THẾ THANH : Những ước mơ cuối cùng của giáo sư Trần Văn Khê


Những ước mơ cuối cùng của giáo sư Trần Văn Khê

24/06/2015 – 10:32 AM
GS.TS Trần Văn Khê đã qua đời vào lúc 2 giờ 55 phút ngày 24.6, thọ 94 tuổi. Con người nức tiếng đa tài trong giới văn hóa Việt Nam và quốc tế ấy từ những ngày đầu tháng 6.2015 đã buộc phải nằm thoi thóp trên giường bệnh.
GS.TS Trần Văn Khê tại tư gia (32 Huỳnh Đình Hai, Bình Thạnh, TP.HCM). Ảnh: Nguyễn Á

1. Những người thân cận, gần gũi biết rằng vậy là cuộc chiến đấu của ông chống lại bệnh tật và tuổi già đã đi đến những giây phút cuối cùng. Nhưng chỉ ông và các bác sĩ mới hiểu rõ, trong khi gần như toàn bộ cơ thể ông đã hỏng, theo nghĩa không cứu vãn được nữa, thì cái đầu lại nói không. Sự minh mẫn và tỉnh táo đã đưa ông đến những mong muốn, mà ông gọi là ước mơ, có thể nói là cuối cùng của cuộc đời mình. Ông mong muốn khi phải chia tay thế giới này sẽ được an táng theo nghi thức của Phật giáo, mặc dù ông thừa nhận mình không theo một tôn giáo nào.

Không biết có phải vì ông tìm thấy trong Phật giáo tiếng kinh kệ tiễn đưa con người sang thế giới khác rất gần gũi với dòng âm nhạc dân tộc mà ông trọn đời gắn bó? Thế nên ông căn dặn ban nhạc lễ do NS. Nhất Dũng học trò ông phụ trách phải phối hợp với người chủ tế là Thượng tọa Lệ Trang sao cho nghi thức an táng được hài hòa giữa phần kinh và phần nhạc. Ông còn cẩn thận nhắn nhủ những người bạn thân đồng điệu và môn sinh của ông khi tổ chức một dàn nhạc đờn ca tài tử để hòa tấu trong tang lễ ông thì mỗi hơi của điệu thức chỉ cần đánh một vài bài và việc biểu diễn trong tang lễ cần ngắn gọn để không chiếm nhiều thời gian.

2. Giáo sư Trần Văn Khê còn ước ao thành chữ, rằng sau khi ông ra đi vĩnh viễn, các thủ tục vào đọc sách, tham khảo tư liệu trong thư viện Trần Văn Khê (khánh thành năm 2012 và đặt tại nhà ông) được dễ dàng cho những người cần đến đây đọc và nghiên cứu.

Vị giáo sư – tiến sĩ 94 tuổi, đã quá gần đất xa trời nhưng đầu óc vẫn còn rất tỉnh táo để dặn những người đã chia sẻ cuộc sống với ông suốt gần mười năm qua tại ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai quận Bình Thạnh rằng, tất cả những hiện vật gắn bó với đời sống nghề nghiệp của ông do ông mang từ Pháp về như sách vở, báo chí, phim ảnh, đĩa hát các loại, các nhạc khí, máy ghi hình, ghi âm, cassette, máy chuyển tư liệu nghe nhìn, tranh vẽ, hình ảnh đều phải giao lại cho người của nhà nước đến tiếp nhận và điều hành ngôi nhà như một nơi lưu giữ các kỷ niệm hoạt động của ông vì cộng đồng.

GS.TS Trần Văn Khê cùng các học sinh tiểu học trong một chương trình âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Á

Khi nhắn gửi mong ước đó, hẳn giáo sư Trần Văn Khê không thể quên được một ngày của tháng 5.2004, trong buổi làm việc với Ban giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin TP.HCM (nay là Sở Văn hóa – Thể thao), ông đã nói những lời gan ruột: “Trong quãng đời còn lại, tôi tâm nguyện được chuyển tất cả “gia tài văn hóa” liên quan đến việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật dân tộc Việt Nam mà tôi đã tích lũy trong sự nghiệp hoạt động văn hóa nghệ thuật cả đời tôi từ Paris, Pháp về TP.HCM với mong muốn giúp ích phần nào cho lớp trẻ trong nước về kiến thức văn hóa dân tộc. Tôi mong muốn được thành phố bố trí một nơi ở đủ không gian để trưng bày sách vở, tài liệu, vật dụng nghệ thuật mà tôi mang từ Pháp về; để tiếp tục hoạt động nghiên cứu, trao truyền kiến thức cho lớp trẻ thông qua các cuộc giao lưu, nói chuyện, trình diễn, quảng bá âm nhạc dân tộc; để tiếp tục góp phần kết nối hoạt động nghiên cứu nghệ thuật trong và ngoài nước. Khi tôi “trăm tuổi”, căn nhà và toàn bộ hiện vật trong nhà sẽ giao lại cho nhà nước quản lý”.

