MỐT VÀ CUỘC SỐNG : Trịnh Công Sơn từng muốn đốt xe hơi người yêu Hồng Hạnh



14/05/2014 08:34 GMT+7
Trịnh Công Sơn từng muốn đốt xe hơi người yêu Hồng Hạnh

Cuộc đời của Hồng Hạnh có một bước ngoặt lớn khi chạm mặt với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đến nỗi khi nàng thơ của mình đi lấy chồng, Trịnh đã rơi vào buồn bã, thất vọng.

hong hanh 1

ca sĩ Hồng Hạnh

Rất nhiều ca sĩ ôm đàn hát trên sân khấu, thế nhưng để gọi tên “người đàn bà ôm đàn hát tình ca” ở Việt Nam thì chắc chỉ nữ ca sĩ Hồng Hạnh mới xứng đáng với danh hiệu ấy.

Hơn 30 năm sống với nghề, mỗi khi Hồng Hạnh xuất hiện, khán giả vẫn luôn thấy nữ ca sĩ trung thành với một phong cách “ôm đàn hát” không thay đổi. Chỉ có điều, thời gian sau này, chị xuất hiện trên sân khấu không còn nhiều như trước vì bận rộn công việc gia đình, kinh doanh nhà hàng phụ ông xã. Thế nhưng, mỗi lần chị xuất hiện luôn khiến khán giả trầm trồ ngưỡng mộ, bởi độ chín muồi trong giọng ca, phong thái biểu diễn.

Khi liên lạc phỏng vấn, Hồng Hạnh hẹn tôi tại một quán cà phê nằm sát cạnh nhà chị trên đường Tú Xương, Q.3, TP.HCM. Trong không khí dịu dàng của một buổi chiều mát mẻ, trước mặt tôi, nữ ca sĩ Hồng Hạnh vang danh một thời, vẫn mái tóc xõa ngang vai, bộ đầm đen nhã nhặn khéo khoe dáng chuẩn, gương mặt xinh đẹp trẻ hơn rất nhiều so với tuổi khiến người đối diện phải khen thầm. Như một người bạn lâu năm gặp lại, nữ ca sĩ vui vẻ bắt đầu câu chuyện về chuyến lưu diễn tại Hà Nội vừa qua, đó là những đêm nhạc Trịnh đầy cảm xúc, gợi lại nhiều kỷ niệm khó quên.

Một bóng hồng trong cuộc đời của Trịnh Công Sơn

hong hanh 2

Ca sĩ Hồng Hạnh

Có lẽ khán giả trong thế kỷ 20 đã quá quen thuộc với hình ảnh nữ ca sĩ Hồng Hạnh ôm đàn hát những bản tình ca lãng mạn, vì thế hình ảnh một cô ca sĩ bốc lửa những năm 1989 – 1990 chuyên trị những bài hát hip-hop, dance, nhạc Mỹ… tại các phòng trà, vũ trường là một điều ít ai nghĩ đến. Vào thời điểm vàng son đó, Hồng Hạnh là một tên tuổi “hot” đảm bảo việc giữ chân khách nghe nhạc nên chị luôn được xếp hát vào cuối chương trình. Cũng chính vì sức hút mãnh liệt ấy đã giúp chị có cơ duyên gặp gỡ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và có một bước ngoặt thay đổi vô cùng lớn trong sự nghiệp âm nhạc của mình.

Hồng Hạnh tâm sự rằng, Trịnh Vĩnh Trinh trong một lần về nước thăm gia đình, nghe kể về Hồng Hạnh nên đã mời Trịnh Công Sơn đến một câu lạc bộ xem chị biểu diễn. “Hôm khác, anh Sơn đi cùng một người bạn đến xem tôi biểu diễn. Trong lúc tôi đang say sưa hát, một khán giả đã chạy lên sân khấu thì thầm vào tai tôi bằng một giọng Huế: “Anh Trịnh Công Sơn khen cô hát hay quá”, rồi chạy xuống kiểu như đang rất phấn khích”.

