HUỲNH THỊ MỸ NHÀN : Lịch sử người Hoa ở Sài Gòn


Lịch sử người Hoa ở Sài Gòn

“Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”

Nếu tôi dám liều lĩnh cho rằng mình biết được chút ít về Sàigòn, từ những tên xóm, tên cầu, tên đường, nhà thờ, nhà chùa, trường học, chuyện nhân vật này, gia đình nọ…, chuyện ngày xưa chút chút, chuyện ngày nay chút chút (ngày nay là khoảng vài năm trước 1970), đó cũng là nhờ báo chí và sau này Internet còn nhắc lại, cộng với những tài liệu hoặc vốn sống hiếm, quí do những tay bút từng trải như Vương Hồng Sển, Hoàng Hải Thủy… ghi lại.

Nhưng kiến thức của tôi về Chợ Lớn thì thật sơ sài, cực kỳ sơ sài.

Mặc dù, ông thầy thuốc Bắc đã chữa trị cho mẹ tôi trong vòng gần 10 năm trời là ông Miên Ký, có cửa tiệm thuốc Bắc tại Chợ Lớn, mà tôi đã đến vài lần, mỗi lần đều được “hữu nghị” vài quả táo tầu cực ngon. Mặc dù, tôi có bạn gốc Hoa học chung, nhà trong Chợ Lớn, mời tôi đến đôi lần. Mặc dù, tôi có được đi ăn cưới tại nhà hàng Đồng Khánh vài lần, và đã phải chạy xe Honda băng ngang Chợ Lớn để chở ba tôi đến Xóm Củi lấy xe đò đi Long An, nhiều lần.

Bài này là một cố gắng để đền bù vào kiếm khuyết đó, mà cũng là một hoài niệm về một nơi chốn mà nay càng thấy yêu thương, và luyến tiếc.

“Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” … (Bà Huyện Thanh Quan)

oOo

ĐẠI LỘ GẦN CHỢ LỚN

CHỢ LỚN – KÊNH BONNARND

Đúng là luôn luôn trong óc tôi thưở ấu thơ, Chợ Lớn là một phố khách. Người Tầu sống trong đó là những người khách, nhiều người Việt thích gọi họ là “khách trú” hơn “các chú”. Gần sát nách đó, nhưng vẫn là khách. Một thế giới hoàn toàn khác biệt. Những bảng hiệu người Việt đọc không hiểu, cách ăn mặc (áo xẩm, áo xường xám …) khác biệt. Ngôn ngữ khác biệt, nếu họ muốn nói tiếng Tầu với nhau, người Việt không hiểu, nhưng người Việt nói gì, phần đông họ hiểu.

Những ngõ ngách trong Sàigòn thân quen với tôi bao nhiêu, thì trong Chợ Lớn lại kỳ bí, đáng ngại bấy nhiêu. Có lần đi xe Honda tìm nhà trong vài xóm tại Chợ Lớn, tôi có cảm giác có hàng chục con mắt theo dõi mình ngay từ đầu xóm, dù rằng phần đông đều là những ánh mắt hiền lành, nhưng cảm giác mình là kẻ xa lạ rất rõ rệt. Cảm giác thực của sư “tha hương trên chính quê hương”.

Ngay cả cách thờ phượng cũng khác người Việt. Những bức tượng Quan Công, Châu Xương, Quan Bình đặt ở đâu là tờ giấy khai nguyên quán của chủ nhà gần như trúng trên 90%. Người Việt ít ai thờ Quan Công lắm, có thể nói là người Việt gốc thì hoàn toàn không .

Kiến trúc nhà cửa tại Chợ Lớn giống những Phố Tầu trên khắp thế giới nhiều hơn là giống kiến trúc người Việt. Nhất là từ sau khi người Pháp đặt sự cai trị tại Miền Nam, thì Sài Gòn có nhiều khu nhà kiến trúc theo kiểu thực dân Pháp, dần dần được Việt Nam hóa, phân biệt rạch ròi hai lối ở khác hẳn nhau.

oOo

“Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá”. Giới anh chị Chợ Lớn cũng có trùm riêng cai trị, tên là Mã Thầu Dậu.

oOo

Bây giờ nhớ lại, Chợ Lớn lúc đó là một Chinatown (Phố Tầu) khổng lồ, so với những Chinatown trên thế giới mà tôi đã được ghé thăm như Mã Lai, Singapore, Anh, Pháp, Úc, Mỹ…

Chợ Lớn đã có những trường Tầu, mà vài người bạn Tầu hồi nhỏ trong xóm tôi, phải về đó “du học”. Trường nổi tiếng nhất là trường Bác Ái.

Với nhiều tiệm ăn Trung Hoa, Chợ Lớn đương nhiên là nơi ăn uống rất ngon, và với tài năng buôn bán của cộng đồng Hoa Kiều, cộng với hệ thống mạng lưới kinh doanh chằng chịt trong nước, lẫn Đông Nam Á. Chợ Lớn đương nhiên có những chi phối nhất định trên nền kinh tế cả nước Việt Nam.

Trên lãnh vực chính trị, Chợ Lớn hồi đó, nghiễm nhiên được đa số người dân Việt Nam, hiểu ngầm là có những quan hệ sâu xa với Hồng Kông, Đài Loan và Trung Hoa Lục Địa.

oOo

Tại trung tâm Chợ Lớn có nhà thờ Cha Tam, là nơi mà tổng thống Ngô Đình Diệm và em là cố vấn Ngô Đình Nhu đã đến cầu nguyện vào sáng ngày 2/11/1963, trước khi “được” lực lượng quân nhân đảo chánh cho lính “đón” đi, để rồi bị hai sỹ quan tên Nhung và Nghĩa trói quặt tay, và sau đó bị ám sát bằng dao găm và súng trong một chiếc xe thiết giáp, trên đường áp giải hai ông này về Tổng Tham Mưu.

Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu đã rời khỏi Dinh Độc Lập vào tối ngày hôm trước, và tạm lánh tại nhà một người Việt gốc Hoa, tên là Mã Tuyên. Mã Tuyên là tổng bang trưởng tại Chợ Lớn. Lý do chọn nhà tổng bang trưởng Mã Tuyên để đến, theo lời chứng của ông Cao Xuân Vỹ : “nhà ông Mã Tuyên ở trong Chợ Lớn, phố xá chằng chịt rất khó tìm. Hơn nữa người Tàu rất kín đáo và trung tín”

Cho đến nay, không có nguồn tin nào cho biết ai là người đã thông báo chỗ tạm lánh của hai anh em họ Ngô, và có phải là điều ngẫu nhiên, mà quân đội đảo chính đã chờ khi họ đi lễ nhà thờ mới tới “đón” hay không ? Riêng về ông Mã Tuyên, lúc đó, khoảng trên 50, người Triều Châu, làm tổng bang trưởng 10 bang, sau đó 5 ngày cũng bị bắt, bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng giam trong 3 năm, tài sản bị tịch thu, đem bán đấu giá, nhưng được người đồng hương Việt gốc Hoa thu mua trả lại.

Lý do “phố xá chằng chịt” đã không thỏa để cứu mạng hai ông, nhưng lý do “người Tàu rất kín đáo” lại có vẻ đúng, vì ông Mã Tuyên không khai gì thêm, và không than van gì, mặc dầu sau ngày 30/04/1975, nhà nước Hà Nội lại bắt ông ngay sau khi họ vừa chiếm được miền Nam. Lần đầu là 4 tháng rồi thả và bắt lại sau một thời gian ngắn. Lần bắt sau nầy, ông Mã Tuyên bị giam tới 4 năm tù. Riêng lý do “người Tàu trung tín” thì lại mờ mịt, vì có nguồn tin cho rằng tư gia của ông Mã Tuyên là một hang ổ nằm vùng, là Trung Tâm Liên Lạc xưa nay của ông Nhu với MTGPMN (Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam)… Thật khó mà biết phải trung tín với ai, khi ông Mã Tuyên có tới mấy phe nhóm cần trung tín.

oOo

Không rõ 10 bang người Hoa sinh sống tại Chợ Lớn vào giai đoạn ông Mã Tuyên làm tổng bang trưởng, là gì, nhưng 5 bang chính gọi là “ngũ bang” gồm Quảng Đông, Tiều (Triều Châu), Hẹ, Hải Nam, và Phước Kiến. Nhiều người Hoa (Tầu) đến từ những tỉnh miền duyên hải phía Nam Trung Hoa (từ sông Dương Tử trở xuống) định cư tại Chợ Lớn. Họ họp nhau, sống chung với nhiều phân khu từng bang hội, tùy theo gốc tích cố hương, vừa vui sống mà vừa dễ sống. Trong giai đoạn phát triển Chợ Lớn, dưới thời Pháp thuộc, họ được người Pháp cho nhiều dễ dãi, thoải mái, điển hình là việc xây dựng nhà cửa, phố xá, quy hoạch những khu dân cư, cho phù hợp với lối sống truyền thống của họ, miễn là hòa nhập vào môi trường địa lý, sinh hoạt mới .

Do đó, những tên hẻm được đặt với những từ cuối như Lý, Hạng, Phường đã được thấy, như hẻm Tuệ Huê Lý (làng Tuệ Huê) ở bên hông hội quán Tuệ Thành của bang Quảng Đông, còn sót lại cho đến năm nay (2012), sau nhiều biến cố đổi thay “thương hải biến vi tang điền”. Lý như trong “lý trưởng” có nghĩa tương đương với làng, hoặc thôn. Đó là một quần thể tập hợp khoảng vài chục nóc nhà, họp thành một đơn vị cư trú.

Hạng như trong câu thơ “Từ Ô Y Hạng rủ rê sang” của nhà thơ Quách Tấn, có thể dịch là xóm, qui tụ khoảng mươi nóc nhà cận kề nhau. Thường ra, một ông đại gia nào đó, mua một khoảng đất lớn sát một con lộ lớn. Trên miếng đất đó ông ta cho xây ngoài mặt tiền những cửa hàng xoay cửa chính ra ngoài lộ. Giữa những cửa hàng đó, có một con hẻm dẫn vào một khu xóm nhỏ, được lập ở phần sau khu đất, khoảng 7-8 căn nhà, cho họ hàng, con cháu của chủ nhân ở. Đầu con hẻm thường đắp chữ nổi, hay có bảng gỗ nói lên nơi chốn cố hương của chủ nhân, chẳng hạn “Thái Hồ Hạng”, “Xóm Thái Hồ”  vì quê cũ của ông ta ở Hàng Châu.

Còn Phường lại là nơi qui tụ những người cùng chung một nghề với nhau. Thường là một hẻm cụt, gồm vài chục căn nhà mà những người làm cùng nghề, hoặc chung một ông chủ, chung tiền ra mua, hoặc được chủ cho ở. Thí dụ như hẻm “Hào Sỹ Phường” là nơi có 34 căn nhà của những công nhân làm nghề chế tạo xà phòng (xà bông), chà gạo cho một ông tên là Hào Sỹ.

oOo

Phố Tầu tại Nhật không nằm ngay thủ đô Edo (Tokyo), mà  nằm tại thị trấn cảng Yokohama. Phố Tàu tại Pháp nằm tại quận số 13, bao bởi 3 con đường rue de Tolbiac, avenue de Choisy và boulevard Masséna. Cả hai khu Phố Tầu này không lớn, không được nằm ở khu trung tâm thành phố, nhưng cũng như hầu hết mọi khu Phố Tầu nào khác trên thế giới, đều phải có một cái đền, mà nhiều người gọi là chùa Tầu. Thiếu đền Tầu, chùa Tầu thì không thể gọi là Phố Tầu.

Đương nhiên là Phố Tầu lớn hạng nhất trên thế giới như tầm cỡ Chợ Lớn phải có một cái đền, đó là Đình Minh Hương. Chữ “hương” mới đầu viết Hán tự theo nghĩa là “hương hỏa” tức “cúng kiếng”, sau viết theo nghĩa “làng” từ năm 1827.

Đền này với cái tên không, cũng đủ cho thấy sự khác biệt với các đền Phố Tầu khác. Đình chứ không phải là đền. Đình trong văn hóa Việt Nam là đơn vị quan trọng dính liền với làng. Đình Minh Hương được dựng cho làng Minh Hương, chứ không phải cho một phố buôn bán, như những Phố Tầu mà ta thấy tại khắp nơi trên thế giới.

Người Tầu qua Chợ Lớn (Việt Nam) sinh sống không phải vì sinh kế như tại Úc, hoặc Mỹ (phong trào đổ xô kiếm vàng), hay vì lý do thương mại như tại Nhật… Họ qua vì lý do chính trị (như họ đến Canada, Vancouver sau này, khi Hương Cảng phải trả lại cho Trung Hoa Lục Địa). Chợ Lớn đã được xây dựng bởi những con người tỵ nạn chính trị. Minh Hương có nghĩa là những người dân Tầu đi theo những di thần – di tướng, dưới triều Minh (1368-1644), vì không chấp nhận nhà Thanh chiếm nước họ (1662), nên đã phải bỏ qua Việt Nam, sau cái chết của vua Vĩnh Lịch Chu Do Lang.

Qua tới Việt Nam, bất kể nguồn gốc cố hương, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu, Hẹ, hay Phước Kiến…, nói phương ngữ khác nhau, các di dân nhà Minh cũng quây quần sống chung với nhau, tổ chức thành làng xã, theo kiểu Việt Nam, và  cũng xây cái đình như người Việt Nam. Trong đình, thay vì họ thờ Phật, Thánh hay Quan Công như mọi Đền Tầu nơi khác, mà thờ Thành Hoàng, các bậc tiên hiền, hậu chủ, và các danh nhân gốc Minh Hương, như vị võ tướng Trần Thượng Xuyên, một trong những di tướng nhà Minh, sau thành doanh nhân, khai phá Cù Lao Phố. Hay một ông tướng học trò của Võ Trường Toản, mà ông nội đã có mặt trong nhóm 3000 người tỵ nạn tại Đàng Trong, tên là Trịnh Hoài Đức (1765-1825), người đã có công lớn phò tá vua Gia Long, Trịnh Hoài Đức lại là tác giả những bộ sách địa dư chí nói về vùng đất Gia Định (sáng tác  bộ Gia Định Thành Thông Chí, đồng sáng tác Gia Định Tam Gia Thi). Nhưng đặc biệt nhất là Đình Minh Hương có thờ một ông tướng Việt Nam, đó là Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh.

oOo

Trong tuần đầu năm 2012, nhân một buổi ăn giỗ đầu thân phụ một người bạn, tôi và một anh bạn thân lan man trà đàm, sao mà lại nhắc đến nguồn gốc của sự thành lập Chợ Lớn.

