NGUYỄN ĐỨC TIẾN : Ký ức thời bao cấp – Kỳ 6: Nghệ sĩ, cát sê và fan


Ký ức thời bao cấp – Kỳ 6: Nghệ sĩ, cát sê và fan

 

Các chương trình nghệ thuật ngoài trời vào các tối thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết ở Hà Nội mấy mươi năm trước luôn thu hút rất đông khán giả. Không chỉ người các tỉnh thành về Hà Nội chơi đi xem mà có cả người Hà Nội.

Một tiết mục biểu diễn của ca sĩ Ái Vân (phải) và Phương Thư hơn 30 năm trước - Ảnh: T.LMột tiết mục biểu diễn của ca sĩ Ái Vân (phải) và Phương Thư hơn 30 năm trước – Ảnh: T.L
Nói không với scandal
Lý do là thời đó không phải ai cũng có tiền mua vé vào rạp. Mặt khác truyền hình chưa phát triển, mỗi tối chỉ phát sóng một hai giờ và mua ti vi cũng mệt vì: “Muốn tan cửa nát nhà thì sắm ti vi/Muốn đi bệnh viện thì mua xe máy” hay: “Ti vi, tủ lạnh, Honda/Có 3 thứ ấy khám nhà như chơi”, nên mọi người nghe hát chủ yếu qua Đài truyền thanh Hà Nội hay Đài tiếng nói VN. Người yêu âm nhạc thuộc lòng bài hát, biết tên ca sĩ nhưng không có cơ hội biết mặt thần tượng của mình nên họ kéo nhau đi xem ca nhạc ngoài trời và tôi cũng là một trong số đó.
Các ca sĩ biểu diễn khi đó được đào tạo bài bản nên có thể hát được nhiều thể loại khác nhau nhưng bao giờ cũng thủ sẵn bài “tủ”. Tôi nhớ khi ca sĩ Vân Khánh chưa đi nước ngoài bao giờ cũng hát hai bài là Siboney (nhạc Cu Ba mà mọi người chế ra ra là “Bố Tây đen mẹ cũng Tây đen, đẻ con đen xì”) và bài Tình Bác sáng đời ta. Ca sĩ Quang Hưng có hai bài “tủ”: Tôi là Lê Anh Nuôi và Anh quân bưu vui tính, còn ca sĩ Trần Hiếu là Con voi. Thúy Hà thì thường hát bài Cánh chim báo tin vui và Đêm nay anh ở đâu, Bích Liên hát Đường tôi đi dài theo đất nước và Bài ca năm tấn. Thanh Hoa hát Đường tàu mùa xuân.
Ngọc Tân thì hát Chiều trên bến cảng…
Nếu tính số các ca sĩ hay hát show tại các tụ điểm thì rất nhiều. Ca sĩ nam gồm: Tiến Thành, Hữu Nội, Mạnh Hà, Trọng Nghĩa, Trần Khánh…, nữ là Thúy Lan, Thúy Đạt, Bích Thảo, Vũ Dậu… Ngoài ra còn các ca sĩ trưởng thành từ phong trào âm nhạc quần chúng như: Ngọc Bé, Huy Túc, Quốc Đông, Văn Sáu… Tôi nhớ khi Ngọc Bé hát bài Em là thợ quét vôi, ca sĩ lấy hai tay đưa lên đưa xuống trong không khí cho ra dáng chị quét vôi trông ngộ nghĩnh. Chen giữa các tiết mục bao giờ cũng có tấu hài và nghệ sĩ Hồng Kỳ diễn rất duyên. Thời đó điều kiện kỹ thuật không cho phép nên ca sĩ không thể hát nhép, vì vậy phải có dàn nhạc, tôi không biết nhiều nhưng thổi kèn trumpet có ông Trường nhà đầu phố Bà Triệu, chơi đàn accordeon có Tuấn “mũi”.
Nhiều chuyện vui trong những show này, ví dụ bài hát đã đóng đinh với một ca sĩ nào đó mà khán giả đã quen thuộc trên Đài tiếng nói VN nhưng biểu diễn trên sân khấu lại không phải ca sĩ đó thì khán giả hoặc ê ê kéo dài hay đồng thanh hô: “Một, hai, ba xuống đi!”. Hình thức biểu diễn cũng đa dạng gồm: đơn ca, song ca, tam ca và tốp ca. Tôi nhớ bài Con kênh ta đào do ca sĩ Ngọc Tân và Thanh Hoa song ca. Lắm hôm các ca sĩ hát tốp ca làm điệu, dựa vai vào nhau đu đưa theo giai điệu về bên phải rồi lại về bên trái trông ngây ngô nhưng đáng yêu.
Sau năm 1975, các mốt thời trang từ Sài Gòn ùa ra Hà Nội, tuy vậy các ca sĩ nữ khi hát show vẫn áo dài may theo kiểu Hà Nội và Thúy Hà bao giờ cũng gây ấn tượng bằng cách chỉ mặc áo màu đỏ, đi guốc cao gót bằng nhựa. Chỉ có một vài ca sĩ may áo dài kiểu Sài Gòn. Sang thập niên 1980, một số ca sĩ mặc váy lên sân khấu nhưng không nhiều. Với ca sĩ nam, trang phục biểu diễn mùa hè là áo sơ mi bỏ trong quần, mùa đông mặc complet. Sau năm 1975, xuất hiện ca sĩ mặc quần ống loe, đi giày đế cao nhưng khi có “chiến dịch” rạch quần ống loe thì bỏ luôn.
Các ca sĩ thời bao cấp có rất nhiều fan nhưng họ không xin chữ ký và tôi chứng kiến một fan đang xếp hàng mua thực phẩm ở phố Đại La thấy ca sĩ xếp hàng ở tít phía dưới đã nhường chỗ của mình cho ca sĩ đó. Lại có khi cũng rất hài hước, họ đang uống bia ở quán nào đó thấy ca sĩ đi qua liền đồng thanh hô to tên ca sĩ. Họ mến mộ vì giọng hát và đôi khi cũng vì sắc, ví dụ như ca sĩ Ái Vân được các chàng trai hâm mộ mua ảnh bán ở các cửa hàng văn hóa phẩm nhét vào trong ví. Ca sĩ thời đó không có gì để tạo scandal.
Thù lao tương đương bát phở
Cát sê thời bao cấp chia làm hai loại, nếu theo nhiệm vụ của đoàn thì biểu diễn xong nghệ sĩ chỉ được bồi dưỡng bát phở, bát mì hay số tiền tương đương với bát phở vì họ đã có lương. Còn đi show thì ông bầu không bao giờ công bố cát sê bao nhiêu và ca sĩ cũng không bao giờ hỏi, nói chung quan niệm khi đó được xuất hiện trước công chúng là hạnh phúc. Nói vậy nhưng lúc mở phong bì cũng hồi hộp, tuy nhiên sự chênh lệch giữa các nghệ sĩ không quá lớn.
Đầu thập niên 1980, cát sê của người giới thiệu chương trình là 10 đồng, còn ca sĩ thì tùy theo nhưng cao nhất cũng không vượt quá 20 đồng, so với giá vàng khi đó thì mua được 1/7 chỉ.
Ca sĩ có cát sê nhưng nhạc sĩ không có tiền bản quyền vì hầu hết họ ăn lương nhà nước và cũng không có luật bản quyền nên được ca sĩ hát ca khúc của mình là lâng lâng rồi.