Sau đêm ấy, hầu như lịch diễn của Hồng Hạnh, Trịnh Công Sơn đều nắm rõ và thường xuyên đến xem chị biểu diễn ở nhiều nơi khác nhau. Có một lần, vị nhạc sĩ này đến xem chị diễn và đợi đến cuối giờ đưa cho chị một bài hát, Hồng Hạnh vội vàng vì người yêu (ông xã hiện tại) đang đợi nên nhét vào giỏ xách và không nhớ đến. Cho đến một lần khác, Trịnh Công Sơn nhờ người chuyển cho chị một mảnh giấy, mời chị đến nhà để tập hát và thu âm. “Sau lần này tôi biết anh Sơn nghiêm túc để ý đến giọng hát của mình và tôi đã tìm đến nhà anh”.

Nhắc đến chuyến đầu tiên ghé thăm nhà Trịnh Công Sơn, ca sĩ Hồng Hạnh kể lại một kỷ niệm vui diễn ra ngay khi vừa chạm mặt nhau: “Anh Sơn thấy người yêu chở đến bằng xe hơi, anh đùa với tôi là anh muốn tưới xăng đốt chiếc xe hơi quá! Khiến tôi bỗng dưng thẹn thùng”.

Cũng chính lần gặp gỡ này đã thay đổi định hướng âm nhạc của nữ ca sĩ. Trong lúc trò chuyện, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cầm lấy cây guitar vừa đánh vừa bảo với chị: “Anh thấy em hát nhạc Mỹ nhiều quá, em chuyển sang hát nhạc Việt đi!”. Kèm với lời khuyên ấy, Trịnh Công Sơn tập cho Hồng Hạnh hai ca khúc mới sáng tác của ông là Hoa vàng mấy độ và Mưa mùa hạ. Ca khúc Hoa vàng mấy độ cũng từ đó gắn liền với tên tuổi nữ ca sĩ. Thành công của ca khúc này với giọng ca của Hồng Hạnh đã được minh chứng qua thời gian, dù ca sĩ nào có thể hiện thì dường như vẫn không vượt qua được sự da diết của giọng ca chị, giống như ca khúc chỉ viết riêng cho Hồng Hạnh vậy.

Hai ca khúc đầu tiên của dòng nhạc Trịnh vẫn chưa khiến Hồng Hạnh thay đổi quan điểm âm nhạc: “Tôi thấy lời khuyên này lạ lẫm quá, trong khi nhạc sôi động đang được ưa chuộng, tôi đang trẻ tuổi, thích sự cuồng nhiệt lẫn kiếm tiền. Vì thế, tôi vẫn không nghe theo anh, nhưng tôi thỉnh thoảng có chọn hát một vài bản trữ tình”.

Rồi sau nhiều lần giao lưu âm nhạc, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quyết định biên tập và thu âm riêng cho Hồng Hạnh một album cassette gồm 9 ca khúc của ông do nhạc sĩ Tùng Giang hòa âm. Đó là abum đầu tay, lại là album nhạc trữ tình chứ không phải dòng nhạc thành danh thời bấy giờ của Hồng Hạnh. Mặc dù cuộc sống của album khá ngắn ngủi nhưng là album khởi đầu, đánh dấu với khán giả một Hồng Hạnh hoàn toàn khác…

Từ đó, Hồng Hạnh đến với nhạc trữ tình nhiều hơn, nhưng chỉ một năm sau đó, chị kết hôn với một doanh nhân người Nhật. Chị còn nhớ như in, ngày mang thiệp cưới đến mời người bạn âm nhạc: “Anh Sơn buồn bã, im lặng không nói một lời nào. Tôi không ngờ anh ấy buồn nhiều đến vậy, cảm giác như mất mát một điều gì đó. Thời điểm ấy, tôi còn trẻ nên không lường được tình huống này. Nơi sâu thẳm lòng mình, anh luôn xem tôi là nàng thơ trong âm nhạc của anh nên anh thất vọng”.

Sau khi kết hôn vào năm 1991, sinh con trai đầu lòng năm 1992, nữ ca sĩ vẫn đi hát ở nhiều tụ điểm ca nhạc tại Sài Gòn, vẫn là ca sĩ tên tuổi trong làng nhạc nhẹ với những bản tình ca lãng mạn và hình ảnh người đàn bà ôm đàn hát. Thỉnh thoảng chị vẫn hát nhạc Trịnh nhưng chỉ là góp nhặt. Sau đó lùi dần về phía sau sân khấu, lâu lâu mới tham gia hát và phát hành album nhưng không đáng kể. Hồng Hạnh tập trung vào kinh doanh, vì cảm thấy cuộc đời nghệ sĩ nhiều bấp bênh, không có sự bền vững.

