TRẦN VĂN KHÊ : LỜI TRI ÂM CHO MỘT TRI KỶ (nhạc sư VĨNH BẢO )


Lời tri âm cho một tri kỷ

01/04/2015 – 16:26 PM
LTS. Một trong những chủ nhân của giải thưởng Phan Châu Trinh lần 9 (2015) là nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, người mang rất nhiều danh hiệu: “người bảo vệ cuối cùng của truyền thống”, ” đệ nhất danh cầm”, “nhà sáng tạo nhạc khí tài năng”… còn với nước Pháp thì là một “hiệp sĩ nghệ thuật và văn chương”. Mừng ông nhận giải thưởng, Người Đô Thị xin giới thiệu hai bài viết về nhạc sư, một của tri âm một của học trò.

Từ lúc tôi còn ở bên Pháp, khoảng năm 1964, tôi đã nhận được nhiều cuộn băng ghi âm những buổi hội họp đờn ca tài tử tại nhà cố BS. Phạm Kim Tương, trong đó nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo biểu diễn nhiều bài bản trên đờn tranh, đã đem đến cho tôi những cảm xúc khó quên.

Từ đó, tôi bắt đầu liên hệ qua thư từ với nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo để tỏ lòng mến phục ngón đàn của ông mà theo tôi khó có tiếng đàn nào sánh kịp.

Ảnh PetroTimes

Mãi đến năm 1972, khi GS. Nguyễn Đình Hòa – Trưởng khoa Việt học ĐH Carbondale (Southern Illinois – Hoa Kỳ) có ý muốn mời tôi sang giảng về âm nhạc truyền thống Việt Nam trong vòng sáu tháng. Vì công việc của tôi tại Pháp không cho phép tôi vắng mặt trong thời gian quá lâu nên tôi chỉ nhận sang giảng dạy trong vòng hai tháng. GS. Nguyễn Đình Hòa sau khi tham khảo ý kiến nhiều nơi đã cho tôi biết rằng Ban quản trị ĐH Carbondale sẽ chánh thức viết thư mời nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo, nhạc sĩ Phạm Duy và tôi sang Mỹ để thuyết trình và giảng dạy về môn âm nhạc truyền thống Việt Nam. Tôi lãnh phần giảng dạy về lịch sử và lý thuyết về ngôn ngữ của âm nhạc Việt Nam (hai tháng); nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo lãnh phần giảng dạy về nghệ thuật biểu diễn và cách truyền nghề âm nhạc truyền thống Việt Nam, đặc biệt là cách đờn ca tài tử theo miền Nam, đồng thời dạy kỹ thuật đóng đàn Việt Nam (sáu tháng); nhạc sĩ Phạm Duy thuyết giảng về dân ca Việt Nam, những sáng tác mới được gọi chung là “tân nhạc Việt Nam”.

