BÙI TRỌNG HIỀN : Bài bản và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên (tiếp theo và hết)


Bài bản và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên (tiếp theo và hết)

PHầN III

BÀI BN VÀ NGH THUT DIN TU

(Tiếp theo và hết)

Khi chế ra một đơn vị tiết tấu, nghệ nhân luôn chủ động nhắc lại mô hình đó với một tần suất nhất định. Đứng về mặt tổng thể, đấy chính là nguyên tắc cơ bản xác lập tính thống nhất và tạo ra những phân đoạn mang tính ổn định của tác phẩm. Trong quá trình diễn tấu, thực chất người ta luôn hướng tới sự chuyển vận của 2 đường tuyến tiết tấu (ứng với 2 nhóm chiêng). Sự biến hóa trong từng thời đoạn (tức biến đổi mô hình tiết tấu) hoàn toàn tùy thuộc vào các chiêng chủ đạo của mỗi nhóm. ở đây, để sự “theo nhau” được dễ dàng, các mô hình tiết tấu “mẫu” của Mđuh Khơk và Ana H’liăng không được quá phức tạp. Nó thường chỉ dài khoảng 2 nhịp (2/4) – một đơn vị vừa đủ để các chiêng bạn dễ nắm bắt, phối hợp. In đậm dấu ấn cá thể trong một tổng thể nghệ thuật hài hòa, đó chính là lôgic của mô hình biến đổi trong M’ni K’tôe. Khi mô hình này ổn định, ta sẽ nghe thấy rõ sự chuyển vận của một chồng âm (nhóm “ngắt tiếng”) đan xen với một quãng hòa âm (nhóm “mềm tiếng”) ứng với hai nhóm nhịp điệu. Nó biểu hiện sự đề cao tư duy hòa âm trong kiến tạo âm nhạc. Ví dụ:

hoặc

Bên cạnh đó, cũng cần phải thấy rằng sự “theo nhau” ở đây thường không diễn ra theo kiểu “ngay tức khắc”. Khi chiêng chủ đạo mỗi nhóm thay đổi mô hình tiết tấu mới, các chiêng khác phải sau một thời khắc nhất định mới bắt kịp. Hơn thế nữa, sự “theo nhau” nhiều khi được chuyển thành sự mô phỏng, tức không bắt chước nguyên dạng mà có sự thay đổi ít nhiều. Xin xem ví dụ dưới đây:

Tất cả những diễn biến âm nhạc kiểu “phá cách” như vậy hoàn toàn tùy thuộc vào tài năng và cá tính của các nghệ nhân. Chính điều đó ngẫu nhiên tạo ra những phân đoạn bất ổn định mang tính đối lập, đan xen trong tác phẩm. Tuy nhiên những phân đoạn như vậy thường không được kéo dài bởi về mặt nguyên tắc, khả năng “đánh theo nhau” được coi là một trong những tiêu chí thể hiện tài năng của các đội chiêng khác nhau trong vùng. Đội chiêng được đánh giá cao thì các thành viên mỗi nhóm nhịp điệu phải chơi đồng tiết tấu đều tăm tắp. Hơn thế nữa, sự đối chọi 2 nhóm tiết tấu đan xen phải thật nhuần nhuyễn như một sự sắp đặt có chủ ý từ trước. Dàn chiêng nổi tiếng ở buôn Kơ Siêr (Tp. Buôn Mê Thuột) là một trong số những đội chiêng như vậy.

Đó là tất cả những gì có thể nhận thấy trong kỹ năng ứng tác của người Ê đê Kpă. Những nguyên tắc đó dường như hình thành một cách tự nhiên trong truyền thống để tránh sự rối rắm của bài bản. ở đây, sự thính nhạy về âm thanh của các nghệ nhân Ê đê Kpă là điều thật đáng khâm phục. Bởi trong thực tế, do phương pháp kích âm bằng dùi cứng nên cường độ của dàn Ching Shar K’nah là rất lớn với thành phần âm sắc vượt trội của tiếng động. Vậy mà trong khối âm thanh đồ sộ, dữ dội đó, các nghệ nhân vẫn cảm nhận, xác định được mô hình tiết tấu của các chiêng thành viên. Điều đó có lẽ do phương pháp kích âm ngắt tiếng độc đáo nên âm thanh ở đây mặc dù có cường độ lớn song âm sắc vẫn gọn gàng, rành mạch.

Có thể nói, khi phân ra 2 nhóm chức năng nhịp điệu, nghệ nhân Ê đê Kpă đã có chủ ý tạo lập một cuộc “đối thoại” tiết tấu giữa hai nhóm biểu tượng “ngắt tiếng” và “mềm tiếng” trong dàn Ching Shar K’nah. Và, cao trào của cuộc “đối thoại” đó được thể hiện rõ nhất ở những phân đoạn giai điệu đối đáp nổi trội trong bài bản. Đó là những nét giai điệu 2 hay 3 âm chủ yếu được tạo bởi sự kết hợp giữa các chiêng trên cùng là: Hrih Điết, H’lue H’liăng và H’lue Khơk. Theo các nghệ nhân, có 3 mẫu giai điệu cơ bản mà họ gọi là 3 loại nhịp[1] đối đáp, dựa trên nhân tố chiêng H’lue H’liăng- chiêng nhỏ của nhóm 2 chiêng (biểu tượng “mềm tiếng”).

+Loại thứ nhất:

+Loại thứ hai:

+Loại thứ ba:

 Cũng có khi nét giai điệu đối đáp lại do 3 chiêng dưới đảm nhiệm, dựa vào Ana H’liăng (chiêng lớn của nhóm 2 chiêng) làm nhân tố:

Điều đặc biệt, các nghệ nhân thường móc nối nét giai điệu này với loại nhịp thứ nhất, lập thành một đường tuyến chạy lướt qua cả 5 chiêng theo các chiều zigzag lên xuống, như một cuộc đối thoại đủ cả 5 thành viên[2]. Đây là nét giai điệu đối đáp dài nhất mà chúng tôi đã ghi nhận.

 Nhìn chung, những nét giai điệu nêu trên đều thống nhất ở sự chia đều tần suất các cung bậc cấu thành. Về cơ bản, mỗi chiêng chỉ chơi một chùm 4 âm với tiết tấu đồng độ giống hệt nhau, như sự thống nhất một môtíp ghép nối. Bởi vậy khi vận hành, chúng hợp thành một đường tuyến có dáng vẻ thật đặc biệt, nghe đều đều như tiếng đá lăn trên triền núi, hoặc giả như tiếng vọng nối tiếp nơi thung lũng rừng xanh. Có thể thấy, để đảm bảo cho sự đối đáp, các thành viên phải sắp xếp theo trật tự đan xen lần lượt “ngắt tiếng- mềm tiếng- ngắt tiếng- mềm tiếng…”, là nguyên tắc đối xứng giữa 2 nhóm chiêng. Điều đó có nghĩa khi luân chuyển, 2 chiêng cùng nhóm nhịp điệu không bao giờ được đi liền nhau mà buộc phải cách qua một chiêng khác nhóm. Có thể khẳng định, đây là một kiểu dạng giai điệu chỉ có ở nghệ thuật cồng chiêng tộc người Ê đê Kpă.

Đó là những mẫu giai điệu đối đáp cơ bản, dễ lập thành trong diễn tấu. Thế nhưng trên thực tế, các nghệ nhân thường có sự “chế biến” ít nhiều nhằm tạo ra những biến dị phong phú hơn. ở đây, kiểu dạng giai điệu như thế nào là hoàn toàn tùy thuộc vào dạng hình đơn vị tiết tấu mà các chiêng phối hợp. Tất nhiên, so với dạng giai điệu cơ bản thì kiểu giai điệu này khó chơi hơn rất nhiều. Ví dụ:

 hoặc:

Nhìn chung, dù dưới dạng nào, các chiêng nhóm “ngắt tiếng” bao giờ cũng đóng vai trò ra đề tiết tấu cho mô hình đối đáp. Trong đó, vai trò “khơi mào” chủ yếu thuộc về Hrih Điết (chiêng cao nhất), đôi khi là Mđuh Khơk. Còn 2 chiêng nhóm “mềm tiếng” (H’lue H’liăng và Ana H’liăng) đóng vai trò đáp đề, hình thành thế đối xứng “ngắt tiếng” trước, “mềm tiếng” sau. Trên thực tế, việc sử dụng kiểu dạng giai điệu nào, xếp sắp trước sau ra sao là hoàn toàn tùy thuộc vào sở thích, tài năng và sự sắp đặt của từng đội chiêng. Đương nhiên với những tay chiêng thuộc vào hàng cao thủ thì họ luôn thiết lập những sơ đồ thật đặc biệt để sao có thể bộc lộ rõ được năng lực nghệ thuật của đội mình.

Về cơ bản, mỗi phân đoạn đối đáp trong tác phẩm thường chỉ sử dụng một loại nhịp– tức một môtíp giai điệu đối đáp 4 nhịp (2/4) hoặc những biến dị của nó làm cơ sở. Và độ dài của phân đoạn sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào sự nhắc lại của môtíp giai điệu này. Trên thực tế, tùy theo sự lập thành của từng đội chiêng (hoặc do tùy hứng tại chỗ) mà sự lặp lại có thể lên tới vài ba lần. Nhưng nhìn chung, phổ biến nhất là kiểu nhắc lại một lần. Trong nhịp thứ 3 của lần lặp lại, Hrih Điết không bỏ nhịp như trước nữa mà gối đầu ngay- tức chơi chập tiết tấu với H’lue Khơk phía dưới. Và, môtíp giai điệu 4 nhịp thu hẹp còn 2 nhịp, cao trào đối đáp kết thúc.

Lập tức, Mđuh Khơk và Ana H’liăng bắt nhịp ngay với những mô hình đường tuyến “yểm trợ”, tất cả tạo lập một mô hình giai điệu phức hợp 2 nhịp. Mô hình này luôn được lặp lại trong một thời đoạn nhất định, nhiều khi nhắc lại tới 5- 6 lần.

Có thể coi môtíp giai điệu đối đáp và sự biến chuyển của nó chính là những phân đoạn nổi trội trong cấu trúc. Trên thực tế, nó thường được dùng để mở đầu và xuất hiện nhiều lần giữa tác phẩm với giá trị như một đoạn chen. Các đoạn chen này thường xuất hiện một cách hết sức ngẫu hứng. Để chuẩn bị cho nó, theo lệnh của “bà chủ- nhạc trưởng” Hgơr, “kẻ trước, người sau”, cả 5 chiêng đi giai điệu phải tạm ngưng nghỉ để tạo một khoảng trống nhất định, trong khi các chiêng cồng phần đệm vẫn giữ nguyên nhịp điệu đồng độ của mình. Tiếp ngay sau phân đoạn đối đáp là sự luân chuyển tiếp nối của các mô hình biến đổi. Đó là sơ đồ cấu trúc phổ biến, song với những tay chiêng cao thủ thì các phân đoạn đối đáp thường được sắp đặt và tính toán kỹ lưỡng. Ai trước, ai sau, ra vào bao nhiêu nhịp, tất cả đều được thống nhất, tập dượt nhuần nhuyễn. Có hai kiểu xuất hiện đặc trưng như sau:

+Một là toàn bộ dàn Ching Shar K’nah đột nhiên ngưng bặt trong giây lát, tạo một khoảng phân ngắt rồi giai điệu đối đáp mới xuất hiện. Chính sự ngắt đoạn tác phẩm như vậy cũng là một kiểu dạng riêng, rất hiếm thấy trong cấu trúc bài bản cồng chiêng nói chung.

+Hai là giai điệu đối đáp xuất hiện “đột ngột” trong khối âm thanh khồng lồ. Trong trường hợp này, nó luôn tạo một cảm giác thán phục cho người thưởng thức.

Trên thực tế, một đội chiêng tài năng bao giờ cũng diễn tấu M’ni K’tôe với sự ổn định, mạch lạc. Các nghệ nhân cho biết họ phải rất hiểu ý nhau trong sự phối hợp thiết lập các mô hình tiết tấu, sao cho tạo thành hai đường tuyến thật ăn nhập và đồng đều. Đây dường như là một tiêu chí quan trọng thể hiện tài năng, đẳng cấp của một đội chiêng Ê đê Kpă. Đương nhiên, khi ta thưởng thức những đội chiêng như vậy thì cảm giác luôn thật đáng nể bởi những trật tự không ngờ trong “dãy núi” âm thanh đồ sộ ấy!

Đến đây, chúng ta đã thấy được cấu trúc mở của M’ni K’tôe. Đó là nguyên nhân kiến tạo vô số những dị bản của bài chiêng này. Và, có thể hiểu tại sao người ta coi nó như một “sân chơi” nghệ thuật, là cơ hội để các cá nhân có thể bộc lộ tối đa tài năng của mình trước cộng đồng. Ngoài M’ni K’tôe, ngay bài Ngă Yăng K’êa cũng có một hình thức diễn tấu ngẫu hứng tương tự nhưng mang tính ổn định hơn bởi sự biến đổi không nhiều. Như vậy, đã có thể khẳng định bài chiêng Ê đê Kpă là một kiểu dạng nghệ thuật đặc biệt mà chỉ có những ai thực sự am hiểu tới độ sành điệu mới cảm nhận được sự quyến rũ của nó. Một vẻ đẹp mờ ảo, ẩn hiện của vô số những nét giai điệu ngắn đan xen, kết nối, hòa quyện và biến hóa trong một dòng thác âm thanh dữ dội, mãnh liệt. Khái niệm bài chiêng ở đây rõ ràng phức tạp hơn nhiều so với các tộc người khác trong vùng văn hóa nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Tất nhiên điều đó một mặt khiến cho người ngoài truyền thống khó nắm bắt các tác phẩm nhưng một mặt, nó lại xác lập sự độc đáo duy nhất của nghệ thuật cồng chiêng Ê đê Kpă. Cũng từ đó, sẽ thấy mỗi đội chiêng nơi đây là một tập thể gắn kết chặt chẽ với quá trình tập luyện riêng rẽ. Đặc biệt, các thành viên bộ phận 5 chiêng cấu tạo giai điệu phải hết sức hiểu ý nhau để có thể chơi đồng tiết tấu trong sự ngẫu hứng biến đổi. Người ngoài muốn tham gia cùng nhất thiết phải có thời gian tập luyện với cả đội, khó có thể hòa nhập tức thì. Đây cũng là điểm khác biệt so với nghệ thuật cồng chiêng các tộc người trên Tây Nguyên nói chung.

*

Tóm lại, về cơ bản, đã có thể thấy được sự đa dạng và phong phú của hệ thống bài bản cũng như tính độc đáo trong nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên. Thử căn cứ vào một số tiêu chí khác nhau, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra điều đó. Chẳng hạn nhìn vào số lượng mỗi biên chế, có thể phân ra làm hai dạng.

+Loại đơn giản: bao gồm các biên chế 2 chiêng của Brâu, Chu ru, Cơ ho, Mạ và các biên chế 3 cồng của Chu ru, Ba na, Gia rai, Xê đăng. Nhìn chung, những biên chế này thiên về kiểu dạng nhạc đơn tuyến. ở đây, tuy số lượng bậc âm hạn chế nhưng tư duy hòa âm đã hình thành rõ nét. Trong đó, có thể tìm thấy những nguyên tắc nghệ thuật tinh tế, tạo nên những hiệu quả âm nhạc độc đáo. Như trường hợp dàn chiêng Tha người Brâu, dàn chiêng đôi người Chu ru, Cơ ho, Mạ là những ví dụ điển hình.

+Loại phức tạp: bao gồm các biên chế 6 chiêng của Mnông, Mạ, Cơ ho, Chu ru, Ê đê Kpă; biên chế 6 cồng Êđê Bih; biên chế 7 chiêng Xơ Teng (Xê đăng) các biên chế 8 chiêng bên cạnh biên chế kết hợp (3 cồng+ 8 chiêng) của Ba na, Gia rai, Xê đăng và biên chế 9 chiêng cồng của Ê đê Kpă. Đây là những biên chế biểu hiện rõ vai trò âm nhạc chủ điệu với các thành phần chức năng giai điệu phần đệm. Trong đó, sẽ thấy sự đề cao thủ pháp hòa âm với nhiều cấp độ sáng tạo khác nhau, hình thành nên đặc tính đa tuyến, một trong những biểu trưng của nhạc cồng chiêng Tây Nguyên. ở đây, chúng tôi cho rằng sự hình thành biên chế kết hợp 3 cồng + 8 chiêng là một hiện tượng đỉnh cao. Với sự tăng cường tối đa các yếu tố biểu cảm nhạc thanh như số lượng bậc âm, tính đa tuyến phức hợp, âm vực mở rộng, hệ thống các nhạc cụ phụ trợ, biên chế cồng chiêng này luôn có sức biểu cảm lớn, thể hiện một bước phát triển vượt bậc về tư duy nghệ thuật. Trải theo thời gian, sẽ thấy không phải vô cớ mà nó đã trở thành một biên chế kiểu mẫu, được coi như đặc trưng nghệ thuật chung của nhiều tộc người sống ở vùng Bắc Tây Nguyên. Và lẽ đương nhiên, với biên chế tối đa lên tới trên dưới 20 người, đây cũng chính là dàn nhạc lớn nhất trên dãy Trường Sơn hùng vĩ.

Trong vùng nghệ thuật này, bước đầu có thể xếp hệ thống bài bản các dàn 2 chiêng người Chu ru, Cơ ho, Mạ, dàn 3 cồng Chu ru, dàn chiêng Xơ teng (người Xê đăng tên tự gọi) và đặc biệt là 2 bài chiêng dàn Ching Shar K’nah người Ê đê Kpă thuộc vào loại có tính dị bản với những mô hình biến đổi. Còn lại, đại đa số bài bản cồng chiêng đều được cấu trúc theo mô hình cố định. Đây mới chỉ là sự phân loại sơ bộ để chúng ta có thể thấy được phần nào tính đa dạng của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Những nhận định đã nêu chắc hẳn chưa phải là tiếng nói cuối cùng.

Trong toàn bộ các dàn cồng chiêng đã nghiên cứu, sẽ thấy cơ cấu mỗi biên chế đều xác định rõ chức năng nhiệm vụ của từng nhạc cụ thành viên. Điều đó cho thấy các đặc tính nghệ thuật đều được đặt định sẵn trong truyền thống. Giọng điệu xác định, nghệ thuật phối khí với nhóm chức năng giai điệu và phần đệm định hình. Điều đó có nghĩa mỗi mô hình biên chế đã phân tích đều tương ứng với một hiệu quả âm nhạc nhất định- tức một mẫu giọng điệu riêng biệt. Theo đó, hệ thống bài bản ứng với mỗi dàn cồng chiêng đều được thống nhất trên cùng một giọng điệu.

Ngoài ra, ở Tây Nguyên, ngoại trừ sự kết hợp hài hòa giữa dàn 3 cồng và dàn 8 chiêng Ba na, Gia rai, Xê đăng…, hầu như không thấy có quan niệm về nghệ thuật hòa tấu giữa 2 dàn cồng chiêng ở các tộc người. Trong đợt điền dã tháng 5/2004, chúng tôi có chứng kiến 2 dàn chiêng Mnông giao lưu với nhau. Đây là trường hợp cá biệt chỉ thấy có ở tộc người này, nó xuất phát từ tục kết nghĩa giữa 2 buôn làng. Trong đó, không tồn tại các quy chuẩn của nghệ thuật hòa tấu như sự đồng nhất bài bản, thang âm và cữ giọng tương quan. Khi 2 dàn chiêng cùng diễn tấu, mỗi đội chơi một bài khác nhau mà không cần quan tâm đến sự ăn nhập nghệ thuật. Thực tế đó một lần nữa xác định tính độc lập tương đối của mỗi dàn cồng chiêng ứng với mỗi nhóm cư trú trong từng tộc người. Nói cách khác, mỗi dàn cồng chiêng là một đơn vị lớn nhất trong nghệ thuật âm nhạc của đồng bào Tây Nguyên.

THAY CHO LI KT

 

   Qua những phần trình bày và phân tích, đã có thể khẳng định sự phong phú, độc đáo và đa dạng từ toàn bộ đến từng phần của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Từ chủng loại, phương pháp kích âm, biên chế, thang âm cho đến hệ thống bài bản và nghệ thuật diễn tấu, chúng ta sẽ bắt gặp những gì của một dải nghệ thuật đa diện từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều, từ đơn tuyến đến đa tuyến… Trong đó, sẽ thấy cả những lớp cắt lịch sử của tiến trình phát triển một nền âm nhạc dân tộc. Đặc biệt là những lớp cắt in đậm dấu ấn ở thời kỳ sơ khai, như một bức chân dung âm nhạc thuở bình minh trên Trường Sơn – Tây Nguyên.

Cần thấy rằng cồng chiêng vốn có bản chất là khí nhạc. Mà sự phát triển của khí nhạc nói chung luôn được đánh giá ở một tầm cao trong tiến trình lịch sử âm nhạc. Nó giống như sự đánh giá hành vi sử dụng công cụ trong hình thái phát triển của xã hội loài người. Cho đến những năm 60 của thế kỷ XX, Trường Sơn- Tây Nguyên vẫn còn được biết đến như một vùng đất hoang sơ. Đời sống nông nghiệp nương rẫy chủ yếu dựa trên cơ sở kỹ thuật canh tác nguyên thủy. Vậy mà trên nền tảng ấy đã sản sinh ra một giá trị nghệ thuật khí nhạc vô cùng đặc sắc mang tên cồng chiêng, thể hiện bước phát triển vượt bậc trong nội bộ nền âm nhạc các tộc người. Điều đặc biệt, giá trị khí nhạc đó đã định hình như một nền nghệ thuật đồ sộ, có sức chi phối lớn trong cả một vùng văn hóa điển hình. Ngày nay, trong hầu khắp các cộng đồng tộc người Tây Nguyên, thang âm cồng chiêng luôn được coi là thanh mẫu cho nhiều loại nhạc khác. Hầu hết các nhạc cụ định âm trong đời sống âm nhạc cổ truyền của đồng bào đều chỉnh âm theo dàn cồng chiêng, từ tơ rưng, klôông pút, goong (tinh ninh), kơni cho đến các loại sáo, khèn… Như vậy, mặc dù đã từng lấy mẫu thanh âm từ nhạc cụ họ hơi song trải theo thời gian, mỗi dàn cồng chiêng đã mặc nhiên trở thành một bộ thang âm- giọng điệu mẫu cho hệ thống các nhạc cụ trong cộng đồng. Điều đó nói lên tầm quan trọng bậc nhất của nghệ thuật cồng chiêng trong vai trò bảo lưu và định hướng nhiều giá trị âm nhạc cổ truyền trên Tây Nguyên. Có thể thấy rõ mối quan hệ hai chiều giữa cồng chiêng và các nhạc cụ khác thông qua việc dùng chung bài bản hay mô phỏng thanh âm của nhau.

ở đây, mọi giá trị của âm nhạc cồng chiêng đều nằm trong mối quan hệ tương đồng của một vùng văn hóa xác định. Đứng về mặt quy luật lịch sử, nói chung các tộc người có cùng địa bàn cư trú, cộng cư lâu đời thường chịu ảnh hưởng lẫn nhau trong văn hóa nghệ thuật. Theo dòng thời gian, họ có những sự lựa chọn chung nhất từ quan niệm, tư duy, triết lý nghệ thuật đến mỹ cảm âm thanh. Với sự hình thành hai vùng địa văn hóa nghệ thuật Bắc và Nam, cồng chiêng Tây Nguyên đã khẳng định vị trí đặc biệt của mình trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.

Bên cạnh chức năng nghệ thuật, cồng chiêng cũng là thứ nhạc cụ có giá trị vật chất lớn. Với bản chất nhạc cụ nghi lễ mang sức mạnh thiêng, mỗi bộ cồng chiêng luôn được coi như một tài sản quý giá trong đời sống của các cộng đồng tộc người Tây Nguyên. Có những bộ mang giá trị tương đương với 2 con voi, nhiều con trâu, hàng nghìn cây tre hay một tá người tù binh (dấu vết thời kỳ chiếm hữu nô lệ)… Tất nhiên, trải theo thời gian, những bộ cồng chiêng đã thực sự trở thành vô giá trong tâm thức các tộc người. Nói vậy để thấy bên cạnh sự phong phú, đa dạng và độc đáo của riêng mình, cồng chiêng còn đóng vai trò trung tâm trong nền văn hóa nghệ thuật của đồng bào Tây Nguyên.

