TRẦN VIỆT HẢI : Ngày “Nhạc tài tử Miền Nam Việt Nam” tại Orange County, Nam California.ngày 8 tháng 8, 2015


Ngày “Nhc tài t Min Nam Vit Nam” ti Orange County, Nam California.

Nhóm Thân Hữu Đồng Bằng Cửu Long tổ chức thuyết trình “Nhạc Tài Tử Miền Nam Việt Nam”, chủ đề: Nguồn gốc, Bảo tồn và hướng phát triển do các diển giả Hoàng Cơ Thụy, Nguyễn Xuân Yên và Trần Bộ trình bày. Thời gian vào lúc 7PM, Thứ Bảy, ngày 8 tháng 8, 2015 tại Hội Trường Việt Báo 14841 Moran St., Westminster, CA 92683.

Tham dự và mọi liên lạc, xin gọi

– GS. Nguyễn Thị Mai: (714) 251-2151

– MC. Phạm Ngọc Mai: (714) 588-3104

– Nhà báo Du Miên: (714) 398- 3033

VĂN NGH ĐC ĐÁO KHÔNG D CÓ:

5 GIÁO SƯ ÂM NHC SÀI GÒN TRƯỚC 1975

VÀ HU DU HC TRÒ VIT M NHIU TH H CÙNG ĐN, CA

 

LITTLE SAIGON– Vào tối Thứ Bảy 8 tháng 8 năm 2015, tại phòng hội nhựt báo Việt Báo, sẽ diễn ra một buổi sinh hoạt văn nghệ độc đáo, chủ đề “Đờn Ca Tài Tử”, từ 7 PM đến 9 PM. Buổi sinh hoạt được Nhóm Thân Hữu Đồng Bằng Sông Cửu Long tổ chức.

Ban tổ chức cho biết, do có nhiều bạn trẻ muốn hiểu thêm và tường tận hơn về Đờn Ca Tài Tử khi tìm hiểu về văn hóa nước nhà, nên anh chị em tìm cách liên lạc và đề nghị thực hiện chương trình.

Đờn Ca Tài Tử hay Nhạc Tài Tử Miền Nam là một nét văn hóa độc đáo của vùng đồng bằng sông Cửu Long, âm ỉ trường lưu trong huyết quản của người dân lục tỉnh Nam Kỳ.

Dù trải qua bao thăng trầm, trong suốt hơn 100 năm qua, tiếng đờn giọng hát ấy vẫn là một phần không thể thiếu của sông, của nước, của người gắn chặt đời mình với đồng ruộng bao la miền Nam nước Việt.

Ấy thể mà, nếu hỏi một đồng hương về nguồn gốc của Đờn Ca Tài Tử hay giữa Đờn Ca Tài Tử và hát tuồng cải lương, cổ nhạc Nam Phần có liên hệ gì nhau? Sẽ khó tìm được người giải đáp tường tận.

Trên diễn đàn Internet cũng xuất hiện nhiều giải thích, nhất là sau khi bộ môn này được Liên Hiệp Quốc công nhận là di sản văn hóa nhân loại. Trong số những bài viết trên Internet ấy có trộn lẫn những chi tiết thiếu chính xác.

Cũng chính vì thế mà ban tổ chức đã tìm cách liên lạc, mời quý bậc thầy trong bộ môn này, cùng phối hợp thực hiện vừa thuyết trình vừa trình diễn cả ngón đờn, giọng hát và thể điệu.

Nói thì dễ vậy nhưng để thực hiện thì phải tốn nhiều công sức.

Thỉnh mời quý Thầy Cô từng giảng dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn (Việt Nam Cộng Hòa), chọn quý vị có gốc truyền thừa chính tông từ những Cổ Thụ trong làng Đờn Ca Tài Tử và những thế hệ đệ tử hãnh diện nhận lãnh máu phong lưu đài các, đờn ca để làm đẹp cuộc đời, tiếp tục vẫn đờn, vẫn hát dù phải lưu lạc xứ người.

Ban tổ chức cho biết đã thỉnh mời một số Giáo Sư từ Sài Gòn qua như Giáo Sư Hoàng Cơ Thụy, Giáo Sư Xuân Yên, Giáo Sư Trần Bộ, sẽ được Giáo Sư Nguyễn Thị Mai và Giáo Sư Nguyễn Châu, hai con chim đầu đàn của Đoàn Văn Nghệ Dân Tộc Lạc Hồng, phối hợp thực hiện.

Ba vị Giáo Sư ở Sài Gòn qua đảm trách phần thuyết trình kéo dài mươi lăm phút (cuối chương trình sẽ có phần trả lời thắc mắc hay câu hỏi của đề tài này).

image1

image2

Đó là gốc chính nhưng chỉ nói suông e không mấy người thỏa khoái. Phải nghe đờn nghe hát nữa. Cả 5 vị Giáo Sư đều biểu diễn ngón đờn tuyệt phích chân truyền, các lớp đệ tử Việt Mỹ cùng nhau góp tiếng hát.

Đờn Ca Tài Tử thoạt đầu chỉ mình ên là đờn. Sau mới có ca. Như vậy, chính là Đờn. Mà đờn không đơn giản là 1 loại đờn. Nếu gọi là “tứ tuyệt” thì gồm 4 loại như: đờn Kìm; đờn Cò, đờn Tranh và đờn Bầu. Nếu nói cho đủ về Nhạc Cụ của Đờn Ca Tài Tử thì phải kể nào là: Tranh, Tỳ Bà; nào là Kìm và Cò; nào là Tam, là Sáo. Trên đã nói “tứ tuyệt” thì cũng có khi là “ngũ tuyệt” với Tranh, Tỳ Bà, Kìm, Cò, Tam và xếp Sáo vào hàng phụ họa.