10253900_693591814085038_3107494519487161861_n

Nhờ đó, tôi có dịp biết rõ thêm tài nghệ của nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo: là một nghệ sĩ trong truyền thống đờn ca tài tử miền Nam biết đàn từ thuở lên bảy, đã từng thâu thanh cho nhiều dĩa hát Việt Nam và Pháp, biết sử dụng tất cả các nhạc khí chánh trong đờn ca tài tử, có ngón đàn điêu luyện, gân guốc và sâu sắc, đặc biệt là đờn tranh và đờn kìm (đờn nguyệt). Đã từng hòa đờn cùng các danh cầm, biết rõ lai lịch và tài nghệ của hầu hết nhạc sĩ, nhạc sư trong cả miền Nam. Nhờ có năng khiếu và tâm hồn cởi mở, nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo đã tìm tòi học hỏi cách sử dụng đàn phương Tây như mandoline, guitar, violon, kể cả piano.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo có rất nhiều học trò trong và ngoài nước, ông có một phương pháp sư phạm rất đặc biệt, đã từng nghĩ ra cách ký âm rất tinh vi cho những nhạc khí Việt Nam theo phong cách “tablature” phối hợp với cách truyền khẩu, truyền ngón của dân tộc Việt Nam. Ông lại còn nghĩ ra cách dạy hàm thụ qua thư từ hoặc trực tiếp trên máy vi tính, nên đến ngày nay tuy tuổi đã cao, mà còn rất nhiều môn sinh ở hải ngoại theo dõi. Trong nhiều năm lúc thiếu thời ông đã từng là giảng viên cho Trường Quốc gia Âm nhạc.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo không phải chỉ có ngón đàn điêu luyện, mà đôi tay còn tạo ra được những nhạc khí hoàn hảo, có vẻ đẹp bề ngoài, đặc biệt nhứt là âm thanh vang đều từ dây trầm đến dây bổng. Ông lại là người đầu tiên sáng chế cây đờn tranh 17 dây, tiếp tục sau này có những cây đờn 19 dây, 21 dây, gần đây có cây 25 dây. Đàn của ông đóng rất được ưa chuộng, mặc dầu giá thành có cao hơn những cây đàn thường nhưng người trong nghề vẫn tìm mua. Trong giới nhà nghề cụm từ “đờn tranh Vĩnh Bảo” rất thông dụng như bên phương Tây nói đến đàn violon Stradivarous. Một chuyên gia về thanh học – cố GS. Emile Leipp có lần nghiên cứu về cây đờn tranh của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, sau khi xem xét bên trong, nhìn cầu đờn và mặt đờn phải ngạc nhiên khi biết rằng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo có được những sáng kiến rất phù hợp với nguyên tắc thanh học (acoustique).

GS.NS Vĩnh Bảo và GS.TS Trần Văn Khê. Ảnh Vĩnh Nguyên

Sau nhiều năm kinh nghiệm về cách biểu diễn, giảng dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam theo phong cách đờn ca tài tử, ông lại còn để tâm nghiên cứu về lịch sử âm nhạc, quan điểm thẩm mỹ và vị trí của âm nhạc trong xã hội. Những nghiên cứu này đã giúp cho ông làm cố vấn đắc lực cho những thí sinh soạn luận án tiến sĩ bên Pháp và bên Mỹ.

11082595_693592074085012_1889751746929344434_n

Trong lĩnh vực âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo chiếm một địa vị vô cùng quan trọng: chưa có một nhạc sĩ nào gắn bó với nghệ thuật đờn ca tài tử trên 90 năm như ông, chưa có một nhạc sư nào có nhiều học trò trong và ngoài nước bằng ông (cách truyền dạy của ông rất đa dạng: truyền khẩu, truyền ngón, hàm thụ qua thư từ, máy vi tính), chưa có một nhạc sư nào vừa có tài đờn hay lại vừa đóng đàn khéo nên trong tâm tôi luôn luôn mến phục ông như một người “văn võ toàn tài”. Ông rất xứng đáng nhận được giải thưởng “Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục” của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh.

Nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo là một trong những giáo sư được mời giảng dạy trong những năm đầu khi Trường Quốc gia Âm nhạc – Kịch nghệ Sài Gòn mới thành lập (1955). Ông đã góp phần đào tạo thế hệ nhạc sĩ kế thừa mà những người học trò năm ấy nay đã là những vị giáo sư uy tín như: NGƯT. Nguyễn Văn Đời, NGƯT. Phạm Thúy Hoan… Với khả năng biểu diễn cũng như thông thạo nhiều ngoại ngữ, ông còn được mời làm giáo sư, diễn giả ở Mỹ, Nhật…

Gần trọn cuộc đời sống với âm nhạc dân tộc, những đóng góp của nhạc sư Vĩnh Bảo đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng:

– Năm 2002, giải thưởng Đào Tấn.

– Năm 2006, được vinh danh “quốc gia chi bảo” (cùng bốn nhạc sĩ các nước khác), tại Hội thảo Dân tộc nhạc học thế giới lần thứ 51 tổ chức ở Honolulu, Mỹ.

– Năm 2008, được Tổng thống Pháp tặng huy chương Officier des Arts et des Lettres – phần thưởng cao quý của nước Pháp dành cho những nghệ sĩ có cống hiến to lớn cho nghệ thuật và văn chương.

