Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội

01/07/2015 09:34 GMT+7

TTO – Trong năm 2002, có một sự kiện rất quan trọng đã đổi hướng cuộc đời của tôi.

GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 – Ảnh: tư liệu

Trong thời gian tham dự Festival Huế, nhân bữa tiệc chiêu đãi quan khách tôi được xếp ngồi kế bên cháu Trương Ngọc Thủy, giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu

>> Kỳ 2: Lập gia đình

>> Kỳ 3: Đất khách quê người

>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống

>> Kỳ 5: Chuyện gia đình

>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

>> Kỳ 7: Quy cố hương

>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị

>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên

>> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ>> Kỳ 12: Họa vô đơn chí>> Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Trong câu chuyện trao đổi, cháu Trương Ngọc Thủy hỏi tôi có định lưu trữ những tư liệu nghiên cứu của mình ở đâu chăng? Tôi tâm sự đã gom góp khá nhiều tư liệu về âm nhạc Việt Nam cũng như những nền âm nhạc lớn của châu Á, hiện đang được cất giữ tại Pháp. Tôi đã lập di chúc giao lại cho trưởng nam Trần Quang Hải nhiệm vụ quản lý và giữ gìn tất cả tư liệu, chờ khi thuận tiện sẽ trao lại toàn bộ cho cơ quan đúng chức năng trong nước nhận lãnh để lưu giữ cho dân tộc Việt Nam. Nhưng tôi ước ao trong lúc còn sống có được điều kiện đem những tư liệu này về nước.

Nghe vậy, cháu Trương Ngọc Thủy tươi cười nói: “Cháu xin thay mặt Sở Văn hóa Thông tin Hồ Chí Minh sẽ tìm cách giúp bác mang về để lưu trữ trong một căn nhà, sau này sẽ là nhà lưu niệm Trần Văn Khê.”

Hai bác cháu nắm tay nhau, tuy chưa ký thành văn bản mà đã có một ước hẹn.

Ngay trong năm đó, cháu Trương Ngọc Thủy cùng với đại diện Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sang Pháp và đến thăm tôi tại tư gia ở Paris. Nhìn thấy tận mắt khối lượng tư liệu chất đầy kín 5 căn phòng, mọi người đều thích thú và quyết tâm bằng mọi giá sẽ tìm cho tôi một căn nhà tại thành phố. Cháu Thủy giao cho Phó giám đốc Thế Thanh thay mặt Sở Văn hóa Thông tin xúc tiến việc này.

Tháng 10 năm 2003, một người cháu của tôi là Thanh hợp sức với cháu Tươi liên hệ với một công ty vận tải biển của Pháp lo việc đóng gói và chuyên chở toàn bộ “sự nghiệp tinh thần” tôi đã chắt chiu tạo dựng qua hơn nửa thế kỷ để đem về Việt Nam. Tất cả gói gọn trong 465 kiện, trong đó có những bộ sách ghi chép về lịch sử âm nhạc Việt Nam, những dĩa hát đầu tiên của một vài nghệ nhân Việt Nam và các nước châu Á mà ngay ở các nước sở tại đôi khi cũng khó tìm được.

Tôi cũng có hơn 100 quyển thuộc loại từ điển bách khoa của Anh, Mỹ, Ý, Pháp; gần 200 cuốn sổ đi đường, như một thiên nhật ký, ghi chép hành trình tôi tham dự hơn 200 hội nghị ở khoảng hơn 68 nước trên thế giới để làm tư liệu về dân tộc học; hơn 2.000 sách, tạp chí thuộc loại nghiên cứu âm nhạc học và nhạc kịch Việt Nam, một kho hình ảnh cùng 800 băng cassettes ghi lại nội dung gặp gỡ nghệ nhân trong các chuyến điền dã khắp Việt Nam và một số nước trên thế giới…

Những thứ “của cải” này, tuy không có giá trị thương mại, nhưng vô giá đối với tôi và tôi nghĩ rằng chúng có ích cho những thế hệ mai sau trong việc tìm hiểu và nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp dân tộc nhạc học.

Nhưng khi mọi thứ được đóng gói xong và chuyển đi, thú thật tôi đã khá lo lắng. Bởi chuyến tàu trên đường đi có thể bị tai nạn, bị sóng đánh chìm, hay hàng hóa có thể bị thất lạc…

Thôi thì, một liều ba bảy cũng liều!

Khi biết được chi phí tổng cộng lên tới 7.000 Euros cho một container 40 feets, một số bạn bè, thân hữu vẫn theo dõi công việc làm của tôi xưa nay, đồng thời thông cảm với hoàn cảnh một nhà nghiên cứu suốt đời thanh bạch, đã tự nguyện cùng nhau đóng góp để giúp tôi trang trải chi phí trong việc vận chuyển khá tốn kém nói trên. Thậm chí một cặp vợ chồng người Việt sống bên Mỹ, chỉ nghe một môn sinh của tôi là cháu Thiên Nga kể về việc làm của tôi trong lãnh vực văn hóa chớ chưa bao giờ tiếp xúc, nhân dịp về thăm quê nhà cũng tìm gặp tôi và đề nghị được chung tay giúp đỡ.

