ĐỨC TRIẾT : Diễn chèo ở sân đình


​Diễn chèo ở sân đình

31/08/2015 12:15 GMT+7

TT – Lúc 18g ngày 5-9, vở chèo Quan Âm Thị Kính được biểu diễn tại đình Tháp, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội sẽ là buổi diễn đầu tiên của dự án Tiếng trống chèo 2015.

Vở chèo cổ Kim Nham sẽ được biểu diễn trong dự án Tiếng trống chèo 2015 – Ảnh: Đức Triết

Dự án sẽ được tiếp tục với hai buổi diễn cũng vào lúc 18g các ngày 12 và 19-9, lần lượt với các vở chèo Lưu Bình – Dương Lễ (tại đình Tứ Liên, Tây Hồ), Kim Nham (tại đình Xuân Tảo, Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm). Đây là những đêm chèo được biểu diễn nguyên vẹn theo mô hình sân khấu, đạo cụ, hóa trang của lối diễn trò cổ.

Tham gia các đêm diễn cùng với những nghệ sĩ đã thành danh như Kim Liên, Bá Dũng, Phú Kiên… còn có các nghệ sĩ tài năng trẻ của Nhà hát Chèo VN như Hà Thảo, Thục Hiền, Thái Sơn…

Tiếng trống chèo 2015 là dự án do Nhà hát Chèo VN phối hợp với Tổ chức Tôi xê dịch thực hiện bằng nguồn quỹ được gây dựng từ sự ủng hộ của cộng đồng và hoàn toàn phi lợi nhuận. Khán giả quan tâm có thể liên hệ để ủng hộ và đặt chỗ qua số điện thoại 01688962332.

ĐỨC TRIẾT

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/am-nhac/20150831/dien-cheo-o-san-dinh/961224.html

CÁT LINH / phóng viên RFA : 50 NĂM PHONG TRÀO NHẠC TRẺ, radio RFA, USA


50 năm phong trào nhạc trẻ

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-08-30
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963

Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963

File photo

Nếu lấy mốc thời gian của thập niên 60-70s thì đã 50 năm từ ngày phong trào nhạc ngoại quốc, nhạc ngoại quốc lời Việt, mà gọi chung là nhạc trẻ du nhập vào Việt Nam. Những chàng hippy tóc dài, quần ống loe ngày xưa giờ đây có người đã trở thành thiên cổ, có người tóc đã trắng như vôi. Thế nhưng, có lẽ chưa bao giờ trong tâm hồn của họ quên đi được thời kỳ hưng thịnh nhất của nền nhạc trẻ Việt Nam.

Nhân dịp “Cuộc hội ngộ 50 năm nhạc trẻ” sẽ tổ chức ở Nam California sắp đến, Cát Linh xin mời quí vị cùng quay về thập niên 60-70s, gặp lại những người đã khởi xướng nên ngọn lửa âm nhạc đã trở thành lịch sử của một thế hệ thanh niên 50 năm trước.

“Tôi đã từng sống trong thời kỳ đó, là một người thanh niên, họ rất hoang mang trong cuộc sống và về cuộc chiến tranh, người ta rất hoang mang. Giới trẻ ngày đó người ta nghĩ rằng không biết sống chết ngày nào. Có một phong trào hippy, gọi là big music du nhập vào. Giới trẻ say đắm vào dòng nhạc cuồng loạn để vơi bớt những tâm trạng, những buồn chán, lo lắng của giới trẻ bấy giờ.”

Đó là lời tâm tình của nghệ sĩ Kỳ Phát, một trong những chàng trai hippy đã tạo nên phong trào “Việt hoá nhạc trẻ Việt Nam” khi ông nói về nguyên nhân vì sao những thanh niên thế hệ ấy tìm đến và say mê dòng nhạc trẻ.

Thập niên 60, 70s là thời gian mà cuộc chiến và sự chia lìa là đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong các tác phẩm văn thơ, âm nhạc. Thế nhưng, bên cạnh những bài ca về lính, những ca khúc chinh chiến đau thương, thì nhạc trẻ xuất hiện như một cơn gió thổi bùng ngọn lửa cuồng nhiệt trong tâm hồn của người thanh niên. Nghệ sĩ Kỳ Phát nói rằng trong một khung cảnh xã hội như thế, nhạc trẻ như một liều thuốc phiện đánh tan nỗi hoang mang, lo lắng về cuộc sống chết nay sống mai.

Với nghệ sĩ/nhạc sĩ Nam Lộc, người đã viết nhiều ca khúc ngoại quốc lời Việt trong những năm đó thì ông cho rằng, nhạc trẻ, đơn giản là dành cho người trẻ.

“Đã gọi là giới trẻ thì khi lớn lên, rất tự nhiên, họ thích gì thì họ làm đó. Họ không bị ảnh hưởng nhiều bên ngoài, nghĩa là dù đất nước bị chinh chiến, có chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng bị cô lập trong cái chinh chiến đó mà họ vẫn phát triển ý thích của họ.”

Thời điểm đó, đầu những năm 60s, nhạc trẻ đến từ những bản nhạc Rock n Roll của Pháp, cũng như của Anh, Mỹ và du nhập vào Việt Nam, được giới thanh niên thuộc gia đình giàu có thời ấy ưa chuộng. Bên cạnh những bài tình ca, những ca khúc học trò như nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, hay những giai điệu nhẹ nhàng mà ban nhạc Phượng Hoàng trình diễn thì nhạc trẻ được phổ biến một cách rất tự nhiên.

Những điệu nhạc nhanh, cuồng nhiệt nhanh chóng được giới trẻ đón nhận như một nơi quay về sau những hiện thực mất mát từ cuộc chiến.

Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Kỳ Phát
Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Kỳ Phát

“Vẫn có những cuộc vui xảy ra hàng đêm. Những người lính khi trở về, thay 1 bộ đồ trận, trở về thì sà vào những cuộc vui, 1 phần là sở thích của họ, 1 phần là quên đi những khổ đau vất vả của chiến trường. Tuổi trẻ là như vậy. Nhớ đấy rồi quên đấy. Vui đấy rồi cười  đấy rồi khóc đấy. Nên tôi cho rằng đó nó phản ảnh cái tuổi trẻ trung thực, lúc vui lúc buồn, lúc khổ đau lúc sung sướng. Tuổi trẻ là như vậy.”

Người khởi xướng đầu tiên phong trao nhạc trẻ giai đoạn này là nhạc sĩ Trường Kỳ, người được gọi là ông vua nhạc trẻ, ông vua hippy.

“Trường Kỳ là người tổ chức nhạc trẻ, viết về nhạc trẻ. Khi phong trào hippy phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, về vóc dáng của Trường Kỳ thì anh để tóc dài, để râu giống như những tay hippy ở Mỹ nên người ta gọi anh là vua hippy, vua nhạc trẻ Trường Kỳ.”

Nhạc trẻ được du nhập và được đón nhận như bản năng tự nhiên. Thì cũng như một quy luật, sau khi bị cấm một thời gian ngắn, nhạc trẻ được cho phép hoạt động trở lại. Khi đó, người nghe và người chơi nhạc như thiếu liều thuốc nghiện lâu ngày được thoả mãn sự mong mỏi, thèm muốn với những điệu nhảy và âm thanh cuồng nhiệt. Đó cũng là thời điểm phát triển mạnh nhất của nhạc trẻ.

“Năm 63 là năm đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, thì trước khi đảo chánh, tổng thống cấm tất cả những cuộc vui, cuộc ăn chơi, những tụ họp nhảy đầm của giới trẻ. Khi bị cấm như vậy thì khi mở cửa ra vào tháng 11/1963 cho phép hoạt động trở lại thì như một phong trào bùng nổ mạnh mẽ.”

Kỳ Phát và Trường Kỳ
Kỳ Phát và Trường Kỳ


Khi đó, nhạc trẻ không còn đơn thuần chỉ là nhạc Pháp của các học sinh trường Tây, mà đã có sự gia nhập của nhạc Mỹ, nhạc Anh như Elvis Presley, The Beattles, Bee Gee…và cho đến năm 1965 thì nhạc trẻ ngoại quốc đã ở thời kỳ thịnh hành nhất, đã trở thành một loại thời trang không thể thiếu trong cuộc sống của thanh niên thời đó.

Adieu jolie Candy C’est à Orly Que finissent Les vacances à Paris Adieu jolie Candy Une voix t’appelle C’est l’heure Déjà de t’en aller Dans cet avion Qui t’emmène vers Angleterre

Từ nay cách xa nghìn trùng Người em bé bỏng Anh tiễn em ra mãi tới nơi phi trường. Còn anh khó quên mùa hè Gặp em, tóc thề Anh đã yêu người em tuổi say mê…(Nhạc: Tiễn em nơi phi trường, nhạc Pháp, lời Việt: nhạc sĩ Phạm Duy)

“Đến năm 65, khi những người lính Mỹ đổ bộ vào Việt Nam, họ đem theo luôn cả âm nhạc. Và như vậy, phong trào còn phát triển mạnh nữa. Nào là Mama, Papa…đồng thời các club của người Hoa Kỳ, những người lính Mỹ bắt đầu thuê những ban nhạc của người Việt Nam. Lúc đó ban nhạc trẻ không còn chỉ là thuần tuý trình diễn nhạc trẻ theo ý thích của mình nữa mà bắt đầu có tiền đi phục vụ tại các tụ điểm của người Mỹ, người lính Hoa Kỳ tại Việt Nam.”

Và rồi cũng lại là quy luật. Khi cái gì vượt quá tầm kiểm soát thì sẽ có những phản ứng ngược, mà theo nhạc sĩ Nam Lộc nói rằng:

“Khi phát triển như vậy thì chúng tôi, anh Trường Kỳ và những người bạn khác cảm thấy là đã đến lúc mình cần phải báo động nếu không thì mình sẽ mất giới trẻ đi theo nhạc ngoại quốc mà không đói hoài gì đến nhạc Việt Nam.”

Sự báo động đó là nguyên nhân ra đời của phong trào “Việt hoá nhạc trẻ Việt Nam.”

“Tim em chưa nghe rung qua một lần

Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần

Tình trần mong manh như lá me xanh

Ngơ ngác rơi nhanh…” (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

Từ lúc này, những ca khúc ngoại quốc lời Việt như Trưng Vương khung cửa mùa thu, Chỉ còn là giấc mơ qua do nhạc sĩ Nam Lộc viết lời Việt và các ca khúc nhạc trẻ khác của Lê Hựu Hà do nhóm Phượng Hoàng trình bày như một cách dung hoà giữa nhạc ngoại quốc và ngôn ngữ, văn hoá của Việt Nam.

Ban nhạc Blacks Caps với Paolo Doan là ca sĩ
Ban nhạc Blacks Caps với Paolo Doan là ca sĩ

“Chiều buồn nhẹ xuống đời

Người tình tìm đến người

Thấy run run trong chiều phai.