Anh bạn tôi, cho là Chợ Lớn do người Pháp thành lập. Riêng tôi, tôi lại cho là Chợ Lớn do các di thần, di dân nhà Minh thành lập, và chính xác nhất là nhóm đi theo ông Trần Thượng Xuyên là những cư dân đầu tiên đã định cư một cách có tổ chức tại đó, và có thể chính là do nhu cầu thương mãi hay di dân từ biển qua ngả sông Sài Gòn, đi vào Đồng Nai  mà ra. Cộng thêm nhu cầu liên lạc giữa hai nhóm Minh Hương : Nhóm ông Trần Thượng Xuyên và nhóm đi cùng ông Dương Ngạn Địch về Mỹ Tho.

Tôi có hứa là sẽ tìm hiểu lại, và đưa ra những bằng chứng, theo thiển ý, đủ ủng hộ cho giả thuyết này. Việc này buộc phải lùi lại quá khứ tới trên 320 năm, và xa hơn nữa.

oOo

Sách Đại Nam thực lục Tiền biên chép :

Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến cùng Cao Lôi Liêm tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình, đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (Thuận An) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.

Bấy giờ bàn bạc rằng phong tục, tiếng nói của họ đều khác nhau, khó bề sai đúng, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt. Nay đất Đông phố nước Chân Lạp phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý, chi bằng lấy sức của họ đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều. Chúa (Nguyễn Phúc Tần) theo lời bàn, bèn sai đặt yến ủy lạo khen thưởng, trao cho quan chức đến ở đất Đông Phố.

oOo

Vào năm đó (1679), nhà Nguyễn có một trại lính đóng tại vùng đất Gia Định, gọi là đồn dinh. Lý do tại sao và trong hoàn cảnh nào có cái đồn dinh đó?

Theo một số sử gia người Pháp và được một số tác giả VN trích lại, vùng đất này, vào khoảng thế kỷ thứ 5 đã có người ở, và thuộc lãnh thổ của hai tiểu quốc nằm sát nhau tên là Thù Nai và Ba Lị. Nhưng không lâu sau, hai nước này lại bị vương quốc Phù Nam (Funam) xâm chiếm. Đến khoảng thế kỷ thứ 6, đến phiên Phù Nam lại bị một vương quốc mới tên là Chân Lạp (Tchen-la) tiêu diệt.

Theo họ (G. Maspéro, M. Pelliot), những sách biên niên sử thời nhà Đường bên Tầu, có ghi chép vào sau thời Chen-long (705-706), Chân Lạp gồm có hai vùng, một vùng trũng ủng là Thủy Chân Lạp (Tchen-la d’eau=Vyadhapura=Ankor Bórei), và một vùng khô là Lục Chân Lạp (Tchen-la de terre=Cambhupura=Sambór).

Miền đất sau này có tên Gia Định thuộc về Thủy Chân Lạp, người Việt gọi là Đàng Thổ. Vào thế kỷ thứ 14, nước Chân Lạp bị nước Mã Lai xâm lăng, chịu thần phục nước nầy. Sau đó lại bị Xiêm La thống trị. Chiến tranh xẩy ra khi Chân Lạp vùng dậy làm lãnh thổ bất an, nhất là vùng biên giới Xiêm – Chân Lạp.  Nhiều người dân sinh sống vùng Lục Chân Lạp như Mã, Chàm, Việt, Chân Lạp, cùng lính đào ngũ chạy loạn, một số chạy xuống vùng trũng Thủy Chân Lạp để được an toàn. Vùng này trở nên một vùng đất “đa văn hóa”, dân tương đối mạnh ai nấy sống trong “hòa nhi bất đồng”.

Trong lúc đó, thế lực trung ương tại triều đình Chân Lạp không đủ mạnh, lại thêm hoàng gia chia rẽ liên miên giữa các phe thân Xiêm, Lào hay Việt.

Năm sáu năm trước khi vụ Dương Ngạn Địch xin tỵ nạn, tức1673-1674, hai phe quyền lực chính trị đã nổ ra cuộc tranh chấp quyền lực: một bên là hai anh em Nặc Đài và Nặc Thu (Ang Ji và Ang Sur), bên kia là hai bác cháu Nặc Tân và Nặc Nộn (Ang Tan và Ang Nan). Phe Nặc Tân – Nặc Nộn (sử Việt viết là Nặc Ông Chân, Nặc Ông Nộn) cầu cứu chúa Hiền (Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần, chữ Hán: 阮福瀕, 1620 – 1687).

Triều đình Đàng Trong cho 3000 quân qua giúp Nặc Ông Nộn để bảo vệ vùng Đồng Nai, đánh thắng quân Miên tại Mỗi Xuy (Mô Xoài), bắt Nặc Ông Chân về giam tại Quảng Bình, sau đó tha ra. Đến năm 1674, Nặc Ông Chân chết. Năm 1677, Nặc (Ông) Đài thua chạy, bị đồng bọn giết.  Chúa Hiền đề nghị một giải pháp ngoại giao có ảnh hưởng tối quan trọng cho sau này. Ông phong cho Nặc (Ông) Thu làm chính vương, đóng đô tại Udong (Long Úc, Nam Vang), và Nặc Ông Nộn đóng đô tại Prei Nokor (Sài Côn phiên âm tức Sài Gòn sau này).

oOo

Cho đến đây thì cái nút kết “lý do quân đội nhà Nguyễn có một đồn dinh” tại cái phần đất gọi là Đông Phố đã bắt đầu được nới lỏng. Nhưng vẫn chưa mở được.  Vì cái nút thật sự nằm ẩn trong cái nút chính là “tại sao người Chân Lạp lại nhờ người Việt vào giải quyết chuyện của nước họ ?”

Muốn mở, một cách khách quan, ta lại phải lần tìm qua tới xứ Chân Lạp (Khmers-Kampouchea-Krom), hiện nay xem người ta nghĩ thế nào.

oOo

Trang báo mạng “The Specific Expansion of Viet Nam” (http://khmerkrom.org/node/11) cho biết, lý do người Việt có được Miền Nam, chính là do cái bẫy “mỹ nhân kế” tương tự như thời vua Chàm Chế Mân vào năm 1307. Họ cho rằng vào năm 1620, Chúa Nguyen Hi Tong (tức Chúa Sải hay Sải Vương Nguyễn Phúc Nguyên,1613-1635) đã “đưa” cô con gái “quí hiếm, lạ” (họ dùng chữ exotic)  là Công Chúa Ngọc Vạn cho  vua Chân Lạp Chey Chetha II  (1618-1628) làm vợ, nhằm đổi lại vài “đặc quyền, đặc lợi, đặc ân” sau :

Vào năm 1623, Chúa Nguyễn xin triều đình Chân Lạp tại Udong (Nam Vang) cho phép người dân Việt buôn bán tại vùng Morea (tức Bà Rịa) và Prei Nokor (tức Sài Gòn), và được mở trạm thâu thuế.

Sau đó, triều đình Huế, lại khôn khéo dùng mẹo đưa quân lính vào, dưới chiêu bài tình nguyện giúp cơ quan triều đình Chân Lạp giữ an ninh cho khu vực.  Một vài tài liệu sử (không đưa rõ) của người Khờ Me (Khmer tức bao gồm Chân Lạp …) cho biết, lúc đầu triều đình Huế chỉ yêu cầu sử dụng một vài khu vực tại Prei Nokor (Sài Gòn) tập luyện quân sự cho cuộc chiến chống lại người Trung Hoa, và sẽ trả lại cho triều đình Chân Lạp trong vòng 5 năm. Nhưng vào năm 1628, khi vua Chey Chetha II từ trần, những vùng đất Prei Nokor, Morea, Do Nai, và Toul Ta Mauk đã có nhiều quân dân Việt đến ở.

Sau đó dần dần thuộc quyền kiểm soát của Chúa Nguyễn : Kampong Srakartrey (Biên Hòa) vào năm 1651; Prah Suakea hay Morea (Bà Rịa) vào năm 1651; Kampong Kou (Long An) vào năm 1669; Tuol Ta Mauk vào năm 1696; và  Kampong Krabey Prei Nokor (Sài Gòn) vào năm 1696.

oOo

Một lối nhìn khác, theo sử Việt Nam, vấn đề phức tạp hơn, và vua Chey Chetha II muốn cầu thân với Chúa Sải là vì muốn nhờ người Việt Nam ủng hộ để đối đầu với quân Xiêm (tức Thái Lan sau này). Nhờ sự liên minh với quân đội Việt Nam mà quân Chân Lạp đã đánh thắng quân Xiêm hai trận, vào hai năm 1621 và 1623.

Sau đó vua Chân Lạp cho dời đô từ Lovet về Oudong (tức Nam Vang ngày nay).

Năm 1622, quân Xiêm cho 2 đạo quân đánh vào Oudong đều thất bại. Triều đình Xiêm Ayutthaya mang chiến thuyền đánh, nhưng vẫn thất bại. Đó là do công của sự liên minh với Chúa Nguyễn.

Vì muốn tỏ lòng ghi ơn, và muốn củng cố thêm tình liên minh, vua Chey Chetha II cũng muốn nói lên lòng yêu mến công chúa Ngọc Vạn, và cảm ơn Chúa Nguyễn, nên vua Chân Lạp (hay vua Miên) chấp thuận cho người Việt khẩn hoang vùng Đồng Nai, và Mô Xoài …

oOo

Tóm lại, vào mùa xuân năm 1679, tức là năm mà các tướng quân thuộc lực lượng “Kháng Thanh Phục Minh” của Trịnh Thành Công (Hán tự Giản thể:郑成功, Phồn thể: 鄭成功, bính âm: Zhèng Chénggōng) trước đây, từ Trung Hoa mang  3000 di thần, di dân nhà Minh di tản trên 50-60 chiến thuyền tới các cửa tại Thuận An,  Đà Nẵng xin tị nạn, thì ông phó vương Miên trấn thủ vùng Thủy Chân Lạp là Nặc Ông Nộn, đang có kinh thành tại Prei Nokor (Sài Gòn), lại là con ruột của công chúa Ngọc Vạn, và là anh em họ với Chúa Hiền (cháu gọi Sải Vương là ông nội).

Chúa Hiền liền viết thư cho Nặc Ông Nộn, yêu cầu Nặc Ông Nộn chia cấp đất cho 3000 di dân Minh Hương làm ăn sinh sống quanh vùng Prei Nokor, nhân thể trở thành lực lượng bảo vệ cho triều đình phó vương Chân Lạp lai Việt này. Phó vương Nặc Ông Nộn đồng ý.

Có lẽ, Chúa Hiền lúc đó đang ngần ngại về việc phải đưa quân đi xa mang tiếng. “Ngặt cái, nếu không đỡ đần người anh em họ, thì chắc Nặc Ông Nộn sẽ khó mà trụ lâu. Nay nhân gặp chuyện khó xử, chuyển xui thành hên, phân nhóm 3000 người tỵ nạn ra làm hai, cho họ tới khai khẩn đất, tự sống, không tốn tiền ai cả”. Hơn nữa, với võ công đã có, hai nhóm người này dư sức tự bảo vệ, và bảo vệ cho cả triều đình phó vương Nặc Ông Nộn.

Nhưng, có lẽ Chúa Hiền cũng ngại, nếu cho họp hết 3000 người vào một nơi, họ có thể tạo thành thế lực lớn, gây nguy hiểm cho phó vương. Do đó, giải pháp tốt đẹp nhất là phân ra làm hai nhóm, cho người hướng dẫn đưa họ tới hai miền đã có người Việt sinh sống, hơi xa khu triều đình tại Prei Nokor, tránh được nguy cơ chính trị, nhưng lại là hai cửa chắn tầm mức chiến lược quân sự quan trọng để bảo vệ Đàng Thổ. Còn những  toan tính “xâm thực” dần dần, có thể có hay không, trong lòng Chúa Hiền, và các đại quan người Việt…, lại là một chuyện khác, thật khó có bằng cớ để luận bàn những “toan tính lịch sử”.

Như vậy, coi như đã sáng tỏ việc tại sao, viên cựu tổng binh nhà Minh ở thành Long Môn, Quảng Tây, Dương Ngạn Địch (楊彥迪,-1688), đã được phép triều đình Huế đem thuyền chở người đến vùng đất Peam Mesar (Mỹ Tho) tiến vào cửa Lồi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, qua Xoài Rạp để khai khẩn, sinh sống. và viên cựu tổng binh ba châu Cao, Lôi, Liêm, Quảng Đông, Trần Thượng Xuyên ((陳上川, 1655–1720))  đem thuyền chở người vào cửa Cần Giờ, đến ở vùng Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa) định cư tại Bàn Lân.

Ba ngàn người Minh Hương, coi như những người “Việt vừa nhập tịch”, đã được triều đình Chân Lạp, đại diện là một vị Phó Vương, đầu tiên chính thức cấp đất, làm chủ tại Miền Nam.

Khác với đoàn thuyền của cựu tổng binh Zhèng Chénggong (hay Yang Andi  hay Dương Ngạn Địch) đi tới một nơi không có đồn lũy của nhà Nguyễn được ghi rõ lại trong sử (dù rằng người Việt đã tới sinh sống tại đây từ trước, do đó triều đình Huế mới chỉ định chỗ đến). Đoàn thuyền của cựu tổng binh Chen Shang Chuan (Trần Thượng Xuyên) đi qua cửa Cần Giờ, vào đến Bến Nghé, không thể nào không tiếp xúc với người Việt đang sinh sống ở đó, nơi có hai cơ sở hành chánh là hai trạm thu thuế đã được Chúa Sải lập từ năm 1623, một ở  Bến Nghé (Quận I, hồi đó có tên là Kas Krabei, sau là Bến Nghé), và một ở Phiên Trấn (Quận 5, hồi đó có tên là Prei Nokor, sau là Sài Gòn rồi Chợ Lớn). Người Việt sống tại đây được một đồn dinh bảo vệ, được lập cùng năm, tên là đồn binh Tân Mỹ, gần chợ Thái Bình ngày nay. (Có thể ví bậy như trại lính Mỹ tại Okinawa chăng ?). Khu vực giữa Kas Krobei và Prei Nokor là nơi các thương nhân Việt Nam sinh sống, khi họ đi làm ăn với các nước Xiêm, Chân Lạp…

Mười chín năm sau đó, tức vào năm 1698, ngay tại vùng Phiên Trấn này, đã thấy hình thành làng Minh Hương đầu tiên tại Việt Nam.

oOo

Đến đây, ta có thể đặt ra câu hỏi : “Tại sao làng Minh Hương đầu tiên không được thành lập tại Cù Lao Phố (Biên Hòa), một nơi cưc kỳ phồn hoa đô hội, hay vùng Mỹ Tho là nơi dân Minh Hương đang canh tác, và phát triển nông công ngư nghiệp ?”.

