CHÚC SƠN : Bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật bài chòi trong đời sống hôm nay


Bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật bài chòi trong đời sống hôm nay

Thứ năm – 11/12/2014 16:14

 
 
Ngày 11 tháng 12 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Bảo tồn và phát huy các giá trị của nghệ thuật bài chòi trong đời sống hôm nay”, do GS. Hoàng Chương làm chủ nhiệm.
 

GS. Hoàng Chương giới thiệu về cách chơi Bài chòi dân gian
Hội đồng nhất trí đánh giá: Đây là một đề tài rất cấp thiết, có giá trị thực tiễn cao, giúp ích cho việc nghiên cứu, đào tạo và góp phần vào việc xây dựng hồ sơ để trình UNESCO cong nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Dới đây là bản tóm tắt công trình nói trên.

 

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI – DI SẢN CỦA DÂN TỘC
TRONG ĐỜI SỐNG HÔM NAY
 
MỤC LỤC
 
Mở đầu
Chương I     : Tổng quan nghệ thuật Bài Chòi.
Chương II   : Lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật Bài Chòi.
Chương III  : Nghệ thuật biểu diễn, đặc trưng và thi pháp.
Chương IV   : Âm nhạc và ca hát nghệ thuật Bài Chòi
Chương V    : Bảo tồn và phát huy Bài chòi trong cuộc sống hôm nay
Kết luận
Kiến nghị
 
Dưới đây là tóm tắt nội dung công trình
 
MỞ ĐẦU
1.              Tính cấp thiết của đề tài
–        Lý giải một cách khoa học có sức thuyết phục rằng, Bài chòi là một sản phẩm văn hóa bản địa độc đáo, đặc sắc lâu đời như một di sản quý của dân tộc cần bảo tồn và phát huy thật đầy đủ.
–        Công trình sẽ trình bày đầy đủ lịch sử hình thành và phát triển của bài chòi từ manh nha đến chuyên nghiệp, từ hình thức biểu diễn đến nội dung biểu diễn, từ hô đến hát, từ đơn giản đến phức tạp cả âm nhạc và múa.
–        Thấy rõ thực trạng Bài chòi hiện nay để tìm ra bảo tồn và phát huy, phát triển bài chòi cho đúng hướng.
–        Chưa có một công trình nghiên cứu sâu mang tính tổng hợp về nguồn gốc lịch sử và đặc trưng nghệ thuật cũng như giải pháp bảo tồn và phát huy nên cần thiết phải có một công trình nghiên cứu khoa học toàn diện để khẳng định những giá trị của nghệ thuật Bài chòi.
–        Trên cơ sở ấy đề xuất với UNESCO công nhận bài chòi là di sản của nhân loại.
 
2.              Mục tiêu của đề tài
–        Nhận diện các giá trị văn hóa và nghệ thuật của Bài chòi trong quá trình hình thành, phát triển và trong đời sống hiện nay.
–        Cung cấp luận cứ khoa học để khẳng định sự cần thiết phải xây dựng hồ sơ công trình UNESCO xét duyệt và công nhận nghệ thuật Bài chòi là di sản văn hóa kiệt tác truyền khẩu phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
–        Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật Bài chòi
–        Rút ra những yếu tố cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật Bài chòi
–        Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi.3.              Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.              Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.              Bố cục của đề tài
 
 

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI
 
Bài Chòi là nghệ thuật dân gian đặc sắc, là món ăn tinh thần của nhân dân Nam Trung Bộ. Hàng trăm năm qua ở miền Trung đâu đâu cũng có hô hát và diễn xướng Bài Chòi. Đến cuối năm 1954 Bài Chòi theo các nghệ nhân tập kết ra Bắc và trở thành nghệ thuật chuyên nghiệ từ đó người miền Bắc làm quen với Bài Chòi và yêu thích Bài chòi không kém gì chèo, tuồng.
 
– Thời đầu việc nghiên cứu nghệ thuật dân gian truyền thống chưa được đặt ra cấp thiết lắp, nên chẳng mấy ai giải thích, chứng minh ý nghĩa lịch sử và nội hàm của cái tên Bài chòi đủ sức thuyết phục. Vì vậy mà những người phụ trách bộ môn Bài Chòi lúc bấy giờ phải đổi cái tên Đoàn Bài Chòi Liên khu 5 thành Đoàn Dân ca kịch Liên khu 5. Quan điểm sai lệch này còn kéo dài tới sau ngày miền Nam giải phóng (30/4/1975) khi hầu hết các đoàn Bài chòi ở các tỉnh Nam Trung Bộ đều mang tên “Đoàn dân ca kịch”. Như ở Quảng Nam – Đà Nẵng (Nay là đoàn Quảng Nam), ở Phú Khánh (nay là đoàn Khánh Hòa), chỉ riêng ở tỉnh Bình Định là mang đúng tên: Đoàn ca kịch Bài Chòi.
 
– Có thể nói, nhân dân lao động miền Bắc yêu thích nghệ thuật chèo bao nhiêu thì nhân dân miền Trung cũng yêu thích nghệ thuật Bài chòi bấy nhiêu, bởi đây là sản phẩm tinh thần hồn  nhiên được sinh ra từ những con người hồn nhiên, chất phát, nó do chính người lao động ở nông thôn sáng tạo ra, và nó đã trở thành món ăn tinh thần không thể thếu của họ. Bài chòi là nghệ thuật mang rõ nét dân gian đặc sắc nhất, không lai tạp trong âm nhạc, trong ca hát và trong diễn xuất.
 
– Bài Chòi là đặc sản, là di sản văn hóa của miền Trung mà nhân dân ở miền đất này đã nuôi dưỡng nó, bảo vệ nó từ xa xưa cho đến hôm nay với mong ước nó cũng sẽ như Đàn ca Tài tử Nam Bộ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, đó là mục tiêu của hội thảo khoa học với chủ đề “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi hướng tới UNENSCO công nhận là di sản của nhân loại” do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam kết hợp với UBND tỉnh Bình Định long trọng tổ chức tại Thành phố Quy Nhơn, Bình Định, quê hương của Bài Chòi, vào đầu tháng 9/2013 và trước đó (2012) Bộ Văn hóa cũng đã chọn Bình Định tổ chức Liên hoan Bài chòi toàn quốc lần thứ nhất.
 
– Từ thực tiễn trên sân khấu biểu diễn, đến các diễn đàn hội thảo khoa học đã cho chúng ta thấy rõ hơn bức tranh lịch sử nghệ thuật Bài Chòi từ quá khứ đến hiện tại cụ thể là, Bài chòi đã sinh ra hàng trăm năm trước từ trò chơi hô hát trên chòi, cành giữ thú phá hoa màu đến hình thức chơi bài trên chòi có kết hợp biểu diễn của anh Hiệu và trở thành “tục đánh bài chòi” tức là Hội đánh Bài chòi đang tồn tại hiện nay. Để thỏa mãn thị hiếu của khán giả về nghệ thuật biểu diễn, các anh Hiệu lại diễn kể trên chiếc chiếu (Bài chòi chiếu) với những nội dung ngày càng phong phú hơn, thời lượng dài hơn, có nhân vật, có sự kiện, có tình tiết.
 