Vẻ sầu của đoá cười

Tình bền của lứa đôi

Thoáng hương trong chiều rơi…” (Chiều Buồn – Serenade – Lời Việt: Phạm Duy)

Một chi tiết rất thú vị được kể lại từ những chàng trai hippy của thời ấy, đó là trong nhóm nhạc trẻ, đứng đầu là nhạc sĩ Phạm Duy. Ông là người có nhiều ca khúc ngoại quốc chuyển lời Việt nhiều nhất thời ấy. Nghệ sĩ Kỳ Phát nhớ lại rằng

“Tuy ông là một nhạc sĩ cao niên, lớn tuổi nhưng ông rất hoà đồng với loại nhạc trẻ và ông dịch rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng.”

“Làm sao có em để ấm giường êm trong một đêm mềm

Ðể ta ngất ngây một giấc mộng ngoan mơ màng ảo huyền.

Một vòng tay ấm, một ngàn nụ hôn

Ðể ta chết đi rồi tái sinh trong kiếp sống cuồng điên.

Cấu xé lớp da, tấm thân ngọc ngà

Làn tóc bơ phờ, là đó: tình ta…” (Làm sao có anh –The God Father I, lời Việt của Phạm Duy)

Chúng ta ai cũng có một kỷ niệm riêng, một quá khứ riêng cho mình để nhớ về. Nhưng có lẽ tất cả những ai đã lớn lên trong thời loạn ly  chinh chiến đó, thì chắc chắn sẽ có cùng một trời kỷ niệm mỗi khi hát lại những bài hát đó. Những bài hát của phong trào nhạc trẻ sẽ mãi mãi ở sâu trong tiềm thức của những người muôn năm cũ, được họ trân quý cất riêng trong một chiếc vali đặc biệt giữa rất nhiều chiếc vali đã đi cùng họ trong cuộc đời.

ÁI LAN : Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải ở đại nhạc hội BUDAPEST, năm 1949


http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/tho-cho-ban-o-parislich-su-hai-cay-don-da-giup-anh-tranvankhe-doat-giai/766872.html

THƠ CHO BẠN Ở PARIS

Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải

Ba tuần sau khi đăng trân trọng ngay ảnh bìa nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê dự Đại hội âm nhạc sinh viên Budapest (Hunggari), Việt báo số 21-1949 tiếp tục đăng ảnh bìa về người nhạc sĩ trẻ này với bài viết bên trong về hai cây đờn mang đi thi của nhạc sĩ sinh viên Trần Văn Khê.

 tvk trên đường sang Hongrie ghé Thụy sĩ 1949
 
Nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê trên đường sang Thụy Sĩ và Hunggari khi dự Đại hội âm nhạc Budapest (Hungari) – Ảnh bìa Việt báo số 21-1949

Bài viết ký tên Ái Lan, gửi cho một người bạn ở Pháp.

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

.

Bạn NGỌC-LAN, 

​Trong số báo trước, tôi đã hứa với bạn sẽ kể lại lịch-sử hai cây đờn của anh Khê. Chắc bạn đã mỉm cười, nếu bạn không bỉu môi thầm bảo: Lịch-sử quái gì hai cây đờn ấy.

Thì cứ ra chợ Cầu ông Lãnh mà mua, hay là mua lại đờn cũ của ai đó chớ gì.

Vâng, chính thế, nhưng bạn ạ, bạn có biết đâu trong hai cây đàn đó, nó còn ẩn náu bao nhiêu niềm uẩn khúc đầy triết lý của cái nghèo nơi một nghệ-sĩ chơn chánh như anh Khê chẳng hạn.

Vậy, mời bạn hãy đọc dưới đây một mẫu giai thoại… vui vui về hai cây đờn “bạch chãng” của anh Khê, nhưng tôi cấm bạn cười… ra nước mắt đấy!

Tại nhà ở, chúng tôi đang ngồi nói chuyện phiếm để đỡ sốt ruột trong lúc chờ anh Khê và vài người bạn khác, để dự một bữa tiệc tiễn chơn anh Khê sang Pháp, bỗng một tiếng két của chiếc xe xích-lô thắng ngoài ngõ, và tiếp theo một giọng cười đặc biệt của anh Khê là lúc nào cũng hồn nhiên, sung sướng, từ ngoài cửa ném vào. Một người bạn nói khẽ với tôi: “Anh ấy đi đến đâu là mang cả một vũ-trụ lạc quan đến đó”.

Lời phê-bình vắn tắt, nhưng rất đúng. Bạn không thể nào giữ được nỗi buồn, nếu bạn nghe giọng cười của anh Khê một khi đã cất lên.

Trong lúc chúng tôi nói lén anh, thì anh đã bước vào với hai cây đàn, một cũ, một mới. Cây cò còn mới tinh của anh, làm bằng một thứ cây gì trắng tươi như cây thông mà anh Khê gọi là màu “bach chãng”.

Tôi vội thuật lời nói lén của người bạn khi nãy với anh Khê, anh phá lên cười một chuổi dòn tan trong lúc anh cẩn thận đặt hai cây đờn xuống ván. Bỗng anh Khê hạ thấp giọng:

“Không biết giờ này, vợ tôi đã chạy ra tiền đi chợ chưa? Nhà chỉ còn có vài chục bạc, tôi đã lấy hết đi mua đờn từ sáng tới giờ”. Nói xong, anh lại cười, để cho chúng tôi… ra nước mắt!

– Anh mua đờn làm gì mà gấp đến phải vét cả tiền chợ?, tôi hỏi.

Anh Khê cho hay rằng anh định đem hai cây đờn đó sang Pháp đờn bậy chơi. Nhứt là trong lúc ở dưới tàu, linh-đinh trên mặt biển gần trót tháng.

Anh lại cho biết, cây cò anh mua ở Cầu ông-Lãnh, còn cây tranh, anh xin của cậu anh đem về chữa sửa lại mấy chỗ hư hỏng, vì nó đã cũ kỹ.

–  “Chưa đủ, anh phải đem theo một cái lon, hay cái nón lá xe kéo để người ta bỏ xu, khi anh ngồi đờn nơi mấy cái nhà ga xe điện”. Một người bạn nói đùa.

– “Mua thêm cây độc huyền và một cuốn thơ Lục vân Tiên”.

Tất cả các bạn đều rộ lên cười.

Sau khi cười dứt, anh Khê nghiêm trang nói:

“Được chớ! Nếu ngày nào thấy cần, tôi sẽ làm thế”.

– Anh không mắc cở à? Tôi hỏi.

Khê nhìn tôi với đôi mắt trách thiện:

“Tôi làm gì mà mắc-cở? Nghèo, đi đờn mướn, hát dạo, kiếm tiền ăn, học, nếu nghề ấy có thể giúp tôi học”.

Sau khi dùng cơm xong, anh Khê đờn cho chúng tôi nghe trước khi anh lên đường.

Tối hôm ấy, một bác sĩ ở Cholon lại tiễn anh Khê và thết luôn chúng tôi một bữa cơm Tàu. Bộ đồ “vía” của anh Khê để dành mặc trong lúc đặc biệt, được nó trang hoàng vào người anh, huê dạng như… một chánh khách… chầu rìa.

Sau khi ăn uống xong, chúng tôi đón xe “tắc-xi” về Saigon. Trước khi lên xe, anh Khê kê miệng vào tai H… nói nhỏ: “Ê! H trả tiền xe nhé”.

Cách đó vài tháng, chúng tôi được đọc một bức thơ của anh Khê từ Pháp gởi về cho một người bạn tên H. Trong ấy, có một câu đã làm cho tôi cảm động và ghi nhớ mãi: “H… ạ! Sự sống của tôi ở Paris lúc nầy nguy ngặt quá vì số tiền bà gia tôi dự bị để gởi lần cho tôi tạm lúc đầu đã bị gián đoạn, do một việc rủi-ro bất ngờ. Lắm lúc, tôi muốn thực-hành lời nói đùa của các bạn trong buổi tiệc tại nhà P. là đem đờn kéo dạo ở mấy nhà ga. Nhưng bạn ạ! Chỉ vì một lẽ là tôi đã lên diễn đàn mấy lần trong những cuộc lễ của Tổng Hội Sanh Viên V.N tổ chức. Nếu tôi ra ngồi đờn hát như thế, sợ mất thể diện cho Hội. Còn về cá nhân tôi, tôi không ngại gì việc ấy…”

Hôm nay, tôi không ngờ hai cây đờn mà gia-đình anh Khê đã nhịn ăn một ngày để lấy tiền mua nó, nó đã giúp anh Khê đoạt giải nhì về âm nhạc cổ Việt Nam trước mấy ngàn đại-biểu sanh viên quốc-tế ở Budapest.

………./.

TRẦN VĂN KHÊ : TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc


TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU

Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc

Năm 1949, nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê đã “đơn thân độc mã” thi âm nhạc tại Đại nhạc hội Budapest (Hungari) với 70 nước tham gia rất “hoành tráng”. Ngay sau kỳ thi, chàng Trần Văn Khê đã gửi thư về nước báo tin vui. 

 tvk budapest 1949 1
TRẦN-VĂN-KHÊ trước khi Đại Hội Budapest – Ảnh Việt báo 18-1949

Tuần san Việt báo số 18-1949 ở Sài Gòn đã đăng toàn văn lá thư – bài viết này của chàng nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê, ngay sau trang 3 xã luận. Và hình bìa tạp chí là hình nhạc sĩ Trần Văn Khê.

TTO xin mạn đăng bài viết cách đây 66 năm này của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trần Văn Khê mà ngay từ lúc ấy đã có một  tình yêu dân tộc, quê hương mãnh liệt khi “đem chuông đi đấm xứ người”. 

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

 tvk budapest 1949 2
 
Hình bìa tuần san Việt báo số 18-1949

“…Vẫn biết rằng nhờ toàn-dân Việt-Nam đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý-do chánh-trị, họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết-quả gì, nhưng tôi sung-sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quý của chúng ta”. – TRẦN-VĂN-KHÊ

Tại…

Gửi những anh chị em quen biết,

Budapest, 25-8-49

Tôi gởi thơ nầy để các bạn chia vui với tôi và để khoe với các bạn rằng trong kỳ thi đàn cổ với các nước tại Budapest, tôi đã đem GIẢI NHÌ cho Việt-Nam ngang hàng với Mông-cổ, thua Nga mà hơn Lỗ-ma-ni (Rumani) và Hung-gia-lợi (Hunggari).

Hôm tôi được mời lại Phòng Văn-Hóa của Đại-Nhạc-Hội Budapest để bàn về những cuộc tranh tài về nhạc và khiêu-vũ, tôi đã nói với những nhân-viên Phòng Văn-Hóa rằng: Nước Việt-Nam đã xa xôi lại còn đang tranh-đấu giành tự-do thành ra các nhân-tài vì nhiệm-vụ kháng chiến không thể dự Hội-nghị. Chúng tôi là những sinh-viên ở Âu-châu, bất tài, chỉ cố gắng trình-bày phần nào của văn-hóa Việt-Nam, vì đó là bổn-phận của chúng tôi chứ ra mà tranh tài với các nước thì chúng tôi không dám”.