Tôi vô cùng xúc động trước nghĩa cử đẹp của những tấm lòng ấy.

Đầu tháng 12, may mắn thay, chiếc tàu trong đó có kiện hàng của tôi cập bến Việt Nam an toàn. Nhờ sự giúp đỡ của Sở Văn hóa Thông tin Thành phố, nhứt là giám đốc Trương Ngọc Thủy và phó giám đốc Nguyễn Thế Thanh, mà các thủ tục hải quan được tiến hành nhanh chóng. Chỉ sau 5 tiếng đồng hồ, tất cả các kiện hàng được chở về gởi tạm trong Bảo tàng viện Thành phố, vì các cơ quan hữu trách chưa tìm ra căn nhà phù hợp để cấp cho tôi.

Cuối cùng Thế Thanh cho biết Sở Văn hóa Thông tin đã chọn được một biệt thự cũ tại tại số 32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh và giao kiến trúc sư sửa chữa, xây dựng lại cho phù hợp với yêu cầu làm việc và sanh sống của tôi.

Tháng 10 năm 2005, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chánh thức bàn giao căn nhà trên cho tôi để làm nơi cư trú và lưu trữ toàn bộ hiện vật liên quan đến đời sống cá nhân và nghề nghiệp. Sau khi tôi qua đời, nơi đây sẽ trở thành “Nhà lưu niệm Trần Văn Khê”.

Từ tháng 10, tôi tạm ngưng các hoạt động về văn hóa để đặt trọng tâm cho việc ổn định chỗ ở. Cháu Tươi (thời gian này đã rời Paris về Sài Gòn phụ giúp tôi) cùng với em Lý (Trưởng Trung tâm Hồi ký) cùng hợp sức lo việc trang trí nội thất, sắp đặt các phòng tư liệu, phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp… cho căn nhà Huỳnh Đình Hai.

Em Lý nhờ nghệ nhân Út Tài thiết kế cây cảnh trong sân vườn nhà tôi. Có một kỷ niệm vui là sau khi nhận lời, ngay tối hôm đó cô Út Tài cho xe tải tới đổ xuống rất nhiều cây cảnh và chậu hoa, đến độ tôi lo lắng phải gọi điện thoại cho em Lý: “Thầy e là không đủ tiền để trả cho chừng đó cây cảnh đâu. Nếu ở Paris thì với số lượng này chắc phải bán nhà mới đủ trả”.

Không dè lát sau em Lý gọi điện lại: “Em đã nói chuyện với chị Út rồi, nhưng chị nói sẽ còn mang thêm nhiều nữa!”. Khi khu vườn đã hoàn tất, rất hợp với sở thích của tôi, đến phần thanh toán tiền nong thì cô Út Tài tươi cười khoát tay: “Em làm tặng thầy”. Tôi vô cùng cảm động trước quà tặng này.

Việc trang trí nội thất phòng khách thì vợ chồng kiến trúc sư Trương Hiền Phúc đã thực hiện đúng theo ý tôi là sắp đặt để bình thường đây là nơi tiếp khách, nhưng lại có thể biến thành phòng họp cho cả trăm người đến dự những buổi tôi nói chuyện về âm nhạc. Trên các bức tường trong phòng khách treo đầy tranh, ảnh, nhạc khí… hầu hết là những kỷ vật đã gắn bó với tôi trong suốt những tháng năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, hoặc là những món quà kỷ niệm do thân hữu hoặc bạn bè trao tặng.

Từ đó đến nay, căn nhà này được sử dụng đúng mục đích, vừa là nơi sinh sống của tôi, vừa là một địa chỉ văn hóa mà các hội đoàn hay chánh quyền thành phố vẫn đưa khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Các tư liệu tôi mang về nước được sắp xếp phân loại với sự giúp đỡ của Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, tuy chưa hoàn tất nhưng bước đầu cũng đã phục vụ cho nhu cầu tìm đọc của nhiều sinh viên và một số nhà nghiên cứu. Việc chuyển tư liệu từ băng cassette ra CD, băng video VHS ra DVD vẫn đang được tiến hành.

Đặc biệt nơi đây còn diễn ra những chương trình sinh hoạt văn nghệ định kỳ, là dịp để tôi giới thiệu các bộ môn âm nhạc truyền thống cho giới yêu âm nhạc thành phố và cả khách nước ngoài. Khó khăn nhứt là chi phí tổ chức, may mắn đã có em Trần Trọng Thức và cháu Thanh Nga lo việc tìm tài trợ từ những mạnh thường quân hay các doanh nghiệp trong nước.

Bắt đầu từ đây, tôi vui sướng tận hưởng cuộc sống mới của người con đất Việt xa quê hương hơn nửa thế kỷ, nay trở về để có thể tiếp tục cống hiến ngay tại quê nhà.

Trong những năm cuối đời, tôi may mắn được đồng bào trong và ngoài nước theo dõi, biết qua những chuyện tôi đã làm và lấy tình ruột thịt mà đối đãi với tôi.