Là một bóng hồng trong cuộc đời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nhưng chị không bao giờ thể hiện điều đó. Nhiều ca sĩ phát hành album nhạc Trịnh nhưng chị vẫn im lặng. Mãi đến năm 2013, Hồng Hạnh mới chính thức kết hợp cùng nam ca sĩ Thái Hòa cho ra mắt album song ngữ Việt – Nhật có tựa Diễm xưa. Đó là một album gồm 10 ca khúc Trịnh được phối lại mới mẻ hoàn toàn, trong đó bao gồm hai ca khúc ngày đầu tiên chị làm quen với nhạc Trịnh. Album được đầu tư kỹ lưỡng đến từng chi tiết, đó là một album gợi nhắc nhiều kỷ niệm, album để tri ân mối duyên âm nhạc và cũng là món quà ý nghĩa dành tặng những ai đã trót yêu nhạc Trịnh, yêu Hồng Hạnh.

Làm dâu trong chính ngôi nhà cha mẹ đẻ của mình

hong hanh 3

Ca sĩ Hồng Hạnh

Hồng Hạnh xuất thân trong một gia đình có nền tảng âm nhạc vững vàng, cha mẹ chị là cặp song ca lừng danh trước 1975 Nguyễn Hữu Thiết – Ngọc Cẩm. Nguyễn Hữu Thiết còn là tác giả của rất nhiều ca khúc nổi tiếng như Ai đi ngoài sương gió, Gửi người tôi yêu, Tìm mãi thương yêu, Mưa chiều nhớ nhau… Ngoài ra, chị gái của Hồng Hạnh là nữ ca sĩ Hồng Danh khá nổi tiếng vào những năm đầu 1980, ca sĩ Hồng Danh sau khi lập gia đình thì chính thức rút khỏi con đường ca hát mà chuyên tâm lo lắng việc gia đình.

Hồng Hạnh chia sẻ rằng, ngoài việc “làm dâu trăm họ” trên sân khấu, chị còn làm dâu trong chính gia đình của mình. Hồng Hạnh không chỉ hát cho khán giả thưởng thức, chị còn chịu sự đánh giá nghiêm khắc của gia đình, là những khán giả khó tính. Đó là lý do vì sao, giọng ca của chị luôn thăng hoa và phát triển: “Mỗi lần tôi chọn ca khúc biểu diễn, hay nghiên cứu một ca khúc nào đó đều được cha hướng dẫn. Hay khi tôi trình bày một ca khúc nào đó, cha luôn là người nhận xét thẳng thắn nhất để tôi có thể rút kinh nghiệm và có thể hát tốt hơn”.

Những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết từng được rất nhiều danh ca thể hiện như Khánh Ly, Lệ Thu… là những bậc tiền bối đi trước nên mỗi giọng ca đều có những nét hay riêng khó trộn lẫn. Thế nhưng, với những sáng tác của cha mình, có lẽ Hồng Hạnh là người hiểu nhất và thể hiện thành công nhất tại thị trường âm nhạc trong nước.

Ngoài những album phát hành dành riêng cho dòng nhạc của cha mình, nữ ca sĩ còn tổ chức những đêm nhạc để có dịp chia sẻ và ôn lại những kỷ niệm, sáng tác của ông. Live show Tìm mãi thương yêu tổ chức năm 2005 thành công rực rỡ là một ví dụ điển hình. Trong đêm nhạc, những người bạn thân thiết một thời của chị đều tham dự như Diễm Hương, Mộng Vân… Chị cũng đồng thời ra mắt album cùng chủ đề liveshow được đông đảo khán giả đón nhận.

Cha mẹ, chị gái là người truyền cảm xúc, lửa đam mê trong chị khi đến với âm nhạc: “Tôi hát nhạc của rất nhiều nhạc sĩ, nhưng có lẽ nhạc của cha mình là tôi gần gũi và hiểu nhất. Tôi không phải hát vì nghĩa vụ, một người ca sĩ khi trình bày một sáng tác nào đó phải có sự yêu thích và cảm xúc. Những cảm xúc phải xuất phát từ con tim chứ không gò ép được”.