Cũng trong buổi làm việc đó, Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin khi ấy – bà Trương Ngọc Thủy đã thống nhất với giáo sư Trần Văn Khê: mong ông nhanh chóng sắp xếp đóng gói các tài sản văn hóa nghệ thuật dân tộc của cá nhân ông ở Pháp để chuyển về thành phố càng sớm càng tốt. Sở Văn hóa sẽ cử cán bộ nghiệp vụ đến giúp ông tiếp nhận, kiểm kê, phân loại và xây dựng kế hoạch bảo quản, trưng bày, đưa vào sử dụng các hiện vật do giáo sư mang về đồng thời chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo: tiếp nhận, quản lý và phát huy tốt các di sản do giáo sư để lại khi ông “trăm tuổi” vì mục đích phục vụ nhu cầu của xã hội. Từ buổi làm việc ấy, gần hai năm sau, các cơ quan chuyên môn của thành phố và chính quyền quận Bình Thạnh mới tìm được ngôi nhà ưng ý để cấp cho giáo sư Trần Văn Khê làm nhà bảo quản, trưng bày hiện vật và nơi ở với tính chất nhà công sản (theo quyết định của UBND TP.HCM ban hành ngày 5.1.2006 và quyết định số 41 của Sở VH-TT TP.HCM ban hành ngày 6.1.2006).

GS.TS Trần Văn Khê cả một đời đau đáu theo đuổi để tôn vinh, phát huy và quảng bá giá trị âm nhạc dân tộc ra thế giới. Ảnh: Nguyễn Á

3. Tập quán của dân tộc về việc phúng điếu người đi về cõi vĩnh hằng cũng tác động tới một trong những ước mơ cuối cùng của giáo sư Trần Văn Khê. Ông phân biệt rất rạch ròi với người thân trong nhà: khi ông nằm xuống, “chi phí lo tang lễ thì sử dụng tiền mặt của tôi hiện có tại nhà, nếu thiếu thì Trần Thị Thủy Ngọc con gái út của tôi sẽ lấy tiền trong sổ tiết kiệm của tôi tại Việt Nam để chi phí. Riêng tiền phúng điếu thì ban tang lễ có thể sử dụng để lập một quỹ học bổng hoặc giải thưởng Trần Văn Khê hàng năm trao cho người có công trình nghiên cứu tốt về âm nhạc truyền thống Việt Nam”.

Biết ông là người khí khái, luôn e ngại phiền lụy người khác và cũng biết rõ rằng một trí thức cả đời hưởng lương nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc như ông hoàn toàn không phải là người giàu có, dù sống hơn nửa thế kỷ ở nước ngoài nên từ khi ông trở bệnh nặng, gia đình ông đã nhận được nhiều lời đề nghị tặng tiền rất thành tâm từ các tổ chức, cá nhân với mục đích góp phần vào các khoản chi trả. Thành phố đã lo toàn bộ tiền chữa trị. Ban Tuyên giáo Thành ủy gửi gia đình 50.000.000 đồng; các ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, Quang Linh, Lệ Quyên và một số ca sĩ khác gửi đến 50.000.000 đồng (tính đến ngày 15.6.2015).

Các con ông đã thống nhất với nhau, tính toán sao cho chi phí hợp lý để số tiền được gửi đến từ bá tánh còn có thể làm được quỹ học bổng hoặc giải thưởng như mơ ước của ông. Bản thân các anh chị là con cháu trong gia đình cũng có thể đóng góp vào quỹ này.

4. Cả một đời đau đáu theo đuổi để tôn vinh, phát huy và quảng bá giá trị âm nhạc dân tộc ra thế giới, đến khi sắp nhắm mắt xuôi tay, giáo sư Trần Văn Khê vẫn không nguôi ước mơ những điều tốt đẹp để nghệ thuật dân tộc trong đó có âm nhạc dân tộc được trường tồn và phát triển. Người như ông bây giờ hiếm.

NGUYỄN THẾ THANH

 Vài nét về sự nghiệp của GS.TS Trần Văn Khê 

GS.TS Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang), trong một gia đình bốn đời là nhạc sĩ. Cả hai bên nội ngoại của Trần Văn Khê đều có nhiều người thạo chơi nhạc, viết nhạc. Trần Văn Khê từ sáu tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), tám tuổi biết đàn cò (đàn nhị), mười hai tuổi biết đàn tranh và đánh trống nhạc.

GS.TS Trần Văn Khê. Ảnh: Nguyễn Á

Sau khi hoàn thành xuất sắc chương trình tú tài vào năm 1941 tại Sài Gòn, Trần Văn Khê nhận học bổng của chính phủ thuộc địa ra Hà Nội học đại học y khoa (1941-1944). Chính vào thời gian này đã hình thành mối tâm giao về âm nhạc, về trách nhiệm của thanh niên với nước nhà giữa ông với sinh viên – nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, người bạn học của ông ở trường trung học Trương Vĩnh Ký – Sài Gòn.

Từ năm 1944-1949, Trần Văn Khê vừa làm giáo sư tư thục tại Sài Gòn và Cần Thơ, vừa làm ký giả báo Thần Chung và Việt Báo.

Năm 1949, ông sang Pháp với nhiệm vụ phóng viên, từ đó bắt đầu quá trình học tập và làm việc lâu dài tại Pháp. Ông đã tốt nghiệp trường Chính trị Paris, Khoa quan hệ Quốc tế vào năm 1951. Vì bị bệnh nặng ông phải nằm bệnh viện suốt ba năm sau đó. Ngay sau khi ra viện, Trần Văn Khê đã theo học khoa âm nhạc Đại học Paris và tháng 6.1958 trở thành người Việt Nam đầu tiên đậu bằng tiến sĩ nghệ thuật âm nhạc tại Đại học Sorbonne hạng tối ưu với lời khen ngợi của hội đồng chấm thi. Luận án tiến sĩ của Trần Văn Khê với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” trong đó nhấn mạnh đến âm nhạc cung đình Huế và âm nhạc tài tử miền Nam.