Đờn trong Đờn Ca Tài  Tử không phải ai muốn chơi là ôm đờn, khảy phím. Nếu mà dễ ợt như vầy thì làm sao mà đượm nét phong lưu đài các độc đáo của Đờn Ca Tài Tử!

Bởi thế cho nên mới có Thầy Đờn tức “sư phụ” dạy truyền cho đám con cháu và đệ tử; rồi tới Nhạc Công và Danh Cầm.

Còn ca thì sao?

Thì… cũng có Thầy Ca dạy học trò. Muốn dạy thì phải làu thông bài bản cổ, rành kỹ thuật ca, ngân, ngâm, luyến v.v…

Còn nhiều, nhiều lắm. Em nói nhiều không khoái bằng đến nghe các sư phụ “Thầy Đờn”, “Danh Ca” thể hiện bằng những thể điệu, có gốc từ nhạc lễ Cung Đình Huế, lưu lạc sông hồ từ Trung vô Nam theo phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cứu nước… hòa quyện với sông nước mênh mênh, lòng người phơi phới, trải lòng cùng nhựt nguyệt, thể hiện nét lưu tình hổng đâu bằng trai thanh, gái lịch quanh bờ sông Tiền, sông Hậu quê hương.

Còn gì thích thú bằng nghe chính hậu duệ của các bậc tiền bối Đờn Ca Tài Tử Miền Nam trình bày nguồn gốc, lịch sử phát triển và hướng phát huy. Rồi lại được thả hồn theo điệu hò, câu hát, tiếng đờn của sông nước, biển hồ, của cò bay thẳng cánh, đồng ruộng bao la, cái vựa lúa nuôi no cả dân tộc, cái tình người chan chứa nghĩa đồng bào.

Ban tổ chức lưu ý: Chương trình bắt đầu đúng 7 giờ tối, Thứ Bảy 8 tháng 8 năm 2015. Tại phòng hội nhựt báo Việt Báo, đường Moran.

Mọi chi tiết vui lòng liên lạc Giáo sư Nguyễn Thị Mai (714) 251-2152 và cô Ngọc Mai (714) 588-3104

SONG MAI

————————————————————–

Ban đờn ca tài tử Nguyễn Tống Triều dự hội chợ

các nước thuộc địa ở Marseille, Pháp năm 1906

Ci lương là gì ?

Trong ngôn ngữ đời thường đôi khi ta nghe câu nói như “Ông này “cải lương” quá!”, câu nói hàm ý “Ông này “nhà quê” (nhà mùa) quá!”, hoặc giả như “Ông này “màu mè” quá!”, trong cách nói như vậy ta xúc phạm đến danh dự của những người trân quí với môn nghệ thuật văn hóa Nam phần cổ truyền này. Tôi còn nhớ cố nghệ sĩ Việt Hùng xuất sắc qua các vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn”, “Tuyệt Tình Ca”, “Tiếng Hạc Trong Trăng”, “Ông Cò Quận Chín”,… mà tôi vốn thích ông thủ diễn. Có lần ông đã từng cho biết ông rất buồn khi bàng dân thiên hạ dùng từ ngữ này như sự chê bai, thực vậy, nếu ta dùng những từ ngữ tương đương khác ta nên tránh đi sự vô tình ngạo báng, hay xúc phạm đến một ngành nghề văn nghệ cổ truyền của dân tộc.

Để có cái nhìn trân quí về ngành cải lương, hãy xét qua yếu tố cải lương là gì. Theo chữ nghĩa Hán-Việt, “Cải” là sửa đổi, chỉnh đốn lại một vấn đề, sự kiện, sự vật từ cái gốc đã có sẵn; còn “Lương” là làm đẹp hơn trên cái gốc đã có sẵn. Nôm na “Cải Lương” là chỉnh sửa, và làm đẹp hơn cái gốc trước đó. Còn theo chữ nghĩa phương Tây thì Cải lương tạm dịch đồng nghĩa với thuật ngữ tiếng Pháp “la réforme”, hay “réformer”, tiếng Anh là “reform” hay “to reform”, chỉnh lý, cải cách từ cái gốc có sẵn hay nói cách khác là sự cách tân theo qui luật phát triển của sự vật.

Còn cổ nhạc Nam phần khi nói đến danh từ “Cải Lương” để chỉ đến một bộ môn ca diễn truyền thống như “opera” của phương Nam, có kịch và nhạc. Mà linh hồn của ngành này là nền tảng của dòng âm nhạc tài tử Nam phần lục tỉnh dựa vào âm nhạc ngũ cung. Cái gốc của cải lương trong buổi đầu ban sơ là sàn diễn được bắt nguồn từ hình thức chín muồi của diễn xuất nhịp nhàng “ca ra bộ”. Phát triển theo thời đại, đến bây giờ thì cải lương có nhiều hình thức: cải lương sàn diễn truyền thống (rạp hát) hay sân khấu, cải lương “nghe-xem” (audio-visual) thu băng dĩa, nghe băng dĩa và xem/nghe đài phát thanh hay sân khấu truyền hình, … Sân khấu cải lương vẫn là đơn vị gốc của ngành ca kịch truyền thống thuộc dạng nghệ thuật sân khấu tổng hợp gồm kịch bản (do soạn giả viết), dàn dựng (do đạo diễn phụ trách), trình diễn (do các diễn viên đóng), phần âm nhạc (nhạc sĩ-nhạc công), hội họa (họa sĩ lo trang trí các cảnh màn), âm thanh- ánh sáng (do kỹ thuật viên lo), có khi sử dụng cả nghệ thuật múa và điện ảnh… Một tuồng cải lương đúng nghĩa vất vả không thua bên điện ảnh hay kịch opera phương tây đâu nhé.

x

Bạn tôi, madame nha sĩ Ngọc Mai hỏi sao tôi có thích bộ môn cổ nhạc hay không mà có bài viết về ông Sáu Lầu hay soạn giả Viễn Châu. Nếu không có con tim nhúc nhích bâng khuâng, rung động trước những danh tác như Dạ Cổ Hoài Lang và Tình Anh Bán Chiếu, có lẽ khó đặt bút viết được ý nghĩ của riêng mình được. Tôi nói vói các nhà văn như Nguyễn Huy Quang của Bạc Liêu (phu quân của nhà văn nữ Minh Đức Hoài Trinh), Nguyễn Thanh Liêm của Mỹ Tho, và Dương Ngọc Sum của Biên Hòa là tôi yêu mến bộ môn cổ nhạc.