Sau khi nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết qua đời, ca sĩ Hồng Hạnh như bị chới với trong âm nhạc, chị thu mình hơn trước ánh đèn sân khấu. Cảm giác thân quen khi luôn có cha bên cạnh nhắc nhở, bảo ban chị mỗi khi về nhà sau giờ biểu diễn khó có thể thay thế được bằng một điều gì khác. Thiếu vắng cha, đó cũng là một trong những lý do chị ít khi nhận lời tham gia biểu diễn ca nhạc tại các tụ điểm sân khấu.

Theo Mốt & Cuộc Sống
http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/175327/trinh-cong-son-tung-muon-dot-xe-hoi-nguoi-yeu-hong-hanh.html

NGÀNH MAI , thông tín viên RFA : Giải cải lương thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa


Giải cải lương thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2014-12-27
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 , thời điểm cô đạt đỉnh cao danh vọng Từ trái qua: Thanh Nga - Ngọc Giàu - Lan Chi - Bích Sơn

Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 , thời điểm cô đạt đỉnh cao danh vọng Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn (ảnh minh họa)

RFA files

Nhân dịp ở miền Nam California Hoa Kỳ, Hội CổNhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại vừa phát giải Phụng Hoàng tổ chức thành công tốt đẹp với 1 tuồng cải lương và 3 bài vọng cổ sáng tác trúng giải, mà báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình tường thuật khá nhiều.

Trước sự việc trên, người ta nhớ lại khi xưa thời kỳ trước 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, trong công cuộc bảo tồn văn hóa, đã ban hành nghị định thiết lập giải thưởng, lấy tên “Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng Thống”, để hàng năm phát cho nhiềubộ môn văn hóa nghệ thuật, mà trong đó có tuồng hát bội và tuồng cải lương.

Người được trúng giải ngoài phần danh dự được lãnh văn bằng, huy chương, và tiền thưởng khá cao, chỉ nội giải khuyến khích cũng được tiền thưởng 100 ngàn đồng (thời điểm này vàng y khoảng 20 ngàn một lượng).

Thế nhưng, rất hiếm tuồng cải lương tham dự giải, bởi năm đó (1971) chỉ duy nhứt có một tuồng “Thân Gái Dặm Trường” của soạn giả Ngọc Điệp tham dự và được lãnh giải khuyến khích.

Hôm lễ phát giải được tổ chức trọng thể tại phòng khánh tiết Dinh Độc Lập, chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đích thân trao giải cho từng người.

Nghệ sĩ lão thành Năm Châu với tư cách chánh chủ khảo, trong ban giám khảo chấm giải bộ môn cải lương, ông có mặt trong buổi lễ và được Tổng Thống Thiệu hỏi:

– Tại sao cải lương không có nhiều tuồng tham dự?

Nghệ sĩ Năm Châu đáp bằng một câu thật chí lý:

– Thưa Tổng Thống, đào ở đâu cho ra tuồng cải lương hay mà tham dự giải.

– Không có tuồng thì cải lương lấy cái chi để hát?

– Cải lương có bao nhiêu tuồng hay thì giải Thanh Tâm đã chấm điểm hết rồi.

Năm Châu nói rõ hơn là tuồng cải lương được gọi là hay, xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1968 (Mậu Thân) chỉ có khoảng hơn 20 tuồng được coi như có ý nghĩa, đạt tiêu chuẩn để chấm điểm, còn bao nhiêu tuồng khác gọi là “hương xa” thì không mang ý nghĩa gì hết, cốt truyện từ đâu đâu chẳng biết của quốc gia nào, mà đa số là dựa vào phim Tàu, phim Nhựt ghép lung tung.

Mấy năm nay các gánh chỉ hát đi hát lại tuồng cũ, hoặc ghép tuồng này sang tuồng nọrồi đổi tên tựa, chớ tuồng mới thực sự thì không có. Những tuồng hay, đạt tiêu chuẩn thì một số lớn đã từng tham dự giải Thanh Tâm, và một số tuồng hay khác thì soạn giả đã vào chiến khu, đâu ai dám đem tuồng đi tham dự giải của Tổng Thống.

Kể từ năm Mậu Thân 1968 cải lương xuống dốc trầm trọng, các soạn giả lớn ngưng viết tuồng. Giờ đây cải

lương chỉ có những tuồng chấp vá loạn xị, hoặc sao chép từ phim Tàu thì córa hồn gì đâu mà tham dự giải.