Nguyễn Ngọc Tiến

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/ky-uc-thoi-bao-cap-ky-6-nghe-si-cat-se-va-fan-565611.html

NGUYỄN ĐỨC TIẾN :Ký ức thời bao cấp – Kỳ 5: Showbiz thời bao cấp


Ký ức thời bao cấp – Kỳ 5: Showbiz thời bao cấp

 
Những hoạt động nghệ thuật thời bao cấp phục vụ công chúng đều do các đoàn nghệ thuật nhà nước đảm nhiệm.
Diễn viên trang điểm trước giờ diễn hơn 40 năm trước - Ảnh: David Alan HarveyDiễn viên trang điểm trước giờ diễn hơn 40 năm trước – Ảnh: David Alan Harvey
Chỉ khác từ ngữ biểu đạt
Thời đó nghệ sĩ được gọi là “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, thông qua tác phẩm có thể là ca, múa sân khấu, điện ảnh tuyên truyền đường lối chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vì là đoàn nghệ thuật của nhà nước nên họ được cấp kinh phí để dựng vở diễn, làm phim hay các chương trình ca nhạc.
Và tất nhiên ca sĩ, nhạc công, diễn viên đều trong biên chế của đoàn nghệ thuật nào đó, có thể thuộc bộ văn hóa hay sở văn hóa các tỉnh thành. Trên địa bàn Hà Nội có rất nhiều đoàn tá túc, nếu tính cả các đoàn nghệ thuật của Hà Nội thì tổng số trên dưới 20 đoàn. Ngoài ra, lực lượng vũ trang cũng có đơn vị nghệ thuật riêng. Thậm chí trong quân đội, cấp quân khu, quân chủng cũng tổ chức đoàn nghệ thuật riêng, vừa phục vụ bộ đội, vừa phục vụ nhân dân.
Ngoài lương, nghệ sĩ còn được phụ cấp thanh sắc mà trong giới gọi là tiền hao mòn thanh sắc, nếu biểu diễn theo kế hoạch họ còn được bồi dưỡng quy định. Tuy là đoàn nghệ thuật nhà nước nhưng hình thức hoạt động nói chung không khác mấy so với hoạt động showbiz hiện nay. Trưởng đoàn lo tổ chức, kết cấu chương trình cũng gồm diễn viên nổi tiếng để thu hút khán giả rồi liên hệ địa điểm, bán vé, nếu diễn ở các vùng quê thì ngoài dán áp phích họ còn cho thông báo trên loa… Hoạt động như showbiz bộc lộ rất rõ trong thập niên 1980 khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ tại Hà Nội mà người ta hay nói là “cởi trói” cho văn nghệ sĩ. Và dù là tuyên truyền nhưng lại phải bán vé nên ngoài các bài hát trong “phần cứng” thì các đoàn vẫn phải tìm các tác phẩm mới, lạ, các nghệ sĩ tên tuổi để tăng sức hấp dẫn thu hút khán giả. Càng nhiều khán giả thì tuyên truyền sẽ hiệu quả và doanh thu của đoàn nhờ đó cũng cao hơn.
Dù số đoàn nghệ thuật khá nhiều nhưng cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu thưởng thức của quần chúng, nhất là các đối tượng không đủ điều kiện mua vé vào rạp nên đã sinh ra các chương trình nghệ thuật ngoài trời. Đó cũng chính là nhiệm vụ chính trị của các đoàn. Ở Hà Nội vào các tối thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết bao giờ cũng có các chương trình biểu diễn trước cửa Ngân hàng Nhà nước (phố Lý Thái Tổ), trong công viên Thống Nhất, vườn Bách Thảo, Nhà văn hóa Thanh niên, hồ Thiền Quang… và biểu diễn tại đây do ngành văn hóa tổ chức nhưng thông qua ông bầu tư nhân với sự tham gia của các nghệ sĩ thuộc các đoàn nghệ thuật khác nhau. Tại sao nghệ sĩ trong biên chế lại có thể tự do biểu diễn ở các show? Đơn giản vì họ đã làm xong công việc của đoàn và việc họ hát ở ngoài cũng vẫn là “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, vẫn là tuyên truyền nên các vị trưởng đoàn không ý kiến gì.
Bầu sô “quốc doanh” cạnh tranh bầu sô tư nhân
Thời bao cấp cuộc sống vật chất khó khăn, thiếu thốn nhưng bù lại đời sống tinh thần lại vô cùng phong phú. Một năm, cán bộ công nhân viên trong các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy ít nhất phải được xem biểu diễn nghệ thuật 2 lần. Cán bộ công đoàn được mua vé xem phim, xem kịch hay ca nhạc, có nhà máy công nhân làm ca kíp không mua vé ngoài rạp đã mời các đoàn nghệ thuật đến biểu diễn tại nhà máy. Rồi các cơ quan, nhà máy tổng kết quý hay tổng kết năm cũng thường có ca nhạc nên sinh ra chạy đua giữa các ông bầu “quốc doanh” (trưởng đoàn nghệ thuật) với các ông bầu tư nhân. Nếu ông bầu “quốc doanh” thường dùng “mỹ nhân kế” dẫn theo diễn viên xinh tươi hay nổi tiếng để dễ ký hợp đồng thì các ông bầu tư nhân lại có vũ khí khác là “lại quả”, nghĩa là họ cắt phần trăm cho người có trách nhiệm của cơ quan đó. Lại có ông bầu tư nhân láu cá “xin” giấy giới thiệu của vị trưởng ngành nào đó và khi cầm tấm giấy thông hành trong tay họ tuyển quân đi diễn hết các đơn vị trực thuộc. Thập niên 1980, một nhạc sĩ làm bầu sô rất giỏi quan hệ kiểu đó và giàu lên nhanh chóng.
Còn biểu diễn tại sân khấu ngoài trời cũng có vài ông bầu, và một trong số đó là nghệ sĩ accordeon Kiều Linh của Đài tiếng nói VN. Tất nhiên ông Kiều Linh chỉ mời các nghệ sĩ của dàn nhạc nhà đài. Nói chung các ông bầu thiết kế show chủ yếu là hát và tấu hài. Trong các show cũng có người giới thiệu tiết mục, họ nói ngắn gọn và sử dụng từ ngữ mang tính tượng hình, tượng trưng, đôi khi ví von rất hóm hỉnh và không bao giờ dùng từ nghệ sĩ mà chỉ dùng từ ca sĩ hay diễn viên vì từ nghệ sĩ thời đó chỉ dùng để gọi những người đã thành danh và có uy tín trong nghề.
Năm 1980, nghệ sĩ múa Thu Hiền đã chuyển về làm việc ở Đài truyền hình VN và thường xuyên giới thiệu chương trình cho ông bầu Kiều Linh. Khi đó cậu con trai Anh Quân và cô con gái Hương Ly còn nhỏ nên nhạc sĩ Trương Ngọc Ninh chất cả nhà lên chiếc xe Mobylette. Chờ khi Thu Hiền nhận cát sê xong cả nhà lại lên xe máy èn èn về phố Vọng.

