DƯƠNG THỤ : NHỮNG MÙA XUÂN CỦA BÀI HÁT VIỆT NAM , phần 1


Những mùa xuân của bài hát Việt Nam

Tân nhạc Việt Nam chuẩn bị bước qua “tuổi” 70, kể từ tháng 8/1938, đánh dấu bằng chuyến đi xuyên Việt của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên để vận động cho tân nhạc và lần đầu tiên tờ Ngày nay in ca khúc Bình minh của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. sự kiện nóng

Bài viết sau của nhạc sĩ Dương Thụ, như một góc nhìn riêng, có thể là rất hẹp, rất chủ quan về bài hát Việt Nam trong 70 năm qua, nhưng hữu ích bởi nó gợi trong chúng ta những suy nghĩ, những phản biện để có thể tiếp cận với những giá trị thật sự của nền âm nhạc nước nhà.

Nhạc sĩ Dương Thụ nguyên là người biên tập và tổng đạo diễn chương trình Nửa thế kỷ Bài hát Việt Nam (1994), thành viên Hội đồng thẩm định chương trình Bài hát Việt và hiện là giám đốc sản xuất chương trình Hoà nhạc VietNamNet – Điều còn mãi (diễn ra vào 14h ngày 2/9/2009).

Những hạt mầm của bài hát Việt là từ những năm 30 của thế kỷ trước, thời ông Nguyễn Xuân Khoát sau khi tốt nghiệp ở Viễn Đông Nhạc Viện (Conservatoire de musique Francaise d’Exstrême Orient) còn vác contrebass chơi ở quán bar cùng với đồng nghiệp là người nước ngoài, Nguyễn Văn Tuyên còn hát các ca khúc Pháp trên đài Pháp Á, ông Nguyễn Văn Thương trọ học ở Hà Nội còn lang thang ra phố Hàng Gai đến tiệm đàn của ông Dương Thiệu Tước để làm quen, và ông Tước bắt đầu từ piano chuyển sang học và nghiên cứu cây guitare cổ điển, rồi cùng với cây đàn guitare du nhập vào thế giới của các tiết điệu Tây phương.

Nguyễn Văn Tý

Sáng tạo đầu tiên của thế hệ tiền bối này là làm thế nào để có được ca khúc Việt Nam (mà trước đó đã có mầm mống ở dân ca) theo những tiêu chuẩn quốc tế. Lời Việt và nhạc cũng phải mang âm hưởng Việt, và bài hát phải có khúc thức hoàn chỉnh, hòa âm và tiết tấu đàng hoàng.

Những hạt mầm sáng tạo thực ra đã được ươm từ trước (từ nửa cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX) trong việc đặt lời Việt cho các bài hát Tây, một “sự hợp nhất sáng tạo và vượt ra khỏi sự đối chọi có tính chất cục bộ của các dòng nhạc gốc” (Kartomi/ dẫn theo Jason Gibbs), manh nha cho sự ra đời của các bài hát Việt Nam sau đó.

Những người có công đầu trong việc gieo mầm phải kể đến ông Nguyễn Văn Tệ, một sinh viên ngành công trình công cộng ở Hà Nội, một nghệ sĩ và nhà biên kịch tài tử đã đưa hai bài hát tiếng Việt soạn trên giai điệu của bản La Marseillaise và Quand Madelon của Pháp vào vở cải lương Châu trần tiết nghĩa của mình diễn tại rạp Quảng Lạc vào tháng 6/1925.

Cũng năm này, Bác Hồ đã đặt lời Việt cho bản Quốc tế ca (L’Internationale). Và năm 1930, Đinh Nhu, một chiến sĩ cách mạng đã đặt lời Việt lại cho bản La Marseillaise theo đúng tinh thần hùng tráng của nó với nội dung tuyên truyền cách mạng.

