khu Năm từ năm 1956 là thành viên đứng trong đại gia đình Sân khấu Việt Nam.

Ở Miền Nam, với truyền thống lấy Văn nghệ Dân gian, các điệu Hò, Vè, Bài Chòi, Dân ca để sáng tác tiết mục Văn nghệ phục vụ nhân dân và bộ đội đánh Mỹ – Ngụy cũng rất có hiệu quả, được Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng Trung Trung Bộ, Ban Tuyên huấn khu và các Tỉnh đã thành lập các Đoàn Văn Công giải phóng phục vụ ở chiến trường. Các Đoàn Văn Công giải phóng các Tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có Đoàn Kịch dân ca Bài Chòi hoạt động suốt mấy chục năm chống Mỹ – Ngụy và khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam thống nhất. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các ngành Văn hóa nghệ thuật, Các Đoàn văn công được phát huy và bảo tồn vốn văn nghệ dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc có khoa học hiện đại và tiến bộ không ngừng…

Chúng ta những người làm công tác nghệ thuật là các tác giả kịch bản, âm nhạc, đạo diễn, họa sĩ, biên đạo, nghiên cứu lý luận, các diễn viên, những người có trách nhiệm với nhiệt tình và am hiểu nghệ thuật “Ca kịch Bài Chòi” sẽ góp phần xây dựng sân khấu này càng phát triển và đơm hoa kết trái hơn nữa, xứng đáng với sự có mặt của một loại hình nghệ thuật mới trên Sân khấu Việt Nam.

(Trích từ tập sách “Âm nhạc kịch dân ca”-NXB Sân khấu 2003)

T.H


[1]Tạp chí Sân khấu Xuân Kỷ Tỵ – 1998 – Nguyễn Xuân Đà.

http://vannghedanang.org.vn/nonnuoc/chitiet.php?id=53&so=39

TÚC HẠNH : Trò chơi bài chòi hay tiếng gọi của làng quê


Thứ hai, 19 Tháng một 2004, 11:22 GMT+

Trò chơi bài chòi hay tiếng gọi của làng quê

Bài chòi là một loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống đặc sắc của miền Trung nói chung, Quảng Nam nói riêng. Vào mỗi dịp lễ Tết, ở vùng nông thôn rất phổ biến trò chơi này. Ban đầu, trò chơi chỉ mang tính chất gia đình, về sau, cứ mỗi độ xuân về, người ta dựng những chòi cao trên bãi đất trống thu hút khách thập phương đến tham gia…

Tro choi bai choi hay tieng goi cua lang que
Hội quê.

Ngày Tết, người đi xa vừa về đến đầu thôn đã nghe tiếng hô bài chòi giục giã. Những chòi lợp mái rạ ngày mùa còn thơm hương nếp, những cây cờ con ngũ sắc trên bàn cái rồi tiếng hô, tiếng mõ vang dậy một góc làng như thúc giục các cụ, các bà, các em nhỏ đến xin những con bài thử vận đầu năm.

Có thể nói đã là người miền Trung thì đều biết chơi bài chòi. Hát bài chòi từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nông thôn miền Trung. Người ta sáng tác những câu hò, làn điệu dân ca… trong quá trình chơi. Văn chương bài chòi là văn chương bình dân, nhưng nghe kỹ vẫn thấy chất thơ lai láng. Bộ bài chơi gồm 30 con bài in mộc bản theo lối thủ công, được dán trên những thanh tre vót mỏng. Người quản trò được gọi là “ông hô hiệu”, là người có kiến thức văn chương, có tài ứng đối dí dỏm, có thể độc diễn với tiếng trống, tiếng đàn cò, tiếng phèng la… Khi con bài được rút ra, ông hiệu bắt đầu chạy lăng xăng, miệng không ngớt xướng to những câu thơ, câu vè ghép với tên những con bài ngộ nghĩnh, khiến người lớn lẫn đám trẻ con cười ngặt nghẽo. Tuỳ theo mỗi địa phương mà tên gọi các con bài khác nhau từ nhất trò, nhì nghèo, ba bụng, tứ giống, tám tiền, chín xe… cho đến sưa, dóng, xơ, quăng, ầm, voi, rún…

Tro choi bai choi hay tieng goi cua lang que
Chuẩn bị chòi chơi bài.

Người chơi có thể mua một hoặc nhiều thẻ cho mỗi lần chơi. Ông hô hiệu xáo thẻ trong ống lon rồi rút một thẻ bất kỳ. Mỗi đợt chơi đều có người trúng. Người chơi khi nghe hô trúng con bài của mình thì đáp to, lập tức sẽ được trao một chiếc cờ nhỏ màu đỏ. Sau đó, cuộc chơi tiếp tục cho đến khi có người trúng đủ ba con bài trong cùng một thẻ. Giải thưởng được trao bằng tiền mặt, chỉ độ vài ba chục nghìn đồng nhưng niềm vui thì thật lớn; mà người không trúng cũng vui!

