THẢO VY : VỀ MIỀN VÍ GIẶM , VIETNAM


30/01/2015 17:01 GMT+7

 

Về miền Ví, Giặm

Ngày 27/11/2014, tại Thủ đô Paris (Pháp), dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh đã chính thức được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại, đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được tôn vinh trên trường quốc tế.
«
Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt. Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ được thực hành trong cuộc sống, lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa… Vì vậy, các lối hát thường được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví Phường Vải, Ví Phường Đan, Ví Phường Nón, Ví Phường Củi, Ví Trèo Non, Ví Đò Đưa, Giặm Ru, Giặm Kể, Giặm Khuyên… Hai lối hát dân ca này thường được hát xen kẽ cùng nhau nên có tên ghép là dân ca Ví, Giặm.

»
Dân ca Ví, Giặm có một sức sống cực kì mãnh liệt. Sức sống ấy không phải chỉ có ở quá khứ, mà đến nay nó vẫn đang không ngừng sinh sôi nảy nở trong chính tâm hồn người dân xứ Nghệ hôm nay. Chẳng thế mà người xứ Nghệ có câu nói nổi tiếng rằng: “Bao giờ người xứ Nghệ mất đi giọng nói thì lúc đó mới mất đi tiếng hát dân ca Ví, Giặm”.

Ngay sau khi dân ca Ví, Giặm chính thức được UNESCO vinh danh, chúng tôi đã về Nghệ An, về với “miền Ví, Giặm” để khám phá tính đặc biệt của loại hình dân ca này.

1. 6h sáng, chúng tôi rời Hà Nội đúng vào ngày tiết trời lạnh giá nhất của mùa đông để bắt đầu chuyến hành trình tìm về “miền Ví, Giặm”. Địa danh đầu tiên chúng tôi đến là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây được coi là một trong những nơi có phong trào hát dân ca Ví, Giặm phát triển mạnh mẽ nhất và cũng là cái nôi của điệu Ví Phường Vải, một trong những điệu Ví nổi tiếng của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.

Đón đoàn chúng tôi là anh Trịnh Hưng Minh, cán bộ văn hoá huyện Nam Đàn. Là cán bộ văn hóa, anh Minh cũng là người soạn lời phần lớn các bài hát Ví, Giặm cho các Câu lạc bộ (CLB) ở trong vùng. Anh Minh đưa chúng tôi đến một ngôi nhà cổ có niên đại cả trăm năm ở xã Kim Liên, nơi sinh hoạt thường xuyên của gần 30 thành viên trong CLB Ví Phường Vải Kim Liên.


Hai thành viên Trần Công Sơn và Phạm Thị Nhàn của CLB Dân ca Ví, Giặm xã Nam Thanh (Nam Đàn, Nghệ An)
hát đối đáp giao duyên ngay tại ngôi nhà cổ nhất trong xã, địa điểm sinh hoạt thuờng xuyên của CLB. Ảnh: Trọng Chính


Nét đặc sắc của dân ca Ví, Giặm chính là sự gắn bó chặt chẽ với không gian diễn xướng, vậy nên khi trải nghiệm
loại hình nghệ thuật này người nghe không chỉ cảm nhận cái hay của câu hát, giọng hát,
mà còn thấy được trong đó cả một không gian lao động thường ngày của người biểu diễn. Ảnh: Việt Cường


Các thành viên của CLB Dân ca Ví, Giặm Nam Thanh đang luyện tập một tiết mục mới. Ảnh: Trọng Chính


Lối hát dân ca Ví, Giặm thường được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt đời thường như:
ru con, dệt vải, trồng lúa, hò hẹn giao duyên, hội hè đình đám,… Ảnh: Trọng Chính


Các nghệ nhân của CLB Ví Phường Vải Kim Liên cùng các em học sinh trường Tiểu học Làng Sen hát bài “Hò bơi thuyền”.
Ảnh: Việt Cường


Cô giáo Lê Thị Bích Thuỷ hướng dẫn các em học sinh trường Tiểu học Làng Sen
thực hành hát Ví, Giặm trong một tiết học ngoại khoá của trường. Ảnh: Trọng Chính


Cô giáo Nguyễn Thị Mai Lan dạy các em học sinh lớp 9C, trường THCS Kim Liên hát dân ca Ví, Giặm trong một tiết học âm nhạc.
Ảnh: Việt Cường

Ở đây, chúng tôi gặp lão nghệ nhân Trần Văn Tư, dù tuổi đã ngoài bát tuần nhưng ông vẫn nhớ rành mạch và rõ ràng từng câu hát cổ của Ví Phường Vải cũng như lịch sử ra đời của nó. Theo cụ Trần Văn Tư, ngày xưa, nam thanh nữ tú của làng Kim Liên ai cũng biết hát Ví Phường Vải, bởi đây là lối trò chuyện, đối đáp thông minh giữa hai bên nam – nữ trong những làng làm nghề dệt vải. Họ vừa làm, vừa hát để tăng thêm sự lạc quan yêu đời, yêu lao động. Và cũng từ hát Ví Phường Vải mà nhiều đôi nam nữ đã nên duyên vợ chồng.

Điểm nổi bật nhất của Ví Phường Vải là tính trí tuệ sắc sảo và chất trữ tình đằm thắm trong nội dung lời ca và âm điệu. Chẳng vậy mà ông Tư cho biết, khi còn nhỏ, chính Bác Hồ cũng hay theo chân người lớn trong vùng đi nghe hát Ví Phường Vải. Và chính chi tiết này đã tạo cảm hứng để nhạc sĩ An Thuyên viết nên ca khúc nổi tiếng: “Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác”, trong đó có đoạn: “Bác theo phường đi nghe hát, quần xắn gối đứng đầu sân…”.

Ngày nay, tuy Nam Đàn không còn nghề dệt vải thủ công nữa, nhưng không vì thế mà dân ca Ví, Giặm bị mai một đi. Để minh chứng cho điều này, anh Minh đưa chúng tôi đến trường Trung học Cơ sở Kim Liên. Giờ học nhạc của các em học sinh lớp 9C thật đặc biệt, thay vì dạy những bài hát tân thời, cô giáo Nguyễn Thị Mai Lan dạy các em cách hát những bài dân ca Ví, Giặm. Nhờ đó mà những câu hát của quê hương xứ sở cứ thế ngấm dần vào lòng giới trẻ. Được biết, hiện nay hầu hết các trường học ở Nam Đàn đều đã đưa dân ca Ví, Giặm lồng ghép vào các tiết học chính khoá cũng như ngoại khoá.

2. Ngày thứ hai của hành trình về “miền Ví, Giặm”, chúng tôi sang huyện Thanh Chương. nơi nổi tiếng với Ví Phường Nón dân dã, mộc mạc nhưng cũng đầy thi vị.

Ở Thanh Chương có CLB dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn, đơn vị có công rất lớn trong việc phục dựng lại hiện trường các phường hát Ví để làm hồ sơ đệ trình UNESCO.


Hát “Ví mời trầu”, một trong những thể hát rất phổ biến ở các vùng miền của người dân xứ Nghệ. Ảnh: Trọng Chính


CLB dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn luyện tập tiết mục “Ví Phường Nón” để chuẩn bị cho Lễ vinh danh Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
là “Di sản văn hoá phi vật thể” của nhân loại được tổ chức vào ngày 31/1. Ảnh: Việt Cường


Các thành viên Phùng Thị Tình, Võ Thị Mai Anh, Võ Thị Vân của CLB Dân ca Ví, Giặm Ngọc Sơn
(xã Ngọc Sơn, Thanh Chương, Nghệ An) biểu diễn những câu Ví, Giặm ngay trên những thửa ruộng quê mình. Ảnh: Trọng Chính

«
Dân ca Ví, Giặm hiện đang được lưu truyền rộng rãi ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Trên địa bàn hai tỉnh này hiện có hơn 100 CLB dân ca Ví, Giặm cùng với 803 nghệ nhân và hơn 2000 thành viên tham gia sinh hoạt.

»
Lúc chúng tôi đến, CLB Ví, Giặm Ngọc Sơn đang bận rộn tập luyện để chuẩn bị cho lễ đón bằng công nhận Di sản Dân ca Ví, Giặm của UNESCO do UBND hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức vào ngày 31/1. Chị Võ Thị Vân, Chủ nhiệm CLB cho biết, tất cả các tiết mục của CLB từ dàn dựng, viết lời mới đều do chị và ông Vũ Trọng Thìn, nhạc sĩ của CLB trực tiếp làm.

Tuy mới thành lập được 5 năm, nhưng CLB Ví, Giặm Ngọc Sơn đã có trên 40 thành viên, sinh hoạt đều đặn 2 lần/tuần. Bản thân chị Võ Thị Vân nhờ có nhiều cống hiến trong việc giữ gìn và phát triển phong trào hát dân ca Ví, Giặm ở địa phương nên năm 2014 chị được công nhận là Nghệ nhân Ưu tú.

Tâm sự với chúng tôi, chị Vân đã không giấu được nỗi niềm xúc động: “Sau nhiều năm chờ đợi, khi nghe thông tin dân ca Ví, Giặm của quê mình được công nhận là di sản của thế giới, tôi đã bật khóc vì quá sung sướng và hạnh phúc!”.

3. Ngày thứ ba. Chúng tôi trở lại thành phố Vinh để tiếp tục chuyến hành trình về “miền Ví, Giặm” của mình.

Ở Vinh chúng tôi gặp NSND Hồng Lựu, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Phát triển dân ca xứ Nghệ. NSND Hồng Lựu là một trong những nghệ sĩ có công rất lớn trong việc bảo tồn và phát triển dân ca Ví, Giặm.

Theo NSND Hồng Lựu, trong công tác bảo tồn và phát triển dân ca Ví, Giặm, việc sân khấu hoá loại hình nghệ thuật dân gian này chính là một hướng đi có ý nghĩa rất quan trọng. Còn nhớ, vào năm 1970, lần đầu tiên ra mắt, vở kịch hát “Không phải tôi” của Đoàn dân ca Nghệ Tĩnh đã nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ đông đảo công chúng, từ đó đánh dấu cho việc ra đời thể loại kịch hát được chuyển thể từ những làn điệu Ví, Giặm. Về sau nhiều vở kịch hát nổi tiếng thuộc thể loại này tiếp tục ra đời và để lại tiếng vang lớn như: Cô gái sông Lam; Lời Người, lời của nước non,… Trong đó, vở diễn “Lời Người, lời của nước non” đạt kỷ lục trên 1.000 đêm công diễn ở nhiều nơi trong và ngoài tỉnh.


Các động tác mô phỏng công việc nhà nông khéo léo như: tát nước, cấy hái… đã giúp tiết mục “Ví Phường Cấy”
của CLB Dân ca Ví, Giặm Vinh Tân (Tp. Vinh, Nghệ An) tạo được ấn tượng mạnh
khi tham gia các Liên hoan văn nghệ quần chúng của tỉnh. Ảnh: Việt Cường


Trong bảo tồn, phát huy di sản Dân ca Ví, Giặm, bên cạnh lời hát thì không gian và môi trường diễn xướng
cũng được xác định là một trong các yếu tố rất quan trọng. Ảnh: Trọng Chính


Các nghệ sỹ của Trung tâm Bảo tồn và Phát triển Dân ca xứ Nghệ biểu diễn những làn điệu của “Ví sông Lam”
ngay trên chính dòng sông này. Ảnh: Sỹ Minh


Liên hoan “Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ” là ngày Hội lớn được hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
tổ chức thường niên từ năm 2012, nhằm trao truyền và tôn vinh những giá trị của Dân ca Ví, Giặm. Ảnh: Sỹ Minh

Cùng với việc sân khấu hóa, chính quyền hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh còn phối kết hợp tổ chức nhiều hình thức bảo tồn và phát triển dân ca Ví, Giặm như: tổ chức các hội thi hát dân ca Ví, Giặm; đưa dân ca vào trường học; xuất bản các loại tài liệu, sách, băng đĩa dân ca để tuyên truyền, quảng bá.