Câu trả lời có thể,  đây là đầu cầu liên lạc chính thức giữa những người Minh Hương và người Việt. Đó là nơi mà người Minh Hương đã gặp quan Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) vào Nam lập phủ Gia Định (1698), xác nhận quyền sở hữu chính trị của người Việt, để xin thành lập làng Minh Hương ngay trên vùng lãnh thổ mới khai sinh.

Những nhân vật đại diện người Minh Hương tại đây phải là những người cự phách, được sự tin cẩn của mọi bang hội người Minh Hương, không những từ trong hai nhóm của hai cựu tổng binh, mà còn từ nhóm ông Mạc Cửu (鄚玖,hay Mạc Kính Cửu (鄚敬玖): 1655 – 1735), đã đến Hà Tiên từ năm 1671 nữa.  Những người dân tại đây khá giả, phong lưu, như câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng

Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.

oOo

Theo thiển ý, khu vực chung quanh Làng Minh Hương (vùng Sài Gòn, tức Prei Nokor) đó đã là cột mốc, cái nền đầu tiên để tạo dựng ra Chợ Lớn sau này. Lý do chính trị, hành chánh đã được đưa ra. Nhưng lý do kinh tế coi mòi cũng quan trọng không kém.

oOo

Đó là đất Phiên Trấn (tạm gọi khu đất nằm trong vùng đất tên Prei Nokor, dân Việt gọi là Sài Gòn, rồi đổi tên thành Chợ Lớn) nằm gần ngay một con rạch rất thuận tiện (không rõ tên gọi lúc đó, nhưng vào thời vua Gia Long trị vì, đã có tên là rạch An Thông, sau đó được vét lại rồi mang tên Kinh Tàu Hũ, Pháp gọi là Arroyo Chinois). Diện tích vùng đất, vào lúc phát triển sau này, để trở thành khu phố chợ cho người Hoa vào khoảng hơn 1 cây số vuông.

Mới đầu, người ta đặt tên hành chánh vùng đất đó là Phiên Trấn, sau người Tầu gọi là, Tài Ngọn (Đề Ngạn), Thầy Ngọn, Xi Coón, Sài Côn, Tây Cống (nhưng người Việt luôn gọi là Sài Gòn), để phân biệt với khu người Việt sinh sống là Bến Nghé.

oOo

Có rất nhiều xác suất, chính nhóm của ông Trần Thượng Xuyên đã nhìn ra địa lợi đầu tiên của vùng đất mang tên Chợ Lớn sau này (sau khi tên Sài-Gòn được đem đặt  cho Bến Nghé), tương tự như lý do tại Biên Hòa, nhóm này đã chuyển từ Bàn Lân lên Cù Lao Phố, để lập nghiệp.

Lý do chính là Bàn Lân là nơi rừng rú, lúc đó còn nhiều hươu nai ở, người Việt sống tại đây săn bắn với làm nông, rẫy là chính (Lộc Dã chính là chữ Hán để dịch nghĩa cánh đồng có nhiều nai,  Đồng Nai tiếng Việt, người Tầu đọc ngọng thành Nông Nại). Ở chung với người Việt một thời gian, những người Tầu gốc Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề công nghiệp, và nhất là mua bán, phát hiện ra một nơi mà người Việt gọi là phố cù lao, sau này họ gọi là Cù Lao Phố.

Đó là một bãi cát do sông Hương Phước (một đoạn sông Đồng Nai) bồi lên. Chiều dài khoảng 3 cây số, chiều ngang khoảng 2 cây số.

Tuy Cù Lao Phố khá xa biển, nhưng nhờ đường sông sâu, rộng, nước chẩy hiền hòa có thể đi ra biển qua nẻo Cần Giờ, hoặc bắt đường bộ sang Miên, hay lên miền Bắc khai thác lâm sản. Không mấy lâu sau, đại đa số người Hoa dời ra sống trên Cù Lao Phố, làm ăn buôn bán phát đạt. Khu này mau chóng biến thành một trung tâm kinh tế đầu não cho cả vùng Đông Nam Bộ, lên đến Miên.

Nhưng Cù Lao Phố không thể thành một trung tâm hành chánh, hay kinh tế cho cả Miền Nam. Vị trí của nơi này phải là nơi giao điểm của những giao thương quốc nội, và quốc tế. Bến Nghé đã là nơi của Chúa Nguyễn giành cho người Việt, nhưng Phiên Trấn lại nhờ con rạch nhỏ (có thể sau này có tên là An Thông, rồi đào lớn thành Kinh Tàu Hủ, có người  gọi là Kênh Cổ Hủ, và cho là vì hình dạng như cổ cái hũ, to rồi thắt lại), mà có thể là nơi giao lưu đi khắp nơi, tầu từ Trung Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, Hòa Lan … ghé cảng Bến Nghé, xuống hàng hay nhận hàng tại đó. Rồi theo những đường sông rạch mà qua các tỉnh miền đông và miền tây.

Lý luận trên chỉ có lý khi lúc đó có một con rạch nối từ sông Sài Gòn (tức khu Bến Nghé) đến Prei Neikor, mà sau này được đào rộng ra thành con Kinh Tàu Hủ. Theo như tác giả Vương Hồng Sển, thì trong địa đồ của ông Trần Văn Học vẽ về tỉnh Gia Định (trước năm 1815) thì không thấy con rạch đó. Theo thiển ý, tác giả Lê Ngọc Trụ đã không sai khi cho rằng có một con lạch nhỏ, đúng như Trịnh Hoài Đức đã ghi lại trong bộ Gia Định Thông Chí. Nhưng có lẽ đến lúc ông Trần Văn Học vẽ địa đồ, nó đã gần như bị lấp, nên sau  đó vua Gia Long cho lệnh phải đào rộng ra thành con Kênh Tàu Hủ.

Đừng quên rằng hệ thống kinh rạch đã biến đổi rất nhiều với thời gian. Nhiều con rạch đã bị lấp như con rạch Chợ Lớn, ngày xưa từng là đường giao thông thịnh vượng.

Những thức ăn, mỹ phẩm, đồ cúng kiếng, vật liệu xây cất … từ bên Tầu có thể dễ dàng theo đường biển vào tới sông Sài Gòn, mượn cảng Bến Nghé xuống con lạch nào đó, chẳng hạn rạch Bến Nghé, rồi  được chuyển tới những kho chứa hàng để sau đó tản đi mọi nơi.

oOo

Tuy nhiên, để cho khu Phiên Trấn (Sài Gòn) trở thành một khu chợ khổng lồ của người Minh Hương và Hoa Kiều, còn cần phải thêm nhiều máu và nước mắt.

Vào năm 1747, tức 68 năm sau khi hai ông cựu tổng binh họ Dương và họ Trần cùng 3000 di thần, di dân nhà Minh, quyết để tóc dài, không chịu thắt bím, thà làm người dân thường đất Nam (An Nam Dzành), chứ không hàng nhà Thanh. Có một nhóm khách thương người Phúc Kiến, đã muốn “tạo riêng một góc triều đình Trung Quốc” tại Cù Lao Phố.  Họ thường đi đi về về qua khu phố sầm uất này buôn bán, bàn luận với nhau, bỗng nổi lòng tham, một phần thấy tài sản đâm mù lý trí, một phần coi thường triều đình Huế ở quá xa. Lý Văn Quang họp trên dưới cả trăm người gốc Hoa, đánh úp dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa sau này), giết chết Cẩn Thành Hầu (Nguyễn Cư Cẩn), là viên quan người Việt cai quản dinh. Sau đó Lý Văn Quang tự xưng vua, lấy tên là Giản Phố Đại Vương. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát nghe tin báo, ra lệnh cho Cai Cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đem quân đi dẹp. Từ Mô Xoài, quân nhà Nguyễn kéo vào Trấn Biên, phá tan và bắt giam Lý Văn Quang, cùng đồng bọn 57 người.

Cù Lao Phố chịu nhiều thiệt hại, nhưng tai hại nhất là lộ ra tính bất an ninh của vị trí. Dân chúng tại đây, có thể tin vào phong thủy không tốt của vùng đất bồi, thu góp tài sản đi tìm một nơi an ninh, văn minh hơn để sống. Họ thấy, không đâu bằng khu Phiên Trấn gần Bến Nghé, nơi có đồn binh Chúa Nguyễn đóng kề. Hơn nữa, rất có thể, bây giờ đã có tiền, có của, họ chọn nếp sống thị thành, chuyên thương mãi, làm tiểu công nghiệp, dễ sống, đỡ mệt thân hơn.

oOo

Vào thời Cù Lao Phố bị loạn, chính sự của triều đình Huế cũng đã không còn tốt đẹp như trước. Vũ Vương tham lam, đánh thuế dân với một hệ thống nhiêu khê, phức tạp. Thuế thổ sản đánh trên hàng ngàn thứ, chi li bần tiện. Quan lại cấp dưới, nhân vào đó, mà tham nhũng, ức hiếp dân nhiều hơn. Thượng Bất Chính Hạ Tắc Loạn là câu người Tầu thường dùng để nói về việc “dột từ nóc dột xuống” của một cơ cấu chính trị, hành chánh, rất ứng vào giai đoạn này.

Cho đến khi Vũ Vương chết (1765), tức thì xẩy ra vụ Trương Phúc Loan chuyên quyền, giết cha của Nguyễn Ánh, triều chính rối ren, quân Trịnh từ Bắc đánh vào, lại đến chiến tranh giữa Tây Sơn  và  nhà  Nguyễn (bắt đầu vào năm 1771), làm đời sống người dân Miền Nam rối bù.

Lúc đầu, đa số người Hoa Kiều hầu như đứng ngoài mọi biến cố chiến tranh và chính trị của người Việt. Cho đến lúc có lực lượng người gốc Hoa như đạo quân của Lý Tài, Tập Đình tham gia lực lượng Tây Sơn.  Đặc biệt là đội  Hòa Nghĩa Quân (Harmony Army) do Lý Tài chiêu mộ, trong những người Hoa miền Nam Trung Bộ, được thành lập từ năm 1773, từ đó mới bắt đầu  lộ sự khác biệt giữa những người Việt “thuần”, với người gốc Hoa.

Trong khi đó, tướng Đông Sơn Đỗ Thanh Nhân, gốc Minh Hương (Hương Trà, Thừa Thiên), lại phò quân nhà Nguyễn.

Tập Đình bỏ cuộc rất mau, chỉ thất bại có một trận dưới tay quân Trịnh, đã tìm đường chạy về Tàu. Lý Tài cũng bị đánh bại liên tiếp, cho đến khi chịu làm phó tướng, nhường chức đại tướng chỉ huy cho Nguyễn Huệ, mới thắng được trận Phú Yên.

Tuy nhiên, Lý Tài đâm ra bất mãn, thù hận và nghe theo lời chiêu dụ, về đầu hàng tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp. Vì cùng ham mê quyền hành tối cao, hai ông tướng gốc Hoa là Đỗ Thanh Nhân và Lý Tài tranh chấp, đem quân tàn sát nhau ngay sau khi Tống Phước Hiệp chết. Mới đầu Đỗ Thanh Nhân yếu thế hơn, phải về trấn giữ Bến Nghé, Lý Tài đóng ở núi Châu Thới. Nhưng sau đó, Lý Tài, đánh thua quân Nguyễn Huệ, chạy về ngang Ba Giồng, bị quân của Đỗ Thanh Nhân đón đường giết chết (1777). Tuy vậy, một số tàn quân Nghĩa Hòa của Lý Tài vẫn tiếp tục ủng hộ ngầm Nguyễn Ánh.

oOo

Năm 1778, sau khi bị Tây Sơn phá hủy Cù Lao Phố (Biên Hòa), người Hoa đành chạy về vùng Phiên Trấn (tức Prei Nokor hay Sài Gòn), tức khu đã có làng Minh Hương, để sống gần đồng hương.

Ngờ đâu, vụ Lý Tài phản Tây Sơn và các tướng Minh Hương như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đều là tướng nhà Nguyễn, lại trở thành tai họa cho người Việt gốc Hoa, thật ra, vào lúc đầu, đa số muốn đứng ngoài cuộc chiến tranh.

Trong khoảng những năm 1776-1779, trong mấy lượt quân Tây Sơn vào đánh Miền Nam, Cù Lao Phố nhiều lần bị tàn phá trong các cuộc giao tranh. Một số tác giả sau này, dựa vào sách của Trịnh Hoài Đức, cùng lời kể từ ông cha họ, cho biết nhà cửa dân chúng, tiệm buôn, phố xá, kho chứa hàng bị thiêu đốt nhiều không thể kể. Các cơ sở thủ công bị gỡ phá, vật liệu quí báu cũng bị cướp. Dân chúng bị ức hiếp, thậm chí tàn sát.

Trịnh Hoài Đức mô tả : “Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước” (Gia Định thành thông chí).

Những người Minh Hương còn sống sót bồng bế nhau lánh nạn về Bến Nghé, và Phiên Trấn. Họ hợp với nhóm người Hoa Kiều tỵ nạn họa Tây Sơn từ Mỹ Tho, và những vùng khác, thành đợt di cư lớn, vào năm 1788, tới vùng mà sau này gọi là Chợ Lớn (trước là quận 5 quận 6). Họ lập chợ, biến vùng này thành trung tâm thương mại lớn nhất Miền Nam sau này, khi Cù Lao Phố tàn tạ, còn Mỹ Tho dần bị Việt hóa, dù nền sản xuất nông – ngư sản và kinh doanh hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đã có những bước phát triển ngoạn mục, đặc biệt là ngành buôn bán, giao thông đường thủy.

oOo

Khi về đến Bến Nghé – Phiên Trấn, những người Hoa Kiều bao gồm Minh Hương còn phải chịu một trận “tai trời ách nước” chia chung số phận với người Việt khắp Đàng Trong.