Nhưng nhân-viên Phòng Văn-Hóa nói rằng: “Nếu Việt Nam không tranh tài về các môn đờn piano hay violon thì ít ra Việt-Nam cũng có một lối nhạc cổ đặc biệt và các nước như Mông-cổ, Hung-gia-lợi cũng sẽ đem nhưng cây đàn cổ thô sơ ra dự thi, anh cố gắng để Việt-Nam có thể góp mặt với các nước chớ!”.

Bảo tôi ra tranh tài thì tôi không dám. Nhưng bảo tôi rán dự thi để Việt Nam được góp mặt với các nước thì tôi khó thể chối từ. Thế là tôi nhận lời.

Về nhà tôi nói với anh em:

“Chắc chắn thể nào mình cũng hạng chót, nhưng ít ra trong lúc dự thi và khi có kết-quả, dầu hạng chót đi nữa, mình cũng làm cho tên tuổi Việt-Nam được người ta để ý thêm một chút. Tôi kỳ này thật là “liều mạng già” làm lý ra dự thi để cho tên Việt-Nam được nhắc nhở đến”.

Tuy nghĩ thế nhưng lòng vẫn phập phồng. Và chiều ngày 17-8-49 tôi o cây đàn cò “chết nhát” của tôi lại, gắn cục tòng chỉ cho ngay, thay dây mới, phủi bụi cây đàn tranh và nhấn dây cho nó êm dây. Đúng 4 giờ chúng tôi lại Magyar Synhez mà dự thi.

Trong lúc chờ đợi, tôi nghe người giới thiệu đọc bằng tiếng Nga, Pháp, Anh, Hung rằng hôm nay có những nước Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni, Bảo-gia-lợi (Bungari) và Việt-Nam dự thi về nhạc và khiêu-vũ theo xưa; tôi đâm ra lo.

Đoàn Tiệp-khắc ra sân khấu với trên 80 thanh niên nam nữ hát những bài hát cổ và múa nhưng điệu đặc-biệt theo đồng quê.

Đoàn Bảo-gia-lợi đem trên 100 thanh-niên hợp-xướng những bản xưa và nhảy múa rầm rộ. Lại thêm có giàn nhạc violon đờn theo điệu triganest. Mặc dầu trời không nóng lắm mà tôi toát mồ hôi. Trời ơi! Người ta đi dự thi với hàng trăm người, với bao nhiêu bài hát điệu múa với cả giàn nhạc, mà tôi “đơn thân” với hai cây đàn quèn nầy tôi sợ làm xấu hổ cho Việt-Nam quá. Tôi nhớ lại ân hận rằng không năn nỉ anh Tư Huyện mượn cây đàn-cò cần, để cây đàn-cò bạch chảng của tôi ra sân-khấu dự-thi coi kỳ quá.

Trong khi đoàn Hung-gia-lợi ngoài nhiều lối khiêu-vũ theo xưa còn có thêm một giàn nhạc xưa với cây đàn giống như cây tam-thập-lục với mấy ống sáo bằng đồng bằng cây.

Đoàn Lỗ-ma-ni lựa ra hai người kỳ tài. Một em bé 13 tuổi thổi ông sáo 5 lỗ thổi những bài nhạc xưa giống tiếng sáo của mấy mục đồng đuổi trâu về xóm; một thiếu-nữ chỉ dùng một lá cây mà thổi một điệu nhạc xưa tiếng kêu tương tự như giọng kèn tiểu của nhạc ta. Rồi giàn đờn gồm có mấy cây đàn tam-thập-lục, đàn hình bầu dục như cây tỳ-bà. Thêm vào đấy bao nhiêu điệu múa tưng-bừng.

Chết tôi rồi! Áo tôi ướt đẫm mồ hôi, khi bỏ màn, người giới thiệu ra nói: “Bây giờ đến phiên anh V.K. biểu-diễn cổ nhạc Việt-Nam”.

Trái lại với quang cảnh tưng bừng màu sắc, rầm-rộ với những điệu khiêu-vũ trên sân khấu minh-mông chỉ “đơn thân” và “độc mã” với cây đàn xấu-xí.

Màn kéo lên.

Khán giả hơn ngạc nhiên vì từ 4 giờ tới bây giờ toàn những ban nhạc, những đoàn khiêu vũ bây giờ chỉ một người ngồi với một cây đàn dị kỳ.

Phóng viên các báo chụp hình. Ánh magne-sium làm chóa mắt tôi.

Khi lên dây xong, định thần lại, tôi thấy trên lầu 8 người giám khảo ngồi trước 8 tờ giấy trắng. Thính giả lặng thinh. Tôi nghe tim tôi đập mạnh.

“Cầu xin ông Tổ nhạc giúp cho tôi trong phen nầy”.

Những tay đàn lỗi lạc như Sáu Tửng, Tư Huyện, Sáu Quý, Chín Kỳ,v.v… các anh ở đâu để tôi lãnh trách nhiệm nặng nề là thay mặt cho cổ nhạc Việt- Nam đây?

Tôi bắt đầu rao ít câu. Tôi không rao theo các điệu cải lương. Tôi phỏng theo điệu sa-mạc rồi đặt ra nhiều câu với nhiều ngón run, ngón vuốt.

Hôm nay tôi để cả tâm hồn tôi vào đấy, tôi đàn bực trên rồi xuống bực đưới. Cả rạp im lặng nghe.

Dạo đàn trong 5 phút tôi ngâm 5 câu sa mạc vừa ngâm vừa đàn phụ họa theo. Dứt bài tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp và họ vỗ mãi trong vòng gần 2 phút không ngừng. Tôi hơi vững lòng “lên tinh thần” lấy đàn tranh ra. Tôi nhấn trên một sợi dây đến 9 chữ đàn khác nhau. Phóng-viên các báo lại chụp hình một lần nữa. Tôi rao đàn tranh trong 5 phút lại bắt đầu ca bản “Bắc Cung Ai”. Lại cũng vừa đàn vừa ca. Trước khi ca tôi có cắt nghĩa sơ bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ý nghĩa bài hát: “một thiếu phụ than thân trách phận”.

Tôi cố diễn tả sự đau đớn của thiếu-phụ bằng giọng ngân, bằng chữ nhất, bằng nét mặt, và khi dứt bài một tràng pháo tay vang dậy. Tôi phải trở ra chào thính-giả mấy lượt. Nhưng tôi nghĩ rằng chẳng qua là lối xã-giao chứ so với các giàn nhạc kia tôi còn cho mình kém quá.

Nhưng tôi đã rán hết sức tôi và tôi đã thành công: tôi đã làm được một số thính giả cảm động vì bài hát.

Nhiều phóng-viên các báo Hung, Tiệp, Lỗ đến hỏi tôi về cây đàn cò và đàn tranh và họ nói rằng đây là đầu tiên trong lịch-sử mà cây đàn tranh và đàn cò lên tiếng tại kinh đô nước Hung.

Cùng đi với tôi, anh Nguyễn-ngọc-Hà đờn bản Thiên-Thai bằng “guitare electrique” nhưng khi nhà báo đến hỏi cây đàn gì anh Hà bảo là cây đàn Lục-huyền cầm Hạ-uy-di cho nó có cái tên Việt-Nam. Anh Hà rất được hoan-nghinh với cây đờn ấy và có điều lạ là dân chúng Hung chưa nghe guitare hawaienne lần nào cả và rất thích giọng đàn uốn éo.

Làm xong phận sự, chúng tôi về ra sung sướng ở chỗ VIỆT-NAM CŨNG ĐÃ GÓP MẶT VỚI CÁC NƯỚC KHÁC trong cuộc tranh tài nầy.

Vài hôm sau nước Nga với một nhạc công danh tiếng biểu diễn balalaika và những cây đàn cổ khác, nước Mông Cổ với cây đàn tami lúc khẩy lúc kéo. Nhạc sĩ Mông-cổ kéo rất hay tiếng kêu như tiếng violoncelle.

Đến bữa 24-8-49, sau khi ban giám khảo cọng điểm lại thì cô thông ngôn hối hả chạy cho tôi hay. “Anh Khê này! Bốn giờ chiều nay anh lại Âm-nhạc-viện mà lãnh thưởng. Phòng Văn-hóa vừa cho hay anh được giải thưởng về nhạc. Anh thay đồ đi mau. Tôi có mấy lời khen anh đấy!”.

Thay đồ đi mà tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ mình hạng chót nhưng họ cho giải an ủi hoặc một cấp bằng danh dự chi chi chớ chẳng lẽ mình hơn người ta.

Đến Âm-nhạc-viện thấy bao nhiêu đại biểu các nước ngồi thật. Trên bàn danh dự có Chủ-tịch Thanh niên thế giới, Chủ-tịch sinh viên thế giới, 14 viên giám khảo, các nhạc sư nhạc trưởng các nước.

Hôm ấy, Nga được tất cả 50 giải thưởng đàn violon, đàn piano, hợp xướng, độc xướng, kèn trompette v.v… các anh nhạc sĩ Nga hạng nhứt cả.

Đến phiên cổ nhạc, hạng nhứt anh Garayev (Nga) hạng nhì Biemian (Mông Cổ) và tôi (Việt-Nam), hạng ba Florika (Lỗ-ma-ni) và Beres (Hung-gia-lợi).

Khi kêu đến tên tôi, tôi đi lên sân khấu và trong lúc Chủ-tịch phiên nhóm bắt tay tôi và cả rạp vỗ tay, phóng-viên báo chụp hình, tôi sung sướng vì đại-biểu các nơi không phải hoan-nghinh cá nhân tôi mà hoan nghinh cả một nền cổ nhạc Việt-Nam, tôi sung-sướng vì tôi đã không làm hổ mặt Việt-Nam.

Và nói ra chắc bạn cười tôi sao yếu tánh chớ trong những trường-hợp thế nầy tôi thấy mặt tôi nóng bừng và nước mắt từ đâu tuôn dài theo má khi tôi trở về chỗ ngồi.

Lúc đứng trên sân khấu tôi cố dằn và rán cười nhưng khi về đến chỗ ngồi lại thấy nước mắt đâu nó tuôn ra như thế?

Dở quá bạn nhỉ? Nhưng nhạc-sĩ nào lại chẳng dễ cảm xúc hơn người!

Hôm sau, khi các báo đăng kết quả, khi các đài phát thanh loan báo tin các cuộc tranh tài, nhiều bạn nhạc-sĩ các nước tìm tôi hỏi thăm về âm-nhạc Việt-Nam, về những cây đàn cổ. Tiếc rằng tôi không có những cây đàn sến, đàn kìm, đàn tỳ bà, đàn độc huyền để cho họ biết thêm, vì khi qua Pháp tôi chỉ đem được có hai cây đàn cũ mua lại của người ta. Nhưng hiện giờ tôi quí hai cây đàn ấy lắm. Chúng nó đã giúp tôi trong khi tôi trình bày cổ nhạc Việt-Nam và hôm 24-8, có lẽ tôi đã sống được một phút cảm động nhứt trong đời nhạc của tôi.

Vẫn biết rằng nhờ toàn dân V.N. đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý do chính-trị họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết quả gì, nhưng tôi sung sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quí của chúng ta.

