TRỌNG THÀNH /RFI : VÍ – GIẶM xứ Nghệ được UNESCO vinh danh , chương trình phát thanh ngày 3.12.2014, Paris


TẠP CHÍ XÃ HỘI

Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh

Phát ngày Thứ tư, ngày 03 tháng mười hai năm 2014
Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh
 

Ví-Giặm : hai dân ca ở Nghệ An và Hà Tĩnh – DR

Trọng Thành/RFI

Tối 27/11/2014, trong cuộc họp tại Paris, Pháp, Ủy ban UNESCO đã chính thức công nhận dân ca Ví – Giặm xứ Nghệ là “di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, cùng với 34 di sản khác của thế giới. Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống – môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền -, ngày càng mai một, nếu không muốn nói là gần như biến mất ở nhiều nơi, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới. 

Ví-Giặm là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được vinh danh, tiếp theo Đờn ca tài tử, Tục thờ Hùng vương Phú Thọ, Hát Xoan Phú Thọ, Hội Gióng Hà Nội, Ca trù, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Tây Nguyên.

Ví-Giặm là hai lối hát dân dã không nhạc đệm được các cộng đồng dân cư ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo và truyền thụ trong các hoạt động sản xuất và sinh hoạt truyền thống. Tên gọi của các làn điệu Ví-Giặm cổ truyền gắn với các hoạt động như : ví phường vải, phường võng, phường nón, phường củi, ví trèo non, ví đò đưa, ví ghẹo, ví mục đồng, giặm ru, giặm kể, giặm xẩm… Hai lối hát nói trên tuy có một số đặc điểm khác nhau, nhưng do từ một số thập niên gần đây thường xuyên được hát đan xen với nhau, nên cũng thường được ghép chung với tên gọi dân ca Ví-Giặm hay Ví-Dặm.

Trong bối cảnh các hoạt động kinh tế nông nghiệp truyền thống ngày càng mai một, môi trường làm nên sức sống của Ví-Giặm cổ truyền, với các thể thức và quy cách, trước đây bị thu hẹp hết sức rõ rệt, nếu không muốn nói là gần như biến mất, hai loại hình dân ca xứ Nghệ đã tìm thấy đất sống trong các sinh hoạt cộng đồng mới, đặc biệt là các câu lạc bộ, các nhóm nghiệp dư, không nhiều thì ít thường được chính quyền khuyến khích.

Giống như đa số các loại hình dân ca cổ truyền, trừ ca trù trong một thời gian dài, Ví-Giặm được chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau này khuyến khích phát triển, các làn điệu dân ca Ví-Giặm được giới nghệ sĩ khai thác để phát triển nhiều sáng tác âm nhạc mới mang hơi thở dân ca, chinh phục được trái tim của đông đảo công chúng, trước hết là người dân xứ Nghệ.

Lời ca Ví-Giặm nhìn chung thường dễ hiểu, các làn điệu thường đơn giản, được đông đảo người dân thuộc các lứa tuổi thưởng thức và ứng tác. Khác với Ví-Giặm cổ truyền, ngày càng có nhiều người hát dân ca với sự hỗ trợ của nhạc đệm truyền thống hay hiện đại. Ví-Giặm dưới hai hình thức, cổ truyền và cải biên, được thực hành tại 75 nhóm dân ca, với khoảng 1.500 thành viên, trong đó có hơn 800 nghệ nhân, theo một cuộc điều tra vào năm 2012. Tuy nhiên, số người ít nhiều có hát Ví-Giặm ắt hẳn nhiều hơn con số chính thức nói trên.

Nhân dịp Ví-Giặm xứ Nghệ được UNESCO vinh danh, nhận lời mời của Tạp chí Xã hội của RFI, Giáo sư Dân tộc nhạc học Trần Quang Hải (Paris), cùng Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) có đôi lời chia sẻ với quý vị thính giả về những cảm nghĩ riêng trước sự kiện này, cũng như một số hiểu biết căn bản về các di sản văn hóa của một vùng đất có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam và văn hóa Việt Nam.

Trước hết mới quý vị nghe chia sẻ của Giáo sư Trần Quang Hải, người từng tham gia hỗ trợ hồ sơ Ví-Giặm xứ Nghệ trình UNESCO.

10346515_1017501751609019_5913487171622731672_n.jpg bis

Giáo sư Trần Quang Hải

Tôi có dịp đi về Việt Nam hai năm liên tiếp, tham gia vào chuẩn bị hồ sơ của hát ví dặm Nghệ Tĩnh. Tôi thấy rằng, có sự chuẩn bị rất chu đáo. Có sự đóng góp của tất cả những câu lạc bộ của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Đồng thời Gs Nguyễn Chí Bền dầy công thu góp tất cả những tài liệu lại và làm đúng theo tôn chỉ của UNESCO. Thành ra họ thấy rằng sức sống của hát Ví-Giặm đã được hồi sinh và hy vọng rằng trong tương lai sẽ được tiếp nối và sẽ được quảng bá rộng rãi hơn.”

Giáo sư Trần Quang Hải (Paris) 07/12/2014 nghe

Từ xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nghệ nhân Phan Tất Thành, một người gắn bó từ hàng chục năm nay với dân ca xứ Nghệ cho biết cảm tưởng của ông trước sự kiện này.

phan thế phiệt nghệ nhân ví giặm

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt

Nghệ nhân Phan Thế Phiệt (Nghệ An) 03/12/2014 nghe

Ví là gì ? Giặm là gì ?

Nhạc sĩ Thanh Lưu, nguyên Trưởng đoàn Dân ca Nghệ An, người dầy công sưu tầm dân ca xứ Nghệ và được coi là một “người đặt nền móng cho kịch hát dân ca xứ Nghệ” nhận xét về tính phổ cập của Ví-Giặm (so sánh Ví-Giặm với Quan họ Bắc Ninh của ông có thể gây bàn thảo – ndr).

Ví-Giặm nó có tính phổ cập. Như Quan họ chẳng hạn chỉ có 49 làng Quan họ, và trong những làng ấy, chỉ có một số liền anh, liền chị hát. Và người ta cũng chủ yếu hát ở Hội Lim thôi. Còn Ví-Giặm là hát ở tất cả mọi không gian, mọi thời gian, và già trẻ, trai gái ai cũng có thể hát được. Cái nữa là ta thấy Ví-Giặm có tính biểu cảm đa dùng, tức là một điều Ví-Giặm chẳng hạn chuyển tải được rất nhiều sắc thái tình cảm. Đề cập tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống”.

Nhạc sĩ Thanh Lưu giúp chúng ta phân biệt Ví và Giặm khác nhau như thế nào, và đặc trưng của các làn điệu Ví-Giặm, qua một số giải thích và minh họa. 

nsutThanhLuu

Nhạc sĩ Thanh Lưu

Nhạc sĩ Thanh Lưu (Vinh) 07/12/2014 nghe

Nghệ nhân Phan Tất Thành cho biết thêm về giai đoạn những năm 1970-1980, trong thời gian hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tạm thời sát nhập làm một, nhiều hoạt động truyền bá phát triển, khiến trong một thời gian rất ngắn hát Giặm vốn chỉ phổ biến ở Hà Tĩnh có cơ hội phổ biến mạnh sang Nghệ An.