Cuộc tranh chấp  bằng võ lực giữa ba anh em nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh càng kéo dài, số người Minh Hương ngả hẳn theo phe Nguyễn Ánh càng nhiều. Lý do, không những vì họ là con cháu của 3000 người đã được Chúa Hiền thu nạp, và bảo vệ. Mà vì quân Tây Sơn đánh xuống Miền Nam, không với mục đích thâu phục nhân tâm dân xứ này, nói chung, vì biết là không được. (Tháng 2 năm 1776, Nguyễn Lữ kéo vào đánh Gia Định, chỉ giữ được 3 tháng, phải kéo về lại Qui Nhơn với 200 con thuyền chở lúa cướp từ kho Gia Định). Họ chỉ muốn lùng giết mọi tàn tích của triều đình Nguyễn tộc, và đánh cướp kho tàng, lương thực, vật liệu…, để chở về Qui Nhơn mà thôi.

Nhưng oái oăm thay, cũng qua các cuộc tấn công của Tây Sơn, mà thương cảng Bến Nghé trở thành quan trọng, trù phú hẳn lên. Để phòng thủ, quan quân hội cả ở trấn Phiên An, thuyền buôn cũng dời về đậu ở sông Tân Bình (sông Sài Gòn).

Người Việt đánh nhau là một chuyện, việc mua bán với nước ngoài, và bên trong nước vẫn tiếp diễn. Người Hoa Kiều đương nhiên vẫn cần thiết để lo phần vụ không thể thiếu của họ, trong những hoạt động kinh doanh và kinh tế cho xã hội, càng lúc càng trở nên phức tạp.

oOo

Vào khoảng tháng Ba năm 1781, Nguyễn Nhạc  nghe tin Nguyễn Ánh giả bệnh sai mời Đỗ Thanh Nhân đến, rồi phục võ sỹ, đâm chết. (Vì quần thần đàm tấu cho rằng Đỗ Thanh Nhân quá hống hách, lạm quyền).

Nghe tin này Nguyễn Nhạc họp bàn tướng sỹ nói : “Thanh Nhơn chết rồi, các tướng khác không đáng sợ nữa”, rồi cùng Nguyễn Huệ dẫn đại binh đánh thẳng vào cửa Cần Giờ. Nguyễn Ánh đại bại trận thủy chiến trên sông Ngã Bảy, phải bỏ thành Gia Định (Sài Gòn sau này) chạy về Ba Giồng, rồi lánh sang rừng Romdoul, Chân Lạp (tháng 2 qua tháng 3, năm 1782).

Quân Tây Sơn truy đuổi quân Nguyễn Ánh đến 18 thôn Vườn Trầu, bị phục kích thua thảm bại. Một viên tướng lớn, được Nguyễn Nhạc thương yêu, là hộ giá Phạm Ngạn bị tử trận. Lính của Nguyễn Nhạc thoát về, khai nhận ra nhóm phục kích, gồm nhiều người gốc Hoa, trong đạo quân Hòa Nghĩa của Lý Tài, đã phản Tây Sơn và ẩn trốn Đỗ Thanh Nhân, nay nghe tin Đỗ Thanh Nhân bị giết, họ lại quay về ủng hộ Nguyễn Ánh. Vì đoàn quân này hiểu rõ cách hành quân của Tây Sơn, nên đã có thể phục kích hữu hiệu như vậy.

Nguyễn Nhạc, nổi giận đã ra một lệnh tàn ác, thất đức : “phàm người Tầu, không kể mới, cũ đều cho phép giết cả, trả thù cho hộ giá Ngạn”. Quân Tây Sơn được lệnh thi nhau chém. giết những người Hoa, dù thắt bím hay không, miễn mặc quần áo Tầu, nói tiếng Tầu là “phập”.  Theo như nhiều nguồn (trong đó có Trịnh Hoài Đức) kể lại, có khoảng 10,000 người Hoa bị giết từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn. Tử thi quăng xuống rạch làm nước không chảy nổi. Nước bị ô nhiễm đến độ, cách 2-3 tháng sau, người dân không dám ăn cá tôm bắt từ sông Tân Bình lên. Sự “bài Hoa” của quân Tây Sơn ghê đến mức, các dụng phẩm như vải sô, lụa Hàng-Tô Châu, trà Tầu, thuốc Bắc, nhang đèn, hàng mã, giấy bổn, giấy viết, nhất thiết mọi thứ hàng Tầu … đều được người dân, vì sợ hãi, quăng xuống sông, liệng ra đường. Người đi đường thấy nhều món còn tốt cũng không dám lụm mót đem về.

oOo

Sau này, có sử gia cho rằng, có thể một trong những lý do mà Nguyễn Nhạc ra lệnh tàn sát đó, là để tàn phá bộ máy kinh tế của Miền Nam, đa số nằm trong tay người Minh Hương, luôn phục vụ cho Nguyễn Ánh.

Sự thật là, những vụ cướp bóc, giết người, ít nhiều mang tính “kỳ thị chủng tộc” của quân Tây Sơn đó, đã khiến một số nhỏ người Minh Hương bực tức và có những thái độ trả đũa. Ở một vài nơi, nghe nói đã có những vụ người Hoa tỵ nạn trong rừng gặp người Việt là đánh giết trả thù (nguồn tin này do các cha đạo người Tây Phương, thuở đó ghi chép lại, người viết đọc được ở đâu đó, nhưng nay đã mất bản gốc, chỉ xin đăng lại đây để dành kiểm chứng lại). Tuy nhiên chắc chắn đã không có vụ chem. giết vì lý do chủng tộc, giữa người Việt và người Hoa nào được ghi lại. Ngược lại sử kiện này cho thấy người dân Việt không chấp nhận “sự kỳ thị chủng tộc”, dù mang mặt nạ gì chăng nữa).

Trường hợp Võ Trường Toản cho thấy sự hội nhập hoàn toàn của người Minh Hương vào xã hội người Việt. Ông chọn nơi cư trú tại khu người Việt sinh sống là khu Hòa Hưng. Học trò ông gồm cả Việt lẫn người gốc Minh Hương. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn…  Ngay cả sau vụ quân Tây Sơn tàn sát người gốc Hoa, Võ Trường Toản đã không vì thế tham gia chính sự, mặc dầu Nguyễn Ánh rất mến mộ ông, mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến để đàm đạo, nhờ giảng sách. Nhiều người trong đám học trò ông trở thành đại công thần cho triều Nguyễn. Riêng ông, ông khéo từ chối mọi lời mời của Nguyễn Ánh, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Trong lúc Nguyễn Nhạc tàn ác với người Hoa vì một vài viên tướng phản mình, Nguyễn Ánh vẫn tin tưởng lưu dụng những viên tướng của cánh quân Đông Sơn, ngay cả sau khi đã giết Đỗ Thanh Nhơn, và nhiều tướng thuộc hạ cũ của Đỗ Thanh Nhơn trở thành kẻ thù của Nguyễn Ánh. Điển hình là Nguyễn Huỳnh Đức (tên thật là Huỳnh Tường Đức), đã từng là thuộc hạ của Đỗ Thanh Nhân. Ngay cả sau khi Nguyễn Huỳnh Đức đã bị Nguyễn Huệ bắt vào năm 1783, thu dùng mang ra Bắc đánh, rồi trốn về. Nguyễn Huỳnh Đức, sau làm đến chức Tổng Trấn Bắc Thành (1810), rồi Tổng Trấn Gia Định (1816), cùng với Trịnh Hoài Đức, cai quản cả Miền Nam.

oOo

Trở lại đề tài chính của bài viết là sự hình thành của Chợ Lớn. Từ sau biến cố 1782, không thấy sử ghi chép nhiều về khu Phiên Trấn. Ngoại trừ Trịnh Hoài Đức có kể lại rằng : “Qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1 cây kim bán 1 quan tiền, còn các loại vật khác cũng đều cao giá, nhân dân cực kỳ khổ sở”. Điều này cho thấy, vào năm 1783, tại khu Bến Nghé và Phiên Trấn, người dân đã bắt đầu tìm cách sinh sống lại bình thường, dù đời sống cơ cực.

Cho đến thời kỳ mà Trịnh Hoài Đức gọi là trung hưng, tức vào năm 1788, sau khi người duy nhất còn lại trong “Gia Định Tam Hùng” là Võ Tánh (cả ba tướng Châu Văn Tiếp, Đỗ Thanh Nhân, và Võ Tánh đều gốc Minh Hương), đem 1 vạn quân, từ Gò Công, về hợp tác với Nguyễn Ánh, được chúa phong cho chức Tiên phong dinh Khâm sai chưởng cơ, và được chúa gả cho em gái là Ngọc Du, thì thế lực của Chúa Nguyễn mạnh hẳn lên. Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định. Cùng năm 1788, Nguyễn Ánh cho lập kho Bốn Trấn làm kho chung cho các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, và Định Tường để thu thuế và làm ngân quỹ cấp lương bổng cho quan lại. Ít nhất đã có Trịnh Hoài Đức, Ngô Tòng Châu là hai người gốc Minh Hương đã được Nguyễn Ánh sung vào vị trí quan trọng, cùng với 10 người nữa, để thành 12 ông quan điền toán, đi khắp 4 trấn lo việc đôn đốc việc sản xuất nông nghiệp.

Đương nhiên là khu Phiên Trấn (làng Minh Hương) lại có dịp phát triển trở lại, nhờ ba yếu tố chính là vị trí thuận lợi,  các kho hàng chứa gạo đã có sẵn, và các thương gia gốc Minh Hương đã nắm vững mối riềng kinh doanh, gom thu sản phẩm nông-ngư,  từ thời Dương Ngạn Địch còn sống.

oOo

Có rất nhiều xác suất, hay nói một cách khác, người ta có thể đặt giả thuyết là, có một con kinh hay con rạch lúc đó, đột nhiên trở nên một sinh mạch quan trọng, và cần chỉnh trang lại hai bên bờ đê của nó. Cùng với việc hai sỹ quan Pháp Theodore Lebrun, và de Puymanel thiết kế thành Gia Định theo kiểu Vauban, với tổng số nhân công là 30,000 người, với vật liệu xây cất là đá granite. Có thể vào khoảng thời gian này  người ta đã cho đắp đê cao lên hai bờ con kênh, và cẩn  đá hai bờ rạch một vài đoạn chính, vì ảnh hưởng bởi công trình xây thành Gia Định. Vì người Việt quen gọi vùng này là Sài Gòn, họ nhân đó đặt luôn tên theo âm Hán Việt là “Đề Ngạn” (堤岸), đọc theo giọng Quảng Đông là “Thầy Ngồn” (Tài Ngọn) để phiên âm hai chữ Sài Gòn, tức ngược với thuyết của Aubaret và Francis Garnier mà đã được hai ông Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Chúng ta đã biết cách người Hoa Kiều đặt tên, họ thường lấy những tên đã có tại cố hương bên Tầu mà đặt. Tên “Đề Ngạn” mới quá, thông tục quá, mà nghĩa thì không nói lên được gì, vì “đề” là “Bờ đê, đắp đê phòng nước tràn vào. Tục viết là 堤”, “ngạn” là “Bờ. Như Đê Ngạn 堤 岸 Bờ Đê”; quá chung chung, khác hẳn những tên thường thấy bên Trung Hoa, như “Tiểu Hà”, “Đại Hà”…, ví con kênh như sông lớn, sông bé.

Còn lý do tại sao lại có tên Sài Gòn thì giả thuyết đưa ra bởi Trương Vĩnh Ký được nhiều người cho là hợp lý nhất, vì theo ngôn ngữ học, Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là “Thị trấn ở trong rừng”, “Prei” hay “Brai” là “rừng”, “Nokor” hay “Nagara” là “thị trấn”. Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành “Sài”, Nokor bị bỏ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “gòn”. (có nghĩa là người Miên  bình dân đọc tắt Prei Nokor là Rai kor, người Việt nghe thành nghe Sài Gòn)

oOo

Riêng với con kênh Tàu Hũ, thì sau khi được đào xong vào năm 1819, nó mau chóng trở thành con đường huyết mạch giúp cho Chợ Lớn (lúc đó còn mang tên Sài Gòn) sau này giầu thêm nhiều. Con kênh này nối sông Sài Gòn với sông Tiền qua Kênh Ruột Ngựa, sông Rạch Cát hay sông Chợ Đệm, sông Vàm Cỏ, kênh Bà Bèo (kênh Tháp Mười sau này). Sông Tiền hay Tiền Giang  là một trong hai nhánh sông Cửu Long trước khi đổ ra Thái Bình Dương.

Trong “Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận (năm 1885)”, Trương Vĩnh Ký viết : “Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là hai dãy nhà phố lớn bằng gạch gọi là Tàu Khậu để cho người Hoa từ Trung Quốc hàng năm đi ghe biển tới thuê. Họ đem hàng hoá chứa trong các phố đó, hoặc để bán sỉ hoặc để bán lẻ khi lưu trú tại Sài Gòn”. Theo Huỳnh Tịnh Của thì Tàu Khậu là giọng người Triều Châu phát âm từ Thổ khố, tức là khu nhà lớn bằng gạch để chứa hàng hoá, sau đọc trại ra thành Tàu Hũ.

oOo

Đến đây, có lẽ chúng ta đã phân biệt được hai chữ gốc Minh Hương và gốc Hoa Kiều. Tuy đều từ Tầu qua, nhưng người Minh Hương qua vì tỵ nạn chính trị, đa số nhận nước Việt làm quê hương, mau chóng hội nhập và thành người Việt 100%.  Đợt di dân qua Việt Nam lớn nhất do hai tổng binh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên vào năm 1679. Theo như đã chứng minh, họ chính là những người đã đặt nền móng xây nên Chợ Lớn mà ngày đó mang tên Sài Gòn. Đó là lý do  giải thích việc Đình Minh Hương tại Chợ Lớn ngày nay lại thờ thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, và  hai ông quan thượng thư gốc Minh Hương Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh.

Hoa Kiều là những người Trung Hoa qua Việt Nam sinh sống, họ có thể qua vì nhiều lý do như thương nghiệp, hàng hải, nghề nghiệp, gia đình… Nhưng họ không qua vì lý do “kháng Thanh, phục Minh”.  Họ lưu dân ở khắp nơi trên thế giới và thường là thương nhân, luôn hướng về đất tổ như Đài Loan (phe chống Cộng), Hồng Kông (do Anh quốc cai trị) Ma Cao (do Bồ Đào Nha cai trị) và Trung Hoa lục địa. Khi đó cả bôn nơi này còn là một quốc gia thống nhất, bị chia cắt sau thế chiến thứ I và thứ II.