Từ sau khi đậu bằng tiến sĩ về âm nhạc học, Trần Văn Khê đã liên tục hoạt động và có nhiều cống hiến trong lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, quảng bá âm nhạc dân tộc tại Pháp và hơn 20 trường đại học của các quốc gia trên thế giới:

Thành lập Trung tâm Nhạc học Đông phương tại Paris chuyên dạy các môn âm nhạc truyền thống châu Á theo phương pháp truyền khẩu và truyền ngón (năm 1959). Tại đây ông làm nhiệm vụ giám đốc nghệ thuật và chuyên dạy đờn ca tài tử (tranh, kìm, cò) với sự cộng tác của hai con là Trần Quang Hải và Trần Thị Thủy Ngọc. Suốt 30 năm, trung tâm này đã đào tạo được trên 150 sinh viên Pháp và các nước am hiểu về nhạc tài tử Việt Nam.

Làm việc tại Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp từ chức vụ khởi đầu là tùy viên đến giám đốc nghiên cứu với chuyên ngành ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam, đặc biệt trong đờn ca tài tử và các cách chuyển hệ (Metabole); so sánh âm nhạc đờn ca tài tử với âm nhạc thính phòng của nhiều nước khác ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ.

Với sự trợ giúp quốc tế, đã xuất bản (gần như đầu tiên) một đĩa hát về nhạc cung đình Huế và một đĩa hát về âm nhạc tài tử miền Nam – trong đĩa đó có bài Tứ đại oán và bài Vọng cổ.
Với chức vụ nhà nghiên cứu âm nhạc quốc tế, ông đã được mời giảng dạy nhạc học trong chuyên khoa dân tộc nhạc học của Đại học Sorbonne Paris và nhiều đại học trên thế giới. Từ những năm 1968-1972 đặt trọng tâm nghiên cứu các kịch nghệ châu Á như: Kinh kịch của Trung Quốc; Nôh, Kabuki của Nhật Bản; Pansori (Triều Tiên); hát chèo, hát bội, hát cải lương của Việt Nam.

Đã có trên 200 bài viết về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc châu Á được đăng trong các tạp chí chuyên môn của nhiều nước, đặc biệt là những bài viết của Trần Văn Khê cho tờ Courrier de L’Unesco được dịch ra 14 ngôn ngữ khác nhau.

Đã thực hiện 25 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và vài nước châu Á để phổ biến trên thế giới.

Cố vấn đặc biệt cho Ủy ban Thành lập hồ sơ về đờn ca tài tử để gửi UNESCO.

Từ năm 2006, GS.TS Trần Văn Khê về ở hẳn trong nước. Chính quyền TP.HCM đã bố trí một căn nhà ở quận Bình Thạnh để ông sống, làm việc những năm cuối đời. Tại đây, với rất nhiều tư liệu nghiên cứu quí giá bằng sách, sổ ghi chép và băng dĩa, ông đã cùng các cán bộ của ngành văn hóa TP.HCM và những người cộng sự gần gũi xây dựng Thư viện Trần Văn Khê phục vụ nhu cầu nghiên cứu âm nhạc dân tộc; đã cùng các cộng sự tổ chức hàng trăm buổi biểu diễn, nói chuyện, giao lưu với công chúng – nhất là công chúng trẻ về âm nhạc dân tộc Việt Nam với nhiều loại hình đặc trưng cho các vùng miền; đã tiếp đón nhiều nhân vật chính trị, văn hóa, ngoại giao của Việt Nam và các nước. Nơi ở của ông gần mười năm qua đã thực sự trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc, thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều người trong và ngoài nước.

GS.TS Trần Văn Khê đã được tặng nhiều danh hiệu và phần thưởng của thế giới và Việt Nam vì tài năng và những đóng góp về âm nhạc dân tộc mang tính quốc tế. 

http://nguoidothi.vn/vn/news/van-hoa-giai-tri/doi-nghe-si/5228/nhung-uoc-mo-cuoi-cung-cua-giao-su-tran-van-khe.ndt

 

Tin, bài liên quan:

» Nhà Trần Văn Khê ở Sài Gòn

» Nghĩ từ thư viện Trần Văn Khê

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VỚI CÔNG CUỘC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÃ NHẠC – ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAM


GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ- NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VỚI CÔNG CUỘC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NHÃ NHẠC – ÂM NHẠC CUNG ĐÌNH VIỆT NAM

Cập nhật ngày: 26/06/2015 08:13:09

Theo thông tin từ gia đình và qua báo chí truyền thông, vào lúc 02 giờ 55 sáng ngày 24.6.2015, Giáo sư Trần Văn Khê đã qua đời tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh.