Từ thời các nhà nho đến dân ca “câu lạc bộ”

Ví-Giặm là sản phẩm của một vùng đất nơi sinh ra nhiều danh nhân thời văn minh Nho giáo. Theo cố Giáo sư Ninh Viết Giao (xem bài “Về ba loại hình dân ca Hò, Ví, Giặm“), người đã dành cả cuộc đời để sưu tầm dân ca xứ Nghệ, trong đó đặc biệt phải kể đến hát ví phường vải, được coi là một đỉnh cao của dân ca Ví một thời. Theo ông, thi hào Nguyễn Du, nhà thơ Nguyễn Huy Tự, ông hoàng ca trù Nguyễn Công Trứ, chí sĩ Phan Bội Châu đã từng “tắm gội” trong nền dân ca quê nhà. “Phải nói hát ví, hát giặm có giá trị như thế nào mời hấp dẫn, mới lôi cuốn các danh sĩ, chí sĩ, nho sĩ tham gia” để rồi “thầm lặng giúp đỡ họ” “sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ”. Dòng sông lịch sử không ngừng chuyển động. Ví-Giặm ngày nay có còn giữ được như xưa ? Nhạc sĩ Thanh Lưu kể lại trải nghiệm của ông về những việc đã làm để chuyển giao Ví-Giặm cho thế hệ trẻ :

Trong cuộc hát phường vải, có người ‘bẻ’, có người hỏi, có người đáp, và trong đó có thể có những nhà nho có tên tuổi. Những trí giả này đặt ra những câu đối, câu đáp mang tính rất thâm thúy, làm cho tính bác học trong Ví-Giặm cũng rất sâu sắc. Bây giờ thì khác, môi trường không như ngày xưa nữa. Bây giờ có ai đi quay xa, dệt vải, ai đi tuốt lúa, bây giờ máy móc cả rồi. Mà chúng tôi muốn làm thế nào để bảo tồn cái đó, thì một mặt mình phải đi sưu tập ở các làng quê, rồi các cụ nghệ nhân hát cho mình ghi lại, phục chế lại những cảnh đó thôi, chứ còn những cảnh tự nhiên như ngày xưa bây giờ là không có. Nhưng còn một hình thức khác, đó là các câu lạc bộ phường xã, câu lạc bộ hát dân ca, người ta sử dụng những bài bản cũ. Mặt khác nữa, để phản ánh được hiện thực mới, thì người ta lại lấy cái làn điệu cũ, biên soạn nội dung mới vào, để phản ánh cuộc sống đương đại. Cái hình thức câu lạc bộ không chỉ hát trong thôn xóm, mà cứ định kỳ như thế, có các cuộc liên hoan cấp cơ sở, từ phường xã cho đến cấp tỉnh. Như thế, các câu lạc bộ ở các phường xã cũng đua nhau tham gia các hội diễn, các cuộc liên hoan ấy…. Rồi ở trong trường học chúng tôi cũng phổ cập cho học sinh phổ thông, tập huấn cho tất cả các giáo viên phổ thông trong toàn tỉnh. Song đó rồi, các nhà giáo lại phổ biến cho học sinh của mình trong toàn tỉnh, rồi định kỳ tổ chức cuộc thi cho toàn trường…. Rồi chúng tôi dạy trên sóng phát thanh truyền hình. Rồi còn có việc in các tập nhạc dân ca, in các băng đĩa để trao truyền. Đấy là tôi không nói chuyện sâu khấu hóa. Sân khấu hóa là một chuyện khác”.

Ví là ngâm vịnh, ví von, nhưng đồng thời trong các sinh hoạt cổ truyền Ví cũng là lối hát dân ca hướng đến sự giao hòa : Ví là Với, bên nam hát cùng bên nữ. Hát Ví còn có nghĩa là hát Vói, một bên ở đường, ngoài ngõ “hát vói” vào sân, người ở ruộng này “hát vói” sang ruộng kia, người đi đường “hát vói” với người dưới ruộng… Vói là dùng lời hát để giao tiếp trong một không gian rộng. Giáo sư Trần Quang Hải quan sát thấy một hiện tượng mới trong thực hành hát Ví-Giặm hiện nay :

Tôi có dịp đi xem, thì thấy có những lớp giảng dạy, khuyến khích tất cả những em tập ra những màn hát đối đáp, những người trẻ hai mấy ba chục tuổi, đối lại với bên kia cũng mười mấy hai chục tuổi. Tập họ như thế, rồi họ tự nhiên thấy chuyện đó nó đặc biệt hơn, rồi nó linh động hơn là hát tân nhạc. Thì theo tôi nghĩ đó là một trong những khía cạnh có thể duy trì được truyền thống hát Ví-Giặm ở tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.”

Ví-Giặm cũng thể hiện được những kịch tính ghê gớm

Về phần mình, Nghệ nhân Phan Thế Phiệt nhấn mạnh đến sự thu hẹp của không gian dân ca cổ truyền, đổi lại là ảnh hưởng gia tăng của dân ca sân khấu hóa :

Cái không gian Ví-Giặm giao lưu bây giờ có thu hẹp lại. Và bây giờ rầm rộ hơn cả là biểu diễn. Biểu diễn sân khấu làng nào thôn nào cũng có. Nó cũng là một cách đưa đời sống vào dân ca Ví-Giặm…. Theo tôi nghĩ đó cũng là thích hợp, chứ không thể giữ nguyên xi được như hồi trước được đâu.

Trước kia, hát là trao đổi nghề nghiệp tâm tình thế thôi. Nhưng bây giờ, dân ca Nghệ An được lên sân khấu, nó có sức truyền tải, nó (trở thành) có sức chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong xã hội, ví dụ như những ‘tệ nạn xã hội’, như nghiện hút, tham ô, lợi dụng chức quyền, cuộc đấu tranh nẩy lửa giữa cái thiện, cái ác. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có được những làn điệu, sử dụng được để thể hiện những cung bậc tình cảm như thế. Ví dụ thì có nhiều, như vở ‘Cô gái sông Lam’ (tác phẩm chèo do Nguyễn Trung Phong sáng tác, được chuyển thể sang Ví-Giặm). Nó là vở diễn sân khấu dài hơi, rất phức tạp, kịch tính ghê gớm, nhưng sang dân ca Nghệ Tĩnh vẫn có sức thể hiện được một cuộc đấu tranh giữa cường quyền áp bức, giữa đế quốc, phong kiến, và hoạt động cách mạng rất cam go. Thế mà vẫn truyền tải được”.

RFI : Thưa ông, đấy là chuyện của thời cách đây đã hơn nửa thế kỷ. Còn về những nội dung mà ông nói nhưng gần đây hơn thì có không ?

Gần đây thì rất nhiều… Các tệ nạn ma túy, mãi dâm nó đều thể hiện được cả. Rồi cuộc đấu tranh trong bà con thôn xóm để đi lên xây dựng ‘Nông thôn mới’. Cuộc đấu tranh ngay từ trong gia đình, trong cộng đồng. Xây dựng Nông thôn mới có việc hiến đất cũng rất là cam go…. là xương máu của bà con từ bao đời để lại, bây giờ lại hiến đất cho xã, để mở đường cho rộng, cho làng xóm khang trang. Đó cũng là cuộc đấu tranh rất là nan giải đối với người nông dân. Dân ca Nghệ Tĩnh vẫn cứ lên sân khấu, có rất nhiều vở lên sâu khấu. Gia đình có vở ‘Gian nan một lời hứa’, về chống ma túy có ‘Khoảnh khắc của một đời’, rồi lên án chất độc da cam, có vở  ‘Nhân chứng sống’…”

« Giận mà thương » : khi sáng tác hóa thành di sản

Một số những nhạc sĩ trong một thời gian nào đó đã đi vào nghiên cứu và thấy có những làn điệu. Thí dụ như có bài nổi tiếng bây giờ ai cũng hát. ‘Giận mà thương’’ trở thành làn điệu được hát nhiều. Ngoài ra những lời mới dựa trên cái làn điệu đó được phổ biến khắp nơi rồi. Tôi đã nghe được gần như mười mấy bài tương tự. Nghe lên, mình có thể biết được, định rõ được đó là giai điệu ấy...”

Vừa rồi là nhận xét của Giáo sư Trần Quang Hải về làn điệu « Giận mà thương », một trong những làn điệu phổ biến nhất của dân ca Ví-Giặm, không chỉ trong xứ Nghệ, mà trên toàn quốc. Trong thời gian gần đây, ngày càng phổ biến các thông tin về làn điệu vốn được coi là dân ca cổ truyền, thực ra do một nhà biên kịch, ông Nguyễn Trung Phong sáng tác – trên cơ sở cải biên các làn điệu Ví và Giặm cổ truyền -, trong vở kịch dân ca mang tên « Khi ban đội đi vắng » (năm 1967). « Giận mà thương » hay « Ví giận thương » sau này còn được nhiều nghệ sĩ lấy cảm hứng để sáng tác các ca khúc, như Đỗ Nhuận với bài « Trồng cây lại nhớ đến Người », sau khi lãnh đạo Việt Nam, ông Hồ Chí Minh qua đời, hay Đỗ Quý Doãn/ Trần Hoàn với bài « Giữa Mạc tư khoa nghe câu hò xứ Nghệ » (năm 1981).