Nguồn: Huỳnh Thị Mỹ Nhàn

http://madeinsaigon.vn/bai-viet/lich-su-nguoi-hoa-o-sai-gon-1432969236939.html

Phan Anh Dũng : NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC, NGƯỜI THẦY TẬN TỤY VỚI TRÁCH NHIỆM


NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC, NGƯỜI THẦY TẬN TỤY VỚI TRÁCH NHIỆM – Phan Anh Dũng PDF Print E-mail
            NHẠC SĨ NGUYỄN ĐỨC, NGƯỜI THẦY TẬN TỤY VỚI TRÁCH NHIỆM – Biên soạn: Phan Anh Dũng

Chiều 26 tháng 5, 2015 trong lúc đang lái xe, tôi nhận được điện thoại của nhạc sĩ/nhà báo Trần Chí Phúc từ Nam Cali cho biết nhạc sĩ Nguyễn Đức vừa qua đời và anh đang viết bài tưởng niệm. Tôi hỏi:” Nhạc sĩ Nguyễn Đức nào? có phải là ‘Lò Nguyễn Đức’ chuyên đào tạo các ca sĩ không?”. Đúng rồi, Trần Chí Phúc cho biết thêm: Ông có thời gian qua ở Toronto, Canada nhưng đã về Sài Gòn và mất tại Sài Gòn!

Chiều về đến nhà thì nhận được email đính kèm Phân Ưu từ Nhạc sĩ Lê Dinh ở Montréal, Canada. Sau đó Trần Chí Phúc gởi thông báo bài viết sớm nhất: “Giã biệt nhạc sĩ Nguyễn Đức, người thầy ca nhạc kính mến” ở link của SBTN website.

Tôi nhớ mấy năm trước nhà văn Lê Văn Phúc ở Virginia cho biết Ông hay gọi điện thoại viễn liên với các nhạc sĩ Lê Dinh (Montréal), Phan Ni Tấn (Toronto) và Nguyễn Đức (Toronto). Chị Thy Nga – lúc còn làm phóng viên cho Đài Á Châu Tự Do (RFA) – cũng đã thực hiện 2 buổi phỏng vấn rất hay và tự nhiên với Nhạc sĩ Nguyễn Đức năm 2005 và 2008 trong Chương trình Âm Nhạc Cuối Tuần do chị phụ trách. Giọng nói của Ông trong 2 kỳ phỏng vấn này còn mạnh và trí nhớ còn rất rõ ràng về kỷ niệm với các học trò do Ông đào tạo.

Tôi viết email cho Nhạc sĩ Phan Ni Tấn và nhà văn Song Thao là 2 người đã sinh sống nhiều năm ở Toronto. Nhạc sĩ Phan Ni Tấn gởi ngay cho tôi một tấm hình chụp với Ông và hứa sẽ viết bài kỷ niệm (mời xem bài viết ở dưới).

Ngược dòng thời gian về sinh hoạt ca nhạc ở miền Nam Việt Nam trước 1975, một số nhạc sĩ ngoài sáng tác nhạc, dạy nhạc chính thức tại các trường học, làm nhạc công cho ban nhạc, cộng tác với đài truyền thanh hay truyền hình, tham dự đại nhạc hội v v còn mở các lớp dạy nhạc, đào tạo ca, nhạc sĩ.  Nhiều lớp nhạc ở Sài Gòn đã mở ra do các nhạc sĩ sau đây đảm trách: Hoàng Trọng, Nguyễn Đức, Tùng Lâm, Lê Minh Bằng, Ngọc Sơn, Hoàng Lang, Lan Đài (có sự cộng tác của Hoàng Nguyên, Diên An, Phó Quốc Lân…), Hoài Nam, Bảo Thu, Lớp Nắng Hồng (Mặc Thế Nhân, Anh Sơn …), Lớp N.T. Nguyên Thảo (Trầm Tử Thiêng, Hoàng Nguyên …)

Nhạc sĩ Nguyễn Đức nổi tiếng với “lò” đào tạo ca sĩ thật trẻ (thường dưới 13 tuổi) và cho thực tập qua các ban Rạng Đông, Việt Nhi ở đài phát thanh. Ông được sự tín nhiệm của phụ huynh với phương pháp luyện thanh, phát âm cho chuẩn và học ký âm pháp … Một số ca sĩ từ lò của Ông đã thành danh và một số vẫn còn đi hát cho tới bây giờ như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Phương Hồng Quế …

Xin tri ân Nhạc sĩ Nguyễn Đức, một người Thầy tận tụy, dễ mến và đáng kính, đã bỏ công sức đào tạo nhiều ca sĩ cho Việt Nam Cộng Hòa. Những “giọng ca có huấn luyện này” đã giúp đem lời ca, tiếng nhạc, tâm tình của nhạc sĩ đi xa hơn, bay bổng hơn.

Xin chia buồn cùng tang quyến, bạn thân và học trò của Nhạc sĩ Nguyễn Đức. Cầu mong hương linh Ông sớm tiêu diêu miền Cực Lạc.

Phan Anh Dũng (Richmond, Virginia USA – 31 tháng 5, 2015)

(Quảng cáo về Lớp Nhạc Nguyễn Đức trích từ một bản nhạc rời in trước 1975)

Phân Ưu ở trên từ website của Nhạc sĩ Lê Dinh

Tang lễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức tổ chức tại chùa Long Hoa (số 44 đường Trần Minh Quyền, Quận 10, Sài Gòn). Trong những ngày qua, đông đảo khán giả mộ điệu và các đồng nghiệp, học trò, đến thắp hương tiễn biệt người nhạc sĩ tài hoa có công góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho làng nhạc Việt và nhiều người trong số họ không phụ lòng thầy, tỏa sáng trên con đường nghệ thuật.

Sáng 28 tháng 5, 2015, linh cữu của nhạc sĩ Nguyễn Đức đã được đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa, Sài Gòn. Ông mất ngày 25-5 do bệnh già, hưởng thọ 85 tuổi.

                             

        

       

        

    

                              

     

                                          (Hình ảnh tang lễ từ facebook/dongnhacvang)

Nhạc sĩ Nguyễn Đức và khả năng đào tạo ca sĩ

Dù dòng thời gian đã thấm thoát đã bốn thập niên qua, am hưởng trẻ trung ngọt ngào của ba giọng ca mầm non trong Ban Tam Vân vẫn còn vang vang trong lòng giới thưởng ngoạn văn nghệ của Sài Gòn năm xưa. Nhắc đến Bích Vân, Phước Vân, Ngọc Vân tức là nhắc đến bước đầu của một công trình đào tạo cam go và một đóng góp lâu dài cho nền Tân nhạc Việt Nam của một tên tuổi quen thuộc: Nhạc Sĩ Nguyễn Đức.

Quê quán tận miền Tây (Bạc Liêu, Cà Mau), nhạc sĩ Nguyễn Đức đã bước chân vào ngưỡng cửa âm nhạc vào lúc tuổi đời còn rất trẻ. Năm lên 8, Nguyễn Đức đã biết sử dụng Mandoline và đến năm 15 tuổi, đã biểu diễn sử dụng hai nhạc khí Mandoline và Harmonica cùng một lúc trong chương trình chọn lựa tài tử do Ông Hoàng cao Tăng (Đài phát thanh Pháp Á) tổ chức. Vào năm 1953, Nhạc sĩ Nguyễn Đức bắt đầu dạy hát và thành lập nhóm Rạng Đông. Trong bước đầu dấn thân vào việc thực hiện công trình tuy lý thú nhưng đầy khó khăn này, nhạc sĩ Nguyễn Đức chú trọng đến các em thiếu nhi (đa số là các em gái tuổi từ 12-13) và đã lựa chọn 3 em để thành lập Ban Tam Vân (Bích Vân, Phước Vân và Ngọc Vân). Ban Tam Vân có lối trình diễn rất đặc biệt, vừa nhảy thiết hài (Claquette), vừa sử dụng maraccao, Guiero, Tambourin và hát ba bè.

                 

                

Bộ “tam ca kích động nhạc” này đã từng trình diễn trong các chương trình Đại Nhạc Hội và vài khiêu vũ trường tại Sài Gòn. Song song với việc thành lập ban Tam Vân, nhạc sĩ Nguyễn Đức còn đào tạo thần đồng Phương Lan và ca sĩ Thanh Phong lúc ấy mới 12 tuổi. Sau này, chính nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đưa Thanh Phong về hợp tác với Phương Đại và Duy Mỹ để thành lập Ban Sao Băng đã một thời vang tiếng trên Đài Phát Thanh và Đài Truyền hình Việt Nam trước 1975. Vào những năm vàng son của nền Tân nhạc Việt Nam, giới yêu nhạc Sài Gòn không ai là không biết đến những giọng ca nổi tiếng một thời như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Kim Loan, Quốc Dũng, Anh Thoại… và một số ca sĩ bắt đầu bằng chữ “Phương” như Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh, Phương Hòai Tâm, Phương Hồng Ngọc… Đó đều là những công trình đào tạo của nhạc sĩ Nguyễn Đức từ năm 1960.

Cũng trong năm này, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã thành lập Ban Việt Nhi ở Đài Phát Thanh Quốc Gia vào năm 1962, cho ra đời ban Giờ Nhi Đồng, cả 2 qui tụ khoảng 40 em thiếu nhi. Về sau, vì số lượng quá đông, anh có lập thêm “Ban Gia Đình Văn Nghệ Nguyễn Đức” trên làn sóng của Đài Quân Đội. G.Đ.V.N.N.Đ gồm có 4 ban hợp ca nữ, mỗi ban có 14 ca sĩ và mỗi năm đều có mặt trên màn ảnh thời sự chiếu ở các rạp chiếu bóng để mừng xuân. Sự đóng góp của nhạc sĩ Nguyễn Đức vào lãnh vực văn nghệ hết sức đa dạng. Ngoài việc đào tạo ca sĩ và hướng dẫn tài năng trẻ, nhạc sĩ Nguyễn Đức còn đào tạo xướng ngôn viên cho các đài truyền thanh và truyền hình như: Bạch Yến, Xuân Kiều, Phương Hồng Trinh. Anh cũng từng là cố vấn văn nghệ cho các đài truyền thanh và truyền hình như Tiếng Nói Thủ Đô, Chương trình Nha Động Viên, Chương trình Người cày có ruộng của Phòng Nông Nghiệp.

    

Người nghệ sĩ đa tài này rời khỏi quê hương và đến định cư tại Toronto vào tháng 11 năm 1991. Sự có mặt của nhạc sĩ Nguyễn Đức tại Toronto đã thổi một luồng gió mới sinh động vào những hoạt động văn nghệ của thành phố thương mại này. Kiếp tằm phải tiếp tục nhả tơ, mặc dầu tuổi đời đã cao, sức khỏe kém, nhạc sĩ Nguyễn Đức vẫn tiếp tục con đường đã định sẵn: phục vụ âm nhạc, phục vụ giới trẻ, lòng thiết tha mang tâm hồn của tầng lớp trẻ Việt Nam ở hải ngoại trở về với nét đẹp quê hương qua cung đàn tiếng nhạc. Trong niềm hòai vọng đó, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã tham gia trong chương trình Việt Ngữ (Heritage Languages Program) để hướng dẫn cho một số giáo viên về ký âm pháp để tập hát cho học sinh Việt Nam. Ngòai ra, nhạc sĩ còn giúp đào luyện một số tài năng trẻ say mê âm nhạc có cơ hội trở thành ca sĩ chuyên nghiệp. Trong chiều hướng đó, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã qui tụ được một số giọng ca đầy triển vọng vào năm 1993, nhóm Bừng Sáng ra đời tại Toronto với tiếng hát Hòan Vũ, Minh Nguyệt, Tử Lê, Lan Hương, Ái Ly, Huy Khang, Thùy Trang, Xuân Hằng và Thái Hòa. Được sự hướng dẫn tận tình của người nhạc sĩ và cũng là bậc thầy giàu kinh nghiệm, nhóm Bừng Sáng đã hoạch định cho mình một hướng đi trong tương lai: “Đoàn kết, luyện tập chu đáo với những tiết mục mới lạ mong đem lại cho giới mộ điệu một làn gió mới cho không khí văn nghệ ở Toronto”.

          

                                               Nhạc sĩ Nguyễn Đức & Trường Kỳ

Bước thời gian sẽ không bao giờ ngưng đọng và mỗi ngày qua đi sẽ để lại trong lòng người nghệ sĩ nhiều kỷ niệm khó quên. Giờ đây, với 75 tuổi đời qua, mái tóc phai màu, nhìn lại quá khứ, suốt đoạn đường dài, nhạc sĩ Nguyễn Đức đã sống và cống hiến từng hơi thở mình cho giới trẻ và cho tiền đồ của nền Tân Nhạc Việt Nam. Rồi đây, nếu có lúc nào “đốt lò hương cũ, so phím tơ xưa”, người nghệ sĩ lão thành chắc sẽ cảm thấy mãn nguyện vì trong những công trình và những gắn bó yêu thương đã ràng buộc đời nghệ sĩ theo từng bước hưng vong của làng âm nhạc Việt Nam.

Trường Kỳ (12/9/2005)

Giã biệt nhạc sĩ Nguyễn Đức – người thầy ca nhạc kính mến
                                     Trần Chí Phúc / SBTN

Sinh năm 1929 tại tỉnh Bạc Liêu, nhạc sĩ Nguyễn Đức là người hăng say họat động lãnh vực truyền bá văn hóa nghệ thuật cho các em thiếu nhi.  Chơi đàn Mandoline và Guitar giỏi, năm 1949, lúc 20 tuổi, ông tham gia Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ và dạy hát cho ca sĩ Thanh Phong, sau này cùng với Phương Đại và Duy Mỹ lập ra ban tam ca Sao Băng. Sau đó ông dạy cho ba cô Ngọc Vân, Bích Vân, Phước Vân thành lập ban Tam Vân.

Qua các họat động này, Ban Văn Nghệ đài phát thanh Sài Gòn mời ông lập ban ca nhạc cho thiếu nhi lấy tên là Ban Việt Nhi vào năm 1960, chương trình phát mỗi tuần 1 lần được thính giả ưa thích. Ngòai ca hát, chương trình này còn có mục y học thường thức cho các em miền quê , mục kể chuyện vui và cung cấp những kiến thức bổ ích cho giới nhi đồng.