– Bài chòi là dù có diễn tả, những nội dung rộng lớn với nhiều nhân vật, nhưng vẫn giữ những làn điệu gốc là Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản Hồ Quảng người nghe không thể chấp nhận nếu trong buổi diễn Bài chòi mà thiếu bốn làn điệu gốc nói trên hiện tượng một số đoàn đã dân ca hóa Bài chòi (đưa dân ca và ca khúc vào thay thế Bài chòi) thì đều bị phê phán là kịch hóa Bài chòi, làm mở nhạc bản sắc Bài chòi.
 
Nhờ có tác động của nghiên cứu lý luận mà xu hướng dân ca hóa, kịch hóa Bài chòi đã được hạn chế rất nhiều.
 
 GS. Hoàng Chương giới thiệu về cách chơi Bài chòi dân gian
 
CHƯƠNG II
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI
 
Cũng như hát Bội (tuồng) thật khó biết rõ năm tháng ra đời một cách chính xác. Bài chòi cũng vậy, hiện nay các nhà nghiên cứu chẳng có một cứ liệu lịch sử nào, nên phải dựa vào truyền thuyết Đào Duy Từ phát triển Bài Chòi từ những người ngồi trên chòi canh giữ thú vật phá hoại hoa màu mà gõ trống, mõ và hô, hát cho vui, đến việc các nghệ nhân mượn cuộc chơi bài tứ sắc vận vào câu hô để trở thành trò đánh Bài chòi tồn tại cho tới hôm nay gọi là Hội đánh bài chòi. Trò chơi nghệ thuật độc đáo này ra đời khoảng cuối TK 19 đầu TK20 và tồn tại cho đến hôm nay, chỉ gián đoạn trong thời chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, nhưng lại chuyển sang hình thức hô, hát Bài chòi rất phổ biến trong nhân dân và trong quân đội, dĩ nhiên là nội dung tập trung ca ngợi tổ quốc, nhân dân đả kích, phê phán quân xâm lược và bọn Việt gian bán nước. Những hoạt cảnh Bài chòi, những câu bài chòi lẽ cò các văn nghệ  sĩ kháng chiến sáng tác kịp thời để phục vụ bộ đội và nhân dân.
 
Bài chòi kháng chiến (thời chống Pháp 9 năm) là nền tảng cho Bài chòi tiến lên chuyên nghiệp sau khi tập kết ra Bắc cuối năm 1954. Đây là mốc lịch sử quan trọng nhất của nghệ thuật Bài chòi. Năm 1957 tại Hà Nội Bộ Văn hóa ra quyết định thành lập đoàn Bài chòi chuyên nghiệp đầu tiên sau khi diễn thành công vở Thoại Khanh – Châu Tuấn tại Hội diễn sân khấu toàn quốc. Tiếp theo là vở Tiếng Sấm Tây Nguyên cũng đạt huy chương vàng tại hội diễn năm 1960. Đoàn ca kịch Bài chòi LK5 trở thành một trong những đơn vị mạnh thuộc Bộ Văn hóa cùng với đoàn tuồng LK5, Đoàn cải lương Nam Bộ, đoàn cải lương Bắc, đoàn tuồng Bắc và đoàn chèo Trung ương.
 
Trong những năm 60,70 (TK 20) Đoàn ca kịch Bài chòi LK5 mở lớp đào tạo diễn viên trẻ để chi viện cho miền Nam và một số nghệ sĩ giỏi nghề của đoàn được cử vào chiến trường Trung Trung Bộ vừa biểu diễn vừa phục vụ đồng bào, bộ đội vừa xây dựng đoàn Bài chòi LK5 B. Để đáp ứng yêu cầu của chiến trường ở tỉnh Quảng – Đà (Quảng Nam Đà Nẵng) tự đào tạo ra đội Bài chòi, (Nay là Đoàn ca kịch Quảng Nam) ở Bình Định cũng thành lập Đoàn Bài chòi trên núi (nay là Đoàn Bài chòi Bình Định). Còn đoàn Bài chòi LK5 B thì sau 1975 trở thành Đoàn Dân ca kịch Khánh Hòa. Riêng Đoàn Bài chòi LK5 – đơn vị chủ lực sau tháng 4/1975 được trở về miền Nam phục vụ đồng bào và đến năm 80 thì Bộ Văn hóa giao cho tỉnh Thuận – Hải quản lý, từ đó đổi tên là Đoàn ca kịch Thuận Hải. Đoàn này hoạt động được mấy năm thì bị giải thể vì đất Thuận Hải (Ninh Thuận – Bình Thuận) không phải là đất Bài chòi! Đây là tổn thất lớn của ngành nghệ thuật Bài chòi. Cho đến nay trên toàn miền Nam Trung Bộ chỉ có 3 đoàn Bài chòi chuyên nghiệp ở giữa là Đoàn Bình Định và hai đầu là Đoàn Quảng Nam và Đoàn Khánh Hòa, còn 3 tỉnh Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Phú Yên không có đoàn Bài chòi chuyên nghiệp. Tuy vậy, phong trào hô, hát diễn xướng Bài chòi ở các tỉnh này vẫn tồn tại và hoạt động cũng sôi nổi !…
 
Trò chơi đánh Bài chòi và hát dân ca Bài chòi đã có lịch sử hàng trăm năm ở các tỉnh Nam Trung Bộ, bắt nguồn từ quá trình lao động sản xuất, giao thoa văn hóa và sự sáng tạo nghệ thuật của người dân bản địa. Bài chòi đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhiều tầng lớp nhân dân, thu hút cả người già và lớp trẻ ở mọi vùng miền trên dải đất miền Trung, không những trong dịp tết mà còn ở các lễ hội của địa phương.
 
Chính vì tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn nên trò chơi nghệ thuật dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và cổ vũ. Ý nghĩa của nó còn vượt ra khỏi một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian đơn thuần là nơi người nghệ nhân trổ tài ứng tác và biểu diễn, vừa hát hô, đối đáp; và đặc biệt hội đánh Bài chòi diễn Bài chòi còn là môi trường giao tiếp cộng đồng và là nơi nam thanh, nữ tú đến gặp gỡ, giải trí, tìm hiểu, trao duyên…
 
Hội Bài chòi cổ thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở quảng trường phường xã, hoặc ở ngã ba đầu làng, sân đình… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ trẻ kế cận và do các hình thức giải trí ngoại lai chi phối. Vì vậy, công tác bảo tồn nghệ thuật Bài chòi cổ là hết sức cấp bách.
 