TRẦN-VĂN-KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/ban-tranvan-khe-da-lanh-giai-nhi-cho-vietnam-ve-conhac/766839.html

http://chengdec.blogspot.fr/2015/06/giao-su-tran-van-khe.html

Nhớ tác giả Quốc ca – ‘bậc tài danh thế kỷ’


Thứ năm, 27/08/2015 – 12:00

Nhớ tác giả Quốc ca – ‘bậc tài danh thế kỷ’

Văn Cao là một trong những nhạc sĩ thuộc lớp tiền bối của nền tân nhạc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt và hoà trộn với dòng chảy lịch sử của dân tộc. Nhiều tác phẩm của ông đã trở thành di sản âm nhạc quý báu của nước nhà. Trong đó, có tác phẩm Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam – mà ông là tác giả.
 >> “Sẽ không bàn thêm về tiền bản quyền ca khúc Tiến quân ca”
 >> Thanh tra Bộ Văn hóa yêu cầu dừng việc thu tiền bản quyền “Tiến quân ca”

Không chỉ là một nhạc sĩ tài năng, Văn Cao còn viết văn xuôi, làm thơ và vẽ tranh. Dù ở lĩnh vực nào, ông cũng gặt hái được những thành công nhất định.

Người nghệ sĩ tài hoa và những ca khúc trữ tình nổi tiếng

Văn Cao, một tài hoa thiên bẩm, nhạc sĩ của nhiều bài hát rung động lòng người, những bài hát trở thành một phần trong tài sản tinh thần của biết bao thế hệ người Việt. Những bài hát của Văn Cao trên thực tế được quảng đại quần chúng ưa thích, bất kể nó là tình khúc hay ca khúc.

Nhạc sĩ Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, ông sinh ngày 15/11/1923 trong một gia đình nghèo ở Hải Phòng. Ông là người thuộc thế hệ thanh niên ưu tú, giàu lòng yêu nước, được tiếp thu những tinh hoa của văn hoá Đông Tây. Những tác phẩm của ông đã mang lại cho người nghe, người xem một lối cảm thụ nghệ thuật mới.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhạc sĩ Văn Cao tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 7/12/1989. Ảnh: Quang Phùng

Văn Cao bước vào con đường nghệ thuật khá sớm, khi mới ở tuổi thiếu niên. Đầu tiên ông xuất hiện ở làng văn nghệ bằng những vở kịch và truyện ngắn, sau đó Văn Cao chuyển sang thơ và nhạc.

Đúng như giới văn nghệ sĩ đánh giá, Văn Cao là một nghệ sĩ tài hoa trên cả ba lĩnh vực: Thơ, họa, nhạc. Ngay từ trước cách mạng, Văn Cao đã là một nhạc sĩ tài danh với những ca khúc trữ tình nổi tiếng. Bài hát đầu tay của ông viết năm 1939 tại Hải Phòng là Buồn tàn thu, tiếp sau đó là những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng với những ca từ đạt đến độ hoàn mỹ: Thiên thai, Suối Mơ, Trương Chi, Bến xuân, Cung đàn xưa, Đàn chim Việt…

Tuy đa phần những ca khúc đó đều chứa đựng một tâm sự buồn của bản thân ông, nhưng đó thực sự là những khúc tình ca bất hủ không chỉ của riêng ông mà còn của cả nền âm nhạc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua. Bên cạnh những sáng tác nhạc trữ tình, Văn Cao còn có những hành khúc hùng tráng lấy đề tài từ lịch sử dân tộc như: Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca viết cho tráng sinh Hướng đạo thuộc nhóm “Đồng Vọng” của nhạc sĩ Hoàng Quý – một nhóm nhạc nổi tiếng ở Hải Phòng trước cách mạng.

Trong lĩnh vực thơ ca, độc giả biết đến Văn Cao với những vần tự sự về chính cuộc đời ông, về quê hương, về cuộc sống tự do với bạn bè; biết đến những vần thơ đau thương nhất của ông về cuộc sống cùng cực của người dân nghèo nơi xóm ả đào, nẻo nhà ga, lề đường, góc chợ. Đối với Văn Cao, “người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng, cảm xúc và cảm giác trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây dựng”.

Với bài thơ đầu tiên Một đêm đàn lạnh trên sông Huế và tiếp theo là: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Bến Ngự trên thương cảng, Ngoại ô mùa đông năm 1946, Những người trên cửa biển, Với Nguyễn Huy Tưởng, Với Nguyên Hồng…, ông đã để lại trong lòng độc giả nhiều thế hệ những tình cảm đặc biệt.

Nói đến Văn Cao, người ta không thể không nhắc đến lĩnh vực hội họa. Ở lĩnh vực này, ông là một họa sĩ sử dụng cọ và mầu cũng sắc sảo, mặn nồng không thua gì các họa sĩ chuyên nghiệp. Ông đã có những bức tranh minh họa, những bìa sách và nhiều bức sơn dầu nổi tiếng. Đặc biệt, với lối vẽ tranh sơn dầu bằng hình thức và nội dung mới, bức họa đầu tay Cuộc khiêu vũ của những người tự tử được Văn Cao trưng bày tại Phòng triển lãm Duy nhất (Hà Nội-1944) đã làm giới mỹ thuật ngạc nhiên về bút pháp và màu sắc.

Người nhạc sĩ – chiến sĩ với dấu ấn lịch sử Tiến quân ca – Quốc ca

Năm 1944, là năm chuyển biến trong cuộc đời của Văn Cao. Sau khi được đồng chí Vũ Quý giác ngộ cách mạng, ông đã tham gia hoạt động bí mật. Văn Cao viết và phụ trách ấn loát cơ quan Phan Chu Trinh in sách báo và truyền đơn bí mật. Cũng trong hoạt động, nhận chỉ thị của tổ chức viết một hành khúc cho quân đội cách mạng của Việt Minh, ông đã sáng tác Tiến quân ca vào cuối năm 1944 tại căn gác số 171 phố Mông Grăng (nay là nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội).

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhạc sĩ Văn Cao tại nhà nhạc sĩ Văn Cao mồng 5 Tết Nhâm Thân (1992)- Ảnh: Nguyễn Đình Toán 

Đây là một hành khúc mang đầy tính dự báo và gây được nhiều ảnh hưởng tích cực cho phong trào cách mạng. Tiến quân ca thực sự trở thành hồn dân tộc, hồn nước, làm xốc dậy tinh thần của những quân du kích, những binh đoàn, những quân đoàn và cả những người dân Việt Nam bình thường nhất. Sau đó không lâu, ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định chọn Tiến quân ca làm Quốc ca nước Việt Nam. Năm 1993, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định vị trí bất di bất dịch của Tiến quân ca là Quốc ca nước Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vừa làm trình bày, kiêm bảo vệ báo Lao Động, Văn Cao nhanh chóng hoàn thành bộ “tứ bình” bài hát cho lực lượng vũ trang non trẻ, đó là: Chiến sĩ Việt Nam, Hải quân Việt Nam, Không quân Việt Nam và Bắc Sơn – một hành khúc dành cho lực lượng dân quân du kích.

Toàn quốc kháng chiến, Văn Cao cùng gia đình ra khu 3 vùng chợ Đại. Ngay đầu năm 1947, ông được cử phụ trách một bộ phận điều tra đặc biệt của công an liên khu 10 ở Lào Cai và làm báo “Độc Lập”. Hoàn thành nhiệm vụ sau Chiến thắng Sông Lô, Văn Cao đã sáng tác trường ca hoành tráng Sông Lô tại chiến khu Việt Bắc. Đây là tác phẩm đã để lại dấu ấn rực rỡ; một hình thức độc đáo trong các thể loại thanh nhạc của Việt Nam. Toàn bài chia làm nhiều đoạn, bằng nhiều tốc độ khác nhau, ông muốn vươn lên khỏi những hình thức của thể loại ca khúc bình thường. Giai điệu đẹp, ca từ mang nhiều chất thơ. Sự nối tiếp trong cấu trúc các đoạn hợp lý, khiến cho trường ca có sức hấp dẫn riêng, đặc biệt.

Sau khi được kết nạp Đảng tháng 3-1948, Văn Cao về lại Liên khu 3 công tác phong trào văn nghệ, trình bày báo Thủ đô của ủy ban Hành chính Hà Nội. Trong thời gian này, ông viết Làng tôi, Ngày mùa và đặc biệt là hành khúc trữ tình Tiến về Hà Nội. Hành khúc trữ tình Tiến về Hà Nội được sáng tác vào năm 1949, trước ngày giải phóng Thủ đô 5 năm, nhưng đó cũng là một hành khúc mang tính dự báo rất lãng mạn và hùng ca của Văn Cao: “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh”. Cho đến tận bây giờ, âm hưởng và hình bóng của ca khúc vẫn còn in đậm trong tâm hồn các thế hệ người Việt Nam.

Rồi như là một người có tài dự đoán và đón bắt lịch sử, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác ca khúc Ca ngợi Hồ Chủ tịch. Với tính chất âm nhạc trang nghiêm, sâu sắc Ca khúc Ca ngợi Hồ Chủ tịch là một trong những ca khúc mang màu sắc, phong cách rất riêng của Văn Cao.

Sau chiến thắng Mùa xuân năm 1975, đất nước ta trong khí thế chuyển mình bước vào thời kỳ mới. Mùa xuân năm 1976, sau ba mươi năm xa cách, hai miền Nam Bắc mới được chung vui một cái Tết thống nhất. Niềm hân hoan ấy ngập tràn trong mỗi người dân đất Việt, trong đó có các văn nghệ sĩ. Văn Cao sau nhiều năm vắng bóng trong mảng ca khúc Việt Nam trở về với chính mình…

 

Nhạc sĩ Văn Cao qua nét ký họa của Hùng Văn và bút tích chép tay câu chuyện Tiến quân ca của nhạc sĩ

Trong không khí rạo rực của những ngày đầu mùa xuân năm 1976 bình yên ấy, giai điệu của một bản nhạc Valse nhẹ nhàng định hình trong đầu ông. Lời đầu tiên trong ca khúc Mùa xuân đầu tiên, Văn Cao đưa đến cho người nghe những nét quen thuộc giản dị mà xiết bao ấm áp: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường mùa vui nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đã đến đầu tiên. Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông. Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”.

Sau một thời gian dài vắng bóng, kể từ sau khi viết Tiến về Hà Nội (1949) nhiều người tưởng thời ca khúc của Văn Cao đã khép lại. Trong nhiều năm, ông làm thơ, viết khí nhạc, vẽ minh họa để kiếm sống và tạm lãng quên sáng tác ca khúc. Thật đáng mừng vì một “Mùa xuân mới” đã về với dân tộc, đem lại sự phục sinh trong tâm hồn người nghệ sĩ. Giữa bao ca khúc khải hoàn rộn rã của ngày chiến thắng, người ta vẫn bắt gặp một tiếng reo nén lại của ông. Sự lắng lại để chiêm ngưỡng và suy ngẫm về niềm vui của một mùa xuân mới bình yên ở đây cũng chính là sự lắng lại của một đời người từng trải qua nhiều đau thương và mất mát. Mùa xuân đầu tiên không là một dự cảm tất thắng như trong Tiến về Hà Nội, mà như là một sự khẳng định chân lý bình thường sẽ và đã trở lại với cuộc sống con người. Ca khúc khép lại, nhưng giai điệu của nó một lần nữa khẳng định cái “Mùa bình thường” ấy sẽ mãi mãi ở lại cùng ông và đất nước.