Sau đó nhạc sĩ Nguyễn Đức lập thêm Gia Đình Văn Nghệ Nguyễn Đức dành cho  các em trong ban Việt Nhi bước qua tuổi lớn hơn và tiếp tục dạy cho họ kiến thức về ca nhạc. Những ca sĩ thành danh đã từng ở trong ban Việt Nhi và học trò của ông như Hòang Oanh, Thanh Lan, Kim Loan, Phuơng Hồng Quế, Phương Hòai Tâm, Phương Hồng Ngọc…

Ca sĩ Thanh Lan kể rằng hồi còn bé nghe chương trình Việt Nhi trên đài phát thanh Sài Gòn nên rất thích và xin mẹ tham gia vào Ban Việt Nhi lúc 12 tuổi, hát hợp ca  bản Hội Nghị Diên Hồng và đi trình diễn ở  một số nơi như Tòa Đô Chính, trường Petrus Ký, và cô còn nhớ đã từng đơn ca bản Vui Đời Nghệ Sĩ trong chương trình này.

                              

Ca sĩ Phương Hồng Quế là người học trò thân thiết của nhạc sĩ Nguyễn Đức từ lúc còn bé cho đến khi nổi tiếng. Cô thường hay lén thầy để đi ca bên ngòai mặc dù chưa được phép. Khi chuyện lộ ra thì ông cũng chỉ la rầy sơ sơ và hỏi cô có bài hát nào cần ông chỉ dạy để đi trình diễn hay không. Thời truớc năm 1975, mỗi lần muốn lăng xê một cô ca sĩ học trò nào thì nhạc sĩ Nguyễn Đức mời báo chí đến để giới thiệu và nhờ viết bản tin.

                 

                                  Thầy Nguyễn Đức đệm đàn cho trò Phương Hồng Quế hát

Sau năm 1975, hòan cảnh sa sút từ thầy đến trò, Phương Hồng Quế nhân dịp Tết có mua trái dưa hấu đến nhà nhạc sĩ Nguyễn Đức và ông rất cảm động, đó là kỷ niệm đáng nhớ. Chị tự hào là học trò ca nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đức, những học trò của ông dù có trở thành ca sĩ hay không cũng đều có căn bản về nhạc lý.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức định cư tại Toronto Canada vào tháng 10 năm 1991. Ở xứ người ông tiếp tục dạy ca nhạc cho giới trẻ, lập ra ban hợp ca năm 1993.

                  

Năm 2007 nhiều ca sĩ thành danh từng là học trò của ông và có tham dự ban Việt Nhi đã tụ họp tại Toronto để ca hát mừng nhật người thầy khả kính.

Là huynh trưởng Hướng Đạo cho nên tâm hồn trẻ trung, ông bảo học trò gọi ông là Anh Hai mặc dù tuổi của họ đáng hàng con cháu.

Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng cư ngụ tại Quận Cam cũng là người đồng thời nhận xét về nhạc sĩ Nguyễn Đức có công trong việc truyền bá kiến thức ca nhạc và tạo sinh họat vui tươi lành mạnh cho giới thiếu nhi, giới trẻ. Ông có bản Mùa Thi nổi tiếng mà ban hợp ca Việt Nhi nhiều lần trình bày trên đài phát thanh Sài Gòn.

Ca sĩ Thanh Lan bùi ngùi nhớ lại kỷ niệm về thời bé có sinh họat ca nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Đức. Ca sĩ Phương Hồng Quế mãi còn nhớ địa chỉ 223/31 đườngVĩnh Viễn ở Chợ Lớn, căn nhà của nhạc sĩ Nguyễn Đức rất thân quen.

Mặc dù không có ca khúc sáng tác nào để đời, nhưng nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh, đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền bá kiến thức ca nhạc, tinh thần sinh họat lành mạnh cho tuổi thơ và để lại sự mến phục trong lòng nhiều thính giả nghe Ban Việt Nhi trên đài phát thanh Sài Gòn của chế độ Việt Nam Cộng Hòa tự do trước năm 1975.

Giã biệt nhạc sĩ Nguyễn Đức, tinh thần dấn thân họat động văn nghệ đóng góp cho xã hội của ông là nguồn cảm hứng cho thế hệ sau tiếp nối công tác cao đẹp ấy.

Trần Chí Phúc / SBTN

Chút Kỷ Niệm (Vui) Với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức
                                                   phan ni tấn

Tôi quen biết nhạc sĩ Nguyễn Đức tính đến nay cũng ngót 20 năm. Khởi đầu sự quen biết này cũng khá thú vị. Số là một hôm đang ăn cơm tôi nhận được một cú phone mà đến nay tôi vẫn nhớ hoài.
– Alô! (giọng khàn đục của một ông già miền Nam)
– Alô! Dạ, ai đó (tôi đáp)
– Dạ (ổng dạ), tôi là Nguyễn Đức. Vui lòng cho tôi nói chuyện với nhạc sĩ Phan Ni Tấn.
– Dạ, tôi đây. Xin hỏi ông là… Nguyễn Đức nào? Thưa… có việc gì không?
– Dạ, tôi là nhạc sĩ Nguyễn Đức, người sáng lập Ban Việt Nhi ở Sài Gòn trước 75…
– A! Chào nhạc sĩ. Tôi nghe danh nhạc sĩ Nguyễn Đức trước 75, hồi còn ở trong nước lận. Hân hạnh được quen biết anh. Mà sao anh biết số phone của tôi vậy anh?
– Thì ông Phúc cho. Tuần rồi ông nhà văn Lê Văn Phúc bên Washington, D.C gọi tôi nói về các văn nghệ sĩ ở Toronto, trong đó có nhắc đến tên anh.Tôi có xin số phone của anh để liên lạc. Cuối tuần này rảnh không? Mời anh ghé nhà tôi chơi.
– (…)
– Nè. Nhớ mang theo bản nhạc Lý Con Sáo Bạc Liêu của anh cho tôi xin nghen. (Giọng tuệch toạt, thân tình, trở nên sôi nổi). Bạc Liêu là quê  tôi mà. Anh có sẵn viết đó không? Địa chỉ nhà tôi nè…

Nói là nhà chớ thật ra vợ chồng nhạc sĩ Nguyễn Đức sống trong một khu nhà già, cách chỗ tôi ở khoảng 15 phút lái xe. Lần đầu tiên tôi tới gặp lúc anh đang chăm sóc cho chị X, vợ anh. Anh tâm sự tôi mới biết chị bị bệnh sưng chân, thấp khớp kinh niên, lại thêm chứng thần kinh tọa và áp huyết cao. Nhìn cảnh hai ông bà già lụm cụm, nương tựa nhau sống trong một căn phòng sơ sịa, chật hẹp mà thương. Trong hoàn cảnh về chiều, lẽ ra họ đáng được sống an nhàn, hưởng hạnh phúc, vì anh đã cống hiến suốt đời mình cho sự nghiệp đào tạo ca sĩ cho nền âm nhạc Việt Nam từ thời trong nước ra tới hải ngoại. Nhưng trớ trêu thay, về vật chất họ lại chịu sự thiệt thòi, thiếu may mắn. Dù vậy, tánh tình hiền hòa, hiếu khách rất miền Nam của nhạc sĩ Nguyễn Đức luôn luôn tạo cho anh một sự tự tin, một phong cách đứng thẳng, một sức mạnh đề kháng trong cơ thể đang hao mòn, ọp ẹp của anh. Con người này vốn yêu đời nồng nàn, an nhiên và tận tình.
Ra hải ngoại, định cư tại Toronto năm 1991, được sự khuyến khích của cộng đồng người Việt tại thủ phủ này, năm 1993 anh lại hăng hái tiếp tục mở lớp dạy nhạc.

      

                   Từ trái: Phan Ni Tấn, Nguyễn Đức, MiMi, Nguyễn Văn Hòa & Nguyễn Tấn Hách

Nhớ có lần tôi tới thăm vợ chồng anh, lại gặp anh đang dìu chị ngồi lên ghế nhìn ra ngoài cửa sổ cho khuây khỏa tinh thần, trong khi ở góc đằng kia có một cô bé đang tập hát. Nhìn đôi môi tròn vo đang hồn nhiên luyện giọng gợi tôi nhớ những mầm non trong Ban Việt Nhi ngày xưa do nhạc sĩ Nguyễn Đức thành lập ở Sài Gòn, nay đã thành danh.  Từ Hoàng Oanh, Kim Loan, Thanh Lan, Phương Hồng Quế, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Ngọc (từ thời trong nước), cho đến Phương Diễm Hạnh, Phương Thảo Ngọc, Phương Minh Nguyệt, Tường Vi, Tuấn Tài, Từ Lê, Xuân Uyên… (ở ngoài nước).
Tôi không phải là phóng viên hay nhà báo gì, nhưng lúc vui miệng tôi hỏi cách thức đào tạo ca sĩ ra sao thì anh cho biết:
“Tôi thích đào tạo những người chưa biết hát, chưa biết gì về âm nhạc. Phương pháp đào tạo một ca sĩ của tôi đòi hỏi, trước hết là cách phát âm cho chuẩn, cho thật đúng. (Nhạc sĩ Nguyễn Đức trở nên sôi nổi, hát) Cuộc đời vẫn đẹp sao. Tình yêu vẫn đẹp sao. Dù đạn bom man rợ thét gào… Ngừng hát, chồm người tới anh cao giọng vui tươi: Cuộc là C thì hát là Cuộc chớ không thể hát Cuột được; cũng như Tình yêu không thể hát Tìn yêu. Hát chữ  Thét gào là T…”
Nhạc sĩ tiếp: “Để thu hút cảm quan của người nghe, tôi đã ra sức hướng dẫn ca sĩ học về ký âm pháp để tối thiểu phải biết về nốt nhạc, về trường canh để giữ nhịp cho thật đúng…”
Tôi hỏi tiếp tại sao gọi là “lò Nguyễn Đức”, anh cười nói vì phụ huynh của các em học hát thích cách dạy của tôi nên họ vui miệng gọi vậy”.

Có lần, ca sĩ Hoàng Lợi mời nhạc sĩ Nguyễn Đức, họa sĩ Hoàng Đức, ca sĩ Nhất Duy và tôi tới club Đêm Màu Hồng nghe nhạc, lai rai vài sợi. Lúc cụng ly, tôi mới phục tửu lượng của anh Nguyễn Đức. Ngần ấy tuổi đời mà nốc rượu như nước lã. Anh không phải là con sâu rượu, cũng không phải là đệ tử của Lưu Linh, nhưng ai qua mặt anh về lượng tửu e cũng khó. Cụng ly bạn bè cùng bàn xong, anh lướt qua mấy bàn khác cụng tiếp với các bạn trẻ. Tay cầm ly rượu, vừa đi anh vừa nhún nhảy theo điệu nhạc kích động yêu đời làm tôi nhớ  cái hồi tôi còn độc thân, nhất là cái thời ở lính nhậu nhẹt sanh tử lửa; một mình tôi, nếu không nốc cạn 24 chai bia 33 hoặc 16 chai bia con cọp thì cũng cưa ngã nguyên chai Whisky Ông Già Chống Gậy (Johnny Walker). Cái thuở ngang tàng, hống hách không giống ai đó không còn nữa.
Bẳng đi một thời gian không liên lạc, tôi nghe anh đưa chị về Việt Nam rồi được tin chị qua đời. Tại Hội Chợ Tết Ất Mùi năm rồi do cộng đồng người Việt North York tổ chức, tôi lại gặp anh và họa sĩ Hoàng Đức. Đó là lần cuối cùng tôi gặp anh cho đến khi nghe tin anh về Việt Nam khoảng một tháng sau thì anh mất.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức tên thật là Nguyễn Đại Đức, sanh năm 1930 tại Bạc Liêu. Mất ngày 25 tháng 05 năm 2015 tại Sài Gòn. Linh cửu sẽ hỏa táng tại Trung Tâm Bình Hưng Hòa. Hưởng thọ 86 tuổi.
Nhạc sĩ Nguyễn Đức mất đi để lại niềm thương tiếc cho gia đình nói riêng và cho người Việt trong và ngoài nước nói chung.

Phan Ni Tấn (Toronto, Canada)

  Phỏng Vấn Nhạc Sĩ Nguyễn ĐứcThy Nga, phóng viên đài RFA – 2005

                                  

Kỳ này, Thy Nga xin gởi đến quý thính giả một câu chuyện về âm nhạc để quý vị thư giãn thêm vào cuối tuần nhé …
Hôm nọ, cũng ngẫu nhiên thôi, Thy Nga có dịp điện đàm với nhạc sĩ Nguyễn Đức. Quý vị cao niên hoặc trung niên chắc còn nhớ thời trước 1975, ông là người chuyên đào tạo ca sĩ…

                            MP3               Youtube (Hung Ton thực hiên)

                            NHÓM TAM PHƯƠNG:   MP3

Trong sinh hoạt ca nhạc hải ngoại, Trung tâm Asia vào mùa Hè năm ngoái, đã tạo cơ hội cho các ca sĩ mà nghệ danh khởi đầu bằng tên Phương hát với nhau: đó là Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế và Phương Hồng Ngọc. Với Phương Hoài Tâm và Phương Hồng Ngọc thì là tái xuất hiện trên sân khấu sau nhiều năm vắng bóng. MC Nam Lộc cho biết là Trung tâm Asia có mời Phương Hồng Hạnh nhưng Phương Hồng Hạnh nhất định không ra sân khấu nữa. Ba ca sĩ kể trên xuất hiện bên nhau trong chương trình Asia DVD 55 với ca khúc “Chiều làng em” …Tiết mục này được khán thính giả đón nhận nhiệt tình nên Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế và Phương Hồng Ngọc được Trung tâm Asia đặt tên là “Nhóm Tam Phương” để tiếp tục trình diễn trong các chương trình kế tiếp của Asia.

             

Về việc ca hát của các ca sĩ này, chắc người biết nhiều hơn cả, là nhạc sĩ Nguyễn Đức vì chính ông đã đào tạo ra các tiếng hát ấy.
Sau khi xem thấy nhóm Tam Phương trong chương trình ca nhạc của trung tâm Asia, Thy Nga điện thoại sang Toronto, hỏi chuyện nhạc sĩ Nguyễn Đức, trước tiên là về cảm nghĩ của ông lúc thấy học trò cũ của mình hát với nhau như thế.