Tại cuộc hội thảo khoa học: “Phát triển sân khấu ca kịch bài chòi miền Trung” do Bộ Văn hóa (nay là Bộ VH,TT&DL) và Viện Sân khấu VN tổ chức tại Nha Trang tháng 10-1991, có ý kiến cho rằng: cái gốc của các làn điệu cổ, xuân nữ, xàng xê, cổ bản… đang sử dụng trong hát bội và cải lương, đều bắt nguồn từ bài chòi mà ra? Duy nhất một điều được mọi người đồng ý với nhau: là các điệu thức trong hô bài chòi có nhiều nét tương đồng với hát bộ và cải lương. Đây không phải là sự pha tạp để làm mất cái nguyên gốc ban đầu của Bài chòi, mà chỉ nên thêm vào hơi hướng Tuồng, Cải lương để cho bài hô phong phú hơn, hay hơn. Bởi vậy, nếu nghệ thuật dân gian cần phải được bồi đắp thêm cho Bài chòi, nhưng nếu biến những tài sản phi vật thể độc đáo này trở thành những phẩm vật thương mại thì sự cố gắng dù cho có thành công đến mấy, cũng không thể thay thế cho sản phẩm gốc của loại hình văn nghệ độc đáo như Bài chòi đã sống cùng với dân tộc suốt dòng chảy của thời gian hàng trăm năm.
 
Việc Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch chọn tỉnh Bình Định đại diện cho 6 tỉnh, thành phố ở khu vực Nam Trung Bộ được đề nghị khẩn trương làm công tác kiểm kê khoa học di sản văn hóa phi vật thể đối với Bài chòi là một quyết định hợp tình, hợp lý. Trên cơ sở đó, Nhạc viện Quốc gia sẽ xây dựng, hoàn chỉnh hồ sơ để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để đề nghị Chính phủ và trình UNESCO xét duyệt và công nhận Bài chòi là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong thời gian sớm nhất. Tại hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi hướng tới UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”, hầu hết ý kiến cho rằng nên chọn Bình Định, cái nôi của nghệ thuật Bài chòi và hiện còn lưu giữ lễ hội Bài chòi và hang chục đoàn Bài chòi dân gian khá mạnh làm điểm xuất phát lập hồ sơ trình UNESCO thì có tính khả thi hơn. Và rõ nhất là tại hội thảo hầu hết các ý kiến đều thống nhất chọn Bình Định cùng Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy văn hóa dân tộc VN trực tiếp hỗ trợ việc tổ chức lập hồ sơ Bài chòi trình UNESCO.
 
Riêng Bình Định hiện có tới 10 đoàn Bài chòi không chuyên (diễn hay như chuyên nghiệp) và hàng trăm Câu lạc bộ Bài chòi ở khắp làng, xã và Bình Định còn đang tồn tại Hội đánh bài chòi cổ vẫn thường xuyên được tổ chức rất sôi nổi ở TP Quy Nhơn và các huyện phụ cận. Trên cơ sở đó Bình Định được Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch chọn tổ chức Liên hoan Bài chòi lần thứ nhất (tháng 4/2011) và nhiều cuộc tọa đàm, hội thảo về Bài chòi cũng như các hội diễn Bài chòi trong thời gian qua, Bài chòi Bình Định bao giờ cũng dành được giải cao, chứng tỏ ở địa phương này vẫn giữ được vị trí cái nôi của Bài chòi. Qua cuộc thi Tuồng và Dân ca chuyên nghiệp toàn quốc tháng 8/2013, có 3 đơn vị Dân ca kịch Bài chòi chuyên nghiệp trong toàn quốc là Đoàn Ca kịch Quảng Nam, Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định và Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa. Các đoàn đều thể hiện rất rõ sự bảo tồn và phát triển của Bài chòi. Tuy diễn viên các đoàn đều biểu diễn và ca hát khá hay, nhưng có điều đáng băn khoăn là sân khấu Bài chòi bị hiện đại hóa hơi quá liều làm cho chất dân gian mộc mạc của Bài chòi bị mờ nhạt, xu hướng cách tân này đã xuất hiện từ những kỳ liên hoan trước, khiến cho những nhà nghiên cứu đã có phần băn khoăn. Bình Định nơi còn lưu giữ khá tốt vốn Bài chòi cổ để nghiên cứu nghệ thuật Bài chòi truyền thống rất có giá trị trong năm 2012. Một điều đáng quan tâm nữa là tại cuộc thi Tuồng và Dân ca toàn quốc năm 2013, là Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định đã gặt hái được thành công lớn với huy chương vàng cho vở diễn “Khúc ca bi tráng” (Tác giả kịch bản: Văn Trọng Hùng, Chuyển thể: Đoàn Thanh Tâm, Đạo diễn: NSND Hoài Huệ). Điều này đã khẳng định sức sống của nghệ thuật Bài chòi ở Bình Định, cũng như sự trưởng thành lớn mạnh và sự tìm tòi, sáng tạo của những người làm Bài chòi ở Bình Định trong việc bảo tồn và phát triển nghệ thuật Bài chòi ở cái nôi của Bài chòi. Đồng thời cũng là động lực cho những người tâm huyết với nghệ thuật Bài chòi làm hết sức mình trong sự nghiệp bảo tồn, phát huy và phát triển nghệ thuật Bài chòi theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là “xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.
 

Hội đồng nghiệm thuchòi dân gian
 
CHƯƠNG III
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN BÀI CHÒI – ĐẶC TRƯNG VÀ THI PHÁP
 
 Sân khấu dân tộc Việt Nam từ Tuồng, Chèo, Cải lương đến các loại hình dân ca kịch như Bài chòi, ca Huế, Ví dặm… đều phát triển tự do theo kinh nghiệm của nghệ nhân, không dựa vào cơ sở lý luận nào cả. Vì vậy mà trước cách mạng tháng 8 – 1945, khó tìm thấy một quyển sách, một tư liệu nào tổng kết học thuật của các bộ môn Tuồng, Chèo, Cải lương. Mãi đến những năm 60 (thế kỷ 20) mới có các ban nghiên cứu Tuồng, Chèo, Cải lương do Bộ Văn hóa thành lập, từ đó mới có những công trình nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu truyền thống. Riêng Bài chòi là nghệ thuật dân gian, hồn nhiên, ngẫu hứng, mới định hình chuyên nghiệp (1957) nên càng thiếu cơ sở lý luận. Các nghệ sĩ Bài chòi vừa làm vừa học – chủ yếu là học kinh nghiệm bảo tồn và phát triển của nghệ thuật Tuồng. Một số cán bộ chuyên môn của Đoàn Bài chòi Liên khu V từ những năm 80 như: Hoàng Lê, Nguyễn Kiểm và Phan Ngạn mới cố gắng làm được cả hai việc tổng kết học thuật và tìm ra thi pháp nghệ thuật cho bộ môn Bài chòi để làm cơ sở cho việc sáng tác, biểu diễn và đào tạo đội ngũ diễn viên trẻ. Trước hết là kỹ thuật sáng tác hoặc thủ pháp sáng tác kịch bản Bài chòi. Cấu trúc kịch bản Bài chòi rất khác với kịch bản Tuồng, Chèo, Cải lương và Kịch nói. Nếu kịch bản Tuồng quan tâm nhiều tới thơ cổ điển và kết cấu nghiêm ngặt, phải có những mâu thuẫn xung đột có tính bạo liệt và giới hạn trong cung đình, hoặc ở một không gian rộng lớn giữa hai phe phái đấu tranh quyết liệt để tạo đất cho nghệ sĩ trổ tài diễn xuất tổng hợp: ca hát, múa (vũ đạo) và võ thuật cùng với việc sử dụng binh khí: gươm giáo, kiếm cung… thì, Bài chòi thường diễn một câu chuyện kể dân gian có đầu có đuôi và là một câu chuyện tình yêu chung thủy có nhiều uẩn khúc, éo le như “Thoại Khanh – Châu Tuấn’, “Lang Châu – Lý Ân”… Câu chuyện ấy được người diễn “kể” bằng hô, hát những làn điệu cũng không giống ai như: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng… với nhịp điệu cũng rất khác với Tuồng, Chèo, Cải lương (nhịp tư – gõ 3 lặng 1). Và nếu nghệ thuật Tuồng được giới hạn một cách chặt chẽ lời hát trong mấy câu nam, câu khách và Cải lương phải gò lời hát trong khuôn khổ của làn điệu, bài bản, thì Bài chòi lại phóng khoáng tự do, không bị ràng buộc trong câu hát, dài ngắn là tùy thuộc vào nội dung, vấn đề là người hát phải biết cách chuyển điệu sao cho hợp lý và hấp dẫn người nghe, điều này ta thấy rất rõ trong cấu trúc âm nhạc ở màn đầu và màn cuối của vở “Thoại Khanh – Châu Tuấn”. Nếu không nắm vững thi pháp nghệ thuật Bài chòi thì không thể sáng tác ra kịch bản Bài chòi hay và biểu diễn Bài chòi hấp dẫn người xem được. Bản chất Bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên không bị câu thức trong âm nhạc, người diễn có thể ngẫu hứng chuyển điệu trong khi hát sao cho hợp cảnh hợp tình và gây hấp dẫn người xem.
 