Dạ Cổ Hoài Lang, do Cao Văn Lầu:

http://www.ninh-hoa.com/VietHai-DaCoHoaiLang-CaoVanLau.htm

 

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/da-co-hoai-lang-thien-bao-ft-huong-lan.dQdNgAaztxFl.html

Tình Anh Bán Chiếu, Soạn Giả Viễn Châu:

http://www.ninh-hoa.com/VietHai-TimHieuVeSoanGiaVienChau.htm

 

http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/tinh-anh-ban-chieu-tan-co-ut-tra-on.VSguCZAbEZ.html

Cổ nhạc dù nói về bài vọng cổ mộc mạc nhưng đề cao tính nhân bản yêu thương như các link trên hay tuồng cải lương bài bản như “Nửa Đời Hương Phấn”, “Tuyệt Tình Ca”, “Tiếng Hạc Trong Trăng”, “Ông Cò Quận Chín”,… là nhưng văn hóa gốc trân quí vì tôi thực sư rung động khi nghe âm thanh vọng cổ hay âm nhạc tuồng cải lương vang lên, tôi nhớ dĩ vãng quê nhà vô cùng, quê nhà dù có xa xăm, nhưng những văn hóa gốc mộc mạc đã ăn sâu vào từng thớt thịt, từng tế bào của cơ thể, từng ngỏ ngách của tâm hồn mình rồi. Kế tiếp tôi xin đi vào diễn trình hình thành cải lương qua nhiều giai đoạn, nhe bà con netters. Bài dài có oải, để mai dọc tiếp vậy.

Ôn về lịch sử của cải lương thì vào năm 1920 hai từ ngữ “cải lương” xuất hiện thay cho từ “gánh hát” trước đó, mà từ sự kiện ông Trương văn Thông lập ra gánh, đặt tên là “gánh cải lương Tân Thinh” lấy từ hai chữ đầu của hai câu liễn của hai tác giả Lâm Hoài Nghĩa và Nguyễn Biểu Quốc như sau:

“Cài cách hát ca theo tiến b

Lương truyn tung tích sánh văn minh”

Như vậy thì cải lương là một bộ môn sân khấu nghệ thuật như đã nói bên trên, nó cũng là loại kịch hát có nguồn gốc xuất phát từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên căn bản dòng nhạc Đờn ca tài tử và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, loại nhạc tế lễ cũ xưa. Bàn về thời gian ra đời của nó thì theo học giả Vương Hồng Sển cho rằng tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918”, nhưng theo nhà biên khảo này thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới “bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách cho nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…”. Cũng theo ông Vương Hồng Sển khi người ta nghe hát bội hoài, cứ hát bội mãi, cũng chán tai thét ra hóa nhàm thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện đúng lúc.

Vào buổi ban đầu khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhóm đờn ca được thành lập cốt là để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn… chưa hề được biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng. Và nếu như trước kia “cầm” (một trong bốn bộ môn nghệ thuật như “cầm, kỳ thi, họa”) là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nên nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, xét về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ miền Trung, hay miền Bắc. Âm nhạc đặc thù miền nam thành hình ra đời.

Nhắc lại giai đoạn này, trong quyển hồi ký “50 năm mê hát cải lương” của cụ Vương Hồng Sển có đoạn ghi nhận:

“Căn cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên”.

Tác giả giải thích thêm: “Người miền Nam có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài lêu lổng, chơi bời… Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca cho vui, vừa trau giồi nghệ thuật…rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya…họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp “quan – hôn – tang – tế” (chủ nhà) đều có mời họ cho rôm đám.

Khi ấy, Đờn ca tài tử gồm hai nhóm:

– Nhóm tài tử miền Tây Nam Bộ, như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quan Đại (Ba Đợi), Trần Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn…

– Nhóm tài tử Sài Gòn, như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá…

Rồi đến lối Ca ra bộ: Ban đờn ca tài tử Nguyễn Tống Triều dự hội chợ các nước thuộc địa ở Marseille, Pháp năm 1906. Qua lối năm 1910, ông Trần Văn Khải kể:

Ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp. Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu và được công chúng đến xem đông đảo…

Nghe được cách cho “đờn ca trên sân khấu”, Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho, bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.

Trong thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài ” Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”, với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và “ca ra bộ”. Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 – 1916.”

Cũng theo học giả Vương Hồng Sển kể lại trong hồi ký:

“Các điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát nhân những kỳ bãi trường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh Sóc Trăng… Cho nên chúng ta không nên quên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật hát ca khác với điệu hát bội thời ấy…”

Còn theo nhà văn Sơn Nam còn cho biết là vào năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm mà nay muốn cải lương thì phải làm sao đây hỉ ?… Chuyện nói đây không khó. Có cậu học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo Lang Sa (tiếng Pháp), diễn theo bộ tịch như tây Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được hay sao?… Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy đẹp mắt. Và rồi ngay năm này (tức 1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn “ca ra bộ”.

Bàn về sự hình thành Cải lương:

Các nghệ sĩ như Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong tuồng Khúc Oan Vô Lượng, gánh Trần Đắc (Cần Thơ) diễn trên sân khấu khoảng năm 1931. Qua năm 1918, cũng theo học giả Vương Hồng Sển năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Đệ nhất thế chiến), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau dồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu… Nhân cơ hội này, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của bộ môn nghệ thuật cải lương.

Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối đã dẫn bên trên như:

Ci cách hát ca theo tiến b

Lương truyn tung tích sánh văn minh.

Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự suy luận của ông thì năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”. Sang năm 1916, có ca kiểu “đối thoại” (ca ra bộ). Vào đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có trình diễn tuồng Pháp – Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương. Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn…lúc này hát cải lương mới chính thức thành hình thật sự… và diễn biến tiếp theo của cải lương được ghi nhận như sau:

Những năm 1920 – 1930 là thời kỳ phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương và Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của Tàu, loại xã hội và loại phóng tác như “Tơ vương đến thác”, “Giá trị và danh dự”.

Trong giai đoạn 1930 – 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu… Thời mà nền kinh tế thế giới khủng hoảng ảnh hưởng đến Việt Nam, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lý chung của dân chúng có xu hướng thiên về tôn giáo, các gánh hát đua nhau trình diễn các tích về Phật, tiên, dẫn đầu là gánh hát Tân Thịnh. Rồi từ 1934, xuất hiện phong trào làm vở tuồng soạn theo truyện “kiếm hiệp”, đi đầu là gánh Nhạn Trắng và tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: “Chiếc lá vàng”, “Bích Liên vương nữ”, “Bảo Nguyệt Nương”.

Phát triển và Hưng thịnh:

Tại miền Nam Việt Nam, thập niên 60 là thập niên hưng thịnh nhất của cải lương miền Nam, lấn át cả tân nhạc. Các sân khấu cải lương được đông khán giả đến xem hàng ngày, nên ngày nào cũng có diễn xuất, nhờ đó, các soạn giả và nghệ sĩ có cuộc sống khá sung túc, và một số ca sĩ tân nhạc phải tìm cách chuyển nghề sang hát cải lương để tìm kiếm thành công như Hùng Cường. Riêng tại vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định đã có trên 39 rạp hát cải lương và 20 nơi luyện cổ nhạc (gọi là “lò”), trong đó có những “lò” nổi tiếng như của Út Trong (từng là trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm, và là người đã huấn luyện Thanh Nga từ lúc còn thơ ấu), Văn Vĩ, Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo v.v.. Trong những giải thưởng của ngành Cải lương thời đó, nổi tiếng và uy tín có giải Thanh Tâm, do ông ký giả Thanh Tâm (tên thật là Trần Tấn Quốc) thành lập, hoạt động từ năm 1958 đến năm 1968, mà người nhận giải đầu tiên là nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Những soạn giả tuồng nồi tiếng trong thời này có Năm Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Bảy Cao, Thiếu Linh, Thu An, Viễn Châu (sáng tạo hình thức tân cổ giao duyên, tức là hát cải lương chung với tân nhạc). Những gánh hát cải lương nổi tiếng thời này có đoàn Thanh Minh, Thống Nhứt, Tiếng Chuông Vàng,… với những nghệ sĩ như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương, Thanh Sang, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ, Thanh Thanh Hoa, v.v….

Sau khi năm 1975, chế độ CS muốn diệt “văn hóa vàng” của miền Nam để thay thế bằng “văn hóa đỏ” chuyên chính, họ thất bại, vì những sản phẩm thuộc về phạm trù tinh thần như tân nhạc hay cổ nhạc (cải lương miền Nam) một khi đã ăn sâu vào tâm hồn, hay thẩm thấu vào dòng huyết quản của con người như sở thích quyến luyến, nhớ nhung, sẽr khó lòng gột bỏ dược. Nó là của dân tộc, của đại chúng. Không trừ khử, tận diệt “văn hóa vàng” người CS thua, qua chính sách cởi trói hòa hoãn (détente), hay chiêu bài đổi mới như “perestroika”, “văn hóa đỏ” bớt đè nén cho “văn hóa vàng” ngoi đầu lên, nền tân nhạc và cổ nhạc có đất đứng.

Đặc điểm Tuồng gốc Bố cục:

Khởi sự từ ban sơ các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh Châu Tuấn…hãy còn giữ mang hơi hướm theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường… thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.

Đề tài – Cốt truyện:

Buổi đầu, kịch bản cải lương lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên… hoặc các vở tuồng hát bội, hoặc phỏng theo truyện phim và kịch bản Pháp, như Bằng hữu binh nhung (Frères d’arme), Sắc giết người (Atlantide), Giá trị và danh dự (vở kịch Le Cid, một danh tác của Pierre Corneille), Tơ vương đến thác (truyện tiểu thuyết lãng mạn được chuyển sang kịch La Dame au Camélias, một danh tác của  Alexandre Dumas),… Vào những năm 1930, đã xuất hiện những vỡ mới viết về đề tài xã hội Việt Nam như đã kể trên.

Sau đó, lại có thêm các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập, La Mã, Nhật Bản, Mông Cổ… Thế là cải lương có đủ loại tuồng ta, tuồng Tàu, tuồng Tây… sau có thêm dạng tuồng kiếm hiệp, tuồng Hồ Quảng v.v… Điêu này chứng tỏ khả năng phong phú hóa, dồi dào hóa truyện của người, tuồng của ta, bộ môn luôn đáp ứng sở thích của nhiều tầng lớp công chúng. Sự dung nạp không thành kiến của cải lương có thể coi là sự mượn lai tạp lục, nhưng đây cũng là khía cạnh đặc điểm cầu tiến về nghệ thuật có tính chất chung đối với văn hóa của vùng đất Nam phần lục tỉnh tiên khởi, chính do đặc điểm dễ dãi du nhập từ bên ngoài để đa dạng hóa đề tài, tương tự như bên văn học khi giới văn học tìm hiểu sách vở từ khắp các nơi dịch ra cho độc giả thưởng ngoạn.

Ca nhạc sân khấu:

Các bộ môn sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có sẵn, cốt sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của câu chuyện.

Sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của nghệ thuật Nam phấn. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu mà sau này mang tên vọng cổ). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã Việt Nam hóa.

