ĐẶNG VĂN KHAI NGUYÊN , niềm đam mê với nghệ thuật đàn môi / Passion for the Jew’s harp , VTC 10, NETVIET, VIETNAM


http://www1.vtc.com.vn/vod/104722/Cau-chuyen-Viet-Nam:-Dang-Van-Khai-Nguyen-niem-dam-me-voi-nghe-thuat-dan-moi.html

This TV program made an interview with ĐẶNG VĂN KHAI NGUYÊN, a talented Jew’s harp player in Vietnam . The English subtitles will help non Vietnamese spectators to watch this program with high interest .

dang van khai nguyen 1

dang van khai nguyen 2

dang van khai nguyen 3

dang van khai nguyen 4

NGÀNH MAI /thông tín viên RFA: Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ


Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-08-01
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

hinhminhhoa-622.jpg

Ca sĩ Điền Tử Lang.

Courtesy photo

Your browser does not support the audio element.

Sự hữu hiệu của đài phát thanh

Đài phát thanh là một cơ quan truyền thông mà dù ở chế độ nào cũng đặt nặng, do bởi hiệu năng hoạt động của cơ sở kỹ thuật này rất cao.

Ở đây tôi không đề cập đến những lãnh vực khác mà đài phát thanh mang lại sự hữu hiệu, mà trong buổi nói chuyện này tôi chỉ nói về mặt văn nghệ, nói riêng về cổ nhạc cải lương có liên quan đến đài phát thanh mà thôi. Một tuồng cải lương hát ở rạp thì số người đi coi chỉ vài trăm, nếu như tuồng hay, rạp lớn, đào kép tên tuổi, thì cũng chỉ trên dưới một ngàn khán giả là cùng. Nhưng nếu hôm đó chuyên viên kỹ thuật đài phát thanh mang máy móc đến làm việc, cho trực tiếp truyền thanh thì có hàng triệu người mộ điệu trong cả nước được thưởng thức. Do vậy mà người ca sĩ cổ nhạc cộng tác với đài phát thanh thì quá nhiều người biết đến tên, dù rằng họ chưa một lần gặp mặt, như trường hợp danh ca cổ nhạc Điền Tử Lang.

Người hâm mộ cổ nhạc cải lương của hai ba thế hệ, có ai mà không biết cái tên Điền Tử Lang. Nếu nói về tài nghệ, về làn hơi ca của Điền Tử Lang thì không thể sánh được với nhiều giọng ca quá hay của nghệ sĩ sân khấu. Nói rõ hơn nếu người nghệ sĩ mà quanh năm suốt tháng chỉ hát ở sân khấu, dù rằng ca hay diễn giỏi thì con số người biết đến tên cũng bị giới hạn, còn Điền Tử Lang thì trên cả nước đều biết đến tên tuổi, do bởi anh ta cộng tác với đài phát thanh cả hai thời kỳ trước và sau 1975.

Điều đáng nói ở đây là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975 (khoảng 10 năm) và hát trên đài Tiếng Nói Nhân Dân Thành Phố, tức đài phát thanh Sài Gòn cũ được đổi tên (khoảng gần 20 năm). Có nghĩa là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả đài phát thanh cả hai chế độ, và hai thời gian cộng lại gần 30 năm.

Sau 1975 các ban văn nghệ, ca sĩ đài Sài Gòn đã bị cho nghỉ việc, đại đa số phải rời khỏi đài, để cho ca sĩ khác vào thay thế. Nhưng riêng Điền Tử Lang thì ở lại tiếp tục làm việc, mà lại còn làm lâu hơn, gấp đôi thời gian trước 1975. Lý do vì sao thì tự ai nấy biết, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Có điều tôi muốn nói thêm ở đây là ca sĩ cộng tác với đài phát thanh tuy không nhiều tiền như đi hát, nhưng hưởng lương căn bản, chắc ăn, không có cái chuyện bị giựt tiền lương, bị lãnh đờ mi v.v… do vậy mà Điền Tử Lang kể như may mắn hơn nhiều người khác bị thất nghiệp.

Nhưng ngược lại thì ca đài phát thanh rất nguy hiểm, nghệ sĩ quen hát “cương” phải thận trọng, nếu hát cương (tức lời ca tiếng hát không có trong kịch bản, trong bài ca) mà vô tình phát ra câu hát “phạm chính trị” thì lãnh đủ thôi! Đây, tôi xin kể lại một câu chuyện từng xảy ra trên đài phát thanh Sài Gòn, thời kỳ những năm đầu Đệ Nhứt Cộng Hòa.