Theo nhạc sĩ Thanh Lưu, « [C]ó thể nói dân ca Nghệ Tĩnh là loại hình dân ca có điệu thức đơn giản nhất », và việc tuân thủ một số nguyên tắc, trong đó có việc đưa các làn điệu mới vào kịch dân ca một cách từ từ, là một trong các bí quyết khiến Ví-Giặm có được một sức hấp dẫn qua thời gian (xem bài « Nhạc sỹ Thanh Lưu với các làn điệu cải biên», Trung tâm Bảo tồn phát triển dân ca xứ Nghệ). Tuy nhiên, liệu có phải tất cả những điệu thức cải biên theo hướng này có thể được coi là dân ca xứ Nghệ nữa hay không ? Đây là một câu hỏi hiện còn để ngỏ. Theo một số nhà quan sát, điệu « Tứ Hoa » do nghệ sĩ Đình Bảng sáng tác, chẳng hạn, rõ ràng mang đậm chất vọng cổ – cải lương hơn là dân ca xứ Nghệ.

Hai mặt của sự tôn vinh

Trong hơn nửa thế kỷ qua, dân ca Ví-Giặm Nghệ Tĩnh đã biến đổi rất nhiều. Có nhà nghiên cứu ghi nhận hai thay đổi rất lớn của hát Ví-Giặm, từ lối hát trao duyên trong các phường nghề chuyển sang lối hát chơi của các nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian, rồi tiến đến sự hình thành của một sân khấu hay kịch dân ca Ví-Giặm (xin tham khảo bài nghiên cứu “Những bước chuyển đổi trong dân ca Ví-Dặm” của nhạc sĩ Đặng Hoành Loan). Trong bài viết trên, nhạc sĩ Đặng Hoành Loan cảnh báo việc đẩy tính kịch trong sân khấu Ví-Dặm lên khiến “điệu hát Ví-Dặm sân khấu không còn giữ tính hồn nhiên trong ca hát, phóng khoáng trong lối chơi của dân ca Ví-Dặm“.

Tác động của sân khấu Ví-Giặm, cũng như các hình thức sinh hoạt Ví-Giặm mang tính Nhà nước – hoặc ít, hoặc nhiều – đến các sinh hoạt dân ca Ví-Giặm được lưu truyền trong cộng đồng như thế nào hiện là một thực tế còn ít được chú ý. Hiện tượng “Giận mà thương”, thường được xem như làn điệu cổ, nhưng thực ra là làn điệu cải biên (được đánh giá là rất thành công), mà gần đây được nói đến nhiều, chỉ là bề nổi của một hiện thực vô cùng phong phú.

Không ít người lo ngại, cũng như trong nhiều lĩnh vực văn hóa, tín ngưỡng khác tại Việt Nam, phong trào tôn vinh di sản dường như mang tính hai mặt. Một mặt, nó cho phép nâng niu trân trọng hơn đối với những gì có giá trị đích thực, nhưng mặt khác, nó cũng có thể dung dưỡng cho sự áp đặt một cách nhìn duy nhất đối với quá khứ, một xu hướng Nhà nước hóa văn nghệ, về lâu dài làm thui chột những sáng tạo đích thực.

Tạp chí Xã hội của RFI xin chân thành cảm ơn Giáo sư Trần Quang Hải, Nhạc sĩ Thanh Lưu và Nghệ nhân Phan Thế Phiệt.

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20141203-unesco-vinh-danh-vi-giam-xu-nghe/

Tin bài liên quan

Vua Tao Đàn Thanh Hải

Tinh túy nhạc cổ truyền Việt Nam tại Paris

Hội Về Nguồn đưa đờn ca tài tử đến Paris

‘‘Đờn ca tài tử’’ : Hồn cốt cổ truyền trước làn sóng hiện đại

HOÀNG AN : Danh ca Bạch Yến làm liveshow chủ đề ‘đêm đông’ trên quê hương


Danh ca Bạch Yến làm liveshow chủ đề ‘đêm đông’ trên quê hương

Thứ Bảy 06/12/2014 17:15

(Âm nhạc) – Bạch yến làm liveshow Sol vàng tháng 12 nhằm tri ân tình cảm của khán giả đã yêu mến trong suốt hành trình nghệ thuật 58 năm qua.

H.N.(tổng hợp) : Nghệ thuật Bài Chòi sắp được trình UNESCO vào danh sách Di sản phi vật thể của nhân loại


Nghệ thuật Bài Chòi sắp được trình UNESCO vào danh sách Di sản phi vật thể của nhân loại

H.N (Tổng hợp) 25/11/14 10:26

Tháng 12/2014, Hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài Chòi miền Trung Việt Nam chính thức được trình UNESCO xét duyệt và ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa Đại diện của nhân loại.

Trước đó ngày 27.10, Bộ VHTTDL đã phê duyệt về việc thành lập Ban chỉ đạo xây dựng hồ sơ đề cử quốc gia “Nghệ thuật bài chòi miền Trung Việt Nam” đề nghị UNESCO đưa vào danh sách văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hồ sơ Bài chòi bao gồm các yêu cầu về lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và cam kết của cộng đồng, sự đồng lòng của cộng đồng khi đề đạt nghệ thuật Bài chòi để UNESCO công nhận đây là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Hát bài chòi ở Quy Nhơn

Theo tiến sĩ Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), Bài chòi là hình thức nghệ thuật dân gian sinh động bởi sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác…Đây chính là điểm đặc sắc mà không phải địa phương nào cũng có.

Bài chòi là sản phẩm văn hóa dân gian độc đáo của người dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên vào đến các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai.

Hát bài chòi thường được tổ chức thành một lễ hội. Hội này thường được tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán. Người ta thường dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên. Mỗi bên có 5 chòi, mỗi chòi độ cao từ 2-3 m, rộng đủ 3 người ngồi và một chòi trung tâm giành cho các vị chức sắc địa phương.

Bộ bài để đánh bài chòi là bộ bài tam cúc cải tiến với 33 lá với nhiều tên nôm na như: nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu … được vẻ trên giấy, dán vào thẻ tre..

Hội bài chòi thường được tổ chức vào dịp đầu năm

Vào cuộc chơi, anh hiệu xốc bài, rút một con và xướng tên con bài. Người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên bài. Nếu chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang bài đến. Bài chòi đó “tới” nếu trúng ba con bài, xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ cùng với rượu đến trao thưởng cho người trúng. Mỗi lá cờ đuôi nheo bằng giấy là dấu hiệu của một lần thắng. Góp vui cùng cuộc chơi còn có ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi “tới”. Khả năng trình diễn của anh Hiệu (người chủ trì trong hội chơi bài chòi) đã để lại trong lòng người xem sự hồn nhiên, dí dỏm, thông minh, tạo được sự lôi cuốn và hấp dẫn.

http://www.ngaynay.vn/Nghe-thuat-Bai-Choi-sap-duoc-trinh-UNESCO-vao-danh-sach-Di-san-phi-vat-the-cua-nhan-loai-p265042.html

HỮU TRUNG : Bài chòi – di sản văn hóa đặc sắc vùng Nam Trung Bộ


Bài chòi – di sản văn hóa đặc sắc vùng Nam Trung Bộ

Thứ hai – 01/12/2014 08:42


Năm 2012, loại hình nghệ thuật dân gian Bài chòi đã được đưa vào danh sách lập hồ sơ đề cử quốc gia trong giai đoạn 2012-2016 trình UNESCO xét duyệt và ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Mới đây, Bộ VH-TT&DL đã giao Viện Âm nhạc chủ trì, phối hợp với các tỉnh, thành phố có di sản Bài chòi xây dựng hồ sơ quốc gia “Nghệ thuật Bài chòi dân gian miền Trung Việt Nam” đệ trình UNESCO ghi danh Bài chòi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam chính thức trình UNESCO trong tháng 12 năm nay.