Nghệ thuật biểu diễn của Bài chòi xuất hiện cùng lúc với hội chơi đánh Bài chòi những ngày đầu xuân. Anh “Hiệu” được xem như diễn viên và người dự hội là khán giả. Anh Hiệu vừa hô câu thai vừa làm động tác từ đơn giản đến phức tạp theo từng nội dung câu thai và cũng phù hợp với bài thơ dài hay ngắn. Kỹ thuật biểu diễn của anh Hiệu hoàn toàn ngẫu hứng, không có bài bản quy cách nào. Đó cũng là đặc điểm của nghệ thuật diễn xướng dân gian. Kỹ thuật biểu diễn có tính chuyên nghiệp chỉ từ khi Bài chòi hình thành những vở diễn.
 
Nghệ thuật biểu diễn Bài chòi từ lúc anh Hiệu hô từng câu thai kết hợp động tác đơn giản, đến khi rời sân khấu đất (Hội đánh bài chòi để bước lên sân khấu chiếu – diễn trên chiếc chiếu ở sân đình, bãi chợ, góc làng thì xuất hiện thêm nữ diễn viên, tức là đào, kép bài chòi cũng diễn kể câu chuyện dài.
 
Muốn thể hiện được những nhân vật khác nhau mang những tính cách khác nhau, nghệ nhân “bài chòi chiếu” một mặt phải tự sáng tạo từ hiện thực cuộc sống, một mặt phải học tập cách diễn của nghệ thuật hát bội (Tuồng), điều này cho thấy rất rõ các nghệ sĩ Đinh Thái Sơn, Đinh Bích Hải, Lệ Thi… ở Đoàn Văn công LK5 (1954) đều biểu diễn được cả hai bộ môn nghệ thuật Tuồng và Bài chòi và cũng chính nhờ nắm vững nghệ thuật biểu diễn mà các nghệ sĩ Bài chòi LK 5 sau này đã thể hiện thành công hàng loạt vở diễn hiện đại.
 
CHƯƠNG IV
ÂM NHẠC VÀ CA HÁT BÀI CHÒI
 
Thời kỳ 1950 – 1954, khi viết những vở kịch Bài chòi đầu tiên các tác giả đi trước đều viết như kịch nói pha hát Bài chòi và cũng hát 4 điệu Bài chòi cơ bản là: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng. Đến khi đặt vấn đề thể nghiệm phát triển ca hát trong kịch hát bài chòi trong “Thoại Khanh –  Châu Tuấn”, các tác giả phải nghiên cứu học tập quá trình phát triển của các ngành: Tuồng, Chèo, Cải lương…
 
Kịch bản Bài chòi là một câu chuyện kể dân gian có đầu đuôi, có vui buồn và đậm chất trữ tình để hô, hát, kết hợp nhuần nhuyễn giữa Hát và Thơ, Thơ và Kịch. Trong đó, các thể văn kịch, hát, múa, nói đan xen, hỗ trợ nhau để đạt tới mục đích cuối cùng là hiệu quả của vở diễn. Tuyệt nhiên, đó không phải là sự lắp ghéo theo kiểu: kịch + hát dân ca + ca khúc mới hoặc là “kịch + ca khúc mới + múa mới”…
 
Xét về mặt văn học, thì kịch bản Bài chòi thuộc về văn học kịch và kịch thơ dân gian. Các thể thơ: lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể, thơ tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt, biền văn (văn biền ngẫu) và văn vần chiếm ưu thế tuyệt đối. Mặt khác, tất cả các kịch bản sân khấu đều phải thông qua hành động (tức là nghệ thuật diễn viên) để tái hiện cuộc sống. Vì vậy, kịch bản Bài chòi không kết cấu theo kiểu: giao đãi, thắt nút, tạo cao trào, đỉnh điểm rồi mở nút để kết kịch theo kiểu dramatique của kịch hiện thực tâm lý phương Tây, mà kịch bản sân khấu Bài chòi phải được viết theo phương pháp kể chuyện (hay còn gọi là sân khấu tự sự phương Đông). Trong đó, ngôn ngữ kịch bản phải là ngôn ngữ tiết tấu hóa và tính cách hóa cao độ. Đặc điểm của sân khấu bài chòi là hát trên thơ, nói cũng trên thơ. Lời đối thoại, độc thoại của nhân vật dựa thể Nói lối. Nói lối cũng là một điệu; với 5 làn điệu vừa nêu trên, cộng với tiếng gõ cốc! cốc! cốc! của nhịp song loan đều đều từ đầu đến cuối một vở diễn.
 
Trong quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật Bài chòi, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp được những yếu tố gắn liền với đặc trưng và thi pháp của nghệ thuật này mà nhân dân miền Trung yêu thích hoặc không thích.
 
Sân khấu bài chòi có thể diễn các đề tài dân gian – lịch sử – thần thoại – chuyện thời đại – chuyện trong nước và ngoài nước, nhưng phải nói bằng tiếng nói của chính mình, tức là hô hát Bài chòi truyền thống, nội dung phải phù hợp với tâm tư, nguyện vọng và đạo đức con người Việt Nam, phải tiếp nối mô hình những câu chuyện dân gian quen thuộc mà người dân lao động đã được thưởng thức từ khi ngồi trên chín cái chòi cách đây hàng trăm năm mà phát triển lên. Khán giả Bài chòi không thích những kịch bản có nội dung xa vời, lý tưởng hoá không thực tế, xa lạ với cuộc sống của người bình dân. Vì thế hư cấu theo kiểu tự bịa, đầy li kỳ, rộm tai loè mắt mà người xem cũng không thích.
 