Nguyễn Ngọc Tiến

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/ky-uc-thoi-bao-cap-ky-5-showbiz-thoi-bao-cap-565186.html

NGUYỄN ĐỨC TIẾN : Ký ức thời bao cấp – Kỳ 4: Hát đám cưới ‘chui’


Ký ức thời bao cấp – Kỳ 4: Hát đám cưới ‘chui’

 

 

 

Năm 2000, nhạc sĩ Mai Lâm (cậu ruột nhạc sĩ Anh Quân) đang định cư ở Đức về VN thu âm đĩa nhạc Hà Nội mùa thu sớm. Năm 2002, ông lại về thu tiếp đĩa có tên là Từ xa Hà Nội. Cảm xúc khiến Mai Lâm sáng tác vì nỗi buồn xa Hà Nội, xa VN, phải lưu lạc nơi xứ người.

>> Ký ức thời bao cấp – Kỳ 3: Yêu kiểu cưa đường

Đám cưới thời bao cấp - Ảnh: T.L

Đám cưới thời bao cấp – Ảnh: T.L
Cuối năm 2014 và đầu năm 2015, Nhà xuất bản Văn học in cho ông 2 tập tản văn Từ xa Hà Nội 1 và Từ xa Hà Nội 2, phần lớn trong 2 tập tản văn là những kỷ niệm thời bao cấp với giọng điệu hài hước và hóm hỉnh.
Đám cưới đãi nước chè với kẹo, bánh
Thời bao cấp, Mai Lâm học ở Nhạc viện Hà Nội, từ hệ sơ cấp lên đến trung cấp rồi đại học. Ngày Mỹ ném bom Hà Nội, Mai Lâm theo nhạc viện sơ tán lên Bắc Giang. Sinh viên thời đó nói chung thiếu thốn, ngoài ăn uống thì lấy đâu tiền để uống nước chè vặt, còn hút thuốc lá ở quán “bà bóp” nơi cổng trường là trăn trở. Xin gia đình thì không dám vì cha mẹ đã nuôi ăn nên chỉ còn cách làm thêm, mà với sinh viên nhạc viện thì đánh nhạc là khả dĩ nhất. Được ăn cỗ, lại có thuốc lá hút và còn được liếc các cô phù dâu xinh tươi.
Thập niên 1960, nửa đầu thập niên 1970, đám cưới ở Hà Nội cũng giống như nhiều vùng miền khác trên miền Bắc, phải cưới theo lối “đời sống mới”, tức là chỉ có bánh kẹo, nước chè. Ở quê là kẹo vừng, kẹo bột, Hà Nội thì khác hơn có kẹo mềm, kẹo cứng bọc giấy của Nhà máy bánh kẹo Hải Châu, có bánh vừng vòng hay bánh quy. Ở quê, khách đến dự mừng đôi vỏ gối thêu đôi chim bồ câu mớm mỏ nhau, thêm hai chữ hạnh phúc, sau đó mọi người ăn kẹo uống nước chè và liên hoan văn nghệ kiểu cây nhà lá vườn.
Có khi ngâm Bài ca xuân 71 của Tố Hữu hay bài Quê hương của Giang Nam. Nhưng Hà Nội có khác, bạn bè mừng cái xoong quấy bột, vài cái tã lót, cái khăn mặt bông, cái chậu thau hay cái nồi nhỏ bọc trong giấy đỏ. Vì nhà cửa chật nên nhiều gia đình phải thuê phòng cưới và số phòng cưới cũng đếm trên đầu ngón tay, có: Trăm Hoa ở dốc phố Bà Triệu, Thủ Đô ở phố Phùng Hưng, Hòa Bình ở Trần Hưng Đạo… Có đám cưới thêm tí nhạc sống xập xình cho tăng… không khí. Song, điều khá lạ là dù chỉ làm vài mâm, họ hàng mỗi nhà cử một đại diện ăn cỗ nhưng bao giờ cũng dành một mâm cho ban nhạc. Ăn cỗ xong ban nhạc mới kéo nhau ra phòng cưới ngồi chờ chú rể đưa cô dâu về là đánh trống, thổi kèn.
Vật vã chuyện kiếm và chuyển nhạc cụ
Hà Nội khi đó cũng không nhiều ban nhạc, nhưng nổi danh nhất trong làng đánh đám cưới là ban của Hào “trống” ở Cửa Nam và ban nhạc của anh Trường. Nhóm của Mai Lâm chen vào được vì phá giá thị trường. Ban nhạc ngày đó chưa có guitar bass, chỉ một cây guitar solo, dàn trống, một cây contrebasse, accordeon và kèn clarinet, nghĩa là càng ít thì số tiền chia nhau nhiều hơn. Tuy nhiên ban nhạc sinh viên đâu phải ai cũng có nhạc cụ riêng. Sinh viên học nhạc cụ gì thì trường giao cho giữ đàn đó để tập nhưng có trách nhiệm bảo quản, hư hỏng không có lý do chính đáng phải đền.
Để có nhạc cụ chơi đám cưới, tối hôm trước, Mai Lâm cùng các thành viên lén lút chuyển nhạc cụ qua hàng rào rồi tập kết ở nhà ai đó. Muốn tiết kiệm tiền chuyên chở, cây contrebasse to đùng được một người đạp xe chở người ngồi sau chật vật ôm cây đàn. Hồi đó ca sĩ chuyên nghiệp không đi hát đám cưới, chỉ có ca sĩ nghiệp dư hát và đình đám là Long “tầu”, học violon nhưng hát khá hay và chỉ có bài tủ là Delilah mà khi đó gọi là Khóc em dưới mồ. Nhóm của Mai Lâm thì không có ca sĩ nhưng do được đào tạo bài bản nên chơi rất hay. Và khi chú rể dẫn cô dâu vào phòng cưới, nhóm tấu bản Tuýp Sông Hồng. Bản này là dân ca Mỹ được dân Hà Nội đặt lời Việt: “Ngồi trên chiếc F4H bay ra Bắc Việt, bị dân quân phòng không bắn trên sông Hồng, chiếc xe trâu đưa tôi về Hà Nội VN”.
Có lần đang đánh nhạc ở phòng cưới Trăm Hoa thì thầy giáo dạy clarinet vào bắt quả tang, Mai Lâm và anh em trốn dưới gầm bàn. Thời đó nhạc viện cấm sinh viên không được đi đánh nhạc và hát vì nguyên tắc đào tạo là chưa thành nghề đã biểu diễn sẽ hỏng nghề. May thầy thương, không báo ban giám hiệu nên không ai bị kỷ luật. Nhưng vẫn thèm ăn cỗ, thèm thuốc lá, thèm vài đồng cát sê nên cả nhóm vẫn lén lút đi đánh cho đến khi tốt nghiệp.

Nguyễn Ngọc Tiến

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/ky-uc-thoi-bao-cap-ky-4-hat-dam-cuoi-chui-564831.html

NGUYỄN ĐỨC TIẾN : Ký ức thời bao cấp – Kỳ 3: Yêu kiểu cưa đường


Ký ức thời bao cấp – Kỳ 3: Yêu kiểu cưa đường

 

Dù đã cởi mở trong quan niệm nam nữ nhưng nói chung thời bao cấp, các gia đình Hà Nội vẫn rất “phong kiến”.