Những tưởng cuộc sống hối hả ở thành thị sẽ khiến cho con người không mấy mặn mà với dân ca, dân vũ. Ấy vậy mà ở thành phố Vinh vẫn có những câu lạc bộ dân ca Ví, Giặm phát triển rất mạnh. Ví dụ như CLB dân ca phường Vinh Tân có gần 40 thành viên và đa phần là công chức, nhưng lại rất khéo léo khi hóa thân trở thành những chàng trai, cô gái thạo việc đồng áng cấy cày.

Nhìn các chàng trai cô gái chân trần trắng muốt lội ruộng thoăn thoắt cấy cày thể hiện điệu Ví Phường Cấy khéo léo chẳng khác gì người nông dân chính hiệu mới thấy được hết tấm lòng yêu dân ca Ví, Giặm của người thành Vinh.

Chị Nguyễn Thanh Vân, Chủ nhiệm CLB Vinh Tân cho biết, dù mới thành lập năm 2011 nhưng CLB đã có tới hơn 40 người, người nhỏ nhất là bé Trà My 7 tuổi, còn lớn nhất là một bác cán bộ hưu trí hơn 70 tuổi.

Chỉ có ba ngày trên quê hương của những làn điệu dân ca Ví, Giặm, nhưng chúng tôi đã tìm thấy ở đó một tình yêu đặc biệt của người dân xứ Nghệ đối với loại hình di sản đặc biệt này. Đây chính là cơ sở để chúng ta tin rằng, cùng với sông Lam, núi Hồng, dân ca Ví, Giặm sẽ mãi trường tồn cùng người xứ Nghệ./.

9 Di sản Văn hóa Phi vật thể Thế giới của Việt Nam:

1/ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (2014).
2/ Đờn ca tài tử Nam Bộ (2013)
3/ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012).
4/ Hát xoan Phú Thọ (2011).
5/ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (2010).
6/ Ca trù (2009).
7/ Dân ca Quan họ (2009).
8/ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2008).
9/ Nhã nhạc cung đình Huế (2008).

http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/116190/phong-su-chuyen-de/ve-mien-vi-giam.html

Bài: Thảo Vy – Ảnh: Trọng Chính, Việt Cường & Sỹ Minh

YÊN HÀ : Nhạc cổ-truyền Việt-Nam (1)


Nhạc cổ-truyền Việt-Nam (1)

Đã trót thì cũng phải trét. Đã bàn về dân-ca Việt-Nam thì chúng ta cũng nên nói nốt
về những thể-loại nhạc đặc-trưng khác của dân-tộc.

Dân-tộc nào cũng có một nền âm-nhạc “truyền-thống” hay “cổ-truyền” (musique traditionnelle / traditional music) phản ảnh lịch-sử, văn hoá mình, so với cái gọi là “tân nhạc” ít nhiều chịu ảnh-hưởng các nền văn hoá khác.
Xưa kia âm nhạc cổ truyền đã từng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của người Việt Nam.
Âm nhạc cổ truyền Việt Nam phong phú bởi sự tích đọng những thể loại thuộc nhiều thời đại khác nhau và bởi cả tính đa sắc tộc.
Nhạc cổ-truyền Việt-Nam chúng ta gồm có:

– Nhạc nghi-lễ,
– Nhạc thính phòng,
– Nhạc sân khấu,
– Nhạc dân ca.

Dưới đây là một bảng tóm-lược những thể loại nhạc cổ-truyền theo 3 miền Bắc, Trung, Nam :

  1. Nhạc nghi lễ
    Nhạc cung đình :

“Âm nhạc cung đình” theo nghĩa thông thường được hiểu là các thể loại ca nhạc, kể cả các thể loại ca nhạc đi kèm với múa và kịch hát, dùng trong các lễ nghi cúng tế và triều chính, các ngày quốc lễ do triều đình tổ chức và sinh hoạt vui chơi giải trí của vua và hoàng tộc.
Nhã nhạc (“nhã” có nghĩa là đẹp, thanh lịch) đã có từ đời Lê, chịu ảnh-hưởng nhạc cung-đình Trung Quốc thời nhà Minh (thế-kỷ 14-17).

Nhã Nhạc Huế đã có giá trị rất cao về phương diện lịch sử lẫn nghệ thuật. Tuy được sử dụng ở chốn cung đình, nhưng việc sáng tạo và biểu diễn hầu hết đều do những nhạc sĩ, nghệ sĩ xuất thân từ trong dân gian, nhờ có tay nghề cao mà được sung vào cung để phục vụ cho triều đình.

Nhã nhạc được dùng với những nội hàm khác nhau: khi để chỉ âm nhạc cung đình nói chung, lễ nhạc cung đình nói riêng, khi để chỉ một tổ chức âm nhạc, thậm chí một dàn nhạc cụ thể.
Xưa kia nhạc cung đình Huế bao gồm nhiều thể loại: Giao nhạc dùng trong lễ Tế Giao, Miếu nhạc dùng trong các lễ tế miếu, Ngũ tự nhạc dùng trong các cuộc tế lễ Thần Nông, Thành Hoàng, Xã Tắc, Đại triều nhạc dùng trong những dịp lễ lớn hoặc đón tiếp sứ thần các nước, Thường triều nhạc dùng trong các lễ thường triều, Yến nhạc dùng trong các cuộc yến tiệc lớn trong cung đình, Cung nhạc (Cung Trung Chi Nhạc) phục vụ trong nội cung.

Nhã nhạc cung đình Huế đưọc tôn vinh là kiệt tác văn hóa phi vật thể của nhân loại do UNESCO phong tặng vào năm 2003.

Xin mời các bạn nghe :
Âm nhạc Cung Đình Huế – Thập thủ liên hoàn  https://www.youtube.com/watch?v=mKG9nM0bO6E

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Lưu thủy Kim tiền Xuân phong Long hổ – Nhạc hòa tấu  https://www.youtube.com/watch?v=-xI0V7QLYbM

Nhạc nghi lễ, tế tự : hát văn thờ, văn hầu, chầu văn hay là hát bóng phục vụ cho việc lên đồng, nhạc đám ma,  …,

Nhạc tôn-giáo :
Nhạc Phật giáo với các phương-thức Đọc, Niệm, Tụng, Tán.
Nhạc Cao-Đài dựa nhiều vào các điệu Nam Xuân, Nam Ai của cổ nhạc miền Nam.
Nhạc Hòa Hảo cũng tương tự như nhạc Cao Đài.

  1. Nhạc thính phòng
    : nhạc chuyên nghiệp dân gian có nhạc cụ phối hợp với giọng hát: Hát Ả Đào, còn gọi là Ca Trù ở miền Bắc, Ca Huế ở miền Trung, và Đàn/Ca Tài Tử ở miền Nam.
    – Ca trù (Bắc bộ)

(Ca trù, Wikipedia,  http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_tr%C3%B9)

Ca trù (lúc trước gọi là Hát Ả Đào hoặc Hát cô Đầu hoặc Hát nhà trò) là một loại nhạc thính phòng, bộ-môn nghệ-thuật truyền-thống miền Bắc, kết hợp hát cùng một số nhạc cụ dân tộc. Thịnh hành từ thế-kỷ 15, từ một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí-thức yêu thích, dần dần thể loại này tách ra để trở thành lối hát thính phòng rất được ưa thích của người Việt ở phía bắc.

Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc. Dạng nghệ thuật âm nhạc thính-phòng dùng nhiều thể văn chương như thể phú, thể truyện, thể ngâm, nhưng thể văn chương phổ biến nhất là hát nói, hát thơ.

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Thành phần trình-diễn gồm có:

Một nữ ca sĩ (gọi là đào hay ca nương) sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,

Một nhạc công nam giới (gọi là kép) chơi đàn đáy (hay Vô đề cầm) phụ họa theo tiếng hát,

Người thưởng ngoạn (gọi là quan viên, thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu (hay trống đế) chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Xin mời các bạn nghe:

– Tỳ Bà Hành   https://www.youtube.com/watch?v=X0bl3RV08Iw

– Tiếng dương tranh
https://www.youtube.com/watch?v=N8rjPKqO8UU

– Hồng hồng tuyết tuyết

https://www.youtube.com/watch?v=GtWs4E0f_qE

– Ca Huế (Trung bộ)

Bên cạnh giòng âm nhạc dân gian, Huế còn một giòng ca nhạc cung đình đầy tính trang trọng như giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, yến nhạc…

Ca Huế nằm giữa hai giòng nhạc đó, có những đặc trưng riêng với chất trữ tình sâu lắng làm xao động lòng người, chất chứa đủ bao niềm cảm xúc người dân Cố đô.

Là nhạc thính phòng, ca Huế, ở nhiều phương diện, khá gần gũi với hát ả đào của miền Bắc.

Ca Huế không phải lối giải trí xô bồ mà nó thường kén người nghe. Một đêm ca Huế có thể được tổ chức trong một thính phòng nho nhỏ nhưng thi vị và hấp dẫn hơn cả là được nghe ca Huế trong một đêm trăng lên trên dòng Hương Giang thơ mộng. Lúc đó tâm hồn của người nghe và cả ca sĩ cùng dàn nhạc dường như được siêu thoát trong một bầu không khí như được thăng hoa cùng trời mây, sông nước.

Hệ thống bài bản phong phú của ca Huế gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống “hơi” diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán.

Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố “chuyên nghiệp” bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt “Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam”, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.

Xin mời các bạn nghe:

Tiếng Hương Bình Tứ Đại cảnh   https://www.youtube.com/watch?v=tfn2bRS1Fhs

Nam xuân https://www.youtube.com/watch?v=z-Af3Tvdsuk

– Đờn ca tài-tử (Nam Bộ)

Đờn ca tài tử Nam bộ là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Việt-Nam, đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013.
Đờn ca tài tử hình thành và phát triển từ cuối thế-kỷ 19, bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Đây là một loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn thường trình diễn trong phạm vi tương đối nhỏ như trong gia đình, tại đám cưới, đám giỗ, sinh nhật, trong các lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ, thường được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau. Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục.

Ca trù hát và người ca (bài hát truyền thống từ miền Bắc và miền Trung) là phụ nữ, trong khi đờn ca tài tử bao gồm các ca sĩ nam nữ và họ có vai trò bình đẳng.

Loại hình diễn tấu này có ban nhạc gồm 4 loại  (gọi là tứ tuyệt) là đàn kìm (2 dây), đàn cò (2 dây), đàn tranh và đàn bầu (1 dây), đôi khi có thêm đàn tam (3 dây), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Phụ họa thêm là tiếng sáo thường là sáo bảy lỗ.

Xin mời các bạn nghe:

Đàn ca tài tử Nam bộ   https://www.youtube.com/watch?v=jAGrxXGcGIk&list=PLkUvvQYAB9x4x3OYJj0sBa5pye8LzIqvV&index=1

Duyên kỳ ngộ

https://www.youtube.com/watch?v=LxDauZvZgPw

Như vậy, so với dân ca, nhạc thính phòng đã bước vào mức chuyên-nghiệp (ít ra là bán chuyên nghiệp) và không còn thuộc văn-học dân-gian nữa.
Yên Hà

Tháng 1, 2015

Xin đón đọc trong số tiếp: Nhạc cổ-truyền (2) / Nhạc sân-khấu


Tài-liệu nguồn
:

Nhạc cung-đình – theo dòng lịch-sử

http://www.dulichvietnam.com.vn/nhac-cung-dinh-theo-dong-lich-su.html

Ca trù, Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_tr%C3%B9

Ca trù
http://www.dulichvietnam.com.vn/ca-tru.html

Ca Huế

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_Hu%E1%BA%BF

Âm sắc Huế

http://www1.thuathienhue.gov.vn/portal_af/Views/ArticleDetail.aspx?CMID=25&TLID=159

Đờn ca tài tử Nam bộ, Wikipedia
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%9Dn_ca_t%C3%A0i_t%E1%BB%AD_Nam_B%E1%BB%99

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 9:20 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Thursday, December 18, 2014

Tiếng nước tôi: Văn học dân-gian (4.4) / Dân ca Việt-Nam

4.1 Dân ca Bắc bộ
4.2 Dân ca Trung bộ
4.3 Dân ca Nam bộ

4.4 Dân ca Việt-Nam

Trong dân ca, tất cả các thể loại -hò, lý, hát hội, …- đều có ở 3 miền, nhưng mỗi vùng có sở-trường riêng của mình nên mới có câu “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Nhưng đứng trên phương-diện dân ca, tôi sẽ nói: “Nam lý, Bắc hát hội (nhất là Quan Họ), Huế hò“.
Dân ca Tây nguyên

Chúng ta đã nói về dân ca của nhóm người Kinh (87% dân số) nhưng nếu bàn về dân ca Việt Nam, chúng ta không thể quên nền dân ca của các sắc tộc khác, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên (trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer).