Thực ra có một nhân vật gieo mầm khác hầu như không được biết đến là ông Trần Ngọc Quang, ông này đã viết nhạc cho 7 bài hát dùng trong vở kịch Kịch trường vạn tuế của Trần Ngọc Diệp do Hội kịch Bắc Kỳ (La Scène Tonkinoise) tổ chức biểu diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội vào tháng Chạp năm 1934 (ca từ là của Trần Ngọc Diệp), có thể đây là những sáng tác đầu tiên theo lối Tây của một nhạc sĩ Việt Nam, nhưng do giai điệu lai căng và việc phổ lời khiên cưỡng nên nó ít có giá trị và không được phổ biến. Nhưng dẫu sao với việc nó được in thành tập có tựa đề Những Bài hát mới có thể coi đây là những bài bài hát Việt Nam đầu tiên được ký âm và xuất bản.

Những năm 30 chủ yếu vẫn bùng nổ phong trào đặt lời Việt cho các ca khúc Pháp thời thượng gọi là bài Ta theo điệu Tây. Việc dùng những giai điệu Tây phương đã bắc một nhịp cầu cho sự ra đời một hình thức ca khúc Việt Nam mới được gọi là nhạc cải cách mà bây giờ chúng ta thường gọi là tân nhạc hoặc là nhạc tiền chiến.

Nguyễn Văn Tuyên

Từ những hạt mầm ấy, vào cuối năm 1938 cho đến nửa đầu thập kỷ 40, bài hát Việt Nam nở rộ với nhiều tìm tòi và sáng tạo mới mẻ. Tôi gọi thời kỳ này là mùa xuân thứ nhất của bài hát Việt.

Xuất hiện một Nguyễn Văn Tuyên đầy hứng khởi trong một chuyến du thuyết xuyên Việt để quảng bá cho tân nhạc, một Nguyễn Xuân Khoát thâm trầm, thận trọng tìm hướng đi đúng cho những sáng tác đầu tiên (kỹ thuật phương Tây nhưng âm hưởng phải Việt Nam, không Tây, không Tàu), một Dương Thiệu Tước tài hoa, sang trọng, ham chuộng tiết tấu và nặng tình với ca nhạc dân tộc, một Đặng Thế Phong đầy tâm trạng khơi mào cho dòng nhạc lãng mạn, một Văn Cao cuốn hút, mộng mị, một Lưu Hữu Phước sôi nổi, nhiệt huyết mở đầu cho dòng hành khúc cách mạng v.v…

Và Lê Thương, Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn, Hoàng Quý,Tô Vũ v.v… với hàng trăm bài hát để đời để rồi năm 1943 xuất hiện một Phạm Duy gói trọn những thành quả sáng tạo vào sự nghiệp ca hát và sáng tác của mình.

***

Mùa Xuân thứ hai bắt đầu bằng một nhập cuộc mới của những nhân vật nổi tiếng nhất trong nhạc tiền chiến. Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Văn Cao, Văn Chung, Lê Yên, Doãn Mẫn,Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý, Phạm Duy v.v. ba lô lên đường đi kháng chiến.

Cùng với Đỗ Nhuận, một chiến sĩ cách mạng đầy tài năng âm nhạc và những nhạc sĩ khác như Huy Du, Tô Hải, Lương Ngọc Trác,Trần Ngọc Xương, Nguyễn Đức Toàn, Nguyễn Đình Phúc, Lê Lôi,Văn An, La Thăng, Hoàng Việt, Trần Kiết Tường, Ngô Huỳnh, Đắc Nhẫn, Hoàng Vân v.v. đã hình thành nền ca khúc mới được gọi là nhạc kháng chiến.