Thưa cô Thy Nga, tôi … cái buồn và cái vui, nó lẫn lộn, và có thể nói rằng có một lần, nước mắt tôi cũng lưng tròng, là khi tôi nhìn lại ba em đó hát, giống như hồi khi xưa mà tôi đã chỉ dẫn cho các em từng lời, từng hơi thở để mà hát được ra những tiếng hát tốt cho người nghe. Tôi rất lấy làm xúc động. Vui, rất vui nhìn lại ba phong cách trình diễn của ba em họ Phương, tôi thấy tiếng hát vẫn còn mượt mà, vẫn còn kỹ thuật mà hồi xưa, tôi đã hướng dẫn, chỉ bảo. Khán giả nhiệt tình vỗ tay, cổ võ, điều đó làm cho tôi rất vui mừng vì khán thính giả vẫn còn yêu mến ba ca sĩ họ Phương trong đại gia đình văn nghệ của tôi. Tôi nghĩ là họ cũng vẫn muốn thấy và nghe hát như hồi xưa đã từng nghe vậy.  

Thy Nga : Đối với khán thính giả trẻ thì ông thấy sự đón nhận như thế nào? có ưa thích các giọng ca cũ như vậy không?
Nhạc sĩ Nguyễn Đức : Người ta chắc có lẽ cũng quý và vẫn thích những tiếng hát mà có kỹ thuật cao, thứ nhất là cái phong cách trình diễn rất tốt. Tôi nghĩ rằng người ta dành sự ưu ái đó cho “Tam Phương”.

Thy Nga : Theo như ông là người đào tạo, tức là chuyên về kỹ thuật thì chắc hẳn, các làn hơi của họ không bằng như hồi trước, phải không ạ.
Nguyễn Đức : Tôi thấy rằng ba em đó hát, giọng cũng còn rất khỏe, rất tốt. Cái duyên dáng, tôi thấy là ba cô này mặc dù đã lớn tuổi rồi nhưng mà nhìn lại thì khó ai đoán được số tuổi.

Thy Nga : Khi mà họ đến lớp học của ông thì họ bao nhiêu tuổi ạ?
Nguyễn Đức : Lúc đó, 9 tuổi có, 10 tuổi, 12, 13 tuổi có.

Thy Nga : Chẳng hạn với ba cô này thì ông đào tạo trong bao nhiêu lâu?
Nguyễn Đức : Có nhiều người đến học, cha mẹ họ hỏi thế này: Con tôi bao lâu mới thành công? Tôi nói: Cái đó nên hỏi cháu, là tại vì thế này: từ nơi cháu có năng khiếu hay không. Thí dụ như là ba cô đó học, thời gian học là thời gian đang phục vụ đài phát thanh và các đài truyền hình. Mỗi lần học là kỹ thuật mỗi cao hơn. Cho nên, mấy cô đó, có thể nói là từ 6 tháng hoặc 1 năm và hơn nữa. Mỗi ngày đều có những bài mới cho đài phát thanh và đài truyền hình. Các em phải ở lại học để mà trình bày trên các đài luôn.

“Chim sáo ngày xưa” Phương Hồng Ngọc hát …

“Lò Nguyễn Đức” là tên mà người ta thường gọi lớp dạy hát do ông mở tại Saigon hồi đó. Các ca sĩ kể trên đến với “Lò Nguyễn Đức” khi còn bé, được ông dạy những thanh âm đầu tiên, đưa vào ban Việt Nhi trên đài phát thanh, chăm sóc và dìu dắt trên bước đường ca hát.

Một số ca sĩ do ông đào tạo, mang nghệ danh khởi đầu bằng Phương. Về chuyện này, nhạc sĩ Nguyễn Đức giải thích:
Dạ, cái đó thì ai cũng thắc mắc, luôn cả mấy đứa học trò mang họ Phương nó cũng thắc mắc, và mãi tới nay, có nhiều đứa chưa biết. Như thế này: Hồi khi xưa, có một em tên Phương 12 tuổi, đẹp lắm và hát rất hay. Tôi rất mến em đó. Một hôm, em đó xin phép đi về Đà Lạt thăm bố mẹ trong vòng hai tuần, sẽ trở lại. Nhưng không dè, chừng một tuần thì cha mẹ nó cho biết là nó đã mất vì bệnh thương hàn. Tôi thương nó nên tôi muốn là những em nào xuất thân trong giai đoạn đó, thì sẽ mang họ Phương. Một số các em sau khi học xong lớp nhạc của tôi, xin “Phương” làm cái họ để kỷ niệm những ngày học với tôi, những ngày hát được thành công của các em, muốn mượn cái tên để làm kỷ niệm. Tôi sẵn sàng cho các em đó có tên Phương đứng đầu.

Học trò đầu tiên mang tên Phương, là Phương Hoài Tâm. Sau này thì có Phương Minh Nguyệt, Phương Thảo Ngọc, Phương Diễm Hạnh, Phương Hồng Diễm Mai nữa …

Thy Nga : Các học trò cũ có giữ liên lạc với ông không?
Nguyễn Đức : Dạ thưa, vẫn liên lạc và thân mật. Tôi thấy ngày càng gần nhau nhiều hơn. Có lẽ vì tuổi đời tôi xế chiều cho nên vào giờ chót, các em đứa nào cũng mến tôi. Và tôi cũng vậy, mỗi lần mà tôi nghe các em hát trong dĩa hát hoặc DVD thì … xin lỗi cô Thy Nga, tôi khóc đó.

Biến cố tháng Tư 1975 xảy tới, cuộc sống của nhạc sĩ Nguyễn Đức bị đảo lộn, như bao nhiêu người khác.Tới năm 1991 thì ông cùng gia đình sang Canada định cư ở Toronto. Chỉ một thời gian ngắn (là không đầy hai năm), ông bắt tay vào việc mở lớp dạy nhạc. Lớp này đến lớp khác, từ trong nước ra hải ngoại, số nhạc sinh là bao nhiêu, ông không nhớ nổi, chỉ biết là rất nhiều. Học trò cũ gọi ông một cách thân tình là “Anh Hai Nguyễn Đức”. Họ thỉnh thoảng điện thoại hỏi han sức khỏe, và khi có dịp đến Toronto thì lại thăm ông, như Phương Hồng Quế mỗi lần sang Toronto hát, đều không quên tới thăm thày.

Vào tháng 5 năm ngoái, nhân sinh nhật nhạc sĩ Nguyễn Đức, Phương Hồng Quế đã cùng Phương Hồng Ngọc phối hợp với các học trò của ông ở Canada, tổ chức buổi vinh danh Thày. Cuộc họp mặt này của “đại gia đình văn nghệ Nguyễn Đức” còn có Thanh Lan, Hoàng Oanh, và Kim Loan từ Đức sang.

“Chúc Xuân” nhạc bản của Thanh Sơn, Nhóm Tam Phương trình bày …

Về cuộc sống của “Tam Phương” thì Phương Hoài Tâm rời Việt Năm năm 75 sang định cư ở Mỹ. Tới năm 88, mở cơ sở về thẩm mỹ, và kinh doanh mỹ phẩm ở San Jose.
Phương Hồng Ngọc sang Pháp năm 85. Tới năm 89, qua Mỹ sinh sống tại Houston, Texas. Phương Hồng Quế qua Mỹ tháng 3, 1991 định cư tại vùng Quận Cam làm dịch vụ lữ hành, địa ốc, mở tiệm bán hoa, …Và khi chương trình này đến với quý thính giả thì hai tiếng đồng hồ nữa, Phương Hồng Quế sẽ đóng góp tiếng hát trong đại nhạc hội gây quỹ giúp thương binh và quả phụ Việt Nam Cộng Hòa, tổ chức tại Quận Cam, thủ phủ của người Việt tỵ nạn.

“Giờ này anh ở đâu” …

Thy Nga xin kết thúc chương trình, và hẹn tái ngộ quý thính giả vào kỳ tới.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH 

(Quảng cáo về Lớp Nhạc Nguyễn Đức từ bìa sau một bản nhạc rời in trước 1975)  

NS Nguyễn Đức và MC Trần Quốc Bảo, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc, Hoàng Oanh …

MC của chương trình: Trần Quốc Bảo
Ban Nhạc: The Liberty Band (chơi thường trực trên sk Thuý Nga Paris By Night)
Chương Trình Vinh Danh Nhạc Sĩ Lão Thành Nguyễn Đức 78 tuổi – May 11, 2007

Mở đầu, MC Trần Quốc Bảo dẫn khán giả ngược dòng thời gian về lại tuổi thơ SG của những năm xa xưa bằng màn chiếu Slide Show với hình ảnh của Ban Rạng Đông, Ban Việt Nhi, Tam Ca Sao Băng, v.v. Riêng có 1 đoạn video clip ngắn, không có ghi chú tên tuổi của ca sĩ nhí nào hát bài “Làng Tôi” của ns Trung Quân. Trong clip nhạc này, nhạc sĩ Nguyễn Đức chơi Guitar, cô ca sĩ nhí đứng hát bài “Làng Tôi” và các bạn học quây quần xung quanh nhìn rất dễ thương. Một vị khán giả trung niên ngồi kế bên tôi nói đùa là “em bé” đứng hát đó chắc bây giờ ít nhất cũng “5 bó”. Lần lượt, khán giả được xem những hình ảnh giá trị của các cô Phương, Tam Vân, Thanh Phong, Hoàng Oanh, Thanh Lan, Quốc Dũng v.v. Theo lời của MC Trần Quốc Bảo thì lớp học của nhạc sĩ Nguyễn Đức ngày càng đông. Quá đông, cho nên ông chia Ban Việt Nhi ra thành nhiều lớp Việt Nhi với các độ tuổi khác nhau. Thời đó, hằng ngày ns Nguyễn Đức nhận được trên cả ngàn lá thư của các phụ huynh từ khắp miền Nam và miền Trung, muốn cho con em của mình theo học nhạc với thầy Nguyễn Đức. Và trong số những khán giả tối đêm nay, không ít người cũng đã từng là học trò của các lớp nhạc Nguyễn Đức ở SG ngày trước.

Bắt đầu phần ca nhạc, MC Trần Quốc Bảo mời khán giả hãy quên đi là mình đang ở trong một banquet hall sang trọng ở nước ngoài mà hãy thả hồn về với SG năm cũ… Vào lúc 3 giờ chiều… bật radio lên… và ca khúc mở đầu chương trình Ban Rạng Đông của ns Hùng Lân vang lên. Các “em bé” trong gia đình nhạc sĩ từng người bước lên sân khấu và hoà ca bài hát dễ thương này. Các “em bé” đều mặc áo trắng quần tây rất chỉnh tề. Theo lời đùa của MC Trần Quốc Bảo thì “em bé” nhỏ nhất trong nhóm hát bài này trên sân khấu đêm nay cũng hơn “5 bó”.

Đó là các em Kim Loan, P.H.Quế, P.H.Tâm, P.H. Ngọc, Thanh Lan, Hoàng Oanh, Xuân Kiều. Các ca sĩ cũ trong ban Việt Nhi và các ca sĩ mới trong gia đình nhạc sĩ Nguyễn Đức ở hải ngoại tiếp tục với những ca khúc vui tươi như “Sáng Rừng”, “Ghé Bến Sài Gòn”, “Đoàn Lữ Nhạc”… Ban Việt Nhi tiếp tục với nhạc phẩm Valse kỷ niệm “Trường Làng Tôi” của ns Phạm Trọng. Thanh Lan và Xuân Kiều song ca bài “Tiếng Sáo Thiên Thai” của ns Phạm Duy. Thanh Lan tâm sự là Xuân Kiều và Thanh Lan ko những là thành viên trong ban Việt Nhi mà còn học chung trung học, rồi ĐH Văn Khoa. Sau đó, Xuân Kiều không trở thành ca sĩ chuyên nghiệp mà trở thành xướng ngôn viên, có đời sống gia đình rất êm đềm và hạnh phúc.

Sau vài tiếc mục vui nhộn đầu tiên, các học trò của thầy Nguyễn Đức mời thầy lên ngồi “ghế vua” để các học trò cám ơn, chúc thọ, và cắt bánh sinh nhật lần thứ 78. Tất cả hoà ca bài “Ly Rượu Mừng” rất xúc động. Nhạc sĩ Nguyễn Đức được các học trò của ông gọi là “Anh Hai”. Theo cs Hoàng Oanh thì lối xưng hô này không biết do ai khởi xướng, chỉ biết là học trò của ông, ai cũng gọi ông là “Anh Hai” và gọi vợ ông là “Chị Hai”.

Các học trò ở hải ngoại thay nhau lên hát mỗi người một bài. Các tiếng hát của học trò gia đình ns Nguyễn Đức khá chuẩn. Những giọng hát hay trong số này có thể kể đến Từ Lê, Đoan Nguyên, Tuấn Tài, và Xuân Hải.

Trong phần gặp gỡ các học trò cũ tề tựu về đây, MC Trần Quốc Bảo nhắc lại nhiều kỷ niệm vui buồn qua lời kể của các thành viên. Thanh Lan thì nói là chiều đến là Kim Loan “dẫn” Thanh Lan và Phương Hoài Tâm đi học ở nhà ns Nguyễn Đức. Sau khi học xong, thì các cô hay la cà ở khu chợ Bến Thành để chọc các cặp tình nhân hò hẹn. Các cô hay rình phía sau lưng các cặp đang hò hẹn chuyện trò, bất ngờ cùng nhau “hù” một tiếng rồi bỏ chạy. Mấy cô cũng lí lắc quá trời. Đúng là “nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò” MC Trần Quốc Bải cũng nhắc đến cs Phương Hồng Loan (or Lan?). Cô là vợ của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Sau năm 1975, cô cùng 2 đứa con lên tàu vượt biên mà ko đến được đất liền. Tin cô mất tích trên biển là năm 1978.

Sau khi giải lao 15 phút, MC Trần Quốc Bảo giới thiệu phần dạ vũ với cs Kim Loan mở đầu bằng ca khúc điệu paso doble “Ta Vang Ca Vui” của ns Văn Phụng. Tiếng hát cô Kim Loan còn rất bốc lửa. Cô tiếp tục với bài “Đêm Đông” của ns Nguyễn Văn Thương.