 
GS. Trần Văn Khê

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), là con cả của một gia đình có bốn đời nhạc sĩ. Từ lúc nhỏ ông đã tỏ ra là người có cảm nhận đặc biệt về âm nhạc; lên 6 tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), tám tuổi biết đàn cò (đàn nhị), 12 tuổi biết đàn tranh, đánh trống nhạc…

Ông sang Pháp năm 1949, học tại trường Đại học Sorbonne ở Paris. Năm 1949, học tại Viện Khoa học Chính trị Paris. Năm 1951, tốt nghiệp Khoa học Chính trị, Khoa Giao dịch Quốc tế. Từ 1954 đến 1958, học Đại học Văn Khoa Paris, Viện Âm nhạc học. Năm 1958, ông là người Việt đầu tiên đỗ tiến sĩ hạng Tối ưu tại Khoa Âm nhạc học với Đề tài luận án “La Musique Vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Sau khi hoàn thành Luận án Tiến sĩ  về Âm nhạc Truyền thống Việt Nam năm 1958, Giáo sư giảng dạy tại Đại học Sorbonne 28 năm liền. Sự nghiệp nghiên cứu Âm nhạc của Giáo sư bắt đầu từ năm 1959, không chỉ âm nhạc truyền thống Việt Nam mà còn âm nhạc truyền thống của các dân tộc khác ở Châu Á.

 Giáo sư là thành viên của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Pháp, và Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO từ năm 1960. Sau đó là Phó chủ tịch của Hội đồng này, đồng thời từ đó đến khi qua đời là Ủy viên Danh dự của Hội đồng Âm nhạc Quôc tế. Ngoài ra, Giáo sư còn là Viện sĩ Thông tấn của Viện Hàn Lâm Châu Âu về Khoa học, Nghệ thuật và Văn chương,  thành viên của Viện Khoa học Pháp cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức và còn được công nhận là Tiến sĩ Danh dự của nhiều trường đại học.

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới, dự  hàng ngàn hội nghị, hội thảo, diễn đàn  để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

 
 Giáo sư Trần Văn Khê tại lễ khai giảng lớp đào tạo nhạc công Nhã nhạc. Huế, tháng 2/2006

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc (có một số hiện vật tư liệu quý về Huế và Nhã nhạc cung đình Huế cũng đã được Giáo sư trao tặng cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế để lưu giữ nghiên cứu và nhân bản).

 

Giáo sư là một nhà nghiên cứu văn hóaâm nhạc truyền thống nổi tiếng ở Việt Nam. Ông là tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne – Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO. Ông là người có công đặc biệt trong quảng bá văn hóa Việt Nam nói chung và âm nhạc Việt Nam nói riêng, trong đó có Nhã nhạc-Âm nhạc Cung đình Việt Nam, đến với công chúng thế giới.

Từ năm 1961, Giáo sư và Cố nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã bắt đầu để công sức tìm hiểu nghiên cứu về Nhã  nhạc Cung đình Huế. Hai người đã đi tìm và mời các nghệ nhân, nhạc công cung đình còn sống thời đó để ghi âm, ghi hình Âm nhạc Cung Đình Huế và làm bộ đĩa về Nhã nhạc Cung đình và Ca Huế (do Barenreiter-Musicaphone xuất bản với mã số BM.30 L.2002), dành được 2 giải thưởng lớn của Đức (năm 1969 Giải thưởng lớn về Đĩa hát lĩnh vực Dân tộc Âm nhạc học – Deutscher Shall Platten Preis) và Pháp (Năm 1970, giải thưởng lớn về Dân tộc nhạc học của Hàn Lâm Viện Đĩa hát Pháp -Académie du Disque Francais ). GS. Trần Văn Khê là người từ đầu đã tích cực vận động UNESCO nhìn nhận Nhã nhạc Cung đình Huế. Theo ông, để trở thành một di sản phi vật thể của nhân loại, ngoài giá trị lịch sử và nghệ thuật, Nhã nhạc còn cần được nhà nước sở tại chứng minh đã có nhiều nỗ lực bảo tồn và phát huy, ngoài ra, cần phải chuẩn bị cho được một bộ hồ sơ giải trình hoàn chỉnh đòi hỏi nhiều công sức nghiên cứu, biên soạn. Về mặt này, Nhã nhạc cung đình Huế còn nhận được sự hỗ trợ tận tình của bà Noriko Aikawa, nguyên Giám đốc Vụ Văn hóa phi vật thể của UNESCO lúc đó, qua các liên hệ thường xuyên giữa bà và GS Trần Văn Khê từ năm 1994, ở Paris lẫn tại VN.

Tháng Ba năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể vùng Thừa Thiên Huế tại Huế. Trong một cuộc họp tiểu ban nghệ thuật, Giáo sư Trần Văn Khê cùng các giáo sư Việt Nam là Trần Quốc Vượng và Tô Ngọc Thanh, các giáo sư Nhật Bản là Tokumaru và Yamaguti, Giáo sư người Philippines Jose Marceda đệ trình UNESCO và Chính phủ Việt Nam về một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã Nhạc cung đình Huế.

Sau đó Bộ Văn hóa Thông tin và tỉnh Thừa Thiên Huế đã giao cho Trung tâm BTDT Cố đô Huế lập Hồ sơ Ứng cử Quốc gia Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO đề nghị công nhận là Kiệt tác Di sản Phi Vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại (giai đoạn 2001 – 2002). Trong thời gian lập hồ sơ, mặc dù tuổi đã cao, sức khỏe không còn tốt, nhưng giáo sư vẫn lặn lội về lại Việt Nam để cùng các thành viên Nhóm lập Hồ sơ của Trung tâm BTDTCĐ Huế và các chuyên gia tư vấn khác xem xét điều chỉnh nội dung và các tư liệu cần thiết bổ sung kịp thời theo yêu cầu của UNESCO, góp phần cho sự thành công của bộ hồ sơ để rồi vào ngày 7 tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc – Nhạc Cung đình Việt Nam đã được UNESCO vinh danh là Kiệt tác Di sản Văn hóa Phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại (từ năm 2008 được UNESCO hợp nhất thành danh hiệu Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại).