– Năm 2014, nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ vì đã có thành tích bảo tồn, phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Trần Văn Khê

http://nguoidothi.vn/vn/news/van-hoa-giai-tri/doi-nghe-si/4007/loi-tri-am-cho-mot-tri-ky.ndt


Cùng nghe nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê hòa đờn. Nguồn video: youtube

tran van khe vinh bao pham duy nguyen dinh hòa

GS Trần Văn Khê-Nhạc sư Vĩnh Bảo- Nhạc sĩ Phạm Duy tại thuyết giảng về Âm nhạc Việt Nam, trường Đại học Carbondale – Southern Illinois, Hoa Kỳ, 1971 (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

TIẾNG TƠ ĐỒNG: Cách đệm tân nhạc trên đàn guitar phím lõm (P2) do CHÍ TÂM và NGỌC ĐAN THANH phụ trách , USA


TIẾNG TƠ ĐỒNG: Cách đệm tân nhạc trên đàn guitar phím lõm (P2)

Ajoutée le 3 mai 2014

Thay đổi không khí một chút, TIẾNG TƠ ĐỒNG ngày hôm nay qua hai Nghệ sĩ quen thuộc của chương trình Ngọc Đan Thanh và Chí Tâm sẽ hướng dẫn cho quý vị cách đệm tân nhạc trên đàn guitar phím lõm (P2). Kính mời quý vị cùng theo dõi.

Để xem trọn các chương trình của SBTN, xin hãy liên lạc với DirecTV hoặc các hãng cable địa phương của quý vị.
To watch the full programs of SBTN, please contact Direct TV or your local cable providers.

© Saigon Broadcasting Television Network (SBTN): http://sbtn.net
© Youtube: http://youtube.com/SBTNOfficial
© Facebook: http://facebook.com/SBTNOfficial
© Twitter: http://twitter.com/SBTNOfficial

Address: 10517 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843
Email: sbtn@sbtn.tv

TIẾNG TƠ ĐỒNG: Cách đệm tân nhạc trên đàn guitar phím lõm (P1)


Ajoutée le 20 avr. 2014

Thay đổi không khí một chút,TIẾNG TƠ ĐỒNG ngày hôm nay qua hai Nghệ sĩ quen thuộc của chương trình Ngọc Đan Thanh và Chí Tâm sẽ hướng dẫn cho quý vị cách đệm tân nhạc trên đàn guitar phím lõm. Kính mời quý vị cùng theo dõi.

Để xem trọn các chương trình của SBTN, xin hãy liên lạc với DirecTV hoặc các hãng cable địa phương của quý vị.
To watch the full programs of SBTN, please contact Direct TV or your local cable providers.

© Saigon Broadcasting Television Network (SBTN): http://sbtn.net
© Youtube: http://youtube.com/SBTNOfficial
© Facebook: http://facebook.com/SBTNOfficial
© Twitter: http://twitter.com/SBTNOfficial

Address: 10517 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843
Email: sbtn@sbtn.tv

TIẾNG TƠ ĐỒNG: Hai cung trên một làn điệu do CHÍ TÂM và NGỌC ĐAN THANH phụ trách, USA


Ajoutée le 7 déc. 2013

Chủ đề của chương trình TIẾNG TƠ ĐỒNG hôm nay là hai cung trên một làn điệu. Đầu tiên, nghệ sĩ Chí Tâm gửi đến quý vị sơ lược về cây đàn guitar phím lõm, một sáng tạo độc đáo của người Việt Nam từ chiếc Tây Ban Cầm; đây được xem là một loại nhạc cụ khó chơi cho những người chưa học qua đàn cổ nhạc. Hai cung trên một làn điệu là gì, và điều đó liên quan thế nào đến cây đàn guitar phím lõm? Xin mời quý vị cùng xem chương trình để biết rõ hơn!

Để xem trọn các chương trình của SBTN, xin hãy liên lạc với DirecTV hoặc các hãng cable địa phương của quý vị.
To watch the full programs of SBTN, please contact Direct TV or your local cable providers.