So với dân ca của người Kinh, có lẽ người Tây nguyên chú trọng nhiều nơi nhạc khí và những điệu múa-dân vũ (?)

Một nhà nghiên cứu âm nhạc Tây Nguyên đã nhận xét rằng: “Dân ca của các dân tộc Tây Nguyên là những điệu hát huyền thoại được kết dệt từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời khác. Nó mô phỏng tiếng vang vọng của núi rừng, tiếng gió lách qua chòm lá, tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng thác đổ ào ào… Vì vậy, âm điệu của những bài ca nghe thì thầm, nhè nhẹ như gió thoảng, lá rơi, như tiếng thì thầm của tâm hồn con người trên miền cao nguyên huyền thoại“.
Dân ca Tây Nguyên cũng có nhiều hình thức như: hát đơn, hát tập thể, hát kể chuyện trường ca (Khan của người Ê-Đê, Hơ-ri Jơrai, Hơ-mon Bahnar ), hát múa, hát đợi chờ, hát giao duyên (đối đáp), hát ru, hát đồng dao (hát trò chơi con trẻ), v.v…

Nội dung dân ca chứa đựng rất nhiều yếu tố của cuộc sống đời thường như tình yêu đôi lứa, ca ngợi buôn làng, ca ngợi những chàng trai anh dũng, có sức khỏe phi thường chiến đấu chống lại cái ác để bảo vệ buôn làng, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp. Có bài còn dùng để khẩn cầu các thần linh làm cho mưa gió thuận hòa, mùa màng bội thu, con người thoát khỏi bệnh dịch… Nội dung nói trên biểu hiện qua nhiều thể loại dân ca lao động, dân ca phong tục tập quán, dân ca nghi lễ tín ngưỡng, …
Nếu xét về thang âm, điệu thức thì dân ca Tây Nguyên có đủ các thể từ thang 3 bậc âm đến 4, 5, 6 và 7 bậc âm. Tuy nhiên dân ca Tây Nguyên chủ yếu dùng điệu thức 5 bậc âm (có hoặc không có bản âm tùy theo từng dân tộc).

Các nhạc cụ dân gian Tây Nguyên có nhiều và rất độc đáo. Nhạc khí Tây Nguyên thuộc nhiều loại, nhiều nhóm và được chế tác bằng nhiều chất liệu khác nhau.
Loại đầu tiên được chế tác hoàn toàn bằng chất liệu thiên nhiên như tre, nứa, gỗ, đá, vỏ bầu, dây rừng, sừng trâu, bò…;
loại thứ hai được chế tác kết hợp giữa chất liệu thiên nhiên với kim loại;
loại thứ ba là hoàn toàn bằng kim loại như: đồng, gang, chì, sắt…

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại  vào ngày 15 tháng 11, 2005. Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt-Nam được nhận danh hiệu này.
Thân mời các bạn nghe

Dân ca Tây Nguyên: Đứa con của rừng  https://www.youtube.com/watch?v=cTo1xhIl9_U

Các sắc tộc Việt Bắc (Dao, H’Mong, Tày, Thái, Nùng, Mường…) cũng có vẻ riêng của mình : người Thái có có hát lượn, người Tày có hát then , cũng là loại hát đối đáp, người H’mong có hát đối đáp với khèn, kèn lá, hay đàn môi, …

Thân mời các bạn nghe Dân Ca H’Mông – Đỉnh Núi Có Hoa Chân Núi Thơm (Bản tiếng Trung)

https://www.youtube.com/watch?v=YKvrV7il5Ik
Hát ru con

Còn một thể loại dân ca đơn giản nhất mà nơi nào cũng có, thời đại nào cũng có, một loại nhạc “thính phòng” mà ca sĩ là người mẹ và thính-giả duy nhất và yêu quí nhất là người con. Đó là Hát ru ru (miền Bắc), còn gọi là hát đưa em (miền Trung) hay hát ầu ơ hay là ầu ơ ví dầu (miền Nam).

Hát ru con là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian, hoặc là lời than vãn của chính mình, được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.
Thang âm của hát ru (do re fa sol la, thuộc loại ngũ cung). Thang âm của hát đưa em miền Trung (do fa sol sib thuộc loặi tứ cung) và thang âm của ầu ơ miền Nam (do mib fa sol la thuộc loại ngũ cung).

Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng trữ tình riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.
Miền Trung

Ạ ơi., chứ mang nặng đẻ dau, cưu mang chín tháng, nghĩa mẹ tay trời trong cạn nuôi con
Ạ ời đói cơm sách áo ruột mẹ héo hon, khi con no ấm lòng mẹ vẫn chưa trọn mà thảnh thơi.
Ạ ơi…

(Hát ru Huế  http://dancavietnam.net/Play/1955/Hat-Ru-Hue.dcv)

Hoặc

Hạ ơ….ai về mà nhắn với bạn nguồn, chứ mít non gởi xuống chứ cá chuồn gởi lên.
Chuột kêu chút chít trong rương, anh đi cho khéo cái đụng giường mẹ la,
chớ khi xa thì chỗ ngõ cũng xa, …
(Hát Quảng Nam http://dancavietnam.net/Play/1953/Hat-Ru-Quang-Nam.dcv)

Miền Nam, có những câu ru như :

Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẩm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.

Hoặc

Ầu ơ… ví dầu
Cầu ván đóng đinh
Cầu treo lắc lẻo
Gập ghềnh khó qua…
Ầu ơ…
Khó qua mẹ dắt con qua…
Con đi trường học
Mẹ đi trường đời…

Nói về miền Bắc thì riêng tôi có được diễm phúc ru con tôi ngủ mỗi tối cho đến khi nó 4 tuổi. Tôi ru lại cho nó những bài tôi nghe được của mẹ tôi lúc trước như:

   À ơi…  Con cò mày đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm Lộn cổ xuống ao  À ơi…
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng  À ơi…
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục  Đau lòng cò con…

Hoặc mấy câu như:

   Ðồng Ðăng có phố Kỳ Lừa 

   Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…

Những bài này, tôi cũng có hát tiếp cho thằng cháu ngoại. Hy vọng con cháu tôi sẽ tiếp tục hát ru tiếp cho cháu chắt tôi…
GS-TS Trần Văn Khê (năm nay đã mừng sinh-nhật thứ 94), một người cống hiến cả đời cho nền âm nhạc dân tộc VN, từng nhắc lại những kỷ niệm của ông về kỹ thuật hát ru mà từ xa xưa ông có dịp nghe tại quê nhà: “Hồi xưa lúc còn nhỏ thì tất cả trong làng tôi đều ru như thế này:
À… ơi…. Mẹ ru cái lẽ ở đời, Sữa nuôi phần xác, Hát nuôi phần hồn,
À… ơi… Bà ru mẹ, mẹ ru con, Liệu mai xa cách con còn nhớ chăng
Ạ ời… Ạ… ơi, Con ơi muốn nên thân người, Lắng tai nghe lấy những lời mẹ ru
”.
Thân mời các bạn nghe:
Hát ru Bắc bộ    https://www.youtube.com/watch?v=D7z8y8i8bmo
Hát ru Trung bộ   https://www.youtube.com/watch?v=E7OUa7O0W6o

Hát ru Nam bộ   https://www.youtube.com/watch?v=jyH2EewEx2A

Trở về với dân ca

Từ ngày đi du học, nhớ nhà nên tôi đã nghe dân ca, tôi đã hát dân ca trong những buổi sinh-hoạt văn-nghệ sinh-viên và tôi đã càng ngày càng yêu dân ca, sản phẩm tinh thần quý giá của cha ông để lại. Bao năm nay, quê-hương càng xa vời, tôi lại càng thiết tha với cội-nguồn, với văn-hoá dân-tộc mình.

Tôi chỉ buồn là giờ đây, muốn đi nghe dân ca cũng chả có ai tổ-chức văn-nghệ mà đi nghe, tôi muốn hát dân ca cũng chả ai muốn nghe.

Còn ai thương dân ca? Tôi hy vọng rằng còn nhiều lắm.

Yên Hà, tháng 12, 2014
Tài-liệu tham khảo
Dạo một vòng trên đôi cánh âm nhac Tây nguyên, Đào Huy Quyền

http://tailieu.vn/doc/dao-mot-vong-tren-doi-canh-am-nhac-tay-nguyen-73680.html
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Wikipedia

http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%B4ng_gian_v%C4%83n_h%C3%B3a_C%E1%BB%93ng_Chi%C3%AAng_T%C3%A2y_Nguy%C3%AAn
Hát ru (Wikipedia)

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A1t_ru

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 9:54 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Monday, November 17, 2014

Tiếng nước tôi : Văn-học dân-gian (4.3) / Dân ca / Nam bộ

  1. Dân ca
    4.1 Dân ca Bắc bộ
    4.2 Dân ca Trung bộ 

4.3 Dân ca Nam bộ

Lùi vào quá khứ, ba trăm năm trước, khoảng cuối thế kỷ 17, khi người Việt đặt chân xuống đồng bằng Cửu Long khai sơn phá thạch để lập nghiệp cũng là lúc họ phát huy bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời. Trước khi gieo hạt giống làm nảy nở mùa màng, họ đã gieo tục ngữ ca dao, tiếng hò, điệu hát.
Trong lịch sử Nam tiến của dân tộc, Nam bộ là một vùng đất mới. Văn hóa nghệ thuật Nam bộ, do đó không hẳn xuất phát trực tiếp từ cội nguồn miền Bắc mà thông qua trạm trung chuyển là Thuận Hóa xưa, là địa danh hành chính cũ của vùng Bình-Trị-Thiên, nguyên là đất các châu của Chiêm Thành xưa.
Cho nên hai thể loại dân ca tiêu biểu của xứ Huế là Lý và Hò đã phát triển rất mạnh mẽ và đa dạng, nổi trội ở dân ca Nam Bộ.

4.3.1 Lý Nam bộ

Nói về những đặc-điểm của dân ca ba miền thì người xưa có câu “Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Ông Trương Vĩnh Ký giải thích trong “Giáo trình Hát, lý, hò An Nam” (1886): “Người trong Nam (từ Đồng Nai ra tới Quảng Nam) thì hát lý hay hơn cả; còn ca, phú, thơ, vịnh thì người miền Bắc; còn về việc hò thì tại nơi kinh kỳ (Huế)”.
Ngoài ra, ở miền Nam xưa, các nghệ sĩ xếp đứng đầu trong các điệu hát: “Nhứt lý, nhị ngâm, tam nam, tứ oán…”.
Cho nên lý có ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, nhưng có lẽ lý phát triển mạnh nhất ở Nam bộ.

4.3.1.1 Đặc tính Lý Nam Bộ

 là những khúc hát ngắn gọn, vui tươi, dí dỏm, mang tính chất lạc quan yêu đời rõ nét với các nhịp điệu phong phú và sinh động.
Lý là quê mùa, là điệu hát mà ca từ chính là những câu phong dao, ca dao được đệm lót thêm một số nhóm từ, cụm từ, tuy là “hư từ”, sáo rỗng và vô nghĩa nhưng lại rất cần để ngâm nga, đẩy đưa, hỗ trợ làn hơi, đồng thời nghệ nhân cũng hát xen những tiếng láy, điệp ngữ – chính là điệp khúc… làm cho tiết điệu thêm mượt mà, khúc chiết, khi thì tình tứ thiết tha, khi thì buồn thảm não nùng, khi thì nhẹ nhàng phấn khởi…

Lý Nam bộ không chỉ phong phú về số lượng mà cả về đề tài, nội dung cũng như đặc tính âm nhạc. Lý Nam bộ đề cập đến các sinh hoạt, các công việc và tâm trạng, tâm hồn của người dân và thực sự là một thể loại phản ảnh cuộc sống, cách suy nghĩ và tính cách của người Việt ở Nam bộ.
Mặc dầu ở Lý Nam bộ có đủ mọi sắc thái, nhưng có lẽ những nét buồn là sâu đậm hơn, đồng thời lại hồn nhiên mộc mạc và hóm hỉnh ngộ nghĩnh.