Thứ hai là cách thể hiện vở diễn trên sân khấu: Khán giả không thích câu chuyện dạng bình thường, chen vào đó những pha ù choẹ tạo nhiều miếng bất ngờ giật gân, tới tấp, hoặc đẻ ra những giấc mơ, cắt đuôi bỏ lên đầu, không đúng logíc của cốt truyện dân gian quen thuộc.
 
Người xem Bài chòi cũng không thích trên sân khấu người diễn viên nói nhiều mà hát ít, vì bản chất của Bài chòi là hô, hát, hát càng hay càng hấp dẫn, diễn khéo, diễn giỏi mà hô, hát không hay cũng không được người xem ngưỡng mộ.
 
Nói chung, kịch bản Bài chòi dù thực hiện đề tài nào cũng phải rõ ràng đầu đuôi và kết thúc có hậu, phải thực tế đời sống và ước vọng của con người, dù người đó ở đâu. Người xem Bài chòi thích nhất là chuyện trung hiếu, tiết nghĩa, diệt ác trừ tà, bảo vệ nhân phẩm, bảo vệ người tốt theo đạo lý dân tộc Việt Nam. Về nghệ thuật, phải bám chắc đặc trưng và phương pháp diễn xuất của bài chòi là kết hợp chặt chẽ giữa hát kể và diễn cách điệu ở cấp độ thấp hơn Tuồng. Bước đi của các sự kiện trong câu chuyện có hệ thống, dễ hiểu, dễ nhớ. Ngôn ngữ văn học của sân khấu bài chòi dù chuyện nước nào, dân tộc nào cũng chân chất, dung dị, lời thơ mang bóng dáng dân ca Việt Nam, của dân tộc như Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Đồ Chiểu). Đặc biệt càng gần âm hưởng ca dao hoặc xen trích ca dao, tục ngữ, đúng ý, hợp tình thì người xem rất thích. Nếu nói thì nói kiểu ngụ ngôn – tục ngữ – ngạn ngữ hoặc dùng những thành ngữ gọn nhẹ mà hàm xúc. Nếu hề hài thì phát huy kiểu chuyện tiếu lâm dân gian với nội dung châm biếm và biểu diễn cũng phải vận dụng thủ pháp cách điệu trào lộng như Tuồng, Chèo cổ.
 
Kịch bản Bài chòi phải tạo ra nhiều tình huống kịch hấp dẫn nhưng hợp lý, hợp tình huống để diễn viên có đất mà hô, hát và diễn xuất. Diễn viên Bài chòi còn phải biết cách vận dụng các điệu dân ca như: Hò giật chì – Hò hụi – Lý ngựa ô – Lý Đồng Nai – Hò bá trạo… để diễn tả cảnh rộn ràng vui nhộn, hoặc thể hiện cảnh buồn, cảnh đau thương thì, hát những điệu dân ca như lý tang tích – lý vọng phu – lý năm canh – nhưng tất cả phải chuyển hóa theo âm điệu Bài chòi kết nối giữa các điệu Bài chòi và dân ca Nam Trung bộ phải thật nhuần nhuyễn và hợp lý.
 
Nói chung, kịch bản bài chòi từ lời nói, điệu cười đến những câu nghiêm chỉnh phải bao trùm hương vị dân gian, phải mang âm hưởng Bài chòi, nếu đi theo phương pháp kịch nói đậm bài ca, hoặc dân ca hóa thì không còn là ca kịch Bài chòi nữa.
 
Người diễn viên Bài chòi cần thể hiện sự rung cảm chân thực từng tính cách nhân vật thông qua diễn cảm trong từng câu hát. Nói cho rõ lời, cho sâu và hát cho ngọt, cho xúc động. Khán giả vẫn chấp nhận lối diễn cách điệu ước lệ ở mức thấp thể hiện rõ tinh thần cốt truyện và tính cách của nhân vật, nhưng không diễn theo lối tả thực hoàn toàn như kịch nói, cũng không cách điệu hóa cao như Tuồng.
 
Trong ca kịch dân tộc, nói chung vai trò của âm nhạc vô cùng quan trọng, nó hỗ trợ cho người diễn viên rất nhiều trong hô hát và diễn xuất. Nói chung, khán giả Bài chòi bao giờ cũng muốn nghe những giọng hô hay, cùng với tiếng đàn điêu luyện như các nghệ nhân ở hội đánh bài chòi ở Bình Định hiện nay, hoặc ở những vở diễn lớn trên sân khấu chuyên nghiệp.
 
          Dĩ nhiên, muốn tạo nên tính hấp dẫn cho người xem phải có nhiều yếu tố hợp lại, như tích truyện hay, đạo diễn giỏi, diễn xuất tài, trang trí, phục trang, ánh sáng đẹp, nhưng lại thể hiện rõ bản sắc của loại hình nghệ thuật Bài chòi. Đó là yêu cầu tối thượng của sân khấu bài chòi chuyên nghiệp. Còn bài chòi dân gian thì hát hay, làm trò khéo mang phong cách dân gian, đó là tiêu chuẩn hàng đầu và đây mới là tiêu chí của tổ chức khoa học giáo dục quốc tế UNESCO đối với nghệ thuật Bài chòi hiện nay.
 
CHƯƠNG V
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY BÀI CHÒI TRONG CUỘC SỐNG HÔM NAY
 
Bài chòi, một loại hình sân khấu dân gian và trò chơi dân gian đặc trưng ở miền Nam Trung bộ đã được phát triển thành một loại hình sân khấu ca kịch dân tộc (hội đánh bài chòi, bài chòi chiếu) vào những năm đầu thế kỷ 20 được nhân dân lao động vô cùng yêu thích.
 
Dân ca Bài chòi được hình thành từ lối chơi bài trên các chòi trong hội xuân của người Việt ở miền Trung từ xa xưa. Từ chỗ chỉ là hô tên các con bài, qua năm tháng với sự sáng tạo của các nghệ nhân dần hình thành một thể loại sân khấu dân ca độc lập có thể diễn xướng ở mọi nơi, mọi lúc. Yếu tố diễn xướng cũng ngày được tăng cường theo các sáng kiến của các nghệ nhân dân gian trong các tốp gánh hát bài chòi với một chiếc chiếu và một vài nhạc cụ đi hát khắp sân đình, bãi chợ vùng quê.
 
Ngày Tết, người đi xa vừa về đến đầu thôn đã nghe tiếng phách, tiếng hô bài chòi giục giã. Những chòi lợp mái rạ ngày mùa còn thơm hương nếp, những cây cờ con ngũ sắc trên bàn cái, rồi tiếng hô, tiếng trống, tiếng mõ vang dậy một góc làng như thúc giục các cụ, các bà, các em nhỏ đến xin những con bài thử vận đầu năm.
 