Tro choi bai choi hay tieng goi cua lang que
Già trẻ đều náo nức vào cuộc chơi.

Người chơi sành bài chòi chỉ cần nghe câu hô đầu tiên là có thể đoán ra con bài, ví như: “Chồng nằm chính giữa – hai vợ hai bên – lấy chiếu đắp lên – gọi là ba bụng – ơ con ba bụng!”, “Đi đâu mang sách đi hoài – Cử nhân không đậu, Tú tài cũng không – con nhất trò nó vừa ra xong” hay như “Hai bên chòi lẳng lặng mà nghe – róc rách ống tre con gì nó ra đây? – anh trai Kim Bồng đi bán chiếu tre – gặp em gái nhỏ bên sông Thu Bồn – thương ai lòng thấy bồn chồn – đêm nằm thao thức chiếu bông anh gối đầu – con chín gối nó ra rồi”…

Đánh bài chòi là một trò chơi giải trí mang tính văn chương bình dân. Cái thú của bài chòi không nằm ở ăn thua đỏ đen mà chủ yếu là vui đầu năm cùng bà con làng xã. Điệu hát bài chòi khẳng khái, rắn rỏi cũng vì thế trở thành máu thịt trong lòng người miền Trung xa xứ, gợi nhớ đến nao lòng…
  • Túc Hạnh
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Bài chòi – nghệ thuật hồn nhiên


Cập nhật ngày : 10-07-2014
Nghệ thuật dân gian nào mà chả hồn nhiên, vì nó đều được thể hiện và đồng sáng tạo bởi những nghệ nhân dân gian, những người nông dân hồn nhiên từ bản chất, ngày xưa chỉ quen ở bên trong lũy tre làng. Nhưng có lẽ trong nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, thì bài chòi và hô bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên bậc nhất. Vì sao như vậy ?

Bài chòi và hô bài chòi là một trò chơi, một trò chơi văn nghệ nhằm giúp gây hưng phấn, vui thú, giải tỏa cho cả người trực tiếp chơi lẫn người xem. Một trò chơi, thì trước hết nó phải mang những đặc tính của trò chơi, nghĩa là phải thật sự hồn nhiên, hài hước và vô vị lợi. Trò chơi bài chòi được tổ chức vào những ngày đầu Xuân nên lại càng phơi phới những tươi vui. Đó là trò chơi có thưởng, có dùng những quân bài, nhưng không phải là trò đánh bạc. Không có chuyện sát phạt, ăn thua nhau về tiền hay vật dụng thưởng quy ra tiền, mà ở đây, chơi là chính, vui là chính, thưởng thức nghệ thuật là chính, thông qua những điệu hô chòi trầm bổng, nhịp nhàng, du dương mà người lĩnh xướng có tên là anh hiệu thể hiện. Anh hiệu – nghệ sĩ ẩn danh – chính là nhân vật trung tâm của bài chòi. Đó là một nghệ sĩ dân gian diễn xướng những bài bản có sẵn lẫn những sáng tạo tức thời mang tính ngẫu hứng, những bài thơ ứng tác đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nói, anh hiệu chính là một nhà thơ dân gian, một người ngày xưa ít nhiều có học trong làng, dù dở dang. Và nhất là có năng khiếu đặt vè, hát thơ, sáng tác và nhất là ứng tác rất linh hoạt những bài vè hay thơ lục bát, lục bát biến thể một cách trực tiếp, hài hước, tươi vui, nhuần nhị. Có thể ngày xưa mỗi tổng hay mỗi làng đều có những anh hiệu như thế, họ vừa là nghệ sĩ bình dân vừa là tinh hoa văn nghệ của làng. Tôi nghĩ, có thể họ cũng được miễn những công việc tạp dịch trong làng, nhất là những khi làng có việc. Vì việc lớn nhất của họ mỗi độ Xuân về là làm anh hiệu, là hô bài chòi, phục vụ dân làng và bá tánh. Thế cũng là đủ. Sự hồn nhiên của nghệ thuật bài chòi bắt đầu từ anh hiệu, còn sự hồn nhiên dí dỏm thông minh của anh hiệu lại bắt đầu từ nhân dân. Thế còn nghệ thuật bài chòi ở miền Trung Việt Nam, nó khởi lên từ hồi nào?

Nhà âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.” (Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974. Dẫn lại theo nhà nghiên cứu Trần Hồng).