Mỗi điệu lý có một nội dung rõ rệt, hoặc phổ biến những kinh nghiệm sản xuất (như Lý đất dòng chẳng hạn), hoặc ca ngợi những đức tính tốt trong cuộc sống (như Lý Ba Tri), cái đẹp trong thiên nhiên (Lý cây xanh) hoặc oán trách nhau (như Lý lu là) hoặc mỉa mai, châm biếm bọn lý trưởng, cường hào (như Lý con chuột, Lý bình vôi, Lý con sam). Các chủ đề nhạc trong các điệu lý rất nhiều vẻ, dưới những hình thức rất độc đáo, nhưng lại rất quen thuộc với phong vị cổ truyền của quần chúng từ lâu đời.
Chính nhờ đề tài và nội dung phản ánh mọi hiện tượng xảy ra trong sinh hoạt đời thường của ca dao, nói được những góc cạnh tình cảm trong cuộc sống, và cũng nhờ ca từ giản dị tươi vui, dí dỏm nên lý dễ đi vào lòng người, rất được người bình dân ưa chuộng.

Nói về cách đặt tên cho nhiều điệu lý, theo Lư Nhất Vũ – Lê Giang tác giả “Tìm hiểu dân ca Nam Bộ” thì, cũng như ở Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ, ông bà ta ở Nam Bộ có mấy, đại thể:

  1. a) Lấy nội dung lời hát (ca dao) mà đặt: lý con cúm núm, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý cảnh chùa, lý vọng phu v.v.
  2. b) Lấy mấy chữ đầu câu hát mà đặt: lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, v.v.
  3. c) Lấy tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi mà đặt: lý í a, lý băng rù, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, v.v.

Lý biến thể

Một bài Lý vốn tiền thân cùng là một bài ca dao nhưng khi chuyển thể sang hát Lý đã có tới 6, 7 làn điệu, có khi lên đến hàng chục làn điệu với nhiều sắc thái khác nhau.
Dưới đây là vài làn điệu lý “cùng lời khác nhạc” mà các nghệ nhân dân gian đã khéo xử lý những tiếng đệm lót, đệm phụ nghĩa, tiếng lý, tiếng đưa hơi, điệp ngữ… để nhằm hoàn chỉnh cấu trúc âm nhạc. Chúng ta hãy xem qua một số làn điệu bài Lý con sáo.

– Trước tiên là bài được hát với tốc độ nhanh, nhịp điệu “nhát gừng”, khoẻ khoắn:

Ai đem con sáo (ký) qua sông (ký) qua sông
Cho nên con sáo (ơ sáo) sổ lồng (à xa mà) bay xa
Cho nên con sáo (á sáo) sổ lồng (ờ xa mà) bay xa (Ai… xa).

– Bài khác, hát theo giọng “ợ”, xử lý nhóm tiếng đệm “ừ vậy phải đó thê” với cơ cấu giai điệu cũng như cơ cấu điệu thức rất mượt mà, có duyên (do Huỳnh Ngọc Trảng sưu tầm):

Ai đem con sáo (này ơ ợ là sông cái) qua sông (bớ em ôi! Dạ ừ vậy phải đó thê)
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa (đồn rằng tang tình bớ mà… bay xa).

– Và một bài nữa với giọng “bằng”, sử dụng cụm từ “ưng ứng ưng” (do Hoàng lê và Trần Kiết Tường ghi):

Ai, ai đem, ai đem bằng chim sáo, ưng ưng ứng ưng ưng.
Sang sang sang sang sang sông ai đem chim sáo sang sông.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng sang sông ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng.
Cho, cho nên, cho nên bằng chim sáo, ưng ưng, ứng ưng ưng.
Sổ sổ sổ sổ sổ lồng cho nên chim sáo sổ lồng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng.
Tình bằng bay xa, ưng ứng ưng ưng ưng ưng ưng
.

4.3.1.2 Tiết điệu và âm điệu

Xét về phương diện âm hưởng nói chung toát ra từ các điệu hò và Lý Nam Bộ, chúng ta rút ra được chất tinh khiết, chân thật, tuy mộc mạc, pha lẫn chút ít âm điệu mênh mông của hò, với nhịp điệu sinh động, vui phơi phới đầy tươi mát của các điệu lý.
Đặc biệt về mặt kết cấu, lý cũng có những phân biệt câu cú, khúc, đoạn rõ ràng. Sự trình bày phần âm điệu được mạch lạc, có tính nhất quán toàn bộ, và dễ phát hiện, không cầu kỳ, phức tạp, ngổn ngang.

Cách vận dụng và xử lý các hệ thống điệu thức dân gian 5 cung hoặc 7 cung, hoặc 5 cung có thêm bớt bất thường trong thể loại lý, càng tạo thêm được nhiều sắc thái về giọng điệu, càng làm phong phú thêm, mở rộng ra nhiều khả năng kết hợp chặt chẽ giữa âm điệu và ngôn ngữ.

Hiện nay, các cơ sở nghiên cứu đã sưu tầm và chỉnh lý hơn 40 điệu lý như: Lý con sáo, Lý giao duyên, Lý cây bông, Lý chúc rượu, Lý chia tay, Lý cây gòn, Lý con chuột, Lý bình vôi v.v…

4.3.1.3 Một vài điệu Lý quen thuộc

Lý ngựa ô (Nam Bộ)
https://www.youtube.com/watch?v=V-8EEEgkqSQ
Lý con ngựa… ngựa ô (2 lần)
Anh tra khớp bạc, lục lạc đồng đen
Búp sen lá đậm – Dây cương đầm thấm
Cán roi anh bịt đồng thà…
Lá anh í a đưa nàng… là anh đưa nàng về dinh
Lá anh í a đưa nàng… là anh đưa nàng về dinh…

Lý con sáo (Gò Công)

https://www.youtube.com/watch?v=ud3vdVP0q28

Lý Chiều chiều
https://www.youtube.com/watch?v=H_yE3pmCiGEMột bài Lý giao duyên tâm tình với tiết tấu nhẹ nhàng, với ca từ mộc mạc, với tình cảm nồng nàn, gợi cho người nghe cảm giác buồn man mác:

Chiều chiều ra đứng tây lầu tây
Thấy cô tang tình gánh nước
Tưới cây tưới cây ngô đồng
Xui khiến xui trong lòng, trong lòng tôi thương
Thương cô tưới cây ngô đồng

Lý Quạ kêu https://www.youtube.com/watch?v=ARhWcR0nTms

Khi tiết tấu Lý sôi nổi thì đó cũng là lúc tâm thế con người được thăng hoa nhất:
Kêu cái mà quạ kêu, kêu cái mà quạ kêu.
Quạ kêu nam đáo, lắc đáo nữ phòng, người dưng khác họ, chẳng nọ thời kia.
Nay dìa (về) thời mai ở, ban ngày thời mắc cỡ, tối ở quên dìa.
Rằng a í a ta dìa, lòng thương nhớ thương. 
Rằng a í a ta dìa lòng thương nhớ thương

Lý qua cầu   https://www.youtube.com/watch?v=0kqtxRwruJ8

Lý lu là
https://www.youtube.com/watch?v=h6lY6PAxEiU
Cũng có khi, lý lại được pha lẫn vào chút ít màu sắc trữ tình man mác như bài:

Ai về giòng dứa mà qua truông
Nhắn thăm lu là với bậu ơ bậu ơi!
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho ai?
Bỏ buồn cho nàng ơi! mà cho anh!

Lý con cua quầy
https://www.youtube.com/watch?v=ikpx_P395Jo
Trong Nam Bộ, hát lý có sức cuốn hút rất mãnh liệt, đến mức:

Con cua quậy ở dưới hang,
Nó nghe giọng lý kềnh càng bò lên!

“Nam lý, Bắc thơ, Huế hò”. Người xưa quả là không nói ngoa.


4.3.2 Hò Nam bộ

Nguyễn Văn Hầu trong bài nghiên cứu Hò miền Nam cho là Hò từ miền Trung theo đoàn người của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đi khai phá vùng đất mới. Nhưng “tiếng hò ở đây không còn giống hệt tiếng hò ở chân đèo Hải Vân hay trên dòng sông Hương hôm nào nữa. Nó tha thiết não nùng hơn. Giọng hò miền Trung từ ấy vì biến thái địa lý và hoàn cảnh kinh tế, dần dần chuyển hóa, sai chạy…”

Có thể nói thức ăn tinh thần chính của dân Nam Bộ trong buổi đầu là tiếng hò câu hát. Những điệu hò cấy lúa, hò quốc sự, hò lờ, đã làm thổn thức, xao xuyến lòng người từ xưa đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai. Những cuộc hò làm bớt nặng nhọc trong lúc cày bừa, sạ tỉa giữa nơi nước mặn, đồng chua, làm phấn khởi tinh thần trước cảnh thiên nhiên, đồng thời là đầu mối cho duyên tình trai gái dẫn tới những cuộc vuông tròn vàng đá trăm năm.

4.3.2.1 Xếp loại những câu hò 

Hò miền Nam gồm có:
– Hò ba lý xuất xứ từ bài Bá Lý Hề của cải lương rất được thông dụng giữa các ca sĩ chuyên nghiệp.
– Hò theo điệu ai oán dùng để kể chuyện.

– A li hò lờ xuất hiện khoảng 50 năm nay thôi, dùng thể thơ lục bát. Hò lô tô, hò cấy, vv…

Trên phương-diện cách sử dụng văn chương, các điệu Hò có thể chia thành ba loại chính: hò mép, hò văn, hò truyện.

– Hò mép theo quan niệm chung được coi là xứng đáng tiêu biểu trung thành cho tiếng nói của dân gian trước mọi cảnh. Nôm na, không dùng điển tích và không mang nặng thành ngữ Hán Việt, loại hò mép dễ làm rung cảm người nghe một cách sâu sắc:
   Hò… ơ… ơ… ơ…
Vai mang nóp rách… ơ… ơ… ơ…
Tay xách cổ quai chèo… thương con nhớ vơ…. ơ… ơ… ơ… bởi phận nghèo anh phải đi…       ơ… ơ… ơ… 

– Hò văn là dùng những câu văn trong sách Nho ghép vào câu hò. Hò loại này, các tác giả dân gian dễ phạm vào những sai lầm, những nặng nề của từ ngữ. Tuy vậy, người ta đã hò rất nhiều, và cũng có lắm câu giá trị:
   Hò… ơ… ơ… Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu… ơ… ơ…
Thoại bất đầu cơ bán cú đa…
Miễn cho anh ăn nói thiệt thà… ơ… ơ…
Dẫu cho Hồ Việt một nhà lạ chi… ơ… ơ…?

– Hò truyện, do ảnh hưởng luân lý trong truyện Tàu, truyện Việt gieo rắc vào quần chúng khá lâu, nhất là từ khi có truyện diễn nghĩa bằng quốc văn ra đời, người ta đã dùng điển tích trong truyện xa gần, cao thấp với nhau. Một vài câu hò truyện chứa đựng nhiều việc, nhiều nhân vật trong các truyện xưa nói rõ được tinh thần chuộng lễ nghi, tiết tháo của dân gian:
Hò… ơ… ơ… chẳng thà em chịu đói, chịu rách…
Học theo cách bà Mạnh, bà Khương… ơ… ơ… ơ…
Không thèm như con Võ Hậu đời Đường…
Làm cho bại hoại cang thường hư danh… ơ… ơ… ơ…

… Hò… ơ… ơ… Anh tỷ phận anh… ơ… ơ…
Chẳng thà ở lều tranh như thầy Tăng, thầy Lộ
… Chứ không ham mộ như Vương Khải, Thạch Sùng… ơ… ơ…
Đạo người giữ vẹn cơ cùng sá bao…

Những loại hò kể trên có khi được tổng hợp làm một, có khi lẫn lộn, người giỏi hò tự ý uyển chuyển, xoay sở, miễn làm sao diễn tả được tình cảm chân thật của mình.