© Saigon Broadcasting Television Network (SBTN): http://sbtn.net
© Youtube: http://youtube.com/SBTNOfficial
© Facebook: http://facebook.com/SBTNOfficial
© Twitter: http://twitter.com/SBTNOfficial

Address: 10517 Garden Grove Blvd. Garden Grove, CA 92843
Email: sbtn@sbtn.tv

KIM KHANH & NGUYỄN LÊ HIẾU : Vài cảm tưởng sơ khởi về “De Père Inconnu” của Phạm Ngọc Lân, L’Harmattan, France 2015


Vài cảm-tưởng sơ-khởi về

de père inconnu pham ngoc lan

De père inconnu (1)

Tác-giả : Phạm Ngọc Lân, L’Harmattan, France 2015

pham ngoc lan 1

Kim Khanh & Nguyễn Lê Hiếu phẩm bình

Tôi nhận được cuốn sách do hai bạn Lân-Mỹ-Lan gửi tặng tuần qua. Các thông-tin trên mạng gọi

là cuốn tự-truyện autobiographie và chính tác-giả cũng ghi ở bìa sau (4è de couverture) rằng đây

không phải là hư-cấu. Cuốn sách dày năm trăm trang, đọc qua cuối tuần, ghi vội vài cảm-nghĩ

sơ-khởi, xoay quanh mấy chủ-đề về tự-truyện, về thân-phận con-lai, về bức tranh lịch-sử cận-đại

và về cuộc tìm-kiếm cội-nguồn.

Vấn-đề tự-truyện autobiographie

GSTS Đoàn-Cầm-Thi về Hà-nội nói ta chưa có tự-truyện và bà mang ra các tiêu-chuẩn

hàn-lâm của quy-ước tự-truyện le pacte autobiographique của Philippe Lejeune ra làm

thước-đo, với chủ-thuyết là tự-truyện phải viết sự-thực, tất-cả và chỉ có sự-thực, không

nhân-nhượng. (2) Do đó, phải có ghi tên thực (của các nhân-vật kể cả tên tác-giả), chỉ

ghi những gì mình biết là có thực chứ không phải kể lại những chuyện mắt không thấy,

tai nghe phong-thanh. Với các lý khắt-khe đó, chắc cuốn sách De père inconnu (Con

không (biết) cha) cũng sẽ không được bà GSTS xếp vào loại tự-truyện. Tuy-nhiên, với

độc-giả nói chung, và với bạn-hữu có hân-hạnh được biết tác-giả, thì số đông đều tìm

thấy trong cuốn sách, những câu chuyện nhỏ đây-đó, chuyện có thực của tác-giả,

chuyện do bà thân-mẫu hay ông cha-dượng (thân-sinh trên giấy-tờ lý-lịch) tâm-sự. Ông

kính-trọng niềm riêng-tư cá-nhân nên đã thay-đổi tên nhân-vật, ông trân-quý chuyện

tâm-sự nên không bỏ qua câu chuyện người thân kể mà ghi lại rõ ngay từ dòng đầu.

Những việc đó, có thể đã phần nào vi-phạm giáo-điều hàn-lâm tất-cả và chỉ có sự-thực

tuyệt-đối nhưng đối với các độc-giả thông-thường như tôi, chúng ta không cần theo rõi

mọi xầm-xì về tên-tuổi hay kiêng-kỵ lối tâm-sự mà hàn-lâm có thể coi là hearsay. Bỏ

qua cửa ải đó, hãy tìm vào vài đề-tài lớn trong cuốn sách.