Còn lý do vì sao mà soạn giả lớn ngưng viếttuồng thì rất dễ hiểu, bởi cải lương xuống dốc, nếu bỏ công sức, tim óc để hoàn thành cho ra đời một vở hát mà không tiêu thụ được. Gánh hát ế, một ngày hát 4, 5 ngày nghỉ, lỗ lã là thường thì đâu có tiền dư trả tiền bản quyền cho soạn giả.

Vậy thì soạn giả lấy gì lo cho cuộc sống để mà tiếp tục viết tuồng. Những soạn giả mà nghiệp dĩ còn mang, ngườita thấy có Thu An thì anh này vốn là thầy tuồng, một thời làm mưalàm gió trên sân khấu đoàn Thủ Đô, từng viết tuồng Tiếng Trống Sang Canh, Con Cò Trắng, Gánh Cỏ Sông Hàn… rồi nhảy ra lập gánh Hương Mùa Thu. Vì là gánh hát nhà buộc lòng phải viết lách lai rai cho Ngọc Hương hát cho vui, chớ chẳng phải là muốn tranh tài với ai nữa cả.

Riêng về hai soạn giả Hà Triều và Hoa Phượng vang danh tên tuổi, có thế đứng mạnh nhứt trong số soạn giả lớn danh, thì đã kẻ trước người sau xa lánh Sài Gòn để tạo cho mình một sân khấu nhỏ sống đắp đổi ngoài Trung, và dĩ nhiên nghiệp dĩ bắt buộc các anh phải viết tuồng cho gánh của các anh hát như Thu An vậy. Thời điểm này liên danh Hà Triều – Hoa Phượng chỉ còn lại trong lòng khán giả như chuyện vang bóng một thời vậy thôi.

Những tuồng cải lương đang diễn hiện nay trên các sân khấu, trên truyền hình là của các soạn giả nhỏ trước đây chỉ sống được với các gánh hạng B, hạng C, nay nghiễm nhiên trở thành trụ cột của các gánh lớn, để rồi chỉ cần đi coi phim kiếm hiệp Tàu rồi cóp lại làm tuồng kiếm hiệp, hoặc xào nấu lại những vở tuồng cũ trên chục năm trước đây cho hát kiếm cơm đắp đổi, thì làm sao có tuồng mới để màtham dự giải.

Lời trần tình của nghệ sĩ Năm Châu trước Tổng Thống Thiệu rất đúng với thực tại của cải lương lúc bấy giờ, đó là cải lương thiếu tuồng tích nên ngày một suy yếu, mà càng suy yếu t

hì lại càng không có tuồng hay. Cái vòng lẩn quẩn đó cứ kéo dài hết năm nầy sang năm nọ, thành thử ra nhiều năm qua cải lương chưa có một tuồng hay nào xuất hiện, thì lấy đâu ra tuồng để tham dự giải.

Vấn đề đã cho thấy rằng ngay cả giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống, đầy đủ phương tiện tổ chức, giải thưởng lớn lao cả về tinh thần lẫn vất chất, vậy mà cũng thiếu tuồng cải lươngtham dự, thì các tổ chức sau này đứng ra làm cái công việc trên thì không thể nào mà không gặp khó khăn.

Không phải chỉ thời Tổng Thống Nguyến Văn Thiệu mới có giải văn học nghệ thuật phát cho cải lương, mà trước kia chính phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng có phát giải cho cải lương, và cũng rất ít tuồng tham dự giải. Trước khi nói về giải thưởng cải lương thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, thì phải nói đến các gánh hát trong khu kháng chiến của những năm 1946 – 1947 để rồi dẫn đến câu chuyện này.

Số là thời ấy trong vùng kháng chiến, gánhhát Lam Sơn của nhạc sĩ Chín Điều có vở hát “Chén Cháo Chí Linh” tức

Lam Sơn khởi nghĩa được coi như là tuồng chủ lực. Sau 1954 Chín Điều về thành làm soạn giả lấy bút hiệu là Điêu Huyền, và lúc xảy ra câu chuyện thì ông đang cộng tác với đoàn Hoài Dung – Hoài Mỹ của vợ chồng đào Hoài Dung và soạn giả Nguyễn Huỳnh. Gánh hát do đào Hoài Dung đứngtên làm giám đốc, bởi soạn giả Nguyễn Huỳnh đang là viên chức cảnh sát cấp lớn ở Đô Thành (ông Cò Huỳnh).