Có thể nói đã là người miền Trung thì ai cũng thích nghe Bài chòi. Hát Bài chòi từ lâu đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân nông thôn miền Trung. Người ta sáng tác những câu hô dựa theo làn điệu Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản… quen thuộc. Văn chương Bài chòi là văn chương bình dân, nhưng nghe kỹ vẫn thấy chất thơ lai láng và hài hước, nội dung nói về sinh hoạt của người lao động, ca ngợi cái tốt, châm biếm, phê phán những thói hư, tật xấu nên người nghe rất thích. Họ không những thích nghe những giọng hô, hát rất hay của những nghệ nhân tài hoa mà còn thích những câu thai, câu thơ thâm thúy, trữ tình và vui nhộn.
 
Ví như câu: “Chồng nằm chính giữa – hai vợ hai bên – lấy chiếu đắp lên – gọi là Ba bụng – huớ con Ba bụng!”, hoặc câu: “Đi đâu mang sách đi hoài – Cử nhân không đậu, Tú tài cũng không – huớ con Nhất trò nó vừa ra xong” hay như con Chín gối: “Hai bên chòi lẳng lặng mà nghe – róc rách ống tre con gì nó ra đây? – anh trai Kim Bồng đi bán chiếu tre – gặp em gái nhỏ bên sông Thu Bồn – thương ai lòng thấy bồn chồn – đêm nằm thao thức chiếu bông anh gối đầu – con Chín gối nó ra rồi”…
 
Đánh Bài chòi không phải chỉ là trò chơi giải trí đơn thuần mà người chơi còn tiếp nhận những câu thơ dân gian mang ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu sắc về tính nhân văn. Chơi hội bài chòi là cái thú thanh cao, điệu hát bài chòi hầu hết là sáng tác hoặc ứng tác kịp thời của anh Hiệu nhưng đều mang ý nghĩa giáo dục, ngợi ca, hoặc phê phán châm biếm thói hư tật xấu rất ý nhị, thâm trầm, vì thế trở thành máu thịt trong lòng người miền Trung xa xứ. Có lẽ vì vậy mà nó sống mãi trong lòng người dân từ xưa tới nay. Dù đã trải qua hàng trăm năm, nghệ thuật Bài chòi vẫn là món ăn tinh thần của người dân miền Nam Trung bộ.
 
Nghệ thuật Bài chòi ra đời từ dân gian, nói tiếng nói của dân gian, chủ yếu phục vụ cho tầng lớp bình dân và cũng chính những người bình dân kế thừa, phát triển không ngừng. Bài chòi ra đời trong dân gian và phát triển thành nghệ thuật chuyên nghiệp, nhưng vẫn bám trụ trong lòng nhân dân lao động ở nông thôn và là tiếng nói của người dân bình thường. Điều này thấy rất rõ ở Bình Định. Hiện nay ở Bình Định ở đâu cũng có phong trào hô hát Bài chòi gần như ngày xưa.
 
Hiện nay, không những ngày tết, ngày lễ mà cả ngày thường ở vùng nông thôn Nam Trung bộ vẫn diễn ra các trò chơi Đánh bài chòi.
 
Phong trào đánh bài chòi ở Bình Định là mạnh nhất, kể cả thời kỳ chiến tranh ác liệt, cho đến nay cả tỉnh có tới mươi đoàn bài chòi không chuyên (tức là không phải của Nhà nước nhưng nghệ nhân biểu diễn không kém đoàn chuyên nghiệp), họ không những diễn ở tỉnh nhà mà còn đi lưu diễn ở tỉnh khác và có hàng trăm câu lạc bộ Bài chòi trong làng xã thường xuyên biểu diễn phục vụ đồng bào.
 
Bài chòi cũng như hát bội, không phải chỉ tồn tại và phát triển ở Bình Định mà nó đã trở thành một loại hình nghệ thuật đặc sắc của toàn miền Nam Trung bộ. Từ Nam, Ngãi, Bình Phú, Khánh Hòa thậm chí đến Phan Rang, Phan Thiết cũng có hô, hát bài chòi.
 
Bài chòi phát triển theo một quá trình, theo chiều đồng đại và lịch đại, nội dung, hình thức luôn luôn biến động đi lên theo lịch sử phát triển, được quần chúng yêu mến và ủng hộ. Nghệ thuật Bài chòi thực sự là món ăn tinh thần của nhân dân ở khắp các tỉnh miền Trung từ xa xưa đến nay được phục hồi ngày càng mạnh.
 
Đi sâu vào phía Nam, tỉnh Khánh Hòa cũng là một trong những địa phương bảo tồn và phát triển nghệ thuật bài chòi. Những câu hát, vở diễn của nghệ thuật bài chòi từ lâu đã thấm sâu vào tâm hồn biết bao thế hệ người dân xứ Trầm Hương. Để rồi, bài chòi Khánh Hòa trở thành một mắt xích quan trọng thể hiện sự phát triển liền mạch của nghệ thuật bài chòi. Hiện toàn tỉnh Khánh Hòa có khoảng hơn 200 nghệ nhân dân gian đang nắm giữ những bài bản, lời hát… của nghệ thuật Bài chòi. Tuy không phải là nơi phát tích của loại hình nghệ thuật này, nhưng bài chòi từ Bình Định đến Khánh Hòa khi nó có sự phát triển từ hình thức chơi bài chòi tiến lên bài chòi biểu diễn. Chính yếu tố này đã tạo nét riêng cho nghệ thuật Bài chòi xứ Trầm Hương.
 
Tại cuộc liên hoan sân khấu ca kịch Bài chòi toàn quốc tại TP Đà Nẵng năm 1985, các đoàn ca kịch Bài chòi Quảng Nam – Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh… đã tạo thành một lực lượng hùng hậu với sắc màu dân tộc đậm đà tính địa phương. Khán giả bây giờ không chỉ được nghe mấy điệu Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản, Hồ quảng, Lý tình tang… mà còn rất nhiều làn điệu mới và hay, có khả năng diễn tả những tâm trạng, những tính cách và những tình huống phức tạp trong cuộc sống xưa cũng như hôm nay.
 
Hô bài chòi đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn mỗi người bình dân nông thôn suốt một thời gian khá dài, trên cùng một vùng văn hóa rộng lớn. Tầm vóc của bài chòi, hô bài chòi đã ảnh hưởng trùm lên cả nước, nhân dân cả nước thích Bài chòi: “Hô bài chòi cũng như lý, là loại dân ca đã được đưa lên sân khấu trong nhiều kịch bản, được nhân dân miền Nam Trung bộ rất ưa thích” (Vũ Ngọc Phan).
 
 Sức sống của ca kịch bài chòi đã được gieo mầm từ xa xưa và trưởng thành từ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đến nay cần phải có những kịch bản mới đáp ứng đúng với yêu cầu của thời đại, đúng với con người của thời đại và tạo cho bài chòi có dáng vẻ riêng, đặc trưng riêng của loại hình nghệ thuật của miền Nam Trung bộ.
 