Cho đến nay bản lĩnh sáng tạo trong ca khúc của Văn Cao được ghi nhận là sự tổng hợp hài hoà của nhạc-hoạ-văn-thơ. Giai điệu âm nhạc của ông bao giờ cũng đẹp, uyển chuyển; ca từ được gọt rũa kỹ, hình ảnh đẹp. Đúng như sự đánh giá của nguyên Tổng Bí thư Đảng Đỗ Mười: Văn Cao – “người nhạc sĩ đầy tài năng” của nền âm nhạc Việt Nam.

Với những cống hiến trọn đời cho nền âm nhạc dân tộc, năm 1993, Văn Cao đựợc Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Nhất. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt I cho các ca khúc: Tiến quân ca (1944), Chiến sĩ Việt Nam (1945), Làng tôi (1947), Sông Lô (1947), Tiến về Hà Nội (1948), Ca ngợi Hồ Chủ tịch (1950).

Theo Thông tin tư liệu – TTXVN

http://dantri.com.vn/van-hoa/nho-tac-gia-quoc-ca-bac-tai-danh-the-ky-20150827130829963.htm

NGÀNH MAI /thông tín viên RFA : Ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ


 

Ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-08-22
chuanghes620i700.jpg

Chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp

Photo by giacngo.vn

Nếu như tính theo Âm lịch thì ngày Rằm tháng Bảy là một trong 3 ngày lễ lớn trong năm, gồm Thượng Nguơn (tháng Giêng), Trung Nguơn (tháng Bảy) và Hạ Nguơn (tháng Mười). Đặc biệt Rằm tháng Bảy lại kèm theo “ngày báo hiếu” dựa theo sự tích Mục Liên – Thanh Đề, và cũng đồng thời là “tháng cúng cô hồn” được phổ biến rộng rãi trong nhân gian, hầu như ai cũng biết. Do nhiều sự kiện quan trọng ở cái tháng Bảy trong lịch sử văn hóa dân tộc này, mà thiên hạ đi cúng chùa rất đông, và đây là tập tục đã có từ lâu đời trong xã hội Việt Nam.

Ở đây tôi không nói về lịch sử ngày Rằm tháng Bảy được ghi lại rất nhiều trong kinh sách của Phật Giáo, có liên quan đến tiền thân Đức Phật Mục Kiền Liên Bồ Tát. Và cũng không đề cập đến câu chuyện 12 cửa ngục Âm Phủ, với hình ảnh ghê sợ mà người gây nên tội ở trần gian, khi thác xuống phải chịu hình phạt. Mà trong buổi nói chuyện này tôi chỉ đề cập đến sự thể, hình ảnh diễn ra ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ Gò Vấp trong ngày Rằm tháng Bảy hằng năm mà thôi!

Rằm tháng Bảy thì hầu hết các ngôi chùa Phật đều làm lễ cúng lớn, nhưng Chùa Nghệ Sĩ thì lại mang một sắc thái riêng biệt mà các chùa khác đã không có, do bởi ngoài việc cúng kiến làm lễ theo nghi thức cổ truyền, chùa còn có thêm trình diễn cải lương, và khách thập phương đi… tảo mộ.

Từ nhiều năm nay ở Chùa Nghệ Sĩ cứ đến ngày Rằm tháng Bảy thì tờ mờ sáng là khách thập phương đã chen chân đến chùa hành lễ, và cứ mỗi lúc đông dần. Cảnh chùa luôn tấp nập, nghẹt hết lối đi từ sáng cho đến chiều tối, ước tính từ có trên một vạn khách đến chùa.

Do biết chùa này lễ nào cũng đãi cơm chay gồm nhiều món ăn ngon cho toàn bộ khách thập phương, và năm nào số lượng người đến dùng cơm chay ở chùa cũng đông quá mức. Không cao lương mỹ vị nhưng ai cũng ngồi vào bàn ăn một miếng cơm chay thanh khiết để “lấy lộc”, mong những điều bình an, tốt đẹp sẽ đến với mình. Ban trụ trì chùa tuy mệt đừ nhưng rất hài lòng vì đã phục vụ khách thập phương tốt, tạo được uy tín cho chùa.

Hoạt động nổi bật nhứt ở Chùa Nghệ Sĩ là chương trình văn nghệ, ca cổ nhạc và trình diễn trích đoạn cải lương, do bởi rất nhiều nghệ sĩ tài danh tên tuổi về góp mặt. Hội trường của chùa có sân khấu, tuy không rộng như rạp hát, cũng chứa khoảng 200 người, nhưng thông thường năm nào cũng vậy, số người coi hát nhiều gấp mấy lần sức chứa của khán phòng.

Các nghệ sĩ, soạn giả, đạo diễn, ký giả kịch trường, và những người làm công tác sân khấu về tụ tập rất nhiều, riêng giới nghệ sĩ thành phố thì rất đông đảo, họ tự động về chớ không ai mời gọi. Khán giả được dịp diện kiến mặt thật các nghệ sĩ – những thần tượng của họ. Quay phim, chụp hình chung, xin chữ ký… giữa nghệ sĩ và khán giả luôn diễn ra ở mọi lúc,  mọi nơi trong ngày lễ này.

Trước tình hình sân khấu khốn đốn, các đoàn gần như ngưng hoạt động; anh chị em nghệ sĩ, diễn viên, tác giả, đạo diễn, nhạc công, họa sĩ, công nhân… ít có cơ hội gặp nhau nên đây là dịp để họ hàn huyên tâm sự.

Từ 60 năm trước ở vùng Hạnh Thông Tây, Gò Vấp có một miếng đất rộng khoảng 8 ngàn thước vuông gần như bỏ hoang, không có nhà cửa người dân, bởi quanh đây là thành lính, căn cứ quân sự của quân đội viễn chinh Pháp. Mảnh đất được các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu đại diện Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu mua để xây cất ngôi chùa, và phần lớn đất đai còn lại thì làm nghĩa trang nghệ sĩ.

Việc cúng kiếng hành lễ ở Chùa Nghệ Sĩ cũng giống như nhiều ngôi chùa khác ở trong vùng, nhưng có sự khác biệt là khách thập phương ngoài việc cúng chùa thắp hương lạy Phật, họ còn đi coi cải lương như đã nói, và còn đi tảo mộ ở nghĩa trang cạnh bên. Đặc biệt ngày Rằm tháng Bảy thì quá rõ, người đi thăm mồ mả quá đông đã vô tình tạo nên một nét đặc thù mà có lẽ chỉ ở đây mới có.

Không riêng gì người nghệ sĩ đi cúng chùa, rồi sẵn đó tấp qua thăm mộ những người cùng Tổ nghiệp, mà những người tuy không phải nghệ sĩ nhưng lại có liên quan đến các cô đào, anh kép quá cố đang nằm ở nghĩa trang, thì họ cũng nhân ngày Rằm tháng Bảy vừa đi cúng chùa, vừa vào đây thăm mộ luôn. Lại có cả những khán giả cải lương sẵn dịp cũng vào thăm mộ thần tượng của họ lúc sinh tiền, như trường hợp nghệ sĩ Thanh Nga, rất nhiều người bao quanh ngôi mộ của cô nhân ngày Rằm tháng Bảy này.

Từ giữa thập niên 1960 trở về trước, người đi cúng chùa không nhiều, và người viếng mộ nghệ sĩ cũng lưa thưa, nhưng dần dần về sau thì nghệ sĩ cải lương già yếu cứ nối tiếp nhau vào đây “nghỉ xả hơi dài hạn”, thì con số người đi cúng chùa đông đảo hơn nhiều, và số người đi viếng nghĩa trang cũng tăng theo.

Rồi kể từ đầu thập niên 1990 trở về sau thì cảnh tượng ngày Rằm tháng Bảy ở chùa nghệ sĩ vô cùng tấp nập. Thiên hạ chen chúc nhau vào chùa lạy Phật cầu nguyện. Sau đó thì một số không ít đã kéo nhau ra nghĩa trang cạnh bên để thắp hương cho các ngôi mộ với ước vọng gì đó không hiểu, mà người nằm ở đây có hiểu được chăng để chứng cho tấm lòng của họ? Rất khó mà có câu trả lời vậy!

Khói hương nghi ngút trong ngày này, hình như ngôi mộ nào cũng được đốt nhang. Do bởi ngoài việc thắp hương ngôi mộ chính thức mà họ đi viếng, người ta cũng không tiếc gì bó nhang đang cháy còn lại, nên đã cắm luôn cho những ngôi mộ xung quanh.

Tiếng chào nhau, tiếng hỏi thăm, kể cả tiếng mời gọi coi bói coi tay, hòa lẫn tiếng rao hàng inh ỏi của mấy bà mấy chị bán nhang, bán giấy tiền vàng bạc, mỗi người một tiếng đã tạo nên âm thanh hỗn tạp, ồn ào trong khu đất nghĩa trang này. “Mộ nghệ sĩ A ở đâu, mả nghệ sĩ B ở chỗ nào?” Đó là các câu hỏi mà người chưa biết ngôi mộ mình muốn đi thăm nằm ở đâu.

Các em nhỏ ở đây khá rành, các em biết rõ và sẵn sàng hướng dẫn.

Dĩ nhiên khi khách xác định ngôi mộ thì các em được cho tiền, nhiều ít tùy theo sự hào hiệp của khách. Ngày Rằm tháng Bảy cũng là dịp để các người bán nhang dạo quanh chùa kiếm tiền, bởi có ai đi thăm mộ mà không đốt nhang?

Tóm lại cảnh tượng ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa Nghệ Sĩ đã vô tình biến thành ngày “Lễ Thanh Minh” hằng năm của giới nghệ sĩ, cùng các thành phần liên hệ. Và trong câu thơ tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du nếu như đem áp dụng ở đây thì sẽ là “Thanh Minh nhằm tiết tháng… Bảy”.

Trên đây là cảnh tượng ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ Gò Vấp. Phần sau đây là nói về khu đất nghệ sĩ trong khuôn viên Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương, bởi nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp đã không còn được chôn cất, thì chỉ có ở Bình Dương mới có khu đất dành cho giới nghệ sĩ chớ chẳng còn ở đâu khác. Do vậy mà rất nhiều nghệ sĩ về già đã nhắm vào đây làm nơi an nghỉ khi linh hồn về với Tổ nghiệp. Hiện nay khu đất này đã có một số văn nghệ sĩ gởi thân xác, thì ngày Rằm tháng Bảy năm nay cũng có ít nhiều người thân của nghệ sĩ đến viếng thăm.

