THÙY VÂN : VOV.VN – UNESCO đã chính thức công nhận di sản Ví, Giặm của Việt Nam vào Danh sách di sản đại diện của nhân loại.


VOV.VN – UNESCO đã chính thức công nhận di sản Ví, Giặm của Việt Nam vào Danh sách di sản đại diện của nhân loại.

Với tiếng gõ búa quyết định của Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO, di sản Ví, Giặm của Việt Nam chính thức được ghi vào Danh sách di sản đại diên của nhân loại. Việt Nam chính thức có di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 được thế giới vinh danh.
Tiếp sau phần trình bày của đại diện Ban thẩm định hồ sơ đánh giá cao các giá trị của di sản Ví, Giặm của Việt nam, Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ của Công ước về di sản văn hóa phi vật thể 2003 của UNESCO đã chính thức gõ búa đánh dấu sự công nhận của tổ chức văn hóa lớn nhất thế giới đối với hồ sơ của chúng ta.
Đoàn Việt Nam tự hào trong giây phút thiêng liêng

Trong phần nhận xét về hồ sơ dân ca Ví, Giặm của Việt nam, đại diện Ban thẩm định hồ sơ nhấn mạnh: Di sản đáp ứng các yêu cầu UNESCO đặt ra; di sản có sức sống và sức lan tỏa mạnh mẽ, có những giá trị phổ biến trong cộng đồng Việt, được thực hiện trong nhiều hoạt động của đời sống như trồng lúa, dệt vải, hát ru con… Do đó, ban thẩm định hồ sơ thống nhất kiến nghị Ủy ban Liên chính phủ công nhận Dân ca Ví, Giặm là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Ngay sau báo cáo của hội đồng xét duyệt, đại biểu Marc Jacobs của Bỉ – 1 trong 24 nước thành viên Ủy ban Liên chính phủ của Công ước 2003 đã có phát biểu, nhấn mạnh hồ sơ của Việt Nam rất đặc biệt với nhiều giá trị quan trọng, đặc biệt và rất xứng đáng được vinh danh.

Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Đặng Thị Bích Liên phát biểu về quyết định của Ủy ban Liên chính phủ

Phát biểu trước toàn thể kỳ họp, bà Đặng Thị Bích Liên – Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam nhấn mạnh: “Quyết định tại Kỳ họp thứ 9 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam về một loại hình dân ca được thực hành ở các làng quê, gắn bó với mọi việc của con người trong đời sống thường ngày”.Trả lời phóng viên Đài TNVN thường trú tại Pháp, Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên nói: “”Đây là một quyết định quan trong với hai tỉnh nói riêng, với Việt Nam nói chung. Nhận thức được Dân ca Ví, Giặm là di sản đại diện của nhân loại, là tài sản của nhân loại, Việt Nam cam kết thực hiện tốt các quy định công ước để bảo tồn di sản”.

Ông Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trả lời phỏng vấn.

Với việc UNESCO chính thức ghi danh Dân ca Ví, Giặm vào danh sách di sản đại diện của nhân loại, loại hình nghệ thuật này sẽ có những cơ hội to lớn để phát triển và lan tỏa sâu rộng hơn. Danh sách di sản đại diện của nhân loại là danh hiệu cao quý mà UNESCO trao tặng cho các di sản văn hóa phi vật thể mang những giá trị đạt tầm cỡ toàn cầu.Ông Nguyễn Thiện – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh bày tỏ niềm vui và tự hào đồng thời khẳng định tỉnh sẽ có chiến lược bảo tồn, phát huy và đặc biệt là truyền dạy cho các thế hệ trẻ để gìn giữ Dân ca Ví, Giặm – nay đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

“Đây là niềm vinh dự và tự hào chúng tôi sẽ có chiến lược và các kế hoạch với các nội dung cụ thể để phát huy thế mạnh của di sản, đặc biệt đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người hiểu hơn về giá trị của di sản và tổ chức sưu tầm nghiên cứu, truyền dạy qua các sinh hoạt cộng đồng, đồng thời tổ chức các liên hoan Ví Giặm các cấp, ban hành chính sách với các nghệ nhân, các câu lạc bộ, chính quyền các cấp phải đầu tư kinh phí cùng với xã hội hóa để Dân ca Ví Giặm mãi mãi trường tồn”, ông Nguyễn Thiện nói.