KẾT LUẬN
 
Nghiên cứu nghệ thuật dân tộc bao giờ cũng khó hơn nghiên cứu nghệ thuật dương đại bởi thiếu tư liệu, thiếu nguồn điểm tựa lịch sử, đặc biệt là Bài chòi, nghệ thuật dân gian thuần túy thời phong kiến chẳng ai quan tâm. Đó là cái khó đối với chúng ta trong việc phụng dựng toàn bộ lịch sử và nghệ thuật Bài chòi từ xưa tới nay.
 
Sau nhiều đợt khảo sát thực địa ở các tỉnh miền Trung, cũng như  qua nhiều cuộc liên hoan, hội thảo Bài chòi, đã cho thấy Bài chòi ra đời ở Bình Định, rồi lan tỏa  khắp các tỉnh Nam Trung bộ, ngay cả  ở vùng Bình Trị Thiên cũng xuất hiện Bài chòi, thậm chí ở Ninh thuận cũng có nhiều nơi hát Bài chòi, có lẽ do người ở Bình Định di dân vào và mang theo môn nghệ thuật này vào đất mới. Tuy vậy, Bài chòi ở vùng Bình Trị Thiên không phát triển được, có lẽ do nền dân ca Bình Trị Thiên quá mạnh làm cho Bài chòi bị lép vế, cũng như ở Ninh Thuận, nghệ thuật Chăm gần như phủ sóng, còn ở Bình Thuận thì nằm sát Nam bộ nên chịu ảnh hưởng Cải lương nhiều hơn Bài chòi. Đó là lý do năm 1985 Bình Thuận giả thể Đoàn ca kịch Bài chòi LK5 của Bộ văn hóa đặt trên đất Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận-Ninh Thuận cũ) và từ đó đến nay ở Nam Trung bộ chỉ còn có 3 tỉnh Quảng Nam – Bình Định và Khánh Hòa có Đoàn Bài chòi chuyên nghiệp, các tỉnh khác chỉ có hoạt động Bài chòi quần chúng.
 
Có ý kiến hỏi Bài chòi sinh ra trên đất Hát bội (tuồng), vậy nó khác tuồng về điểm gì và chịu ảnh hưởng tuồng như thế nào? Xin thưa rằng Tuồng là nghệ thuật cổ điển, bác học, nghệ thuật cung đình. Còn Bài chòi là nghệ thuật dân gian, là trò chơi đánh bài trên chòi rồi phát triển thành nghệ thuật biểu diễn mang tính chất dân gian, nghệ nhân biểu diễn trên sân khấu đất, sân khấu chiếu, trải qua hàng trăm năm mới thành sân khấu chuyên nghiệp, nhưng đại bộ phận vẫn là nghệ thuật dân gian, tức là vẫn tồn tại hình thức Hội đánh Bài chòi ở làng quê, ở sân đình, sân bãi và vẫn là nghệ thuật hô hát bài lẽ ca ngợi đất nước.
 
Con người từ trong quá khứ, đến đương đại nhờ cách biểu diễn mang tính dân gian linh hoạt mà Bài chòi rất dễ thâm nhập vào cuộc sống con người gần giống như Hát xẩm ở miền Bắc, dĩ nhiên Hát xẩm không thể sân khấu hóa như Bài chòi. Với âm nhạc đặc thù và điệu hát khác biệt theo chất giọng của người Nam Trung bộ, Bài chòi tạo nên  một lối hát riêng mà chỉ có giọng  Nam Trung bộ mới thể hiện rõ chất Bài chòi nếu người Nam bộ hát Bài chòi thì chắc chắn mang hơi hướng cải lương, vì vậy mà hầu hết diễn viên gốc miền Bắc khi tham gia học và diễn Bài chòi thì phải tập nói giọng Nam Trung bộ.
 
Tuy là nghệ thuật dân gian đặc sắc nhưng Bài chòi chịu ảnh hưởng khá sâu nghệ thuật hát bội (tuồng), bởi hai loại hình này đều sinh ra trên một mảnh đất Nam Trung bộ, mà Hát bội (tuồng) thì đã tích lũy trong mình một kho tàng đồ sộ, từ văn học đến âm nhạc, từ động tác đến vũ đạo, võ thuật Bài chòi như một đứa trẻ sinh sau đẻ muộn cùng cái nôi với tuồng thì làm sao không chịu ảnh hưởng tuồng ở nhiều mặt, từ văn học kịch (kịch bản) đến nghệ thuật biểu diễn và âm nhạc. Hầu hết các nghệ nhân Bài chòi nổi tiếng đều xuất than từ sân khấu Hát bội. Khi họ hát câu chuyện Bài chòi có  nhân vật đi ngựa thì phải vận dụng động tác đi ngựa. Khi nhân  vật sử dụng đạo cụ: đáo, thương, kiếm, cung… thì cũng phải vận dụng động tác tuồng.
 
Thời kỳ Bài chòi chiếu (diễn trên chiếu trải trên mặt đất), các nghệ nhân thường lấy những đoạn tuồng hay trong các vở của Đào Tấn hoặc của cụ Nguyễn Diêu… thì diễn viên Bài chòi với làn điệu tuồng, nhưng người nghe không thấy chối! bởi tài nghệ vận dụng rất khéo của nghệ nhân. Bài còi chịu ảnh hưởng Hát bội (tuồng) không chỉ có nghệ thuật biểu diễn mà cả âm nhạc. Dàn nhạc cổ của Bài chòi gần giống dàn nhạc cổ của tuồng về thành phần nhạc cụ: Trống chầu, Trống chiến, đàn nhị, đàn kìm… nhưng có một khác biệt giữa Hát bội và Bài chòi, kể cả cải lương và Bài chòi gõ nhịp tư (gõ 3 lặn 1) và gõ liên tục trong một đoạn hát ngắn, dài hoặc cả một vở diễn dài mấy tiếng đồng hồ. Những làn điệu rất riêng: Xuân nữ, xàng xê, cổ bản, Hò Quảng cùng với tiếng gõ nhịp (gõ 3 lặn 1) tạo nên một nét riêng độc đáo cho nghệ thuật bài chòi. Cái nét riêng ấy đã thâm nhập sâu vào tâm hồn con người miền Trung hàng thế kỷ qua bắt đầu bằng trò chơi đánh bài chòi. Chính  cái hình thức văn nghệ dân gian độc đáo này đã trở thành nét sinh hoạt riêng của nhân dân miền Trung mà Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch đã quyết định lập hồ sơ trình UNESCO đề nghị công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
 
KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI
Bài Chòi là nghệ thuật dân gian độc đáo và đặc sắc ở miền Nam Trung Bộ, như đàn ca tài tử ở Nam bộ, nghệ thuật do nhân dân lao động sáng tạo ra và đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân miền duyên hải Nam Trung Bộ.
 