Như đã biết, đặc tính hợp tấuhòa tấu của âm nhạc cồng chiêng đã xác định tính diễn xướng tập thể của nền nghệ thuật đặc sắc này. ở đây, mỗi nhạc công chỉ là một đơn vị giai điệu. Để duy trì nhạc lễ của ông bà tổ tiên, không có cách nào khác, các cá thể “buộc” phải liên kết với nhau thì mới mong vận hành được một dàn cồng chiêng. Qua đó, có thể nói đặc tính diễn xướng tập thể của cồng chiêng đã góp phần chi phối tính cố kết cộng đồng ở từng nhóm cư trú. Đó chính là mối quan hệ tương tác giữa nghệ thuật cồng chiêng với cộng đồng công xã trên Trường Sơn – Tây Nguyên trong dòng chảy lịch sử. Để bảo tồn nó, rõ ràng phải duy trì được sự tiếp nối của cả một lực lượng nghệ nhân theo từng thế hệ. Song song với đó là việc duy trì sự giáo dục cộng đồng để truyền thống thưởng thức văn hóa nghệ thuật cổ truyền trong từng nhóm cư trú không bị đứt đoạn. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến vấn đề này bởi tầm quan trọng của nó đối với sự sống còn của các giá trị nghệ thuật cổ truyền đích thực.

Thời gian qua, hiện tượng chênh phô của các dàn cồng chiêng cổ truyền đã và đang là một thực trạng đáng lo ngại. Như đã trình bày, thông thường trước mỗi dịp sử dụng, các nghệ nhân chỉnh chiêng thường ngồi thâu đêm suốt sáng để chỉnh âm các chiếc chiêng cồng bị sai lệch so với hệ quy chuẩn thang âm cổ truyền. Hiện nay, theo điều tra sơ bộ, những nghệ nhân có khả năng như vậy không có nhiều. Đáng lo ngại hơn, ở nhiều nơi, giờ đây đồng bào dường như trở nên dễ dãi hơn trước. Chúng tôi đã bắt gặp hiện tượng những dàn chiêng chênh phô khá rõ song vẫn được sử dụng “tự nhiên” trong lễ hội mặc dù các nghệ nhân đều ý thức được sự sai lệch đó.

ở đây, vấn đề chênh phô của một số chiếc trong dàn cồng chiêng là một chuyện rất khó chia sẻ. Người có tai âm nhạc tốt thì bảo là sai song người bình thường thì lại bảo là đúng. Như trong đợt điền dã tại Kon Tum năm 2004 để xây dựng hồ sơ trình UNESCO, khi tôi phát hiện những cái chiêng chêng phô trong một dàn chiêng Xê đăng, một cán bộ nghiên cứu cùng đoàn bảo tôi rằng “dân gian làm gì có chuẩn”, rằng tôi đừng có “áp đặt cái tai chuyên nghiệp” của tôi vào nghệ thuật dân gian để bảo nó sai, rằng “đồng bào chấp nhận là được”! Chỉ đến khi chúng tôi tiến hành kiểm tra dàn chiêng đó cùng với những nghệ nhân uy tín trong cộng đồng thì “cái tai” của tôi mới được xác nhận là đúng! Các nghệ sĩ cồng chiêng gãi đầu gãi tai thừa nhận sự chênh phô của những cái chiêng và bảo rằng họ biết đấy nhưng không có ai chỉnh giúp họ. Cũng trong chuyến điền dã này, ông Giám đốc Sở Văn hóa đã đưa tôi đến 3 làng trong vùng sâu hơn để tìm một bộ cồng chiêng chuẩn mà không có. Các gia đình sở hữu những bộ chiêng cho biết, hiện còn rất ít người biết chỉnh chiêng trong vùng.

Nguyên nhân của thực trạng đáng buồn này theo chúng tôi chính là thói quen dễ dãi thỏa hiệp với sự sai lệch của nghệ thuật nói chung. Thôi thì sai một tí cũng được, chỉ cần chậc lưỡi, thế là xong! Thêm vào đó là sự thiếu hiểu biết một cách căn bản về âm nhạc cổ truyền của những người có trách nhiệm. Trong môi trường âm nhạc dân gian, điều nguy hại là khi giới các cá nhân sành điệu thu hẹp dần thì hệ thống các giá trị đặc sắc của truyền thống sẽ dễ bị mai một. Đây cũng là thực trạng chung của nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam chứ không riêng gì âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên.

Bên cạnh chuyện chênh phô nói chung, việc thay đổi thang âm cồng chiêng cổ truyền cũng là một hiện tượng đáng quan ngại. Trong các đợt điền dã, chúng tôi đã gặp nhiều bộ cồng chiêng cải tiến theo thang bình quân châu Âu ở các nhóm Gia rai, Xê đăng… Thậm chí các chiêng cồng thành viên trong dàn cũng được gọi bằng Do, Re, Mi, Fa, Sol… bởi lẽ cao độ của nó đã “đúng như Tây”! Trong đó, có bộ được dùng như sự thay thế hoàn toàn cho dàn chiêng cổ truyền, kiểu mỗi người chơi một chiếc. Đó là trường hợp ở Chư Păh (Gia Lai). Lúc đầu đón tiếp chúng tôi, các nghệ nhân Gia Rai Aráp đã trình diễn dàn cồng chiêng cải tiến này. Vừa bước xuống ôtô, tôi vội tập trung lắng nghe và thấy hơi là lạ! Lần đầu tiếp xúc mà sao nghe “thang âm chiêng Aráp” thấy ngờ ngợ, quen quen! Đang phân vân thì ông trưởng đoàn cùng đi vỗ vai bảo: “Chiêng Aráp xịn đấy! Tôi từng nghe rất nhiều rồi”. Lòng đầy nghi hoặc, tôi vội tiến hành ngay các thao tác nghiên cứu cần thiết. Sau độ gần nửa giờ đồng hồ, mọi việc đã sáng tỏ, đây không phải là dàn chiêng Aráp cổ truyền mà là dàn chiêng Aráp cải tiến theo hệ Do, Re, Mi… Khi phản ánh với ông cán bộ nọ, ý kiến của tôi bị gạt phắt! Ông ta nói với tôi rằng: “Văn hóa phải phát triển, văn hóa không thể đóng băng, ông không nên đem quan điểm nghiên cứu của ông ra áp đặt cho đồng bào, người ta… chấp nhận chơi nó là nguyên bản rồi!”. Thế là mạnh ai nấy làm, họ cứ việc quay phim chụp ảnh với cái dàn chiêng “lai Tây” trong nghi lễ Mừng lúa mới. Còn tôi thì xách máy ghi âm đi tìm già làng và các nghệ nhân có uy tín, rút cục cũng tìm được dàn chiêng Aráp cổ truyền để nghiên cứu. Té ra do thông tin lẫn lộn, đồng bào tưởng rằng dịp này phải chơi bộ chiêng “mới” để đón khách Hà Nội vào nghiên cứu[3]. Đây âu cũng là một bài học lớn trong cái nghiệp điền dã, khoa học không phải lúc nào cũng dễ chia sẻ! Bộ chiêng cải tiến thứ hai được ghi nhận là ở Ea Hơ Leo (Đắk Lắk). Điều đặc biệt, không chỉ cải tiến thang âm, dàn cồng chiêng này còn thay đổi hẳn phương thức diễn tấu cổ truyền. Cụ thể, các cồng chiêng thành viên được treo lủng lẳng trên một chiếc sào dài, hai người chơi đi bên cạnh, mỗi người gõ bằng 2 dùi như chơi một chiếc đàn vậy. Và người ta gọi đó là Chiêng thanh niên với ngụ ý dành riêng cho giới trẻ(?). Hiện nay, các cán bộ địa phương cho biết theo “nhu cầu thời đại mới”, những dàn chiêng cải tiến đó đã trở nên khá phổ biến. Và chúng thường được đưa đi tham dự các cuộc liên hoan văn hóa văn nghệ cấp huyện, cấp tỉnh hay cấp Nhà nước. Thậm chí trong Festival cồng chiêng 2007, dàn cồng chiêng cải tiến theo Do, Re, Mi… còn được coi như đại diện cho di sản văn hóa cồng chiêng để hòa tấu cùng cái gọi “dàn nhạc giao hưởng”[4]. Người ta đã không ngớt cổ xúy, tung hô rằng đây là “sự kết hợp của cồng chiêng với giao hưởng, của cồng chiêng với nhạc rock để nhận ra những nét tinh túy và phần hồn của âm nhạc cồng chiêng trong đời sống dân cư”, rằng đây là cuộc giao hòa “hoàn toàn xứng đáng” giữa “âm thanh của núi rừng” với “nhạc bác học”(!).

Trên thực tế, có những thang âm cồng chiêng Tây Nguyên rất dễ bị chuyển hóa theo thang âm bình quân châu Âu dưới sự tác động mạnh mẽ của trào lưu “nghệ thuật mới” trong đời sống đương đại. Như trường hợp thang âm những dàn 8 chiêng của Ba na, Gia rai, Xê đăng – một thang âm có cấu trúc khá “thuận tiện” để các “nhà cách tân” biến thành điệu Trưởng của Tây phương. Với ý tưởng “cải biên, cải tiến” để “hiện đại hóa, khoa học hóa” nghệ thuật dân tộc, chúng ta đã và đang tiếp tục Tây phương hóa rất nhiều giá trị nghệ thuật cổ truyền. Đây là hiện tượng đáng lo ngại, bởi nó xuất phát từ một động cơ rất thành tâm là “phát triển và… phát triển”! ở đây, điều mà chúng tôi rất bất ngờ chính là việc đồng bào đã dễ dàng chấp nhận những dàn chiêng “cải tiến” đó. Bởi đứng trên thẩm mỹ nghệ thuật truyền thống, dàn chiêng “lai Tây” lẽ ra phải bị coi là chênh phô. Song có trường hợp, đồng bào vẫn dùng nó diễn tấu các bài chiêng cổ truyền và coi đó là các tác phẩm “truyền thống đích thực”! Lẽ đương nhiên, khi chơi trên những dàn chiêng cải tiến, các bài bản cổ truyền sẽ bị biến dạng hoàn toàn. Và, một thực tế đáng buồn là những nghệ nhân đã quen chơi dàn chiêng “cải tiến” sẽ gặp khá nhiều khó khăn khi quay lại diễn tấu dàn chiêng cổ truyền. Đó âu cũng là điều dễ hiểu!

Như vậy, phong trào “văn hóa mới” với những cây đàn guitare và keyboard… rõ ràng đã bộc lộ những mặt trái với những tác động khó lường. Theo đó, các nhạc cụ khác như đàn goong, tơ rưng, kloong pút, các loại sáo, khèn… và cả những bài dân ca cũng khó thoát khỏi nguy cơ “Âu hóa”. ở đây, phải thấy rằng chính chúng ta, đặc biệt những nghệ sĩ chuyên nghiệp người Kinh ở hệ thống nhạc viện quốc gia và các đoàn văn công cấp tỉnh hay cấp huyện mới là những người “định hướng phát triển” nghệ thuật dân tộc kiểu như vậy. Hàng chục năm qua, tất cả các tiết mục được coi là có “kiểu dáng, bản sắc” Tây Nguyên đều sử dụng 100% các nhạc cụ Tây Nguyên cải tiến theo thang âm bình quân châu Âu. Đúng sai, hay dở chưa bàn nhưng điều đáng nói là những chương trình đó luôn chiếm thế thượng phong trên toàn bộ phương tiện thông tin đại chúng như các đài phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương. Thêm nữa, những giá trị “cải biên, cải tiến” đó lại được các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp quốc gia mang đi giới thiệu khắp nơi trên thế giới như là “nhạc cổ truyền Tây Nguyên” đích thực! Điều đó tất sẽ làm thay đổi nhận thức của đồng bào đến tận gốc rễ. Đặc biệt, khi ngày càng có nhiều nghệ sĩ người Tây Nguyên nổi tiếng nhờ nhạc pop, rock thì sự teo tóp của hệ thống sắc thái nhạc cổ truyền sẽ càng được đẩy nhanh hơn bao giờ! Hiện nay, tiếng kêu cứu cho các giá trị nghệ thuật cổ truyền Tây Nguyên vẫn còn nguyên đó, dù cho chúng ta luôn cố gắng tận tâm tận lực hết mình. Thực trạng âm nhạc là vậy, nhưng thực trạng không gian văn hóa cồng chiêng còn đáng quan ngại hơn.

Trong quá khứ, nghệ thuật cồng chiêng không bao giờ tách rời khỏi các lễ thức văn hóa cộng đồng và luôn được xem như một thành tố của những sinh hoạt đó. Bởi vậy, muốn bảo tồn nghệ thuật cồng chiêng, đương nhiên phải bảo tồn cả những nghi lễ bao chứa nó. Hiện nay, đời sống đã biến đổi, khá nhiều vùng không còn làm nông nghiệp nữa mà chuyển sang trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su… Theo đó, các lễ thức nông nghiệp truyền thống ở nhiều nhóm cư trú tất sẽ biến mất. Mặt khác, sự ảnh hưởng của “đời sống văn hóa mới” vào các nghi thức văn hóa cổ truyền như ma chay, cưới xin… hay nhiều hình thức sinh hoạt cộng đồng khác cũng dễ triệt tiêu các giá trị cổ truyền. Đây quả thực là vấn đề thật nan giải. Liệu có thể “tiếp biến” văn hóa kiểu như thay Mẹ Lúa bằng Mẹ Cà phê hay Mẹ Cao su..?! Chúng ta sẽ làm gì để duy trì các lễ thức gắn bó với rừng trong khi đất rừng của các nhóm cư trú hầu như không còn nữa?! Còn rất nhiều câu hỏi khác được đặt ra ngõ hầu tìm hướng đi để bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng được toàn vẹn như nó vốn có. Trong những biện pháp đã được đề xuất, có lẽ phương án tối ưu là đầu tư bảo tồn tập trung với mô hình làng bảo tàng văn hóa cổ truyền– một mô hình khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.

Chúng tôi, những người may mắn được sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên- một nền nghệ thuật đồ sộ mà mỗi người trong chúng ta không dễ gì có thể tiếp cận bởi nó chỉ diễn ra vào các dịp lễ thức cộng đồng. Hãy cùng nhìn nhận các giá trị đích thực của nó, hãy cùng bảo vệ kho tàng di sản vô giá này! Những tiếng vọng đại ngàn Trường Sơn giờ đây không chỉ của chúng ta mà còn là của cả nhân loại. Đó là tâm nguyện lớn nhất của tác giả gửi gắm ở bài viết này.

                                                               Thăng Long, mùa Hạ 2010


[1]. Nhịp ở đây được hiểu là mô hình tiết tấu mỗi chiêng kết hợp lập thành một mẫu giai điệu.

[2]. Đó là trường hợp đội chiêng buôn Kơ Siêr (tp.Buôn Mê Thuột) trong băng âm thanh Liên hoan âm nhạc châu á – Thái Bình Dương tại Tp. Hồ Chí Minh năm 1990. Xin xem bản tổng phổ ở phần phụ lục 1. Thực tế, dàn chiêng này có cữ giọng cao hơn dàn chiêng buôn K’mrơng Proong A (xã Êa Tu, Tp. Buôn Mê Thuột). Nhưng ở ví dụ này, chúng tôi dịch giọng để tiến hành so sánh.

[3]. Vào thời điểm đó, thiết nghĩ mình mà còn nhận ra cái thang âm cồng chiêng Do, Re, Mi… huống hồ những vị giám khảo UNESCO bên trời Tây, nên tôi quyết tâm đấu tranh bằng được để họ ghi hình thêm dàn cồng chiêng cổ truyền. Rất may là cuối cùng người ta cũng buộc phải chấp nhận. Về sau, tư liệu đó chính thức được đưa vào bộ hồ sơ gửi đi UNESCO Paris.

[4]. Xin lưu ý, cái gọi “dàn nhạc giao hưởng” trong Festival cồng chiêng 2007 chỉ là một dàn dây của Nhạc Viện Tp. Hồ Chí Minh chơi “nhép” (giả vờ kéo đàn trên nền nhạc thu sẵn).

http://www.vienamnhac.org/bai-viet/nhac-co/bai-ban-va-nghe-thuat-dien-tau-cong-chieng-tay-nguyen-tiep-theo-va-het

BÙI TRỌNG HIỀN : Bài bản và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên


Bài bản và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng Tây Nguyên

BÙI TRNG HIN

 PHầN III

BÀI BN VÀ NGH THUT DIN TU

A. CH Đ NI DUNG

Trong dàn chiêng, như đã trình bày, với cơ cấu tối thiểu 6 chiêng, người ta cũng có thể chơi được phần lớn hệ thống bài bản. Điều đó có nghĩa thành phần giai điệu cơ bản trong các bài chiêng chủ yếu được cấu thành bởi 5- 6 âm đầu tiên của dàn 8 chiêng. Như trong ví dụ nêu trên, nếu nhìn theo lối phân bè liền bậc, sẽ thấy tập hợp giai điệu cơ bản của bài chiêng Tơ Nơl như sau:

Theo truyền thống, các chiêng trên cùng thường được chơi trùng lặp với một số chiêng phía dưới, tạo hiệu quả tăng cường, bồi quãng hòa âm cho giai điệu cơ bản. Có thể thấy chiêng số 7 (Kon P’gle) đánh bồi cho chiêng số 4 (P’gle), chiêng số 6 (Kon T’rết) đánh bồi cho chiêng số 3 (T’rết), chiêng số 8 (Kon Neng Neng) đánh bồi cho chiêng số 5 (Neng Neng). Đây được coi như nguyên tắc chung kiến tạo bè phụ trợ trong mọi bài bản của dàn chiêng Ba na[1]. Giới nghệ nhân cồng chiêng gọi phương pháp nghệ thuật này bằng thuật ngữ “đánh theo nhau”. Trong trường hợp này, các cặp chiêng đánh theo nhau đều có mối quan hệ quãng 5 đúng tự nhiên. Có thể thấy 3 chiêng đánh bồi mặc nhiên tạo thành một tuyến giai điệu trên cùng phụ họa cho bè cơ bản.

Trên thực tế, không phải lúc nào các chiêng tăng cường, phụ họa cũng đánh giống hệt chiêng chính. Bởi nhiều lúc, người chơi như cố tình thêm thắt những sáng tạo riêng của họ nhằm làm lệch âm hình tiết tấu chút đỉnh. Hoặc giả đó là do họ không theo kịp tiết tấu của chiêng phía dưới. Có thể tìm thấy điều đó ở ví dụ vừa nêu. Và, chính điều này đã tạo nên những dị biệt nhất định của các mô hình cố định trong sự vận hành giai điệu. Tuy nhiên, trong một tập hợp âm thanh đồ sộ của dàn cồng chiêng thì cũng không dễ gì nhận ra những nét biến dị đó. Và, mô hình cố định vẫn vẻ như “rất mực khuôn thước”!

Nhìn chung ở nhiều tộc người, đa số những cặp chiêng đánh theo nhau thường có mối quan hệ quãng 5 đúng. Thậm chí cá biệt có những bài, các chiêng trong dàn được chia hẳn làm 3 nhóm nhịp điệu cơ bản. Trong đó, các thành viên mỗi nhóm đều có quan hệ kiểu chồng quãng 5 liên tiếp. Đây là trường hợp 2 bài chiêng tang lễ: H’grưmToong T’lơi Choóc Hia Atâu Djai (Khóc vì người chết) trong nghệ thuật cồng chiêng Gia rai Aráp vùng Chư Păh (Gia Lai). Nghệ nhân giải thích rằng bản thân chữ H’grưm đã có nghĩa để chỉ sự phân chia 3 nhóm chiêng chồng quãng 5 liên tiếp[2]. Khi chơi hai bài này, dàn chiêng Gia rai được chia tách như sau:

Lẽ đương nhiên, hiệu quả âm nhạc khi đó thực chất là sự kết hợp liên tiếp của 3 chồng âm theo 3 đơn vị tiết tấu chu kỳ khác nhau. Có thể xem phương pháp cấu trúc bài bản này như một thủ pháp, một ý đồ hòa âm ấn tượng, thể hiện tư duy âm nhạc phát triển của các nhà soạn nhạc dân gian Tây Nguyên.

Trong vùng nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên, việc các chiêng tạo quãng 5 hòa âm được coi là hiện tượng khá phổ biến. Thế nhưng đấy không phải là nguyên tắc “bất di bất dịch” cho mọi bài chiêng. Tùy vào sở thích, các nhóm cư trú còn lập định thêm những kiểu dạng riêng cho hệ thống bài bản của họ. Chẳng hạn, các chiêng “đánh theo nhau” còn có những tương quan quãng 2, quãng 3, quãng 4, quãng 7, quãng 8 và thậm chí quãng 9. Những quy định đó được coi như sở thích nhạc điệu riêng của từng nhóm cư trú, góp phần quan trọng tạo nên sự phong phú và đa dạng cho khuôn diện của hệ thống bài bản. Như trong dàn chiêng Gia rai Aráp vùng Chư Păh, chiêng số 9 (Teng Neng) phải đánh theo chiêng số 3 (T’rớt)- quan hệ quãng 9; chiêng số 8 (Hlinh) đánh theo chiêng số 5 (Dtoal)- quan hệ quãng 5 đúng; còn chiêng số 7 (T’lũi) lại tham gia cấu thành giai điệu chính. Xin xem ở ví dụ dưới đây.

Trích đoạn bài Ite Prâu (dàn cồng chiêng Gia rai Aráp)

Phức tạp hơn, có những bài, chiêng số 7 (T’lũi) vừa tham gia cấu thành giai điệu chính ở phân đoạn này lại vừa đánh theo chiêng số 4 (Dtốt) ở phân đoạn khác, thể hiện một bước phát triển của tư duy sáng tạo bài bản. Ví dụ như trong bài Pet (Pơthi), trước tiên chiêng T’lũi tham gia nét giai điệu chính:

Trích đoạn bài Pet (dàn cồng chiêng Gia rai Aráp)

Thế nhưng ngay phân đoạn sau, nó lại có nhiệm vụ đánh bồi cho chiêng Dtốt – quan hệ quãng 5 đúng:

ở đây, khi “đánh theo nhau”, 2 chiếc chiêng sẽ tạo thành quãng hòa âm, 3 chiếc tạo thành chồng âm hay hợp âm chuyển vận đồng điệu, gia tăng bồi đắp tầng hòa âm giai điệu. Hơn thế nữa, việc các chiêng “đánh theo nhau” còn đồng thời tạo ra nhiều bè giai điệu cùng song song vận hành. Điều đó càng khẳng định rõ tính chất đa tuyến trong nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Ngoài các trường hợp đã nêu, chúng ta sẽ còn gặp kỹ thuật “đánh theo nhau” ở dàn Ching Shar K’nah (Ê đê Kpă) hay dàn chiêng Xơ Teng (Xê đăng Xơ Teng)…

Như đã trình bày, chiêng cồng là nhạc cụ đa âm. Bao giờ bên cạnh âm cơ bản cũng vang kèm song song ít nhất một âm phụ. Do vậy, việc các chiêng chơi đồng tiết tấu để tạo quãng hòa âm (hay chồng âm, hợp âm) là điều hoàn toàn phù hợp với quy luật âm sắc tự nhiên của cồng chiêng. Nói cách khác, tư duy hòa âm của các cư dân trên dãy Trường Sơn được hình thành từ chính bản chất bồi âm đa thanh của cồng chiêng[3]. Như đã trình bày ở phần trước, âm phụ vang rõ nhất của chiêng thường là bồi âm quãng 5 đúng so với âm cơ bản. Điều này lý giải tại sao đa số các cặp chiêng “đánh theo nhau” lại có quan hệ quãng 5 đúng.

Đến đây, chúng ta đã có thể hiểu được mục đích phát triển, tăng cường số lượng thành viên từ cơ cấu tối thiểu 6 chiếc đến cơ cấu tối đa 9 chiếc ở dạng biên chế 8 chiêng vùng Bắc Tây Nguyên. Trong đó, về mặt lôgic, xem ra những bài bản được chơi với cơ cấu 9 chiêng sẽ cho những nét giai điệu phụ họa “đầy đặn nhất”. Thế nhưng, không phải tất cả mọi bài chiêng đều sử dụng cơ cấu này để diễn tấu. Như ở trường hợp nhóm Gia rai ở Chư Păh, có những bài chiêng theo quy định chỉ được chơi 7 chiêng mà thôi. Đó là bài K’păp Toai K’ruh Pơxang(Đón khách đến nhà). Khi chơi bài này, người ta bỏ hẳn chiêng số 8 (H’ling) và chiêng số 9 (Teng Neng). Hỏi về hiện tượng này, các nghệ nhân chỉ cười mà bảo với chúng tôi rằng: “Ông bà mình dạy thế”!