Từ sự tận tình theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho tôi của các bác sĩ nhiều bịnh viện trong thành phố, đến chiếc xe điện di chuyển trong nhà, chiếc laptop tôi sử dụng hàng ngày, rồi thẻ đi taxi của công ty Mai Linh… thật không sao kể hết những tấm lòng hào hiệp đã bỏ công bỏ của hỗ trợ cho tôi suốt những năm qua.

Tôi đi ăn ở nhiều nhà hàng, chủ nhân đề nghị được chiêu đãi, đi hớt tóc thì chủ hiệu dứt khoát không lấy tiền. Thấy tôi đi ngoài đường chị bán hàng rong đứng dậy hỏi: “Giáo sư đi đâu đó?”, anh xích lô cũng mời: “Giáo sư ơi, lên xe em chở đi hóng mát một vòng”.

Đâu đâu tôi cũng nhận được lời chào thân thiện và niềm nở của mọi người. Cái tình đó là phần thưởng rất lớn giúp tôi thêm hăng say làm việc và cũng ấm lòng một người suốt đời nguyện tận tụy phụng sự âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc Việt Nam.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 13 – Kiếp tằm vẫn nhả tơ


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 13 – Kiếp tằm vẫn nhả tơ

30/06/2015 17:13 GMT+7

TTO – Bước vào năm 2000, ở tuổi 80 tôi may mắn vẫn còn đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc và chưa có năm nào tôi về nước nhiều lần như trong năm ấy.

GS Trần Văn Khê xướng một điệu lý cùng với học trò - nghệ sĩ Hải Phượng tấu đàn tranh trong sự kiện ra mắt sách - Trần Văn Khê - người truyền lửa năm 2013 - Ảnh: T.Huệ
GS Trần Văn Khê xướng một điệu lý cùng với học trò – nghệ sĩ Hải Phượng tấu đàn tranh trong sự kiện ra mắt sách – Trần Văn Khê – người truyền lửa năm 2013 – Ảnh: T.Huệ

Tháng 3 tôi về Sài Gòn để dạy tại Đại học Hùng Vương tới tháng 4 mới trở qua Pháp. Lần này tôi cũng được Ban giám đốc khách sạn Majestic ưu ái dành cho căn phòng 326 như mọi khi.

Ngoài ra tôi còn được mời giảng tại nhiều nơi. Trường Đại học Văn Lang mời tôi dự lễ kỷ niệm 5 năm thành lập, tiếp đãi rất trọng hậu và sau đó tôi giảng một buổi tại nhà trường, sinh viên tới nghe rất đông, có cả chị luật sư Nguyễn Phước Đại và các giáo sư trong trường đến dự.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Tôi còn có những buổi nói chuyện tại Đại học Văn Hiến, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Sư phạm, Nhạc viện trước đông đảo người nghe là thanh niên. Nói chuyện với lớp trẻ là điều tôi luôn thích thú vì được dịp truyền lại cho thế hệ mai sau những điều mình thiết tha mong muốn gìn giữ, mong các em tiếp nối được những công việc mình chưa làm được.

Năm 2000 tôi may mắn gặp được thầy Lệ Trang tại chùa Viên Giác, một người thông hiểu tường tận về cách tán tụng theo phong cách miền Nam. Từ trước đến nay khi nghiên cứu về cách tán tụng trong nhạc Phật giáo tôi được các thầy như thầy Nhất Hạnh, thầy Thiện Châu giảng theo phong cách miền Trung. Miền Nam thì tôi chỉ biết cách tán tụng của thầy cúng mà chưa lần nào nắm được cách tán tụng trong chùa theo kinh nhựt tụng hoặc trong các cuộc lễ như Vu lan hay chẩn tế.

Thầy Lệ Trang tổ chức một buổi mời các vị sư hội lại, có cả dàn nhạc lễ, nhờ vậy lần đầu tiên tôi biết thêm được nhiều cách tán tụng của miền Nam. Thầy giải nghĩa những nghi thức của buổi chẩn tế, từ tiểu đàn, trung đàn đến đại đàn. Tôi được dự một buổi lễ trung đàn từ đầu đến cuối, từ lúc niệm Phật, niệm hương rồi thầy Lệ Trang mặc áo cà sa, đội mão tỳ lư lên đăng đàn, vừa tán tụng vừa bắt ấn liên tục trong mấy tiếng đồng hồ. Đặc biệt lúc đó nét mặt thầy trông hiền hòa thanh thản giống như trong tranh vẽ Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau mấy tiếng đồng hồ tập trung tư tưởng niệm kinh bắt ấn, thầy đến bên tôi ngồi nói chuyện với nụ cười trên môi, không lộ vẻ mệt mỏi chi cả. Tôi thấy rằng điều đó rất lạ lùng mà một người bình thường không sao có thể làm được.