Thế nhưng, đã có mấy ai nghĩ rằng càng về sau mộ nghệ sĩ ở đây sẽ tăng lên nhiều, lên nhanh, và khu đất dành cho nghệ sĩ có thể trở thành “làng nghệ sĩ” trong tương lai. Mà nếu đúng như vậy thì phải nghĩ rằng có 2 lý do chính:

1) Nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp đã “đóng cưả  ” thì nghĩa trang Bình Dương lại mở cửa đón nhận. Người nghệ sĩ nào cũng muốn mình được “đoàn tụ” với người cùng chung Tổ nghiệp, vì biết đâu một ngày kia (nếu có) họ sẽ cùng lên sân khấu đóng chung một tuồng hát cải lương, dù rằng ở bên kia thế giới, bởi vì lòng yêu nghề rất cao của họ.

2) Do đường lối chủ trương của Ban quản trị Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương, đã xét đến công lao làm đẹp cho đời của người nghệ sĩ, mà giúp đỡ cho họ được giảm phần nào chi phí “định cư” vĩnh viễn ở đây.

Đã có người nói rằng, sau này “làng nghệ sĩ” Bình Dương cũng có thể sẽ không còn chỗ chôn, như trường hợp nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp hiện giờ. Không chóng thì chầy, thời gian có thể hơn nửa thế kỷ, nếu như không tính trước ngay từ bây giờ, thế hệ sau sẽ gặp phải khó khăn. Rồi thì việc gì đến nó sẽ đến thôi!

Cũng nên hiểu thêm rằng khi xưa lúc Má Bảy Phùng Há, và nghệ sĩ lão thành Năm Châu đi tìm mua đất lập nghĩa trang cho giới nghệ sĩ, thì lúc ấy số nghệ sĩ cải lương không nhiều. Các nghệ sĩ như Hữu Phước,Thành Được, Minh Cảnh, và luôn cả căp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng cũng chưa xuất hiện, hầu hết nghệ sĩ trúng giải Thanh Tâm cũng chưa vào nghề. Nhưng chỉ hơn một thập niên sau thì số người gia nhập làng cải lương tăng nhanh, và qua đời cũng nhiều, đưa đến tình trạng “quá tải”, đất nghĩa trang nghệ sĩ ngày càng thu hẹp, hồi mấy chục năm trước đâu có ai nghĩ đến. Bởi vậy ban quản trị nghĩa trang Gò Vấp đã có quy trình lấy cốt những ngôi mộ lâu ngày, hỏa thiêu xong đặt vào trong cái am, để có đất trống chôn người khác.

Thế nhưng, “con người tính không qua trời tính”, công việc đang tiến hành thì chính quyền ra lệnh cấm không cho chôn cất ở đây nữa vì ô nhiễm môi trường, bởi vùng đất Gò Vấp không còn là đất hoang như hồi mới mua mà đã trở thành đô thị hóa.

Như vậy coi như quy trình lấy cốt thiêu đốt đặt vô am đã đương nhiên dừng lại, bởi không cho chôn nữa thì lấy cốt lên làm chi cho tốn kém chớ!

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/mid-of-july-at-nghesi-pagoda-cemetery-08222015085220.html

THÙY TRANG : Quỹ học bổng Trịnh Công Sơn: Vì tương lai âm nhạc Việt Nam


Quỹ học bổng Trịnh Công Sơn: Vì tương lai âm nhạc Việt Nam

25/08/2015 22:26

Thành lập quỹ học bổng về âm nhạc là ước mơ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc sinh thời. Đến nay, sau nhiều năm, gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quyết định thực hiện di nguyện của ông, thành lập quỹ học bổng âm nhạc mang tên Trịnh Công Sơn.

 

Ngoài việc tạo điều kiện để các tài năng âm nhạc phát triển và theo đuổi sự nghiệp, Quỹ Học bổng âm nhạc Trịnh Công Sơn, được thành lập bởi gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn phối hợp cùng Học viện Âm nhạc và Trình diễn nghệ thuật Soul (Soul Music & Performing Arts Academy – SMPAA), sẽ hỗ trợ cho các em mắc bệnh rối loạn thần kinh phát triển ngôn ngữ, những kỹ năng cuộc sống, khả năng tự quyết và sự tự tin. Trên thế giới, âm nhạc được kiểm định và chứng minh là một phương pháp hiệu quả để điều trị chứng bệnh này. Và liệu pháp âm nhạc là một sự can thiệp hiệu quả cho việc giảm sút tiếp nhận tình cảm ở trẻ mắc bệnh. Nó giúp cải thiện các kỹ năng về ngôn ngữ, giao tiếp và phản xạ xã hội. Từ khóa “Help for autism with music” (Âm nhạc giúp điều trị bệnh tự kỷ) đạt hơn 30,5 triệu kết quả tìm kiếm trên Google.

Thành lập quỹ học bổng về âm nhạc là ước mơ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc sinh thời Ảnh: TƯ LIỆU
Thành lập quỹ học bổng về âm nhạc là ước mơ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lúc sinh thời Ảnh: TƯ LIỆU

Theo nhạc sĩ Thanh Bùi, Quỹ Học bổng âm nhạc Trịnh Công Sơn tài trợ cho những học viên có tài năng âm nhạc nổi bật tham gia chương trình học tại SMPAA. Đồng hành dự án còn có nhà sản xuất âm nhạc, nhạc sĩ sáng tác hàng đầu thế giới, từng 6 lần nhận đề cử giải thưởng Grammy – RedOne. Với 35 bài hát đơn đứng đầu các bảng xếp hạng, anh đã hợp tác với rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng trong nhiều sản phẩm âm nhạc của họ, như: Lady Gaga, Nicky Minaj, One Direction, J.Lo, Usher, Quincy Jones, Enrique Iglesias, Nicole Scherzinger…  Nhà sản xuất âm nhạc người Thụy Điển này cam kết “hỗ trợ những bạn trẻ có đam mê và hoài bão, truyền cảm hứng để các bạn theo đuổi ước mơ trong cuộc sống thông qua âm nhạc, nghệ thuật và giáo dục”.

Những tài năng được chọn thông qua Quỹ Học bổng âm nhạc Trịnh Công Sơn sẽ tham gia khóa đào tạo tại  SMPAA với cam kết của trung tâm: “Mang đến chương trình đào tạo nghệ thuật toàn diện để mọi trẻ em Việt Nam có thể phát triển tư duy tốt hơn và trở thành những thế hệ tài năng âm nhạc kế thừa”.  Những người tham gia hội đồng cố vấn của quỹ gồm các nghệ sĩ: Trần Mạnh Tuấn, Bùi Công Duy, Thanh Bùi; đạo diễn Nguyễn Quang Dũng và ông Tyler Smith, Phó Chủ tịch Trinity College London châu Á.

Theo kế hoạch, mỗi năm, Quỹ Học bổng âm nhạc Trịnh Công Sơn sẽ trao 10 suất học bổng, được thiết kế riêng phù hợp với điều kiện của từng học viên. Sau 1 năm được đào tạo tại SMPAA, hội đồng cố vấn của quỹ này sẽ quyết định học viên nào tiếp tục nhận học bổng cũng như thời gian đào tạo mở rộng. Sau đó, “những học viên tiềm năng nhất sẽ được đưa đi du học tại các nước để được đào tạo thành những nghệ sĩ đích thực” – ca sĩ, nhạc sĩ Thanh Bùi chia sẻ.

Thị trường nhạc Việt mỗi năm có hàng trăm ca sĩ mới nhưng những tài năng âm nhạc khác luôn bị bỏ quên. Quỹ Học bổng âm nhạc Trịnh Công Sơn sẽ tuyển chọn tài năng ở lĩnh vực nhạc cụ, thanh nhạc, sáng tác. Đó là những mảng còn rất thiếu cho âm nhạc Việt Nam phát triển trong tương lai.

Thùy Trang

NGUYỄN HIẾU : DANH HÀI – SỰ LẠM DỤNG NGÔN TỪ


Danh hài – Sự lạm dụng ngôn từ

Thứ bảy, 29/08/2015 – 13:30

Giờ đây, vẻ như trong lĩnh vực Văn nghệ, người ta sẵn sàng gọi và ban phát một cách hào phóng các danh hiệu một thời là thiêng liêng, cao quý cho bất kỳ người nào có mặt trong lĩnh vực ấy, bất chấp tài năng và cả nhân cách của con người ấy.

Làm được hai ba câu văn vần, viết dăm ba dòng văn xuôi, bỏ tiền ra in “tác phẩm” thế là có thể đề trên danh thiếp của mình, rồi vài ông bạn tự xưng “nhà thơ, nhà văn”. Còn trong lĩnh vực biểu diễn thì cố gắng len lỏi vào một chương trình nào đấy để rồi cũng tự nhận, tự phong và cũng không ít kẻ dễ tính hay cũng nặng máu quảng cáo để kiếm lời, phong tặng một cách dễ dãi các danh hiệu “ông hoàng, bà chúa”, “danh ca”, “diva”,”danh hài”…

Hôm nay tôi chỉ muốn nói đến lĩnh vực mà đang có vẻ ăn khách đối với tầng lớp khán giả trẻ, trình độ thưởng thức chưa định hình và đa số là đang mắc phải tâm lý đám đông, nhưng thực sự là lĩnh vực gây ra sự thất vọng lớn nhất cho những khán giả có trình độ thưởng thức và am hiểu nghệ thuật đó là lĩnh vực hài và các diễn viên trong lĩnh vực này.

Cảnh trong “Đời cười” của Nhà hát Tuổi Trẻ. 

Trong báo cáo của Đại hội đại biểu nhà văn khoá 9 khi điểm lại thành tựu văn chương của nhiệm kỳ 5 năm thì thật đáng buồn vì không một chữ nào nói về thể loại hài. Một thể loại đáng ra phải rất phổ cập và có thành tựu lớn trong một xã hội có quá nhiều điều đáng phản ánh và đang rất cần thể loại này. Chưa bao giờ hiện thực nước ta lại nhiều mảng miếng, cốt truyện và nhân vật phong phú cho thể loại hài như hiện nay bên cạnh hiện thực bi và tráng. Sự vắng bóng các thể loại văn chương hài nhìn từ góc độ nào đấy là một sự bất thường của nền văn học “thừa thơ thiếu hài”. Ngay trong sân khấu kịch hài, tấu hài đích thực cũng hoàn toàn bị lép vế. Dường như thể loại hài – một thể loại mang đậm bản tính của dân tộc trở nên nhạt nhòa, không được coi trọng nếu không muốn nói là biến mất. Những tác giả chuyên hài trên dưới hai thập niên nay không còn tồn tại. Yếu tố hài (mặc nhiên nó luôn tồn tại trong sáng tác nghệ thuật) chỉ còn len lỏi, chìm sâu trong các tác phẩm ở mọi thể loại. Nhưng trớ trêu sao các diễn viên hài lại nở rộ và nhất là các bậc danh hài như tên gọi một cách dễ dãi và dường như không có chuẩn mực nào lại tăng lên với cấp số nhân một cách bất thường như vậy? Những diễn viên này đã đúng và đạt chuẩn như tên gọi cao quý đó chưa?