Từ hình thái nghệ thuật dân gian…

Tiến sĩ Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc (Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam) khẳng định: Trong số các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian ở các nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á, Bài chòi là một trong những hình thức nghệ thuật dân gian sinh động, bởi trong đó có sự kết hợp khéo léo cả thơ, nhạc, hát, diễn xuất, ứng tác… Đây chính là điểm đặc sắc mà không phải loại hình trình diễn nào cũng có. Từ hình thức đánh bài lá tiến tới hội chơi Bài chòi, Bài chòi chiếu; rồi từ chỗ trình diễn dưới đất đi lên hình thức trình diễn trên giàn và sau đó còn bước tiếp để phát triển thành hình thức sân khấu truyền thống, mang tính chuyên nghiệp đã cho thấy nghệ thuật Bài chòi có sức sống mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật ngày càng cao của công chúng.

Theo nhạc sĩ Trần Hồng, người cả đời nặng lòng với nghệ thuật Bài chòi, các Giáo sư Hoàng Châu Ký, Giáo sư nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, các NSND như Nguyễn Nho Túy, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu là những người được sinh ra từ những năm đầu thế kỷ XX cho biết từ lúc các cụ còn bé đã theo cha mẹ ngồi trên chòi để vui chơi Hội Bài chòi ở các đình chợ, đình làng. Điều này cũng có nghĩa là Bài chòi đã có ít nhất cách đây hàng trăm năm. Năm 1902, khi hoàn thành tập sách La Rousse Misicale, học giả người Pháp G.L Bovier cho rằng Bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến, tức là sau những năm 1470, tính đến nay là 544 năm. Bài chòi phát xuất từ các chòi giữ thú rừng, các trò chơi giải trí trên chòi, rồi bày ra Hội chơi Bài chòi.

Nhiều du khách nước ngoài say sưa xem Hội thi hát bài chòi tại Bình Định.

Còn nhạc sĩ Trương Đình Quang nghiêng về giả thuyết cho rằng: Bài chòi bắt nguồn từ bài tổ tôm. Theo đó, các con bài trong bộ Bài chòi cũng có đủ từ 1 đến 9, có những tên gọi nhất, nhị, tam, tứ… và có thể xếp theo như các pho văn, vạn, sách của tổ tôm. Hiện tượng trên không đủ để chứng minh sự “dân gian hóa” tổ tôm, mà có thể chứng minh cho sự “nho hóa” Bài chòi. Và cũng có thể do dụng ý của các nhà nho bình dân, muốn nho hóa ngữ vựng và dụng tâm tham khảo tổ tôm để chỉnh lý Bài chòi cho phù hợp…

Hội chơi Bài chòi thường diễn ra vào dịp đầu Xuân, thu hút nhiều người tham gia nhưng người chơi đến với Bài chòi không phải vì tính ăn thua, thắng được mà là để tìm sự thanh thản, vui vẻ đầu năm, để đắm mình trong những làn điệu dân ca quen thuộc, thả hồn theo những câu hò, điệu hát mộc mạc, dân dã, đồng thời cũng muốn tìm sự may mắn, chúc phúc đầu năm. Tính nhân văn của Bài chòi là ở đó.

…Đến di sản văn hóa nhân loại

Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, Tổng đạo diễn xây dựng hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi miền Trung Việt Nam trình UNESCO công nhận Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã khẳng định: Bài chòi là hình thái nghệ thuật dân gian bình dân, mang bản sắc văn hóa riêng của cộng đồng dân cư. Bài chòi mang hơi thở của cuộc sống, thể hiện tính đa dạng văn hóa và sự sáng tạo của những cộng đồng dân cư và được kế tục qua nhiều thế hệ. Về yếu tố lịch sử, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu thấu đáo về lịch sử ra đời của Bài chòi. Tuy nhiên, phần lớn các ý kiến đều cho rằng Bài chòi được sinh ra trong khoảng thế kỷ XV.

Dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng theo nhạc sĩ Trần Hồng và nhạc sĩ Trương Đình Quang, các nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu, các nghệ nhân đều gặp nhau ở chỗ: Bài chòi là sản phẩm văn hóa dân gian độc đáo của người dân các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, vào đến tận các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai. Điểm đặc sắc của trò chơi Bài chòi và ý nghĩa nhân văn của nó đã vượt ra khỏi hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian, là nơi trổ tài, biểu diễn, là nơi gặp gỡ của cộng đồng và trở thành sợi dây vô hình gắn kết tính cộng đồng, mang nét văn hóa truyền thống độc đáo của người Việt.

Cũng theo nhạc sĩ Đặng Hoành Loan, để xây dựng hồ sơ nghệ thuật Quốc gia về Bài chòi trình UNESCO, việc đầu tiên có vai trò hết sức quan trọng là công tác điền dã. Qua điền dã sẽ tìm hiểu được toàn bộ giá trị và đời sống của Bài chòi, xác định nghệ thuật Bài chòi tồn tại trong cộng đồng, được cộng đồng gìn giữ và bảo vệ như thế nào. Cộng đồng có yêu cầu, đề xuất gì và cộng đồng có ý kiến gì chung quanh việc giữ gìn nghệ thuật Bài chòi. Bởi chỉ có cộng đồng là chủ thể văn hóa mới có thể phát biểu chính xác nhất, đầy đủ nhất về nghệ thuật Bài chòi từ việc loại hình nghệ thuật này được sinh ra cho đến quá trình nó tồn tại và phát triển trong đời sống cộng đồng…

Sản phẩm chính của bộ hồ sơ quốc gia nghệ thuật Bài chòi trình UNESCO trước hết là bộ hồ sơ đăng ký khoa học, thể hiện toàn bộ các yêu cầu của UNESCO gồm tất cả các yêu cầu về mặt lịch sử, nghệ thuật, văn hóa và sự cam kết của cộng đồng, sự đồng thuận của cộng đồng khi đề đạt nghệ thuật Bài chòi để UNESCO công nhận đây là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Từ câu Hô Bài chòi (Hô Thai) đến hát Bài chòi trải chiếu là sự phát triển vượt bậc của Bài chòi về mặt nghệ thuật. Sự phát triển đó đã tạo ra được một loại hình nghệ thuật biểu diễn độc đáo của Việt Nam- nghệ thuật độc diễn Bài chòi.

Hình thức nghệ thuật độc diễn này đã góp phần làm nên diện mạo văn hóa nghệ thuật đặc sắc của cư dân Việt ở vùng Trung Bộ. Sản phẩm văn hóa ấy xứng đáng có chỗ đứng trong kho tàng di sản văn hóa dân gian Việt Nam. Cũng chính loại hình nghệ thuật này là nguồn cội sinh ra sân khấu dân ca kịch Bài chòi Nam Trung Bộ với các tên gọi khác nhau. Đây cũng chính là một trong những lý do để Bài chòi xứng đáng là đối tượng được đề cử để tổ chức UNESCO thẩm định và công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại – Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.

Tác giả bài viết: Hữu Trung

Nguồn tin: Báo Công An Đà Nẵng

http://baichoi.com/vi/news/Bai-viet/Bai-choi-di-san-van-hoa-dac-sac-vung-Nam-Trung-Bo-13.html


CÚC ĐƯỜNG : Danh hiệu di sản phi vật thể thế giới: Đầy triển vọng với nghệ thuật bài chòi


Thứ Hai, 17/11/2014, 15:13 (GMT+7)

Danh hiệu di sản phi vật thể thế giới: Đầy triển vọng với nghệ thuật bài chòi

Vừa trở thành di sản Phi vật thể cấp Quốc gia vào tháng 8, nghệ thuật Bài chòi của các tỉnh Nam Trung Bộ đã được đưa vào danh sách đệ trình UNESCO xin danh hiệu cấp thế giới trong năm 2015 tới đây. Đâu là lý do của sự ưu tiên này?