Ký ức thời bao cấp: Yêu kiểu cưa đườngPhương tiện đi lại “sang trọng” của các cặp đôi yêu nhau thời bao cấp là xe đạp – Ảnh: nhiếp ảnh gia người Đức Reisen
Cưa đường nôm na là tán gái ngoài đường. Thời bao cấp nói chung thanh niên Hà Nội ít dùng từ tán tỉnh mà họ thường dùng từ cưa, tán được em nào họ gọi là “cưa đổ”.
Trước năm 1973, Hà Nội không có cưa đường, trai gái yêu nhau chủ yếu qua hai kênh chính: tự đến và họ hàng, bạn bè giới thiệu, không còn kiểu phong kiến “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Tự đến với nhau do học cùng phổ thông, cùng đại học, làm cùng nhà máy, cơ quan hay tham gia phong trào thanh niên… Còn giới thiệu thì bà cô, ông bác thấy cháu đến tuổi lập gia đình nhưng chưa có ai đoái hoài thì tìm hộ nhưng cũng có thể là bạn bè gán ghép.
Cưa đường có thể xuất hiện vào khoảng năm 1973, tức là sau khi Hiệp định Paris được ký kết, dân Hà Nội đi sơ tán tránh bom ở các vùng quê trở về thành phố. Có lẽ khoảng thời gian đi sơ tán khiến thanh niên “bức bối” vì con trai thành thị khó có thể yêu các cô thôn quê và con gái thành thị lại càng khó yêu các chàng trai nông thôn. Công cụ đi cưa đường là một chiếc “nghẽo” (từ đường phố chỉ xe đạp), buổi chiều lau sạch bóng và phải sửa chữa cho ngon vì đang cưa mà hỏng xe coi như xong, có thêm bao thuốc lá và thêm đồng bạc vì con trai Hà Nội có tính sĩ diện, nhỡ buột mồm mời các em uống giải khát còn có tiền mà trả.
Thường thì hai hay ba thanh niên đi hai xe đạp song cũng có thanh niên thích làm “con cáo đơn độc”. Họ đi lang thang phố nọ phố kia nhưng thường là các phố chính. Không phải ai, cô gái nào cũng có thể bắt chuyện với con trai ngoài đường nên đám thanh niên không bao giờ cưa các em tóc tết đuôi sam, vẻ mặt nghiêm nghị trông Bôn (có gốc từ Bolsevic – chỉ những người cộng sản Liên Xô), quần lụa áo sơ mi cổ lá sen. Thường họ nhắm vào các em tươi tắn hay “đú” (từ đường phố chỉ các em đua đòi nhưng không phải hư hỏng), mốt quần áo “hắc mô ni” (một loại cá cảnh màu đen ở Hà Nội) hay áo nâu, quần phăng (quần Âu) cũng nâu may ống tuýp đi guốc nhựa, tóc buộc đuôi gà chổng ngước lên. Đầu tiên là đi xe bên cạnh rồi vờ hỏi đường, hay buông ra câu nịnh nọt, tỏ ra hóm hỉnh. Chỉ cần em đang đạp xe quay sang nhìn lại nghĩa là có thể cưa tiếp. Và rất nhiều chuyện hài hước xảy ra. Có khi dọc đường cô gái im lặng nhưng về đến nhà cô ta mới mở miệng: “Chị có chồng rồi các em ạ, để chị gọi chồng chị ra nói chuyện với các em”, chả biết đúng hay không thế là quay xe đạp thẳng. Có cô thì đổ ngay trong lần gặp đầu tiên, đưa cô gái về đầu ngõ rồi dừng xe tâm sự. Thực tế cũng rất nhiều người nên vợ nên chồng. Nói chung cưa đường là vừa tìm kiếm người yêu nhưng cũng là trò chơi.