Bên cạnh dụng ý bồi đắp, làm đầy đặn hòa âm phụ họa cho giai điệu chính, cũng có khi việc gia tăng số lượng chiêng lại nhằm mục đích khác. Trường hợp mà chúng tôi muốn nói đến chính là dàn 8 chiêng Xê đăng Xơ Teng (chiêng Hlêng). Như vừa trình bày, cả 2 dàn 8 chiêng của Ba na và Gia rai đều sử dụng kỹ thuật đánh theo nhau để tạo độ dầy hòa âm và tăng cường bè phụ cho giai điệu cơ bản. Thế nhưng trong dàn chiêng Hlêng mà chúng tôi đã tiếp cận thì lại khác. Các chiêng phía trên không hề đánh theo tiết tấu những chiêng phía dưới mà tham gia vào việc cấu tạo giai điệu chính với vai trò độc lập. Và như thế, chúng được “thêm vào” hẳn với mục đích chính là mở rộng âm vực cho giai điệu bài bản. Theo đó, trong đường tuyến giai điệu ở đây, những quãng hòa âm hình thành không nhiều. Xem ra “công việc” của những người chơi chiêng vì thế cũng “nhàn nhã” hơn. Ví dụ:

Trích đoạn tổng phổ bài Kăn Zăng (dàn cồng chiêng Xê đăng Xơ Teng)

Hơn thế nữa, trong biên chế kết hợp, do dàn 3 cồng (Goong Kăn) không dùng thêm cồng tăng cường (tức không có phần hòa âm đệm) nên ở đây, thành phần hòa âm bài bản lại càng “mỏng” hơn nhiều so với các dàn cồng chiêng Ba na và Gia rai. Nhưng bù lại, nét giai điệu chính ở đây có âm vực rộng hơn và hiện hình rõ nét bởi không có những đường tuyến song song đan xen. Như thế, phần giai điệu dàn chiêng Hlêng có xu hướng nghiêng về kiểu dạng nhạc đơn tuyến. Đó chính là nét dị biệt góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng trong mối quan hệ tương đồng của các biên chế cồng chiêng vùng Bắc Tây Nguyên.

Từ các ví dụ nêu trên, đã có thể thấy về mặt thời gian, mô hình cố định trong bài bản là một tập hợp những đơn vị tiết tấu chu kỳ của mỗi chiếc cồng chiêng. Nói cách khác, mỗi thành viên sẽ chơi một mô hình tiết tấu nhất định, lặp đi lặp lại đến hết bài. Chẳng hạn, trong bài Tơ Nơl (dàn cồng chiêng Ba na  Kon Kđe), sẽ thấy rõ đơn vị tiết tấu các chiêng như sau:

Như đã trình bày, do bản chất dàn cồng chiêng là sự hợp tấu nên các mô hình tiết tấu đơn vị thành viên cần phải khác nhau, tạo sự so le sao cho các cao độ hợp thành giai điệu. Việc đảm bảo tính chính xác của các đơn vị tiết tấu là nhiệm vụ quan trọng của mỗi thành viên trong dàn cồng chiêng. Đặc biệt nhóm các chiêng lập thành tuyến giai điệu cơ bản, nếu chơi lệch, dạng hình của giai điệu sẽ thay đổi tức thì. Riêng một vài chiêng ở vị trí phụ trợ cho giai điệu chính thì cũng có thể biến dị tiết tấu chút đỉnh. Đó chính là quy luật ghép nối, tạo dựng bài bản ở đây.

Từ đó, có thể thấy bên cạnh nét giai điệu chung, việc nghệ nhân thuộc bài bản cũng tức là nắm vững các đơn vị tiết tấu chu kỳ mỗi chiêng trong mô hình cố định. Nói nôm na, mỗi người phải thuộc đường tuyến của “một nốt nhạc” thì mới có thể tham gia diễn tấu, lập thành giai điệu. Như thế, xem ra việc tiếp thu, lưu truyền kho tàng bài bản cồng chiêng khó hơn nhiều so với các nhạc cụ thông thường. Trên thực tế, những nghệ nhân tài giỏi là những người có khả năng chơi được mọi chiêng thành viên. Điều đó có nghĩa họ nắm bắt và diễn tấu được bất kỳ một đơn vị tiết tấu nào trong mô hình cố định. Như thế mới được xem là thuộc lòng các bài chiêng một cách toàn diện nhất. Đương nhiên trong môi trường cồng chiêng, không phải ai cũng dễ dàng có ngay được năng lực nghệ thuật đó. Chẳng hạn như nghệ nhân Rơ Châm B’lớt mà chúng tôi đã có lần nhắc đến. Anh bắt đầu học đánh chiêng với cha mình từ năm 10 tuổi song phải đến năm 18- 19 tuổi mới có thể diễn tấu được hết các chiêng trong dàn.

Trong mỗi đội cồng chiêng, nói chung không phải ai cũng nắm vững đơn vị tiết tấu bài bản của các chiêng thành viên. Thường thì họ chia nhau ra, mỗi người chỉ chơi một số chiêng nhất định. Trong đó, những người giỏi đương nhiên phải “gánh vác” những chiêng có đơn vị tiết tấu phức tạp nhất trong từng bài. Nếu quan sát kỹ, ta sẽ thấy đó là những bậc âm hay xuất hiện nhiều ở các vị trí nhấn lệch trong đường tuyến giai điệu. Việc diễn tấu nó đòi hỏi người chơi phải có cảm giác nhịp điệu thật nhanh nhạy, vững chắc. Và, mỗi một đội cồng chiêng luôn phải có một số người tài năng như vậy. Đây là thực tế chung của những dàn chiêng có kết cấu giai điệu nhiều âm với hệ thống bài bản phong phú. Nó thể hiện mối quan hệ giữa số bậc thang âm, hệ thống bài bản và kỹ thuật diễn tấu.

ở vùng Bắc Tây Nguyên, mỗi biên chế cồng chiêng kết hợp (3 cồng + 8 chiêng) đều có thể bao chứa cả một kho tàng bài bản đồ sộ. ở vùng Nam Tây Nguyên, tuy số bậc âm ít hơn nhưng các dàn 6 chiêng chi đấm cũng có thể kiến tạo một hệ thống bài bản thật phong phú. Trong đó, nhiều nhóm cư trú có số lượng bài chiêng khá lớn. Như trường hợp nhóm tộc người Mạ ở boon Bơđăng (thôn 2, Lộc Bắc, Bảo Lâm, Lâm Đồng) vẫn còn sở hữu tới trên 20 bài chiêng. Nữ nghệ nhân Ka Hang[4] được coi là người giỏi nhất ở nơi đây. Chị đã khiến cho nhiều nghệ nhân nam trong vùng phải nể phục vì tài năng của mình. Chính Ka Hang là người điều khiển dàn chiêng cho chúng tôi thu thanh. Ai không thuộc đơn vị tiết tấu của mô hình cố định, Ka Hang liền xướng lên làm mẫu. Nếu tập một lúc mà người kia vẫn không thể hiện được thì chị vào chơi thay ngay, bất kể đó là chiêng nào.

Nhân đây, cũng xin nói thêm, việc ý thức được mỗi đơn vị tiết tấu hoàn toàn tùy thuộc vào trí nhớ và tài năng của các thành viên dàn cồng chiêng. Thực tế cho thấy, với những bài bản kết cấu bởi những mô hình cố định dạng ngắn và trung bình thì việc nắm bắt các đơn vị tiết tấu tương đối dễ dàng. Nhưng đối với những bài có kết cấu mô hình cố định kéo dài, việc ý thức đơn vị tiết tấu mỗi chiêng thành viên lại được hiểu theo chiều cạnh khác. Các nghệ nhân khi đó phải thuộc lòng đến mức nhuần nhuyễn nét giai điệu của bài bản. Họ phải tập trung lắng nghe toàn bộ và từng phần đường tuyến giai điệu vận hành để có thể gõ chiêng của mình đúng lúc, đúng chỗ. Nhiều trường hợp, trong tuyến giai điệu kéo dài chỉ xuất hiện một đôi lần cao độ một chiêng nào đó. Thành thử người chơi chiếc chiêng này luôn phải căng tai chờ đợi “đến lượt”. Bởi họ chỉ cần “vào trượt” là ảnh hưởng ngay lập tức đến khuôn diện bài bản. ở đây, việc ý thức đơn vị tiết tấu chu kỳ được thay thế bằng việc ý thức vị trí cao độ trong bước đi của đường tuyến giai điệu.

Những đặc điểm đó khiến cho các thành viên dàn cồng chiêng buộc phải có trí nhớ tốt kiểu “nhập tâm” và luôn có độ tập trung cao khi diễn tấu. Cái khó ở đây là việc phải nhớ và thể hiện được “vị trí” của mình- tức đơn vị tiết tấu trong mô hình cố định. Chính đặc điểm này đã xác định vai trò đặc biệt quan trọng của tiết tấu trong âm nhạc cồng chiêng. Bởi vậy, cũng có người nhận định rằng cồng chiêng Tây Nguyên là âm nhạc tiết tấu. Tuy nhiên đấy chỉ là cách nhìn chia tách từng phần ở góc độ người biểu diễn. Còn về bản chất, cồng chiêng vẫn là những nhạc cụ định âm với hệ thống cao độ xác lập.

Có những trường hợp như ở nhóm Mnông Prâng (Đắk Nông), khi đang chơi một bài nào đó, giữa chừng, thay vì đấm chiêng, nghệ nhân chỉ dùng lưng ngón tay gõ “cành cạch” vào mặt chiêng. Kẻ trước người sau, vẫn đảm bảo giữ nguyên các mô hình tiết tấu đơn vị mỗi chiêng trong bước đi đều đặn, tạo nên một phân đoạn âm nhạc tiết tấu đơn thuần. Rồi sau đó, vẫn trên nền tiết tấu chu kỳ, họ lại tiếp tục đấm chiêng tạo cao độ nối lại đường tuyến giai điệu. Trong diễn biến của bài bản, đứng về mặt cấu trúc, kỹ thuật diễn tấu này tạo nên những đoạn chen phân ngắt khá độc đáo. Theo điều tra ban đầu, đây là một kiểu chơi chiêng khá phổ biến ở tộc người Mnông. Ví dụ:

Bài Chêng Ngăn (dàn chiêng buôn Tinh, xã Quảng sơn, huyện Đắk Nông):

Cũng ở những tộc người sử dụng dàn 6 chiêng chi đấm vùng Nam Tây Nguyên, như đã giới thiệu ở phần trước, mỗi dàn chiêng ứng với mỗi nhóm cư trú là một cấu trúc thang âm riêng biệt. Bởi vậy, các dàn chiêng đương nhiên sẽ biểu cảm nhiều giọng điệu khác nhau ứng với những kiểu dạng thang âm khác nhau. Theo đó, đứng về mặt số lượng, diện mạo âm nhạc nói chung của nghệ thuật chiêng vùng Nam Tây Nguyên thật phong phú và đa dạng. Hơn thế nữa, trong môi trường nhạc chiêng nơi đây còn tồn tại một quan niệm về bài bản rất đặc biệt. Như các dàn chiêng tộc người Mnông là những ví dụ điển hình.

Chẳng hạn bài Tát Ie (Gà gáy), 2 đội chiêng Mnông Nông (Trường Xuân, Đắk Song, Đắk Nông) của 2 buôn khác nhau cùng chơi bài này. Như đã biết, mỗi bộ chiêng là một hàng âm thanh khác biệt. Do vậy, khi ta nghe sẽ thấy 2 bài Tát Ie là 2 hệ thống đường tuyến giai điệu hoàn toàn khác nhau. Thế nhưng nếu nhìn vào các đơn vị tiết tấu của mỗi chiêng thành viên theo thứ tự, sẽ thấy chúng lại gần như trùng khớp. Cụ thể, âm hình tiết tấu chiêng T’rê bộ này giống với chiêng T’rê bộ kia và ngược lại, âm hình tiết tấu chiêng T’ru bộ kia chính là âm hình tiết tấu chiêng T’ru bộ này… Hãy xem bảng đối sánh dưới đây:

Hiện tượng này có nghĩa đứng về mặt tiết tấu, mô hình cố định của 2 bài Tát Ie trùng lặp với nhau. ở đây, hãy tưởng tượng nếu chúng ta thuộc đơn vị tiết tấu của một chiếc chiêng nào đó thì sẽ có thể chơi Tát Ie cùng với các nghệ nhân của cả 2 nhóm. Như thế, mỗi bài chiêng hẳn đã được đồng bào ghi nhớ như một bài tiết tấu, ghép vào bộ chiêng nào cũng được, miễn là thang âm của bộ chiêng đó được cộng đồng chấp nhận. Trên thực tế, cả 2 nhóm nghệ nhân đều nhận diện được bài chiêng của nhau. Điều đó có nghĩa sự khác nhau về giai điệu giữa 2 bài Tát Ieđối với họ “không thành vấn đề”!

Chúng ta sẽ còn gặp hiện tượng này ở các bài chiêng cùng tên khác nữa. Đặc biệt hơn, người ta còn có thể sử dụng 2 bộ chiêng khác nhau để cùng diễn tấu các bài bản ngay trong nội bộ một nhóm cư trú. Như đội chiêng Mnông Prâng ở buôn Tinh (Đắk Nông) là trường hợp điển hình. Trong dịp ra Hà Nội tháng 10/2004, họ sử dụng một dàn chiêng có cấu trúc thang âm khác hẳn với dàn chiêng mà họ đã biểu diễn cho chúng tôi thu thanh hồi tháng 4 năm đó. Mọi chuyện diễn ra giống hệt như trường hợp bài Tát Ie vừa mô tả. Một bài bản với các đơn vị tiết tấu chu kỳ không đổi, 2 dàn chiêng đã biểu cảm hai tính chất âm nhạc khác nhau hoàn toàn. Hãy xem mô hình cố định bài Chêng Ngăn ứng với hai dàn chiêng trong ví dụ dưới đây:

Điều đặc biệt, không chỉ riêng nghệ thuật chiêng Mnông, hiện tượng nêu trên còn tồn tại ở các tộc người khác trên vùng Nam Tây Nguyên như Mạ hay Cơ ho. Đặc biệt ở tộc người Cơ ho, quan niệm “bài bản” đó còn thấy có ở các nhạc cụ khác nữa. Như trường hợp khi đối chiếu 2 bài Pep Kon Jun[5] được chơi bởi dàn 6 chiêng và Ching Prot[6] (một bộ nhạc cụ bằng tre họ hơi chi vòm), cũng sẽ thấy đó là 2 bài Pep Kon Jun có giai điệu khác nhau nhưng các đơn vị tiết tấu chu kỳ lại giống hệt nhau. Nguyên nhân là bởi thang âm bộ Ching Prot có cấu trúc khác hẳn với thang âm dàn 6 chiêng. Và, người ta vẫn gọi cả 2 bài là Pep Kon Jun! Hay như trường hợp mà chúng tôi đã tiếp cận trong một tư liệu vang của người Pháp[7]. Các nghệ nhân Cơ ho Lát trước khi diễn tấu mỗi bài chiêng đều xướng âm nét giai điệu chính (tức mô hình cố định) của nó. Và, kết quả vẫn tương tự như những gì mà chúng tôi vừa trình bày, giai điệu nghệ nhân hát một đàng, giai điệu dàn chiêng đi một ngả, chỉ giống nhau về tiết tấu mà thôi!

Như vậy, đối với các cư dân vùng Nam Tây Nguyên, sự định dạng giai điệu bài chiêng (ít nhất là như vậy) dường như là điều người ta chẳng quan tâm mấy?! Hay nói cách khác, ở nơi đây, tư duy tiết tấu là điều quan trọng hơn cả. Qua những gì đã khảo sát, có thể thấy đồng bào chủ yếu chỉ nhận diện bài chiêng như một “bài tiết tấu” với những dạng hình âm điệu khác nhau. Trong cái “triết lý bài bản” đó, vấn đề quan trọng chỉ là việc mỗi thành viên của “gia đình mẫu hệ” 6 chiêng phải chơi chuẩn xác những đơn vị tiết tấu chu kỳ. Có thể nói, đây là lối tư duy bài bản hết sức khoáng đạt và độc đáo. Nó đã khiến chúng tôi không khỏi kinh ngạc và sửng sốt khi hiểu được vấn đề. Thử đặt địa vị vào vị trí của đồng bào, sẽ thấy khi chơi bài chiêng nào đó thì chiêng Con út phải đánh thế này, chiêng Con cả phải đánh thế kia, chiêng Con thứ phải đánh thế nọ, v.v… Thế là đủ! Còn giai điệu tương quan cao thấp theo kiểu nào cũng được, miễn sao đó là bộ chiêng của tộc người mình. Do đó, với bộ chiêng này thì âm điệu bài bản sẽ thế này, với bộ chiêng kia thì âm điệu bài bản sẽ thế kia. Điều này lý giải tại sao nhiều tộc người sử dụng dàn 6 chiêng chi đấm lại có lối gõ mô hình tiết tấu đơn thuần chen vào giữa bài chiêng, như ví dụ về dàn chiêng Mnông buôn Tinh mà chúng tôi đã trình bày ở phía trên. Hẳn đó là sự thể hiện cái “cốt lõi” của bài chiêng!? Với những người quen nhận diện bài bản qua đường tuyến giai điệu đặc thù thì lối tư duy, nhận diện bài bản nêu trên đương nhiên là điều quá khó! Bên cạnh đó, đứng về mặt tiềm năng, sẽ thấy với đặc điểm đa thang âm của các dàn 6 chiêng, “diện mạo” cao độ giai điệu mỗi bài chiêng (tức bài tiết tấu) nơi đây tất sẽ có số lượng lớn những dị bản. Có thể gọi đó là lối tư duy bài bản đa âm điệu.

Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn nhận định âm nhạc tiết tấu cổ xưa hơn âm nhạc giai điệu. Giả sử quan niệm đó đúng thì tư duy tiết tấu hẳn đã từng “thống trị” ý thức của con người trong thủa bình minh của âm nhạc. Và nếu quả như vậy thì hiện tượng bài tiết tấu đã nêu hẳn là dấu vết còn lại, như một lớp cắt ở thời kỳ sơ khai của lịch sử âm nhạc?! Thậm chí, cũng có thể đoán định đây là giai đoạn chuyển tiếp từ âm nhạc tiết tấu sang âm nhạc giai điệu. Theo quan sát ban đầu, tư duy bài bản đa âm điệu có lẽ là “sở hữu độc quyền” của các tộc người vùng Nam Tây Nguyên mà không thấy có ở bất cứ nơi nào.

Đến đây, đã có thể thấy rõ vai trò của mô hình cố định trong nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên nói chung. Xin được nhắc lại, “cấu kiện đúc sẵn” đó được lập thành bởi các đơn vị tiết tấu chu kỳ ứng với mỗi chiêng cồng thành viên- là nhân tố để nắm bắt bài bản. Đây là hiện tượng phổ quát ở hầu khắp các tộc người Tây Nguyên ngoại trừ một vài trường hợp những dàn cồng chiêng mà nghệ thuật diễn tấu có bao chứa tính ngẫu hứng. Điển hình như dàn chiêng đôi (Chu ru, Cơ ho, Mạ), dàn chiêng Tha (Brâu), dàn Ching Klâu Poh (Chu ru), dàn chiêng Xơ Teng (Xê đăng Xơ Teng) và đặc biệt là dàn Ching Shar K’nah (Êđê Kpă) mà chúng tôi sẽ giới thiệu dưới đây.

ở tộc người Êđê Kpă, nghệ thuật cồng chiêng được kết cấu theo một phương thức rất đặc biệt. Hãy thử quan sát dàn Ching Shar K’nah làm ví dụ điển hình. So với các tộc người khác, những nhóm tiết tấu các chiêng cấu thành giai điệu ở đây có đậm độ dày đặc. Theo đó, các bài chiêng thực chất là sự chuyển vận, đan xen của các hình khối tiết tấu đồ sộ. Thêm nữa, như đã trình bày, triết lý nghệ thuật cồng chiêng Êđê Kpă đề cao khối âm thanh dạng tiếng động với phương pháp kích âm bằng dùi cứng. Do đó trên thực tế, nếu thưởng thức ở cự ly gần, sẽ thấy các đường tuyến giai điệu tiềm ẩn trong bài bản luôn bị khỏa lấp bởi khối âm thanh khổng lồ. Như đã nói, nếu chúng ta đứng nghe ở khoảng cách xa tầm 15- 20m trở ra thì mới nhận thấy rõ sự chuyển động của các tuyến giai điệu, lúc ẩn lúc hiện trong “dãy núi âm thanh” đó. Chúng tôi đánh giá cao tư duy nghệ thuật tộc người Êđê Kpă trong vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chính bởi sự độc đáo này.

Trong cả 3 bài chiêng mà chúng tôi đã sưu tầm, chỉ có 2 bài được kết cấu theo dạng mô hình cố định là D’rôông Tôe (Đón khách) và Ngă Yăng K’êa (Cúng bến nước). Tất nhiên, với những gì vừa phân tích, sẽ thấy mô hình cố định ở đây là tương đối khó nắm bắt. Do đó, trong tác nghiệp nghiên cứu, cồng chiêng Êđê Kpă được xem như đối tượng chiếm nhiều thời gian nhất và tiêu tốn nhiều sức lực nhất. Nói nôm na, đó là “một ngọn núi hiểm trở nhất” đối với nhà nghiên cứu âm nhạc!

Với 2 bài có kết cấu mô hình cố định thì có lẽ không cần phải bàn nhiều. Vấn đề lớn nhất ở đây chính là bài M’ni K’Tôe (Cúng cầu an)[8]. Có thể khẳng định ngay đây là một bài bản đặc biệt nhất trong nghệ thuật cồng chiêng Êđê Kpă. Để hiểu rõ tác phẩm này, trước hết hãy cùng tìm hiểu chức năng diễn tấu của các nhạc cụ thành viên trong dàn Ching Shar K’nah.

Như đã giới thiệu, đây là một biên chế 9 chiếc cồng chiêng với một trống cái loại cực lớn. Trong đó, có thể phân 6 chiêng âm khu cao thành một nhóm ứng với tên gọi riêng Ching K’nah. Thứ tự từ thấp lên cao như sau:

1. Chiêng K’nah Khđơ

2. Chiêng Ana H’liăng

3. Chiêng Mđuh Khơk

4. Chiêng H’lue Khơk

5. Chiêng H’lue H’liăng

6. Chiêng Hrih Điết

Thành phần còn lại của Ching Shar K’nah gồm chiêng Shar, cồng Ana, cồng Mđuh và Hgơr. Trong diễn tấu, như đã giới thiệu, cồng Mđuh được đặt nằm úp, sử dụng như một chiếc trống đồng bịt tiếng đi tiết tấu đồng độ giữ nhịp, hiệu quả âm thanh khá đặc biệt, nghe đầy và chắc nịch[9]. Cồng Ana được treo lên và đánh mở tiếng, chơi tiết tấu đồng độ nhấn lệch nhịp với cồng Mđuh. Trầm hơn chúng, chiêng Shar đánh mở tiếng, tiết tấu đồng độ chập với cồng Mđuh nhưng bước đi thưa hơn với tỷ lệ 1/2.

Cả 6 chiêng âm khu cao đều được kích âm theo kiểu ngắt tiếng. Trong đó, riêng K’nah Khđơ đánh theo cồng Ana. Như vậy, K’nah Khđơ, chiêng Shar, cồng Ana và cồng Mđuh đảm nhiệm phần đệm giữ nhịp, làm nền tảng cho 5 chiêng âm khu cao đi giai điệu. Xin lưu ý, như đã trình bày ở phần thang âm, trong dàn Ching Shar K’nah, cao độ của chiêng Shar, cồng Mđuh và cồng Ana không xác lập tương thích theo hệ thang âm của 6 chiêng còn lại (tức dàn Ching K’nah). Người ta lựa chọn 3 nhạc cụ này chỉ căn cứ trên tiếng vang đẹp chứ không quan tâm đến tần số âm cơ bản. Điều đó có nghĩa Shar, Mđuh và Ana tham gia dàn nhạc với vai trò các nhạc cụ tiết tấu đơn thuần. Theo đó, hiệu quả cao độ (hòa âm, giai điệu) thực tế của chúng trong dàn nhạc hoàn toàn không được tính vào hệ giá trị giọng điệu[10]. Đây cũng là nét độc đáo trong nghệ thuật chiêng Êđê.

Trích bài M’ni Ktôe (dàn Ching Shar K’nah):

Trống cái (Hgơr) trong dàn Ching Shar K’nah được sử dụng như một phần đệm tự do. Tất nhiên, như đã giới thiệu ở phần trước, kèm theo nhịp trống ở đây là tiếng vang của chuỗi lục lạc (Ring reo) treo thõng trên mặt da. Hgơr có thể đánh theo nhịp điệu của các cồng chiêng phần đệm với những roi trống thúc dồn hay rải đồng độ. Ví dụ:

hoặc:

Bên cạnh đó, với những roi trống thúc giục nhanh dần đều hay chậm dần đều, Hgơr còn có nhiệm vụ nhắc nhở các thành viên chuẩn bị bắt đầu hay kết thúc một phân đoạn giai điệu nào đó hoặc kết bài. Ví dụ:

Tùy thích, Hgơr cũng có thể ngưng nghỉ tạm thời giữa chừng mà không nhất thiết phải chơi liên tục theo các thành viên. Với vai trò diễn tấu tự do như vậy, nó được ví như thể một “người bà- chủ gia đình mẫu hệ” vừa thong thả điều khiển cuộc chơi, vừa nghỉ ngơi nhàn nhã! Và như thế, vai trò “nhạc trưởng” của Hgơr đã được xác định trong dàn Ching Shar K’nah.