Giáo sư Trần Quang Hải

Việc UNESCO vinh danh Dân ca Ví, Giặm còn là niềm tự hào khôn xiết đối với những kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài.Giáo sư Trần Quang Hải, chuyên gia về âm nhạc truyền thống Việt Nam, người đã sát cánh cùng các cơ quan của Việt Nam trong việc xây dựng và đệ trình hồ sơ Dân ca Ví, Giặm xúc động cho biết: “Tôi rất sung sướng khi UNESCO công nhận thêm một loại hình âm nhạc của Việt Nam là di sản của nhân loạiĐây là niềm vinh dự và tự hào của dân tộc Việt Nam, chúng ta có được một loại hình được UNESCO công nhận. Lời hát bộc lộ được những thể thiên phú của Việt Nam là lục bát, song thất lục bát, hay ngũ ngôn. Hát Ví, hát vói, hát với, vừa hát vừa Giặm, có nhiều tiết tấu, thoát ra một cấu trúc thể hiện sự phong phú dựa trên những thang âm ngũ cung, tứ cung rất đặc biệt của âm nhạc truyền thống của Việt Nam”.

Theo nhiều chuyên gia về di sản, dân ca Ví, Giặm có sức sống mãnh liệt và là niềm tự hào của từng người dân xứ Nghệ, ca từ của dân ca Ví, Giặm cũng đời thường và dung dị, do đó, công tác bảo tồn sẽ không gặp nhiều thách thức như các loại hình nghệ thuật đài các và đòi hỏi sự tinh tế và cầu kỳ trong biểu diễn. Mặc dù vậy, cũng có một số khó khăn đối với Dân ca Ví, Giặm như phải làm sao để vừa quảng bá, sân khấu hóa được di sản nhưng không đời thường hóa nó và phải làm sao để Dân ca Ví, Giặm – vốn gắn bó chặt chẽ với phương ngữ xứ Nghệ – có thể lan tỏa ra bên ngoài, được hiểu và yêu thích bởi các cộng đồng khác./.

Thùy Vân/VOV – Paris

NGUYỄN DUY : Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận


Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận

Dân trí Sau phiên họp lần thứ 9 của Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của UNESCO diễn ra tại Paris (Pháp) – Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
 >>         UNESCO xem xét hồ sơ dân ca, ví giặm của Việt Nam

Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên phát biểu về quyết định của Ủy ban Liên chính phủ. (Ảnh: VOV)
Thứ trưởng Đặng Thị Bích Liên phát biểu về quyết định của Ủy ban Liên chính phủ. (Ảnh: VOV)

Theo thông tin mới nhất từ bà Đinh Thị Lệ Thanh UVBTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An – người có mặt tại Paris cho biết, vào hồi 23h10 hôm qua 27/11 (theo giờ Việt Nam), phiên họp lần thứ 9 Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể của Unesco diễn ra tại Paris – thủ đô Cộng hoà Pháp đã chính thức vinh danh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.

Theo bà Thanh, việc ghi danh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa Đại diện của nhân loại góp phần thúc đẩy việc trao đổi giữa các cộng đồng, nghệ sĩ và các nhà nghiên cứu; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế.

Dân ca, ví dặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận
Bà Đinh Thị Lệ Thanh (áo đỏ) – PCT UBND tỉnh Nghệ An có mặt tại các phiên họp và bà rất vui mừng khi Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (Ảnh: Lệ Thanh).

Các biện pháp bảo vệ nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng trong việc trao truyền và phương pháp giảng dạy truyền miệng cũng như trong chương trình giáo dục chính thức sẽ được thực hiện với sự tham gia tích cực của các học viên, các chuyên gia, các tổ chức chuyên ngành và với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước.

Hồ sơ đề cử Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được xây dựng với sự tham gia của các thành viên cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức chuyên ngành và các chuyên gia, các thành viên cộng đồng tự nguyện đề cử và cùng cam kết bảo vệ.

Dân ca, ví dặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận
Đoàn Việt Nam vui mừng khi Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại (Ảnh: Lê Thanh Phong).