Ngoài ra tôi được mời nói chuyện về âm nhạc trước những vị chức sắc và những người nghiên cứu đạo Cao Đài gồm cả nam lẫn nữ. Nam giới ăn mặc chỉnh tề áo dài trắng bịt khăn đóng, phía nữ tất cả đều mặc áo dài, sau khi nói chuyện về âm nhạc tôi được mời ăn bữa cơm chay thịnh soạn và rất ngon.

Tôi cũng dự một buổi lễ đặc biệt mà phải gặp cơ duyên mới được dự, đó là ngày kỷ niệm Thánh mẫu Liễu Hạnh hiển thánh.

Bà chúa Liễu Hạnh là người đã tạo ra trường phái về Tam tòa Tứ phủ trong Chầu văn tại Sầm Sơn (Thanh Hóa). Từ xưa đến nay một số đông người thường cho rằng “lên đồng” là việc làm mê tín dị đoan mà không chú ý đến mặt xã hội học của hình thức tín ngưỡng này. Nếu Đức Thánh Trần (tức Trần Hưng Đạo Đại vương) là người được dân gian tôn sùng là bực thánh nhân thì về phía nữ, bà chúa Liễu Hạnh cũng là một nhân vật hiển thánh được người dân tôn thờ. Trong khi đạo Phật xuất xứ từ Ấn Độ, đạo Khổng và đạo Lão là của Trung Quốc, Thiên Chúa giáo từ Jérusalem du nhập vào nước ta thì tín ngưỡng Chầu văn hoàn toàn là của người Việt Nam.

Vào ngày 26 tháng 2 âm lịch năm Canh Dần (31/3/2000) tất cả các đền ở miền Nam hội lại tổ chức một lễ thật lớn tại Thủy Lâm Động (thuộc huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai). Tôi được anh Trường Duy, một người không chỉ thông hiểu Chầu văn mà còn biết rất nhiều về nhạc mới, đưa tới đến Thủy Lâm động.

Đây là chuyến đi vô cùng bổ ích đối với tôi vì được dịp chứng kiến tất cả nghi thức của một buổi hát văn, hầu gia. Tôi ghi âm ghi hình lại toàn bộ để đem về nghiên cứu. Lần đầu tiên tôi được nhìn tận mắt cảnh một bà cụ đã ngoài 70 mà lên một lượt mười mấy giá, mỗi giá kéo dài khoảng gần mười phút, phải nhảy múa, phải thay xiêm đổi áo nhiều lần, hết múa đuốc rồi lại múa thanh long đao, múa kiếm. Mỗi lần cụ phát lộc thì người ngồi bên ngoài được thưởng tiền. Sau khi hầu giá hơn hai tiếng đồng hồ, bà cụ vẫn khỏe khoắn như thường!

Bên lãnh vực truyền hình tôi tham gia trong chương trình của Phan Thao, trình bày về những nhạc cụ nhạc khí Việt Nam đặc biệt là cây đờn bầu, có cháu Hải Phượng và nhóm Tiếng hát quê hương biểu diễn. Lần đó Phan Thao cũng giới thiệu một đoạn phim ghi hình buổi tôi giới thiệu đờn bầu tại Canada có Đức Thành đờn minh họa.

Ngoài ra Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh cũng chiếu phim tư liệu dài khoảng 30 phút về chân dung của tôi do hai cháu Việt Bình và Việt Oanh dàn dựng. Tôi vô cùng cảm động và cho rằng phim này thành công về mặt hình ảnh cũng như âm thanh mà nhứt là lời thuyết minh, trong vòng nửa giờ đồng hồ đã phác họa lại toàn bộ cuộc đời của tôi. Sau hôm đó đài còn chiếu lại lần nữa tại Cung văn hóa lao động rồi tổ chức cho tôi giao lưu với khán giả.

Ít có khi nào về Việt Nam trong thời gian rất ngắn mà tôi làm được nhiều việc như chuyến đi này, đem lại cho tôi nhiều niềm vui, thỏa mãn ước mơ, lại có dịp tìm hiểu rất sâu sắc về mặt tôn giáo, mở rộng thêm kiến văn của tôi về tán tụng Phật giáo, biết được cặn kẽ về Chầu văn. Hai tháng đó có giá trị bằng bao nhiêu năm đọc sách và học tập.

Trở lại Pháp vào cuối tháng 4, đến tháng 7 tôi lại về nước cùng với đoàn Vật lý thiên văn do Trần Thanh Vân tổ chức lần thứ hai. Các đại biểu từ ba bốn chục nước khác nhau họp tại Hà Nội để bàn về những vấn đề vật lý năng lượng cao và vật lý thiên văn. Lần này có thêm mấy đề tài nhỏ chẳng hạn về trồng trọt, có đại diện Khoa nông nghiệp các trường đại học ở Cần Thơ, Thái Bình về dự và có những buổi nói chuyện về lãnh vực này.