Tất cả 5 chiêng còn lại đều chơi các chùm tiết tấu đảo phách, nghịch phách so le nhau. Với một mật độ khá dầy, tác phẩm thực sự là một cuộc so tài ngẫu hứng tiết tấu giữa các nghệ nhân. Và, 5 chiếc chiêng này chính là những nhân tố cấu thành giai điệu của bài bản. Thế nhưng vấn đề là M’ni K’Tôe không có mô hình cố định. Vậy đặc tính của tác phẩm này là gì?

ở đây, thay vì mô hình cố định, tác phẩm được kết cấu theo nhiều mô hình biến đổi nối tiếp nhau ứng với nhóm chiêng đi giai điệu. Trong đó, các mô hình tiết tấu đơn vị mỗi chiêng chỉ được lặp đi lặp lại trong từng thời đoạn nhất định- tức chúng chỉ “tồn tại” trong một khoảng thời gian ngắn trước khi nghệ nhân ngẫu hứng biến tấu thành một mô hình khác. Ví dụ:

hoặc

Nhìn vào những ví dụ nêu trên, có thể thấy trong từng thời đoạn hiện hữu có tính chu kỳ, những mô hình tiết tấu đơn vị kết hợp đã tạo ra những tập hợp giai điệu- hòa âm chu kỳ. Tất nhiên, chúng chỉ hiện hữu trong chốc lát rồi nhanh chóng biến mất để chuyển hóa thành một mô hình mới trong dòng thác âm thanh mãnh liệt của tác phẩm. Và, phân đoạn đó chính là những gì ổn định mà chúng ta có thể nắm bắt được trong diễn biến bài bản.

ở đây, cần phải thấy rằng về mặt lôgic, nếu sự ngẫu hứng ứng tác không được ràng buộc bởi một nguyên tắc nào đó thì bài bản sẽ dễ trở nên lộn xộn với những mớ âm thanh hỗn độn. Thế nhưng trên thực tế, M’ni K’Tôe vẫn có hiệu quả âm nhạc ổn định và rành mạch với các tuyến giai điệu ngắn đan xen, giao lồng vào nhau trong một tập hợp âm thanh sống động. Vậy nguyên tắc của việc ngẫu hứng trong dàn Ching Shar K’nah là gì?

Nghệ nhân[11] cho biết, 5 chiêng kiến tạo giai điệu được chia thành 2 nhóm chức năng nhịp điệu:

+ Nhóm thứ nhất gồm 3 chiêng: Mđuh Khơk, H’lue Khơk và Hrih Điết, biểu tượng là “ngắt tiếng” (Khơk). Điều đó xác định nguyên tắc âm hình đặc trưng của nhóm chiêng này với những chùm tiết tấu mau hoạt, giật cục mạnh mẽ.

+ Nhóm thứ hai gồm 2 chiêng: Ana H’liăng và H’lue H’liăng, biểu tượng là “mềm tiếng” (H’liăng), có nghĩa bước đi tiết tấu của nhóm này phải thưa hơn, tương phản với nhóm thứ nhất.

Trong mỗi nhóm, các chiêng thành viên luôn phải cố gắng chơi cùng một mô hình tiết tấu. Họ gọi là đánh “theo nhau”. Có thể thấy rõ 2 nhóm tiết tấu đối lập ứng với 2 nhóm chiêng trong ví dụ vừa nêu. Kẻ tung, người hứng, cốt sao tạo ra một cuộc bám đuổi so le nhau, lúc tương đồng, lúc đối chọi.

Về mặt nguyên tắc, trong nhóm thứ nhất (ngắt tiếng), chiêng Mđuh Khơk đóng vai trò chỉ đạo. Còn ở nhóm thứ hai (mềm tiếng), vai trò chỉ đạo thuộc về chiêng Ana H’liăng. ở đây, cũng có thể bản thân kích thước lớn nhất mỗi nhóm của Mđuh Khơk và Ana H’liăng đã quyết định tính chủ đạo của 2 chiêng này trong cuộc “đối thoại” tiết tấu. Làm mẫu, dẫn dắt các chiêng bạn, 2 chiêng này có nhiệm vụ điều khiển 2 tuyến nhịp điệu, thiết lập một “trật tự” cho tác phẩm bởi nếu không, sự tự do diễn tấu rất dễ dẫn đến hiệu ứng “loạn xạ vô lối”. Đó là then chốt của vấn đề.

(Còn tiếp)


[1]. Nghệ nhân Ba na giải thích chữ Kon (con) có nghĩa là chiêng phụ phải đánh theo chiêng chính. Ví dụ Kon T’rết (nghĩa là con của chiêng T’rết) phải đánh đồng tiết tấu với chiêng T’rết. Như thế, bản thân tên gọi các chiêng trên cùng đã mặc định chức năng của nó trong biên chế. Có nghĩa đồng bào đã có dụng ý nghệ thuật rõ ràng khi gia tăng thêm những chiêng bè giai điệu. Nó cũng thể hiện một nguyên lý cấu tạo thang âm mà chúng tôi đã trình bày trong phần trước.

[2]. Theo lời giảng của nghệ nhân Rơ Châm Hmút (Ia Ka, Chư Păh, Gia Lai). Như vậy, H’grưm hẳn phải là bài chiêng ra đời trước bài Toong T’lơi Choóc Hia Atâu Djai (Khóc vì người chết).

[3]. Điều này có lẽ trùng lặp với nguồn gốc hình thành nhạc hòa âm Tây phương. Vì bản thân chữ Harmony (hòa âm) có nghĩa từ nguyên là Harmonic (bồi âm). Xem ra tư duy hòa âm bắt nguồn từ hiệu ứng âm bồi là điều phù hợp với quy luật tự nhiên. Và đó là điểm gặp nhau giữa tư duy hòa âm Tây phươngtư duy hòa âm Tây Nguyên.

[4]. Người đội trưởng tài năng dàn chiêng nữ người Mạ.

[5]. CD Music from Vietnam 5, minorities from the central highland and coast do Thụy Điển sản xuất – bài 1 và bài 2.

[6]. Giống đinh tut của người Ba na, gồm 6 ống. Người chơi mỗi người thổi một ống giống như nguyên tắc diễn tấu cồng chiêng.

[7]. CD Viet Nam Musiques des montagnards – Collection du centre national de la recherche scientifique et du musee de L’homme – Muséum National d’Histoire Naturelle. CD I – bài 14, 15, 16.

[8]. Theo nhạc sĩ Linh Nga Nếch K’đăm, đây cũng gọi là bài Ênai Pliêr (Mưa đá).

[9]. Như đã trình bày ở phần 1, dàn Chinh Shar K’nah có thể được tăng cường thêm chiếc cồng nhỏ (Mong Chinh). Khi đó, cồng Mong có nhiệm vụ đánh chập tiết tấu với cồng Mđuh để tăng cường âm lượng cho việc giữ nhịp.

[10]. ở đây, chúng tôi vẫn ghi cao độ thực của Shar, Ana và Mđuh dù truyền thống nghệ thuật Chinh Shar K’nah không xác định.

[11]. Theo lời giảng của nghệ nhân Y Sơn Nia ở buôn K’mrơng Proong A, xã Êa Tu và nghệ nhân Y Lon Niê (Ama Mênh) ở buôn Ko Siêr, thành phố Buôn Mê Thuột.

http://www.vienamnhac.org/bai-viet/nhac-co/bai-ban-va-nghe-thuat-dien-tau-cong-chieng-tay-nguyen

LINH NGA NIEKDAM :Vui buồn từ Festival Cồng chiêng quốc tế Tây Nguyên


Vui buồn từ Festival Cồng chiêng quốc tế Tây Nguyên
Thứ bảy, 21/11/2009, 22:14 (GMT+7)

Tôi háo hức đi Pleiku. Cồng chiêng Tây Nguyên thì xem mãi rồi, nhưng có dịp thưởng thức và thêm chút hiểu biết về cồng chiêng Đông Nam Á thì hay biết mấy.

19 giờ ngày 12-11-2009. Người ơi là người. Chen chúc đến ngộp thở, giơ thật cao tấm phù hiệu khách mời màu vàng, vào được đến Quảng trường 17-3 thì mọi hàng ghế đã chật. Chẳng phân biệt được ai là dân, ai là khách, thôi thì ai ngồi cũng được, vì sao lại nỡ trách những người muốn được một lần tham dự một lễ hội quốc tế lớn như thế này chứ? Chỉ tiếc rằng, mặc dù ban tổ chức đã đổ 3 bậc đất cao hơn phía sau khán đài, nhưng mọi khán giả đứng sau các hàng ghế đại biểu chỉ có thể nhìn tới 4 tầng sân khấu xa tít tắp, chứ không thể thấy được lòng sân rộng của quảng trường. Khán giả bên ngoài lại càng ít hy vọng được xem, bởi hàng rào người đã chắn ở cả hai đầu đường dẫn vào sân khấu.

Đoàn nghệ nhân dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ngãi biểu diễn. Ảnh: AN DUNG

Chật kín sân nghệ nhân của 45 đội cồng chiêng thuộc 25 tỉnh thành, từ bộ cồng núm 5 chiếc của người Thái đen (mà cô gái nào cũng da trắng muôn muốt như hoa ban) tận Điện Biên địa đầu phía Bắc, tới dàn cồng 16 chiếc và các nhạc cụ ngũ âm của các nghệ nhân Khmer đạo mạo, đệm cho những chú khỉ Hanuman nghịch ngợm nhảy nhót, đến từ miền đồng bằng Chín Rồng, bên cạnh những con rối lá, rối dây ngộ nghĩnh cười cợt… Hòa vào không khí náo nức đó là tâm trạng vui vẻ của các nghệ nhân Lào, Campuchia, Myanmar và Philippines cho dẫu kẻ đóng khố, người trong trang phục kín đáo (đoàn Indonesia hôm sau mới tới được).

Cái được nhất của liên hoan có lẽ chính là sự gặp gỡ, không khí hồ hởi và thân mật này. Sau nữa là sự xuất hiện của đa số các “nghệ nhân” trẻ, thế hệ kế tục để bảo tồn “di sản”, không chỉ múa mà còn diễn tấu ching. Không kể các bé em còn nằm trên lưng mẹ, thì nhỏ nhất có lẽ là 2 thành viên Ksor Sia – 6 tuổi và Siu Khái – 8 tuổi của đội Jrai huyện Chư Sê, điêu luyện trong những bước nhảy theo nhịp ching, làm tốn không biết bao nhiêu phim của các nghệ sĩ nhiếp ảnh.

Đến với Festival Cồng chiêng quốc tế lần đầu tiên này, có thể nhận thấy rất nhiều nét tương đồng và khác biệt giữa các dàn cồng chiêng của Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Ví dụ như dàn ngũ âm và trang phục của hai đội cồng chiêng Khmer đến từ Bạc Liêu và Sóc Trăng không khác mấy so với cách trình diễn và cơ cấu dàn ngũ âm của Đoàn nghệ nhân Campuchia: từ hàng chục chiếc cồng nhỏ xếp thành từng hai dàn một trên một chiếc giá đỡ hình vòng cung, cho đến bộ trống sazam, trang phục xaroong của các nghệ nhân nam.

Hay đoàn nghệ nhân đến từ Philippines cũng cởi trần đóng khố, đeo chuỗi vòng răng thú và sử dụng 7 chiếc chiêng không có núm, như một số tộc người Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, nhưng lại dùng dùi cứng (trong khi hầu hết các nhóm Tây Nguyên đều dùng dùi mềm). Hoặc nhóm nghệ nhân tộc người Prao của đoàn Lào, lại sử dụng 7 chiếc chiêng có núm, khác với nhóm Brâo (một nhánh khác ở Kon Tum) chỉ có 2 chiếc chiêng không có núm… Hoặc cùng nhóm ngữ hệ Môn – Khmer nhưng tộc người Châu Ro đến từ Đồng Nai lại diễn tấu 8 chiếc chiêng có núm, không có chiêng bằng, như người anh em S’Tiêng, K’Ho cận kề…

Cho dù dưới hình thức diễn tấu nào, thì âm thanh và giai điệu của mọi dàn ching đều có sức lan tỏa, lôi cuốn bởi tính độc đáo riêng biệt của âm nhạc dân gian mỗi tộc người. Đối với những người nghiên cứu cồng chiêng, đây thật là một dịp thú vị để tìm hiểu.

Vui là thế, buồn là gì bạn biết không? Xin hãy cùng tôi quay trở lại với đêm 12-11. Sau màn khai mạc dài dòng, hơn 50.000 người ngồi kín Quảng trường 17-3 ở thành phố Pleiku, lẫn triệu triệu khán giả màn ảnh nhỏ chờ đợi, tiếng ching chêng đã vang lên rộn rã, 3.000 diễn viên và nghệ nhân trên quảng trường cùng rùng rùng chuyển động.

Có thể nói tổng đạo diễn phần âm nhạc: nhạc sĩ Nguyễn Cường đã thành công khi chọn lọc và sắp xếp hài hòa giữa âm nhạc cồng chiêng, dân ca các dân tộc Tây Nguyên và phần nhạc – hát mới (dẫu phần âm nhạc Êđê được dùng làm âm hưởng chủ đạo trong cả hai đêm khai mạc lẫn bế mạc và có tới vài ca khúc của tác giả).

Và trên bốn tầng sân khấu là các tiết mục múa Tây Nguyên, do các sinh viên Trường Đại học VHNT Quân đội trình bày, tạo được vẻ đẹp của hình thể trong những động tác múa Tây Nguyên. Nhưng chiếm trọn vẹn quảng trường và thời lượng đến hơn 60/90 phút của chương trình là các nam nữ thanh niên người mang hoa, kẻ mang khiên, trống, lần lượt xuất hiện hết màn trình diễn này đến màn trình diễn khác, không có chút gì là Tây Nguyên, trong cả động tác múa lẫn trang phục, với đặc trưng là vài trăm bộ váy đầm kiểu dạ hội. May mà camera của Đài Truyền hình Việt Nam chỉ hướng cố định lên sân khấu, nên khán giả màn ảnh nhỏ không phải “thưởng thức” màn trình diễn này, còn những khán giả tại chỗ chỉ thấy ngợp vì ấn tượng ở số người quá đông chính diện ngay trước mắt mà thôi.

Vậy nên sau đêm khai mạc, đông đảo khán giả tại chỗ vừa giải tán, vừa than phiền vì thiếu sự ra mắt cụ thể một cách trang trọng theo đúng thông lệ của cả 40 dàn chiêng trong nước và 5 dàn chiêng ngoài nước (chắc các đạo diễn định thử tài tiên đoán của khán giả qua trang phục và cờ tổ quốc chạy như đuổi bắt trên sân khấu).

Các nghệ nhân đoàn Indonesia biểu diễn.

Cũng như suốt 90 phút của chương trình, không hề thấy được sự tôn vinh xứng đáng các “di sản của nhân loại”, khi đạo diễn chỉ cho các đoàn diễn tấu ching và múa hai bên lề quảng trường, sau đó cuối chương trình chạy qua sân khấu chính được một vòng rồi xuống ngay. Điều này Ban tổ chức “để dành” vào đêm bế mạc: tất cả các đoàn đều diễu hành qua khán đài để chào quan khách, tuy nhiên không phải bằng chính âm nhạc ching chêng của họ, mà trên nền nhạc chung của lễ hội.

Chúng tôi tiếc hùi hụi vì lịch biểu diễn xoay vòng lại chỉ có mỗi ngày một buổi, tại những địa điểm cách nhau đến cả chục cây số, nên dẫu muốn lắm cũng không có dịp xem được các đoàn nước ngoài khác như Indonesia, Campuchia hay Myanmar… biểu diễn.

Chưa hết, lễ đâm trâu mừng chiến thắng của các nghệ nhân Bâhnar huyện K’Bang, chỉ là nhảy nhót tượng trưng, vì có người cho rằng “khách nước ngoài phản đối việc sát sinh trâu”. Yang ơi, du khách đâu đến nỗi không hiểu rằng đó là nghi lễ truyền thống trong tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của Tây Nguyên. Đồng thời họ cũng hiểu như các nghệ nhân rằng “giả dối với các vị thần linh nào phải chuyện đùa”.

Dẫu vui buồn lẫn lộn vậy, cũng phải công nhận rằng: hơn 1.500 nghệ nhân cồng chiêng từ khắp đất nước Việt Nam và năm nước anh em Đông Nam Á, đã hoàn thành sứ mệnh gửi tới nhân loại thông điệp của hòa bình và sự đoàn kết các dân tộc, bằng những âm thanh tuyệt vời của một trong những “Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu”.

Và những hoạt động khác như: Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao; Hội chợ Làng nghề thủ công truyền thống, Làng ẩm thực; Triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật và ảnh về Anh hùng Núp; trưng bày sinh vật cảnh, trưng bày văn hóa truyền thống Tây Nguyên; trình diễn ching chêng, tạc tượng, phục dựng một vài lễ hội cổ truyền… đã thật sự góp phần làm nên thành công của Festival Cồng chiêng quốc tế 2009 này.

Mong những festival sau sẽ được tổ chức đúng nghĩa hơn và cồng chiêng Tây Nguyên được tôn vinh một cách xứng đáng hơn. 

LINH NGA NIEKDAM

http://www.sggp.org.vn/vanhoavannghe/2009/11/209270/

LUÂN VŨ : MỘT BƯỚC ĐI TRONG CHƯƠNG TRÌNH BẢO TỒN KHÔNG GIAN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN


Diễn đàn
Một bước đi trong chương trình bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
Thứ tư, 08/07/2009 – 03:48 PM (GMT+7)
   Đồng bào M’Nông (Đác Nông)
sinh hoạt cộng đồng.

Không chỉ là hoạt động mang ý nghĩa thu hút, phát triển du lịch, lễ hội được xem là một trong những nỗ lực cụ thể hóa chương trình hành động để bảo tồn, phục hồi giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung, và của tỉnh Gia Lai nói riêng. Nhân dịp này, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã phỏng vấn đồng chí Phan Xuân Vũ, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Gia Lai về hiện trạng cũng như các biện pháp để bảo tồn giá trị của Di sản văn hóa quý giá này.

PV: Thưa đồng chí, dù đã được công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, tỉnh Gia Lai đã làm gì để Di sản văn hóa này không bị mai một?

Ðồng chí Phan Xuân Vũ: Từ nhiều năm nay, cùng với những hoạt động được tổ chức quy mô ở các cấp nhằm bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tỉnh Gia Lai rất quan tâm việc khuyến khích các lễ hội có sử dụng cồng chiêng tại các buôn làng; nghiên cứu, phục dựng những lễ hội có nguy cơ mai một để bảo tồn, lưu giữ… Hai năm một lần ở cấp xã và huyện, bốn năm một lần ở cấp tỉnh, Gia Lai đã tổ chức định kỳ các liên hoan cồng chiêng, thu hút đông đảo các nghệ nhân tham gia và đồng bào đến thưởng thức, cổ vũ. Ðây có thể coi là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì thường xuyên việc giao lưu, truyền dạy cồng chiêng tại cộng đồng và kích thích khả năng sáng tạo của nghệ nhân.

Ðặc biệt, năm 2008, Gia Lai đã sử dụng kinh phí của chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn văn hóa để tiến hành điều tra, phân loại cồng chiêng trên quy mô toàn tỉnh. Theo kết quả tổng hợp ban đầu, trên địa bàn Gia Lai hiện còn 5.655 bộ cồng chiêng, với hơn 700 đội cồng chiêng sinh hoạt tại các buôn làng. Như vậy, cho đến thời điểm này, Gia Lai là địa phương còn lưu giữ được nhiều cồng chiêng nhất trong các tỉnh Tây Nguyên.

PV: Nếu như vậy, thì những băn khoăn, lo lắng về sự mai một, biến dạng của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên không phải là điều cấp thiết đối với Gia Lai?

Ðồng chí Phan Xuân Vũ: Không hoàn toàn như vậy. Kết quả cuộc điều tra, phân loại cồng chiêng năm 2008 cho thấy, hiện nay Gia Lai có tới hàng trăm làng đồng bào dân tộc đã không có cồng chiêng. Và trên thực tế, số lượng nghệ nhân chỉnh chiêng ở Gia Lai so với các tỉnh là nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Có những huyện còn lưu giữ được rất nhiều cồng chiêng, nhưng lại không có một nghệ nhân chỉnh chiêng nào.

PV: Việc phục dựng lễ hội – không gian để thực hành nghệ thuật cồng chiêng, vẫn được coi là bài toán khó đối với các nhà văn hóa. Và rất nhiều lễ hội sau khi được phục dựng lại tiếp tục bị lãng quên…

Ðồng chí Phan Xuân Vũ: Khó khăn lớn nhất trong việc phục dựng các lễ hội là làm sao giữ được tính nguyên bản của lễ hội, nhất là những lễ hội có nhiều nghi lễ. Trong mấy năm gần đây, chúng tôi đã tiến hành phục dựng một số lễ hội như Lễ đón năm mới của người Ba Na, lễ trưởng thành của người Ba Na… Mặc dù ở Tây Nguyên có nhiều lễ hội, nhưng từ nhiều năm nay, chính đồng bào các dân tộc cũng không tổ chức thường xuyên những lễ hội này nữa. Ðiều đó gây khó khăn cho việc phục dựng. Vì thế, khi tiến hành phục dựng một lễ hội, chúng tôi phải dựa vào những tài liệu ghi chép được, và mời các chuyên gia, nghệ nhân tham gia nhằm bảo đảm ở mức tối đa tính nguyên bản của từng lễ hội.

PV: Trong rất nhiều khó khăn, thách thức như vậy, theo đồng chí, việc bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nên tập trung vào biện pháp nào?

Ðồng chí Phan Xuân Vũ: Theo tôi, cái khó nhất trong việc bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay là làm thế nào để sinh hoạt văn hóa gắn với cồng chiêng chinh phục được lớp trẻ. Gia Lai đang khuyến khích và tạo mọi điều kiện cho việc truyền dạy các kỹ năng về cồng chiêng tại cộng đồng, đưa việc truyền dạy cồng chiêng vào các trường dân tộc nội trú… Nhờ giải pháp này mà số thanh thiếu niên biết đánh cồng chiêng, biết các bài chiêng cổ của dân tộc mình tăng khá nhanh trong những năm qua. Chúng tôi cũng đang tích cực tranh thủ sự ủng hộ, “vào cuộc” của các nhà khoa học, các nghệ nhân để tiếp tục nghiên cứu, truyền bá các giá trị đặc sắc của nghệ thuật cồng chiêng gắn với các sinh hoạt cộng đồng đến đông đảo đồng bào các dân tộc, làm cho họ hiểu và hiểu đầy đủ sâu sắc hơn giá trị của di sản mà họ đang nắm giữ. Việc điều tiết cồng chiêng đến các khu vực không còn cồng chiêng cũng là vấn đề đang được tỉnh quan tâm và tìm kiếm nguồn kinh phí, cùng những bước đi thích hợp, hiệu quả, lắng nghe nguyện vọng của đồng bào.

PV: Festival cồng chiêng quốc tế 2009 sẽ được tổ chức lần đầu tại Gia Lai. Song, cũng có ý kiến cho rằng, những hoạt động mang tính lễ hội như vậy không có tác động nhiều đến hiệu quả của chương trình bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ý kiến của đồng chí về vấn đề này?

Ðồng chí Phan Xuân Vũ: Festival cồng chiêng quốc tế 2009 tại Gia Lai là hoạt động hướng đến hai mục đích: Trước hết, nhằm giới thiệu những giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, theo Chương trình hành động quốc gia, mà Chính phủ Việt Nam đã cam kết trong Hồ sơ đệ trình UNESCO năm 2004. Ðồng thời, đây cũng là một trong chuỗi các hoạt động của du lịch Tây Nguyên trong năm 2009, nhằm thúc đẩy sự phát triển du lịch, kinh tế – xã hội Gia Lai và khu vực.

Dự kiến, Festival có sự tham dự của gần 30 đoàn cồng chiêng đại diện cho các dân tộc có trình diễn nghệ thuật cồng chiêng trong cả nước, cùng một số đoàn của các nước có truyền thống trình diễn nghệ thuật này trong khu vực. Mạch chính của Festival là các chương trình trình diễn các sinh hoạt văn hóa đặc sắc và độc đáo của các đoàn tham dự; triển lãm ảnh về Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy giá trị của Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cùng ba lễ hội quan trọng của đồng bào Tây Nguyên (truyền thuyết “Gươm thần và lễ cầu mưa”, “Lễ hội đón năm mới” trong đó có tổ chức lễ hội đâm trâu, “Lễ Pơ thi” – bỏ mả), cùng các chương trình thi tạc tượng, thi chỉnh chiêng…

Chương trình trình diễn của các đoàn tham dự Festival sẽ tuân thủ nguyên tắc: Chỉ trình bày những sinh hoạt văn hóa nguyên gốc của dân tộc mình, phản ánh cơ bản chính xác giá trị của cồng chiêng trong đời sống của từng dân tộc, không trình diễn những sinh hoạt văn hóa, âm nhạc lai ghép hay cải biên. Ðiều mong muốn của các nhà tổ chức là, Festival sẽ thật sự là ngày hội của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, nơi hội tụ những giá trị văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên.