Thơ con cóc
Sau tháng 4.1975, đồ đạc theo chân bộ đội phục viên, xuất ngũ ra miền Bắc, lại có những nguời nhanh nhạy vào Sài Gòn mua hàng hóa ra Hà Nội bán và đồng hồ Nhật là món đồ có giá trị. Hồi đó có thơ lưu truyền trong thanh niên:
Một yêu anh có Seiko
Hai yêu anh có Peugiot cá vàng (xe đạp)
Ba yêu anh có nhà sang
Bốn yêu hộ tịch rõ ràng thủ đô
Năm yêu không có bà bô (mẹ)
Sáu yêu Văn Điển ông bô (bố) sắp chầu
Hồi tôi đi bộ đội, ở đơn vị tôi cũng có vài anh chép những câu thơ về tình yêu. Dù là thơ con cóc nhưng nó cũng cho thấy ghen tuông, bất lực của đám con trai nghèo và qua đó nó cũng bộc lộ khát khao của các cô gái:
Nó ở Tây về có máy khâu
Ra đường ăn mặc đúngmốt Âu
Chiều chiều Spart (xe máy của CHDC Đức) bay dạt phố
Ai cũng nhìn theo bảo nó giầu
Có lẽ hơn nhau bởi chữ giầu
Nên em yêu nó có gì đâu
Cho dù nó hơn nhiều tuổi tác
Em vẫn cứ yêu chẳng thấy sầu
Hay lại có những bài đại loại
Em bỏ tôi phải lắm rồi
Lính quèn binh phục lại lôi thôi
Gia tài chỉ có ba lô gọn
Nó ở Tây về hẳn hơn tôi.
Và khi yêu
Khi đã yêu nhau và hàng xóm biết rõ anh này yêu chị kia, nhưng ban ngày mà đến nhà người yêu chơi khi nhà cô gái không có ai ở nhà thì nên mở toang cửa, vì nếu khép lại là có chuyện. Hàng xóm sẽ xì xào và sẽ đến tai bố mẹ, lập tức bị phiền hà.
Mới yêu xin đi chơi rất khó, thế nên chàng trai chỉ ngồi nhà nói chuyện, nhà chật, chuyện gì cũng lọt vào tai mọi người, thế nên mới có nhiều câu chuyện vui. Ví dụ như anh chàng ngồi mãi chả biết nói chuyện gì, khi nhìn cái quạt trần liền nói với bố người yêu: “Cái quạt này mà rơi có đứa chết”.
Yêu phải đủ độ tin cậy với cha mẹ thì mới được dắt nhau đi chơi. Mà đi chơi thì chủ yếu vào công viên Thống Nhất hay Bách Thảo, tiền đâu mà vào quán giải khát. Và tất nhiên, chàng trai nào cũng thích vào công viên hơn nhưng đôi khi cũng gặp phiền phức vì anh công an mặc thường phục đi bắt “phò” (gái làm tiền) trà trộn hành nghề trong công viên, không biết hư thực thế nào cứ tách hai người ra, hỏi từng người một, sau đó nếu khớp tên, số nhà, phố thì thôi…

Nguyễn Ngọc Tiến

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/ky-uc-thoi-bao-cap-ky-3-yeu-kieu-cua-duong-564409.html

NGUYỄN NGỌC TIẾN : Ký ức thời bao cấp – Kỳ 2: Chuyện ăn, đi và thi của sinh viên


Ký ức thời bao cấp – Kỳ 2: Chuyện ăn, đi và thi của sinh viên

 

Thời bao cấp, thi đậu vào đại học là khát khao của học sinh tốt nghiệp cấp 3, nhưng do chỉ tiêu lấy ít, thi nghiêm túc và đề thi cũng khó nên tỷ lệ đỗ rất thấp.