Mục đích chánh tôi đi theo đoàn là để tổ chức một đêm văn nghệ ngắn gọn trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ tập hợp đầy đủ những bộ môn nghệ thuật truyền thống Việt Nam như ca, nhạc, múa, kịch. Từ bên Pháp tôi đã gọi điện thoại liên hệ với anh Võ Văn Quân, giám đốc Nhà hát chèo để thảo luận về một chương trình có đủ các tiết mục ca trù, chầu văn, trích đoạn hát chèo, múa bỏ bộ, độc tấu sáo, độc tấu đờn bầu, sắp xếp những tiết mục sao cho hấp dẫn. Khi tôi về đến Việt Nam thì ngày hôm sau là tổng dượt tại Nhà hát chèo, các anh chị em trong đoàn chèo từ diễn viên đến dàn nhạc đều nỗ lực biểu diễn thật xuất sắc.

Lần đó tôi rất buồn vì trước đây đêm đêm Nhà hát chèo vẫn còn mở màn biểu diễn nhưng nay cơ sở xuống cấp đến nỗi không còn có thể sử dụng để công diễn được nữa. Trần Thanh Vân và tôi cùng nhau đi xem một vài chỗ khác nhưng nhận thấy không đủ khang trang để dùng làm nơi trình diễn cho khách nước ngoài. Rốt cuộc chúng tôi đành phải xin thuê tại Nhà hát lớn với giá một đêm lên đến gần 20 triệu đồng, nhưng nhờ sự can thiệp của anh Võ Văn Quân và sự thông cảm của ban giám đốc Nhà hát, khi nghe nói buổi biểu diễn này do tôi giới thiệu âm nhạc cho phái đoàn khách nước ngoài nên có giảm được phần nào.

Trước giờ mở màn, khi đứng trên sân khấu thử ánh sáng, bỗng nhiên tôi chợt nhớ lại gần 60 năm trước, tức vào năm 1941, khi còn là một sinh viên trường Thuốc tôi cũng từng đứng tại đây giới thiệu 3 tiết mục hò cấy của Bến Tre, hò mái nhì trên sông Hương và cò lả tại Hội lim miền Bắc bằng tiếng Pháp cho người Pháp lẫn Việt vốn là thầy, bạn trong trường và một số quan khách.

Mới ngày nào tôi còn là thanh niên đôi mươi mà giờ đây đã là một giáo sư già xấp xỉ bát tuần. Tôi xúc động trào nước mắt, đứng im lặng mấy phút trong khi ánh đèn sân khấu rọi vào mặt mà không nói nên lời, cho đến khi có người nhắc nhở tôi mới sực tỉnh. Có một sự khác biệt lớn, lần này tôi không chỉ giới thiệu bằng tiếng Pháp mà cả tiếng Việt và tiếng Anh, không phải cho những người Pháp mà cho rất nhiều đại biểu trên thế giới và không chỉ giới thiệu 3 tiết mục đơn sơ do những nghệ sĩ nghiệp dư trình bày mà là một chương trình được chuẩn bị công phu do những nghệ sĩ chuyên nghiệp, ưu tú và tài năng biểu diễn.

Trước khi kết thúc hội nghị Vật lý thiên văn, anh Trần Thanh Vân mời phái đoàn dự một bữa tiệc lớn tại khách sạn Horizon và nhờ tôi trả lời một số thắc mắc của các đại biểu về âm nhạc dân tộc. Tôi nhận lời, mượn vài nhạc khí của Viện nghiên cứu Âm nhạc để minh họa khi cần. Hôm đó rất vui, mọi người đặt nhiều câu hỏi về tiết tấu, thang âm, điệu thức, tôi nói chuyện có đờn minh họa và ngâm thơ.

Buổi tối sau khi tan tiệc ông Nguyễn Văn Tạo, giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, ngỏ ý mời tôi đến nói chuyện tại nhà trường. Tôi sắp trở về Nam nên ông đề nghị tổ chức buổi nói chuyện ngay sáng hôm sau, tôi trả lời:

– Tôi sẵn sàng nhận lời nhưng bây giờ đã khuya, từ giờ đến sáng mai làm sao giáo sư tập hợp được mọi người?

– Không sao, đêm nay tôi báo tin thì ngày mai mọi người sẽ đến nghe giáo sư nói chuyện.

Điều tôi không ngờ là sáng hôm sau khi xe của nhà trường đưa tôi đến Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng họp đã đầy nghẹt người. So với những trường đại học trong miền Nam thì nơi đây rộng lớn hơn rất nhiều, tôi cũng rất vui khi có thêm người bạn là nhà thơ Huy Cận tới nghe. Bữa nói chuyện có kết quả tốt, nhà trường có ý mời tôi trở lại nói chuyện cho đông đảo sinh viên nghe nhưng đã đến lúc tôi phải về Sài Gòn.

Cuối tháng 7 tôi trở qua Pháp chuẩn bị cho chuyến về nước vào tháng 9 để chủ tọa cuộc liên hoan “Nhạc hội đàn Tranh châu Á lần thứ nhất” do Cung văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, đồng thời dạy thêm một khóa tại trường Đại học Hùng Vương.