Ngoài trừ bản vọng cổ, dưới đây là một số bài bản được sử dụng khá phổ biến trong các tuồng cải lương:

– Tam nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung) – Khốc hoàng thiên – Phụng hoàng – Nặng tình xưa – Ngũ điểm – Bài tạ – Sương chiều – Tú Anh – Xang xừ líu – Văn thiên tường (nhất là lớp dựng) – Ngựa ô bắc – Ngựa ô nam – Đoản khúc Lam giang – Phi vân điệp khúc – Vọng kim lang – Kim tiền bản – Duyên kỳ ngộ – U líu u xáng – Trăng thu dạ khúc – Xàng xê v.v… – Và các điệu lý, như: giao duyên, lý con sáo, lý tòng quân, lý cái mơn v.v.. (tham khảo link #2 kèm bên dưới).

Ngoài ra, khi các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng),… thì lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu…

Dàn nhạc cải lương:

Một đoàn Cải Lương không chỉ có các diễn viên diễn xuất trên sân khấu, mà luôn luôn phải có một dàn nhạc đi kèm. Vì thế, khi trình bày về âm nhạc trong nghệ thuật Cải Lương, không thể không nói tới dàn nhạc Cải Lương. Dàn nhạc Cải Lương có một vai trò đặc biệt trong tuồng diễn, đến nỗi, không có dàn nhạc thì không thể thành một tuồng diễn. Dàn nhạc trong Cải Lương không chỉ có nhiệm vụ nâng đỡ, phụ hoạ cho giọng hát, mà còn tô điểm thêm cho từng giai điệu để làm nổi bật chiều sâu tâm lý của nhân vật, tạo thêm kịch tính cho kịch bản, góp phần cho sự thành công của tuồng diễn.

Có một điều đặc biệt cần chú ý là ngay từ buổi đầu, lúc mới khai sinh, trong nghệ thuật Cải Lương đã có sự tồn tại song song của hai dàn nhạc: dàn nhạc cổ và dàn nhạc tân nhạc. Vai trò và sự tham gia của hai dàn nhạc trong vở diễn tuy có khác nhau nhưng không hề có sự lấn át lẫn nhau, mà luôn bổ túc cho nhau. Đó là sự phối hợp độc đáo giữa nét truyền thống và nét hiện đại trong nền âm nhạc Cải Lương.

Dàn nhạc cổ nhạc:

Dàn nhạc cổ luôn giữ vai trò chủ chốt và là linh hồn của tuồng Cải Lương. Dàn nhạc cổ cũng mang đậm nét truyền thống và góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc trong nghệ thuật âm nhạc Cải Lương.

Về mặt cấu trúc, dàn nhạc cổ thường sử dụng những nhạc cụ như: đàn tranh, đàn bầu, đàn kìm, đàn cò, đàn tỳ bà, Guitar phím lõm, đàn sến, song loan và sáo trúc….

Dàn nhạc tân nhạc:

Dàn nhạc tân trong tuy chỉ đóng vai phụ, nhưng cũng rất tích cực, đồng thời cũng rất đa dạng về nhạc cụ. Như phần trên đã trình bày, ngay từ lúc Cải Lương được hình thành, thì đã có sự góp mặt của dàn nhạc tân. Dựa vào vai trò của nó trong vở diễn, chúng ta tạm chia quá trình phát triển của dàn nhạc tân thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu từ năm 1920-1940; giai đoạn hai từ 1940-1960; giai đoạn ba từ 1960-1975.

Ở giai đoạn đầu, dàn nhạc tân không tham gia vở diễn mà chỉ đóng vai trò như một tiết mục quảng cáo, tức là biểu diễn trước lúc tuồng Cải Lương được bắt đầu; hoặc chỉ được sử dụng để “lấp vào chỗ trống” khi chuyển màn, chuyển cảnh,… Trong giai đoạn này, cấu trúc của dàn nhạc tân chỉ có bộ hơi (các loại kèn đồng) kèm với một dàn trống Jazz.

Ở giai đoạn thứ hai, khi nghệ thuật cải lương dung nạp thêm một số bài tân nhạc, thì dàn nhạc tân cũng bắt đầu được tham gia vở diễn. Nhưng sự tham gia này còn rất hạn chế, chỉ đệm cho diễn viên hát những đoạn tân nhạc. Đến lúc này thì dàn nhạc tân có thêm hai cây guitar solo và guitar bass.

Ở giai đoạn thứ ba thì dàn nhạc tân nhạc coi như có vai trò ngang hàng với dàn nhạc cổ nhạc trong vở diễn. Ngoài khả năng đệm cho tân nhạc, dàn nhạc tân nhac còn phụ hoạ, điểm xuyến cho những vai diễn. Lúc này, dàn nhạc tân nhạc dung nạp thêm cây đàn piano và cây organ.

Ngày nay, dàn nhạc tân nhạc còn dung nạp thêm nhiều loại nhạc cụ mới khác, đặc biệt là cây organ điện tử thời buổi computer thịnh hành với những khả năng ngày càng đa dạng. Cây đàn organ điện tử tối tân này đang được tận dụng trên sân khấu Cải Lương. Nếu quá lạm dụng, thì “hồn và chất âm nhạc truyền thống của Cải Lương” sẽ bị biến hóa lệch lạc khác xưa.

Diễn xuất:

Diễn viên cải lương diễn xuất như kịch nói. Chỉ khác là diễn viên ca chứ không nói. Cử chỉ điệu bộ phù hợp theo lời ca, chứ không cường điệu như hát bội. Vương Hồng Sển nói: Hát bội tượng trưng nhiều quá và la lối lớn tiếng quá, trái lại cải lương ca rỉ rả cho thêm mắm muồi. Sau này (khoảng những năm 60), cải lương có pha thêm những cảnh múa, đu bay, diễn võ…cốt chỉ để thêm sinh động.