Tôi nhớ vào năm 1976, khi NSND Lộng Chương, đạo diễn cũng là kịch tác gia nổi tiếng, đã ghim vào lịch sử phát triển của ngành sân khấu Việt Nam bằng danh tác hài kịch “Quẫn”, nhận dựng kịch bản hài “Chuyện như thế thì cần phải nói” của tôi cho Đoàn kịch Công nghiệp Hà Nội, đã nói như sau: “Anh đề kịch bản là hài kịch là không đúng. Vì hài kịch đích thực là sau khi cười người xem phải suy nghĩ, thậm chí phải khóc. Còn kịch bản của anh chưa đạt được thế.

Đa số các mảng miếng gây cười trong kịch bản này mới chỉ dừng ở náo kịch là chủ yếu. Náo kịch là cười để mà cười. Đó là cái cười cơ giới”.

 Hoài Linh, Việt Hương, Trấn Thành – những diễn viên ăn khách của hài kịch phía Nam.

Nếu căn cứ vào sự phân loại và đánh giá của một trong những đại diện xuất sắc của nền kịch Việt Nam hiện đại thì tôi cho rằng: Mảng sân khấu nói riêng và nền nghệ thuật của ta nói chung trong khoảng trên dưới hai thập niên này hầu như vắng bóng tác phẩm hài, hoặc nói đúng hơn nó chỉ le lói ở chỗ này chỗ khác nhưng do không được khuyến khích, động viên, nuôi dưỡng. Không có hài nhưng nhu cầu cần cười và cần được thưởng thức cái cười của con người là bất diệt, vì thế để bù lấp vào sự thiếu vắng đó là sự bùng phát của những tác phẩm mà Lộng Chương gọi rất đúng là náo kịch. Trong sân khấu ở miền Bắc, Nhà hát Tuổi Trẻ là đơn vị nghệ thuật sân khấu nuôi dưỡng những đêm diễn mang đậm màu sắc náo kịch. Cũng xin nói luôn là không hiểu sao mặc dù rất ưa chuộng thể loại kịch (tạm gọi là kịch cười) này nhưng Nhà hát Tuổi Trẻ trong từng ấy năm chưa bao giờ dựng một kịch bản hài dài hơi đúng nghĩa của nó mà chỉ là những kịch bản ngắn như những lát cắt vui vẻ các tác giả chợt nhặt được trong “đời cười”. Nhưng dù sao cũng phải đánh giá một cách công bằng. Ít nhiều các tác phẩm trong các chùm “đời cười” của Nhà hát Tuổi Trẻ cũng có không ít tác phẩm hay, những mảng miếng đạt tầm của thể loại hài kịch. Còn sân khấu phía Nam – một vùng đất ưa sự vui cười – thì có thể nói, hầu hết các tác phẩm trình làng đều chỉ dừng ở náo kịch. Từ kịch bản như vậy nên các diễn viên tham gia thể hiện các tác phẩm này cũng chỉ dừng ở mức độ “náo”.

Trong di sản của cha ông ta nói đến hài là mặc dù chỉ là nhân vật phụ điểm xuyết hay giữ vai trò hướng dẫn cảm xúc người xem nhưng khán giả nhớ ngay đến nhân vật hề chèo hiện ra dưới nhiều hình thức hề áo ngắn, hề áo dài, hề gậy, hề mồi… Các nhân vật hài lừng danh này có cả một lý lịch và cả một quá trình diễn biến tâm lý đủ sức cho các diễn viên bộc lộ, tung hứng khả năng diễn xuất của mình. Ở những diễn viên lột tả thần kỳ bản chất của các nhân vật hài này xứng đáng gọi là danh hài. Còn ở ta, hiện nay. Các diễn viên được “duy danh” là diễn viên hài, thậm chí là danh hài như nhận định của Lộng Chương chỉ là những diễn viên náo kịch. Hầu hết các diễn viên này dường như chưa tạo ra một nhân vật hài hoàn chỉnh nào ghi đậm trong trí nhớ người xem, tạo cho người xem những dư âm về nhân tình thế thái để từ đó tạo nên thương hiệu của mình mà chỉ là thể hiện những mảng miếng tách rời nhau để tạo ra những tiếng cười mang tính “cơ giới”.

Về mặt thủ pháp thì hầu hết các diễn viên diễn tạm xếp là hài của ta cũng không sáng tạo ra thủ pháp nào đáng nói mà chỉ quanh đi quẩn lại có mấy thủ pháp diễn mang chất náo kịch như gái giả trai hoặc ngược lại, đồng tính, mô phỏng ở mức độ thấp các vai đã thành mẫu trong chèo cổ như Xã xệ, Lý toét, Phú ông, thằng mõ, Thị Mầu… sự nhại tiếng, hát những bài nhạc chế, bôi mặt, mặc quần áo lôi thôi gây cười, lôi những chi tiết, ngôn ngữ nói về những hành động, trạng thái nhậy cảm hoặc cùng lắm là cố tạo ra sự nhầm lẫn nào đó về ngôn từ, tình huống vụn vặt chẳng ăn nhập gì với vai diễn, hành động kịch… mà chỉ là những tiểu phẩm náo kịch gây cười đơn giản. Với các khán giả dễ dãi, dễ bị hoà đồng, a dua theo tâm lý đám đông thì cách diễn xuất của các diễn viên náo này cũng ít nhiều tạo ra những tiếng cười thuần tuý “cơ giới”. Còn đối với những khán giả có khiếu thẩm mỹ, có trình độ thưởng thức thì lối diễn này gây ra sự khó chịu. Đáng tiếc số diễn viên náo này đang chiếm lượng đông trên sân khấu, cũng như trên truyền hình. Tôi nói vậy không phải không thấy rõ những tố chất hài bẩm sinh và thực sự có tài của một số diễn viên như Xuân Hinh, Chí Trung, Xuân Bắc, Quốc Trượng… Chỉ đáng tiếc những tài năng này không được thể hiện, nuôi dưỡng, phát huy và phát lộ ở mức độ cao với những tác phẩm sân khấu hoặc điện ảnh dài hơi hoàn chỉnh.

Mặc dù như vậy nhưng đáng buồn thay, mỹ từ cao quý”danh hài” vẫn đang bị lạm phát, lạm dụng. Chính thực trạng này đối chiếu với tình trạng sân khấu, điện ảnh của ta hiện nay đã làm giảm đi rất nhiều giá trị của mỹ từ này, đó là chưa kể làm một bộ phận không nhỏ vì sự lạm dụng, gán bừa này đã hiểu sai, đánh giá thấp hai chữ ”danh hài”.

Theo Nguyễn Hiếu

Báo Lao động

http://dantri.com.vn/van-hoa/danh-hai-su-lam-dung-ngon-tu-20150829133624098.htm

Theo Nguyễn Hiếu

Báo Lao động

PHẠM ANH : Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 2: Người đưa cồng chiêng xuất ngoại


Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 2: Người đưa cồng chiêng xuất ngoại

 
Ngay ngáy lo mai này người làng xã sẽ quên đi văn hóa dân tộc mình, ông bỏ việc nhà, hằng ngày chỉ dạy đánh cồng chiêng, múa xoang cho dân làng. Hết lớp này đến lớp khác, bây giờ làng ông có đội nghệ nhân gần chục lần xuất ngoại biểu diễn cho thế giới biết văn hóa Tây nguyên.
Ông là nghệ nhân A Thur (62 tuổi), người Ba Na ở làng Đăk Wớt, xã Hơ Moong, H.Sa Thầy (Kon Tum).
Theo thầy A Thur múa xoang
Một lần về Đăk Wớt, được nghe, được thấy các nghệ nhân chân chất ở đây tập biểu diễn để sang Pháp tham gia lễ hội, mới hiểu vì sao đồng bào Tây nguyên mê đến thế. Điều đáng nói là, những nghệ nhân ấy có người tuổi đã 60, trung niên, nhưng cũng có người chỉ mới đôi mươi. Hôm đó, trời Tây nguyên mưa gió tơi tả, nhà rông bị mưa tạt vào ướt mèm, nhưng gần 30 nghệ nhân vẫn như “lên đồng” say sưa tập đánh cồng chiêng và múa xoang nhịp nhàng.
Y Lạng (18 tuổi) kể đã tham gia học múa xoang với thầy A Thur từ năm 14 – 15 tuổi. Giống bạn bè trang lứa, ban đầu Y Lạng chưa thích múa xoang. Sau nghe lời A Thur “phải học múa, không phải cho mày, mà cho làng Ba Na mình đấy, con à!”, Y Lạng mới đi tập múa. Ban ngày đi học, hết đi học lại đi rẫy, nhưng một tuần 2 – 3 buổi chiều thầy A Thur dạy múa xoang, Y Lạng đều có mặt đầy đủ và càng học thì càng thích, thân hình cân đối, uyển chuyển hơn.
A Tráp (61 tuổi), người đánh cồng của làng nghệ nhân Đăk Wớt, bảo không chỉ dạy múa xoang cho các cô gái làng, A Thur còn dạy đám thanh niên đánh cồng chiêng nữa. Theo A Tráp, đã gần 20 năm A Thur bỏ sức ra dạy cồng chiêng và múa xoang, trai gái trong làng, trong xã từng theo “học nghệ”, nếu không giỏi thì cũng rành. Ấy là chưa kể, riêng làng Đăk Wớt có đội nghệ nhân 30 người, nhuần nhuyễn đánh cồng chiêng và múa xoang, sẵn sàng biểu diễn bất cứ vùng nào khi được tỉnh Kon Tum điều động.
Tiếng thơm để lại cho đời
A Thur mê cồng chiêng và các điệu hát xoang từ cảm hứng của bác ruột là A Thik và nhất là máu “gia truyền” từ người cha A Bek. Những ngày còn niên thiếu, A Thur học văn hóa (viết và giao tiếp được tiếng Anh), nhưng cái “ăn trong cái bụng mình” là cồng chiêng ngân nga của dân tộc Ba Na. “Hồi đó làng xã mình chỉ có người già mới biết đánh cồng chiêng thôi. Mình thì mê đàn, nhưng thấy lớp trẻ không ai biết cồng chiêng nên mình học. Chính thức là năm 1996 mình bắt đầu dạy đánh cồng chiêng, múa xoang cho thanh niên nam nữ, thậm chí là cả người trung niên nữa”, A Thur tâm sự.
Những ngày đầu dạy, đám thanh niên có ai ham đâu, có điều A Thur bảo nên bọn trẻ nghe lời. Dần dần từ chỗ vâng lời, nam nữ thanh niên mê dần, lớp dạy ban đêm ở nhà rông trong ánh lửa bập bùng phải chuyển dần xuống sân vì “lũ nhỏ đi đông, nhà rông không có chỗ đứng”. Cái khó của A Thur là, tiếng cồng chiêng thì ít nhiều mấy người già còn nhớ điệu, giữ nhịp, còn múa xoang thì mỗi ngày mai một dần. Thế là A Thur thân hành đi học múa xoang từ các nữ nghệ nhân Ba Na, tập múa cho thuần thục và đẹp mắt rồi về dạy lại.
“Nhiều điệu xoang giờ mất dần điệu gốc cổ, mình nghiên cứu và sáng tác thêm cho phù hợp với tiếng chiêng, tiếng cồng”, A Thur kể. Nói thì nghe đơn giản, nhưng cái “nghiên cứu” này khó vô cùng. Bởi người Ba Na rất phong phú lễ hội, mỗi điệu múa xoang phải phù hợp với từng lễ hội đó. Vì vậy, A Thur phải “vắt óc” ra mới thành công như bây giờ. Đám con gái, đàn bà bây giờ ở xã Hơ Moong rành múa xoang, phần lớn đều nhờ những buổi tối A Thur dạy ở nhà rông.
Biết đánh cồng chiêng thì phải có… chiêng, cồng mà chơi chứ! A Thur đã mang những bộ chiêng, trong đó có bộ rất quý, để cho làng tập luyện và đánh trong những lễ hội. Không những thế, ông còn lùng mua những bộ chiêng từ bên Lào mà ngày xưa người làng vốn có nhưng đã bán mất đi, hoặc mất trong chiến tranh. Sưu tầm chiêng mãi đến giờ, A Thur có trọn 3 bộ chiêng quý với trên 30 cái cả thảy, trị giá trên 500 triệu đồng. Theo đó, bộ chiêng quý chỉ mang ra đánh những ngày lễ hội lớn, 2 bộ còn lại thì mang ra dạy cho thanh niên làng.
A Thur kể: “Năm 1983 thiếu ăn, ông ngoại mình có cái chiêng quý định bán đi. Nghe chuyện, mình dắt… đàn bò qua đổi cái chiêng này. Năm 2007, mình dẫn 16 nghệ nhân của làng sang Mỹ biểu diễn. Có người đến trả 50.000 USD cái chiêng này nhưng không bán. Mình phải giữ lại chiêng, vì chiêng này rất nhiều làng đâu còn nữa. Giữ là giữ hồn cho làng, cho đời sau còn chiêng để đánh”.
Ông Nguyễn Văn Niệm, Chủ tịch UBND xã Hờ Moong, nhận xét: “A Thur với uy tín của mình đã đoàn kết đồng bào, góp phần rất lớn vào công cuộc an sinh xã hội. Đội nghệ nhân làng Đăk Wớt do A Thur quản lĩnh đã có tiếng lành vang xa. Đến nay, chưa thấy ai có thể thay A Thur duy trì đội cồng chiêng nổi tiếng này”.
Anh Trần Lâm, Phó phòng Nghiệp vụ, Sở VH-TT-DL Kon Tum, nói làng nghệ nhân Đăk Wớt đã có gần chục lần được mời ra nước ngoài biểu diễn cồng chiêng, múa xoang, hát kể sử thi… Lần đầu tiên là tháng 7.2007, tham gia lễ hội “Mê Kông – Dòng sông kết nối các nền văn hóa” và gần đây nhất là lễ hội nhiệt đới tại Pháp vào đầu tháng 7.2014.