>> Ký ức thời bao cấp – Kỳ 1: Xếp loại A, B, C để mua hàng hóa

Góc phố bán nước giải khát cho sinh viên thời bao cấp - Ảnh: T.L

Góc phố bán nước giải khát cho sinh viên thời bao cấp – Ảnh: T.L
Bởi vậy sinh viên (SV) mới có thơ:
Cổng trường đại học cao vời vợi
Mười thằng trèo tới chín thằng rơi
Đậu đại học (ĐH) tức là thành SV mà SV không phải lo ăn, lo chỗ ở vì trường nào cũng có ký túc xá, có bếp ăn tập thể cho SV nội trú. Mỗi SV được hưởng 17 kg lương thực, tiêu chuẩn tem phiếu thực phẩm, bách hóa và mỗi tháng lĩnh 21 đồng học bổng. Vì được hưởng chế độ cung cấp nên ngành lương thực, thực phẩm bán cho gì thì ăn nấy. Và ăn độn là điều không thể tránh được.
Cơm độn mì, bo bo
Tùy theo thời kỳ, có khi phải ăn độn ngô, bo bo, sắn khô nhưng ở Hà Nội chủ yếu là độn mì. Buổi sáng mỗi SV nội trú xuống nhà ăn nhận một cục luộc (bột mì nhào nước nặn giống như bánh bao sau đó cho vào chảo luộc) vừa cứng vừa khô rất khó nuốt. Bữa trưa thì cơm độn với mì sợi, bữa chiều thì mì sợi độn với cơm. Ngày nào cũng như ngày nào nên SV than:
Một ngày hai bữa cơm mì
Năm năm đại học còn gì là xuân
Những năm 1984, 1985, tuy không còn ăn độn nhưng cơm SV thì “canh toàn quốc, nước chấm đại dương”. Năm đó tôi học ĐH Sân khấu -Điện ảnh Hà Nội, có hôm không mang cặp lồng cơm đành sang ăn ké bạn bè ở ĐH Thương mại. Một suất cơm chỉ có tí canh rau lõng bõng nước và đúng 20 hột lạc rang muối. Thế nên mới có chuyện vui, cánh đàn ông chuyên đi lấy phân ở nhà vệ sinh công cộng tại các trường ĐH chia làm hai phe, một phe thích vì nó không có mùi, phe kia không thích vì không bao giờ đầy hai sọt.
SV ngoại trú thì treo toòng teng cặp lồng cơm trên ghi đông xe đạp. Vào lớp để dưới gầm bàn, giờ nghỉ trưa mang xuống nhờ các bà ở bếp hâm lại cho nóng. Các bà mở cặp lồng cơm là biết ngay điều kiện gia đình. Lại còn chuyện SV đi học bằng xe buýt. Gặp hôm xe đông khách, đám SV nữ chấp nhận “sơ hở” một vài chỗ nhưng dứt khoát phải che chắn cặp lồng cơm vì nếu bị bẹp cơm canh phòi ra là mất bữa trưa. “Lính tráng có suất”, chả ai từ thiện cho mình bữa trưa.
Dùng “mỹ nhân kế” đi xe buýt
Cuối thập niên 1970, các trường ĐH Xây dựng, Kiến trúc, Sư phạm vẫn còn ở tỉnh Vĩnh Phúc nên SV Hà Nội lên trường thường chọn đi tàu chợ. Nam hay nữ đều tìm mọi cách trốn vé, trên toa nhìn thấy ông soát vé là lẩn nhanh hơn trạch. Tàu về đến gần ga Hà Nội giảm tốc độ là nhanh chóng nhảy xuống chỗ chắn tàu Cửa Nam vì vào trong ga lúc ra cửa không có vé sẽ bị phạt.
Đầu thập niên 1980, nói chung các trường ĐH đã chuyển hết cơ sở về Hà Nội và khu vực Thanh Xuân có 3 trường là Tổng hợp, Ngoại ngữ và Kiến trúc. Với SV nội trú thì không có vấn đề gì, chỉ vài bước chân là đến giảng đường nhưng với SV ngoại trú lại là một câu chuyện. Anh chàng nào có bạn gái cùng trường thì bằng mọi giá thửa bằng được chiếc xe cuốc, tháo chắn bùn cho em ngồi lên gióng, đi học như đi chơi phố. Tuy nhiên lại có SV chọn tàu điện hay xe buýt nhưng đi xe buýt là đông nhất vì ngành giao thông giảm giá vé đi tháng cho SV. Vì ít xe nên nửa tiếng mới có một chuyến, lỡ chuyến là đi học muộn nên ai cũng chen chúc cố vào bằng được.
Chuyến đi gian nan nhưng chuyến về lắm bận còn khổ hơn. Buổi trưa, tuyến Nhổn – Bờ Hồ bao giờ cũng đông mà bến Thương mại lại tập trung quá nhiều trường: Sân khấu – Điện ảnh, Thương mại, Xiếc, Múa, SV đa phần dùng vé tháng nên tài xế thấy đông là bỏ bến. Có kêu cũng chả ai giải quyết nên SV bến này đành dùng kế hạ sách nhất là “mỹ nhân kế”, cho mấy nữ SV trường múa hay sân khấu trẻ trung vờ lả lơi, thế là xe đông mấy các bác tài cũng ghé bến. Và khi xe đỗ lập tức đám SV nấp bên trong ùa ra chen nhau lên xe. Biết bị lừa nhưng các bác tài vẫn cứ đỗ, ra ai cũng thích các em trẻ đẹp, nóng bỏng.
Thời bao cấp, thời gian học ĐH là 5 năm. Giáo trình in roneo trên giấy đen xì. Có khi chữ mờ, có khi thiếu dấu nên vừa học vừa luận, ví dụ như “Nhà máy cơ khí Gia Lâm” vì không có dấu lại luận ra thành “Nhà mày có khỉ già lắm”. Thiếu thốn nhưng thời đó thầy dạy thật và trò cũng học thật, thi học kỳ rất nghiêm túc nên có ca dao:
Năm năm có chín kỳ thi
Một kỳ tốt nghiệp còn gì là xuân
Năm 1985, tôi chơi với nhiều SV trường y, tưởng các bác sĩ tương lai chăm chỉ, nghiêm túc nhưng không phải vậy. Với một số môn không phải chuyên ngành lại thi vấn đáp, họ bí mật cho viên thuốc lợi tiểu vào cốc nước của các thầy, đang hỏi thầy đành xin lỗi ra ngoài. Còn SV khu vực Mai Dịch cứ thi các môn chính trị là vào nghĩa trang Mai Dịch thắp hương trên mộ các “cụ” xin các “cụ” phù hộ. Lại có SV ĐH Tổng hợp thi bị điểm 2 (có thời kỳ ĐH chấm thang điểm 5) trưa nắng mặc áo bông, đi bộ gần đến nhà thầy mới cởi áo bông nhét vô bị rồi vào nhăn nhó xin điểm, thầy thấy trò mồ hôi nhễ nhại thương tình nâng lên điểm 3.