Y phục, Tranh cảnh:

Trong các vở diễn về tuồng tích xưa hay lấy cốt truyện ở nước ngoài thì y phục của diễn viên và tranh cảnh trên sân khấu cũng được chọn lựa sao gợi được bối cảnh nơi xảy ra câu chuyện, nhưng cũng chỉ mới có tính ước lệ chứ chưa đúng với hiện thực. Trong các vở về đề tài xã hội, diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời. (tham khảo link #1 kèm bên dưới).

Ghi công ai và ai:

Sơ khởi nên kể công ông Tống Hữu Định (tức Phó Mười Hai). Kế đó, người có công gầy dựng và đưa lên sân khấu là ông André Thận. Bên cạnh đó còn có vài người góp sức như: Kinh-lịch Quờn (hay Hườn), Phạm Đăng Đàng… Ngoài ra, còn phải kể đến công của những bầu gánh, soạn giả, nhạc sĩ và các đào kép tài danh thuộc thế hệ đầu, như: Tư Sự (gánh Đồng Bào Nam), Hai Cu (gánh Nam Đồng Ban), Trần Ngọc Viện (gánh Nữ Đồng Ban), Trương Duy Toản, Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), Nguyễn Tri Khương, Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều), Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc, Năm Phỉ, Ngọc Xứng, Ngọc Sương, Phùng Há, Tư Sạng,Hai Giỏi, Năm Nở, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nam v.v… Tất cả đã góp phần hình thành và phát triển loại hình nghệ thuật cải lương. Cũng nên ghi nhận thêm, từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ tại miền Nam, trở thành một môn bộ nghệ thuật văn hóa cổ truyền, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút đông đảo khán thính giả quần chúng. Và do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát huy chương và khen thưởng cho những nam nữ nghệ sĩ trẻ có triển vọng nhất trong năm.

Một số vở cải lương nổi tiếng:

Chuyện tình Lan và Điệp:

Tô Ánh Nguyệt

Sầu vương biên ải

Tuyệt tình ca

Mưa rừng

Tôn Tẫn giả điên

Người vợ không bao giờ cưới

Đời cô Lựu

Lá sầu riêng

Nửa đời hương phấn

Tiếng hạc trong trăng

Sân khấu về khuya

Bên cầu dệt lụa

Tiếng trống Mê Linh

Tấm lòng của biển v.v…

(* theo tài liệu Wikipedia, web VPhausa, site Chim Việt Cành Nam, bờ-lốc Trần Quang Hải Paris, Hồi ký “50 năm mê hát cải lương” của Vương Hồng Sển”, “Ngũ Đại Gia của Sân Khấu cải lương” của Nguyễn Phương).

Xin quí netters tham khảo thêm các link:

Link #1 – Nghệ Thuật Cải Lương:

http://chimviet.free.fr/dantochoc/hatcailuong/cailuo01.htm

Link #2- Vọng Cổ: Một Chút Lý Thuyết Căn Bản và Thực Hành:

http://www.vphausa.org/oldwebsite/vphavn/vanhoc/vongco/vongco.htm

Sau cùng, người viết bài thích thú khi đọc bài biên khảo viết bởi nhà khảo luận, GS. Trần Văn Chi, tức học giả Trần Văn Nam Sơn kể về nền Âm nhạc Tài tử miền Nam Việt Nam nói chung, hay về loại hình thức ca diễn cổ nhạc Cải lương nói riêng. Đây là bài viết có giá trị về văn hóa cổ nhạc miền Nam Việt Nam. Mời netters thưởng lãm.

Việt Hải Los Angeles

Cng chính vào Khu lưu nim NS. Cao Văn Lu, Bc Liêu.

VỀ BẠC LIÊU NGHE LẠI BÀI “DẠ CỔ HOÀI LANG”.

Từ Sàigòn lái xe trên Quốc Lộ 4 (nay là Quốc Lộ 1A) đến Bạc Liêu phải vượt qua 280 cây số. Bạc Liêu là một địa phương áp cuối của miệt dưới xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh ngày xưa, gồm có Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên; Thuở đó Bạc Liêu thuộc trấn Hà Tiên.

Bạc Liêu là vùng đất mới khai phá trên dưới 200 năm, còn ghi nhiều dấu ấn của chúa Nguyễn Ánh vào thời kỳ “tòng vong, tẩu quốc”… nên mãi đến nay vẫn còn giữ lại nhiều địa danh như Ao Ngự, Kinh Chắc-Băng… gợi nhớ đến vị Hoàng đế khai quốc nhà Nguyễn (Ao Ngự là ao do chúa Nguyễn Ánh ra lịnh đào để lấy nước cho quân lính uống, còn Kinh Chắc-Băng là con kênh chúa Nguyễn Ánh chạy vượt qua khi đang lâm bệnh, sợ chết bèn than “Trẫm chắc băng hà…”).

“Bc Liêu là x quê mùa

Dưới sông cá cht, trên b Triu Châu”

Thời đó, so với miền trên và Gia Định thì Bạc Liêu quả là xứ quê mùa và là xứ có rất nhiều cá chốt, nhiều đến độ mỗi khi rửa tôm cá dưới mé sông thì cá chốt bu lại đặc ngẹt; Còn Triều Châu là người Tiều, theo chân Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích bỏ xứ Tàu chạy xuống định cư ở đây, cùng với người Miên từ Sóc Trăng, Trà Vinh đến đây lập nên Bạc Liêu.

Cái “quê mùa” của Bạc Liêu là cái quê mùa dễ thương, mộc mạc, chân chất mà trung hậu, có trước có sau… thể hiện qua cô gái trong vườn nhãn Vĩnh Châu, chàng trai trên ruộng muối Giá Rai, Vĩnh Lợi…

Ai đã từng một lần nghe Út Trà Ôn ca bài “Tình Anh Bán Chiếu” mà không liên tưởng đến Sông Ngã Bảy và con Kinh Bảy Ngã trên thủy lộ Phụng Hiệp nối liền An Xuyên – Cà Mau, Ba Xuyên – Sóc Trăng và Phong Dinh – Cần Thơ dài 140 cây số, đào từ năm 1920, trong đó có 34 cây số chạy qua địa phận Bạc Liêu.