Di sản Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã được Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam kiểm kê từ năm 2012 với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng. Năm 2012, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định đưa Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia.

Việc Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới; là cơ hội quảng bá rộng rãi di sản này đến cộng đồng quốc tế.

Từ đó, đúc kết được những phương pháp tiếp cận phù hợp và những biện pháp thiết thực để triển khai, bảo tồn và phát huy giá trị Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh xứng với những giá trị nhân văn và nghệ thuật độc đáo riêng.

Phát biểu trước toàn thể kỳ họp trong niềm hân hoan vui mừng, Thứ trưởng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch Việt nam bà Đặng Thị Bích Liên nhấn mạnh: “Quyết định tại Kỳ họp thứ 9 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước 2003 của UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam về một loại hình dân ca được thực hành ở các làng quê, gắn bó với mọi việc của con người trong đời sống thường ngày”.Trả lời PV Đài TNVN, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ông Nguyễn Thiện bày tỏ niềm vui và tự hào đồng thời khẳng định tỉnh sẽ có chiến lược bảo tồn, phát huy và đặc biệt là truyền dạy cho các thế hệ trẻ để gìn giữ Dân ca Ví, Giặm nay đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Thiện
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Thiện

Ông Nguyễn Thiện nói: “Đây là niềm vinh dự và tự hào chúng tôi sẽ có chiến lược và các kế hoạch với các nội dung cụ thể để phát huy thế mạnh của di sản, đặc biệt đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người hiểu hơn về giá trị của di sản và tổ chức sưu tầm nghiên cứu, truyền dạy qua các sinh hoạt cộng đồng, đồng thời tổ chức các liên hoan Ví Giặm các cấp, ban hành chính sách với các nghệ nhân, các câu lạc bộ, chính quyền các cấp phải đầu tư kinh phí cùng với xã hội hóa để Dân ca Ví, Giặm mãi mãi trường tồn”.

Theo VOV.vn

Nguyễn Duy

http://dantri.com.vn/su-kien/dan-ca-vi-giam-nghe-tinh-chinh-thuc-duoc-unesco-cong-nhan-1000780.htm

Vì sao dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh thành di sản nhân loại? UNESCO 2014


Vì sao dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh thành di sản nhân loại?

– Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại trong phiên họp đêm 27/11 tại Paris, Pháp.

ví, giặm, hà tĩnh
Đoàn Việt Nam vui mừng khi UNESCO công nhận Ví, Giặm là di sản thế giới.
Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được cộng đồng người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay. Ví, Giặm được thực hành trong lao động và đời sống thường nhật: lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa. Vì vậy, các lối hát cũng được gọi tên theo các hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường nón, Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên… Dân ca Ví, Giặm chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Nghệ Tĩnh và là phương tiện nghệ thuật để biểu đạt tư tưởng, tình cảm, tăng cường giao lưu, gắn kết cộng đồng.

ví, giặm, hà tĩnh
Các liên hoan dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ liên tục được tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức.

Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam kiểm kê với sự tham gia và đóng góp của cộng đồng; được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào 2012. Việc Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình âm nhạc đặc biệt này, đồng thời sẽ giúp cho cộng đồng và chính quyền địa phương có trách nhiệm hơn trong việc gìn giữ, truyền dạy, khuyến khích thế hệ trẻ tích cực học tập và tham gia trình diễn, nhằm bảo tồn và phát huy một cách bền vững di sản văn hóa phi vật thể này.

Cùng nghe 1 số bài Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh để hiểu vì sao loại hình này lại trở thành di sản thế giới

Dân ca Xứ Nghệ (Mời trầu) – Theo điệu Dặm Đức Sơn do NSƯT Hồng Lựu

Ví Ghẹo


Giận mà thương

V.H
Nguồn clip: nghean.gov.vn

http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/209296/vi-sao-dan-ca-vi–giam-nghe-tinh-thanh-di-san-nhan-loai-.html

Giai Thoại Về TÁC GIẢ Nhạc Phẩm LÀNG TÔI : nhạc sĩ CHUNG QUÂN


Giai Thoại Về TÁC GIẢ Nhạc Phẩm LÀNG TÔI

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam …
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng!