Phạm Anh

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/bau-vat-song-tay-nguyen-ky-2-nguoi-dua-cong-chieng-xuat-ngoai-525117.html

>> Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 1: Già làng chế tác 15 nhạc cụ

PHẠM ANH : Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 1: Già làng chế tác 15 nhạc cụ


Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 1: Già làng chế tác 15 nhạc cụ

 

Có người đã lớn tuổi, người ở tuổi trung niên và người còn rất trẻ nhưng đã cùng nhau giữ gìn những di sản văn hóa Tây nguyên. Dân trong vùng gọi họ là những báu vật sống. 

 Bloong Vẽ bên đàn tơ rưng - Ảnh: Phạm Anh

Bloong Vẽ bên đàn tơ rưng – Ảnh: Phạm Anh
Già làng Bloong Vẽ (70 tuổi) ở làng Đăk Răng, xã Đăk Dục, H.Ngọc Hồi (Kon Tum) đã tự mày mò và chế tác được 15 loại nhạc cụ dân tộc Tây nguyên.
Mê mải tiếng đàn, tiếng sáo
Biết khách muốn “mục sở thị” những nhạc cụ do mình chế tác, già làng Bloong Vẽ mời về nhà. Điều ấn tượng nhất chính là hàng chục nhạc cụ dân tộc treo đầy trên vách gỗ làm bằng ván bìa. Dường như ông già miền sơn cước này muốn gom tất cả nhạc cụ đồng bào Tây nguyên về đây.
Trải tấm “dồ” giữa sàn nhà mời khách ngồi, già làng Bloong Vẽ kể: “17 – 18 tuổi tui mới học nhạc. Hồi đó, thấy cha thổi ống ta lun (như cây sáo, dài khoảng 0,8 m, trên thân có đục lỗ nhỏ) thấy thích lắm. Tui xin thổi thử, cha gật đầu nói “được”. Vậy là tui tập thổi nó…”. Hồi đó khi tập thổi ta lun, Bloong Vẽ “dị” lắm, thấy ai đi ngang qua cũng… đỏ mặt, vì sợ chọc. Để hết bị chọc, Bloong Vẽ quyết tâm thổi ta lun cho thật hay. “Ở nhà, ra đường hay đến chòi trên rẫy, lúc nào cũng để sẵn cây ta lun, đi chiến trường tui cũng cầm ta lun theo. Cứ rảnh hồi nào tui cầm ta lun lúc đó để tập thổi. Đến 3 tháng sau tui mới thổi rành ta lun”, già Bloong Vẽ nhớ lại.
Thế rồi, từ 1 chiếc ta lun, Bloong Vẽ tự mày mò học tiếp qua đàn bin long, eng ong ọt, đàn gor, khèn, ong eng nhâm, long gia ling ling… và rành đến 15 loại nhạc cụ như bây giờ. Không chỉ đàn hay, thổi sáo giỏi, già Bloong Vẽ còn tự sáng chế nhạc cụ cho chính mình.
Đi tìm truyền nhân
Bên bếp lửa bập bùng, Bloong Vẽ cầm ta lun thổi cho khách nghe một đoạn rồi giải thích: đây là nhạc cụ thông dụng nhất của người Triêng vùng biên giới này. Đang chìm đắm trong tiếng ta lun, già Bloong Vẽ bỗng ngưng giữa chừng, bỏ ta lun xuống sàn nhà, với tay lấy đàn bin long (đàn có 2 dây) gảy một đoạn nhạc êm dịu.
Già Bloong Vẽ bảo, trong tất cả các loại nhạc cụ do mình chế tác thì khèn là loại khó nhất và hiện giờ biết làm khèn này chỉ còn vài người. Chỉ 2 cái khèn treo trên vách, Bloong Vẽ nói mỗi năm mới làm xong một khèn. Hỏi vì sao như vậy, ông giải thích: Nhìn bề ngoài thấy ống nứa nhỏ như nhau nhưng vào rừng lựa rất nhiều cây nứa mới có một loạt ống nứa cùng kích cỡ. Sau đó về cắt ra rồi hong cho khô vừa, nếu hong ngoài nắng nhiều ống nứa sẽ nứt, vỡ, âm thanh không còn hay nữa. Làm các lỗ khèn gắn ống nứa vào phải rất dày công mới xong. Lỗ to quá không xong, nhỏ quá cũng không được, mà phải làm sao vừa vặn. Đó là chưa kể, lỗ khèn (chỗ đưa miệng vào thổi) nhìn bề ngoài bình thường nhưng phía trong nó có gắn ống kim loại bằng đồng. Đây là việc khó nhất khi làm khèn, bởi nếu ráp đồng vào to, dài hoặc ngắn, nhỏ quá thì âm thanh không hay. Vì thế, người làm khèn hay phải thuộc diện “tinh hoa” mới gắn đồng vào được. Sau đó thẩm âm, thấy âm thanh không ổn, xem như bỏ cả khèn này và làm lại khèn mới.
“Làm xong khèn, thổi không hay phải bỏ đi là chuyện thường”, Bloong Vẽ nhìn nhận. Hay đơn giản như khèn sừng trâu thổi vào khai hội đâm trâu cũng thế, nhìn thì nó như cái sừng trâu bình thường, nhưng làm sao để chọn lựa sừng phù hợp, khoét lỗ trên sừng… có khi phải mất cả nửa tháng, một tháng mới hoàn thành. Theo Bloong Vẽ, khi chế tác nhạc cụ, nếu việc tìm nguyên liệu khó 1 – 2, thì cách làm và sử dụng nguyên liệu khó đến 9 – 10. Còn như sáo gor, cũng làm bằng cây nứa, dài trên dưới 1 m, khoét một lỗ khoảng 1/4 chiều dài trên thân ống nứa. “Ai không biết cách, khoét… cả đời cũng không thổi được. Cả làng Đăk Răng, giờ chỉ có mình tui làm được sáo gor”, già Bloong Vẽ nói.
Tiếng tăm của Bloong Vẽ ngày càng vang xa, ông đi biểu diễn khắp nơi trong tỉnh, trong nước. Lâu lâu lại có các đoàn từ Hà Nội, Huế, từ miền Nam tìm đến để chiêm ngưỡng và học đàn, thổi sáo, sau đó lại mua những nhạc cụ do Bloong Vẽ chế tác. Ngoài việc không… giấu nghề, Bloong Vẽ còn làm thêm nhạc cụ bán cho khách để có tiền “tái đầu tư”. Thế nhưng, điều trăn trở nhất trong lòng của già Bloong Vẽ là chưa tìm được “truyền nhân”. Ông tâm sự, vì quá mê nhạc, từ thời trẻ ông say mê mày mò tập đàn, thổi sáo và chế tác nhạc cụ, để trước là cho bản thân, sau nữa để cho dân tộc mình mãi mãi giữ gìn nét văn hóa truyền thống hay. Vậy mà mấy năm nay, 5 đứa con của ông và hàng trăm học sinh trong xã lẫn các xã xung quanh được dạy nhưng chưa ai chơi nhạc được như ông.
“Chơi nhạc cụ dân tộc Tây nguyên thì có rất nhiều người, còn “hay” và chơi được nhiều nhạc cụ lại không mấy người”, già Bloong Vẽ bỗng trầm ngâm. Trong số những người được ông dạy, có 18 người Bloong Vẽ “ưng bụng” thì chỉ được 2 người khá nhất. Có điều, mỗi người chỉ chơi được 8 nhạc cụ mà thôi. Bloong Vẽ muốn truyền cho 2 người này đủ 15 nhạc cụ, nhưng vẫn chưa đạt.
“Báu vật” có một không hai
Chủ tịch UBND H.Ngọc Hồi (Kon Tum), ông Trần Văn Chí cho hay: “Già làng Bloong Vẽ là “báu vật” có một không hai ở huyện này và cả tỉnh Kon Tum. Chính những người luôn đau đáu gìn giữ văn hóa dân tộc mình là những gì mà khách du lịch đến và đi luôn nhớ mãi. Hiện địa phương đang xây dựng hai làng du lịch cộng đồng ở Đăk Mế, xã Bờ Y và Đăk Răng, xã Đăk Dục.

Phạm Anh

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/bau-vat-song-tay-nguyen-ky-1-gia-lang-che-tac-15-nhac-cu-524831.html

 

>> Trưng bày tượng gỗ Tây nguyên
>> Nghề chơi cũng lắm công phu – Kỳ 29: Người lưu giữ “ký ức” Tây nguyên