Năm 1957, Phủ Tổng Thống có mở ra cuộc thi văn nghệ trình diễn toàn quốc, chú trọng vào hai bộ môn kịch nói và ca kịch. Thông cáo về cuộc thi đó được đưa tới Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu để nhờ hội này phổ biến và khích lệ giới sáng tác ca kịch tham gia. Hội Nghệ Sĩ thấy mình phải làm gương trước hơn ai hết, nên tổng thơ ký của hội lúc đó là soạn giả Duy Lân mới hỏi số anh em soạn giả hiện diện rằng ai có tuồng hát lành mạnh thì nên gởi dự thí.

Lúc bấy giờ soạn giả Điêu Huyền liền thưa thiệt rằng anh có sẵn vở hát “Chén Cháo Chí Linh” mà anh coi ra như có đủ yếu tố dự thi, nhưng ngặt cái là nó được sáng tác hồi còn trongkhu kháng chiến, chẳng biết là có nên gởi dự thi hay không? Tổng thơ ký DuyLân cho rằng chẳng làm sao hết, xin miễn rằng nó chỉ đề cao tinh thần dân tộc chiến đấu mà chẳng có điểm nào tuyên truyền cho cộng sản thì thôi.

Cũng cần nói thêm dù rằng tuồng được hát từ lâu trong khu kháng chiến, nhưng chỉ viết tay trong cuốn tập học trò giống như bản thảo. Nghe vậy soạn giả Điêu Huyền đánh máy vở hát trên giao qua cho Hội Nghệ Sĩ gởi đi dự thi, và sau đó thì vở hát này được trúng giải của Quốc Hội ban phát.

Khi kết quả được công bố và soạn giả nhà ta vừa lãnh giải xong thì oái oăm thay, đài Hà Nội lại cho truyền thanh liền vở hát đó, mà soạn giả Điêu Huyền nào có hay. Cho tới phiên các ông mật vụ ở Phủ Tổng Thống tìm hiểu tại sao có chuyện kỳ cục như vậy thì soạn giả Điêu Huyền mới… phát rét. Tuy nhiên cũng may nhờ bầu gánh Hoài Dung – Hoài Mỹ là soạn giả Nguyễn Huỳnh trần tình giùm cho Điêu Huyền hết mực cho nên anh này mới thoát khỏi tai bay vạ gió. Ai nấy đều hú hồn cho Điêu Huyền!

Thời Đệ Nhứt Công Hòa, cuộc thi đó cũng chỉ có 2 tuồng dự thi, nhưng một tuồng bị loại không cho thi, đó là tuồng “Mắng Việt Gian” của nghệ sĩ Bảy Nam (thân mẫu của kỳ nữ Kim Cương). Không biết nội dung tuồng ấy là nhữnggì mà bị loại. Như vậy chỉ có tuồng “Chén Cháo Chí Linh” tham dự và trúng giải.

Tuồng tích cải lương khó khăn như vậy, nên hiện nay tổ chức nào làm được công việc khuyến khích soạn giả viết tuồng mới, là được giới mộ điệu hoan nghinh cũng đúng thôi.

Vậy nếu như muốn thực hiện công cuộc bảo tồn văn hóa, duy trì bộ môn nghệ thuật độc đáo của dân tộc, phải được sự ủng hộ của nhiều phía, cùng góp tay với Hội Cổ Nhạc, thì mới mong làm được việc.

Về phía tổ chức đứng ra làm, phải đồng tâm hiệp lực, tôn trọng lẫn nhau, ý kiến không tương phản thì công việc mới trôi chảy, mới đưa đến thành công.

Một cô trưởng đoàn nghệ thuật từng nói: Một ban tổ chức phải thực sự có uy tín “nói mà người ta nghe” thì mới hy vọng làm được việc. Lễ phát giải Phụng Hoàng kỳ 7 vừa qua cũngnhờ uy tín mà Hội Cổ

Nhạc tổ chức thành công. Chớ nếu chưa đủ uytín “nói mà người ta chẳng nghe”, thì chuyện nhỏ cũng không xong, chớ đừng nói chi đến chuyện tổ chức phát giải văn học nghệ thuật.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/TraditionalMusic/tradi-vietn-12-26-2014-12262014121116.html

Giáo sư Trần Văn Khê


Giáo sư Trần Văn Khê

 
 
 