 
 GS. Trần Văn Khê cùng GS. Tô Ngọc Thanh và Nghệ nhân Trần Kích tại Nhà hát Duyệt Thị Đường

Vào đầu năm 2004, GS đã cùng với đoàn đại diện của UBQG UNESCO Việt Nam, Bộ VHTT và UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và đoàn  nghệ sĩ của Nhà hát Truyền thống Cung đình Huế giới thiệu và biểu diễn Nhã  nhạc tại Trụ sở của UNESCO tại Paris, các thành phố lớn của Pháp và thủ đô của Bỉ gây tiếng vang lớn trong công chúng châu Âu, góp phần to lớn cho việc giới thiệu quảng bá văn hóa Việt Nam tại Châu Âu.

Sau khi Nhã nhạc được UNESCO công nhận, với tâm huyết và kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn gìn giữ âm nhạc dân tộc, Giáo sư lại tiếp tục cùng tỉnh Thừa Thiên Huế và Trung tâm biên soạn Kế hoạch Hành động Quốc gia bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạcÂm nhạc cung đình Việt Nam để đề nghị UNESCO tài trợ.  Với những nỗ lực không mệt mỏi trên, Dự án thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia này đã được UNESCO chấp thuận tài trợ với tổng kinh phí 154.900 USD,  thực hiện trong giai đoạn 2005-2009. Giáo sư được mời tham gia dự án với tư cách là cố vấn danh dự và trực tiếp thực hiện các bài giảng, giới thiệu  Nhã nhạc trong các hoạt động của dự án.

Trong khuôn khổ dự án này, Giáo sư đã trực tiếp cùng GS Tô Ngọc Thanh, Nghệ nhân Lữ Hữu Thi, nhạc sĩ Lê Toàn, Nhà nghiên cứu Văn Thị Minh Hương và đội ngũ cán bộ giảng viên của Trường Nghệ thuật Văn hóa đào tạo 18 nhạc công Nhã nhạc trẻ trong 2 năm nhằm cung cấp một lực lượng nhạc công Nhã nhạc trong tương lai có đủ kiến thức về văn hoá và kỹ năng nghề nghiệp để bổ sung cho Nhà Hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế (thuộc Trung tâm BTDTCĐ Huế), nhằm duy trì và bảo tồn bền vững giá trị đích thực của Nhã nhạc.

Trung tâm BTDTCĐ Huế đã mời Giáo sư cùng các nghệ nhân nhã nhạc thực hiện 6 đợt tập huấn (mỗi đợt kéo dài 4-5 ngày) cho 180 lượt nhạc công trẻ của Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế; tổ chức 6 buổi buổi nói chuyện có minh hoạ hình ảnh và tiết mục biểu diễn minh họa của GS.TS. Trần Văn Khê dành cho sinh viên, học sinh các cấp ở thành phố Huế (Trường Thống Nhất, Nguyễn Tri Phương, Nhà văn hóa thiếu nhi Huế, Trường Cao đẳng Sư phạm Huế, Trường Đại học Nghệ thuật và Trường Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế); tổ chức 1 tọa đàm tập huấn dành cho giáo viên một số trường tiểu học ở khu vực Huế, cung cấp kiến thức về Nhã nhạc và phương pháp giảng dạy âm nhạc truyền thống cho các giáo viên dạy nhạc hướng dẫn giáo viên phương pháp để học sinh có thể lĩnh hội và cảm nhận được giá trị âm nhạc truyền thống, đặc biệt đối với Nhã nhạc. Ngoài ra GS đã phối hợp với Trung tâm thực hiện 01 đĩa giới thiệu một số tiết mục biểu diễn Nhã nhạc và Múa Cung đình chọn lọc với lời giới thiệu do đích thân  GS.TS. Trần Văn Khê, (có phụ đề tiếng Anh và tiếng Pháp). Giáo sư còn tặng Trung tâm các tư liệu quý liên quan đến Nhã nhạc do GSTS Trần Văn Khê sưu tầm trước đó gồm một số tư liệu viết, tư liệu nghe nhìn để lưu trữ và nhân bản phục vụ cho công tác nghiên cứu và trưng bày giới thiệu quảng bá.