Thân-phận Tây-lai và giá-trị nhân-bản

Đây là một đề-tài lớn tàn-dư của chế-độ thuộc-địa và của cuộc chiến 46-54. Mỗi người

con lai Việt-Pháp có một hoàn-cảnh riêng-biệt. Hình như Kim Lefèvre khởi đầu đề-tài

với cuốn La Métisse Blanche Cô đầm lai da-trắng qua một hành-trình hồi-hương êm-ả:

một phụ-nữ thông-minh, thành-công hội-nhập ở Pháp, một buổi thấy dân tỵ-nạn, bỗng

nhớ ra quê-hương kia của mình, bèn đi tìm và thành-công trở nên dịp cầu nối giữa hai

bên trong mình. (3) Linda Lê trái lại, có một hành-trình trắc-trở hơn trong cuốn

Calomnies Xầm-xì vu-khống, không làm được gạch-nối mà lại bị lôi-kéo giữa tình yêu-
thương người cha Việt thương và công-nhận mình cùng người cha thực hào-hoa không

muốn nhận mình; rút cuộc, nhân-vật nữ bỏ ra đi, có thể là bất-lực trong cuộc tìm-kiếm

gốc-gác, nhưng cũng có thể là đã thắng được nội-tâm, thoát khỏi mọi ràng-buộc huyết-
thống hay văn-hóa, ra đi bỏ lại sau lưng, mọi hành-trang giả-tạo mà con người xã-hội

tự đặt ra.(4) Kim-Đoan trong Sur place Tại-chỗ cũng cho cô gái trở về nước để tìm

hiểu thêm về bản-thân của mình; sẽ/đã thấy mình lạc-lõng vì cả mình lẫn xã-hội đã

thay đổi; khoảng cách không-gian, thời-gian và văn-hóa ngộp người, những khám-phá

làm nhân-vật ngôt-ngạt.(5) Laurette Heger gốc là một cô đầm lai có 1⁄4 máu Việt, 1⁄4

Pháp và 1⁄2 Thụy-sỹ và hiện nay là một phụ-nữ Hoa-kỳ; trong cuốn Saigon is burning

Sài-gòn nổi lửa, cô có một hành-trình nát-gan đứt-ruột hơn cả, vì bà ngoại và mẹ muốn

con dứt-khoát là người “Tây” nên chăm-lo gột-tẩy xóa-bỏ mọi vết-tích Việt; người phụ-

nữ này nói chuyện với tôi qua vài câu tiếng Pháp, dễ-dàng hơn khi dùng tiếng Anh và

chỉ còn bập-bẹ vài từ Việt riêng-rẽ, không lắp nổi thành câu; bà bùi-ngùi bảo “Mẹ tôi đã

làm công-việc diệt-chủng văn-hóa nơi tôi”. (6)

So với họ, Phạm-Ngọc-Lân có cuộc hành-trình bản-sắc identité và giấy-tờ pháp-lý vòng-
vèo khúc-mắc hơn: sinh ra là Lê-Kim-Long (mẹ: Lê-thị-Kim, cha: không biết tr.49), sau

thành Martin Jean (tr.86, 7), tác-giả luôn-luôn có hai lý-lịch ở nhà luôn-luôn là Long

nhưng ở trường thì tên là Jean Martin (tr. 88, 98, 102) khiến cho cậu bé trở thành một

jongleur khắc-phục dễ-dàng vẻ đa(lưỡng)-tính ambivalence của con-lai. Nhất là về mặt

pháp-lý, sự đa-tính còn thêm khúc-mắc do những giấy thế-vì khai-sinh khác ngày-sinh-
tháng-đẻ (tr. 87), từ việc đổi sang họ Hoàng lúc nhập-tịch naturalisé (tr.136—chính ra

là “hồi” việt-tịch) rồi lại thế-vì khai-sinh nữa để thôi là con riêng của mẹ mà thành con

đầu-đàn nhà họ Hoàng (tr. 137); cho tới khi sang Pháp với thẻ Hoàng-Kim-Long thì lại

được giấy công-nhận mình vẫn là ông tây Jean Martin (tr.137); tác-giả sau rốt, lại được

“réintégration hồi-tịch” dưới tên Hoàng-Kim-Long, không nhất-thiết vì huyết-thống race

mà vì sinh tại quận-lỵ département de France d’outre-mer vì lúc sinh ra, Nam-kỳ là đất

Pháp-quốc hải-ngoại; (7) ở điểm này, trường-hợp của tác-giả khác với các người Việt