Như thế, nghệ thuật bài chòi có lẽ thịnh nhất ngay từ thời Trấn quốc công Bùi Tá Hán (nửa đầu thế kỷ XVI) lãnh đạo người Việt cùng người bản địa khai phá và canh tân miền Trung. Nó có thể theo chân những binh lính và lưu dân người Việt vào lập nghiệp ở miền này, nhưng đối tượng phục vụ của nó gồm cả người dân Việt và người dân Chàm. Đây có thể coi là một hình thức nghệ thuật diễn xướng đậm chất Việt, nhưng được thử thách và tồn tại ở ngay mảnh đất mà ban đầu, nghệ thuật của người Chàm giữ vị trí quan trọng. Lý do để nghệ thuật bài chòi có được chỗ đứng vững vàng trong sinh hoạt cộng đồng Việt – Chàm nằm ở ngay tính hồn nhiên và dân chủ của nó. Sức lan tỏa và thuyết phục của nó ở chỗ nó không phân biệt, nó bình đẳng với mọi người chơi và mọi người nghe. Tuồng hát bội ban đầu chỉ biểu diễn ở cung đình hay ở các nhà quan lớn, dành cho những đối tượng người xem chọn lọc. Về sau mới hướng về phục vụ cả dân chúng. Còn bài chòi, ngay từ đầu đối tượng phục vụ của nó đã là lính, là dân, là bất cứ ai ham thích trò chơi này, không phân biệt. Với cư dân nông nghiệp Việt Nam, mùa xuân là mùa lễ hội, mùa của sự thăng hoa và tinh thần dân chủ. Đó cũng là mùa của bài chòi. Ta thử nghe một đoạn bài chòi xem nhé:

“Chỗ này là chỗ vui chơi
Có trống nẫu nhịp, có cây kèn nẫu thổi ò í e…
Có rượu rồi lại có chè
Cô cứ gác chân tréo ngoảy ngồi nghe hô bài (…)
Tôi bưng khay rượu nạm vàng
Chúc mừng năm mới an khang xóm làng…”

Cô gái “gác chân tréo ngoảy”, cái động tác ấy mới hồn nhiên và dân chủ làm sao! Và cũng dễ thương biết chừng nào! Ngay tên những con bài cũng đã nói lên tính bình dân và dân chủ rất rõ. Như câu hô thai (hô đố) Nhứt Nọc này:

 “Tay cầm sào chống lái

Mắt liếc bãi lều tranh

Ở đây đưa rước bộ hành

Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề

Trải qua bãi bạc gành nghê

Tứ mùa chèo chống đôi bề sóng xao

Thú vui ngang dọc một sào

Ngồi trong tịnh viện kẻ gào người kêu

Tiếng ai văng vẳng kêu đò

Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.”

Người nghe tinh ý biết ngay câu thai (đố) ấy ứng với con bài Nhứt Nọc. Đúng là đố vui có thưởng! Nhưng trên đường giải đố, người nghe đã được hưởng trọn vẹn một đoạn hô chòi rất hay, nó là tâm sự của một anh chèo đò, mà cũng là những câu thơ sinh động vẽ nên cảnh sông nước ngày xưa.

Nghệ thuật bài chòi trên đường hoàn thiện mình đã thu hút vào nó những làn điệu dân ca, những điệu lý có nguồn gốc từ âm nhạc Chàm. Nhưng tiêu chí để thu hút của nó vẫn là sự hồn nhiên. Trong bài chòi, cho đến nay còn giữ một số làn điệu dân ca có bản sắc ban đầu, như các điệu lý, điệu hò: lý con sáo, lý ngựa ô, lý quét nhà, hò chèo thuyền, hò cấy lúa, hò giã gạo…Toàn là những điệu lý, điệu hò mộc mạc đúng như tên gọi của chúng.

Cùng với sự hồn nhiên, điểm thu hút đặc biệt của bài chòi là tính hài hước. Cái này là “độc quyền” của các anh hiệu. Những anh hiệu nào càng có những câu hô thai hài hước, thậm chí có những câu thơ ứng tác chọc cười có duyên nhất là những anh hiệu “ăn khách” nhất, được bà con hưởng ứng nhiều nhất, ủng hộ nhiều nhất. Và những câu hô thai ấy, dù không được ghi ra giấy, vẫn lưu lại lâu bền trong trí nhớ của những người dân chơi hay nghe bài chòi. Ở đây có thể coi bài chòi là một dòng văn học dân gian truyền miệng, một kiểu “trình diễn thơ” độc đáo mà bây giờ khó có nhà thơ “mô-đéc” nào theo kịp trong khả năng thu hút công chúng.

Hồn nhiên và hài hước, đó không chỉ là bí quyết trường thọ của bài chòi, mà còn là bí quyết trường thọ của văn học, của thơ ca. Sự tương tác với công chúng ở bài chòi đã đạt tới đỉnh cao và nó tạo ra một từ trường đồng sáng tạo mà văn học nghệ thuật hiện đại luôn ao ước.

Mãi mãi, bài chòi thuộc về nhân dân.

http://demo.lhqtvct.binhdinh.gov.vn/newsdetail.php?lang=vi&newsid=530&id=170

BTC