4.3.2.2 Hò Đối Đáp Nam Bộ
Hò được gắn liền với sông nước, với khung cảnh êm ả, phẳng lặng. Đặc biệt trong văn hóa dân gian Nam Bộ, sông rạch được xem như một yếu tố đặc trưng của văn hóa dân gian. Có thể nói, chính môi trường sông nước ở đây đã làm nảy sinh những câu hò, điệu hát trên sông.

Hò đối đáp ở Nam Bộ cho ta nghe một làn điệu mênh mông, gợi nhớ những cánh đồng bát ngát, những dòng sông phẳng lặng, dằng dặc.

    Chờ em cho mãn kiếp chờ
Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông.

Khi nghe chàng trai cất lên câu hò, cô gái liền bẻ lại:

    Rau muống trổ bông lên bờ nó trổ
Ai biểu anh chờ mà anh kể công ơn.

Chính những câu hò, điệu hát đó đã làm lay động lòng người, giúp con người yêu mến thiên nhiên, cảnh vật, yêu quê hương đất nước và thêm yêu vùng đất thân thương mình đang sống. Và cũng chính những câu giao duyên ấy đã làm nhịp cầu tri âm nối từ trái tim đến trái tim, tình yêu nảy nở cũng từ đó, thật lãng mạn và nên thơ.

Những câu hò vang mãi, truyền tải những tâm tư, nỗi lòng của những người lao động chân chất, hiền hòa. Giọng hò Nam Bộ bay bổng, trải dài trên sông hòa nhịp vào mái chèo khua nước, tạo nên một âm thanh sâu lắng, ngọt ngào.

4.3.2.3 Tiết điệu và âm điệu
Các loại hò thường được ứng khẩu tùy hứng, nhạc thì chỉ có một giai điệu duy nhứt, hay theo một thang âm đặc biệt miền Nam (do-mib-fa-sol-la-do).


Tiết điệu
 trong câu hò biến đổi khá nhiều, nhưng có thể gom trong hai điệu chính:

Hò huê tình, tức là hát chậm và kéo dài ra,
còn hò lăn, tức tiếng hát mau và ngắn lại.
Dù hò huê tình, hò lăn hay hàng chục điệu hò khác biệt của mỗi địa phương Sa Đéc, Tháp Mười, Gò Công, Rạch Giá, Hà Tiên, Cai Lậy, Tiền Giang… người mộ điệu hò bao giờ cũng sành cung đoạn, âm giai. Họ không bao giờ chịu hạn chế lời ca trong một điệu, hò tuỳ hứng mà sáng tác, tuỳ nội dung mà định hình thức của nốt nhạc. Nhưng luôn luôn, họ có cung đoạn riêng để quyết định cho sự hô ứng, cho lúc nghỉ ngừng.

Âm điệu của các thể loại hò ở từng địa phương thường không giống nhau về chi tiết luyến láy, về cách xử lý các “âm điệu” giữa câu, hay có đôi khi cũng khác nhau về kết cấu toàn bộ. Thí dụ như: hò Đồng Tháp thì kết ở một nốt thuộc “át âm”, nhưng trong lúc đây, tuy cùng một điêu thức “xon”, nhưng hò Miền Đông, hò Bạc Liêu, hò Gia Ninh, thì lại dùng nốt chủ âm để kết hoàn toàn.

4.3.2.4 Một vài điệu Hò quen thuộc

Hò đối đáp miền Nam https://www.youtube.com/watch?v=dSL112jAlh8

Hò đối đáp Nam bộ   https://www.youtube.com/watch?v=4WWPHCqhcJY

Giọng hò miền Tây   https://www.youtube.com/watch?v=24hm-n4NLAw

Tiếng hò miền Nam (Hương Lan)   https://www.youtube.com/watch?v=6nSehiUiPrw

Tiếng hò miền Nam (Thái Thanh)  https://www.youtube.com/watch?v=igKvpSHcEAQ

Hò đối đáp (GS Trần Văn Khê)   https://www.youtube.com/watch?v=EbtA0B7T32o
Hò Nam Bộ là khúc dân ca thuần tuý, một thời làm say đắm người nghe. Nó tiêu biểu cho tấm lòng chân thành và đa cảm của người dân Nam Bộ.

Từ hơn 60 năm trở lại đây, tiếng hò đã chìm sâu vào dĩ vãng. Bao nhiêu tiếng hò lơ, hò lờ cụt ngủn hiện nay ở các soạn phẩm cải lương, như muốn biểu diễn cái hấp tấp, tranh sống, tranh còn trung-thực của hiện tại, đã có dịp trổi lên thay cho cái trầm lắng, u hoài tha thiết của tiếng hò, tiếng hát ngày trước. Buồn thay.

Yên Hà, tháng 11, 2014

Tài-liệu nguồn:

Dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://vietsciences.free.fr/vietnam/tiengviet/dancavietnam.htm

Sơ lược về dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://tranquanghai.info/p566-so-luoc-ve-dan-ca-viet-nam.html

Dân ca Nam Bộ

http://nhaccotruyen.vn/main/CotruyenDangian/DancaNambo/Danca-Nam-bo.htm

Hát Lý Và Những Điệu Lý Nam Bộ, Dr Thuận

http://www.mekongculture.com/?p=4371

Hò Nam Bộ,  Trần Trọng Trí —

http://216.119.90.158/default.asp?id=1755&muc=2

Hò Đối Đáp Nam Bộ, Dr Thuận

http://www.mekongculture.com/?p=2577

Dân ca Nam bộ qua báo chí hậu bán TK 20,  Vĩnh Phúc

http://namkyluctinh.org/a-vhbkhao/vinhphuc-dancanambo.htm

Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 11:03 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Thursday, October 16, 2014

Tiếng nước tôi : Văn học dân gian (4.2) / Dân ca / Trung Bộ

./.

  1. Dân ca

4.1 Dân ca Bắc Bộ

./.

4.2 Dân ca Trung Bộ

Xin được phép ôn lại địa lý Việt-Nam.
Miền Trung (Trung Kỳ, Trung Bộ hay Annam thời Pháp-thuộc) gồm có :

Bắc Trung Bộ : những tỉnh Thanh (hoá) – Nghệ (an) – (Hà) Tĩnh và (Quảng) Bình – (Quảng) Trị – (Thừa) Thiên ;

Tây Nguyên (phần lớn là miền núi) : Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng ;

Nam Trung Bộ : từ Đà Nẵng xuống Bình Thuận ;

Hai vùng Bắc và Nam Trung Bộ còn được gọi là Duyên hải miền Trung.

(Sự phân-biệt này chỉ có tính cách hành-chánh chứ không bắt buộc phản ảnh văn hoá đặc-trưng của mỗi miền)

4.2.1 Lý

Lý là một thể loại đặc sắc trong dân ca Bình-Trị-Thiên, chính xác hơn là Trị-Thiên.
Lý là những bài hát giao duyên và Lý có nghĩa là hát của giai cấp dân quê (do chữ lý làng mà ra), so với Ca Huế thuộc giai cấp vua chúa, trí thức.
Tất cả điệu lý ba miền được thoát thai từ các bài hát chèo, ca Huế, hát tuồng, và hát cải lương.

Nếu Hò là loại thể dân ca gắn bó với môi trường lao động, mang đậm yếu tố dân gian, thì Lý, trong âm nhạc cổ truyền “Xứ Huế”, là một gạch nối giữa hai thành phần cổ truyền dân gian và cổ truyền chuyên nghiệp. Lý cũng có nhạc tính cố định hơn hò, câu hát đều đặn, trong khi hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.

Một vài bài Lý nổi tiếng của miền Trung :
Lý giao duyên   https://www.youtube.com/watch?v=EDkqZNxtAD8
Lý hoài Nam (Lý chiều chiều)   https://www.youtube.com/watch?v=ag9mGc88MfM
Lý mười thương   https://www.youtube.com/watch?v=STRPeFb0kSE
Lý qua đèo   https://www.youtube.com/watch?v=8QgV90t3Stk
và nhất là Lý con sáo   https://www.youtube.com/watch?v=Jrdcl1hD-xg
Riêng điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao
    Ai đem con sáo sang sông,
Để cho con sáo sổ lồng bay xa,

các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian đã ghi nhận sơ bộ có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Bộ trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Bắc Ninh và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế (Thừa Thiên – Huế), 2 bài lý con sáo Quảng (Nam Trung Bộ), và hơn 10 bài lý con sáo Nam Bộ.
Ở Thừa Thiên, khi hát bài lý con sáo, thay vì hát đoạn “ơi người ơi”, lại hát “tang tình tang”, cho nên bài lý con sáo còn được gọi là Lý tình tang.

4.2.2 Hò
Miền Trung là nơi tập trung của nhiều loại hò và nhiều giai điệu hơn hai miền Bắc và Nam.

Hò từ chữ “HÔ” mà ra, có nghĩa là làm cho giọng mình manh hơn. Do đó, Hò thường đi đôi với việc làm nặng như kéo gỗ, chèo thuyền, đập đạ, xay lúa, giã gạo… Nhưng hò cũng có thể hát lúc nghỉ ngơi, lúc hội hè, lúc đám tang như hò đưa linh, và có khi dính liền với một vùng nào đó như hò Nghệ An, hò Thanh Hóa, hò Sông Mã, hò Ðồng Tháp.
Hò mang tính chất tập thể, một người xướng (người hò chánh gọi là hò cái) rồi có những người cùng làm việc hò theo (những người phụ họa gọi là hò con).

Có ba loại Hò :
– Hò trong lúc làm việc: tiết điệu ăn khớp với động tác, và thường dùng những chữ như dô ta, rố khoan, hụ là khoan, vv…
– Hò trong lúc nghỉ ngơi: thường là hò đối giữa trai gái có tính cách đùa giỡn, chọc ghẹo hay tỏ tình.
– Hò trong lúc lễ hội: thường là hò đối đáp để tranh giải.
Hò còn được chia làm
Hò dưới nước : Hò sông Mã, Hò mái đẩy, hò rời bến, hò đò ngược, hò đò xuôi, hò mắc cạn, hò cập bến, hò mái xấp, hò mái nhì (điệu hò tiêu biểu cho hò Huế)   https://www.youtube.com/watch?v=ooMjxTBgsgw

Hò trên cạn : Hò nện  https://www.youtube.com/watch?v=O7XLsqFGzSk ,
Hò giã gạo   https://www.youtube.com/watch?v=MRUmi58HGoM,
hò giã đậu, hò giã vôi, hò mài dừa, hò xay lúa,…

Hò Huế
Bình-Trị-Thiên là tên ghép của 3 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
Điều kiện lịch sử, địa lý và hành-chính tạo nên tính chất tương-đồng về văn hóa cho vùng này nên miền này còn được gọi là Xứ Huế. Tính chất đồng văn được biểu hiện rõ nhất trong hệ thống dân ca – nhạc cổ của xứ này.
Hò sinh hoạt vui chơi và Hò lao động sản xuất và nghề nghiệp ở Huế khá phong phú hơn các vùng Bắc Bộ, Nghệ Tĩnh và Nam Bộ.

Nội dung phản ánh các câu hò trữ tình ở Huế là tiếng nói thắm thiết, giàu tình nghĩa, kín đáo, thương cảm và hướng nội.

Về hình thức nghệ thuật, ở Huế, thể thơ lục bát vẫn được dùng nhưng phổ biến hơn là thể thơ lục bát biến thể và song thất lục bát biến thể.

Xét kết cấu thi ca, về mặt cấu ý, mỗi câu hò Huế bất kỳ dài ngắn đều gởi gắm ít ra cũng một ý tình trọn vẹn.

Hò Bài chòi – Bài thai – Bài tiệm

Bài chòi một loại hình nghệ-thuật dân ca ghép với trò chơi dân-gian ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận (không kể vùng Tây Nguyên).

Hát bài chòi được tổ chức thành một lễ hội, ở làng quê vào dịp Tết Nguyên Đán.
Người ta dựng 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên, mỗi bên 5 chòi, mỗi chòi rộng đủ vài ba người ngồi và một chòi trung tâm (chòi mẹ) ở giữa dành cho các vị chức sắc địa phương.
Bộ bài để đánh bài chòi là bộ bài tam cúc cải tiến, gồm 33 lá, với những tên chuyển thành nôm na như: nhứt nọc, nhì nghèo, ông ầm, thằng bí, lá liễu v.v.. vẽ trên giấy, dán vào thẻ tre. Mỗi thẻ tre dán ba con bài, không trùng lặp nhau.