Trong khuôn khổ các hoạt động quảng bá về Nhã nhạc của dự án này, Giáo sư đã cùng đoàn nghệ sĩ của Trung tâm đi lưu diễn ở Pháp (các thành phố Paris, Lyon, Marseilles năm 2004), Ý (thành phố Torino năm 2006) và Nhật Bản (Okinawa năm 2009). Các chương trình biểu diễn, với phần giới thiệu do đích thân GS.TS Trần Văn Khê trình bày, đã gây được sự quan tâm sâu rộng và tạo tiếng vang lớn đối với công chúng yêu âm nhạc ở các nước này. Trong lĩnh vực giới thiệu, diễn giải về âm nhạc truyền thống Việt Nam, có thể có một số người giới thiệu rất hay và minh họa rất hấp dẫn về đề tài này, nhưng để giúp công chúng hiểu được một cách dễ dàng nhất về âm nhạc truyền thống và Nhã nhạc, tạo sự phấn khích, đam mê tìm hiểu đối với người nghe thì chỉ duy nhất có Giáo sư Trần Văn Khê. Trong các buổi giới thiệu Nhã nhạc tại các quốc gia và tại các cơ quan, trường học ở Việt Nam, với cách diễn đạt thật tuyệt vời; vừa rất dí dỏm lại rất uyên bác, cùng với khả năng chơi được nhiều loại nhạc cụ truyền thống khác nhau để minh họa cho phần giới thiệu của mình, và lại có thể diễn đạt trực tiếp bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, Giáo sư đã thực sự thổi bùng lên ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc cũng như Nhã nhạc Cung đình Huế  trong tâm trí của các đối tượng công chúng ở trong cũng như ngoài nước.

Giáo sư Trần Văn Khê từng được Giải thưởng lớn Hàn lâm Viện Đĩa hát Pháp, Giải thưởng Đại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970, tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Đại học Ottawa (Canada, 1975), Giải thưởng lớn về Âm Nhạc UNESCO và Hội Đồng quốc tế Âm nhạc (1981), Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Cấp Officier, Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp tặng (1991), Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật Bản, năm, 1995), Tiến sĩ danh dự về Dân tộc Nhạc học Đại học Moncton (Canada, 1999), Huy chương Vì Văn hoá Dân tộc của Bộ Văn hoá Việt Nam trao tặng năm 1998, Huân chương Lao động hạng nhất do Chủ tịch Trần Đức Lương trao tặng năm 1999, Giải thưởng Đào Tấn do Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trao tặng năm 2005,  Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu năm 2011. Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã trao tặng Bằng khen và huy hiệu Người tốt Việc tốt cho Giáo sư  vào các năm 2004 và 2006.

Là đơn vị trực tiếp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạc – Âm nhạc Cung đình Việt Nam, đồng thời cũng là đơn vị sát cánh cùng Giáo sư Trần Văn Khê trong hành trình bảo vệ gìn giữ giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam trong nhiều năm qua, toàn thể lãnh đạo và cán bộ viên chức, các nghệ sĩ, nhạc công và diễn viên của đơn vị xin bày tỏ sự tri ân và lòng thương tiếc vô hạn đối với Giáo sư Trần Văn Khê, người đã dành cả cuộc đời mình để thắp lên ngọn lửa yêu thương âm nhạc dân tộc đến với nhiều thế hệ và là người góp công lớn trong việc nghiên cứu, giảng dạy, truyền bá, để bảo tồn và phát huy giá trị của Nhã nhạc.

Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

http://www.hueworldheritage.org.vn/TTBTDTCDH.aspx?KenhID=0&ChuDeID=0&TinTucID=2285&l=vn

THÁI KIM LAN : TRẦN VĂN KHÊ – THIÊN TÀI NHÂN ÁI


4:16-01/07/2015
Trần Văn Khê – Thiên tài nhân ái
Thái Kim Lan

Nhạc sĩ Trần Văn Khê với tác giả bài viết Thái Kim Lan
Trần Văn Khê! Ấy chính là nhà! Là mái nhà cho vô số chúng sinh. Thầy che hết, che mà không che, chỉ bằng tiếng đàn, giọng hát, trí nhớ vô song! Biết bao nhiêu thiên tài trên quả đất, biết bao nhiêu danh nhân hào kiệt anh hùng, sáng ngời sử sách, nơi Thầy lại ấm tình nhân ái lạ thường! Nơi Thầy tài bỗng là tình, và tình hóa nên tài.
Từ xa nhận được hung tin Thầy nhập viện trong tình trạng nguy cập, tôi nôn nóng muốn về, hi vọng được gặp lại Thầy. Anh Nguyễn Nhã [giáo sư sử học] bảo chỉ trong 48 tiếng, anh bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc lắc đầu bảo cũng không lâu. Nhưng tôi hi vọng, cái hi vọng của con tim mù lòa, mong có lúc Thầy tỉnh lại, ngồi dậy và cười với chúng tôi rồi nói một cách tươi vui “Các em ơi, Thầy thắng rồi”. Như có lần cách đây 10 năm Thầy đã thắng cơn đau thập tử nhất sinh để khi gặp mặt, Thầy bảo Diêm Vương sợ Thầy rồi, bảo về dương gian thôi và cười giọng cười Nam bộ rất đắc.