Trần Văn Khê sinh ngày 24 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”. Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca. Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng. Riêng mẹ ông là Nguyễn Thị Dành (Tám Dành), sớm tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và bị thương rồi mất trong năm đó. Cha ông vì thương nhớ vợ nên qua đời năm 1931. Ông có một người anh họ ngoại (con ông Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn Mỹ Ca.

https://tranquanghai1944.files.wordpress.com/2014/08/fbf52-1.jpg

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Năm 1934, ông vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, được cấp học bổng. Học rất giỏi, năm 1938 ông được phần thưởng là một chuyến du lịch từ Sài Gòn đến Hà Nội, ghé qua Phan Thiết, Đà Nẵng, Nha Trang, Huế. Nhờ đậu tú tài phần nhất năm 1940, thủ khoa phần nhì năm 1941, ông được đô đốc Jean Decoux thưởng cho đi viếng cả nước Campuchia xem Chùa Vàng, Chùa Bạc tại Nam Vang, viếng Đế Thiên Đế Thích. Khi về Việt Nam, nhờ thầy Phạm Thiều giới thiệu, ông được Đông Hồ tiếp đãi, dẫn đi chơi trong một tuần.

Thời gian này, ông cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường, và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh mang tên là Scola Club của hội SAMIPIC. Ông là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1942, Trần Văn Khê ra Hà Nội học y khoa. Tại đây, cùng với Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Phan Huỳnh Tấng (nay đổi thành Phạm Hữu Tùng), Nguyễn Thành Nguyên, hoạt động trong khuôn khổ của Tổng hội Sinh viên. Do thể hiện một trình độ cảm nhạc xuất sắc, ông được cử làm nhạc trưởng của giàn nhạc trường, nhân giới thiệu những bài hát của Lưu Hữu Phước. Ông còn tham gia phong trào “Truyền bá quốc ngữ” trong ban của GS Hoàng Xuân Hãn, “Truyền bá vệ sinh” của các sinh viên trường Thuốc, và cùng các bạn Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng tổ chức những chuyến “đi Hội đền Hùng”, và đi viếng sông Bạch Đằng, Ải Chi Lăng, đền Hai Bà.

Năm 1943, ông cưới bà Nguyễn Thị Sương, và sau đó có nhiều sự kiện làm Trần Văn Khê phải xin thôi học để trở về miền Nam. Con trai ông là Trần Quang Hải, sinh năm 1944, sau này cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam danh tiếng.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chánh trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

https://tranquanghai1944.files.wordpress.com/2014/08/4046a-gs-khe.jpg

Ra nước ngoài sinh sống từ năm 27 tuổi và đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Sau 55 năm sinh sống tại nước ngoài, Giáo sư Trần Văn Khê quyết định về nước, mang theo 450 kiện hàng chất đầy 1 container, gồm: sách báo, tạp chí, băng đĩa, máy móc, nhạc cụ… mà phần nhiều là những tư liệu quý giá về âm nhạc dân tộc Việt Nam và thế giới.

Tình yêu quê hương

Có một tình yêu rất lớn dành cho âm nhạc dân tộc, đã nhiều lần GS Trần Văn Khê mong muốn về định cư hẳn tại Việt Nam, nhưng ông không thực hiện được chỉ vì một nguyên nhân – ông về nước mà không được mang theo kho tư liệu khổng lồ của mình mà ông đã sưu tầm, lưu giữ suốt mấy chục năm qua. Với ông, đó là cả một gia tài lớn mà ông muốn hiến tặng đất nước, cho những người có chung tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc giống như ông. Mãi đến năm 2004, khi được Sở VH-TT-DL TPHCM đồng ý tiếp nhận số tư liệu này, GS Trần Văn Khê mới chính thức về định cư tại quê nhà và mang theo 450 kiện hàng ra khỏi nước Pháp để lên tàu về Việt Nam và ông cũng đã tự bỏ ra 10.000USD lo chi phí vận chuyển số tư liệu này. 450 kiện hàng ấy đã 4 năm nằm im trong một căn phòng tại Bảo tàng TPHCM, trong quá trình thành phố tìm kiếm nhà cho giáo sư có nơi định cư ổn định. Giờ đây, với căn nhà rộng 200m2 nằm trên một con đường yên tĩnh tại quận Bình Thạnh, GS Trần Văn Khê đã có thể yên lòng khi toàn bộ số tài liệu, tư liệu mà ông công phu mang từ nước ngoài về đã có nơi chốn riêng biệt để bảo quản và được nhân viên Thư viện TPHCM hàng ngày đến phân loại, sắp xếp theo đúng quy chuẩn của một thư viện về sách, báo, tạp chí, tài liệu dành cho việc nghiên cứu, tham khảo.