PV: Xin cảm ơn đồng chí.

Luân Vũ (thực hiện)

WIKIPEDIA : LỄ HỘI CỒNG CHIÊNG , VIETNAM


Lễ hội Cồng chiêng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hoá cồng chiêng trong đó Đắk Lắk là một điểm quan trọng và hay được chọn nhất do vị trí trung tâm văn hoá, chính trị, xã hội của khu vực Tây nguyên nơi có nhiều cồng chiêng nhất ở Việt Nam.

Đặc điểm

Lễ hội được tổ chức nhằm quảng bá hình ảnh Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản truyền khẩu và phi vật thể nhân loại. Đó không những là một sự kiện quan trọng của người dân tây nguyên mà còn cả với đất nước Việt Nam. Trong lễ hội nghệ nhân của các tỉnh sẽ trình bày, biểu diễn không gian văn hoá của dân tộc và của tỉnh mình. Do mang đậm màu sắc du lịch nên nó thường được giới thiệu trong các chương trình du lịch như của du lịch Đắk Lắk. Những lễ hội dân gian đặc sắc của các dân tộc Tây Nguyên sẽ được dựng lại, nhằm kêu gọi cộng đồng cùng chung sức bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của cư dân các dân tộc. Đồng thời giới thiệu với du khách những thành tựu về kinh tế, văn hóa và tiềm năng du lịch của các dân tộc Tây Nguyên. Cũng trong khuôn khổ của Festival, bên cạnh các hoạt động văn hóa còn hội chợ triển lãm về công cụ sản xuất, đồ gia dụng và hàng thủ công mỹ nghệ của các dân tộc Tây Nguyên.

“Một cảm giác hoành tráng, thiêng liêng sẽ trỗi dậy trong ta khi nghe dàn cồng chiêng Gia Rai và Bahnar trình diễn” (GS Tô Ngọc Thanh). Đó chính là cảm giác mà nhiều người đã trải nghiệm qua phần trình diễn của 40 nghệ nhân Bahnar với dàn cồng chiêng tái hiện lễ Đâm trâu, Mừng nhà rông, Mừng lúa mới, Mừng đám cưới, Mừng được mùa, Bỏ mả… Cồng chiêng Tây nguyên là nơi tiết tấu và giai điệu gặp nhau. Mỗi nhạc công chơi một nốt và một mô hình tiết tấu, kết hợp lại thành bè, thành giai điệu.

“Cồng chiêng Tây nguyên bảo lưu được hình thức diễn xướng tập thể – cộng đồng, hợp tấu bằng cách nghe nhau, tức phải có tâm linh cộng đồng ứng vào – GS Tô Vũ khẳng định – Hoàn toàn xa lạ với việc cá nhân hóa, nghệ sĩ hóa người biểu diễn, văn hóa cồng chiêng chỉ còn ở Đông Nam Á, và nguyên thủy nhất là ở Tây nguyên”. TS Vũ Nhật Thăng cho rằng cồng chiêng dựa theo hàng âm của ống hơi không khoét lỗ bấm – loại nhạc cụ lâu đời hơn và phổ biến ở Tây nguyên – “cũng có nghĩa là dựa theo thang âm của Trời, vừa thiêng liêng vừa độc đáo”.

Một nghệ thuật thiêng “Cồng chiêng càng cổ bao nhiêu thì thần chiêng càng mạnh bấy nhiêu… Người chủ nhiều cồng chiêng không chỉ là người nhiều của cải mà cái chính là được sức mạnh của thần chiêng phù hộ” (Tô Ngọc Thanh). “Dòng họ, làng nào có nhiều cồng chiêng sẽ được các dòng họ, làng khác nể nang, nghe theo. Già làng ở làng ấy có thể được tôn lên làm già làng cho cả một vùng” (Phạm Cao Đạt). Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà một vài người trong vùng có thể đảm nhiệm việc “lên dây” chiêng sau mỗi kỳ sử dụng thường chính là già làng.

Ngay khi đứa trẻ vừa ra đời, người ta đã đem cồng đến đánh bên tai nó, gọi là lễ thổi tai. Chiêng cồng luôn có mặt trong các lễ cúng từ khi con người còn là thai nhi trong bụng mẹ cho tới khi vĩnh biệt cuộc đời, chưa kể trong vô số nghi lễ nông nghiệp ở Tây nguyên, kéo dài từ tháng ba đến tháng mười hai.

Trong mỗi lễ hội, cồng chiêng là phương tiện duy nhất để con người thông linh (với thần), giao hòa với trời đất và giao tiếp trong cộng đồng. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến ngã xuống đất/ Đánh cho ma quỉ mải nghe đến quên làm hại người (Trường ca Đam San). Sử thi của người Êđê, M’Nông còn kể lại những cuộc “chiến tranh” giữa các bộ tộc nhằm chiếm đoạt cồng chiêng.

Người Xêđăng kể rằng: Thuở xa xưa có lần voi dữ tràn về phá rẫy, phá buôn. Con trai Xêđăng mang theo lao, tên lá cùng hợp sức tiêu diệt thú dữ, đánh nhau suốt mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt mà thú dữ càng hung tợn. Họ chỉ còn biết chắp tay cầu Yàng. Bỗng họ thấy đùn lên một ụ đất, đào xuống thấy một vật bằng đồng tròn như ông mặt trời to bốn người ôm mới xuể.

Gõ vào vật ấy phát ra tiếng trầm vang động núi rừng khiến đàn thú dữ ngơ ngác. Rồi các ụ đất liên tiếp mọc lên, mang theo các vật bằng đồng hình dáng tương tự nhưng nhỏ dần, âm càng cao. Khi đã có trong tay hơn 10 chiếc chiêng, đồng thanh gõ lên thì tiếng trầm như thác đổ, tiếng cao như thác reo khiến voi dữ phải chạy vào rừng sâu…

“Các tộc người Tây nguyên quan niệm nhạc cụ như con người – càng nhiều tuổi tiếng nói càng được tôn trọng. Cồng chiêng càng lâu năm, trải qua nhiều lần nghi lễ càng thiêng” (Phạm Nam Thanh). Những bộ chiêng tiếng hay và thiêng có giá trị tính bằng 1-2 con voi hoặc 40 con trâu. Người B’Râu cho rằng chiêng tha (gồm hai chiếc chồng và vợ) chính là tổ tiên của họ. Đánh chiêng họ gọi là gọ tha pơi, nghĩa là “mời tha nói”. Thủ tục để mở một bài chiêng rất khắt khe, phải cho tha ăn, cho tha uống, khấn mời trời đất và nhiều người đến chứng kiến…

Người Xêđăng Sdrá có chiêng buàr duy nhất một chiếc – chủ nhân phải cất rất kỹ, sợ người ngoài hoặc trẻ con không biết đem ra đánh thì khổ, sẽ bị già làng phạt nặng. Các dân tộc Tây nguyên đều đặt tên chiêng trong một bộ theo vai vế như trong một gia đình và phân biệt chiêng thiêng (có Yàng trú ngụ) với chiêng thường để dùng trong các dịp lễ trọng hoặc sinh hoạt thường ngày. Có bộ chiêng chỉ được đánh khi có vật hiến sinh từ bò trở lên!

Thư viện ảnh

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%85_h%E1%BB%99i_C%E1%BB%93ng_chi%C3%AAng

LỘ DIÊU : ‘Sol vàng’: Đức Huy, Anh Khoa chìm đắm trong ‘Những lời yêu thương’, 14 tháng 2, 2015


NGUYỄN CÔNG THÀNH : Phố ông Đồ TP.HCM thu hút giới trẻ chụp hình


Phố ông Đồ TP.HCM thu hút giới trẻ chụp hình

13/02/2015 19:54 GMT+7

TTO – Cận Tết Ất Mùi 2015, giới trẻ TP.HCM đổ xô đến chụp ảnh với những cành mai, đào, bánh chưng, câu đối… ở phố ông Đồ trên đường Phạm Ngọc Thạch, Q.1 (trước Nhà văn hóa Thanh Niên TP.HCM).

1 2 3 4 5

NGUYỄN CÔNG THÀNH

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/giai-tri/20150213/pho-ong-do-tphcm-thu-hut-gioi-tre-chup-hinh/711462.html

TRẦN QUỐC BẢO : SINH HOẠT NGHỆ SĨ VIỆT TIDE (ngày 13 tháng 2 năm 2015)


SINH HOẠT NGHỆ SĨ VIỆT TIDE (ngày 13 tháng 2 năm 2015)

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Việt Tide phát hành ngày thứ sáu 13 tháng 2 năm 2015)

TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ XUÂN VINH – TÁC GIẢ CA KHÚC “CUỘC TÌNH ĐÃ MẤT” 6 NĂM VỀ CÕI TRỜI XA

Nhạc sĩ Xuân Vinh tại Hospital Broca năm 2008Nhạc sĩ Xuân Vinh tại Hospital Broca năm 2008

Câu chuyện nhạc sĩ Xuân Vinh ra đi đơn độc hồi trung tuần tháng 2 năm 2009 tại nhà riêng ở Pháp đến nay vẫn làm nhiều thân hữu bồi hồi. Ngày Ông mất, gia đình, thân hữu lẫn hàng xóm không hề hay biết, đến khi cảnh sát phá cửa vào mới biết Ông chết từ lâu rồi.

Theo một số tài liệu cho biết, nhạc sĩ Xuân Vinh sinh tháng 6-1943 ở tỉnh Ninh Bình. Ông là con của gia đình nhà thuốc KIM TÂN. Di cư cùng gia đình vào Nam năm 1953, Tân Định. Học La San Đức Minh và LaSan Taberd. Ông học nhạc ở dòng Chúa Cứu Thế, trường Bach và trường Suối Nhạc. Sau này học thêm Jazz với thày Dung ở đường Hiền Vương, trường Cecilia. Thi vào ban nhạc nhẹ, Hải Quân Việt Nam (Espana Cani). Làm tại Cuc Tâm Lý Chiến, đài phát thanh Quân Đội. Học khoá sáng tác 9 tháng (sau Nhật Trường một năm). Theo ban nhạc trình diễn khắp nơi VNCH (Đồng Hới). Công tác cứu trợ Tết Mậu Thân. Được giải ngũ sau 4 năm quân dịch. Mở khoa học nhạc cấp tốc cho các học sinh sắp đi du học. Xuống Rạch Giá di tản ngày 1 tháng 5 năm 1975 cùng với mẹ. Đem theo mình một áo mưa, một đồng hồ. Đến Thái Lan (Cầu Sa ta hip). Định cư tại Pháp. Học thêm nhạc Jazz với trường Beuscher. Paris – 2003-2008. Cuối tuần thường đàn cho Association Culturelle Vietnamienne de Cachan.

Nhạc sĩ Xuân Vinh ngoài tài chuyển ngữ một số ca khúc ngoại quốc nổi tiếng ra lời Việt như Một Chuyện Tình (Love Story), Chuyện Tình Romeo và Juliette (lời việt Xuân Vinh), Ông còn sáng tác một số bài hát như Nhớ Về Em (1965), Bài Ca Thánh Giu Se (1965), Huế (Xuân Vinh – Kiều Mộng Thu), Nếu Xuân Này Em Lấy Chồng (Xuân Vinh – Mộng Đạt), Âm Thầm (Xuân Vinh – Triều Dương), , Ta Belle Rose (1992), Tình Thi Ca (1994).. nhưng nổi tiếng nhất là ca khúc Cuộc Tình Đã Mất, được Khánh Ly trình bày, thu băng trước năm 1975 rất được khán giả yêu thích. Xin vĩnh biệt Ông, tác giả của những lời ca tha thiết trữ tình dưới đây:

“Một người quen đã đi lấy chồng

Một người yêu thôi đã sang sông

Tình ngày xưa gió cuốn lâng lâng

Thương những chiều năng đến bâng khuâng

Một hạt sương thoáng rơi trong hồn

Rồi ban mai chim hót bên sông

Một ngày qua thôi thế cũng xong

Kiếp lưu đầy còn ai ngóng trông

ĐK: Tâm hồn người như suối vắng

Trên triền núi xa xăm

xuôi vào thung lũng sâu

Cuộc đời theo bước mau

Hỏi tình yêu biết ai ngóng đợi?

Hỏi người thương vui hứa bao câu?

Để ngày xưa ta trót trao nhau

Những chân thành thương mến thâm sâu

Hỏi trời xanh có chăng định mệnh?

Để đời tôi sao mãi lênh đênh?

Cuộc tình như cút bắt bên nhau

Để u sầu vương đến mai sau”.

(Cuộc Tình Đã Mất –nhạc và lời Xuân Vinh)

Theo tin của ký giả Nguyễn Văn Đông (Paris), thì rất đông Cộng đồng Người Việt Tự Do, các Thân hữu, các Văn Nghệ Sĩ tại Paris đã đến Nhà Quàn tại nghiã trang Père Lachaise Paris sáng ngày 6 tháng 3 năm 2009 để tiễn đưa Nhạc Sĩ Xuân Vinh lần cuối về nơi An Nghỉ ngàn thu.

Nhạc sĩ Xuân Vinh (1943-2009)Nhạc sĩ Xuân Vinh (1943-2009)

Bìa ca khúc Cuộc Tình Đã Mất do Xuân Vinh sáng tácBìa ca khúc Cuộc Tình Đã Mất do Xuân Vinh sáng tác

Sáng 6 tháng 3, tang lễ NS Xuân Vinh được tổ chức tại Nhà Quàn tại nghiã trang Père Lachaise ParisSáng 6 tháng 3, tang lễ NS Xuân Vinh được tổ chức tại Nhà Quàn tại nghiã trang Père Lachaise Paris

Ca sĩ Mỹ Hòa nói lời cuối với NS Xuân Vinh trong tang lễCa sĩ Mỹ Hòa nói lời cuối với NS Xuân Vinh trong tang lễ

Nhạc sĩ Trần Vĩnh, Nhạc sĩ Trần Quang Hải (đeo khăn quàng cổ đỏ) và rất đông thân hữu trong ngày cuối với NS Xuân VinhNhạc sĩ Trần Vĩnh, Nhạc sĩ Trần Quang Hải (đeo khăn quàng cổ đỏ) và rất đông thân hữu trong ngày cuối với NS Xuân Vinh

Di ảnh nhạc sĩ Xuân Vinh trước giờ hỏa tángDi ảnh nhạc sĩ Xuân Vinh trước giờ hỏa táng

TIN NGẮN TRONG LÀNG NGHỆ SĨ XA GẦN

MINH NHIÊN, tác giả những ca khúc nổi tiếng như Xin Lỗi Tình Yêu, Tình Yêu Không Có Lỗi.. từ Saigon vừa cho biết Anh sẽ có mặt tại Cali vào đầu tháng 3 này. Trong chuyến đi sang Mỹ gần 1 tháng này, Anh có nhiều project để làm việc cũng như sẽ tham dự một buổi nhạc đặc biệt của nhà hàng ca nhạc Moonlight thực hiện. Tuy bận như thế, Minh Nhiên cũng không quên cùng 1 vài thân hữu đứng ra tổ chức một đêm nhạc gây quỹ giúp đỡ ca sĩ Đức Vượng hiện đang nằm trên giường bệnh với tình hình khá nghiêm trọng vào tối thứ hai ngày 16 tháng 2 tại phòng trà Đồng Dao. Nhận lời giúp đỡ buổi hát không thù lao này, có đôi vợ chồng Khắc Triệu – Cẩm Vân, Đàm Vĩnh Hưng, nhạc sĩ Thái Hùng, ca sĩ Ngân Quỳnh, ca sĩ Hà Thúy Anh, ca sĩ Đức Minh, saxo Xuân Hiếu. Chúc cho Minh Nhiên và chương trình đầy tình nghệ sĩ này sẽ thành công mỹ mãn.

CHÂU TUẤN, được coi là người ca sĩ khai trương bìa tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 1 tái bản vào thứ sáu tuần này. Tuy vẫn còn phải ăn nhờ ở đậu nhưng với tấm lòng thương yêu của tờ báo Việt Tide, hy vọng những người bạn từng yêu vòm trời Thế Giới Nghệ Sĩ của những năm xưa sẽ có một vùng đất quen thuộc để chúng ta sinh hoạt cùng nhau. Sẽ có thêm những kỳ tới mục Đố Vui, Tặng Ảnh, Ngược Giòng Đời, Sinh Hoạt Âm Nhạc Âu Châu, Úc Châu, Nhạc Hay Trong Tuần.. Đố các bạn, khuôn mặt 1001 Khuôn Mặt Thương Yêu tuần tới sẽ là ai?

GIANG KIM (còn có tên Thiên Kim) vừa trao tận tay Đức Vượng số tiền 100$ (gồn 50$ của Phương Hồng Ngọc, 50$ của Phương Hồng Quế) mà TQB đã chuyển về. Trong lá thư email kèm hình và giấy biên nhận, diễn viên bộ phim Con Ghét Con Thương còn cho biết: “Đức Vượng đã về nhà, nhưng ông ấy rất nhiều bịnh như Tiểu đường, suy thận cấp 3, tràn dịch màn phổi, siêu vi b, rạn nứt tĩnh mạch.. Ngọc Anh là vợ Đức Vượng, khóc thật nhiều khi nói về ĐV, coi như người ông ấy rệu rạo, phều phào rất tội nghiệp, ngày nào đứng sân khấu hát 5, 7 bài bây giờ nói không ra hơi… Cám ơn B. em đã tin tưởng để chị làm việc tốt này! Chị gửi lời chúc đến em, PHQuế, PHNgọc với lời chúc tốt đẹp nhất trong cuộc sống. Quý mến. Chị GK”.


TUẤN ANH
sau một loạt show diễn thành công như Một Thời Để Yêu – Một Thời Để Nhớ, Trái Tim Ngục Tù tại quê nhà, khán giả tại Houston đã rất mong chàng trở về trình diễn, nơi mà chàng đã đặt chân định cư từ năm 1980, đã cộng tác với vũ trường Maxim những năm 80-81 qua những ca khúc ăn khách nhất của Tuấn Anh lúc bấy giờ như Hello, Beat It, Billy Jean và nhất là Kiếp Đam Mê, sau này Tuấn Anh đã chọn làm chủ đề băng nhạc của mình và tiêu thụ hơn mấy chục ngàn dĩa. Thể theo lời yêu cầu đó, chủ nhân vũ trường Baby’s Club đã mời Tuấn Anh về trình diễn vào lúc 7g00 tối ngày thứ sáu 8 tháng 5 năm 2015 với sự tham dự của nhiều ngôi sao nổi tiếng như giọng ca đa dạng Tuấn Anh, tiếng hát quyến rũ lả lơi Khánh Hà, tên tuổi đang Hot nhất của giới trẻ Đan Nguyên, và tiếng ca ngọt ngào hàng đầu Mai Thiên Vân cùng 2 cặp hài Quang Minh – Hồng Đào và Việt Hương – Hoài Tâm đang được yêu chuộng trong giới showbiz. Điều khiển chương trình: MC Trần Quốc Bảo. Giá vé bao gồm có thức ăn và nước uống từ 35$, 45$, 55$, 75$ và VIP. Vé có bán tại Baby’s Club và PhươngMy Video hoặc gọi trực tiếp tại (832)388-6342.

LILIAN vừa báo tin vui cho một số thân hữu và ca sĩ đã tham gia trong buổi dạ vũ mà cô tổ chức ngày 24 tháng 1 vừa qua, đó là Hội Từ Thiện bất vụ lợi ROF (Reaching Out Foundation) đã gửi lá thư cho biết đã nhận được số tiền 1500$ mà Lilian và 1 số nghệ sĩ đã trả lại tiền thù lao trong đêm 24/1 hầu biếu tặng cho Hội Từ Thiện này. Lá thư của Hội ghi:“Hội ROF vô cùng sung sứơng là quý anh chị em nghệ sĩ đã tin tưởng mà trao cho ROF số tiền là $1,500.00.Thành thật cám ơn quý ca sĩ Lilian, Nguyễn Tiến Dũng, Jimmy Joseph, Trần Quốc Bảo và Kim Phương. ROF xin gửi trứơc báo cáo số 1, còn một nơi nữa, khi nào nhận đựơc anh sẽ chuyển đến Lilian sau. Anh cũng đã posted cái báo cáo nầy lên website của ROF. Cám ơn em”. Lá thư của anh Phạm Đăng Khải không chỉ tạo được sự ấm lòng cho nhiều người mà còn mang về cho mùa Xuân sắp tới biết bao dấu hiệu của tin yêu.

TRẦN QUANG gần 2 năm về đóng đô phụ trách ở nhà hàng ca nhạc Maxim cũ (trên đường Tự Do), Anh vừa trở lại Hoa Kỳ tối thứ hai tuần này (9/2). Rất cảm động khi nhận được lời mời của anh và nhà văn Cao Kim Chung hẹn ra một nhà hàng Thái để dùng cơm tối nhưng lúc anh gọi đến thì người viết đang ở một tiểu bang khác không thể có mặt được. Diễn viên bộ phim Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang cho biết sẽ ở đây vài ngày, rồi bay sang Houston thăm gia đình.. Có lẽ ăn Tết ở Mỹ xong, là anh phải bay trở về Saigon làm việc tiếp tục. Mong sao trước khi anh về lại quê nhà, anh em được gặp mặt.

PHẠM MẠNH ĐẠT, thân phụ của ca sĩ Thảo Mi, sau khi nhận bài viết về nhạc sĩ Khánh Băng, Ông mới hay tin tác giả Sầu Đông đã rời dương thế từ 10 năm trước. Từ San José, giọng Ông bùi ngùi nhắc lại kỷ niệm: “Tôi gặp Khánh Băng lần đầu ở tiệm Phở Giao Linh trên đường Lê Văn Duyệt Quận 10 khoảng năm 1995. Anh ta rất cởi mở dễ mến và nói mới nghe trên đài VOA,Trường Kỳ phỏng vấn tôi.. Từ ngày đó thỉnh thoảng những lần về nước, chúng tôi có gặp nhau.. Nay nghe tin TQB nói Ông đã mất 10 năm rồi.. Thật là bất ngờ”.
Người viết quen nhạc sĩ Phạm Mạnh Đạt từ năm 1989, lúc ấy Ông mới phát hành cuốn CD Một Thuở Yêu Đàn với những tiếng hát Thanh Thuý, Lệ Thu, Thảo Mi, Ngọc Trọng, Diễm Châu  cùng tiếng đàn Hạ Uy Cầm độc đáo của Ông..Ông ghé văn phòng nhờ đăng Quảng Cáo trên tờ Thế Giới Nghệ Sĩ số ra mắt, từ đó chúng tôi quen nhau. Có 1 lần, Ông nhờ tôi tổ chức một đêm thứ năm (đêm sinh nhật hoặc ra mắt băng mà lâu rồi tôi không nhớ rõ) tại vũ trường Bleu, đêm đó chưa tới giờ khai mạc mà NS Phạm Duy và khách của Ông đã đến từ rất sớm. Trước khi cúp điện thoại, nhạc sĩ Phạm Mạnh Đạt cho biết có thể tháng 8 hoặc tháng 9 sắp tới, Ông sẽ làm một đêm “50 Năm Vui Buồn Với Âm Nhạc” và dặn: “Nhớ xuống chơi với tôi.. Con số 50 Năm chỉ là con số kỷ niệm rong chơi với tiếng đàn Hạ Uy Cầm, chứ chẳng có gì to tát cả”.. Tôi luôn học ở Ông sự khiêm tốn và gần gũi dễ mến đó, cho dẫu Ông đã có cho mình khoảng 12, 13 tác phẩm CD, DVD, Video.. trong đó có một số bài hoà tấu Hạ Uy Cầm và một số ca khúc do Ông sáng tác. Chắc chắn tôi sẽ có mặt với Ông trong ngày đặc biệt này để cùng chia sẻ niềmvui với một người nhạc sĩ tài năng, lúc 12 tuổi đã chơi đàn Banjo Alto, khi lên Hà Nội học thêm Vĩ Cầm, rồi còn biết chơi thêm một vài nhạc cụ khác như Tây Ban Cầm, Đại Hồ Cầm (contrabass).. nhưng quyến rũ nhất với Ông, vẫn là Hạ Uy Cầm,một nhạc cụ mà người nào đó đã ca ngợi là “tiếng đàn có sức quyến rũ lạ thường, dù khi bản nhạc chấm dứt, người nghe cảm thấy dư âm còn đâu đó, đang đọng thành từng giọt thấm vào nỗi rung cảm trong tâm hồn”.

MC NGỌC PHU nhận lời sẽ ghé gian hàng Việt Tide trong 2 ngày Hội Xuân của Tổng Hội Sinh Viên sắp tới đây, không những ghé chơi mà còn giữ mục Bốc Quẻ để đoán vận xui may cho những ai tò mò muốn biết năm mới của mình ra sao.. Bất cứ nghệ sĩ nào có CD, DVD cần bán hay giới thiệu,xin mời ghé qua gian hàng để băng đĩa bày bán.. Tất cả hoàn toàn trong tinh thần giúp đỡ nhau, không tính một lệ phí nào.