Lúc bấy giờ thì Đài Pháp Á đã đóng cửa, đa số ca sĩ ở đài này chạy sang đài phát thanh quốc gia, tức đài Sài Gòn, trong số có ca sĩ Văn Chung, tức hề Văn Chung mà hiện nay đang định cư ở Hoa Kỳ, miền Nam California. Văn Chung lúc ấy là danh ca, dù rằng giọng ca chẳng mấy hay, và ông cũng chưa đi hát, sau này mới cùng vợ là đào Thanh Hương thành lập gánh hát lấy bảng hiệu Thanh Hương – Văn Chung. Lúc bấy giờ Văn Chung tham gia Ban Lệ Liễu, là một ban cổ nhạc có khá nhiều thính giả của đài phát thanh Sài Gòn.

Thời này các ban cổ nhạc của đài phát thanh được lệnh phải soạn bài ca đề cao chế độ thì mới được hát. Ngày nọ khoảng 1957 – 1958 Lệ Liễu (cô cũng là soạn giả) đã viết bài trao cho Văn Chung ca theo điệu Xàng Xê với câu mở đầu “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Cộng Hòa”. Nhưng bữa đó Văn Chung lại mở đầu bằng câu ca “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Dân Chủ Cộng Hòa”. Văn Chung tự thêm 2 chữ “dân chủ” vào mà hại hết cả đám, kể cả ông luôn, vì đó là chế độ miền Bắc. Người ta nói do miệng ăn mắm ăn muối rồi thần khẩu hại xác phàm hay sao?

Đài kiểm thính của mật vụ Phủ Tổng Thống nghe được, và giám đốc đài phát thanh Sài Gòn bị kêu vô Đinh Độc Lập gặp ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Rồi thì khi ra vẻ với vẽ mặt hầm hầm, ông liền ra quyết định ngưng cho Ban Lệ Liễu cộng tác. Đồng thời làm văn thư gởi Nha Cảnh Sát Công An Đô Thành. Thế là Lệ Liễu và Văn Chung bị điều tra, nhưng nhờ Văn Chung từng là cựu nhân viên cảnh sát đô thành nên được thông cảm, chỉ bị cấm hát trên đài mà thôi.

Như mọi người đều thấy đó, chỉ có 2 chữ “dân chủ” thêm vào bài ca mà giám đốc đài phát thanh bị khiển trách, xém mất chức. Ban Lệ Liễu thì mất chỗ đứng, gây thất nghiệp cho số người trong toàn ban, và Văn Chung thì mất chỗ làm khá lâu, bởi đâu có ban nào dám mời Văn Chung cộng tác lúc đó.

Làn hơi ca mang âm hưởng riêng biệt

rap-long-van-250.jpg
Rạp hát cải lương Long Vân ở Ngã Bảy, Sài Gòn. Photo courtesy of BlogNắngẤm.

Giờ đây xin trở lại vấn đê Điền Tử Lang, danh ca này từng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn trước 1975, trong chương trình “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Bộ Chiêu Hồi, thường phát thanh khoảng sau 10 giờ đêm. Thính giả của đài phát thanh Sài Gòn khi xưa, đặc biệt là những người hâm mộ cổ nhạc, chắc không lạ gì 2 giọng ca mùi rệu của đôi nam nữ Điền Tử Lang – Trang Mỹ Hường. Chương trình văn nghệ không những chỉ nhằm đem lại cho giới mộ điệu ở ngoài thành, mà mục tiêu là nhắm vào vùng đồng ruộng xa xôi, nơi thâm sơn cùng cốc. Nói chung dù ở tận

nơi đâu trong rừng rậm mật khu, thì tiếng ca cũng được đem đến, nếu như có chiếc radio nhỏ mang theo.

Làn hơi ca của Điền Tử Lang có âm hưởng riêng biệt, không chạy theo ai hết, không giống với giọng ca nào trên sân khấu hoặc là trong dĩa hát. Còn giọng ca Trang Mỹ Hường thì trầm ấm ngọt ngào, đi sâu vào tình cảm những ai có tâm sự gì đó mà khó bộc lộ ra. Thanh âm ấy cất lên tựa hồ lời than thở của người thiếu phụ trông chồng trong đêm khuya thanh vắng.