Loại nhạc này vượt lên trên những giá trị của nhạc tiền chiến cả về nội dung lẫn ngôn ngữ biểu đạt. Sự cách tân của Nhạc Kháng Chiến hướng đến những giá trị dân gian và cổ truyền trên cơ sở nâng cao về văn hóa âm nhạc. Thành tựu nổi bật của sự sáng tạo này có thể kể: Hát mừng bộ đội chiến thắng (Nguyễn Xuân Khoát), Quê tôi giải phóng (Văn Chung), Mùa lúa chín (Hoàng Việt), Cấy chiêm (Tô Vũ), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi), Anh Ba Hưng (Trần Kiết Tường),Giải phóng Điện Biên (Đỗ Nhuận), Hò kéo pháo (Hoàng Vân) v.v… và loạt bài được mệnh danh là dân ca mới của Phạm Duy viết trong kháng chiến (1947- 1951).

Lê Thương

Bên cạnh khuynh hướng này, nhiều nhạc sĩ do nhu cầu muốn thể hiện một cách sâu sắc hơn những chủ đề lớn đã tạo ra thể loại trường ca, một thể loại được manh nha qua tác phẩm Hòn Vọng phu của Lê Thương từ thời tiền chiến, Nắng Ba Đình của Bùi Công Kỳ – Vũ Hoàng Địch và Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi từ thời năm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bình Trị Thiên khói lửa (Nguyễn Văn Thương), Du kích sông Thao (Đỗ Nhuận), Trường ca sông Lô (Văn Cao), Bộ đội về làng (Lê Yên), Chiến sĩ sông Lô (Nguyễn Đình Phúc), Em bé Mường La (Trần Ngọc Xương) v.v… là những trường ca được viết trong kháng chiến có không gian âm nhạc rộng lớn và một sự biểu cảm phong phú.

Nhạc kháng chiến cũng tiếp tục thể loại hành khúc có từ thời tiền chiến và những ngày đầu cách mạng nhưng mang âm hưởngViệt Nam hơn và đã thoát ra khỏi ảnh hưởng của hành khúc Pháp (Marche – militaire), đặt nền móng cho sự phát triển rực rỡ của hành khúc cách mạng thời chống Mỹ sau này. Nam bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn), Đoàn vệ quốc quân (Phan Huỳnh Điểu),Vì nhân dân quên mình (Doãn Quang Khải), Qua miền Tây Bắc (Nguyễn Thành), Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí-Nguyễn Bính), Trên đồi Him Lam, Hành quân xa (Đỗ Nhuận), Tiến về Hà Nội (Văn Cao), v.v… đã trở thành những hành khúc Việt chứa đựng ký ức của cả một thời.

Sau 1945, dòng nhạc lãng mạn thời tiền chiến được tiếp tục phát triển trong vùng Pháp chiếm đóng. Một số nhạc sĩ không đi kháng chiến, cùng một vài nhạc sĩ bỏ kháng chiến trở về tiếp tục sáng tác. Cái đuôi này của nhạc tiền chiến kéo dài đến 1954 ở miền Bắc và sau đó chuyển vào miền Nam trong vùng kiểm soát của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Được coi là loại nhạc vàng bởi những cảm xúc yếu đuối, ủy mị, nhưng nó cũng có những thành tựu, nhưng là những thành tựu cuối mùa, đến 30/4/1975 thì nó tàn lụi hẳn. Cái nhẹ nhàng mong manh buồn man mác, cái sang trọng thị thành đã không có lý do để tồn tại. Nhưng bao giờ cũng thế, những gì mất đi một khi đã trở thành hồi ức, nó sẽ sống dai dẳng trong tâm khảm những người cùng thời, ngăn cản họ đến với cái mới.

***

Mùa xuân thứ ba của bài hát Việt bắt đầu từ khi hòa bình lập lại cho đến khi kết thúc cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Đây là mùa xuân rực rỡ nhất của những sáng tạo âm nhạc trong lĩnh vực ca khúc…

(Còn tiếp…)

  • Theo Dương Thụ (Thể thao & Văn hoá)

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/nhung-mua-xuan-cua-bai-hat-viet-nam

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s