MELODY FLOWERS, một tiệm hoa nổi tiếng tại Quận Cam có nhiều loại hoa đẹp, lạ do Phương Hồng Quế làm chủ từ năm 1994, 1995 và vì bận rộn đi show ca hát cho nên cô đã sang cho vợ chồng người em là Thọ và Chi rất có khiếu trong ngành cắm hoa. Với lối tiếp khách hòa nhã, giá cả rất nhẹ nhàng, lối cắm hoa bắt mắt, tiệm Melody Flowers được coi như là một trong những cửa tiệm đắt khách nhất hiện nay.Tại Melody Flowers, chuyên cung cấp đủ các loại hoa như hoa cưới, hoa tang, hoa sinh nhật, cây xanh.. Nhận gửi hoa toàn nước Mỹ. Đặc biệt có nhận gửi hoa về Việt Nam. Có nhận cắm hoa cho hội đoàn, đám cưới, sinh nhật..
Mọi liên lạc với Melody Flowers: 14520 Brookhurst StreetWestminster, CA 92683
Điện thoại: (714)775-4648


TÙY BÚT THANH LAN


Quý vị khán thính giả và độc giả thân thương
    Lại một năm nữa trôi qua nhanh như tia chớp trên bầu trời mênh mông. Một năm khi nghĩ lại thì chẳng là gì cả trong một đời người, huống gì là đối với vũ trụ hằng hà sa số những tinh tú đang luân chuyển không ngừng. Số mệnh con người có xoay chuyển theo những hành tinh cách xa chúng ta hàng bao nhiêu năm ánh sáng ấy không? Hãy để cho những chiêm tinh gia hoặc các nhà khoa học tính toán dùm chúng ta.
      Năm hết Tết đến, ai ai cũng hay có thói quen ngồi ngẫm nghĩ lại những sự việc trong năm, trong cuộc đời mình, hoặc có dính líu chút ít tới những người mình quen biết, chẳng dám bàn xa tán gẫu đến những chuyện chiến tranh, chính trị, ôi thôi thì trái đất có bao giờ bình yên. Chẳng đánh nhau chỗ này thì giết chóc chỗ kia. Lại thấy tội nghiệp cho anh nhà báo người Nhật và hai ông bà thân sinh ra anh ấy. Dù chẳng phải quen biết gì với họ, nhưng ít gì Thanh Lan cũng có một số bạn bè người Nhật nên lòng cũng thấy xót xa.
    Ô hay, lại chạy xa chuyện mình muốn nói rồi. Năm vừa qua, năm 2014, trong cuộc đời của Thanh Lan, vui cũng có mà buồn nhiều cũng có quý vị ạ. Chuyện tình cảm gia đình không mấy gì suông sẻ, nhiều lo buồn lắm. Nhưng ngược lại thì khán giả khắp nơi đều dành cho Thanh Lan những tình cảm không hề bị sứt mẻ theo giòng thời gian, mà còn đằm thắm hơn, chân thành hơn nhiều. Nhờ đó, Thanh Lan mới có được niềm vui sống, yêu đời. Đứng trên sân khấu nhìn thấy quý vị áo quần bảnh bao, mặt mày hớn hở, làm sao mà Thanh Lan không yêu đời được. Nhất là trong show New Year’s Eve 31 tháng 12 năm 2014 tại nhà hàng Kim Sơn ở Houston. Vừa đông, vừa vui vừa tráng lệ.
    Năm vừa qua, Thanh Lan đi xa cũng nhiều, nhưng có lẽ xa nhất là chuyến đi Noumea, New Caledonia. Thanh Lan thì mê cảnh thiên nhiên lắm, nhất là nơi nào có phong cảnh giống ở Việt Nam thì trong lòng quyến luyến không nỡ rời.
   20 năm rồi, từ ngày đặt chân đến California, Thanh Lan chưa có dịp trở về Saigon. Bây giờ chắc đổi thay nhiều lắm. Chợt nhớ lại một ngày cuối năm 1974, Thanh Lan cùng với anh Jo Marcel, anh Elvis Phương và Cathy Huệ cùng nhau đáp chuyến bay đi Noumea, New Caledonia do anh Laurent Chuvan mời qua. Vậy mà đã đúng 40 năm qua rồi. Cuối năm 2014, Thanh Lan trở lại Noumea (lần thứ tư qua hát ở đảo này), đi khắp các nơi để nhớ lại những bạn bè cũ ngày xưa đã chào đón mình lần đầu tiên tại đây. Kẻ mất người còn. Còn lại như anh Jo thì còn đứng chung sân khấu, riêng anh Laurent thì đã qua đời nên đành đến nghĩa trang thăm anh mà thôi.
    Ngẫm nghĩ lại thì đã 20 năm ra đến hải ngoại, Thanh Lan cũng đã mất đi biết bao bạn bè nghệ sĩ. Mỗi khi nhìn lại những tấm ảnh đi hát tại các nơi, thì lại nhận ra: “À.. người này đã không còn trên cõi đời này với chúng ta.. Ahh.. người kia đã đi về bên kia thế giới”. Đâu rồi anh Sĩ Phú với giọng nói thật êm ấm, đâu rồi Ngọc Lan với tiếng cười khúc khích trẻ thơ, đâu rồi anh Nhật Trường, đâu rồi anh Duy Khánh, đâu rồi anh Hùng Cường, đâu rồi anh La Thoại Tân, đâu rồi chú Đoàn Châu Mậu.. và còn nhiều, còn nhiều nữa. Sao mà buồn quá.
    Hôm qua vừa gọi điện thoại thăm anh Ngọc Phu. Nhớ mãi sự nhanh nhẹn của anh tại Queen Bee những đêm huy hoàng của một thời xa xôi yêu dấu.. Thanh Lan không quên bạn bè đâu anh, chỉ là có nhớ đến ai thì chỉ biết ngồi trầm ngâm, ngồi thừ ra đó, chứ sau đó là lại xoay vần với con tạo. Có giờ giấc nào yên đâu mà dành được thì giờ cho tất cả bạn bè.
    Có những bức ảnh chụp tại hòn đảo thơ mộng mà Thanh Lan muốn chia sẻ cùng quý vị. Nhìn lại 40 năm, thoáng thấy đời người sao nhỏ nhoi. Cảnh cũ thì còn đó mà những người xưa đâu rồi.. Quả như Bà Huyện Thanh Quan từng viết:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”..

THANH LAN
Cali tháng 2, năm 2015.

Sau lưng Thanh Lan là hòn đảo có hình dáng kỳ lạ cứ như đầu voi đuôi chuộtSau lưng Thanh Lan là hòn đảo có hình dáng kỳ lạ cứ như đầu voi đuôi chuột

Khi Thanh Lan đến nơi này cũng là lúc Tổng Thống Pháp ghé ngang thành phố này nên lúc chụp hình thấy có nhiều xe hơi có bodyguard canh phòng.Khi Thanh Lan đến nơi này cũng là lúc Tổng Thống Pháp ghé ngang thành phố này nên lúc chụp hình thấy có nhiều xe hơi có bodyguard canh phòng.

Nhánh phượng bên bờ biển mọc sà xuống mặt đất khiến Thanh Lan nhớ da diết mùa Hè bên VN.Nhánh phượng bên bờ biển mọc sà xuống mặt đất khiến Thanh Lan nhớ da diết mùa Hè bên VN.

Ngồi nơi đây mà nhớ vô cùng hình ảnh quê nhàNgồi nơi đây mà nhớ vô cùng hình ảnh quê nhà

CA SĨ HỒNG HẠNH (CON GÁI NGHỆ SĨ NGỌC CẨM – NGUYỄN HỮU THIẾT) BẠY GIỜ RA SAO? Ở ĐÂU?

(trích bài viết của Trần Quốc Bảo đăng trong tuần báo Việt Tide phát hành ngày thứ sáu 13 tháng 2 năm 2015)

Từ trái sang phải: Trần Quốc Bảo, Nguyễn Hữu Thiết, Hồng Hạnh tại căn nhà nhỏ trên đường Trần Quốc Toản đầu tháng 9 năm 1996Từ trái sang phải: Trần Quốc Bảo, Nguyễn Hữu Thiết, Hồng Hạnh tại căn nhà nhỏ trên đường Trần Quốc Toản đầu tháng 9 năm 1996       Đã lâu, có gần 20 năm người viết không gặp lại Hồng Hạnh. Không rõ giờ đây, cô còn ở trong căn nhà trên con đường Trần Quốc Toản, tên mới là 3 tháng 2 hay không? Những năm 1995, 1996, đôi mắt nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết đã lòa, nhưng mỗi khi Ông nghe tin tôi về thăm quê nhà.. chỉ nghe tin thôi, Ông đã nhờ người chở thẳng đến KS Hương Việt nơi tôi thường lưu trú để hỏi han chuyện bằng hữu bên Mỹ. Lúc gặp được, Ông mừng lắm, và sau những giờ trò chuyện, tác giả Chàng Là Ai, Gửi Người Tôi Yêu..lại bảo: “Ghé thăm Hồng Hạnh một tý đi.. Nhà em nó gần Viện Hóa Đạo.. Anh em trao đổi tin tức ca nhạc xem có gì lạ không?”. Trưa đầu tháng 9 năm 1996, thành phố Saigon bụi mù nóng như điên, vậy mà lúc nào Ông cũng nghiêm chỉnh với veston và mũ phớt.. Trong lúc mồ hôi tôi tuôn như tắm vì nóng, còn Ông hình như chẳng biết nóng bức là gì..
   Có lẽ vì được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết báo trước, nên Hồng Hạnh về nhà sớm đợi khách. Thời gian đó, cô bù đầu khi cùng chồng điều hành một nhà hàng Nhật nên nhiều khi phải từ chối luôn cả một số show ca nhạc. Cô cho biết mình tiếc nuối về chuyện này, và tiếc nuối luôn cả chuyện thích đóng phim, có được người mời mà vẫn phải đành từ chối.. “Sao kỳ lạ vậy?”, tôi hỏi.. “Hồi năm 1990, đạo diễn Lê Dân có ngõ ý, nhưng lúc đó chạy show tất bật đâu còn giờ nào để quay.. Đến khi mới lấy chồng năm 1991, có người mời quay cuốn phim Cô Thủ Môn Tội Nghiệp, quay sang hỏi ý ông chồng, ảnh không nói gì.. lại thấy ngại quá, Hồng Hạnh đành từ chối”… Câu chuyện chưa vơi nửa bình trà, thấy điện thoại Hồng Hạnh nhiều người gọi tìm, tôi viện cớ có công việc để ra về. Ba người chụp vài tấm ảnh kỷ niệm và món quà tôi gửi tặng Hồng Hạnh hôm đó là những tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ mang từ Mỹ về.

Hồng Hạnh và món quà nhỏ từ Mỹ đem về, tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ.Hồng Hạnh và món quà nhỏ từ Mỹ đem về, tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ.

     Từ ngày đó đến nay, đã 19 năm dài. Dù không nói chuyện hoặc thư từ, nhưng tôi vẫn theo dõi những tin tức sinh hoạt ca nhạc của nàng. Hồng Hạnh vẫn ca hát, thực hiện album, góp mặt trong những Showmà cô yêu thích, chẳng hạn đầu năm 2012, Hồng Hạnh ra Hà Nội tham dự chương trình “Nguyễn Ánh 9 – nửa thế kỷ âm nhạc”, trong đêm này, cô được người yêu nhạc tại Hà Nội tán thưởng khi trình bày lại nhạc phẩm Không của Nguyễn Ánh 9 bằng lời Nhật mà cô đã viết. Rồi còn thực hiện được giấc mơ đóng phim, mở đầu với bộ phim Công Ty Thời Trang của đạo diễn Đinh Đức Liêm, và sau đó là những bộ phim Ván Cờ Tình Yêu, Có Lẽ Nào Ta Yêu Nhau, Trận Chiến Hoa Hồng.. và đó là những gì tôi biết được những sinh hoạt của chị 19 năm qua.

    Tối thứ hai tuần này (9/2), nhạc sĩ Trần Quang Hải từ Paris báo tin cho tôi biết nữ ca sĩ Hồng Hạnh sẽ khai trương cửa tiệm HCAFE tại 59 Tú Xương, Quận 3 do cô làm chủ tiệm vào ngày thứ sáu 13 tháng 2 tới đây.

    Trong lá thư mời thân hữu, đồng nghiệp, Hồng Hạnh cho biết: “Như vậy là sau hơn nửa tháng, HCafe Production đã chính thức ra đời, cùng với đó là rất nhiều tình cảm và niềm tin cho sự phát triển của HCafe từ phong cách đến chất lượng nhằm mang đến sự phục vụ tốt nhất cho mọi người… Nhân ngày khai trương (ngày 13.02.2015) Trân trọng kính mời các bạn hữu đang, đã và sẽ đồng hành cùng Hồng Hạnh đam mê thưởng thức âm nhạc thực thụ đến với đêm nhạc cùng các nghệ sĩ Sài Gòn đêm nhạc để được đắm mình trong không gian lắng đọng với những giai điệu yêu đời, đến để thưởng lãm nhiều màu sắc âm nhạc phong phú và cảm nhận hơi thở, niềm tin yêu cuộc sống”.

      Theo tin một người bạn cho biết, thời gian hai năm trở lại đây, cuộc sống vợ chồng Hồng Hạnh nhàn rỗi hơn nhiều. Cậu con trai sinh năm 1992 có tên Hồng Nhật đi du học ở xa.  Vợ chồng cô không còn bận rộn bù đầu trong việc kinh doanh, chỉ giữ lại một nhà hàng làm nơi gặp gỡ bạn bè. Có lẽ vì thế, mà đến mùa Valentine năm nay, cô mới có cảm hứng để mở thêm một quán café nhạc cho mình, để bạn bè, thân hữu tới ca hát cho thỏa thích.. Cầu chúc HCAFE của Hồng Hạnh luôn phát đạt để người Saigon có thêm một nơi thật ấm cúng thanh lịch mà thưởng thức.

Cô dâu Hồng Hạnh và chú rể người Nhật trong ngày đám cưới đầu năm 1991Cô dâu Hồng Hạnh và chú rể người Nhật trong ngày đám cưới đầu năm 1991

Hồng Hạnh, người đàn bà ôm đàn hát tình caHồng Hạnh, người đàn bà ôm đàn hát tình ca

Tờ quảng cáo HCAFE của Hồng HạnhTờ quảng cáo HCAFE của Hồng Hạnh

DANH CA BẠCH YẾN VÀ NỮ CA SĨ UYÊN PHƯƠNG LẦN ĐẦU TIÊN HÁT CHUNG VỚI NHAU Ở VIỆT NAM

GSTS Trần Văn Khê cùng hai ca sĩ Bạch Yến (giữa), Uyên Phương (trái) hát chung 3 người ca khúc Shina No Yoru bằng tiếng Nhật trước sự kinh ngạc của khán giả.GSTS Trần Văn Khê cùng hai ca sĩ Bạch Yến (giữa), Uyên Phương (trái) hát chung 3 người ca khúc Shina No Yoru bằng tiếng Nhật trước sự kinh ngạc của khán giả.      Theo một bản tin của nhạc sĩ Trần Quang Hải cho biết: “Lần đầu tiên Bạch Yến và Uyên Phương cùng góp mặt trên một sân khấu (phòng trà WE) tại quê nhà. Tại sao là lần đầu tiên? Khi Uyên Phương bắt đầu nổi tiếng ở Saigon vào năm 1967 thì Bạch Yến đã không còn ở Việt Nam mà đang sinh sống và hoạt động ở Mỹ (Bạch Yến rời Việt Nam sang Mỹ năm 1965 do lời mời của ông Ed Sullivan để trình diễn trong chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng ở Mỹ) . Hai chị em cô cậu (má của Bạch Yến là chị ruột của ba Uyên Phương). Ba của Uyên Phương (ở nhà gọi là cậu Út vì là người nhỏ nhứt trong gia đình) là người sáng lập đoàn môtô bay mà Bạch Yến là người đi môtô bay giỏi nhứt ở phe nữ. Khoảng thời gian đó Uyên Phưong hãy còn là một cô bé nhỏ chưa cắp sách đến trường, trong khi Bạch Yến đã trở thành ngôi sao của đoàn môtô bay đi khắp các tỉnh xứ Việt Nam (từ năm 1954 tới năm 1956).
     Khi xảy ra chuyện Bạch Yến té mô tôbị thương tại hội chợ Thị Nghè năm 1956, thì đoàn môtô bị giải tán . Từ đó BạchYến chuyển sang nghề ca hát tại một số phòng trà thời thập niên 50, nổi tiếng nhứt với bản «ĐÊM ĐÔNG» được Bạch Yến chuyển từ điệu Tango sang Slow Rock vào năm 1957. Từ đó bản « Đêm Đông » đã đi liền với cuộc đời Bạch Yến gần 60 năm.
    Từ 1961 tới năm 1963, Bạch Yến sang Pháp học thêm kỹ thuật hát thanh nhạc và đã thu 3 dĩa nhạc twist với hãng Polydor và trình diễn tại Pháp, Đức, Áo. Cuối năm 1963, Bạch Yến quay về Việt Nam trở lại phòng trà Tự Do thường trực đóng đô tại đó.
    Năm 1965, Uyên Phương đi theo người chị bà con nữ ca sĩ Bạch Yến tới phòng trà Quốc Tế chơi. Ông chủ phòng trà đã nghe giọng hát Uyên Phương và nhờ hát thế cho nữ ca sĩ Phương Dung 3 ngày. Sau đó được mời hát phòng trà Quốc Tế, Bồng Lai, vũ trường Mỹ Phụng, Văn Cảnh, Baccara, Kontiki, Olympia, Maxime, Queen Bee. Ngoài ra còn hát ở các đại nhạc hội, và chương trình ca nhạc trên đài truyền hình. Trong lúc đó, người chị Bạch Yến đã rời Việt Nam sang Mỹ.
     Sau 1975, Uyên Phương sang Mỹ cùng chồng và định cư tại miền Nam Cali từ năm 2005. Năm 2010 Uyên Phương trở lại sân khấu hát giúp vui từ thiện với Connie Kim và Ngọc Hiếu (lấy biệt hiệu là U.C.N.).Vào tháng 12 năm 2014 Uyên Phương về Việt Nam với ý định thâu 25 bản nhạc Việt Nam để thực hiện 2 CD làm kỷ niệm cho cuộc đời đi hát của mình. Cùng lúc đó Bạch Yến cũng đang ở Việt Nam thực hiện chương trình Sol Vàng – Bạch Yến Đêm Đông tại nhà hát Hòa Bình vào ngày 13 tháng 12 năm 2014. Hai chị em gặp lại nhau sau nhiều năm xa cách . Từ đó mới nẩy ý là hát chung với nhau trong một chương trình tại quê hương . Đây là lần đầu tiên hai giọng hát đều nổi danh tại Việt Nam trước 1975 có dịp đứng chung trên một sân khấu (phòng trà WE). Thật là một chuyện hi hữu không chờ đợi và không có xếp đặt trước. Phòng trà WE đứng ra tổ chức chương trình đặc biệt này. Ngày 25 tháng 1, 2015, hai nữ ca sĩ sánh đôi và cùng hát chung đã tạo một tiếng vang tốt đẹp với khán giả Sài thành. GSTS Trần Văn Khê được mời và có dịp hát chung với Bạch Yến và Uyên Phương qua bản tân nhạc nổi tiếng của Nhựt SHINA NOYORU – Đêm Trung Hoa (thời thế chiến thứ nhì 1939-45). Cả ba người đêù hát tiếng Nhựt trước sự kinh ngạc của khán giả và nhận được một tràng pháo tay nồng nhiệt. Buổi trình diễn hiếm có này đã gây ấn tượng tốt đẹp đối với khán giả trong phòng và tạo một hạnh phúc vô bờ cho đôi nữ nghệ sĩ tài danh cùng dòng họ gia đình có dịp sánh vai trên sân khấu Sài thành lần đầu tiên”.
Từ trái sang phải: Ca sĩ Bạch Yến, GS Trần Văn Khê, Ca sĩ Uyên PhươngTừ trái sang phải: Ca sĩ Bạch Yến, GS Trần Văn Khê, Ca sĩ Uyên Phương

Ca sĩ Uyên Phương đang hát tại phòng trà We ngày 25 tháng 1 năm 2015Ca sĩ Uyên Phương đang hát tại phòng trà We ngày 25 tháng 1 năm 2015

Ca sĩ Uyên Phương, Nhạc sĩ Trần Quang HảiCa sĩ Uyên Phương, Nhạc sĩ Trần Quang Hải

1001 KHUÔN MẶT THƯƠNG YÊU: CA SĨ CHÂU TUẤN

Hoàng và Châu Tuấn chụp tại Ocean Blue ngày 21 tháng 3 năm 2010Hoàng và Châu Tuấn chụp tại Ocean Blue ngày 21 tháng 3 năm 2010

      Đã khá lâu, người viết không còn thì giờ lẫn thói quen ngồi một mình thưởng thức những chương trình ca nhạc trên màn ảnh nhỏ, nhưng trên chuyến bay 3 tiếng từ Cali đến Houston tuần qua, nhân dịp không ngủ được bèn mở ngay cuốn DVD Live show hài Thúy Nga “Xin lỗi em chỉ là con quỷ” vừa phát hành được vài ngày để xem.. không ngờ 21 tiết mục trong 2 bộ DVD này đã lôi cuốn tôi vào một vùng trời nghệ thuật khá phong phú và đa dạng.. Từ những màn hài kịch cười nghiêng ngửa, cho đến những phần đơn ca, song ca rất du dương trữ tình, và nhất là người viết được nhìn và nghe lại tiếng hát thật trầm ấm, truyền cảm của ca sĩ Châu Tuấn, một khuôn mặt từng được báo chí Saigon thời 1997, 1998 chọn anh là một trong những Tứ Đại Thiên Vương hát hay và đẹp trai nhất lúc bấy giờ. Giọng ca Châu Tuấn rất phù hợp với những loại truyện ca của Trần Thiện Thanh như Anh Không Chết Đâu Em, Hoa Trinh Nữ và lần này lại rất thành công khi song ca với Mai Vy nhạc phẩm Lâu Đài Tình Ái trong cuốn DVD mới của danh hài Thúy Nga. Tôi mừng cho Tuấn khi đã giữ vững được phong độ dù đã phải trải qua nhiều chuyện buồn những năm trước.

    Tôi gặp Châu Tuấn lần đầu tại nhà ca sĩ Khắc Triệu – Cẩm Vân vào trung tuần tháng 9 năm 1995. Hôm đó không rõ tiệc gì nhưng trong nhà Vân Triệu có cả danh hài Bảo Chung, nhạc sĩ Bảo Phúc, Bảo Chấn và ông bầu Dũng (Vũ Ly) chuyên tổ chức show ở Âu Châu.. Những ngày tháng đó,Châu Tuấn đang ở trên đỉnh cao của danh vọng với lứa tuổi mới 30. Hình như thời gian này hoặc sau đó không lâu, Châu Tuấn được báo Điện Ảnh bình chọn là một trong 10 khuôn mặt ca nhạc nghệ thuật được yêu chuộng nhất ở Saigon bên cạnh Hồng Vân, Phương Thanh.. nổi đình đám lắm.

Ảnh chụp TQB gặp Châu Tuấn lần đầu tại nhà ca sĩ Cẩm Vân – Khắc Triệu tháng 9 năm 1995. Từ trái: Bầu show Dũng (Vũ Ly), H.D.Dũng, Trần Quốc Bảo, Nhạc sĩ Bảo Phúc (bị che), Châu Tuấn, Khắc Triệu, Cẩm Vân, cựu phu nhân BC, danh hài Bảo Chung, Nhạc sĩ Bảo ChấnẢnh chụp TQB gặp Châu Tuấn lần đầu tại nhà ca sĩ Cẩm Vân – Khắc Triệu tháng 9 năm 1995. Từ trái: Bầu show Dũng (Vũ Ly), H.D.Dũng, Trần Quốc Bảo, Nhạc sĩ Bảo Phúc (bị che), Châu Tuấn, Khắc Triệu, Cẩm Vân, cựu phu nhân BC, danh hài Bảo Chung, Nhạc sĩ Bảo Chấn

    Thứ hai tuần qua, trong căn nhà ấm cúng của Châu Tuấn trên con đường Olive, tôi nhận ra một điều, chàng trai tôi quen 20 năm trước đã quá nhiều thay đổi. Những tánh sôi nổi, giận hờn đã không còn, mà trước mặt, một Châu Tuấn rất an nhiên tự tại, biết thỏa lòng với những hạnh phúc đang có của mình. Bên tô bún riêu nóng hổi do chính tay Châu Tuấn vào bếp nấu, chúng tôi trò chuyện với nhau gần 2 tiếng đồng hồ. Chuyện của cậu bé Nguyễn Văn Tuấn bước vào con đường ca hát từ những ngày còn rất bé. Thuở học cấp1 ở trường Độc Lập (Phú Nhuận), lúc nào Tuấn cũng được thầy Hiệu Trưởng chở đi thi hát. phổ thông, Anh đã sinh hoạt mạnh mẽ trong nhóm văn nghệ của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu và lần nào thi tiếng hát măng non, Châu Tuấn đều chiếm được giải nhất hoặc nhì. Ở tuổi 12.. chàng đã được lên hát đơn ca ở đài truyền hình. Một kỷ niệm khó quên, là lần Châu Tuấn lãnh giải thiếu niên HCV tại Nhà Hát Lớn, bên kịch có chị Thẩm Thúy Hằng, bên tân nhạc người lớn có Cẩm Vân.. Thời gian học cấp 3 ở trường Phan Đăng Lưu, anh vừa đi học vừa đi hát kiếm tiền. Những năm 1986 đến 1990, anh tham gia nhóm hát mầu áo xanh và đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Đức Trung đi trình diễn nhiều nơi. Một kỷ niệm vui thời gian này, Châu Tuấn và ca sĩ Nguyễn Lệ Thu có nhận hợp đồng lẫn cát xê đi hát ở thủ đô Phnôm Pênh (Cam Bốt), tiền lãnh rồi nhưng lúc đó Cam Bốt tình trạng an ninh lộn xộn quá nên bầu không dám mở, thành thử tiền cứ nhận mà nằm nhà chờ lệnh.. Sau đó, Châu Tuấn có 2 năm làm ca sĩ chuyên nghiệp của đoàn ca nhạc nhẹ Tháng 8.

