THANH LƯU : VÀI NÉT VỀ DÂN CA XỨ NGHỆ


Vài nét về Dân ca xứ Nghệ

Ví giặm Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là vinh dự lớn, đồng thời cũng là trách nhiệm của nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản ấy cho hôm nay và mai sau.

Vài  nét cơ bản về dân ca ví – giặm – hò

Thể hát ví. Ví có những làn điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví chuỗi, ví ghẹo…Ví thuộc thể ngâm vịnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể…).

Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Tình điệu (tính biểu cảm) thì tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8. Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.

Thể hát giặm . Giặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì giặm là thơ ngụ ngôn / vè được tuyền luật hoá. Giặm cũng có các làn điệu như: Giặm kể, giặm cửa quyền, giặm ru, giặm vè, giặm nối, giặm xẩm… Khác với ví, giặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng. Thông thường một bài giặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài giặm/ vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6,7 chữ (do lời thơ biến thể). Giặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải. Cũng có loại giặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng. Và có cả giặm trữ tình giao duyên.

Thể Hò. Hò là những điệu hát thường được mô phỏng theo các nhịp điệu lao động mang tính tập thể. Hò có những làn điệu như: Hò dô, hò khoan, hò dật, hò trên sông, hò đầm đất, hò xeo gỗ, hò kéo lưới, hò trục buồm, hò tình tang, hò đi đường, hò tiếp vận…Điệu thức hò thường mang màu sắc trưởng, với quãng 4 đặc trưng nghe rất khoẻ khoắn . Khúc thức hò thường kết cấu 2 đoạn , đoạn 1 cho người hô (lĩnh xướng) hát tự do theo các thể thơ dân tộc. Đoạn 2 cho tập thể xô bằng các phụ âm: hò-dô-khoan theo tiết tấu đều để tạo nên xung lực mạnh mẽ trong lao động sản xuất, đấy là hình thức”nhất hô bách ứng” rất hiệu nghiệm. Ngoài ra, vẫn có loại hò ghẹo vừa mang tính hài hước vừa mang tính trữ tình giao duyên.

Môi trường – không gian và tính chất diễn xướng

Qua tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất và môi trường không gian diễn xướng dân ca hò-ví-giặm ta thấy:

1. Hát gắn với không gian và môi trường lao động như: cày cấy, gặt hái, đắp đập đào mương, chăn trâu, cắt cỏ (đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống thuyền bè (sông nước); hái củi, đốt than, bứt tranh, kéo gỗ, bóc măng (núi non) ; quay tơ dệt vải, trục lúa, đan lát ( xóm thôn).

2. Hát mang tính du hý vào những dịp Hội hè ,Tết nhất, Đình đám, hoặc những đêm trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn,thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa.

3. Tính giao duyên giữa những lứa đôi trai gái để đối đáp giao duyên, thổ lộ tâm tình, để gửi gắm niềm thương nỗi nhớ, để kén chọn trai tài gái đảm, tìm bạn trăm năm.

4. Tính bác học. Trong những cuộc hát phường vải, dầu bên trai hay bên gái cũng thường mời thêm các trí giả nho sĩ địa phương làm thầy gà, đến như đại thi hào Nguyễn Du hoặc như Phan Bội Châu cũng đã từng tham gia cuộc hát. Bởi thế mà đã lưu lại những câu đố – đáp rất tài hoa có tính bác học uyên thâm

5. Tính tự tình, nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nội tâm. Những nỗi niềm sâu kín, uẩn khúc cuộc đời, những mảnh tình dang dở, những số kiếp long đong, hoặc để biểu thị sự bất bình xã hội.

6. Tính tự sự. Tức là dùng hình thức kể vè để thuật lại những sự việc xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay là phê phán những thói hư tật xấu…

7. Tính giáo huấn. Thông qua câu hát để dạy,  bày khuyên nhủ người đời về những điều hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục, về đạo lý nhân nghĩa , tôn sư trọng đạo, tứ đức tam tòng, về lệ làng phép nước, về anh hùng nghĩa khí , ái quốc trung quân…

8. Tính đa dụng. Nghĩa là nó giàu tính biểu cảm, cùng một cốt nhạc (một làn điệu) có thể chuyển tải được nhiều nội dung văn học, nhiều đối tượng miêu tả, nhiều sắc thái tình cảm. Đây có lẽ là một đặc tính nổi trội của dân ca ví dặm.

9. Tính phổ cập. Hầu như khắp mọi miền quê, trai gái trẻ già ai ai cũng có thể hát. Chính vì vậy trong kho tàng văn hoá Dân gian-Dân tộc cổ truyền xứ Nghệ, thì dân ca hò ví giặm là một loại hình tiêu biểu, mang những nét đặc trưng bản địa đậm đà nhất và vì những điều đó mà Ví giặm Nghệ Tĩnh vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đó là vinh dự lớn, là trách nhiệm của nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản ấy cho hôm nay và mai sau.

THANH LƯU ANVN37 – Số Xuân (02/2015)

http://songnhac.vn/di-san/67-dan-ca-dan-vu/4604-vai-net-ve-dan-ca-xu-nghe.html

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s