Hàng trăm năm qua, trò chơi đánh Bài chòi và hô hát Bài chòi vẫn được lưu giữ dù có phát triển thành nghệ thuật sân khấu chuyên nghiệp, nhưng trò đánh Bài chòi (người ngồi trên chòi) và Bài chòi chiếu (diễn trên chiếu), Bài chòi ghế (người chơi ngồi trên ghế) vẫn là nếp sinh hoạt văn hóa, là món ăn tinh thần không thể thiếu được của nhiều tầng lớp nhân dân, thu hút cả người già và lớp trẻ ở mọi vùng miền, không những trong dịp tết mà còn ở các lễ hội của địa phương.
 
Chính vì tính dân dã, mộc mạc và vui nhộn nên trò chơi dân gian này thu hút rất nhiều người tham gia và cổ vũ. Ý nghĩa của nó còn vượt ra khỏi một hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian: là nơi người nghệ nhân trổ tài ứng tác và biểu diễn, vừa hát vừa hô, đối đáp; và đặc biệt Hội đánh Bài chòi, diễn Bài chòi còn là nơi nam thanh, nữ tú đến, gặp gỡ, giao lưu.
 
Hội Bài chòi thường được tổ chức ở những nơi công cộng rộng rãi, thoáng mát như ở ngã ba đầu làng, sân chợ, sân đình… Tuy nhiên, trong những năm gần đây, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian này cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu đội ngũ trẻ kế cận và do các hình thức giải trí ngoại lai chi phối. Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi là hết sức cấp bách.
 
          Cụ thể là Nhà nước cần có chính sách đối với những nghệ nhân Bài chòi, như có kinh phí hỗ trợ trong việc truyền nghệ cho lớp trẻ đồng thời cũng cần có hình thức khuyến khích cho lớp trẻ học hô, hát Bài chòi. Dự án sân khấu học đường do chính phủ giao cho Bộ Văn hóa, Bộ Giáo dục và Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam thực hiện hơn 10 năm qua, cần được tiếp tục để đào tạo học sinh phổ thông trung học, phổ thông cơ sở học Bài chòi. Đồng thời chính phủ cần có chính sách khen thưởng, phong tặng danh hiệu cho nghệ nhân bài chì có tài năng và có công lao việc đào tạo người chuyên sáng tác bài chòi và chuyên đạo diễn bài chòi là vô cùng cấp thiết, bởi thực tế hiện nay không có, hoặc rất ít người có nghề sáng tác kịch bản bài chòi mà phần nhiều là chuyển thể kịch bản kịch nói sang bài chòi nên chất kịch nhiều hơn chất bài chòi, mà trong nghề gọi là “kịch nói đâm bài ca”.
 
Để giữ cho được Bài chòi dân gian truyền thống, nhà nước cần tổ chức những cuộc liên hoan Bài chòi để các địa phương, các đoàn có cơ hội thi thố tài năng, trao đổi kinh nghiệm, đồng thời cũng qua các cuộc liên hoan nghệ thuật ấy các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu có cơ hội thấy rõ hơn thực trạng của Bài chòi mà tìm giải pháp điều chỉnh cho hướng đi của Bài chòi không bị lai căng, mất gốc, bởi thực tế một số địa phương phát triển Bài chòi chuyên nghiệp còn tùy tiện, trong cải tiến, cách tân, kịch hóa nghệ thuật Bài chòi, mặt khác, phong trào Bài chòi dân gian – Hội đánh Bài chòi cũng có nơi có tổ chức một cách tùy tiện, hô hát bài chòi cũng không được bài nảm mấy. Vì vậy, có nên chọn một địa phương đang bảo tồn và phát huy bài chòi tốt nhất làm điểm tựa, làm hình mẫu cho toàn vùng, Nam Trung Bộ về bảo tồn và phát triển Bài chòi. Ví dụ Bài chòi dân gian ở Bình Định đang phát triển tốt và Bài chòi chuyên nghiệp Bình Định bao giờ cũng dành được giải cao, chứng tỏ ở địa phương này vẫn giữ được vị trí cái nôi của Bài chòi. Qua cuộc thi Tuồng và Dân ca chuyên nghiệp toàn quốc tháng 8/2013, có 3 đơn vị Dân ca kịch Bài chòi chuyên nghiệp trong toàn quốc là Đoàn Ca kịch Quảng Nam, Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định và Nhà hát nghệ thuật truyền thống Khánh Hòa. Tiết mục của đoàn Bài chòi Bình Định cũng được đánh giá là xuất sắc không chỉ kịch bản hay mà diễn xuất của diễn viên cũng giữ được chất Bài chòi dân gian truyền thống. Tuy diễn viên các đoàn khác đều biểu diễn và ca hát rất hay, nhưng có điều đáng băn khoăn là sân khấu Bài chòi bị hiện đại hóa hơi quá liều làm cho chất dân gian mộc mạc của Bài chòi bị mờ nhạt, đặc biệt là nói nhiều hơn hát và hát dân ca hơi nhiều, xu hướng cách tân này đã xuất hiện từ những kỳ liên hoan trước, khiến cho những nhà nghiên cứu đã có phần băn khoăn cho việc bảo tồn Bài chòi dân gian truyền thống. Có lẽ vì thế mà Nhà xuất bản Âm nhạc thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng cơ quan chúng tôi chọn Bình Định nơi còn lưu giữ khá tốt vốn Bài chòi cổ để nghiên cứu và thực hiện bộ đĩa nghệ thuật Bài chòi truyền thống rất có giá trị trong năm 2012 và Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam đã tổ chức thành công hội thảo khoa học bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi tại Bình Định trong năm 2013 là cơ sở cho Bộ văn hóa thể thao du lịch lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và hàng năm nhà quản lý, nhà nghiên cứu và nghệ sĩ tại hội thảo Bài chòi đã đồng thuận.
 
Kiến nghị cuối cùng là đề nghị Bộ văn hóa thể thao du lịch cấp kinh phí cho Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc VN (qua Cục nghệ thuật biểu diễn) để tiếp tục phục hồi nghệ thuật Bài chòi trên miền Bắc, trên cơ sở những nghệ sĩ đã tập họp trong năm 2010 và đã phục hồi được tiết mục Bài chòi truyền thống là vở Thoại Khanh – Châu Tuấn. Chương trình này đã biểu diễn nhiều buổi ở Hà Nội, được người xem nhiệt liệt hoan nghênh, báo chí nhiệt liệt cổ vũ.
 
Hiện nay các nghệ sĩ Bài chòi ở Hà Nội đang chờ đợi Bộ Văn hóa cấp kinh phí để tiếp tục phục hồi một số vở Bài chòi cổ rất hay và đào tạo thêm diễn viên trẻ để Bài chòi trên miền Bắc vẫn sống và nhân dân miền Bắc được xem nghệ thuật đặc sắc của miền Trung, môn nghệ thuật đã trở thành chuyên nghiệp trên đất Thủ đô Hà Nội, từ năm 1955 và sống trong lòng nhân dân miền Bắc suốt 20 năm (1955-1975)./. 

Tác giả bài viết: Chúc Sơn

http://vanhien.vn/vi/news/nghien-cuu/Bao-ton-va-phat-huy-cac-gia-tri-cua-nghe-thuat-bai-choi-trong-doi-song-hom-nay-10540/