Theo kế hoạch, chậm nhất là 31.3.2015, hồ sơ của di sản này phải được hoàn thành và được chuyển tới UNESCO – trước khi chờ kết quả chính thức vào năm 2016.

 
 viewimage.aspx

Đáp ứng tiêu chí của UNESCO

Hiện nay, Nam Trung Bộ vẫn đang là vùng “trắng” danh hiệu Di sản phi vật thể Thế giới khi đặt cạnh đồng bằng Bắc Bộ (hát xoan, quan họ, ca trù), Bắc Trung Bộ (nhã nhạc Huế), Tây Nguyên (không gian văn hóa cồng chiêng) hay Nam Bộ (đờn ca tài tử). Tuy nhiên, theo đánh giá ban đầu của giới nghiên cứu, bản thân những nét độc đáo của nghệ thuật bài chòi cũng hoàn toàn đáp ứng được những tiêu chí mà UNESCO đòi hỏi cho danh hiệu này.

“Hát bài chòi có những đặc thù rất riêng và khó nói rằng nó chịu ảnh hưởng trực tiếp của bất kỳ loại hình dân ca nào khác, kể cả nghệ thuật tuồng vốn là đặc sản miền Trung” – GS Hoàng Chương, cố vấn đặc biệt cho phía lập hồ sơ (Viện Âm nhạc và các tỉnh Nam Trung Bộ), khẳng định.

Về cơ bản, bài chòi là sự kết hợp giữa một số điệu dân ca với diễn xướng trò chơi dân gian – trong đó người chơi ngồi trên 9 chiếc chòi cao, sử dụng một bộ bài riêng với hệ thống mõ và cờ đuôi nheo bằng giấy.

Năm 1902, trong công trình có tên, La Rousse Musicale, học giả người Pháp G.L. Bovier đã khẳng định: bài chòi được hình thành và phát triển sau những năm Nam tiến của người Việt tại Nam Trung Bộ (giai đoạn cuối thế kỷ 15). Thậm chí, truyền thuyết địa phương cho rằng trò chơi này được  Đào Duy Từ – vị danh tướng xuất thân từ nghề xướng ca – sáng tạo nên khi dạy cho người dân bản địa dựng chòi để canh nương rẫy. Từ những điệu hát giải trí khi thức đêm, bài chòi dần phát triển thêm về hình thức và làn điệu, trở thành lễ hội bài chòi trong những dịp Tết Nguyên đán, rồi đặc biệt phát triển mạnh trong 100 năm trở lại đây với tính chất của một hình thức diễn xướng dân gian gần gũi với người dân .

“Rất thú vị, bài chòi phát triển đặc biệt mạnh vào giai đoạn kháng chiến chống Pháp, trong khi những loại hình nghệ thuật như tuồng, chèo, cải lương lại gặp cảnh lao đao. Bởi, nếu những diễn xướng này bị coi là tàn dư của phong kiến thì bài chòi vẫn tồn tại nguyên vẹn trong dân gian” – GS Hoàng Chương cho biết. “Thêm vào đó, khi những diễn xướng cần tới sân khấu không tổ chức được trong điều kiện chiến tranh, những người dân Nam Trung Bộ lại càng dồn sự quan tâm cho bài chòi. Không có điều kiện cắm chòi hát, bài chòi chuyển thành đơn ca, song ca và luôn được cộng đồng thực hành mọi nơi mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh”.

Tính truyền thống xuyên thời gian ấy, cộng cùng sự sáng tạo đặc biệt của cộng đồng, là những tiêu chí quan trọng nhất mà UNESCO đòi hỏi ở một di sản phi vật thể như bài chòi.

Đánh thức sự quan tâm của cộng đồng

Theo GS Hoàng Chương, khó khăn lớn nhất trong quá trình xây dựng hồ sơ nằm ở yêu cầu về việc xác định vùng không gian cơ bản của bài chòi. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, nhiều địa phương đã phần nào có sự mai một về việc thực hành loại hình di sản này và chỉ còn tồn tại lác đác vài nghệ nhân hát bài chòi cổ.

“Hiện tại, 3 tỉnh Quảng Nam, Bình Định và Khánh Hòa là những địa phương còn hào hứng nhất với việc bảo tồn nghệ thuật bài chòi. Trong đó, tỉnh Bình Định cần được ưu tiên nhìn nhận như một trong những cái nôi mà nghệ thuật bài chòi khởi phát” – GS Hoàng Chương cho biết. Theo lời ông, trong 3 địa phương này, Bình Định là nơi lưu giữ được nghệ thuật bài chòi ở mức cơ bản nhất, với hơn 10 CLB bài chòi vẫn đang tồn tại trong dân gian.

“Sự thật là nghệ thuật bài chòi vẫn tồn tại như một dòng chảy thầm lặng tại đây, bất chấp mọi biến thiên của hoàn cảnh. Vào những dịp lễ Tết, lượng người dồn về những CLB bài chòi tại Bình Định vẫn lên tới con số hàng ngàn” – GS Hoàng Chương cho biết. “Và trong trường hợp trở thành di sản thế giới, tôi tin rằng bài chòi vẫn có sức hấp dẫn tuyệt đối với du khách. Bởi, hình thức diễn xướng huy động hệ thống 9 chòi hát là cách làm rất độc đáo và luôn khơi gợi trí tò mò của khách du lịch nước ngoài”.

Nhưng, với bề dày lịch sử hiện hữu, rõ ràng cái đích lớn nhất của danh xưng Di sản Thế giới mà bài chòi hướng tới vẫn là nhu cầu đánh thức sự quan tâm gìn giữ và bảo tồn của cộng đồng – chứ không đơn thuần là việc khai thác danh hiệu để thỏa mãn tâm lý tự hào địa phương hay phục vụ khách du lịch.

Theo Cúc Đường (Thể thao & Văn hóa)

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=31474

NGUYỄN VĂN NGỌC : Đi tìm nguồn gốc bộ bài chòi


Thứ Sáu, 19/09/2014, 10:33 (GMT+7)

Đi tìm nguồn gốc bộ bài chòi

“Rủ nhau đi đánh bài chòi – Để con nó khóc cho lòi rốn ra”, câu ca xưa phần nào cho thấy sức lôi cuốn của diễn xướng bài chòi với người dân lao động. Bao đời nay, các thế hệ nghệ sĩ, nghệ nhân Bình Định dành nhiều tâm huyết để sáng tạo, vun đắp cho nghệ thuật bài chòi. Và hội đánh bài chòi cũng nhận được sự hưởng ứng tích cực của công chúng. Tuy nhiên, bộ bài chòi vốn vẫn được sử dụng trong hội đánh bài chòi ở Bình Định có nguồn gốc từ đâu?

 nguon goc la bài chòi 1
Quang cảnh hội bài chòi. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Bài chòi, bài tới

Hiện nay, một số nhà nghiên cứu đưa ra luận cứ rằng Ðào Duy Từ (1572-1634), người Thanh Hóa, theo chúa Nguyễn vào Nam, điểm dừng chân đầu tiên của ông là Bình Định. Đào Duy Từ đã dựa theo mô hình tiêu khiển ở các chòi canh miền núi mà sáng tạo ra hội bài chòi. Từ lối sinh hoạt văn hóa nương rẫy, ông ứng dụng vào trò chơi đánh bài trên chòi, dần dần có tên gọi là hội đánh bài chòi. Về sau, hội bài chòi thường được tổ chức trong những dịp xuân nên được gọi là hội đánh bài chòi xuân.

Thực tế cho thấy, dù bài tới phổ biến khắp Trung – Nam bộ, nhưng bài chòi chỉ phổ biến ở Trung bộ. Có lẽ vì lý do này mà một số nhà nghiên cứu cho rằng bài chòi ra đời muộn mằn hơn hát bội, hát sắc bùa?