Cuộc liên hoan đờn tranh này tôi đã ao ước từ lâu vì muốn cho các cháu từng đoạt giải trong các kỳ thi “Tài năng trẻ đờn tranh” được dịp giao lưu với bên ngoài, gặp gỡ những nghệ sĩ đờn Koto Nhựt Bổn, Kayageum Triều Tiên, Gu Zheng Trung Quốc. Phạm Thúy Hoan mời được giáo sư Thum Soon Poon của Singapore và đoàn Nhựt Bổn, còn tôi liên hệ mời đoàn Nam Triều Tiên. Tổng cộng có 3 đoàn nước ngoài và đoàn Việt Nam tham dự nhạc hội.

Lực lượng tất cả các đoàn đều rất hùng hậu, phía Việt Nam giới thiệu 3 gương mặt trẻ đã đoạt giải nhứt cuộc thi đờn tranh là Hải Phượng, Vân Ánh và Thanh Thủy. Phạm Thúy Hoan là người phụ trách lo phối hợp mọi việc, tôi là cố vấn nghệ thuật kiêm chủ tọa Nhạc hội và điểu khiển buổi hội thảo.

Trong buổi hội thảo, đại diện mỗi đoàn trình bày về cây đờn của dân tộc mình. Phía Việt Nam có hai bài tham luận, một của anh Nguyễn Văn Đời, giáo sư dạy đờn tranh tại Nhạc viện và một của Phạm Thúy Hoan.

Điểm lý thú là mỗi nhạc cụ có một phong cách, cách đờn và nét đặc thù riêng, nhưng tất cả đều từ một nguồn gốc là cây đờn Cổ tranh xuất hiện từ đời nhà Tần bên Trung Hoa. Đến thế kỷ thứ VI vua Kasil của Triều Tiên dựa theo đờn Cổ tranh mà tạo ra cây đờn Kayageum. Qua thế kỷ thứ VII (năm 672) bà Ishikawa Iroko của Nhựt Bổn gặp một đạo sĩ Trung Quốc đờn cây đờn rất lạ nên theo học rồi lập ra trường phái Tsukushi Goto tại miền Nam, sau một ngàn năm cây đờn đó biến chuyển thành cây đờn Koto như ngày nay. Còn đờn tranh của Việt Nam và Mông Cổ xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII. Tất cả những nhạc cụ chung nguồn gốc đó có phong cách đờn giống nhau là tay mặt khảy còn tay trái nhấn. Tuy cùng nguồn gốc và cùng một cách đờn nhưng lại mang nhiều sắc thái khác nhau, từ cách lên dây tới thủ pháp biểu diễn, đó chính là cái đẹp trong nghệ thuật vì nếu giống nhau hết thì không còn gì thú vị nữa.

Theo đánh giá của tôi, Nhạc hội đờn tranh tổ chức lần đầu tiên mà đạt được kết quả như vậy là tuyệt vời, đó là một cuộc giao lưu văn hóa rất bổ ích.

Tất cả các đoàn được sắp xếp ở chung trong khách sạn, được dự những cuộc du ngoạn xuống Tiền Giang, có những buổi biểu diễn chung, biểu diễn riêng, do đó các đại biểu đều hết sức vui vẻ và thích thú.

Sau đêm bế mạc, ngày hôm sau là đám cưới của Hải Phượng. Tiệc cưới tổ chức tại khách sạn Majestic mời mấy trăm quan khách. Đặc biệt tất cả 14 nhạc sĩ của phái đoàn Nhựt Bổn đều đặt may mỗi người một áo dài để mặc dự đám cưới nhìn rất dễ thương, sau khi tiệc tan đoàn Nhựt ra thẳng phi trường trở về nước ngay. Cuộc gặp gỡ này cho thấy tình cảm giữa những người nhạc sĩ rất chân thành và nồng nhiệt, là sợi dây tạo nên sự thông cảm giữa các dân tộc.

Sau khi Liên hoan đờn Tranh châu Á kết thúc tôi ra Hà Nội để dự một cuộc hội thảo rất lớn với đề tài “Việt Nam trong thế kỷ XX” bàn về đủ mọi phương diện chánh trị, kinh tế, văn hóa.

Cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp là ông Nguyễn Chiến Thắng phụ trách nội dung của hội thảo đã gởi thơ mời tôi tham dự. Tôi nhận lời và được sắp xếp vào Tiểu ban Văn hóa, vấn đề tôi đưa ra là suy nghĩ về bản sắc dân tộc Việt Nam và phát triển văn hóa như thế nào.

Trong cả hai lần về nước trong năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà Nội tôi đều được dự buổi diễn vở kịch Lộ Địch của cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị. Đây là một vở bi kịch có giá trị nhân bản rất tuyệt vời phỏng theo tác phẩm Le Cid của Corneille (Pháp).