Địa danh Bạc Liêu luôn gây nhiều ấn tượng cho người dân Lục Tỉnh, ngay cả khi họ chưa một lần đặt chân đến đó, với hình tượng của “Công tử Bạc Liêu”, một cái tên gọi vốn đã trở thành tiêu biểu cho mẫu người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, mẫu người mà cụ Nguyễn Đình Chiễu đã dùng để xây dựng thành tiểu thuyết Lục Vân Tiên.

Nói đến Bạc Liêu cũng không thể không nhắc đến nghệ sĩ Sáu Lầu (ông Cao Văn Lầu), người đã cống hiến cho “lớp người đi khai phá” một điệu hát lấy cảm hứng từ câu hát huê tình và điệu nhạc Hành Vân để họ làm hành trang trên con đường Nam Tiến.

Bài “Dạ Cổ Hoài Lang” tuy riêng mà chung, từ cái riêng mà trở thành cái chung, và đã mở đầu cho một phong cách ăn chơi hào phóng của Nam Kỳ – Lục Tỉnh vào đầu thế kỷ thứ 20: loại hình “đờn ca tài tử”.

Lời ca trong 20 câu Vọng-cổ khởi đầu từ năm 1917(?) đã đưa Bạc Liêu từ “xứ quê mùa” trở thành cái nôi của Âm nhạc Tài tử của cả miền đất Nam Kỳ – Lục Tỉnh.

  1. Từ là – từ phu tướng
  2. Báu kiếm sắc phong lên đàng
  3. Vào ra luống trông tin chàng
  4. Và năm canh – mơ màng
  5. Em luống trông tin chàng
  6. Ôi gan vàng thêm đau!
  7. Đường dầu xa ong bướm
  8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang
  9. Còn đêm luống trông tin bạn
  10. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu
  11. Vọng phu luống trông tin chàng
  12. Lòng xin chớ phụ phàng
  13. Chàng là chàng có hay
  14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
  15. Biết bao thuở đó đây sum vầy?
  16. Duyên sắt cầm đừng lợt phai
  17. Là nguyện – cho chàng
  18. Hai chữ bình an – bình an
  19. Trở lại – gia đàng
  20. Cho én nhạn hiệp đôi

Trước đây, vào khoảng đầu thập niên 1970, nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà, đồng thời là một soạn giả cải lương, đã mời cụ Cao Văn Lầu, thuở đó đã ngoài 70 tuổi, lên sân khấu rạp Quốc Thanh để chủ tọa buổi tuyển lựa ca sĩ cổ nhạc; Và cụ đã không quên kêu gọi mọi người “uống nước” nên “nhớ nguồn”. Nay thì nghệ sĩ Sáu Lầu không còn nữa. Tại quê hương ông, để “nhớ nguồn”, người ta đã xây dựng nhiều công trình đề tên ông, Cao Văn Lầu. Vừa qua, ngày 18 tháng 10 năm 2002, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết cũng đã ra mắt tác phẩm CD “Kinh Pháp Cú” chuyển thể sang Cải lương tại Little Saigon, nhằm gây quỹ xây dựng Chùa Tổ Cải Lương tại Bạc Liêu – cũng là quê hương của chị, và đã được rất nhiều người ủng hộ.

Bài Vọng-cổ thuở ấy nhịp 4 và ít lời nên toàn bài có tới 20 câu. Nay vọng cổ thường chỉ ca 4 tới 6 câu. “Dạ Cổ Hoài Lang” xuất hiện đã làm nền tảng cho sự ra đời của nghệ thuật Cải lương; Ca-kịch Cải lương, khởi xướng tại Mỹ Tho, tính đến năm 1922 đã có tất cả 8 Ban (đoàn hát):

– Mỹ Tho: Đồng Bào Ban, Nam Đồng Ban và Tái Đồng Ban.

– Long Xuyên: Sĩ Đồng Ban.

– Vĩnh Long: Kỳ Lân Ban.

– Sóc Trăng: Tân Phước Ban; hát diễn từ Sàigòn xuống đến Miền Tây.

– Chợ Lớn: Văn Hí Ban.

Chính vào thời kỳ này, nghệ sĩ Năm Nghĩa đã sánh vai cùng Bẩy Cao, Ba Khuê, những đứa con của xứ muối Bạc Liêu, để giúp cho bộ môn Cải lương cất cánh. Năm Nghĩa tên là Lư Hòa Nghĩa, con ông Lư Hữu Thành, cháu nội ông Lư Văn Ngọc, người gốc ở Bạc Liêu. Ông Lư Văn Ngọc là người giàu có và điệu nghệ, đồng thời là một nghệ nhân chơi cây kiểng có tiếng thời đó ở Bạc Liêu; Ông còn lưu lại một gốc kiểng cổ thụ 120 năm tuổi (tính đến thập niên 1970), nay không biết cội kiểng ấy còn sống không, và đã về tay nghệ nhân nào? Năm Nghĩa có công xây dựng đoàn Thanh Minh, cũng như Bảy Cao đã lập đoàn Hoa Sen. Còn nhớ lúc ấy Năm Nghĩa nổi tiếng khắp nơi với bài vọng cổ “Văng vẳng tiếng chuông chùa”, càng làm cho Bạc Liêu nổi tiếng, từ đó bài Vọng-cổ 32 nhịp được gọi là “Vọng-cổ Bạc Liêu”.