Phương Hồng Quế hát Phố Đêm. Cô nói là “Anh Hai” Nguyễn Đức là người đánh đàn guitar và “dợt” cho cô bài này. Và cũng chính bài hát này, cô đã được mọi người biết đến. Sau Phố Đêm của ns Tâm Anh là Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn. Giọng P.H. Quế vẫn tình tự và liêu trai như thuở nào.

Thanh Lan tiếp tục chương trình với “Bang Bang (Khi Xưa Ta Bé)”. Không biết Thanh Lan hát bài này bao nhiêu lần trong đời ca hát của mình rồi mà hầu như khi nào cô không hát “Bang Bang” trước thì cũng phải “Em Đẹp Nhất Đêm Nay”… chắc để đóng đinh cái “trade-mark” Thanh Lan trong lòng khán giả trước rồi sau đó hát bài nào cũng được. Sau “Bang Bang”, cô hát tiếp “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”. Cô hát cả hai bài đều hay. MC Trần Quốc Bảo nói Thanh Lan lên sân khấu hát là “chắc ăn như bắp”, nhất là hát nhạc khiêu vũ như tối hôm nay.

Trần Quốc Bảo giới thiệu Hoàng Oanh. Con chim vàng trong gia đình ns Nguyễn Đức. Hoàng Oanh tâm sự là thật ra cô xuất thân từ ban Tuổi Xanh của cô Kiều Hạnh. Nhưng sau khi Tuổi Xanh không còn hoạt động nữa thì cô gia nhập ban Việt Nhi. Và cũng từ Việt Nhi, cô học được kỹ thuật hát rất vững vàng, giúp ích cho sự nghiệp ca hát cũng như sự tự tin của cô khi trình diễn rất nhiều. Hoàng Oanh hát một liên khúc nhạc Boléro gồm những bài hát đã gắn liền với tên tuổi của cô như “Chuyện Chúng Mình”, “Ngày Sao Sẽ Ra Sao”, “Chuyến Tàu Hoàng Hôn” … Cô hát tiếp bài “Mưa Trên Phố Huế”.

MC Trần Quốc Bảo giới thiệu ca sĩ sau cùng trong nhóm các cô mang họ Phương trước khi Sài Gòn thay đổi. Cô ca sĩ “Cẩm Hồng” Phương Hồng Ngọc. Phương Hồng Ngọc hát “Bông Hồng Cài Áo” của Phạm Thế Mỹ và tiếp theo là “Trở Về Cát Bụi” của ns Lê Dinh. Đã lâu không nghe cô hát. Rất bất ngờ, đêm nay nghe cô hát rất hay. Hình dáng và giọng ca của cô không thay đổi theo thời gian. Có lẽ, cô là người hát hay nhất tối hôm nay.

Ca sĩ “khách” lên hát giúp vui có Nguyễn Hưng và Nguyễn Hưng Long (con trai của Nguyễn Hưng). Hai bố con ca sĩ này “quậy” tưng bừng sân khấu với những ca khúc kích động.

MC Trần Quốc Bảo giới thiệu Kim Loan qua ca khúc yêu cầu “Căn Nhà Ngoại Ô” của Lê Minh Bằng. Cô hát bài đơn ca thứ 3 của đêm nay khá tốt. Cô hát bài này rất xúc động. Cô phiêu lưu theo từng câu hát, chắc cô nhớ đến một không gian xa xưa của SaiGon, với quê hương kỷ niệm.

Tam Ca P.H. Quế, P.H. Ngọc, và P.H. Tâm kết thúc chương trình với liên khúc Twist vui nhộn. Âm thanh của “Lính Đa Tình” và “Sáu Mươi Năm Cuộc Đời” vang lên. Thấy cô Kim Loan và cô Thanh Lan ra sàn nhảy để Twist cùng mọi người rất vui nhộn.

Phút tạm biệt, thầy trò gia đình Nguyễn Đức vòng tay ôm nhau, chia sẻ, xúc động.

Lâu lắm mới được thưởng thức 1 đêm ca nhạc rất đặc sắc, ấm cúng. Ban nhạc Liberty chơi rất hay. Con trai của nhạc sĩ Nguyễn Đức là tay trống trong ban nhạc Liberty này. Ra về, mới thấm thía câu nói của nhạc sỹ Nguyễn Đức là không biết bao giờ mới có được cơ hội hợp mặt như ngày hôm nay để được nghe những giọng hát kỷ niệm.

UtLem
(Toronto, Canada)

Ca sĩ Hoàng Oanh chúc mừng Thầy Nguyễn Đức, đứng bên cạnh là ca sĩ Kim Loan

Phương Hồng Ngọc, Thanh Lan, Phương Hoài Tâm

Ban Tam Phương: Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc

Tài liệu từ nhiều websites trên internet, đặc biệt từ: khanhly/phoxua; chương trình Âm Nhạc Cuối Tuần của RFA do Thy Nga thực hiện; và bài viết từ Nhạc sĩ: Trường Kỳ, Trần Chí Phúc và Phan Ni Tấn …

   XIN VUI LÒNG GỞI THÊM TÀI LIỆU & Ý KIẾN XÂY DỰNG VỀ PHAN ANH DŨNG: dathphan1@gmail.com

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1244&Itemid=47

Cát Linh, phóng viên RFA / Hà Chương, nhạc sĩ khiếm thị tô màu cho âm nhạc


 Hà Chương, nhạc sĩ khiếm thị tô màu cho âm nhạc

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-05-31
Nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương biểu diễn đàn guitar.

Nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương biểu diễn đàn guitar.

Courtesy photo VTV3

Cát Linh xin được kể câu chuyện về người nhạc sĩ sáng tác và hát qua lăng kính của ánh sáng không màu, đó là Hà Chương, một nhạc sĩ khiếm thị, người vào chung kết của cuộc thi Tìm kiếm tài năng Việt 2014.

Cho đến khi bài tạp chí âm nhạc cuối tuần lần này được gửi đến quí thính giả thì Cát Linh vẫn chưa quên cảm giác lần đầu tiên được nghe và nhìn thấy Hà Chương ôm đàn kể câu chuyện “Cõng mẹ đi chơi” bằng âm nhạc, một bài hát của nhạc sĩ Trần Quế Sơn.

Với ca khúc này, Hà Chương đã một dấu ấn khó phai với tất cả những ai có mặt trong đêm diễn hôm đó. Rất nhiều người đã khóc. Người trình diễn cũng ôm đàn và khóc sau khi kết thúc bài hát. Và cũng chính bài hát này, đã góp phần đưa Chương vào vòng chung kết của chương trình tìm kiếm tài năng Việt 2014.

Tuy rằng trong gia đình không có ai đi theo con đường sáng tác, nhưng riêng Hà Chương đã bộc lộ năng khiếu âm nhạc của mình từ rất sớm. Hãy lắng nghe Chương nói về mình:

“Hà Chương sinh ra trong một gia đình không có ai theo nghệ thuật hết. Quê của Chương ở Quảng Ngãi. Lúc sinh ra mắt của Chương bị cận thị thôi, nhưng đến năm 2 tuổi thì tự động không nhìn thấy nữa. Và không biết nguyên nhân vì sao. Lúc nhỏ Chương là một người rất thích hát. Nghe mẹ Chương kể là lúc 5 tuổi đã thuộc rất nhiều làn điệu dân ca của nơi Chương ở là khu 5, thuộc rất nhiều làn điệu của bài chòi.”

Làm quen với cây đàn guitar từ năm 7 tuổi, khi mà ngón tay chưa đủ lớn và rộng để trải đủ các hợp âm, nhưng Chương vẫn ôm đàn và học bấm những nốt cơ bản. Cho đến năm 12 tuổi, khi vào học ở trường dành riêng cho người khiếm thị, trường PT chuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu ở Đà Nẵng thì Hà Chương mới chính thức bước vào con đường học nhạc một cách hệ thống. Và đến năm 2004, Hà Chương trở thành sinh viên trường Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam, khoa nhạc cụ truyền thống. Tuy chọn khoa đàn bầu là chuyên ngành dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Hồ Hoài Anh, nhưng Chương có thể chơi rất nhiều nhạc cụ khác nhau, trên 10 nhạc cụ như đàn tranh, guitar, piano, sáo, những nhạc cụ trong đờn ca tài tử.

“Một lợi thế của Hà Chương là khi đi học được học nhạc sĩ Hồ Hoài Anh là một người đánh đàn bầu rất giỏi và anh cũng là người sáng tác những ca khúc rất nổi tiếng. Đó cũng là con đường Hà Chương đi cho đến bây giờ, hai thầy trò đi cùng chí hướng là học về nhạc cụ dân tộc nhưng làm nhiều về nhạc nhẹ và sáng tác.”

Lúc sinh ra mắt của Chương bị cận thị thôi, nhưng đến năm 2 tuổi thì tự động không nhìn thấy nữa. Và không biết nguyên nhân vì sao. Lúc nhỏ Chương là một người rất thích hát. Nghe mẹ Chương kể là lúc 5 tuổi đã thuộc rất nhiều làn điệu dân ca của nơi Chương ở là khu 5, thuộc rất nhiều làn điệu của bài chòi

Hà Chương

Hiện tại Hà Chương đã sáng tác khoảng hơn 100 ca khúc với nhiều thể loại khác nhau, rất đa dạng, pop ballad, R&D, dance, và cả rock.

Tác phẩm Welcome to Vietnam được kết hợp giữa đàn bầu và phong cách nhạc hiện đại DJ. Tác phẩm này được Hà Chương và cùng 3 nghệ sĩ DJ thể hiện nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngoại giao Anh – Việt.

Đề tài trong sáng tác của Hà Chương rất đa dạng. Đó có thể là:

“Ngoài những bài về tình yêu, Chương còn viết những bài về thân phận con người, về xã hội dành riêng cho những bạn thiệt thòi hoặc những bạn khuyết tật.”

Hầu như với tất cả ca, nhạc sĩ, những người mà có lẽ cả cuộc đời của họ gắn liền với ánh đèn muôn màu muôn vẻ của sân khấu. Và hơn thế nữa, hạnh phúc mỗi đêm của họ là nhìn thấy những chiếc ghế không còn chỗ trống trong những đêm diễn. Nhưng với Hà Chương, thì anh chỉ cảm nhận niềm hạnh phúc đó qua tiếng vỗ tay vang dội bên dưới sân khấu.

“Hà Chương chỉ phân biệt được sáng tối chứ không thấy được màu sắc hay thấy được đường đi.”

Nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương biểu diễn đàn bầu
Nhạc sĩ khiếm thị Hà Chương biểu diễn đàn bầu


Tuy thế, Hà Chương không bi quan và không xem cho đó là một bất công của số phận. Mà ngược lại, giai điệu trong âm nhạc của anh rực rỡ những mảng màu hy vọng. Cũng như khi viết về đề tài những thân phận thiệt thòi trong xã hội, anh không cho phép mình đặt vào đó sự bi luỵ. Đối với Hà Chương, anh nghĩ rằng mình nên mở ra cho các bạn ấy một động lực gì đó, tuy không may mắn hoặc gặp trắc trở trong cuộc sống nhưng hãy luôn yêu đời, vươn lên, vì xung quanh còn rất nhiều sự đồng cảm, yêu thương nên hãy luôn có sự lạc quan trong cuộc sống để tìm thấy niềm vui của mình.

Hà Chương không bi quan và không xem cho đó là một bất công của số phận. Mà ngược lại, giai điệu trong âm nhạc của anh rực rỡ những mảng màu hy vọng. Cũng như khi viết về đề tài những thân phận thiệt thòi trong xã hội, anh không cho phép mình đặt vào đó sự bi luỵ

“Tôi có người bạn xa quê lên phố.

Xa tuổi học trò vì nhà đông em.

Tôi có người bạn yêu hoa đồng nội.

Nhưng chỉ biết hoa qua mùi hương bay.

Tôi có người bạn đi bằng hai tay.

Ước mơ đến trường để vẽ mây bay…

…Ôi những người bạn thân thương hiền hoà

Hãy đến với nhau bằng lòng bao dung…”

(Ca khúc ‘Bạn tôi’ – Hà Chương sáng tác )

Một trong những sự lạc quan đó là quyết định tham gia cuộc thi Tìm kiếm tài năng Việt 2014. Nói về điều này, Chương cho biết.

“Chương có 1 điều kiện là đi dạy rất nhiều, trong đó có những học sinh khuyết tật. Chương muốn thông qua cuộc thi này mình cũng là một hình ảnh đại diện cho những bạn khuyết tật, nói lên tiếng nói của những người khuyết tật, là tuy mình có những khiếm khuyết gì đó trên cơ thể mà mình vẫn có thể làm được những điều như những người bình thường, vẫn làm được những việc như những người bình thường làm được.”

Những lời tâm tình từ Hà Chương đúng thật sự mang giai điệu của một tâm hồn hạnh phúc. Hạnh phúc ấy đến từ âm nhạc là điều hẳn nhiên, nhưng người nghe sẽ còn cảm nhận tròn vẹn hơn nữa khi Chương nhắc đến một người.

“Đó là bà xã của Hà Chương, tên là Hải Yến. Lúc quen nhau thì Chương đang học tại nhạc viện Hà Nội và Yến thì đang ở Đà Nẵng. Ở xa như vậy thì bắt buộc phải có rất nhiều động lực, niềm tin. Trong cuộc sống Yến chia sẻ với Chương rất nhiều mặc dù nghề nghiệp không tương đồng.”

Công bình mà nói thì chưa hẳn Chương là một tài năng duy nhất, hay một tiếng hát đặc biệt nhất và cũng không hẳn tiếng hát của Chương sẽ đủ chất hay và lạ để thuyết phục hoàn toàn vị giám khảo khó tính trong một cuộc thi lớn. Thế nhưng, nếu ai đã một lần nhìn và nghe Chương hát, thì sẽ nhận ra thế giới xung quanh mình là một thế giới đầy màu sắc, cho dù chính bản thân Chương chỉ có thể biết đến hai màu trắng và đen.

“Ngày xanh thắm êm đềm nhẹ nhàng.

Làn tóc ngắn ánh mắt dịu dàng.

Môi thắm, với tiếng nói như lời chim non.

Bàn chân bước con phố như hát.

Tà áo trắng sáng thiên thần.

Và em qua đây hương thơm nhẹ vương cho tôi mơ màng.”

(Ca khúc ‘Xin cảm ơn em’ – Hà Chương sáng tác )

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/blin-musi-composer-05302015142458.html