 

Năm ấy, đoàn hát Kim Chung lần đầu tiên có kế hoạch thực hiện bộ phim nhựa có tiếng nói (âm thanh). Để cho bộ phim thêm phần hấp dẫn, trang trọng và gây ấn tượng với công chúng trong buổi chiếu ra mắt, toàn bộ êkíp điều hành, bầu sô, đạo diễn … đồng ý việc tổ chức một cuộc thi sáng tác bài hát làm nền cho phim với giải thưởng lớn cho tác phẩm được chọn. Đây cũng là bộ phim nhựa có âm thanh đầu tiên của ngành điện ảnh Việt Nam vào thời ấy. (1952)

Cuộc thi được tổ chức rộng rãi trong công chúng, không phân biệt tuổi tác, chuyên nghiệp hay nghiệp dư…đã có nhiều nhạc sĩ tên tuổi cùng một số những người mới thành danh trong làng ca nhạc giải trí thời đó tham gia. Đề tài sáng tác là quê hương và con người Việt Nam.

Sau nhiều lần chọn lựa rất công bằng và vô tư, ban giám khảo đã mất khá nhiều thời gian bàn bạc, nhận xét rồi cân nhắc để đưa ra một sự chọn lựa chính xác, dù biết đó là một quyết định rất khó khăn. Cuối cùng, Ban tổ chức đã công bố, tác phẩm được chọn để trao giải là bài hát “Làng Tôi” của một tác giả vô danh tiểu tốt, cái tên nghe chừng như rất xa lạ trong làng ca nhạc Việt thời ấy đó chính là nhạc sĩ Chung Quân.

Bản nhạc Làng Tôi được chọn vì nó mang hơi thở của một vùng quê yên bình, lời lẽ cũng mộc mạc, dung dị thấm đẫm tình cảm của người dân Việt Nam, cho dù năm đó tác giả bài Làng Quê mới chỉ vừa 16 tuổi. Nhạc phẩm Làng Quê và cái tên Chung Quân ra đời từ dạo ấy. Nhờ giai điệu du dương, thắm thiết tình người tình quê của Làng Tôi cứ mãi bay xa mà cái tên nhạc sĩ Chung Quân trở nên nổi tiếng và đi vào lòng người.

Nhiều nhạc sĩ tên tuổi và giới văn nghệ thời đó có hơi ngỡ ngàng, nhưng mọi người đều công nhận bản nhạc “Làng Tôi” xứng đáng được nhận giải thưởng vinh dự đó.

Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn … người bốn phương.

Bản Làng tôi đã giành được giải của công ty điện ảnh, đoàn cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp Hoa.

Hành trình về phương Nam

Thế rồi, thế sự đổi thay theo mệnh nước nổi trôi. Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng Tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc… Cũng khoảng thời gian 1955 – 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.

Trường Nguyễn Trãi năm ấy có cậu học trò nghèo nên buổi trưa thường không về nhà mà nghỉ lại ở trường cùng bữa ăn trưa là gói xôi mà mẹ cậu đã mua cho cậu đem theo từ sáng sớm. Thay vì nghỉ trưa, cậu học trò lại tha thẩn trong trường để rồi lắng nghe được câu chuyện tranh cãi giữa hai người thầy.

Trong một căn phòng, tiếng của vị giáo sư Hà Đạo Hạnh (cử nhân toán) đang ầm ĩ nói với nhạc sĩ Chung Quân

  • Trình độ học vấn của anh chỉ đáng là học trò của tôi thôi. Việc anh được dạy chung với những giáo sư như chúng tôi là một vinh dự cho anh, anh có biết điều đó không?
  • Nhưng thưa giáo sư, nếu hỏi công chúng có biết nhạc sĩ Chung Quân là ai không? Thì chắc chắn nhiều người biết đó là tác giả của bản nhạc Làng Tôi. Còn như hỏi họ, có biết giáo sư Hà Đạo Hạnh là ai không? Tôi tin người ta không mấy người biết.

Câu chuyện đang đến hồi hấp dẫn, và cậu học trò cố áp sát tai để chờ nghe tiếp xem Giáo sư Hà Đạo hạnh trả lời ra sao, bỗng từ phía sau, một bàn tay lạnh lùng của thầy giám thị véo vào tai cậu học trò kéo đi chỗ khác! Và vì thế mà câu chuyện đành dở dang ở đây.