Nguyễn Ngọc Tiến

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/ky-uc-thoi-bao-cap-ky-2-chuyen-an-di-va-thi-cua-sinh-vien-563988.html

NGUYỄN NGỌC TIẾN : Ký ức thời bao cấp – Kỳ 1: Xếp loại A, B, C để mua hàng hóa


Ký ức thời bao cấp – Kỳ 1: Xếp loại A, B, C để mua hàng hóa

 
Nhân Triển lãm và trải nghiệm không gian văn hóa Hà Nội thời bao cấp diễn ra tại Indochina Plaza (Hà Nội), từ ngày 16 – 21.5, Thanh Niên khởi đăng loạt bài của nhà văn – nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến về Hà Nội trong khoảng thời gian cách đây hơn 30 – 40 năm.
Xếp hàng mua lương thực thời bao cấp - Ảnh: BTC triển lãm cung cấpXếp hàng mua lương thực thời bao cấp – Ảnh: BTC triển lãm cung cấp
Thời bao cấp, nhà nước chia ra 11 mức được hưởng chế độ cung cấp thực phẩm và nhu yếu phẩm.
Mua thực phẩm bằng tem phiếu
Cán bộ cao cấp hưởng tiêu chuẩn ĐB (đặc biệt), cấp bộ trưởng hưởng tương đương tiêu chuẩn A, cấp thứ trưởng tiêu chuẩn B; cấp trưởng của các “cục, vụ, viện”, các chuyên viên cấp cao, giám đốc… được tiêu chuẩn C. Còn cán bộ, công nhân viên chức hưởng tem phiếu E nhưng tùy theo mức lương sẽ được tiêu chuẩn tem phiếu E1 hay E2. Cán bộ độc thân là tiêu chuẩn D, công nhân làm trong môi trường độc hại thì hưởng tiêu chuẩn I hay II và cuối cùng nhân dân là tiêu chuẩn N.
Công nhân lao động nặng trước 1975 phiếu I, hưởng 1,5 kg thịt, 0,75 kg đường/tháng còn tiêu chuẩn nhân dân trước và sau năm 1975 vẫn là phiếu N với 0,3 kg thịt và 0,1 kg đường/tháng. Ngoài ra, trong phiếu thực phẩm còn có ô đậu phụ, nước mắm. Người ta phát tem phiếu theo quý, trên phiếu ghi rõ tháng, ai quên không mua là thôi.
Trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặng đường gian nan và ngoạn mục 1975 – 1989 (NXB Tri thức 2008), Giáo sư Đặng Phong đã kể ra tiêu chuẩn của cấp bộ trưởng hoặc tương đương là phiếu A, trước 1975 hưởng 6 kg thịt, 3 kg đường, sau năm 1975 hưởng 4,2 kg thịt, 2 kg đường/tháng. Cán bộ trung cấp phiếu C trước 1975 hưởng 1,5 kg thịt, 1 kg đường/tháng, sau 1975 hưởng 1 kg thịt, 0,8 kg đường/tháng… Về lương thực, tiêu chuẩn A, B hay C là 21 kg/tháng, cao hơn cán bộ bình thường nhưng thấp hơn tiêu chuẩn công nhân độc hại. Còn vải, ngoài tiêu chuẩn 5 m/năm thì cán bộ tiêu chuẩn A có sổ giao tế có thể tự do mua thêm các loại vải khác mà không cần phiếu.
Cửa hàng phục vụ cán bộ cao cấp
Để phục vụ cán bộ tiêu chuẩn A, B, Bộ Nội thương cho mở các cửa hàng riêng. Ở phố Ngô Quyền (Q.Hoàn Kiếm) là cửa hàng chuyên bán gạo. Tuy tiêu chuẩn không nhiều hơn so với cán bộ bình thường nhưng tiêu chuẩn A, B không phải ăn độn, chất lượng gạo ngon hơn. Ngoài bán cho cán bộ tiêu chuẩn A, B, cửa hàng Ngô Quyền còn bán cho gia đình các vị, tất nhiên vẫn phải ăn độn như quy định nhưng không bao giờ có gạo mốc, hôi và đen như các cửa hàng lương thực bán cho nhân dân.
Cửa hàng 17 phố Tông Đản thì chuyên bán thực phẩm và rau quả, nói chung thịt cá bao giờ cũng tươi ngon còn rau quả không bao giờ có rau héo. Đúng ra cửa hàng này chỉ dành riêng cho cán bộ cấp cao, tuy nhiên nếu có quan hệ thì gia đình họ vẫn có thể mua thực phẩm ở đây, tiêu chuẩn thì theo quy định nhưng mua ở đây không phải xếp hàng, không phải ăn thịt ướp lạnh, không phải chịu cảnh cửa hàng có gì mua nấy. Và nói chung nhân viên bán hàng này rất biết họ đang phục vụ ai nên nhã nhặn, lịch sự không vênh váo như mấy bà bán tại các cửa hàng dành cho nhân dân.