được đón-nhận với tư-cách tỵ-nạn (tr.138). Nhưng nói chung, hành-trình pháp-lý và

tâm-lý về bản-sắc của tác-giả phức-tạp hơn các Kim Lefèvre, Linda Lê, Kim-Đoan…

Cuốn theo cơn lốc lịch-sử và giá-trị lịch-sử

Sau cuộc chiến tương-tàn ở Việt-Nam, cuốn De père inconnu xuất-hiện muộn-màng vì

trước đó, đã có cả trăm hồi-ký, nghiên-cứu, tranh-luận về chiến-tranh và hậu-quả.

Nhưng phần lớn các sách nói trên do “những người trong cuộc”—anh-hùng hay phạm-
nhân hay những con muá-rối-thời-cơ— thổ-lộ ra hay những nhà nghiên-cứu tìm-tòi

phân-tích nguồn-cơ— từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài— từ phía những nhà phù-

thủy tạo ra giông-tố bảo-lốc tàn-phá. Ngược lại, tác-giả De père inconnu trình-bày xã-

hội và chiến-tranh không từ nhãn-quan quyền-lực hay ở góc-nhìn nghiên-cứu mà chỉ

ghi lại, trong những câu chuyện nhỏ, hậu-quả mà dân-đen chịu-đựng. Những gì tác-giả

đã gặp cũng là những gì bao người dân khác đã trải qua, những nạn-nhân trực-tiếp của

bão-lốc mà họ phải chịu-đựng chứ không đóng phần tạo ra. Giá-trị nhân-chứng xuất-
phát từ phía đại-chúng. Không có mưu-mô mà chỉ có chịu-đựng, chạy trốn hay tùy-cơ

ứng-biến để duy-tồn.

Đọc cuốn sách, sẽ thấy dư-âm của những tiếp-nối quyền-lực, những kế-vị chính-quyền,

biết bao âm-mưu chính-trị, nhiều đổi thay chính-sách. Bài học lịch-sử giai-đoạn 50-80

đầy-rãy. Độc-giả trên 50 tuổi sẽ ngậm-ngùi ôn kỷ-niệm. Độc-giả trẻ đọc xong sẽ hiểu rõ

hơn thân-phận người Việt trong thế-kỷ qua. Từ đời sống sinh-viên (tr.141) đến hoàn-
cảnh dân sinh-sống (tr.147), đến các cuộc đấu-tranh (tr.150-6), các mưu-mô đen-tối

chính-trị thời-cơ (tr.157-66), không-khí hào-hùng những ngày đầu (tr. 62-6) tác-giả

trình-bày cái nhìn, thái-độ và sự chịu-đựng của nhân-dân chứ không phải các báo-cáo,

các hồi-ký, các thông-kê, các bàn-thảo lý-thuyết. Có lẽ đôc-giả đọc xong De père

inconnu nên đọc thêm Saigon is burning để có hình-ảnh miền Nam đất nước giai-đoạn

ngay trước đó, 1940-1950, có Pháp, có Nhật, có Nam-kỳ khởi-nghĩa, có quốc-cộng đấu-
tranh. Và ai đã đọc Saigon is burning, nên đọc De père inconnu để thấy bức tranh đảo-
chánh chỉnh-lý, hỏa-thiêu, Mậu-thân, lừa-lọng, tù cải-tạo. (phẩn II và III) tiếp theo thời

Ưu-tư về cội-nguồn huyết-thống

Lồng vào trong cuộc hành-trình bản-sắc và thân-phận nạn-nhân chiến-tranh và chính-
trị, tác-giả tạo gay-cấn qua việc tìm nguồn-gốc huyết-thống cá nhân mình. Cuốn sách

chứa bao tình yêu-thương ấp-ủ nhân-đạo, từ những cuộc tình không trọn-vẹn (Bác

Đoàn, trung-úy Pháp tr.36-8), đến cảnh tình nghĩa vẹn-toàn (Dượng Quý tr.68-9, 136-