    Tháng 8 năm 1996, khi về thăm Sàigòn, tôi mừng khi thấy tốc độ đi show của Tuấn vẫn ào ạt. Chàng khoe vừa thu xong cho Đài Truyền Hình và chuẩn bị sang Âu Châu lưu diễn tiếp. Tôi mời Châu Tuấn ghé khách sạn Hương Việt dự đám cưới danh hài Hoài Linh có đông phái đoàn nghệ sĩ từ Mỹ về như Quang Bình, Trang Thanh Lan, Trung Nghĩa, chị Yến (TT Tú Quỳnh), Bảo Thiên, Quốc Anh (Bolsa Boys Band).. Dù bận hát mấy show đêm đó nhưng Tuấn vẫn ghé như lời đã hứa. Ngày đó, nhà báo Phạm Xuân Hướng từng khen Tuấn: “Cứ như con thoi, ở đâu khán giả yêu cầu là Châu Tuấn có mặt. Bầu Show chỉ cần mời Châu Tuấn, một vài cây tấu hài là đã thành một chương trình tạp kỷ đứng được nhiều ngày ở tỉnh. Khán giả tỉnh thỉnh thoảng mới gặp Châu Tuấn trên vô tuyến, nên tình cảm của họ giành cho anh thật dễ thương. Có xuất diễn Châu Tuấn hát tới 10 bài, khán giả vẫn chưa cho vào. Có người hỏi đùa Châu Tuấn.. Hát nhiều như vậy không thấy mệt sao? Thực sự tình cảm của khán giả đã tiếp cho Châu Tuấn cảm hứng hát mà quên mệt.. Châu Tuấn hát thành công nhiều loại nhạc: nhạc tình,nhạc dân ca, nhạc trẻ.. nhưng anh hay chọn các bài hát nhạc tình như Một thuở yêu người, Những lời dối gian, Tình đã phai, Cà phê đắng.. bởi giai điệu trẻ trung dễ đi vào lòng người”. Phạm Xuân Hướng còn khen Tuấn nhiều điều lắm..
    Trong số những nghệ sĩ thân thiết nhất với Châu Tuấn, phải kể đến vợ chồng Khắc Triệu – Cẩm Vân và Duy Thanh. Ngày đó, Vân Triệu cũng thường khen với tôi về giọng ca rất nhẹ nhàng và lãng mạn của cậu em này. Vân kể: “Mấy hãng phim khi làm nhạc nền bây giờ hay mời Tuấn hát, hồi đầu có Nhành lan tím, Tình nhỏ làm sao quên, Hiệp sĩ cuối cùng, Tình nàng áo trắng..”. Riêng Duy Thanh thì mê nhất bộ phim Sắc Hoa Mầu Nhớ mà mỗi khi giọng Tuấn cất lên bài hát SHMN của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, diễn viên chính nhép miệng là Lê Công Tuấn Anh là hầu như người xem phim ai cũng khóc bởi tiếng hát buồn lặng đến tê tái người của Châu Tuấn:

Hoa phượng rơi đón mùa thu tới
Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
Sắc tươi màu pháo vui
tiễn em chiều năm ấy

(Sắc Hoa Mầu Nhớ – nhạc và lời Nguyễn Văn Đông)

     Về điểm này, Phạm Xuân Hướng cho biết:“Hát nhạc cho phim tưởng đơn giản nhưng thật ra khó rất nhiều so với hát trên sân khấu. Bởi hát ở sân khấu, tụ điểm ca nhạc, người ca sĩ chỉ cần xuất được cái hồn của bài hát. Còn trong phim, người hát phải đặt bài nhạc trong tâm trạng các nhân vật. Nhân vật trong phim vui thì phải hát giọng vui, nhân vật buồn thì phải hát giọng buồn. Châu Tuấn giỏi vì đã hát được giọng “quê” thay cho Lê Công Tuấn Anh trong phim Sắc Hoa Mầu Nhớ”.

    Tháng 12 năm 2002, Châu Tuấn rời Việt Nam sang Mỹ. Như một bức ngoặt của định mệnh, người ca sĩ tên tuổi ồn ào năm xưa giờ tạm gác lại mọi hào quang và những sinh hoạt âm nhạc về đêm. Rất buồn nhưng chàng vẫn luôn tin vào 2 chữ số phận và sự sắp đặt của Bề Trên Thiêng Liêng nên không than phiền cuộc đời gì cả.. Tháng 1 đầu năm 2004, có một bà thầy bói gặp Tuấn chợt nói: “Chỉ nay mai thôi, sẽ có một cô gái giúp cậu gặp một người đàn ông, và người này sẽ tạo cơ hội cho cậu thành công”.. Nghe trong lòng có vui nhưng Châu Tuấn cũng không dám kỳ vọng gì.. Bỗng nhiên có một ngày, chàng gặp lại Thiên Kim, người ca sĩ ngày xưa từng đi hát chung ở Saigon. Kim có nhã ý giới thiệu Châu Tuấn gặp nhạc sĩ Trúc Hồ của TT Asia, và chỉ sau 1, 2 lần tiếp chuyện, thử giọng, Châu Tuấn đã chính thức được Trúc Hồ và Thy Vân mời cộng tác trong cuốn Asia 43 chủ đề Tiếng Hát Từ Trái Tim thu hình ngày 20 tháng 3 năm 2004 tại San Jose. Trong cuốn này, Châu Tuấn cùng 2 người ca sĩ trẻ khác là Đặng Minh Thông và Phạm Khải Tuấn đã tam ca Liên Khúc Trái Tim Bên Lề 1,2 và 3. Hình ảnh và tiếng hát 3 người trẻ này như một ngọn sóng thần, như những luồng gió mát đã tạo được những phút giây trẻ trung, lạ mắt cho người yêu nhạc vào thời điểm đó. Chỉ 3 tháng sau, ban tam ca này lại được góp mặt với ca khúc Tình Yêu Vụt Sáng (Maladie D’amour nhạc Pháp lời Việt Khải Tuấn) trong cuốn Asia số 44 chủ đề Mùa Hè Rực Rỡ tại Kodak Theatre, một đại hý viện tổ chức thường niên những Giải Oscar nổi tiếng của Hollywood. Và liên tục nhiều cuốn sau đó, Châu Tuấn cùng 2 bạn đã thành công với những nhạc phẩm Trái Tim Bên Lề, Bài 20, LK Cõi Buồn & Căn Gác Lưu Đầy, Chỉ Có Riêng Em, Hỡi Bạn (Hey Jude)..

    Sau khi tạm ngừng quay từ cuối năm 2007,Châu Tuấn cùng Phạm Khải Tuấn và Minh Thông lại có dịp tái ngộ nhau với ca khúc Tâm Hồn Cô Đơn của nhạc sĩ Anh Bằng trên sân khấu Long Beach Convention Center vào ngày 11 tháng 7 năm 2009 trong chương trình 30 Năm Thành Lập Trung Tâm Asia.. và một trong những cuốn DVD có nhiều kỷ niệm nhất với Châu Tuấn, đó là cuốn Asia 71 chủ đề 32 Năm Kỷ Niệm Thành Lập TT Asia được thu hình ngày 24 tháng 11 năm 2012, Gọi là kỷ niệm, bởi nó là một chuỗi liên khúc mở màn với những ca khúc Saigon (Y Vân), Có Những Người Anh (Võ Đức Hảo), Mùa Hè Rực Rỡ (NNQ, lời Việt Dzũng) do Ngọc Minh, Phương Hồng Quế, Gia Huy, Thanh Trúc, Cardin Nguyễn.. và trong phần này, Châu Tuấn lẫn Quốc Khanh đã hát Anh Không Chết Đâu Em rất xúc động.

    Công việc đang trôi chẩy với những show nhạc của Lâm Thúy Vân, rồi những show với Tóc Tiên, Bích Thảo ở North Carolina, nhưng chỉ hơn 3 tháng sau, ngày 13 tháng 3 năm 2013, tin buồn thân phụ của Châu Tuấn từ trần tại VN đã khiến tinh thần anh suy sụp hoàn toàn. Thấy con trai bên xứ người như vậy, người mẹ ruột của Châu Tuấn năm đó đã 74 tuổi, tìm đủ mọi cách để qua Mỹ thăm con. Hai mẹ con gặp lại nhau nước mắt ràn rụa tại phi trường Los Angles đúng ngày sinh nhật của Châu Tuấn, ngày 6 tháng 9 năm 2013 sau hơn 10 năm tình mẫu tử bị phân ly.. Cái Tết 2014, là một mùa Xuân tuyệt vời nhất của Châu Tuấn, chàng trọn vẹn hạnh phúc trong tình yêu lẫn tình mẫu tử.
Châu Tuấn (trái) chụp chung với thân mẫu và Hoàng tại ITango Club Noel 2013.Châu Tuấn (trái) chụp chung với thân mẫu và Hoàng tại ITango Club Noel 2013.

    Châu Tuấn tâm sự: “Ở tuổi này, em nghiệm được một điều. Không thể nào cãi được số Trời.. Cứ mỗi khi em đạt được ở những điểm gì cao nhất, đẹp nhất, là sau đó sẽ bị khựng lại, cứ như là một thử thách để mình được học hỏi, nhưng mỗi khi em buồn bã nhất, Thiêng Liêng lại mở cho em một cánh cửa khác để em nhìn thấy một bầu trời xanh nhiều mầu hy vọng.. Nghiệm ra điều này Em không hề buồn bã chi nữa, mà chỉ tập sống Tốt và giữ chữ Tâm sao cho trong sáng.
    Hy vọng với tiết mục Lâu Đài Tình Ái mà Châu Tuấn hát trong cuốn băng DVD mà danh hài Thúy Nga vừa phát hành sẽ là một dấu hiệu tốt cho sự trở lại của Châu Tuấn. Và bài viết này, như một nhịp cầu để nối gần tiếng hát Châu Tuấn với những tâm hồn yêu nhạc và nhất là với những ai đã từng hâm mộ giọng ca từng được mệnh danh tiếng hát của Sắc Hoa MầuNhớ, Xa Em Kỷ Niệm, Một Thuở Yêu Người..

  Mọi thư từ liên lạc của bằng hữu xin gọi về Châu Tuấn (714)928-0289 hoặc email về chautuan106@yahoo.com

TRẦN QUỐC BẢO

Hàng đứng từ trái: Châu Tuấn, Độ và hàng ngồi Khắc Triệu và thân phụ Cẩm Vân chụp ngày 12 tháng 3 năm 2002Hàng đứng từ trái: Châu Tuấn, Độ và hàng ngồi Khắc Triệu và thân phụ Cẩm Vân chụp ngày 12 tháng 3 năm 2002

TQB chụp Châu Tuấn với ca sĩ Asia như Mạnh Đình, Y Phương.. chụp ngày 18 tháng 9 năm 2005 show tương trợ nạn nhân bão lụt Katrina tại San Jose (photo by TQB)TQB chụp Châu Tuấn với ca sĩ Asia như Mạnh Đình, Y Phương.. chụp ngày 18 tháng 9 năm 2005 show tương trợ nạn nhân bão lụt Katrina tại San Jose (photo by TQB)

Châu Tuấn hát ngày 18 tháng 9 năm 2005 show tương trợ nạn nhân bão lụt Katrina tại San Jose (photo by TQB)Châu Tuấn hát ngày 18 tháng 9 năm 2005 show tương trợ nạn nhân bão lụt Katrina tại San Jose (photo by TQB)

Quốc Việt, Châu Tuấn chụp trong ngày sinh nhật Vĩnh Thịnh thứ năm 27 tháng 10 năm 2005 tại Bleu ClubQuốc Việt, Châu Tuấn chụp trong ngày sinh nhật Vĩnh Thịnh thứ năm 27 tháng 10 năm 2005 tại Bleu Club

Từ trái: Châu Tuấn, Cẩm Vân, Vivian, Hòang, chị Bích Loan, TQB trong vũ trường Bleu tối 13 tháng 4 năm 2006Từ trái: Châu Tuấn, Cẩm Vân, Vivian, Hòang, chị Bích Loan, TQB trong vũ trường Bleu tối 13 tháng 4 năm 2006

Từ trái: Ca sĩ Đức Vượng, TQB, Cẩm Vân, Châu Tuấn, Duy Thanh, 1 model, chị Khánh, Khắc Triệu.. chụp ngày 6 tháng 3 năm 2007 tại trường Los AngelesTừ trái: Ca sĩ Đức Vượng, TQB, Cẩm Vân, Châu Tuấn, Duy Thanh, 1 model, chị Khánh, Khắc Triệu.. chụp ngày 6 tháng 3 năm 2007 tại trường Los Angeles

Châu Tuấn hát trong sinh nhật Vivian ngày 5 tháng 4 năm 2007 tại MajesticChâu Tuấn hát trong sinh nhật Vivian ngày 5 tháng 4 năm 2007 tại Majestic

Bảo Huy và Châu Tuấn trong ngày sinh nhật Quốc Sĩ và Eric Trương Hào Hữu tối thứ năm 22 tháng 11 năm 2007Bảo Huy và Châu Tuấn trong ngày sinh nhật Quốc Sĩ và Eric Trương Hào Hữu tối thứ năm 22 tháng 11 năm 2007

Châu Tuấn và Hoàng chụp ngày 9 tháng 11 năm 2008 tại nhà hàng Grand PalaceChâu Tuấn và Hoàng chụp ngày 9 tháng 11 năm 2008 tại nhà hàng Grand Palace

Danh hài Quang Minh và Châu Tuấn chụp trong ngày Giỗ Tổ 1 tháng 10 năm 2009 tại nhà Hoài Tâm (ảnh TQB)Danh hài Quang Minh và Châu Tuấn chụp trong ngày Giỗ Tổ 1 tháng 10 năm 2009 tại nhà Hoài Tâm (ảnh TQB)

Từ trái: TQB, Châu Tuấn, vợ chồng Hùng - Vivian và Sandra Bảo Phương ngày 1 tháng 1 năm 2011 tại Sea Food Palace đêm Tiến Biên tổ chứcTừ trái: TQB, Châu Tuấn, vợ chồng Hùng – Vivian và Sandra Bảo Phương ngày 1 tháng 1 năm 2011 tại Sea Food Palace đêm Tiến Biên tổ chức

Châu Tuấn và Hoàng chụp ngày 9 tháng 11 năm 2008 tại nhà hàng Grand PalaceChâu Tuấn và Hoàng chụp ngày 9 tháng 11 năm 2008 tại nhà hàng Grand Palace

PHÚT NÓI THẬT CỦA CHÂU TUẤN (Trầm Từ Đông thực hiện)

Tên thật: Nguyễn Văn Tuấn

Sinh Nhật: Ngày 6 Tháng 9

Mầu sắc thích nhất: Ngày xưa thích đen và đỏ, bây giờ thích mầu vàng.

Con vật thích nhất: Chó

Con vật sợ nhất: Rắn

Nhà hàng thích tới nhất: Ngày xưa thích ghé nhà hàng trên đồi Orange Hill nhìn xuống cả thành phố Santa Ana về đêm, còn bây giờ nhà hàng nào ngon thì thích đến

Thích du lịch: Ngày xưa thích du lịch ở Rome, Ý.. bây giờ cứ đi du lịch là thích rồi.

Ca hát ở VN khi nào? Và những giải thưởng? Giải nhất tiếng hát mùa Xuân năm 1981 và 1982 ở Nhà Văn Hóa Thanh  Niên. Xuất hiện trên Đài Truyền Hình trắng đen ở VN trong hội âm nhạc Thiếu Nhi Việt Nam. Có tên trong Top 10 “Mười khuôn mặt ca hát nghệ thuật được yêu thích nhất” của báo Điện Ảnh trong đó có Phương Thanh, Hồng Vân, Châu Tuấn..

Con số thích? Số 7

Café thích ghé nhất: Hồi xưa thích uống café trên vùng Hollywood, bây giờ thì thích uống ở nhà.

Yêu quý điều gì trên đời nhất? Tình thân và lòng thông cảm lẫn nhau, còn bây giờ là yêu quý nhất là những người có tâm.

Ra đường sợ gì nhất? Đụng xe (bị rồi)

Trong nhà sợ gì nhất? Sự căng thẳng và cô đơn

Thượng Đế của bạn? Thiêng Liêng

Mùa thích nhất? Ngày xưa yêu nhất là mùa Hè vì trong nhà sợ lạnh, còn bây giờ yêu nhất là mùa Xuân.

Ngoài tài hát, còn khả năng nào? Khi có hứng thích nấu ăn các món Pháp, Nhật và Việt Nam.

Kỷ niệm đi hát đáng nhớ nhất ở Mỹ? Hát với Trung Tâm Asia cuốn thứ 44 tại Kodak Theater

Nước hoa thích nhất: Nước hoa Cartier

Châu Tuấn thường cắt tóc ở đâu? Thay đổi thường xuyên vì mỗi thợ cắt cho ChâuTuấn đều có nét hay riêng

Mẫu người yêu: Thật thà, vị tha, tâm Phật

Làm bạn thân với Châu Tuấn, cần phải? Tánh tình vui vẻ và phải có tâm

Những giờ rảnh rỗi thích làm gì? Nấu ăn và thích coi hài kịch

Tánh tốt của Châu Tuấn? Thích đến chơi và an ủi với những người đang buồn.

Tánh xấu? Hay giận. Không dấu được ánh mắt của mình.

Bị một người thân hiểu lầm sẽ làm gì? Sẽ im lặng.

Nếu cảm tình với một người, bạn sẽ làm gì? Cũng sẽ im lặng. Có duyên sẽ gặp.

Chuyện vui nhất năm 2014? Niềm vui lớn nhất cuối năm 2014 là lời cầu xin cho người thân qua khỏi tai nạn nên CT rất vui.

CA SĨ PHƯỢNG LINHRA CD MỚI VÀO MÙA HÈ 2015

6 năm trước, nữ ca sĩ Phượng Linh đã có một đêm thật vui với hành trình âm nhạc của mình. Đó là buổi tối Chủ Nhật ngày 11 tháng 10 năm 2009, diện tích nhà hàng Emerald Bay đã tràn ngập những thương yêu dành cho đứa con tinh thần của chị chào đời, tác phẩm CD Thương Hoài Ngàn Năm. 6 năm sau, một tác phẩm thứ nhì sắp chào đời. Lần này thì chị kỹ càng hơn, chuẩn bị mọi thứ trước 3 tháng, từ nhà hàng tổ chức, in ấn, ban nhạc, âm thanh.. Những người được mời nghe trước và góp ý, chỉ còn biết nói 2 chữ “Tuyệt Vời” bởi tác phẩm này đến từ phòng thu và hòa âm một tay do nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân chăm sóc. Phần bài hát, thì đó là một tuyển lựa công phu do chính Phượng Linh chọn lọc, 10 bài hát cũng là 10 viên ngọc đẹp của Saigon một thuở nào. Thời gian tới, người viết sẽ đi dần vào chi tiết, còn bây giờ mời độc giả theo dõi bài viết của ký giả Hoài Khương nói về tiếng hát Phượng Linh. Bài này đã được đăng trên báo Kịch Ảnh của Nguyễn Long năm 1983.

Xin mời bạn đọc cùng trở lại những dấu xưa của thời gian, để đọc và hiểu thêm về một giọng hát đẹp của Saigon thuở nào: Tiếng Hát Phượng Linh qua bài viết Hoài Khương.

 

CA SĨ PHƯỢNG LINH
TIẾP TỤC SỰ LỰA CHỌN ĐÃ HỮNG HỜ

Ba lần đi nghe tại ba nơi là Dynasty, Maxim và Nguyệt Cầm, ngồi khuất trong một góc tối để theo dõi Phượng Linh và tiếng hát gởi gấm niềm yêu, đủ ba lần ngậm ngùi hoài niệm Saigon tiền kiếp.

Phượng Linh, ca sĩ mới, tiếng hát chưa đủ thời gian thân quen mà sao như đã thấy ở đâu, nghe ở đâu một thuở Saigon về đêm còn nhan sắc não nùng? Trí nhớ bây giờ nhạt nhòa sa mù, chỉ nghe vương lại những nét hằn đọng: những đêm Saigon cuối thu, cần khoác thêm chiếc áo nhẹ để ngăn chặn những chợt rùng mình đến từ trong gió heo may. Những đêm trên phòng trà Hòa Bình với ban nhạc khá giang hồ của Ngọc Bích, với Trúc Mai, Bạch Yến, Thanh Thúy, Bích Chiêu, Mai Ly, Thùy Nhiên, và những vóc dáng, những hơi ca mến yêu khác, một ca sĩ mới hiện diện, trong khiêm cung e dè mà tiếng hát cho thấy sự chấp nhận không điều kiện cho kiếp cầm ca. Đó là Kiều Lệ Xuân, cô ca sĩ mới yêu sự chải chuốt, thích kỹ lưỡng từ mái tóc đến y phục, điểm trang, cố tạo sự rộn ràng chiêu đãi mà đôi mắt không thể ẩn kín được sự đau buồn của một tâm sự thảm kịch. Có lẽ đã ngoài 20 năm rồi hay ít hơn? Nhìn Phượng Linh hát, lòng không khỏi nghĩ đến hình bóng cũ của một Kiều Lệ Xuân năm nào.

Qua điện thoại, Phượng Linh xác nhận thật ngoan, thật cô em bé bỏng: Phượng Linh chính là em gái của Kiều Lệ Xuân. Từ đó, như điểm khởi hành để về trên lối nhớ: khoảng 1970 hay trên dưới ít năm, Phượng Linh, cô bé của Biệt Đoàn Văn Nghệ, của Đoàn Hoa Tình Thương, đã tới với ca nhạc trong ánh đèn màu của Đêm Màu Hồng, Maxim, Bồng Lai, Quốc Tế, có thể còn vài quán nhạc khác mà trí nhớ không thể giữ lại nổi những cái tên bị thời gian vùi dập.Nay, 1983, Phượng Linh lại trở về với ca nhạc nghiệp dĩ. Em cứ đi, bình thản, nhẹ nhàng, đi trên con đường em đã ngưng đi, bây giờ lại tiếp tục. Đó là niềm vui, đó là khỏa lấp cô đơn xót xa trong cuộc sống trầm luân này.

SINH NHẬT NGUYỄN TIẾN DŨNG VÀ NGƯỜI ĐẸP MAI NGỰ BÌNH RỘN RÀNG ĐÊM XUÂN

Ca sĩ Nguyễn Tiến Dũng và người đẹp Mai Ngự BìnhCa sĩ Nguyễn Tiến Dũng và người đẹp Mai Ngự Bình

     Nhận lời của một số bạn bè nghệ sĩ mời ghé qua nhà hàng ITANGO vào đêm thứ hai tuần qua (9/2), Nguyễn Tiến Dũng vừa bước chân vào nhà hàng thì đã thấy toàn thể thân hữu cất cao lời ca Happy Birthday dành cho anh.. Đây là phần sắp xếp rất ngoạn mục của Trizzie Phương Trinh và Mai Ngự Bình cùng một số thân hữu muốn tạo những giây phút bất ngờ dành cho tiếng hát dễ yêu này. Đêm nay, ngoài sinh nhật của Nguyễn Tiến Dũng ngày 8 tháng 2, còn là birthday của người đẹp Trần Phương Mai, còn được bạn bè gọi tắt là Mai “Ngự Bình”, cũng là chủ nhân của ngôi nhà hàng nổi tiếng chuyên về đồ Huế tại góc đường Magnolia và Westminster. Một buổi tối thứ hai rất ấm cúng với nhiều khuôn mặt tình thân tham dự như Mai Ly & Ngụy Minh, Thanh Phương (Queen’s Secret), Trizzie Phương Trinh, Thiên Kim, Như Ý, Tuấn Vũ, Lâm Thuý Vân, Huy Vũ, Bảo Khánh, Lưu Việt Hùng, Cam Thơ, Hoàng Thanh, Bé Tí, Mỹ Lan, Kevin Khoa , Tô Huân Vũ, Tuấn Quỳnh, Johnny Tuấn, Thái Tài, Khánh Hoàng, Giáng Ngọc, Y Nhi, Kenny Thái, Mỹ Lan, Richard Long, Bích Thảo, Trung Thành, Ngô Khải Anh, Khánh Liên, Minh Trần, Tandy, Mỹ Vân, Đức Tuấn, Trí Trần, Trần Quốc Bảo, Ông Thụy Như Ngọc..