Về đến Sài Gòn gặp chị Hỷ Khương [ái nữ của nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị] với đầu cúi xuống, nụ cười không còn tươi rói như ngày nào, thấy thương, nghe anh Nguyễn Nhã trầm tĩnh ở đầu dây có chút chi mừng, gặp anh Đỗ Hồng Ngọc tự tại nhưng cười hơi gượng, đêm về lại lo, nghe Thanh Thúy [Chủ tịch Hội quán Các bà mẹ] giọng như khàn hơn mọi khi, thấy sợ. Gặp Hoàng Anh [người mẫu Huế và nghệ nhân ẩm thực] ở đầu dây trong lúc Sài Gòn bốn bề xe kẹt, bỗng nghe hi vọng như “echo” một thời trẻ dại… Mà cô ấy có lý khi bảo tôi rằng, chị ơi Thầy đang giả đò… chết… để dọa tụi mình”. Cô ấy nói mà nghe nước mắt chạy quanh. Thầy, con người vui sống, thích sống, mạnh mẽ sống, vượt trên mọi sóng gió gian truân, cho đến khi ngồi xe lăn vẫn còn vun vút đi khắp mọi miền, làm sao chết được? Thầy sống! Bỏ hết mọi lý luận khôn ngoan, tôi níu câu nói trẻ nít của Hoàng Anh mà về Huế lo công việc.Tôi tin, Thầy sống mãi, “Hổ nhớ rừng”, chúa tể sơn lâm giả vờ ấy thôi, như khi ở München năm 2002 ấy, ngồi trong phòng trọ thong dong, Thầy phất tay áo hát “truyền nhị vị phu nhân, mau mau vào chầu thánh thượng a!” Và cả đoàn hát bội Bình Định, từ Chi Manh (nữ nghệ sĩ ưu tú Hòa Bình) cho đến Lộ Địch, cho đến Hỷ Khương Hoàng Anh đến phủ phục quanh Thầy, huyên náo cười đùa, vui như… hát bộ.

Điều gì làm cho lũ chúng tôi, những đứa vô danh, lại có thể vui đùa hớn hở quanh một nhân vật mà cả bốn bể đều cho là phi thường, từ Nam chí Bắc cho là thiên tài họa hiếm, đã từng chinh phục khán thính giả năm châu yêu âm nhạc kịch nghệ, đã lừng danh dùng sở học uyên bác về nghệ thuật của mình che chở cả hồn dân tộc? Điều gì cho phép lũ trẻ con (đã già như chúng tôi) vừa cười mếu máo cho rằng Thầy chỉ giả vờ, chứ Thầy sống mãi!?

Trần Văn Khê! Ấy chính là nhà! Là mái nhà cho vô số chúng sinh. Thầy che hết, che mà không che, chỉ bằng tiếng đàn, giọng hát, trí nhớ vô song! Biết bao nhiêu thiên tài trên quả đất, biết bao nhiêu danh nhân hào kiệt anh hùng, sáng ngời sử sách, nơi Thầy lại ấm tình nhân ái lạ thường! Nơi Thầy tài bỗng là tình, và tình hóa nên tài. Cái tình của Thầy đối với mỗi người tế nhị và tinh chất như khi tay lựa từng phím đàn tìm ra tiếng tơ qua dấu nhấn, tưởng như hồn nhiên thả tiếng, nhưng chính là chạm được nỗi đau, nỗi niềm của người bên cạnh, để nhịp nối là cảm thông, xúc động là nhịp cầu bước tới người.

Khi gặp Thầy lần đầu tại München (1973), Thầy còn là một nghệ nhân thành danh, trước hàng trăm khán giả, nhã nhặn khiêm cung rất mực trong tiếng hoan hô. Đến và đi nhẹ nhàng, tuồng như chỉ là tao ngộ nhất thời. 26 năm sau (1999) gặp lại trong cuộc hòa thơ nhạc tại nhà chị Hỷ Khương ở Thùy Khương trang, Huế, bỗng giật mình khi nghe người nghệ sĩ tưởng như chẳng nhìn ai ấy, lại có thể nhìn kỹ, nhớ kỹ và mô tả tỉ mỉ một con người chỉ gặp một lần. Mô tả ấy lại ý nhị vô cùng, không nhìn lên mà biết người ấy vừa đang lúng túng bên ngoài vừa đầy tâm bệnh bên trong. Cho nên nhắc, nhớ kỷ niệm là phương pháp vi tế chữa bệnh cho người, trong lúc tay vẫn nhấn dây tơ. Bất ngờ cơn bệnh trầm kha bỗng chốc tan theo cùng với tiếng đàn. Có lẽ tôi chỉ là một trong hàng nghìn, ức triệu hay “tỉ tỉ” (để nói như chị Hỷ Khương) trường hợp với Trần Văn Khê trong cảm thông nhân ái, từ đó đi suốt đời người. Tính nhân ái ấy không xa hoa, không ồ ạt vồn vập mà như dòng nước thấm sâu, tựa như tiếng đàn âm thầm tìm đến cố nhân.

30 năm sau (2002) trở lại München cùng với đoàn hát bội Bình Định lưu diễn vở tuồng Lộ Địch, Thầy lại là người ôm tất cả mọi người vào trong lòng, âm thầm ủy lạo và khích lệ đoàn hát xa nhà, sát cánh với anh em nghệ nhân và ngay cả người tổ chức. Phải nói một lời cho rõ, cuộc lưu diễn nếu không nhờ tài thuyết diễn đầy đam mê, tài hoa và tài tình nhất mực của Trần Văn Khê không thể thành công đến thế. Cuối cùng khán giả lại chạy theo Trần Văn Khê để tìm để biết hồn nhạc Việt Nam. Trần Văn Khê, trái tim và tiếng nói Việt Nam, như cuộc phỏng vấn trên đài München dội vang. Riêng tôi đội ơn Thầy vạn bội cái tình mẫn cảm, luôn che chở cho tôi làm tròn công việc, đứng trên sân khấu cùng với khán giả hòa hợp đồng tình.