Bài tới, theo định nghĩa của tác giả Huỳnh Tịnh Của trong Đại Nam quốc âm tự vị (1896, tập II, trang 455), là “Thứ bài bắt cặp, ai bắt được đủ cặp trước thì gọi là tới, nghĩa là đến trước, rồi cũng được ăn tiền”. Chúng ta không có cứ liệu nào để xác định thời điểm ra đời của bài tới, nhưng trò chơi này trong bối cảnh phong hóa cộng đồng dễ phát triển và lan tỏa theo quy luật trình mở cõi về phương Nam. Có lẽ đó cũng là lý do mà bài tới phổ biến đến tận Nam bộ.

 nguon goc la bài chòi 2
Thẻ cái. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Từ đánh cờ tướng với hai người chơi đã tích hợp nhiều yếu tố người trình diễn biến thành trò chơi cờ người diễn ra ở sân đình, chùa, những nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội nói chung. Đây là một ví dụ. Từ bài tổ tam (người Quảng Nam gọi là tổ tôm), bài tam cúc biến thành tổ tam điếm (chòi) là những ví dụ khác. Ở đây bài tới đã tích hợp với ca nhạc, với chòi/ điếm với rạp/ sân khấu (ngày nay) để trở thành hội đánh bài chòi hấp dẫn. Bài chòi phát triển mạnh đến mức lấn át danh tiếng và cách chơi khác nhiều so với bài tới, nhưng về bộ bài để chơi bài chòi lại cũng là bộ bài để chơi bài tới, không thay đổi gì cho mấy.

Bài chòi, bài tổ tam

Bộ bài chòi có 30 con, chia làm ba pho, gọi là pho Văn, pho Vạn, pho Sách; mỗi pho có 9 con bài (quân bài) và một con bài Yêu (ba con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử, Bạch Huê). Tên gọi con bài tùy từng địa phương có cách gọi di bản khác nhau. Con bài làm bằng giấy bời, hình chữ nhật (2x 8,5cm), in một mặt đồ án biểu trưng cho con bài và lưng phét màu đỏ sẫm.

Do sự giống nhau của bộ bài chòi, bài tới và bài tổ tam ở chỗ cả ba loại bài đều chia thành ba pho và ba con bài Yêu nên không ít nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ nguồn gốc của bài chòi, bài tới và bài tổ tam có quan hệ với nhau.

Thực ra, xét đồ án hình họa của các con bài tương ứng bài chòi và tổ tam, chúng ta thấy nhiều khác biệt: Bài tổ tam vẽ đa số là hình người Nhật (đầu, mình, tứ chi, dụng cụ cầm tay, vác vai và thêm vào đó là hình tháp (con Ngũ vạn), cá (con Bát vạn), trái đào (con Nhị vạn), thuyền buồm (con Ngũ sách). Còn ở bộ bài chòi thì đồ án trang trí mang tính trừu tượng và hình người trừu tượng, chủ yếu là bán thân hay mặt người. Bài tổ tam mang dấu vết bộ bài chòi là các biểu tượng và chữ Hán – Nôm xác định số thứ tự của con bài.

 nguon goc la bài chòi 3
Ban nhạc trong hội bài chòi. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Chữ Hán – Nôm: Từ chữ nhất đến chữ cửu trên 9 con bài của pho Vạn; và các chữ ghi tên 3 con bài Yêu: Ông Ầm, Thái Tử và Bạch Huê (Bạch Tuyết).

Về biểu trưng, có hai loại: Hình tròn nhỏ có chấm ở giữa (tạm gọi là nút), hiểu là nút chỉ số điểm của mặt xúc xắc, cũng có thể hiểu là đồng tiến điếu và hình tượng đồng tiền nguyên/ tròn giữa vuông hoặc một nửa đồng tiền/ bán nguyệt.

Biểu tượng thể hiện “phức nghĩa”, đặc biệt là các đồ hình trên 9 con bài của pho Sách là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và theo đó có những biện giải khác nhau. Chẳng hạn như con bài Nhứt Nọc (có địa phương gọi Nọc Thược, Nọc Đượng) được gán cho hình vẽ biểu tượng dương vật và cho rằng nó có nguồn gốc từ Linga của văn hóa Chăm. Theo đó, con Bạch Huê lại được coi là âm vật (Yoni) của văn hóa Chăm. Thế là từ cặp Linga – Yoni, một số nhà nghiên cứu cho rằng bài chòi có gốc gác chi đó với văn hóa Chăm. Thậm chí từ đồ hình quân bài Ba Gà, có người liên tưởng đến hình khắc trên trống đồng Đông Sơn. Các biện giải quá mức này chủ yếu dựa vào sự diễn dịch chủ quan. Thực ra, cách gọi tên con bài bài Chòi, bài Tới là của dân gian, “coi mặt, đặt tên”, tức dựa trên hình tướng đặc trưng nào đó của hình họa mà gọi tên. Và như vậy, trong cái nhìn trực quan là có thể đạt được sự thích đáng cần thiết để có thể phân biệt các con bài.

Khi xưa, chữ Quốc ngữ chưa có, chữ Hán – Nôm cũng không phổ cập rộng rãi trong dân gian, đặc biệt đối với người bình dân thì không phải ai cũng đọc được mặt chữ Hán – Nôm in trên con bài, thì các biểu tượng “nút” và “đồng tiền điếu” có chức năng chỉ số (nhất đến cửu) cho các con bài pho Văn và pho Sách. Đó là các ký hiệu để phân biệt các con bài của bộ bài chòi. Còn đồ hình ở pho Sách được các nhà nghiên cứu biện giải đa tạp, thật ra là hình vẽ các chồng, xâu tiền điếu cộng với dãi uốn cong như hình con rắn, để chỉ rõ chúng thuộc pho Sách. Sách, chữ Hán có nghĩa là dây (ví dụ Quyến Sách nghĩa là dây lụa). Nếu gọi là có mối quan hệ giữa bài chòi với bài tổ tam là hình vẽ dây lằng ngoằn, là một trong các bằng chứng tương đối rõ ràng nhất. Một bằng chứng khác, là con bài Bạch Huê (Bạch Tuyết) của bài chòi, bài tới tương ứng với con bài thang thang của bài tổ tam.

Nói chung, tuy có một số điểm tương đồng giữa bộ bài chòi, bài tới, bài tổ tam, xong xét một cách tường tận hơn thì có nhiều điểm bất cập. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu thật dài hơi, đối chiếu với các loại bài giấy (chỉ bài) khác, đặc biệt là các loại bài gốc từ Diệp tử mã điếu của Trung Quốc.

 nguon goc la bài chòi 4
Người hô hiệu phải là người có kiến thức văn chương, biết ứng đối… Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Bài chòi, bài diệp tử mã điếu, bài toàn đối

Hình thức cờ bạc phổ biến nhất ở Trung quốc thời cổ là gieo xúc xắc. Một số trò trực tiếp thắng thua dựa vào kết quả của việc gieo xúc xắc; còn có nhiều trò phải kết hợp gieo xúc xắc với đánh cờ, đánh bài mới có thể quyết định thắng bại. Ngoài xúc xắc, hình thức cờ bạc tương đối quan trọng khác là bài xương, ra đời vào niên hiệu Tuyên Hòa thời Bắc Tống. Bài xương hoặc bài ngà, trên thực tế là biến thái từ xúc xắc, trên mặt mỗi con bài là do hai mặt xúc xắc kết hợp lại thành các con bài có điểm (nút) lớn nhỏ khác nhau. Đó là cội nguồn của hình nút (hình tròn nhỏ có chấm ở giữa) trên một số con bài của bộ bài chòi, bài tới đã nói ở phần trên.

Ngoài bài xương, bài ngà ở Trung Quốc còn phổ biến loại bài giấy. Thời cổ gọi là Diệp tử (xuất hiện từ thời Đường), đến thời nhà Minh, nhà Thanh trò chơi bài lá này đặc biệt thịnh hành. Bài diệp tử có hai loại: Diệp tử in theo điểm số của bài xương in ra và diệp tử mã điếu thì dùng nhiều lớp giấy bồi in lên. Diệp tử có 40 lá, chia làm 4 môn (pho): Thập tự, Vạn tự, Sách tự, Văn tiền.