Lúc Cải lương bắt đầu phát triển mạnh cũng là lúc nghệ sĩ Năm Nghĩa qua đời vì bệnh phổi. Bà Nguyễn Thị Thơ, người bạn đời của ông, tiếp tục lèo lái đoàn Thanh Minh rồi cải tên thành đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, một “đại ban” (đoàn hát lớn) lúc bấy giờ. Nữ nghệ sĩ Thanh Nga là con riêng của bà Bầu Thơ, nhưng được nghệ sĩ Năm Nghĩa thương yêu dìu dắt để thành đào chánh kiêm đào thương của “bảng hiệu nhà”, rồi sau nầy cô đoạt Giải Thanh Thâm đầu tiên (1958). Đến năm 1964 đoàn Thanh Minh được trao tặng giải thưởng “Ban Ca-kịch Xuất sắc nhất”. Nam nghệ sĩ Bảo Quốc là con ruột của Năm Nghĩa, mãi đến năm 1967 mới chính thức bước lên sân khấu và hiện vẫn còn sống chết với nghệ thuật Cải lương… Thanh Nga đã đột ngột ra đi sau khi cô diễn tuồng “Tiếng Trống Mê-Linh” (sau năm 1975), gây thương xót nơi hàng triệu khán giả ái mộ. Hiện mộ phần của cô nằm trong Nghĩa Trang Nghệ Sĩ thuộc khu Chùa Cải Lương do ông Bầu Xuân quản lý.

Xin kể tên các nam nữ nghệ sĩ đã đoạt Giải Thanh Tâm từ năm 1958 đến năm 1964:

– 1958: Thanh Nga

– 1959: Lan Chi, Hùng Minh

– 1960: Bích Sơn, Ngọc Giàu

– 1961: Thanh Thanh Hoa

– 1962: Ngọc Hương, Ánh Hồng

– 1963: Bạch Tuyết, Kim Loan, Trương Ánh Loan, Tấn Tài, Diệp Lang, Thanh Tú

– 1964: Lệ Thủy, Thanh Sang

Gia đình Năm Nghĩa sống chết với nghiệp Cải lương, qua đó đã làm rạng danh Bạc Liêu xứ muối. Về thăm Bạc Liêu, thăm Nhà Lưu Niệm cố nhạc sĩ Sáu Lầu, thăm vườn nhãn, ruộng muối, thăm lại công tử Bạc Liêu thuở nào…

Bạc Liêu thuộc trấn Hà Tiên vào đời nhà Nguyễn, sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta vào năm 1882 thì đổi thành tỉnh Bạc Liêu, một trong 20 tỉnh của Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine Francaise); Quan đầu tỉnh người Pháp đầu tiên tên là Lamothe De Carrier. Đến ngày 1 tháng 4 năm 1957 Bạc Liêu bị sát nhập vào tỉnh Ba Xuyên, từ bấy đến nay lại đã thay đổi nhiều lần… Về thăm Bạc Liêu người ta thường không quên thưởng thức món ăn độc đáo là Bún-mắm-Nước-lèo, một món ăn có lẽ do người Miên đặt ra. Bún-mắm-Nước-lèo Bạc Liêu theo thời gian đã từ từ “hiện đại hóa” và trở thành món ăn khá phổ biến của mọi người Việt, từ trong nước ra đến tận hải ngoại. Cũng giống như món Phở bắc Hà Nội, khởi thủy là món ăn của người Tàu nấu bằng thịt trâu, đến khi được dân Hà Nội chế biến thành phở bò thì nó bắt đầu trở thành món ăn được ưa chuộng của người Việt Nam; Phở bắc sau đó di cư vào Nam thành phở Sàigòn, cũng là món phở mà chúng ta ăn hiện nay ở khu Little Sàigòn của cộng đồng người Việt ở Nam California, hoàn toàn khác với món phở Hà Nội mà Nguyễn Tuân nói đến vào thời xa xưa.

Về Bạc Liêu chúng ta còn phải đến thăm lại một kỷ vật của nhà “bác vật” Lưu Văn Lang: cái đồng hồ nắng (horloge solaire) nằm trước dinh Quan đầu tỉnh ngày xưa. Cũng đừng quên đến thăm các ngôi chùa Miên, chùa Phật-giáo Khất Sĩ và chùa Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Học Nam Việt, cái nôi của thời kỳ Chấn hưng Phật-giáo Việt Nam.

Khi người dân Pháp nổi lên làm cuộc Cách Mạng năm 1789 thì ở nước ta các ông Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Tùng Châu vâng lệnh chúa Nguyễn Ánh đi về Bạc Liêu và nhiều nơi khác lập đồn điền, huấn luyện quân binh. Người Bạc Liêu vẫn không quên ngày vị Kinh Lược của triều đình là Nguyễn Tri Phương vâng lệnh vua Tự Đức về đây lập đồn lũy để chuẩn bị chống giặc Pháp vào năm 1853. Đến ngày 20 tháng 9 năm 1867, sau khi thực dân Pháp xâm chiếm miền Nam, tên De Lagrandière đã ra lệnh giải tán toàn bộ các cơ sở đồn điền ở Bạc Liêu để đề phòng các cuộc nổi dậy.

“Bc liêu là x quê mùa

Dưới sông cá cht, trên b Triu Châu”

Hai câu ca dao ấy khiến chúng ta nhớ lại Bạc Liêu ngày xưa, vào cái thời tổ tiên chúng ta đi khai mở những miền đất mới ở phía Nam… Nay Bạc Liêu đã thay da đổi thịt. Nhưng về Bạc Liêu không thể không nhớ bài “Dạ Cổ Hoài Lang” và bài Vọng-cổ 32 nhịp của Năm Nghĩa. Xa quê, nhớ nước… xin gởi chút tình hoài hương về Bạc Liêu.

  1. Nam Sơn – Trần Văn Chi

————————————————————–

3 attachmentsDownload all attachments View all images
datauri-file.png
47K View Download
datauri-file.png
110K View Download
datauri-file.png
148K View Do

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s