Thiên hạ thời ấy nói rằng, ban chương trình văn nghệ chiêu hồi đã khéo tuyển lựa 2 giọng ca nghe sao mà não nuột, tê tái tận cõi lòng, đã đi theo làn sóng phát thanh vào bưng biền, tận nơi rừng sâu núi thẳm. Nếu như người cán binh cộng sản nghe được thì làm sao khỏi nhớ mái ấm gia đình ở quê nhà, nhớ vợ con đang mòn mỏi đợi trông, thì một lúc nào đó có cơ hội là họ sẽ về chiêu hồi.

Người ta không biết rõ hai giọng ca Điền Tử Lang và Trang Mỹ Hường đã làm nản lòng bao nhiêu cán binh, bao nhiêu người về hồi chánh, nhưng chắc ít nhiều gì cũng có tác dụng, nên cả hai mới cộng tác lâu dài ở chương trình văn nghệ chiêu hồi này. Sau ngày 30 – 4 – 75 có lẽ nghĩ rằng ca hát ở cơ quan chiêu hồi là có tội, nên Điền Tử Lang “rét” quá, lánh mặt ở đâu đó một thời gian. Nhưng rồi thấy các nghệ sĩ ở Sài Gòn lần lượt trước sau đi hát trở lại, mà trong đó có Ngọc Đan Thanh cũng từng hát trong ban văn nghệ chiêu hồi với mình, mà chẳng bị lôi thôi gì hết.

Thế là Điền Tử Lang ra trình diện ở đài phát thanh, được cho làm việc trở lại, và được kể là một trong những con chim đầu đàn hưởng ứng nhiệt tình chương trình văn nghệ của đài tiếng nói nhân dân thành phố (tức đài Sài Gòn trước đó). Lúc này thì nội dung lời hát quay ngược 180 độ, lời ca đề cao người bộ đội về thành, chớ không kêu gọi chiêu hồi như lúc trước.

Lúc ấy có người nói rằng Điền Tử Lang hát chiêu hồi hay quá, cán binh cộng sản không phải về hồi chánh lẻ tẻ vài ba người, mà đồng loạt về tràn ngập đi đầy đường ở Sài Gòn…

Điền Tử Lang nói:

– Thôi tội nghiệp mà, đừng phá tôi mà các anh em!

Hát đài phát thanh gần 3 thập niên mà không bị chuyện gì rắc rốilớn lao, kể ra thì Điền Tử Lang cũng tốt số vậy. Thời gian sau thì Điền Tử Lang theo đoàn cải lương Văn Công Thành Phố, lưu diễn miền Trung miền Tây, và anh không muốn ai nói đến dĩ vảng, nhắc tới việc mình từng hát chương trình chiêu hồi. Có người thắc mắc về cái tên Điền Tử Lang sao nghe giống như là kiếm sĩ đất Phù Tang vậy? Điền Tử Lang nói rằng cái tên của anh là do soạn giả Thể Hà Vân đặt cho, lúc mới đi hát ở đoàn Thủ Đô năm 1964.

Hình như Điền Tử Lang chỉ ca cổ nhạc thuần túy, tôi chưa từng nghe anh ta ca tân cổ giao duyên, tức vọng cổ có chen lẫn tân nhạc. Hiện nay danh ca nầy thường hay lẩn quẩn ở các tụ điểm có ca cổ nhạc ở các vùng thuộc tỉnh Gia Định cũ, có ai kêu thì hát cho đỡ nhớ cái nghiệp cầm ca, và cũng để kiếm tiền sống đấp đổi phụ thêm cho một việc

làm nào đó ngoài nghề. Riêng Trang Mỹ Hường thì sau 1975 nghe nói cũng có đi vài đoàn hát nhỏ, lưu diễn nhiều nơi nên rất khó mà biết có thành công hay không. Rồi đến khoảng 1994 đoàn cải lương Sông Hậu ở miền Tây, diễn tuồng Thoại Khanh Châu Tuấn, thì người ta thấy Trang Mỹ Hường đóng đào mụ, trong vai bà mẹ chồng. Thế nhưng, anh kép đóng vai “thần hổ”, thay vì chỉ nói vài lời rồi cỏng mẹ con Thoại Khanh chạy ra khỏi rừng thì hạ màn. Nhưng bữa nay bởi lý do nào đó không biết, anh kép đóng vai cọp lại… ca vọng cổ (tuồng không có lớp ca này).