Bài diệp tử mã điếu lưu hành từ niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, đến đời nhà Thanh biến đổi thành bài mặc hòa, chỉ còn lại ba pho: Pho Vạn, pho Sách và pho Văn. Ngoài loại bài mặc hòa, còn có một số loại biến thể khác như đấu hổ, chỉ trương.

Những dữ liệu về loại bài diệp tử mã điếu đã chỉ ra mối quan hệ loại bài này với bài chòi, bài tới, bài tổ tam, có số lá con bài, cơ cấu ba pho và đồ án hình họa tương đồng về phần “lý’; còn về phần “biểu” thì phải nói đến Đông Quan bài.

 nguon goc la bài chòi 5
Diễn bài chòi lớp. Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Đông Quan bài (bài Đông Quan) còn gọi là bài toàn đối, vốn xuất xứ và phổ biến ở huyện Đông Quan (Quảng Đông – Trung Quốc). Bộ bài này gồm 120 lá, chia làm bốn bộ (mỗi bộ 30 con bài), mỗi bộ có ba pho: Văn, Vạn, Sách, mỗi pho có 9 con bài, và ba con bài lẻ (gọi là ba con bài đặc biệt, bài Yêu): Đại hồng, Tiểu hồng và Bát xuyến. Các con bài của ba pho đều mang số từ 1 đến 9. Hình học của pho Văn và pho Vạn cũng dùng hình quan tiền và nút làm biểu tượng chỉ số điểm. Riêng pho Vạn vẽ hình nhân vật, trên mỗi lá bài có ghi số điểm bằng chữ Hán (Nhất…, Cửu).

Một vài nhận định

Về mặt đồ án (hình họa), mối quan hệ của bộ bài chòi, bài Tới với loại bài diệp tử mã điếu và đặc biệt là bài Đông Quan (Trung Quốc) là rõ ràng hơn và trực tiếp hơn so với bài tổ tam. Theo đó, các biểu tượng của hình họa trên các lá bài của bài chòi, bài tới được hiểu tự sự đối sánh với các loại đồ án và chức năng khu biệt “danh – số” của diệp tử mã điếu và toàn đối.

Các con bài thuộc pho Vạn: Có chữ viết Hán tự, người bán thân và đồ án trang trí ở dưới cùng. Ở các con bài này, hình người bán thân hẳn bắt nguồn từ nhân vật Hý khúc hay nhân vật Thủy hử thuộc pho Vạn của diệp tử mã điếu và toàn đối. Đối với bộ bài chòi, bài tới trong chừng mực nào đó là mặt tuồng (hát bội) – loại hình “Hý khúc” chiếm vị trí thống trị một thời ở các tỉnh Trung bộ nói chung, Bình Định nói riêng, nơi bộ bài chòi, bài tới thịnh hành. Đặc trưng nhất là đôi mắt xếch, rất tuồng và đặc trưng khu biệt là khăn, mũ đội đầu như học trò (Nhứt trò), thầy (Cửu chùa) đội mũ Tì lư.

Bài diệp tử mã điếu có 4 pho, đến thời nhà Thanh biến đổi thành bài mặc hòa, đấu hổ, chỉ trương có 3 pho. Điều này cho phép đoán định niên đại ra đời của bộ bài chòi, bài tới ở nước ta sớm nhất trong thời nhà Thanh (Trung quốc), giữa cuối thế kỷ XVII trở về sau. Song vì lý do khách quan, bài chòi đòi hỏi tính tiêu khiển tập thể cao, mang tính cộng cảm cao và nhiều lý do khác nên ít thấy lưu lạc vào vùng đất Nam bộ theo chân các vị khai khẩn vùng đất mới.

 nguon goc la bài chòi 6
Một cảnh lại quả khi du khách trúng thưởng.  Ảnh tư liệu SVH,TT&DL

Tại hội thảo “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền Trung” do Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức tại Nha Trang tháng 10.1991, có ý kiến cho rằng: Cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê… đang sử dụng trong hát bội, cải lương đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra. Hư thực thế nào, vấn đề đang còn tranh luận. Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: Là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bội và cải lương. Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của chính nó, mà chỉ thêm vào để một bài hô hay hơn và cùng song hành trong đời sống làng xã nông thôn Bình Định nói riêng, vùng đất miền Trung nói chung.

Đánh bài mặc hòa, đấu hổ, bài xì, tứ sắc, roulette hay cờ tướng… nếu không vay mượn của phương Tây thì cũng vay mượn của Trung Hoa, ngược lại đánh bài chòi là hoàn toàn của người Bình Định, người Việt Nam, do người Việt Nam nghĩ ra, không chịu ảnh hưởng nước ngoài nhiều, song cũng phải thừa nhận đã tiếp thu có chọn lọc của loại hình bài diệp tử mã điếu và toàn đối. Tên gọi của những lá bài hầu hết đề tên Nôm, rất ít từ Hán -Việt. Những chữ Hán, chữ Nôm trên các lá bài trộn lẫn vào nhau hầu như không theo một định lệ, khuôn thước nào. Điều này đủ để giúp chúng ta hiểu thêm tinh thần độc lập của người Việt, đồng thời chứng minh rằng đánh bài chòi là một trong những kiểu thức đặc trưng của văn hóa dân gian Bình Định, cũng như miền Trung Việt Nam.

Tính đơn giản trong tên gọi, khiến cho trò chơi đánh bài chòi được phổ thông hơn. Nó không giới hạn trong tính cách của người chơi, không ẩn dụ sau cánh cửa của các nhà quyền quý, cao sang mà cho tất cả mọi người cùng tham gia. Như vậy “Tính chất phổ thông hóa, bình dân hóa của trò chơi đánh bài chòi dễ kết nạp thêm yếu tố, một lối ca hát có nguồn gốc sâu xa vào trong sinh hoạt dân gian của người dân Bình Định nói riêng và các tỉnh Nam Trung bộ Việt Nam.

NGUYỄN VĂN NGỌC

Tài liệu tham khảo:

  1. Hoàng Chương – Nguyễn Có 1997, Bài chòi và dân ca Bình Định, NXB Sân khấu.
  2. Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi (dịch) 1997, Lịch sử văn hóa Trung Quốc, tập II, NXB Văn hóa – Thông tin.
  3. Hoàng Lê 2001, Lịch sử ca kịch và âm nhạc bài chòi, Sở Văn hóa – Thông tin Bình Định.
  4. Cao Tự Thanh (dịch) 2004, Lịch sử trò chơi Trung Quốc, NXB TP Hồ Chí Minh. 

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=28310

PHƯƠNG LAN : Bài chòi trên đường thành di sản thế giới – Bài 1


Thứ Hai, 18/08/2014, 09:47 (GMT+7)

Bài chòi trên đường thành di sản thế giới – Bài 1

Nghệ thuật bài chòi đang trong quá trình xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bởi những giá trị về văn hóa, nghệ thuật cũng như sức sống mạnh mẽ của loại hình nghệ thuật này trong lòng người dân vùng duyên hải miền Trung.

Bài 1: Di sản sáng tạo của nhân dân lao động

Từ khi bắt đầu hình thành với hình thức sơ khai là trò chơi đánh bài chòi (hay còn gọi là hô bài chòi), hát bài chòi trở thành loại hình nghệ thuật dân gian gần gũi, đặc sắc thể hiện tâm tư, tình cảm, cuộc sống sinh hoạt của người dân duyên hải miền Trung.

 Nếu người Nam Bộ say mê và tự hào với Đờn ca tài tử, thì người miền Trung cũng say mê và tự hào với nghệ thuật bài chòi.

“Rủ nhau đi đánh bài chòi

Để con nó khóc mà lòi rốn ra”

 
Đông đảo người dân đến xem hội đánh bài chòi cổ ở Bình Định.