8); những cuộc trở về thăm quê-hương (đảo Định-mệnh tr.39-47; nơi chôn-nhau cắt-
rốn tr.48-51) và những tìm-tòi, những gút-thắt trong cuộc tìm-kiếm tựa như trong

những phim trinh-thám hay thám-hiểm. Linda Lê, Kim-Đoan cũng có những tìm-kiếm

nguồn-gốc tương-tự nhưng tâm-thần của họ bị rúng-động, thiếu ổn-định trong khi tác-
giả De père inconnu lại thanh-thản. Ông không quá gay-gắt như Linda Lê độc-thoại/đối-
thoại với ông chú khùng hay quá thắc-mắc như Kim-Đoan tìm-hiểu phân-tích tình-cảm

cũ của người thân. Do đó, người đọc chú-ý theo rõi Long bới móc hồ-sơ lục-quân rồi

hải-quân (tr.426-38), có lúc tưởng đến gần, có lúc lại thấy xa, và vẫn không tìm thấy

rõ-rệt. Và khi cuộc tìm-kiếm không hoàn-toàn thành-công, Long nhẹ-nhàng kết-luận

người cha bí-mật này đã làm đủ mọi thứ để mãi-mãi vẫn là người cha bí-mật (tr.440).

Câu kết cuốn sách nói lên tư-cách triết-gia của Phạm-Ngọc-Lân, đi tìm cái Chân cái

Thiện cái Mỹ trong khả-năng tìm thấy được; và cuộc hành-trình tìm-kiếm quan-trọng và

tạo thỏa-mãn hơn là kết-quả tìm thấy. (8)

Kết-luận về Văn-loại

Loại văn tự-ký écriture de soi (9) bao-gồm nhiều thể-loại, tự-truyện, nhật-ký, hồi-ký,

trần-tình và thú-tội. Ở đây, tác-giả dùng nhiều loại, tự-truyện khi nói về mình và các

công-việc ở đại-học, trong tù cải-tạo, dạy-học v.v. Hồi-ký của người dượng-cha, người

bà ngoại. Hồi-ký kèm trần-tình và thú-tội confession của bà và của mẹ. Lại có phần ký-

sự, phóng-sự; cả nghiên-cứu về lịch-sử và văn-hóa, giải-thích tóm-tắt trong 70 trang

chữ nhỏ cuối cuốn sách. Việc kể lại công-cuộc tìm-kiếm trong hồ-sơ quân-sự, tra-cứu

niên-giám điện-thoại thuộc về văn tự-sự (không phải hư-cấu câu mở đầu Notes de

l’auteur tr.11)

Do đó, đọc xong nhìn lại, đây không phải đơn-giản là tác-phẩm tự-truyện mặc dù phần

lớn nói về chính tác-giả; nhưng là một loại văn tự-ký écriture de soi kèm theo nhiều

góc-độ khác nhau—từ nhiều nhãn-quan— écriture à points de vue. Những bức tranh

tác-giả vẽ ra không phải tẹt trên mặt phẳng; trái lại, có nhiều chỗ nổi, lồi-lõm, có bóng

sáng điểm tối, nhìn từ nhiều phía; sẽ vừa lòng nhiều độc-giả. Nhưng mỗi người sẽ

thích-thú ở một điểm một hướng khác nhau; nhưng thể nào cũng thấy nhiều điều thích-

___________

1- De père inconnu : theo nghiã thực đúng thì là không biết ai là cha. Đó là một chùm-tiếng khá mù-mờ

bao-gồm nhiều hoàn-cảnh khác nhau. Có thể là kết-quả của một cuộc gặp-gỡ ngắn-ngủi nhất-thời và sau

đó, không còn giữ liên-lạc và người nữ không biết lý-lịch người nam cha đứa bé. Có thể là người nữ có

nhiều bạn trai mà không biết ai là cha thực của đứa bé (trường-hợp này chắc thử DNA thì biết). Có thể

người cha không muốn nhận con mình (thường gọi là con-rơi, con mà cha không công-nhận về pháp-lý).