Cụ Ưng Bình sử dụng cốt chuyện của Le Cid mà sắp xếp những chi tiết sao cho phù hợp với tâm lý của người Việt lại hợp với sân khấu hát tuồng Việt Nam: lúc nào nói lối, lúc nào hát Nam, lúc nào hát khách, văn chương chải chuốt và lời thơ rất hay. Theo tôi đây là một kiệt tác đầu tiên đưa ra đường lối mới để phát triển nền hát tuồng của Việt Nam, được Nhà hát Đào Tấn ở Bình Định dàn dựng, đạo diễn là Hòa Bình, một nghệ sĩ ưu tú rất có tài, trẻ đẹp mà nhứt là có tấm lòng. Giáo sư tiến sĩ Thái Kim Lan – dạy Triết ở trường Đại học Munchen bên Đức – là người đứng ra tài trợ cho việc dựng lại vở tuồng để trình diễn trên sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Nhân dự hội nghị này tôi được dịp nghe dàn trống Thăng Long biểu diễn, sử dụng toàn bộ trống Việt Nam từ lớn đến nhỏ, không phải chỉ phong phú về số lượng mà cả về chất lượng. Có những trống đánh theo tiết tấu rất đơn giản trên đó lại thêu dệt thêm những tiết tấu khác phức tạp hơn, kết lại như đan giỏ và làm thành một bài rất đẹp. Đồng thời các động tác từ cánh tay đưa lên đánh xuống đến bước tới bước lui đều phỏng theo phong cách võ Việt Nam.

Đặc biệt trong chuyến ra Hà Nội vào tháng 9 có cháu Bảo Ngọc làm một đoạn phim tư liệu ngắn về chân dung của tôi để phát trên Đài truyền hình VTV3. Cháu mất hết 3 buổi đưa tôi đến Văn miếu, đến khách sạn nơi tôi ở để quay những sinh hoạt thường ngày, phỏng vấn tôi về quan điểm phát triển văn hóa, hỏi thăm đôi nét về chuyến đi Hà Nội.

Trong chuyến này, tôi có dịp đến thăm cụ bà Quách Thị Hồ. Hôm đó thân hữu tổ chức chúc thọ cho cả bà cụ và tôi, cụ 90 còn tôi 80 tuổi, có đủ mặt những người con, vài bạn bè và một số học trò của cụ Quách Thị Hồ. Khi tôi vừa bước vào, mọi người hỏi:

– Cụ còn nhớ Giáo sư Trần Văn Khê không?

Cụ không trả lời thẳng câu hỏi, chỉ nhìn tôi mà cất giọng ngâm:

Vô duyên đâu dễ chăng là

Có duyên nên khiến dù xa hóa gần

Đó là hai câu thơ trong bài cụ Trúc Hiền tặng tôi năm 1976. Ngừng một chút cụ lại ngâm thêm:

Đẹp lòng gặp lại cố nhân

Rồi nắm tay tôi lập lại ba lần “Cố nhân ơi! Cố nhân ơi! Cố nhân ơi”.

Tôi cầm tay cụ mà không cầm được nước mắt, nhớ lại con người tài hoa sắc sảo trước đây, nay tuy chỉ còn da bọc xương mà vẫn giữ được hơi ngâm, còn nhận ra người quen cũ để mà ngâm lên mấy câu thơ ngày xưa chứng tỏ tâm trí còn minh mẫn. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp cụ Quách Thị Hồ.

Đặc biệt năm 2000 tôi bắt tay vào việc viết hồi ký với sự cộng tác của “Trung tâm Hồi ký”.

Ý định ban đầu của tôi khi viết hồi ký là ghi chép lại một số công việc đã làm để cất giữ cho riêng mình, đến khi tôi trở về với cát bụi thì những hậu duệ còn sống sẽ tùy nghi phổ biến. Nhưng một vài bạn bè góp ý rằng như vậy lỡ có điều gì không được chính xác thì lúc đó tôi đã nằm yên dưới ba tấc đất làm sao có thể đính chánh được nữa! Tôi nghe vậy cũng hợp lý nên dự định sẽ cho xuất bản khi đang còn sống. Nhưng bắt đầu viết cả sáu bảy năm mà chưa xong một quyển, vì tôi chú ý cho công việc trước mắt nên ngày qua ngày không tập trung được, trong khi viết hồi ký đòi hỏi phải hồi tưởng lại dĩ vãng để hoàn thành một công việc cho tương lai.

Tình cờ các em trong “Trung tâm Hồi ký” chủ động đề nghị hợp tác với tôi để thực hiện hồi ký. Từ nay có cả một ban thơ ký lành nghề, ban biên tập chuyên nghiệp cộng tác nên tôi nhận lời và ưu tiên dành thời giờ cho việc thâu băng thực hiện hồi ký.

Em Lý Thị Lý – Trưởng điều hành Trung tâm – đích thân đến ghi âm. Em có cách nghe làm cho người nói chuyện rất thú vị, giống như đờn Bá Nha rót vô tai Chung Tử Kỳ. Mỗi tuần lễ tôi dành năm buổi để thâu băng. Thứ sáu thì chắc chắn lúc nào cũng là em Lý đến làm việc, những ngày còn lại có khi là em Doãn Phượng, có khi là Thanh Nga, toàn những người có tay nghề và biết cách nghe, nên từ cái chớp mắt, sự xúc động của các em đều làm cho người nói chuyện thấy hứng thú.