Cán bộ tiêu chuẩn A và B còn được cấp sổ mua hàng ở cửa hàng giao tế (nay là Intimex, phố Lê Thái Tổ, Q.Hoàn Kiếm). Tiêu chuẩn của mỗi sổ giao tế được mua mấy cây thuốc lá trong một tháng, đường, xà phòng bán theo tiêu chuẩn nhưng bánh, kẹo, bơ, vải, pin… mua tự do. Đó là những mặt hàng rất hiếm, có mặt hàng không có ngoài thị trường nên mức chênh lệch giá rất lớn. Bạn tôi là con trai ông Nguyễn Tạo, trước năm 1975, ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, sau đó làm Phó ban Nông nghiệp Trung ương, nên ông có tiêu chuẩn giao tế. Thi thoảng tôi theo bạn vào giao tế, cái gì cũng lạ vì nhiều thứ ngoài thị trường không có ví dụ như sô cô la hay sâm bột Triều Tiên. Còn cán bộ tiêu chuẩn C cũng có cửa hàng thực phẩm riêng. Q.Hai Bà Trưng có cửa hàng Vân Hồ, Q.Ba Đình có cửa hàng Đặng Dung, Q.Hoàn Kiếm có cửa hàng ở số 1 phố Nhà Thờ.
Sự ra đời các cửa hàng đặc biệt dành riêng cho cán bộ cao cấp bắt đầu từ sau tiếp quản thủ đô 10.10.1954, ban đầu nó hình thành do đề xuất của ngành công an vì muốn bảo vệ cán bộ, tránh bị đầu độc, nhưng năm 1965, giá cả nhiều mặt hàng ngoài thị trường tăng trong khi cửa hàng lại không thể tăng theo và lương cán bộ thì vẫn giữ nguyên. Để đảm bảo đời sống cho cán bộ cao cấp nên đã sinh ra chế độ như vậy. Nhưng đâu chỉ có cán bộ cao cấp mà còn rất đông cán bộ trung cấp nên mới sinh ra tiêu chuẩn C.
Trước tiêu chuẩn của các cán bộ “đi xe Volga ăn gà Tông Đản”, dư luận xã hội cũng ì xèo. Nhưng xóa bỏ hệ thống này lại đụng chạm quyền lợi của những người mà tiếng nói của họ có trọng lượng trong cơ chế.
Năm 1982, có một người đã dám làm việc này là Bộ trưởng Bộ Nội thương – Giáo sư Trần Phương. Giáo sư Đặng Phong đã thuật lại chuyện này trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam: Chặng đường gian nan ngoạn mục 1975 -1989 là ông Trần Phương đã trình bày với Tổng bí thư Lê Duẩn và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ kèm theo đó là một xấp hóa đơn phu nhân một cán bộ mua tới 180 m vải tuýt si len ở cửa hàng giao tế.
Dù được chấp thuận nhưng khi đưa ra họp bàn thì chỉ xóa bỏ 33 mặt hàng trong tổng số 42 mặt hàng cung cấp.

Nguyễn Ngọc Tiến

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/ky-uc-thoi-bao-cap-ky-1-xep-loai-a-b-c-de-mua-hang-hoa-563562.html

ĐỨC TRIẾT : TÂM TÌNH VÍ, GIẶM, HÀNỘI , VIỆT NAM


21/05/2015 17:55 GMT+7

TTO – Lúc 20g ngày 22-5, tại không gian văn hóa Heritage (28 Trần Bình, Hà Nội) sẽ diễn ra chương trình Tâm tình ví, giặm.

Các “nghệ sĩ” CLB Unessco Di sản dân ca xứ Nghệ ở Hà Nội hát ví, giặm trên thuyền ở Hồ Tây – Ảnh: CLB

Các thành viên của CLB Unessco Di sản dân ca xứ Nghệ ở Hà Nội như nghệ sĩ dân gian Minh Hiền, Thanh Phong, Lan Anh, Vĩnh Nam, Bích Ngọc… sẽ tâm tình với khán giả Hà Nội về ví, giặm qua Mời trầu, mời rượu (giặm Đức Sơn), Đêm trăng phường vải (giao duyên phường Vải), Lời mẹ hát (làn điệu tứ Hoa), Nhắn bạn (làn điệu Ví trèo non, hò khoan đi đường), Thập ân phụ mẫu (xẩm thương, lời cổ), Hương sắc sông Lam (làn điệu Hò trên sông), Thử lòng chung thủy (hát giao duyên), Giận mà thương (làn điệu giận thương), Hầu đồng: Quan Hoàng Mười.

Không chỉ thế, chương trình còn mang đến những ca khúc dân ca xứ Nghệ.

ĐỨC TRIẾT