Trước sự việc “cọp”… ca vọng cổ, bà con khán giả cười như vở chợ. Có người nói: Cha. Đêm nay đoàn chế ra lớp này coi cũng được chứ! Tay đóng vai cọp này ca nghe cũng mùi lắm. Còn nghệ sĩ Trang Mỹ Hường trong vai mẹ chồng của Thoại Khanh mắt đang mù, quá bất ngờ trước giọng ca ngọt ngào của… con cọp, cô ta mở bừng to đôi mắt, quên mất mình đang đóng vai mù. Trang Mỹ Hường cười bò lăn bò càng, té từ trên lưng cọp xuống sàn mà cũng chưa hết cười. Nhiều khán giả đùa: “Hay quá, nhờ có cọp ca vọng cổ mà mắt mẹ chồng Thoại Khanh sáng lại…”

Giai thoại “cọp… ca vọng cổ” ở miền Tây, cũng góp phần làm phong phú thêm cho những câu chuyện bên lề của hoạt động sân khấu cải lương vậy. Và thời gian gần 20 năm qua không biết Trang Mỹ Hường có còn ca hát gì nữa không. Ở đâu?

LÊ QUÂN : Khánh đá tiếng ngân như chuông đồng


Khánh đá tiếng ngân như chuông đồng

TP – Gõ nhẹ chiếc vồ gỗ vào khánh đá cổ, những tiếng “boong, boong” thanh thoát ngân vang, như tiếng chuông đồng.
Chiếc khánh đá có tiếng kêu như chuông đồng Chiếc khánh đá có tiếng kêu như chuông đồng

Chùa cổ ngàn năm trên đỉnh Cô Sơn

Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn. Chùa nhỏ, cảnh trí thanh u, kiến trúc cổ kính, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn đột khởi giữa mênh mông đồng ruộng phì nhiêu của thôn Trang Các (xã Hà Phong, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Xưa nay, chùa đều do các ni cô trụ trì, nên cảnh trí càng thêm tươi đẹp, thanh nhã.

Sư thầy Thích Đàm Quang, người đã trụ trì tại chùa Long Cảm suốt 30 năm nay nên tường tận gốc tích về ngôi chùa. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ có dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã từng dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, nhà vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này ngầm phù trợ, ban thêm sức mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ bèn sai dựng một ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.

Trải qua gần 10 thế kỷ, các vua của triều đại sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa nhỏ xinh, độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại khá nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật cực quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật khác có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét ngàn năm, được cung tiến ngày càng nhiều hơn qua các lần tôn tạo, trùng tu. Sư thầy Thích Đàm Quang cười hồn hậu: “Biết nhà chùa còn gìn giữ được ít nhiều di vật cổ, thỉnh thoảng các chùa lớn trong tỉnh lại đến thỉnh mượn một số về chùa đấy”.

Ngồi trên sân chùa rợp bóng của cây muỗm cổ thụ, thoang thoảng mùi thơm từ cây hoa ngâu hơn 500 tuổi, chúng tôi ngắm nhìn phong cảnh đồng ruộng, thôn xóm xa xa dưới chân núi. Ấn tượng nhất trên khuôn viên này là những chiếc khánh đá cổ đang phơi sương gió ở phía góc sân chùa, hướng về phía bến đò sông Mã cũ.

Hai chiếc khánh ở chùa Long Cảm đều rất lớn, cùng có màu đá xanh xám, được treo trên các trụ to bên cạnh nhau. Điểm khác của chúng là một chiếc có những hoa văn chạm trổ hình đám mây rất tinh xảo, một chiếc thì đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Chỗ rộng nhất của chiếc khánh cũ đo được 0,86m, chiều dài là 1,96m, dày 0,2m, chứng tỏ khi chế tác khánh, các nghệ nhân đã rất nghiêm ngặt tuân theo thước Lỗ Ban. Liền một phiến đá lớn, dày dặn, nên có lẽ mỗi chiếc khánh phải nặng vài trăm kg. Chiếc khánh đem về từ chùa Thượng còn lành lặn và to hơn chiếc kia một chút.

Sư thầy Thích Đàm Quang vui vẻ cho biết: “Chiếc khánh to và đẹp kia vốn không phải của nhà chùa đâu. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa này cung tiến, nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân”.

Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang cũng không rõ nó có từ bao giờ. Thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng ngôi chùa, tức là đã ngàn năm nay rồi. Nhưng cũng có thể, niên đại gần hơn, do được làm khi tôn tạo, trùng tu chùa của người đời sau. Có thể, niên đại của chiếc khánh đá này vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300 – 400 năm trước. Trông nó khá giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, chắc do sử dụng nhiều nên vậy.