Rồi thời gian trôi qua, tưởng mọi chuyện đã rơi vào quên lãng. Nhưng không, nhạc sĩ Chung Quân đã không chịu bỏ qua dễ dàng như vậy, ông nhất định phải đòi lại món nợ danh dự này. Không công danh thà nát vói cỏ cây.

Nhạc sĩ Chung Quân sau đó đã quyết chí tiếp tục con đường kinh sử, ông ghi danh theo học và hoàn thành tú tài toàn phần, sau đó, ông lại tiếp tục việc học để đạt cho kỳ được mảnh bằng Đại học. Cuối cùng, ông đã tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Anh quốc.

Đã mang tiếng đứng trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông

Nhớ lại câu chuyện ngày xưa, nhạc sĩ Chung Quân sao chép tất cả văn bằng mà mình có được gửi về cho giáo sư Hà Đạo Hạnh kèm theo lời nhắc nhở rất nh nhàng lịch sự.

Thưa giáo sư Hà Đạo Hạnh, tất cả những gì mà giáo sư làm được thì Chung Quân tôi cũng đã làm được. Còn những gì Chung Quân tôi làm được thì giáo sư đã không làm được.

Viết tới đây tôi bỗng nhớ tới bài thơ của cụ Nguyễn Công Trứ có đoạn như sau:

Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm lên tiếng phi thường đâu đấy tỏ …

 

Nhạc sĩ Chung Quân đã đòi lại món nợ danh dự năm xưa một cách sòng phẳng bằng ý chí và lòng kiến nhẫn của chính ông. Rất lịch sự, tế nhị mà cũng rất quân tử. Không ồn ào, không gióng trống khua chiêng làm người khác phải ngượng ngùng, mất thể diện. Quả thật, chẳng ai biết trước được chuyện gì xảy ra trong cuộc đời.

Cậu học trò nghe lén câu chuyện ngày xưa sau này cũng theo cái nghề “gõ đầu trẻ”. Ông dạy Trung học đệ nhị cấp (cấp 3) ở miệt dưới tận tỉnh Bạc Liêu. Ngoài công việc dạy học, ông còn làm thêm nghề tay trái là viết báo, viết văn với bút hiệu Thái Phương. Sau biến cố 1975, ông nghỉ dạy và chuyển hẳn sang viết báo. Hiện nay, độc giả biết nhiều đến ông với bút danh nhà văn Đoàn Dự.

Đã có lần, nhà văn Đoàn Dự gặp lại thầy cũ là giáo sư Hà Đạo Hạnh và ông có hỏi vị giáo sư:

  • Thưa Thầy, sao ngày đó thầy lại nặng lời với Nhạc sĩ Chung Quân thế ạ!
  • Hồi ấy tôi có hơi nóng nảy nên đã quá lời

Mọi chuyện rồi cũng qua đi, người xưa giờ cũng đã trở về cùng cát bụi, nhưng câu chuyện thì sẽ còn mãi như một bài học, một tấm gương về cách đối nhân xử thế của người xưa vậy.

HN_LangToi_Chung Quân

Nhạc sĩ Chung Quân (19361988) là tác giả ca khúc Làng tôi nổi tiếng.

Chung Quân tên thật là Nguyễn Đức Tiến, sinh năm 1936. Năm 1952, khi mới 16 tuổi, bản Làng tôi của ông đã giành được giải của công ty điện ảnh, tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp hoa, một trong số ít những phim Việt Nam thực hiện trong thời kỳ này.

Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc… Cũng khoảng thời gian 19551956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.

Theo một vài bài viết của các học trò nhạc sĩ Chung Quân thì trước 1975, ông từng học tại New York, sau đó tốt nghiệp tiến sĩ văn chương tại Anh. Sau năm 1975 ông ở lại Việt Nam và qua đời vào năm 1988.

Nhạc phẩm Làng tôi của Chung Quân trùng tên với hai ca khúc khác cũng rất nổi tiếng của Văn CaoHồ Bắc. Ngoài ra ông còn một vài sáng tác khác như Cô gái quê