Đến thăm kho tư liệu, cảm giác thật ngỡ ngàng, xúc động khi được nhìn thấy quá nhiều tài liệu có giá trị và mang đậm tính thời gian. Những cuốn sách về âm nhạc, nhạc cụ dân tộc Việt Nam; những đĩa hát gốc từ những thập kỷ và thế kỷ trước; những băng nhạc cùng vô số máy chụp hình, máy ghi âm và máy nghe nhạc… mà ông đã từng sử dụng trong thời gian 2 năm ông làm báo và thật cảm động khi nhìn thấy gần 100 cuốn sổ tay lớn nhỏ được ông ghi chép trong những lần đi công tác, giảng dạy hoặc được mời tham gia những buổi hòa nhạc, xem phim, thậm chí là những buổi gặp gỡ bạn bè thân tình, những chuyện trao đổi thật riêng tư… Ngoài ra còn có những tấm thiệp nhỏ, hộp diêm bé xíu, mảnh giấy có thủ bút của những người nổi tiếng, như: Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy…

100 cuốn du ký

Nói về kho tư liệu này, GS Trần Văn Khê chia sẻ: “Gần 100 cuốn sổ tay tôi gọi là cuốn du ký và tôi quý lắm. Đi đến đâu tôi đều ghi lại đầy đủ và giữ từ tấm thiệp mời, thư từ của bạn bè, trong đó có cả thực đơn khi đi ăn cùng bạn bè, tôi giữ lại và đưa họ ký vào để làm kỷ niệm. Số sách báo có cái sưu tầm phục vụ nghiên cứu, giảng dạy; có cái tôi mua để xem chơi, nhưng là tài liệu rất tốt cho những ai muốn tìm hiểu về âm nhạc của thế giới. Mỗi cây đàn ở đây đều có “lịch sử” riêng…”. Kho tài liệu của GS Trần Văn Khê được sắp xếp theo ngôn ngữ, bộ môn… và gắn mã số để tiện việc tra cứu, tìm kiếm. Tuy nhiên, vì còn rất nhiều băng từ trong giai đoạn phân định, sang chép sang dạng DVD, CD, nên kho tư liệu này vẫn chưa thể mở rộng cho nhiều đối tượng tham khảo, tiếp cận.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (chi nhánh phía Nam) cũng đã tìm đến GS Trần Văn Khê để thực hiện việc xây dựng phông lưu trữ cá nhân cho ông. Có thời gian theo sát quá trình sắp xếp, phân loại kho tư liệu của GS Trần Văn Khê, bà Võ Thị Xuân Mai, Phó Trưởng phòng Thu thập Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cho biết: “Kho tư liệu của thầy quá phong phú và giá trị, chúng tôi không dám “đụng” tới. Trung tâm chỉ tập trung vào những khen thưởng quốc tế của thầy, quá trình cống hiến, giảng dạy và những kiến thức về âm nhạc dân tộc của thầy đã là một “kho” tư liệu đầy đặn lắm”.

55 năm sống ở nước ngoài nhưng vẫn mang quốc tịch Việt Nam, một đời GS Trần Văn Khê chỉ đau đáu nỗi niềm và tình yêu dành cho âm nhạc dân tộc. Ở tuổi 93, trải qua nhiều thăng trầm; giáo sư vẫn minh mẫn, lạc quan và cho rằng đời sống của mình thế cũng là viên mãn lắm: “Muốn sống, muốn mua cái gì cũng được, cũng có. Thi thoảng, vẫn được nơi này nơi kia mời nói chuyện về âm nhạc và được trả thù lao đàng hoàng. 93 tuổi vẫn được như vậy, còn muốn gì nữa”. Tất cả những việc ông làm, đều chỉ với mong muốn làm sao cho thế giới biết và yêu mến âm nhạc dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Với cảm nhận của cá nhân người viết, tự bản thân ông, đã cho bạn bè thế giới cảm mến về cốt cách, tài năng của một người Việt Nam đích thực.