Khánh đá kêu như chuông đồng

Sư thầy Thích Đàm Quang rất thích thú với điều đặc biệt của chiếc khánh đá cũ kỹ này: “Chỉ cần lấy tay vỗ vỗ vào khánh đá, nó sẽ phát ra những tiếng kêu như tiếng chuông đồng. Dùng vồ gỗ mà gõ mạnh, nó ngân lên rất vang”. Nói rồi, sư thầy gọi một u già nhờ đi lấy chiếc vồ gỗ, để du khách tự trải nghiệm với hai chiếc khánh.

Chúng tôi lần lượt thử vỗ bằng tay, rồi dùng vồ gỗ để gõ khánh. Quả thật, với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù có gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra những tiếng “cạch, cạch” khô khốc, trầm đục. Nhưng chỉ gõ nhẹ vào chiếc khánh cổ, tiếng “chuông” đã vang vang, trong trẻo, thanh thoát rất thú vị.

Tự mình cầm vồ thử gõ cả hai chiếc khánh để so sánh, họa sỹ, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo trầm ngâm: “Sự khác nhau về âm thanh của chúng là do chất liệu đá mà nên. Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu kia, chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”.

Rồi ông cho biết thêm: “Núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (thành phố Thanh Hóa), cách vị trí chùa Long Cảm chừng hơn 20km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, Lý từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Trên đỉnh núi có hình hòn Vọng Phu, một truyền thuyết hóa đá chờ chồng của nàng Tô Thị xứ Thanh. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng ngàn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá ở núi này để làm khánh, bia, tượng, cột, chân cầu và các vật dụng khác”.

Khánh đá tiếng ngân như chuông đồng - ảnh 1 Du khách thích thú với âm thanh của khánh đá cổ

Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất lâu rồi. Trong sách “Quảng dư chí” từ thời Minh (Trung Quốc) có nói: “Đời Tần, quan Thái thú Dự Châu họ Ninh thường sai người lấy đá ở đây đem về làm khánh”. Hay như trong “Vân đài loại ngữ”, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng: “Hoạch Sơn loại đá kêu vang/ Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi/ Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút trần ai lạc vần…”.Các nhà địa chất cũng từng nghiên cứu về đá núi Nhồi để tìm câu trả lời cho âm thanh độc đáo của nó. Theo đó, đá núi Nhồi có hàm lượng canxi lớn nên có độ nguyên khối lớn, ít bị ăn mòn. Ngoài ra, chất đá mềm, mịn nên rất dễ chế tác các vật dụng. Nhưng lạ rằng, ở nước ta chỉ riêng ngọn núi này có chất liệu đá ấy, không tìm thấy ở những nơi khác. Các núi sát kề xung quanh núi Nhồi không cho tiếng kêu tương tự. Vì vậy, những chiếc khánh được làm từ đá núi Nhồi đều là vật quý báu cả về tinh thần lẫn vật chất, được người xưa rất coi trọng. Tất cả từ âm thanh đặc biệt của nó.

Hiện nay, không còn nhiều những chiếc khánh đá như vậy. Có thông tin ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh còn lưu giữ một bộ khánh làm từ đá núi Nhồi, nhưng chưa được tự tay gõ vào khánh, nên chúng tôi cũng chưa dám khẳng định về âm thanh của nó. Có thể đâu đó trong các bộ sưu tầm cổ vật tư nhân trên đất nước cũng còn những chiếc khánh phát tiếng kêu đang được lưu giữ cẩn thận. Nhưng ở chùa Long Cảm, chiếc khánh đá độc đáo đang vẫn được nhà chùa sử dụng hàng ngày. Nó được treo trên hai trụ xi măng mới đúc có hai hàng chữ Nho, bên cạnh hàng chục chân tảng bằng đá từ nền chùa cổ, không được che đậy gì. Phơi mình trong sương gió suốt nhiều thế kỷ, chiếc khánh đá cổ bị phong hóa ít nhiều, nhưng âm thanh còn rất trong trẻo, thánh thót như tiếng chuông.

“Khánh là một trong những pháp khí của Phật giáo, âm thanh có tác dụng rất mầu nhiệm đối với người tu thiền. Thiền sử kể, các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên, cũng đủ làm cho các ngài thức giấc. Đôi khi, du khách vẫn tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người thì gõ chơi cho vui, không ít người lại coi đó như sự cầu may mắn, bình an đấy” – sư thầy Thích Đàm Quang vui vẻ cho biết.

http://www.tienphong.vn/van-nghe/khanh-da-tieng-ngan-nhu-chuong-dong-891195.tpo

This blog is focused on Trân Quang Hai