Vào cuộc chơi, anh hiệu (tức người hô thai) xốc ống bài, rút ra một con và xướng tên con bài lên. Để gây thêm sự hồi hộp và bắt người chơi phải suy đoán, anh hiệu hô (hò) lên một câu thai hoặc một câu ca dao có tên con bài. Chòi nào trúng tên con bài thì gõ mõ để anh hiệu mang con bài đến. Trúng ba con bài là chòi đó “tới“, xổ một hồi mõ dài. Khi đó, anh hiệu cầm lá cờ nhỏ, bưng khay rượu tới trao phần thưởng cho người trúng. Lá cờ đuôi nheo bằng giấy cũng được cắm lên chòi để đánh dấu một lần thắng.
Để giúp vui cho cuộc chơi còn có một ban nhạc cổ gồm đờn cò, kèn, sanh, trống hòa tấu lên khi có chòi “tới”.
Hò bài chòi của Huế có nhiều hình thức biến thái, ví dụ như hò bài thai hoặc hò bài tiệm.

   Hò bài thai là trò chơi nhỏ trong các phiên chợ. Người cầm cái có một cái bàn gỗ dán đủ các quân bài của bộ bài tới.Giữa bàn có một cái chén úp, trong đó người cầm cái đặt một quân bài bí mật, rồi hò lên một câu có nội dung gợi liên tưởng đến con bài. Người nghe suy đoán là con bài gì thì đặt tiền vào con bài tương ứng dán trên bàn gỗ. Đợi người chơi đặt xong, người cầm cái mở chén để công bố kết quả và chung tiền cho ai thắng cuộc.

   Hò bài tiệm cũng như hò bài thai, nhưng người ta cho con bài vào một hộp gỗ nhỏ treo trên cây, bên dưới ghi câu hò. Đợi mọi người suy đoán trong một ngày, người cầm cái mới cho mở hộp để phân định hơn thua.

Hát bài chòi sẽ là hồ sơ đề nghị di sản văn hóa phi vật thể cho năm 2015 và do viện âm nhạc Hà nội đảm nhiệm việc thiết lập hồ sơ.

Xin mời các bạn xem/nghe:
Hat hội bài chòi tại Hội An   https://www.youtube.com/watch?v=_JaCzbV_8PY
4.2.3 Ví – Giặm Nghệ Tĩnh
Dân ca Ví, Giặm là hai lối hát dân ca không có nhạc đệm, do cộng đồng hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáng tạo, lưu truyền trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt, trong cuộc sống, lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc dệt vải, xay lúa…

Hai lối hát dân ca này thường được hát xen kẽ cùng nhau nên có tên ghép là Dân ca Ví, Giặm.
Ví và Giặm xứ Nghệ có điểm chung là lối hát vừa mang tính ngẫu hứng, vừa có thủ tục và quy cách cụ thể; về thang điệu, điệu thức, tiết tấu, giai điệu và giọng hát, được diễn xướng theo ba hình thức: hát lẻ, hát đối và hát cuộc (thi).

Các cuộc hát nổi bật với lối hát giao duyên, thường có ba chặng: hát dạo, hát đối và hát xe kết. Mỗi bên hát phải có ít nhất hai, ba người, một người hát chính, người còn lại hát theo để đỡ giọng.

Dân ca Ví, Giặm đã được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia (2013) và đang làm hồ sơ do Viện nghiên cứu văn hóa và nghệ thuật chủ biên để được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào cuối năm 2014.

Hát Ví

Ví thuộc thể ngâm vịnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…)

PGS. Ninh Viết Giao đã cho rằng, “Ví” là “với”, hát ví là hát với và “ví” là “vói”. Bên nam đứng ngoài ngõ, ngoài đường “hát vói” vào sân, vào nhà với bên nữ; hoặc đám con gái đang cấy lúa ở đỗi ruộng này “hát vói” sang khu ruộng bên cạnh đó với đám con trai đang nhổ mạ. Đó là một ý kiến đáng nghiên cứu.

Hát ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, âm vực của ví thường không quá một quãng 8.

Tính biểu cảm của hát ví tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian, thời gian và tâm tính của người hát.
Hát ví hát giao duyên nam nữ được phổ biến vùng Nghệ Tĩnh, các thể kỷ trước dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái.

Các lối hát được gọi tên theo các hình thức lao động và sinh hoạt như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví phường nón, Ví phường củi, Ví trèo non, Ví đò đưa, …

Ví phường vải, thể loại phức tạp nhất vì có sự tham gia của các nhà Nho, các ông đồ Xứ Nghệ, có quy cách và thủ tục hát chặt chẽ hơn cả, thường theo ba chặng:
chặng một có hát dạo, hát chào mừng và hát hỏi;
chặng hai là hát đố hoặc hát đối – yêu cầu đối tượng phải giải và đối;
chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn

(tương đương với hát Quan họ Bắc Ninh).
Xin mời các bạn nghe:

Ví phường vải Đêm trăng   https://www.youtube.com/watch?v=yX3qYfOfBek

Ví đò đưa     https://www.youtube.com/watch?v=ZdH1B9m52lg

Hát Giặm

Hát Giặm là thể hát nói có nhịp điệu, tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh, phách nhẹ (nhạc cụ thường là phách), thường là nhịp 3/4 và 6/8.
Một bài Giặm thường dựa theo thể thơ ngũ ngôn hay vè (thơ 5 chữ) có nhiều khổ. Loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 nên được gọi là Giặm.
Quy trình hát Giặm về cơ bản cũng có ba chặng như hát Ví, song các bước thì không chặt chẽ, đầy đủ bằng.

Giặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể, khuyên răn, phân trần, bày giải. Cũng có loại giặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và có cả giặm trữ tình giao duyên.

Có nhiều loại Giặm như: Giặm ru, Giặm kể, Giặm khuyên, Giặm nói, Giặm vè, Giặm nam nữ, Giặm cửa quyền, Giặm xẩm,…

Giặm hay Dặm? 
Ý nghĩa của từ Giặm, có hai cách giải thích:
1- trong lúc hát đối đáp, câu của người trả lời phải chấp theo vần ở cuối câu của người hỏi. Sự chắp vần hay hát chắp vào ấy tức là giặm, để láy lại câu cuối;
2- chính vì câu láy ở cuối mỗi khổ, tức là câu nhắc lại ấy được gọi là câu dặm. Vì vậy mà nhân dân gọi thể loại này là hát dặm.
Có người viết ‘giặm”, lại có người viết “dặm” nhưng hình như “Giặm” đã được công-nhận một cách chính-thức.
Xin mời các bạn nghe:
Giặm xẩm thương  https://www.youtube.com/watch?v=N6n0_kPHXO8
Giận mà thương     https://www.youtube.com/watch?v=EmHVzhDWYqk

Yên Hà, Tháng 10, 2014

Xín đón đọc số sau:

Tiếng nước tôi : Văn học dân gian (4) / Dân ca Nam Bộ

Để nghe nhạc cổ truyền Việt Nam, xin mời các bạn ghé vào trang Chim Việt cành Nam   http://chimvie4.free.fr/danca01.htm

Tài-liệu nguồn:

Dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://vietsciences.free.fr/vietnam/tiengviet/dancavietnam.htm

Sơ lược về dân ca Việt Nam, Trần Quang Hải
http://tranquanghai.info/p566-so-luoc-ve-dan-ca-viet-nam.html

Cổ nhạc – Dân ca   Chim Việt Cành Nam
http://chimvie4.free.fr/danca01.htm

Cổ nhạc – Dân ca
http://chimvie4.free.fr/danca01.htm


http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_(%C3%A2m_nh%E1%BA%A1c)

Những đặc trưng của hò Huế
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Nhung-dac-trung-cua-ho-Hue/1735228005/148/

Bài chòi   http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0i_ch%C3%B2i

Hò bài chòi
http://www3.thuathienhue.gov.vn/GeographyBook/Default.aspx?sel=3&id=1241
Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh
http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ca_v%C3%AD,_d%E1%BA%B7m_Ngh%E1%BB%87_T%C4%A9nh

Dân ca Nghệ – Tĩnh
http://nhaccotruyen.vn/main/CotruyenDangian/DancaBacTrungBo/DancaBactrungbo.htm
Dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ

http://www.dsvh.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=623&c=41

Bảo tồn dân ca Vi, Giặm… Trần Hồng Cơ
https://tranquanghai1944.wordpress.com/2014/09/29/tran-hong-co-bao-ton-dan-ca-vi-giam-qua-thu-thach-cua-thoi-gian/

Hát ví trong dân ca người Việt ở xứ Nghệ, Lê Hàm
http://vanhoanghean.vn/goc-nhin-van-hoa3/nh%E1%BB%AFng-g%C3%B3c-nh%C3%ACn-v%C4%83n-h%C3%B3a/hat-vi-trong-dan-ca-nguoi-viet-o-xu-nghe
Posted by Thanh Tuyền and Ngọc Phú at 10:08 AM No comments:

Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

Labels: Tham Khảo

Reactions:

Older Posts Home

Subscribe to: Posts (Atom)

Total Pageviews

93890

ARTSHARE

Blog Archive

http://phu-tran.blogspot.fr/search/label/Tham%20Kh%E1%BA%A3o

TRẦN QUANG HẢI : NHẠC SƯ VĨNH BẢO mới sáng chế cách lên dây mới cho đờn kìm , tháng 1, 2015


130815164031_vinh_bao_traditional_vietnamese_musician_640x360_bbc_nocredit

Nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO

Nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO , người đã dâng hiến trọn cuộc đời cho nền cổ nhạc VIỆT NAM , và Đờn ca tài tử miền Nam .

Ông vừa sáng chế cách lên dây mới cho đờn kìm và đã cho nghe thí dụ cách rao trên đờn kìm với cách lên dây mới này vào tuổi 98. Một điều hiếm có trong lịch sử âm nhạc . Ông sở trường về đờn tranh (đã sáng chế cây đờn tranh 17 dây, 19 dây và 21 dây từ hơn 60 năm nay và hiện nay đờn tranh lưu hành ở Việt Nam là 17 dây chứ không còn 16 dây như ngày xưa), đờn kìm , đờn bầu, đờn xến, vv…..

vinh bao dan tranh

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo với đờn tranh do ông sáng chế ra

vinh-bao-ordi

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo dạy qua mạng

vinh bao dao tan

GS Trần Văn Khê và nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo (giải Đào Tấn)

vinh bao huan chuong arts et lettres

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo nhận huy chương nghệ thuật và văn học của Pháp

vinh bao day don tranh cho ngoai quoc

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo dạy đòn tranh cho học trò ngoại quốc

vinh bao

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo với đờn kìm

bằng ban khen nhạc sư nguyen vinh bao

Bằng khen nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo có công đóng góp đờn ca tài tử (2014)

disque ocora vinh bao tvk

Dĩa hát OCORA (Pháp) với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê (1972)

dvd-bia-3-thu-tu-hoc-dan-tranh-vinh-bao

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo truyền dạy đờn tranh qua bộ dĩa DVD do nhóm học trò ở Mỹ phát hành

NT Phong & NV Bao

GS Nguyễn Thuyết Phong (người biên soạn quyển sách về cuộc đời nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, sẽ được phát hành trong một tương lai gần) và nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo

Sự đóng góp của nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO rất to lớn và chưa có một nghệ nhân nào ở Việt Nam có đủ khả năng để phát huy đờn ca tài tử như ông .Làm sao có thể hội tụ ở một nhạc sĩ cổ truyền vừa là một nhạc sĩ tài ba, một nhà đóng đờn sáng tạo, một giáo sư quán thông cổ nhạc (từng là giáo sư đờn tranh ở trường quốc gia âm nhạc Saigon trong hai thập niên 50 và 60, từng giảng dạy ở Hoa Kỳ, Pháp), một nhà nghiên cứu đờn tranh qua âm thanh học (acoustique), từng được nhiều bằng khen thưởng (giải Đào Tấn, bằng ban khen về đờn ca tài tử) và huy chương nghệ thuật và văn học (officier des Arts et des Lettres của Pháp), người duy nhứt ở Việt Nam và cả thế giới về cách truyền dạy đờn tranh qua mạng (enseignement sur internet), người có nhiều học trò Mỹ (Alexander Cannon), Pháp (Jean Christophe Maillard), Việt (nhiều học trò ở Mỹ, Pháp, Úc) tới học hỏi về đờn ca tài tử

Tôi là người có diễm phúc được học hỏi với nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo trực tiếp hay qua hệ thống SKYPE từ nhiều năm qua và đã được nhạc sư chỉ dạy tận tường khai sáng sự hiểu biết của tôi về nguồn gốc đờn ca tài tử, tiểu sử của những bậc nhạc sĩ tài danh , và nguồn gốc bản Dạ cổ hoài lang .