Câu ca dao ấy của người dân miền Trung đã cho ta thấy, nghệ thuật hát bài chòi được nhân dân miền Trung yêu thích và bài chòi đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhân dân lao động miền Trung. Cũng như hát bội, bài chòi có nguồn gốc từ dân gian, trải qua thời gian, bài chòi đã phát triển thành nghệ thuật chuyên nghiệp, nhưng hình thức sinh hoạt bài chòi theo kiểu dân gian vẫn bám trụ trong lòng nhân dân lao động ở các tỉnh miền Trung.

Nói về nguồn gốc của bài chòi, GS Hoàng Chương, Tổng Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, người đã có hàng chục năm tìm hiểu và nghiên cứu nghệ thuật bài chòi cho biết: “Cho đến nay, vẫn chưa tìm thấy văn bản nào có ghi lại nguồn gốc ra đời của nghệ thuật bài chòi. Tuy nhiên, qua truyền thuyết dân gian, qua lời kể của những nghệ nhân cho thấy, nguồn gốc và sự ra đời của nghệ thuật bài chòi gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của nhân dân lao động”.

Theo lời kể của các nghệ nhân, vào cuối thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII, nhiều thú dữ trên rừng thường về phá hoại mùa màng, quấy nhiễu cuộc sống của dân lành. Để chống lại thú dữ tấn công, người dân trong làng đã dựng những chiếc chòi rất cao ở ven rừng, trên mỗi chiếc chòi cắt cử một thanh niên trai tráng canh gác, nếu thấy thú dữ về phá hoa màu thì đánh trống, hô to để đuổi thú rừng… Trong quá trình canh giữ như vậy, để đỡ buồn chán, những người canh giữ trên chòi đã nghĩ cách giao lưu với nhau bằng những câu hát, câu hò.

 
Đánh bài chòi đã thành một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu với người Bình Định.

Để phù hợp với hoàn cảnh khi đó, các chòi đã ngồi trên chòi hát – hô đối đáp nhau, giữa chòi này với chòi khác. Không chỉ có hô – hát không, người dân còn sáng tạo ra cách ngồi chơi bài tứ sắc (tương tự như tam cúc ở ngoài Bắc – PV). Hình thức vừa chơi bài, vừa hô (hát) giữa các chòi với nhau để giải trí này được dân gian gọi là hô bài chòi, khởi nguồn của nghệ thuật bài chòi sau này.

Trải qua thời gian, để nhiều người dân có thể biết đến cách chơi hát – hô bài chòi này, những cuộc giải trí này dần dần được nâng lên thành hội bài chòi. Mỗi một hội đánh bài chòi, họ cắt cử một chòi trung tâm làm ông hiệu, cầm thẻ bài hô: “Đi đâu đi hủy đi hoài/Cử nhân không đậu tú tài cũng không” – câu hô đó ứng với con bài anh học trò, người ngồi trên chòi khác, ai có quân bài học trò thì gõ vào mõ cốc cốc, báo hiệu là tôi trúng rồi… Cứ như vậy, trong quá trình chơi, những người dân lao động đã sáng tác và phát triển ra rất nhiều câu hô, mỗi câu ứng với những con bài khác nhau.

Cùng với tình yêu văn chương, nghệ thuật, dần dần, việc thắng thua trong chơi bài không còn mang ý nghĩa vật chất, mà nó đã trở thành một trò giải trí, một sân chơi văn hóa của người dân nơi đây. Người dân chủ yếu đến để nghe người chơi hát – hô bằng những câu ca dao, tục ngữ, hoặc là tự sáng tác ra những câu hát hay, hô hay. Dần dần, để đáp ứng nhu cầu người xem, trong quá trình phát triển, những người chơi bài chòi đã đưa thêm những tích trò, những câu chuyện vào trong nghệ thuật hát bài chòi…

Theo GS Hoàng Chương, thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám (khoảng những năm 1930 – 1940), để thu hút người xem, từ một điệu hô ban đầu, những nghệ nhân hát bài chòi đã sáng tạo ra 4 làn điệu cơ bản của bài chòi là xuân nữ, cổ bản, xàng xê và hò quảng để diễn tả nhân vật. Sau này, các nghệ nhân còn mượn một vài làn điệu của hát bội sang làm phong phú thêm cho nghệ thuật này những năm 1930 -1940.

Đến năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng ta nhận thấy, người dân ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ đặc biệt yêu thích hát bài chòi, nên đã vận dụng đưa loại hình nghệ thuật vào hỗ trợ công tác tuyên truyền cho người dân. Vậy nên, trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp được coi là “thời hoàng kim” của nghệ thuật bài chòi. Khắp nơi khắp chốn, từ bộ đội, nhân dân… đâu đâu cũng hát bài chòi nên nhiều sáng tác mới, gắn với cuộc sống sinh hoạt của người dân đã ra đời.

Khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết (năm 1954), đất nước chia 2 miền, tất cả nghệ nhân bài chòi phục vụ kháng chiến được tập kết ra Bắc. Đến đầu năm 1955, bài chòi bắt đầu lên sân khấu và đến năm 1957 thì thành chuyên nghiệp khi chính thức thành lập đoàn nghệ thuật bài chòi đầu tiên ở Hà Nội. Các nghệ sỹ đã xây dựng vở bài chòi Thoại Khanh – Châu Tuấn với sự tham gia của nhiều nghệ sỹ, vở diễn này sau đó cũng đã giành được Huy chương vàng trong hội diễn văn nghệ. Vào những năm 1960, nghệ thuật bài chòi đã phát triển rất mạnh, thu hút đông đảo người xem, trở thành món ăn tinh thần hấp dẫn thu hút đông đảo người xem. Sau này, Nhà nước đã cử nhiều diễn viên và nhạc công của đoàn nghệ thuật bài chòi về Nam Trung Bộ biểu diễn phục vụ kháng chiến, đồng thời đào tạo lớp nghệ sỹ kế cận.

Theo Phương Lan (Tin tức)

http://www.baobinhdinh.com.vn/viewer.aspx?macm=26&macmp=26&mabb=26615

ANH ĐỔ : Danh ca Bạch Yến chinh phục khán giả trẻ khi hát live Cho em quên tuổi ngọc


http://thegioivanhoa.com.vn/combo-giai-tri/nhac/45202501/nghe-bach-yen-chinh-phuc-khan-gia-tre-khi-hat-live-cho-em-quen-tuoi-ngoc/

Danh ca Bạch Yến chinh phục khán giả trẻ khi hát live Cho em quên tuổi ngọc

Đăng ngày 08/12/2014 bởi Đỗ Anh Tài
 

Mạc dù đã 72 tuổi nhưng chất giọng chị vẫn không hề thay đổi. Trong lần ra mắt giới truyền thông, chuẩn bị cho live show Sol vàng sắp tới, danh ca Bạch Yến đã làm cho người nghe phải “sởn da gà” khi biểu diễn live ca khúc Cho em quên tuổi ngọc sáng tác Lam Phương. Vẫn nét duyên dáng, hài hước vốn có, Bạch Yến đã chinh phục cả những khán giả trẻ.

Trong đêm nhạc riêng, để tri ân tình cảm của khán giả đã yêu mến trong suốt hành trình nghệ thuật 58 năm qua, Bạch Yến sẽ hát nhiều hơn những ca khúc nổi tiếng từ nhạc Việt đến nhạc ngoại. Đây được xem là live show có quy mô lớn đầu tiên trong suốt chặng được nghệ thuật của danh ca Bạch Yến. Góp mặt trong đêm nhạc còn có nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, ca sĩ hải ngoại Anh Khoa, nữ hoàng nhạc jazz Tuyết Loan, ca sĩ Hồng Hạnh và Hiền Thục.

THÔNG TIN: Live show  Sol Vàng tháng 12 sẽ được diễn ra vào 20h00 ngày 13-12-2014 tại Nhà hát Hoà Bình và được truyền hình trực tiếp trên VTV9 và tiếp sóng trên VTV Huế, Đài PTTH Đà Nẵng, Đài PTTH Lâm Đồng và Đài PTTH Bình Phước.

Bài và video: ANH ĐỖ