Cũng có chùm tiếng con không cha mà nghĩa hơi khác : con không sống cùng với cha vì mồ-côi (cha ngụ

ý người hướng-dẫn về tinh-thần, dạy-dỗ), vì mẹ không có chồng chính-thức, hay vì người cha thực-sự

không muốn nhận con. Không biết tác-giả nghĩ như thế nào và sẽ chọn ra sao, nhan-đề của cuốn sách

khi viết lại bằng tiếng Việt.

2- Đoàn-Cầm-Thi: http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/doan-cam-thi-van-hoc-vn-chua-co-tu-truyen-
n20080726113617170.htm: Văn học VN chưa có tự truyện: Thứ Bảy, 26/07/2008 12:27 (16-03-2015)

3- La Métisse Blanche Cô đầm lai da-trắng truyện của Kim Lefèvre, chuyển-ngữ sang tiếng Việt nhan-đề

là Cô gái lai da trắng. Cũng viết Èves jaunes et colons blancs (nói về hoàn-cảnh những cô gái lai ở Việt-
Nam và Moi, Marina..(truyện một cô gái lai Âu và Da-đỏ tại Nam-Mỹ có vai trò gạch-nối)

4- Calomnies Xầm-xì vu-khống do Linda Lê viết, chuyển-ngữ sang tiếng Anh thành Slander ; cũng viết

Voix, tiếng vọng chuyển-ngữ Việt thành Tiếng Nói, Fuir, Solo, Un si tendre vampire

5- Sur place Tại chỗ của Kim-Đoan viết từ góc-độ người bên ngoài kể lại hành-trình nhân-vật nữ về thăm

quê nhà khám-phá bản-chất của mình. Cũng viết L’Arrivée kể về một nhân-vật bỏ con gái, nay sắp chết

bèn trở về tìm con. Và khi sắp đạt được kết-quả thì lại bỏ ra đi. Đề-tài quen-thuộc rằng hành-trình (tìm-
kiếm) quan-trọng hơn kết-quả (tìm thấy hay không)

6- Saigon is burning Sài-gòn nổi lửa do Laurette Heger viết mô-tả các sự-việc xảy ra tại Nam-kỳ trong

những năm cuối thế-chiến thứ 2 dẫn đến vụ Nam-kỳ khởi-nghĩa dần-dần đến cuộc chiến 46-54

7- Nam-kỳ là nhượng-địa chuyển-nhượng hay bị chiếm-đóng làm hai đợt : ba tỉnh miền Đông năm 1862

và ba tỉnh miền Tây năm 1867 ; sự chuyển-nhượng toàn Nam-kỳ được hợp-thức-hóa sau khi Hà-nội thất-
thủ lần đầu năm 1873. Từ đó, Nam-kỳ thành một quận-hạt hải-ngoại của Pháp trong khi Bắc và Trung-kỳ

8- Đây cũng là quan-điểm của Kim-Đoan trong cuốn L’Arrivée khi nhân-vật trở về tìm-kiếm con, đứng

trước căn nhà của con nhìn vào rồi lại bỏ đi. Như thể cuộc tìm-kiếm đã đủ để thỏa-mãn nhân-vật, còn

kết-quả gặp thực hay không, không quan-trọng. Kim-Đoan đã chơi chữ trong tiếng arrivée, nhân-vật đã

tới sát đích của cuộc tìm, nhưng lại không đi nốt tới đích. Một arrivée đã sát điểm arrivée nhưng không

qua điểm đích arrivée. Mai-Thảo cũng đề-cập đến đề-tài này trong truyện ngắn nổi tiếng Bản chúc-thư

trên ngọn đỉnh Trời, 1963

9- Écriture de soi—mà lúc đầu GSTS Đoàn-Cẩm-Thi gọi là văn tự-sự—văn kể về sự-việc của mình ; GSTS

được giới VN cho hay tự-sự là văn kể sự-việc ; không phải văn viết về mình. GSTS gọi là cái áo mượn

tạm. Chúng tôi tạm gọi là văn tự-ký.

https://www.youtube.com/embed/RAGu_7kNnus“>