Trong phạm vi bài này, tôi giới thiệu cách lên dây mới cho đờn kìm mà nhạc sư vừa sáng tạo ra vào tháng giêng  năm 2015, một đóng góp lớn cho sự phát huy đòn ca tài tử nói riêng , cho cổ nhạc miền Nam nói chung .

Trần Quang Hải, 1 tháng 2, 2015.

vinh-bao-tqh-12-2007

Đàn Kìm dây mới sáng chế:

 

Dây to số 2 trơn  CÔNG   tạm dịch  Fa

Dây nhỏ số 1 trơn  XỰ     tạm dịch  La

Dây to (2)     bấm phím 1      Hò   sol

Dây nhò (1)  bấm phím 1      xư    si

 

Phím                1          2            3            4            5            6            7            8

Dây  1             xư        xê        cống      công       ú            u           xê        cống 

                        si         ré          mi            fa           la            si           ré          mi

 

Dấy  2            hò         xư       xang        xê        công        liêu       xư     xang 

                          sol         si          do              ré             fa              sol        si        do

Những bài viết về nhạc sư NGUYỄN VĨNH BẢO có thể tìm đọc ở trang blog

https://tranquanghai1944.com/category/nguyen-vinh-bao-2/

Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh , VIETNAM


Ajoutée le 27 nov. 2014

UNESCO: Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity – 2014
URL: http://www.unesco.org/culture/ich/RL/…
Description: Ví and Giặm songs are performed by communities in north-central Viet Nam. They are sung while people cultivate rice in the fields, row boats, make conical hats or lull children to sleep. Songs focus on key values and virtues including respect for parents, loyalty, care and devotion, and the importance of honesty and a good heart. Singing provides people with a chance to ease hardship while working, to relieve sorrow in their lives and to express sentiments between men and women.
Country(ies): Viet Nam
© 2013 Institut de la Culture et des Arts du Viêt Nam [2013]
Duration: 00:09:54 – Support: DVD (0100800004)

BÙI THỌ – TRẦN DUY NGOÃN : Nghệ An, Hà Tĩnh đón Bằng DSVH của UNESCO cho Dân ca Ví, Giặm 21:47, 31/01/2015


Nghệ An, Hà Tĩnh đón Bằng DSVH của UNESCO cho Dân ca Ví, Giặm

21:47, 31/01/2015

(truyenhinhnghean.vn) Tối 31/1, tại Quảng trường Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa Thể thao và du lịch, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ vinh danh dân và đón nhận bằng của UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Chưong trình được THTT trên các kênh VTV1, VTV4, NTV, HTTV.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị-Chủ tịch Quốc Hội, Tòng Thị Phóng – Ủy viên Bộ Chính trị-Phó Chủ tịch Quốc hội, Nguyễn Xuân Phúc – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Mạnh Cầm – nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ; Lê Xuân Tùng – nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Vũ Đức Đam – Phó thủ tướng Chính phủ, Uông Chu Lưu – Phó chủ tịch Quốc Hội, Vương Đình Huệ – Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Phan Đình Trạc – Phó trưởng ban Nội chính Trung ương, Nguyễn Thế Trung – Phó ban Thường trực Ban dân vận Trung ương, Hồ Mậu Ngoạt – Trợ lý Tổng Bí thư, Hoàng Tuấn Anh – Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Nguyễn Minh Quang – Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ trưởng Bộ Y tế, Phan Xuân Dũng – Phó chủ nhiệm Ủy ban KHCNMT của Quốc hội, Thuận Hữu – Tổng biên tập Báo Nhân dân, Trần Cẩm Tú – Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình, Trần Hồng Hà – Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Nguyễn Đắc Vinh – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn; các đồng chí Lê Doãn Hợp – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Bộ trưởng Bộ TTTT, Võ Hồng Phúc – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Đại biểu quốc tế có bà Katherine Muller Marin -Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, ông Park Nark Gong-tham tán văn hóa kiêm Giám đốc Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam, ông Khăm Sỉ Nuôn Thong-Ủy viên BTV Tỉnh Ủy-Phó trưởng Tỉnh Xiêng Khoảng, Khăm Sỉ Út Thi Vông-Trưởng Ban tổ chức Tỉnh Khăm Muộn, bà Bu Nhông-Ủy viên BTV Tỉnh ủy-Phó tỉnh trưởng Tỉnh Boly Khămxay, ông Phu Văn Phết My Say-Phó giám đốc Sở VHTT và DL tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào.
Về phía tỉnh Nghệ An có các đồng chí Hồ Đức Phớc – Bí thư Tỉnh ủy, Trần Hồng Châu – Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Nguyễn Xuân Đường – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Quang Huy – Phó bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các ban, sở, ngành cấp tỉnh, các huyện thành thị. Về phía Quân khu 4 có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Hội, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước – nguyên Tư lệnh QK4.
Về phía tỉnh Hà Tĩnh có các đồng chí Nguyễn Thanh Bình – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Võ Kim Cự – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Thành Long – Phó bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các ban, sở, ngành cấp tỉnh, các huyện thành thị của tỉnh Hà Tĩnh. Các CLB dân ca 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
 
 Đại biểu dự lễ
Tại phiên họp ngày 27/11/2014 tại Paris, Pháp, Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Với lối hát dân ca không nhạc đệm được cộng đồng người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay, Ví, giặm được thực hành trong lao động và đời sống thường nhật như lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc quay tơ, dệt vải, khi trèo non, lội suối. Vì vậy, các điệu hát cũng được gọi tên theo các hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường cấy, Ví trèo non, giặm ru, giặm kể, giặm vè…
 
Thực hiện nghi thức trao bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Ngày 31/1, UNESCO chính thức trao bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội cho biết: Hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đáp ứng cả 5 tiêu chí để trở thành di sản đại diện của nhân loại
Trao bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, trong bài phát biểu, bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội cho biết: Hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đáp ứng cả 5 tiêu chí để trở thành di sản đại diện của nhân loại và được các thành viên của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đánh giá cao. UNESCO mong muốn chính quyền và người dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ có những biện pháp để phát huy giá trị của dân ca ví, giặm xứ Nghệ, thực hiện những nội dung trong chương trình hành động quốc gia đã được xây dựng để di sản phát triển hơn nữa.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam mong muốn: Chúng ta hãy nguyện cùng nhau bảo vệ và phát huy những di sản vô giá của nhân loại, trong đó có dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, để những nguồn mạch thanh trong, ấm nồng hơi thở cội nguồn, nuôi dưỡng và nâng cánh tâm hồn Việt, để văn hóa Việt Nam hòa trong dòng chảy của văn minh nhân loại, tạo nền tảng tinh thần và động lực xây dựng thành công, bảo về vững chắc tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn  minh, để nền văn hiến Việt Nam truyền lưu muôn thủa
Phát biểu tại lễ nhận bằng và vinh danh, đồng chí Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An khẳng định: Việc dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh thực sự là niềm vinh dự, tự hào không chỉ của tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh mà của cả nước. Từ đây, dân ca Nghệ Tĩnh đã có trên bản đồ văn hóa thế giới, thực sự trở thành một phần của di sản văn hóa nhân loại.Với niềm vui, niềm vinh dự, tự hào, mỗi chúng ta ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm tiếp tục phát huy những giá trị to lớn, quý báu mà các thế hệ đi trước đã để lại, thực hiện nghiêm túc cam kết quốc tế và triển khai có hiệu quả đề án bảo tồn và phát huy di sản dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, để Ví, Giặm tiếp tục là hành trang tinh thần của các thế hệ người dân Nghệ Tĩnh nói riêng, Việt Nam nói chung, góp phần xây dựng, phát triển nền văn háo Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trong khuôn khổ của lễ vinh danh, Bộ trưởng Bộ VH, TT&DL Hoàng Tuấn Anh đã công bố chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị dân ca Ví, Giặm. Những nội dung chính như: Tăng cường giới thiệu dân ca Ví, Giặm ở trong và ngoài nước theo định kì luân phiên 3 năm/lần tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ ở Nghệ An và Hà Tĩnh bảo vệ và phát huy gái trị văn hóa dân ca Ví, Giặm xứ Nghệ; hỗ trợ cộng đồng, các câu lạc bộ, nghệ nhân phục hồi, lưu truyền các bài hát, hình thức diễn xướng đã bị mai một…
Điểm nhấn của lễ vinh danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là chương trình nghệ thuật có chủ đề “Về miền ví giặm” với những tiết mục dân ca đặc sắc và sự tham gia của các ca sĩ, nghệ sĩ hàng đầu cùng các câu lạc bộ, nghệ nhân dân gian ở hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh.
 Những hình ảnh từ chương trình nghệ thuật “Về miền Ví Giặm”

(Bùi Thọ – Trần Duy Ngoãn)

http://truyenhinhnghean.vn/HD/Default.aspx?Item=28186&cate=97

UNESCO sẵn sàng hỗ trợ bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật này!(*), lễ vinh danh hát ví giặm Nghệ tĩnh,31.01.2015


UNESCO sẵn sàng hỗ trợ bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật này!(*)

(Baonghean) – Một trong những nhà soạn nhạc và nhạc sỹ vĩ đại nhất thế giới, Ludwig Van Beethoven đã từng nói rằng âm nhạc là sự soi rạng cao hơn bất kỳ sự thông thái và triết học nào. Âm nhạc và lời ca có thể đi thẳng vào trái tim và tâm hồn của mỗi chúng ta. Dân ca ví, giặm thể hiện bản sắc văn hóa, phản ánh cuộc sống lao động và tinh thần của nhân dân các tỉnh ven biển miền Trung là Nghệ An và Hà Tĩnh được vinh danh là di sản văn hóa thứ 9 của Việt Nam trong Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Bà Katherine Muller Marin,  Trưởng Đại diện UNESCO ở Việt Nam
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng Đại diện UNESCO ở Việt Nam
Thay mặt cho UNESCO, tôi xin chúc mừng lãnh đạo Trung ương và địa phương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và đặc biệt là nhân dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, những người đã góp phần to lớn vào việc vinh danh này.
Dân ca ví, giặm là tài sản tinh thần của các cộng đồng địa phương; nó là một phần quan trọng trong đời sống hàng ngày của họ, bởi lẽ họ cất cao tiếng hát trong cuộc sống sinh hoạt như cấy lúa, chèo thuyền, làm nón hay ngay cả khi ru con.
Dân ca ví, giặm là một ví dụ hoàn hảo về việc di sản phi vật thể luôn ngân vang và sống động trong lòng người dân.
Nó rất đặc biệt, bởi lẽ, làn điệu, âm hưởng và lời ca của nó đã được các nghệ nhân truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Phương thức truyền miệng này đã giúp đảm bảo rằng những bài ca được hát với lối hát chân thực, đặc sắc và với ngữ điệu, tâm hồn của người xứ Nghệ Tĩnh.
Tất cả chúng ta đều biết Dân ca ví, giặm đã truyền cảm hứng như thế nào khi nó giúp giảm bớt sự cực nhọc trong lao động, làm vơi đi nỗi buồn trong cuộc sống, và cho ta một cách thức thể hiện tình cảm nam – nữ, đặc biệt là về tình yêu đôi lứa giữa những chàng trai, cô gái.
Các bài ca tôn vinh những giá trị và phẩm chất quý của con người Việt Nam như lòng hiếu thảo, sự trung thành, sự chu đáo và đức hy sinh, tận tụy, tính thật thà, trung thực và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cần bảo vệ các phong tục và truyền thống của làng quê.
Tôi rất vui mừng khi biết rằng loại hình diễn xướng dân gian này quy tụ 260 làng thôn ở 2 tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An, 51 câu lạc bộ Dân ca ví, giặm và hơn 800 nghệ nhân đang tích cực bảo tồn nghệ thuật âm nhạc dân gian này.
Tôi xin hoan nghênh chính quyền xây dựng các kế hoạch quảng bá và bảo tồn loại hình nghệ thuật này, tôn vinh và hỗ trợ các nghệ nhân địa phương, khuyến khích giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường và qua các phương tiện thông tin đại chúng về việc cần bảo tồn Dân ca ví, giặm.
Hãy cùng tôi quảng bá cho kho báu văn hóa này, bởi lẽ nó đã chạm vào tâm hồn và trái tim mỗi chúng ta, bởi lẽ nó đã tăng cường đối thoại giữa chúng ta, giữa các cộng đồng và các dân tộc ở Việt Nam, và bởi lẽ nó thúc đẩy sự đồng cảm và lòng khoan dung.
UNESCO sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ, bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật tuyệt vời này.
Bác Hồ – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa được UNESCO công nhận, trước khi đi xa đã từng ước mong được lắng nghe câu hò xứ Nghệ. Tôi xin trân trọng kính mời tất cả quý vị và các bạn cất cao tiếng hát để thỏa lòng mong ước của Bác và hãy để cho ca từ của câu hò xứ Nghệ tràn ngập trái tim chúng ta, mang đến cho chúng ta sự an bình, hạnh phúc và sức mạnh để xây dựng một Việt Nam bền vững, thịnh vượng và hùng mạnh hơn.
—————————-
(*) Trích phát biểu của bà Katherine Muller Marin,  Trưởng Đại diện UNESCO ở Việt Nam tại buổi lễ, đầu đề do Báo Nghệ An đặt.
;