Rất đông ca sĩ, thân hữu đến chung vui sinh nhật của Mai Ngự Bình và Nguyễn Tiến DũngRất đông ca sĩ, thân hữu đến chung vui sinh nhật của Mai Ngự Bình và Nguyễn Tiến Dũng

Thân hữu, ca sĩ ghé dự sinh nhật Nguyễn Tiến Dũng và Mai Ngự Bình rất vuiThân hữu, ca sĩ ghé dự sinh nhật Nguyễn Tiến Dũng và Mai Ngự Bình rất vui

Từ trái: Nguyễn Tiến Dũng, Mỹ Lan, Mai Ly, Ngụy MingTừ trái: Nguyễn Tiến Dũng, Mỹ Lan, Mai Ly, Ngụy Ming

GIỖ 4 NĂM DANH HÀI KIM NGỌC
Thiên Kim, Kim Ngân và nhóm cải lương hồ quảng.Thiên Kim, Kim Ngân và nhóm cải lương hồ quảng.

      Theo lời nghệ sĩ Thiên Kim (GiangKim), ngày 1 tháng 2 năm 2015 (tức ngày 13 tháng chạp âm lịch), đám giỗ năm thứ3 của danh hài Kim Ngọc đã được con nghệ sĩ Kim Ngân (con gái của nghệ sĩ cảilương Hoàng Long và Kim Ngọc) tổ chức tại Bình Dương với sự tham dự của cácnghệ sĩ Mỹ Chi, Ngọc Khanh, Tiểu Linh, Kim Thoa, Yến Phương, ảo thuật gia TrầnLong, ca sĩ Cẩm Như, nghệ sĩ Thiên Kim, ban nhạc Hoàng Nhất.. Buổi tiệc này,Kim Ngân đãi 15 bàn và chương trình rất vui đượm tình nghệ sĩ.
    Và cũng theo lời nhà báo Thanh Hiệp:“Trong cùng một ngày, rất đông nghệ sĩ đã đến nhà riêng của diễn viên Hiếu Hiềnthắp hương tưởng nhớ cố nghệ sĩ Kim Ngọc trong ngày giỗ thứ tư của bà, trong đócó Kiều Oanh, Lệ Thủy, Hoài Linh..”

Danh Hài Mỹ Chi, Kim Ngân và thân hữuDanh Hài Mỹ Chi, Kim Ngân và thân hữu

Ảo thuật Trần Long, và 2 nghệ sĩ Thiên Kim, Kim Ngân.Ảo thuật Trần Long, và 2 nghệ sĩ Thiên Kim, Kim Ngân.

Nghệ sĩ Kim Ngân và ca sĩ Cẩm NhưNghệ sĩ Kim Ngân và ca sĩ Cẩm Như

TIỂU MINH TINH VÀ NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ TÌNH CHÓ

Hình ảnh Hoàng Nam rất buồn trước giờ cho con chó Cici vào giấc ngủ thiên thu ngày 6 tháng 2.Hình ảnh Hoàng Nam rất buồn trước giờ cho con chó Cici vào giấc ngủ thiên thu ngày 6 tháng 2.
     Trong số những nghệ sĩ VN tôi biết, có những người đã từng khổ và từng khóc vì chó, phải kể đến Ngọc Minh, Phượng Linh, Khánh Ly, Shere Thu Thủy, Duy Thanh, Kim Anh (Mùa Thu Lá Bay), Huy Thông, Thanh Phương (Queen’s Secret), Helen Elena, Jane – Cao Tuấn.. Đi xa đâu một chút cũng mau mau muốn về lại nhà để nhìn thấy “đứa con” thân yêu quẩy đuôi chờ đợi.. và nếu mai này nó tới ngày “trăm tuổi già”, bảo đảm các người này sẽ khóc ràn rụa như một thành viên thân thiết trong gia đình vừa mới ra đi.
     Chuyện đó lại xẩy đến tuần rồi với nam ca sĩ Hoàng Nam. Tối thứ sáu ngày 6 tháng 2, Hoàng Nam gửi tới bạn thân tin nhắn cho biết Cici – “đứa con gái” thân yêu của Nam vừa ra đi sau 15 năm chung sống với anh. Bao nhiêu năm quen anh, ít khi nào người ca sĩ trẻ này có lời than vãn về bất cứ chuyện gì trong cuộc đời mình.. nhưng hôm nay, có lẽ là một ngày đau khổ lắm, Hoàng Nam đã viết cho những bạn thân những giòng tin nhắn như sau:

Suốt 15 năm thăng trầm của một con người, tức hơn 100 năm của một con vật mà được cho là “người bạn đời trung thành nhất của loài người”, Cici đã lớn lên bên cạnh tôi từ lúc bé mới được 6 tháng như một đứa con… Có quá nhiều những kỷ niệm vui buồn, nghịch ngợm, đôi khi tôi mắng Cici “bad girl”… Xong rồi lại từ từ ôm ấp chặt… Cho tới hôm nay khi tôi phải quyết định tạm biệt bé… Cho tới những giây phút cuối cùng nằm trong vòng tay tôi, Cici cũng vẫn ngu ngơ và không biết chuyện gì sẽ sắp sẩy đến… Là bé sẽ tạm biệt tôi để bé có thể hồn nhiên yên nghỉ…Tôi khóc như chưa bao giờ được khóc… Cho tới khi người phụ tá bắt đầu mang Cici vô… Bé vẫn ngu ngơ nhìn tôi…”

    Với những ai đã từng nuôi và yêu chó, thì không hề ngạc nhiên trước những giòng nước mắt tiễn biệt của Hoàng Nam khi phải quyết định cho Cici vào giấc ngủ thiên thu. Chó là một con vật được coi là trung thành nhất với chủ, cho dù có nhiều lần nó phải hứng chịu những hành hạ và xua đuổi của chủ nhân mình. Trong số những con chó trung thành đó, Tiểu Minh Tinh rất yêu một câu chuyện có thật về con chó mang tên Capitan, một chú chó trung thành đã không rời khỏi mộ người chủ đã mất của mình trong 6 năm.
    Xin mời bạn đọc theo dõi câu chuyện dưới đây:
“Con chó Capitan đã bỏ ra đi sau cái chết của người chủ Argentina Miguel Guzman vào năm 2006. Một tuần sau, gia đình ông Guzman đến tỏ lòng tôn kính với người đã khuất thì thấy chú chó đang đau khổ ngồi bên mộ của chủ nhân của mình và khóc. Kể từ đó, chú chó hiếm khi rời khỏi vị trí tại nghĩa trang ở thị trấn Villa Carlos Paz, ở miền trung Argentina. Ông Guzman mua Capitan làm quà sinh nhật lần thứ 13 cho con trai ông là Damian vào năm 2005. Mặc dù, chú chó thường dành một ít thời gian để trở về thăm nhà nhưng luôn luôn quay về ngôi mộ khi trời tối”.

Capitan, một chú chó trung thành đã không rời khỏi mộ người chủ đã mất của mình trong 6 nămCapitan, một chú chó trung thành đã không rời khỏi mộ người chủ đã mất của mình trong 6 năm
      Câu chuyện vừa kể, có vẻ nhân loại ngày nay thích đi tìm sự an ủi qua loài vật hơn là người. Có thể thông cảm điều đó qua một ca khúc của Nguyễn Đình Toàn, tác giả Sống Một Ngày đã viết:
Tôi còn trẻ, tôi không muốn bỏ ngang đời
nhưng cuộc đời đã làm tôi sợ hãi
và mặt trời không còn là vàng rơi châu vãi
người với người đã trở thành thiên tai

     Và nếu người với người đã là thiên tai, thì qua mẫu truyện ngắn “Triết Lý Viên Kẹo” này, chúng ta sẽ hiểu hơn tại sao ngày nay có nhiều người thích nuôi chó và khóc như Hoàng Nam khi con vật trung thành đó ra đi.. Mời bạn đọc:
“Mỗi ngày bạn đều cho một đứa trẻ ăn kẹo. Bạn làm điều ấy rất thường xuyên và vui vẻ. Đứa trẻ ấy cũng có vẻ rất yêu bạn. Mỗi ngày thấy bạn, nó đều cười tươi và chạy đến nhận kẹo. Nhưng rồi một ngày, bạn xoa đầu nó và bảo: “Hết kẹo rồi”. Bỗng dưng bạn thấy nó rất khác. Nó gào ầm lên rằng bạn keo kiệt, bạn xấu… xa. Hoặc nó đi khắp nơi để nói xấu bạn.
Triết lý viên kẹo có nghĩa là khi bạn cho ai khác một thứ gì, nhiều khi họ sẽ không nghĩ ấy là món quà, họ nghĩ đó là bổn phận, là trách nhiệm. Và khi bạn không cho thứ mà họ muốn nữa, họ sẽ lập tức trở mặt với bạn. Với nhiều người, cho dù bạn có cho họ kẹo mỗi ngày, thì họ cũng chỉ nhớ có mỗi một ngày mà bạn đã không cho kẹo!”

      Hãy tin một điều, Cici và những con chó khác sẽ không đối xử với chủ nhân của mình như câu chuyện vừa kể. Chia buồn với Hoàng Nam một lần nữa.

Khánh Ly đang bồng cô chó Lyn. Mặc dù bận tập nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 ngay tại nhà hàng Thanh Mai nhưng KL vẫn không nỡ bỏ "con gái" yêu quý ở nhà một mình (photo by TQB)Khánh Ly đang bồng cô chó Lyn. Mặc dù bận tập nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 ngay tại nhà hàng Thanh Mai nhưng KL vẫn không nỡ bỏ “con gái” yêu quý ở nhà một mình (photo by TQB)

Ca sĩ Kim Anh và cậu chó ngoanCa sĩ Kim Anh và cậu chó ngoan

Shere Thu Thủy có 3 con chó. Cô chia một cho Khánh Ly, một cho TQB (Boney) và 1 cô giữ. Ảnh chụp năm 1990 tại văn phòng báo Thế Giới Nghệ Sĩ.Shere Thu Thủy có 3 con chó. Cô chia một cho Khánh Ly, một cho TQB (Boney) và 1 cô giữ. Ảnh chụp năm 1990 tại văn phòng báo Thế Giới Nghệ Sĩ.

Duy Thanh và Rusty được ví như một "lion king"Duy Thanh và Rusty được ví như một “lion king”

Huy Thông và cậu chó cưngHuy Thông và cậu chó cưng

Con chó MVP của Trần Quốc Bảo sinh năm 2002, đến hôm nay đã là 13 năm dài.. Mong sao em vui chơi nơi nào thêm 2, 3 năm nữa nhé..Con chó MVP của Trần Quốc Bảo sinh năm 2002, đến hôm nay đã là 13 năm dài.. Mong sao em vui chơi nơi nào thêm 2, 3 năm nữa nhé..

CA SĨ N.D CHRIS VÀSHOW MỪNG NĂM MỚI XUÂN ẤT MÙI 2015
N.D Chris và Dr. Samy FaragN.D Chris và Dr. Samy Farag

      Đối với nhiều người từng đi tham dự những buổi tổ chức ca nhạc tại các nhà hàng Quận Cam, thì show nhạc vừa qua do ca sĩ N.D Chris thực hiện là một đêm diễn khá đặc biệt tại nhà hàng Emerald Bay. Những tiết mục mở đầu, thông thường là những tiết mục phụ, rồi dần dần mới là những phần chính thức. Với đêm nay, tối thứ bẩy ngày 7 tháng 2, những giờ phút mở màn đã là những mục khiến người đang dùng cơm phải buông đũa xuống hầu có thể thưởng thức.
    Mở màn, hai MC ND Chris  và Tiffany Tuyet Anh (Á hậu LA) đã ra sân khấu giới thiệu phần trình diễn Thời Trang do các  Hoa hậu Việt Nam đến từ nhiều tiểu bang như Thanh Hương (Florida), Vicky Lin Dinh (TX), Jenny Nguyen (TX), Tiffany – Tuyết Anh (CA), Karmy Nguyen (CA), Dana Ngoc My (CA), Christy Pham gồm áo dàì truyền thống và áo dài thời trang. Sau đó chỉ vài phút, ca sĩ ND Chris cùng the Moon flower band trình diễn ca khúc Áo Lụa Hà Đông (thơ Nguyên Sa – nhạc Ngô Thụy Miên) trong lúc anh hát thì vẫn có phần trình diễn Áo dài thời trang VN để  nâng cao truyền thống văn hóa Việt Nam trong những tà áo dài cổ truyền trong mùa lễ hội – ngày Tết Xuân Ất Mùi 2015.
     Sau đó, ND Chris còn trình diễn với vũ đoàn The International Belly Dancers một số nhạc  phẩm ngoại quốc như Black Magic Women (Carlos Santana), Touch Me Don’t Touch Me, Đến Bên Anh (Nhạc Ấn Độ – lời Việt ND Chris), Ali Baba ( Nhạc Pháp-Bezu), Dhoom Dhoom (Nhạc Án Độ- lời Việt ND Chris). Vũ đoàn “The international Belly Dancer” bao gồm những vũ sư, vũ công Belly Dance đã đoạt nhiều giải thưởng Hoa Kỳ và Thế Giới –  Biên đạo Múa do Vũ Sư múa bụng và Hoa Hậu  phu nhân Seatle, WA. Vicky Lin Đinh đảm trách. 
    Sau đó là phần trình diễn của ca sĩ Marianna Thanh Tâm đến từ Paris qua những ca khúc nhạc Pháp trữ tình như Comme Toi, La Vie En Rose, Lạc Mất Mùa Xuân, và hát song ca vơí ND Chris những bài như Les Feuilles Mortes, La Chanson D’orphée..
    Tiếp nối là ca sĩ Tuấn Châu song ca với danh ca Mai Lệ Huyền qua những bài Thiên Duyên Tiền Định, Xa Vắng, Hờn Anh Giận Em.. sau đó Mai Lệ Huyền ở lại hát một loạt những bài nổi tiếng của cô như  Có Nhớ Đêm Nào, Duyên Phận Con Gái, The House Of The Rising Sun, Besame Mucho.
     Sau Mai Lệ Huyền là phần trình diễn của Sandra Hoàng Bảo Phương với những nhạc phẩm trữ tình như Đường Xưa, Self Control, Power Of Love, Trái Tim Lầm Lỡ…, Kha Hồng Nhung thật nóng bỏng với Smooth Operator, I turn To You.. và kế tiếp, một khuôn mặt đẹp trai xuất hiện, đó là ca sĩ Quách Hoàng Phi qua những ca khúc Lắng Nghe Mùa Xuân Về,  Về Đây Em, Hoa Cỏ Mùa Xuân, Anh Muốn Em Sống Sao. 
     Chương trình đêm nay, ngoài một số khách tham dự, còn có sự hiện diện của nghệ sĩ lão thành Văn Chung và gia đình cổ nhạc, MC Đỗ Thanh, ca sĩ Phượng Linh, ca sĩ Tuyết Nhung, Ông Thụy Như Ngọc (chủ nhiệm Viet Tide), nhà bảo trợ Benny Lâm, Ban Giám Đốc Đài Truyền Hình VBS, Nhạc sĩ Kỳ Phát (báo Trẻ), chị Bích Loan, ca sĩ Duy Thanh, nhiếp ảnh gia Daniel Phạm, đặc biệt có Dr Samy Farag, một nhà sản xuất, nhà soạn nhạc từng đoạt giải thưởng Grammy. Ông Faraq là một người gốc Ai Cập sống ở Los Angeles, có các tác phẩm dùng trong những phim như The Dictator, The Scorpion King, Spy Games.. và một số loạt phim truyền hình. Năm 2012, Ông cũng được mời làm Giám Khảo có quyền bỏ phiếu cho giải thưởng âm nhạc Grammy lừng danh.

Từ trái sang: Ca sĩ N.D. Chris, Stephany Estrin, Tuấn Châu, Vicky Lin Dinh, Dr Samy Farag , Nathalie Dance.Từ trái sang: Ca sĩ N.D. Chris, Stephany Estrin, Tuấn Châu, Vicky Lin Dinh, Dr Samy Farag , Nathalie Dance.

N.D Chris đang phỏng vấn Mai Lệ Huyền và Tuấn ChâuN.D Chris đang phỏng vấn Mai Lệ Huyền và Tuấn Châu

Từ trái Arielle Tyson, Vicky Lin Dinh, Dr Samy Farag, N.D.Chris và Mai Lệ Huyền phía sauTừ trái Arielle Tyson, Vicky Lin Dinh, Dr Samy Farag, N.D.Chris và Mai Lệ Huyền phía sau

Hoa Hậu Nguyễn Hoàng Các My, Hoa Hậu Asia Dana Ngoc Mỹ, ND Chris, Á Hậu LA Tiffany Tuyết Anh,  Hoa Hậu Phu Nhân Vicky Lin DinhHoa Hậu Nguyễn Hoàng Các My, Hoa Hậu Asia Dana Ngoc Mỹ, ND Chris, Á Hậu LA Tiffany Tuyết Anh, Hoa Hậu Phu Nhân Vicky Lin Dinh

Ca sĩ Marianna Thanh Tâm trong những ca khúc nhạc PhápCa sĩ Marianna Thanh Tâm trong những ca khúc nhạc Pháp

Từ trái: Á Hậu LA Christy Phạm , Hoa Hậu Nguyễn Hoàng Các My, ca sĩ N.D Chris, Á Hậu LA Tiffany Tuyết Anh, Hoa Hậu Asia Dana Ngoc MỹTừ trái: Á Hậu LA Christy Phạm , Hoa Hậu Nguyễn Hoàng Các My, ca sĩ N.D Chris, Á Hậu LA Tiffany Tuyết Anh, Hoa Hậu Asia Dana Ngoc Mỹ

Từ trái: N.D Chris, Vợ chồng Nghệ sĩ Văn Chung, MC Đỗ ThanhTừ trái: N.D Chris, Vợ chồng Nghệ sĩ Văn Chung, MC Đỗ Thanh

Tuyết Nhung, Quách Hoàng Phi và Phượng LinhTuyết Nhung, Quách Hoàng Phi và Phượng Linh

Màn trình diễn múa bụng rất tuyệt vờiMàn trình diễn múa bụng rất tuyệt vời

TIỆM VÀNG MAI LY MỪNG XUÂN ẤT MÙI 2015 CHIỀU THỨ BẨY MÙNG 3 TẾT TẠI PHƯỚC LỘC THỌ
      Để kỷ niệm 17 năm thành lập, tiệm vàng Mai Ly tổ chức một chương trình Văn Nghệ mừng Xuân Ất Mùi ngay tại phía trước cổng Phước Lộc Thọ vào lúc 5g chiều thứ bẩy ngày 21 tháng 2 năm 2015 tức mùng 3 Tết. Chương trình ca nhạc đã được sự nhận lời của các nghệ sĩ tên tuổi như Mai Lệ Huyền, Tuấn Châu, Mai Ly, MC Thúy Hằng, MC Bé Tí, MC Khánh Hoàng, Đào Anh Tuấn, Tuấn Vũ, Đan Kim, Cam Thơ, Miki Vy, Bảo Ngọc, Leyna Thanh Nga, Brian Lee, Hồ Hoàng Thanh, Thảo Sương, Tô Huân Vũ, Nguyễn Tiến Dũng, Thanh Thủy, Ngô Khải Anh … cùng ban nhạc The Ocean Band..
Trong buổi này, tiệm vàng Mai Ly có phần sổ số những món quà giá trị như một lượng vàng 9999, hai đôi bông hột xoàn 4 ly, 10 bộ chuổi hạt SS, 5 cây bông hồng vàng 9999, 5 chai rượu.. Chương trình được sự bảo trợ của Công Ty High Limit (thuyhangshop.com), Nhà Hàng Ngự Bình (Mai Trần), Quán Trend Restaurant (Ca Sĩ Minh Tuyết), V I P Massage  (Magnolia & Hazard).
Trên tờ nhật báo Người Việt số ra thứ ba tuần qua, có bài của ký giả Đức Tuấn ghi nhận:” “Mỗi năm chúng tôi đều tổ chức những chương trình văn nghệ kỷ niệm tiệm vàng Mai Ly được tròn một tuổi,” chị Mai Ly, chủ nhân tiệm vàng Mai Ly trong khu Phước Lộc Thọ,Westminster, nói với phóng viên nhật báo Người Việt. Ngừng một lúc, chị nói: “Mới đấy mà đã 17 năm, thời gian trôi qua nhanh thật.”
Ôn lại chuyện cũ, chị kể: “Tôi sang Mỹ năm 1990, lúc đó ở tiểu bang Georgia, sau hai năm tôi dời sang California này, cũng chỉ hai bàn tay trắng, và 1 chỉ vàng, lúc đó tôi đi nhà thờ Saint Columban, được sự giúp đỡ của rất nhiều người như chú Hào, chị Vĩnh (hiện giờ đang là giám đốc thương vụ của nhật báo Người Việt)… giúp đỡ cho từng chiếc xe, tủ lạnh, tôi đi học may, vì ở Việt Nam biết nghề may sẵn rồi.” Chị Mai Ly kể tiếp:“Sau đó tôi đi học làm móng tay, học về tóc, dường như Trời định sẵn, nên có bà bạn học chung trường Tâm, có nghề làm vàng, nên mỗi ngày tôi xách giỏ đi vào Phước Lộc Thọ làm móng tay cho khách và cũng là học nghề vàng luôn, kể từ đó là cơ duyên tôi bắt đầu bước vào ngành nghề vàng bạc này.”
Trong giới ca nghệ sĩ tại Orange County, hầu như từ ca sĩ tên tuổi đến chưa có tên tuổi, không ai không biết đến tên của chủ nhân tiệm vàng Mai Ly. Khi mọi người nhắc đến chủ nhân của tiệm Mai Ly là nhắc đến hai anh chị lúc nào cũng hết lòng trong mọi công tác từ thiện, để đóng góp cho xã hội, cộng đồng cũng như các tôn giáo. Chị nói: “Khi Trời đã ban cho mình lộc nhiều, thì mình phải biết chia sẻ với mọi người, giúp đỡ người nghèo, neo đơn.” Nói về khía cạnh buôn bán, tiệm vàng Mai Ly là một trong vài tiệm được bà con thương mến, bởi sự thật lòng, hàng hóa của tiệm là chọn lọc, kiểu mẫu được chính chủ nhân của tiệm sáng tạo, “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” là châm ngôn của tiệm vàng Mai Ly.
Ðêm diễn trước cửa thương xá Phước Lộc Thọ vào ngày Thứ Bảy, 21 Tháng Hai, chương trình bắt đầu lúc 6 giờ chiều, là một chương trình ca nhạc mà chị Mai Ly nói, muốn nhân dịp này để đãi bà con một “bữa ăn” ca nhạc, tinh thần đầy đủ. Danh sách ca sĩ tham gia chương trình dầy đặc, có đến trên 20 ca nghệ sĩ tên tuổi như Tuấn Vũ, Mai Lệ Huyền, Tuấn Châu, Cam Thơ, Nguyễn Tiến Dũng, Leyna Thanh Nga, Ðan Kim, Thanh Thủy, Hoàng Thanh, Thảo Sương, Tô Huân Vũ, Ngô Khải Anh, Khánh Hoàng… Chị Mai Ly cho biết chắc chắn hôm đó sẽ còn rất nhiều nghệ sĩ khác đến chung vui. Chủ đề của chương trình là “Văn Nghệ Mừng Xuân Ất Mùi.” Chương trình sẽ được tổ chức ngay trước cửa của khu thương xá Phước Lộc Thọ. Chị Mai Ly cho biết thêm, sẽ có phần xổ số, với những phần quà giá trị như một lượng vàng 9999; hai đôi bông hột xoàn 4 ly, 10 bộ chuỗi hạt SS, 5 cây bông hồng vàng 9999, và 5 chai rượu. Anh Minh, phu quân của chị Mail Ly, chỉ vào chiếc thùng lớn, nói: “Tôi bảo đảm hôm đó sẽ có nhiều người trúng, vì chiếc thùng bốc thăm còn ít lá phiếu lắm.” Ðược biết chương trình ca nhạc sẽ bắt đầu ngay sau phần múa lân mở màn, từ 6 giờ chiều đến 10 giờ đêm. “Tết là phải có ca nhạc, múa lân và ‘nhậu’ một chút, mới ra không khí Tết chứ, phải không?” anh Minh nói như thế.