Và từ đó Trần Văn Khê trở nên một người thầy ẩn mật truyền đạo cho tôi, hầu như là không lời, ngay cả khi Thầy viết hay nhận xét về tôi, thì những lời ấy chỉ là bên ngoài, bên trong Thầy như đã nắm tay chỉ cho tôi dấu vết con đường nhân ái mà Thầy đang đi, ấm áp, thuần nhị và vi tế vô cùng, vi tế như tiếng tơ Thầy thường gảy khúc cho chúng tôi nghe. Tìm và nghe mãi cho đến khi tỉnh giấc mê lầm và thấy được con người thuần chất ấy.

Cuối cùng tôi đã thấy được, 40 mươi năm sau (2013), tôi là khán giả của cuộc trò chuyện thơ nhạc Hàn Mạc Tử và Phạm Duy tại Huế mà Trần Văn Khê là người giới thiệu. Trên sân khấu, mắt tôi được đổ đầy hình ảnh của hai lão nhân nghệ sĩ bậc nhất của Việt Nam nói chuyện thơ nhạc. Một cuộc trùng phùng kỳ lạ. Một ông lão 90 nói về một ông già 90, nhưng họ trẻ, sức sống họ tràn đầy, tài hoa của họ sáng rỡ. Tôi mở mắt to muốn thu hết từng chi tiết, từng cử động của mỗi người, như quay cho tôi một cuốn phim. Bỗng nhiên Trần Văn Khê choáng ngợp võng mô tôi. Con người nức tiếng ấy, thân xác dềnh dàng ấy, trong vai trò giới thiệu, như đang tự làm bé lại, để ca ngợi, nâng cao người bạn tài hoa của mình, vụt lớn tràn mắt tôi, làm mờ tất cả những người chung quanh. Trần Văn Khê năm 1973 đi qua với tiếng đàn hờ hững trong tôi, mãi 40 năm sau 2013 tôi mới thấy được Trần Văn Khê, thấy trái tim của ông- một chữ hầu như là sáo ngữ, mà tôi phải dùng – trái tim Bồ Tát hành thâm bát nhã ba la mật đại từ bi, bên trên tính toán ai tự hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Âm nhạc trên hết không chỉ ca ngợi yêu thương, mà yêu thương thật tình, yêu con người từ trong trứng nước.

Thiên tài Einstein cuối đời nhận ra được “Thay vì sử dụng công thức E = mc2, ta chấp nhận rằng, năng lượng hàn gắn thế giới có thể đạt được bằng tình yêu được sản sinh với tốc độ ảnh sáng bình phương, thì chúng ta hoàn toàn có thể đi đến kết luận: Tình yêu chính là một lực mạnh vô song, bởi nó không hề có bất kỳ giới hạn nào (Thư gửi con gái)”
Einstein! Xin ông hãy làm một quả bom Trần Văn Khê nhân Trần Văn Khê lên tỉ tỉ lần, nói như chị Hỷ Khương!

6 giờ sáng ngày 29/6 Hoàng Anh gọi cho tôi bảo đang đi đưa Thầy về cõi Nhạc Trời. Tôi ngồi đây, gạt lệ chia tay.

Huế 29/6/2015

Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu, giảng dạy âm nhạc cổ truyền nổi tiếng, có công lớn trong việc quảng bá âm nhạc Việt Nam ra thế giới.

Ông sinh năm 1921 ở tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được dạy đàn kìm, đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như “Lưu Thủy”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”.

Khi còn là học sinh trường Trung học Trương Vĩnh Ký, ông đã cùng Lưu Hữu Phước, Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc của học sinh trong câu lạc bộ học sinh Scola Club của hội SAMIPIC và là người chỉ huy hai dàn nhạc đó.

Năm 1949, ông sang Pháp du học. Tháng 6/1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne, trở thành tiến sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp. Luận văn của ông có tên: “La Musique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam), trong đó dành rất nhiều trang cho âm nhạc cung đình.

Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris).

Ông đã đi 67 nước trên thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam, trong đó có nhã nhạc Huế, đờn ca tài tử, và đặc biệt là ca trù. Theo Nghệ sĩ đàn đáy Nguyễn Văn Khuê, người sinh ra trong gia đình có bảy đời theo nghiệp ca trù, GS Trần  Văn Khê có công rất lớn trong việc tìm lại những nghệ nhân ca trù đích thực của Việt Nam để giới thiệu ra thế giới. Ông cũng là người đến tận gia đình các nghệ nhân thu thập tài liệu về ca trù để hình thành một công trình lớn, giúp sau này UNESCO công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam và qua đời ngày 24/6/2015 tại TP Hồ Chí Minh. Ông cũng là người đã hiến tặng cho TP Hồ Chí Minh 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.
Ông từng được trao tặng nhiều giải thưởng, trong đó có Giải thưởng Âm nhạc của UNESCO ở Hội đồng Quốc tế Âm nhạc (Prix UNESCO – CIM de la Musique, 1981); Huy chương về Nghệ thuật và Văn chương của Bộ Văn hóa Pháp (Officier de l’Ordre des Arts et des Lettres, Ministère de la Culture et de l’Information du Gouvernement français, 1991); Giải thưởng Phan Châu Trinh về nghiên cứu (2011)…

TS tổng hợp

http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=8805