ĐÀI TUẤN – NGUYÊN KHOA : Trang trọng Lễ vinh danh Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh


Trang trọng Lễ vinh danh Dân ca ví, giặm Nghệ – Tĩnh
Tin đăng ngày: 1/2/2015
Tối 31/1/2015, tại Quảng trường Hồ Chí Minh (Thành phố Vinh – Nghệ An), Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh long trọng tổ chức lễ vinh danh và đón nhận Bằng của UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Chương trình vinh danh được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh
Chương trình vinh danh được tổ chức tại Quảng trường Hồ Chí Minh
Tham dự lễ vinh danh có các đồng chí: Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; Tòng Thị Phóng – Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội; Nguyễn Xuân Phúc – Ủy viên Bộ Chính trị,  Phó Thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Mạnh Cầm – nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ; Lê Xuân Tùng – nguyên Ủy viên Bộ chính trị – nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Vũ Đức Đam-Phó Thủ tướng Chính phủ, Uông Chu Lưu – Phó chủ tịch Quốc Hội, Vương Đình Huệ -Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Phan Đình Trạc – Phó trưởng ban Nội chính Trung ương, Nguyễn Thế Trung – Phó Trưởng ban Thường trực Ban dân vận Trung ương, Hồ Mậu Ngoạt -Trợ lý Tổng Bí thư; Trần Tuấn Anh – Bộ trưởng Bộ VHTT&DL; Nguyễn Minh Quang-Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ trưởng Bộ Y tế, Phan Xuân Dũng-Phó chủ nhiệm Ủy ban KHCNMT của Quốc hội, Thuận Hữu -Tổng biên tập Báo Nhân dân; Nguyễn Đắc Vinh-Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng-Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn;…, lãnh đạo các bộ, ngành trung ương…
Về phía Quân khu 4 có đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Sỹ Hội, Phó Tư lệnh Quân khu 4, Trung tướng Nguyễn Quốc Thước-nguyên Tư lệnh QK4.
Đại biểu quốc tế có bà Katherine Muller Marin-Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, ông Park Nark Gong-tham tán văn hóa kiêm Giám đốc Trung tâm văn hóa Hàn Quốc tại Việt Nam, lãnh đạo tỉnh Xiêng Khoảng, tỉnh Khăm Muộn, tỉnh Boly Khămxay, tỉnh Hủa Phăn – nước CHDCND Lào. 
Về phía các tỉnh bạn có:  lãnh đạo tỉnh Bắc Ninh, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Bắc Giang, Bình Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thái Bình.
Về phía tỉnh Nghệ An có các đồng chí: Hồ Đức Phớc- Bí thư Tỉnh ủy, Trần Hồng Châu-Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy-Chủ tịch HĐND tỉnh, Nguyễn Xuân Đường-Phó Bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Quang Huy-Phó bí thư Tỉnh ủy, các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các ban, sở, ngành cấp tỉnh, các huyện thành thị.
Về phía tỉnh Hà Tĩnh có các đồng chí: Nguyễn Thanh Bình-Ủy viên Trung ương Đảng-Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, Võ Kim Cự-Phó Bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch UBND tỉnh, Lê Thành Long- Phó bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh, các đồng chí trong Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo các ban, sở, ngành cấp tỉnh, các huyện thành thị của tỉnh Hà Tĩnh. Các CLB dân ca 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
c
Các đại biểu quốc tế, Trung ương dự lễ vinh danh
f
Lãnh đạo 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và các bộ, ngành Trung ương dự lễ
Các đại biểu tham dự buổi lễ
Các đại biểu trung ương tham dự buổi lễ
Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh điều hành buổi lễ.
Đồng chí Nguyễn Thiện, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh điều hành buổi lễ
Phó thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại buổi lễ
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại lễ vinh danh
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội phát biểu
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội phát biểu
Đại diện UNESCO trao bằng công nhận cho Bộ VHTT&DL
Đại diện UNESCO trao Bằng công nhận cho Bộ VHTT&DL
Lãnh đạo tỉnh Nghệ An trao bằng vinh danh của UNESCO cho các nghệ nhân - những chủ nhân nhân của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
Lãnh đạo tỉnh Nghệ An trao bằng vinh danh của UNESCO cho các nghệ nhân – những chủ nhân nhân của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh
Đại diện UNESCO chúc mừng Bộ VHTT&DL, lãnh đạo và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Đại diện UNESCO chúc mừng Bộ VHTT&DL, lãnh đạo và nhân dân 2 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Đồng chí Võ Kim Cự, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh phát biểu
Đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh phát biểu
Ví, giặm là hai lối hát dân ca không nhạc đệm được cộng đồng người Nghệ Tĩnh sáng tạo ra từ hàng trăm năm nay. Ví, giặm được thực hành trong lao động và đời sống thường nhật như lúc ru con, khi làm ruộng, chèo thuyền, lúc quay tơ, dệt vải, khi trèo non, lội suối. Vì vậy, các điệu hát cũng được gọi tên theo các hoạt động như Ví phường vải, Ví đò đưa, Ví phường cấy, Ví trèo non, giặm ru, giặm kể, giặm vè…
Đồng chí Nguyễn Xuân Đường - Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An phát biểu
Đồng chí Nguyễn Xuân Đường – Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An phát biểu
Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong phiên họp ngày 27/11/2014 tại Paris, Pháp. Điều này cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình nghệ thuật dân gian đặc biệt này, đồng thời giúp cho cộng đồng và chính quyền địa phương có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn, truyền dạy, khuyến khích thế hệ trẻ tích cực học tập và tham gia trình diễn nhằm bảo tồn và phát huy một cách bền vững di sản văn hóa phi vật thể này.
Phát biểu tại lễ nhận bằng và vinh danh, đồng chí Nguyễn Xuân Đường, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An khẳng định, việc dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO vinh danh thực sự là niềm vinh dự, tự hào không chỉ của tỉnh Nghệ An,  Hà Tĩnh mà của cả nước. Từ đây dân ca Nghệ Tĩnh đã có trên bản đồ văn hóa thế giới, thực sự trở thành một phần của di sản văn hóa nhân loại.
Bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Hà Nội khẳng định, hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đáp ứng cả 5 tiêu chí để trở thành di sản đại diện của nhân loại và được các thành viên của Ủy ban Liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể đánh giá cao. UNESCO mong muốn chính quyền và người dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ có những biện pháp để phát huy giá trị của dân ca ví, giặm xứ Nghệ, thực hiện những nội dung trong chương trình hành động quốc gia đã được xây dựng để di sản phát triển hơn nữa.
Ngày 31/1, UNESCO chính thức trao bằng công nhân Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Tiết mục đương đại mang âm hưởng dân ca ví, giặm xứ Nghệ
Tiết mục đương đại mang âm hưởng dân ca ví, giặm xứ Nghệ
Những tiết mục của câu lạc bộ dân ca Phường Cấy, huyện Thanh Chương.
Những tiết mục của câu lạc bộ dân ca Phường Cấy, huyện Thanh Chương.
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Các tiết mục biểu diễn thể hiện cuộc sống lao động của người dân xứ Nghệ
Các tiết mục biểu diễn thể hiện cuộc sống lao động của người dân xứ Nghệ
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Đông đảo người dân theo dõi chương trình.
Phát biểu tại lễ vinh danh, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định, xứ Nghệ là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng, hiếu học. Người dân lao động xứ Nghệ đã sáng tác, trao truyền nên những làn điệu dân ca ví, giặm đặc sắc, góp phần hun đúc nên cốt cách, tinh thần con người xứ Nghệ, điển hình cho con người Việt Nam.
Thay mặt Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, đồng chí Phan Thanh Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh cảm ơn sự ghi nhận của bạn bè quốc tế, của các cơ quan, ban ngành trung ương. Trong thời gian tới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh sẽ tiếp tục nỗ lực phát huy giá trị của dân ca Ví, Giặm để nâng tầm những giá trị văn hóa dân tộc, xứng đáng là di sản văn hóa phi vật thể điển hình của nhân loại.
Sau phần lễ trao Bằng công nhận, chương trình vinh danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh với chủ đề “Về miền ví giặm” với những tiết mục dân ca đặc sắc với sự tham gia của các ca sĩ, nghệ sĩ hàng đầu cùng các câu lạc bộ, nghệ nhân dân gian ở hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh.
Đào Tuấn – Nguyên Khoa-Baonghean.vn

HÒA LÊ : Tôn vinh các nghệ nhân bảo tồn, phát huy dân ca Ví, Giặm


Chủ nhật, 01/02/2015 | 12:6 GMT+7

Tôn vinh các nghệ nhân bảo tồn, phát huy dân ca Ví, Giặm

QĐND – Thứ bảy, 31/01/2015 | 14:45 GMT+7

QĐND Online – Sáng 31-1, tại TP Vinh (Nghệ An) đã diễn ra lễ tôn vinh nghệ nhân và những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn, phát huy và xây dựng hồ sơ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.

 ton vinh vi giam
Bộ VHTT và DL tặng bằng khen cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác nghiên cứu, tuyên truyền và xây dựng hồ sơ di sản dân ca Ví, Giặm.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Hoàng Tuấn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL; lãnh đạo các Cục, Vụ thuộc Bộ; đồng chí Hồ Đức Phớc, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Nghệ An cùng các đồng chí lãnh đạo tỉnh và đông đảo nghệ nhân, nghệ sĩ dân ca Ví, Giặm.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Đinh Thị Lệ Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cảm ơn các nghệ nhân – những người đã miệt mài lao động và dành tình yêu cho Ví, Giặm xứ Nghệ; những nghệ sĩ đã, đang và sẽ cất lên câu hát dân ca, đưa Ví, Giặm vượt thời gian, vượt không gian, sống cùng trái tim dân tộc và nhân loại; các tập thể, cá nhân đã dốc hết tài năng, tâm huyết để sáng tạo, bảo vệ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc được tỏa sáng và sống mãi với thời gian.

Tại buổi lễ, Bộ Văn hóa Thể hao và Du lịch đã trao tặng bằng khen cho 13 tập thể, cá nhân; UBND tỉnh Nghệ An 60 tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác tuyên truyền, nghiên cứu, trình diễn và xây dựng hồ sơ di sản dân ca Ví, Giặm.

Tin, ảnh: HÒA LÊ