Khi tôi trở về Pháp thì bản thảo được chuyển qua email cho tôi sửa chữa trực tiếp trên máy vi tính rồi gởi trở lại để ban biên tập Trung tâm Hồi ký gọt giũa lời văn, cắt bớt những chỗ dư, những đoạn ý trùng lắp mà vẫn giữ được lối viết của tôi. Nói chung công việc rất nhiều nhưng với sự tổ chức chuyên nghiệp của Trung tâm Hồi ký nên công việc tiến hành rất mau, mặc dầu đôi bên ở cách nhau gần nửa vòng trái đất. Nhờ vậy mà chỉ trong vòng hai năm tôi đã hoàn thành năm quyển hồi ký dày gần 2.000 trang.

Bản thảo cuối cùng được chuyển sang Công ty Văn hóa Phương Nam là nơi lo việc in ấn, xuất bản và phát hành các tác phẩm của tôi.

Tháng 10 năm 2000, trường Đại học Cần Thơ mời tôi xuống nói chuyện. Trần Thượng Tuấn, hiệu trưởng Đại học Cần Thơ chính là con nuôi của bạn thân tôi là Tạ Bá Tòng, nên xin phép được gọi tôi bằng chú. Tuấn hãnh diện hướng dẫn tôi đi xem hết mọi nơi, từ phòng vi tính trang bị rất nhiều máy cho sinh viên thực tập, đến nơi ăn ở của sinh viên nội trú, đặc biệt là đại giảng đường 1.300 chỗ ngồi, qui mô lớn hơn bất cứ trường đại học nào ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Đáng nhớ nhứt là hai đêm tôi nói chuyện về những nét đẹp trong âm nhạc dân tộc tại Đại học Cần Thơ. Chưa bao giờ tôi nói chuyện với sinh viên mà thấy hứng thú bằng. Đại giảng đường mênh mông chật kín người, vậy mà còn mấy trăm em đứng bên ngoài. Ban tổ chức phải cho đặt thêm một màn ảnh lớn phía trước cửa. Hôm đó trời mưa lâm râm nhưng các em vẫn kiên trì đứng dưới mưa nghe đến phút cuối cùng.

Sau Cần Thơ thì tỉnh Tiền Giang cũng mời tôi đến nói chuyện với lớp tập huấn cán bộ của Nhà văn hóa các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Long An. Tại đây tôi gặp lại cháu Mai Mỹ Duyên người Tiền Giang, một phụ nữ đã khởi xướng việc hình thành 14 câu lạc bộ tài tử của Tiền Giang và Gò Công. Cháu Duyên đang làm tiểu luận án thạc sĩ về “Ca nhạc tài tử” dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tô Vũ nên trước đó có đến gặp tôi tìm hiểu về những nét đặc thù của nhạc cải lương tài tử.

Tôi rất cảm động khi gặp được một người trẻ tuổi mà có lòng say mê tìm hiểu âm nhạc, nên tuy không chuẩn bị trước mà tôi vẫn say sưa nói chuyện với cháu suốt ba tiếng đồng hồ, để cháu ghi âm ghi hình những điều cần biết trong truyền thống ca nhạc tài tử cải lương miền Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng.

Năm 2001, tôi về nước chủ yếu để dạy âm nhạc truyền thống cho hai lớp tại Đại học dân lập Hùng Vương, công việc mà tôi lúc nào cũng thích thú. Tôi không chỉ quan tâm đến việc đem lại kiến thức cho các em mà quan trọng hơn là hướng các em trở về với bản sắc văn hóa dân tộc.

Ngoài ra tôi cũng tham dự nhiều hội nghị. Sau nhiều năm tiếp cận mật thiết với các nghệ nhân nắm vững truyền thống trong nước, tôi có những thay đổi quan trọng trong cách đánh giá âm nhạc dân tộc. Sự đúc kết của tôi không còn lệ thuộc vào cách nhìn khách quan của phương Tây mà gắn liền với những quan điểm triết lý đời sống của người dân Việt.

Sang năm 2002, vào tháng 5 tôi được mời tham dự Festival Huế. Đây là một trong những sinh hoạt văn hóa tầm cỡ bao gồm nhiều chương trình lễ hội cộng đồng được tái dựng với một không gian rộng lớn cả trong và ngoài thành phố, góp phần làm sống lại các giá trị văn hóa của Huế. Festival chánh thức khai mạc hôm 4 tháng 5 tại quảng trường Ngọ môn, với sự tham gia của các đoàn nghệ thuật Việt Nam và 8 nước gồm Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Sau festival, tôi có viết bài nhận xét về một số ưu khuyết điểm trong việc tổ chức và dàn dựng các chương trình nghệ thuật gởi cho Ban tổ chức để rút kinh nghiệm cho các Festival kế tiếp, được tổ chức hai năm một lần.

Qua tháng 10, tôi có buổi nói chuyện về đề tài “Âm dương trong văn hóa Việt Nam” nhân cuộc họp mặt mang tên “Điểm hẹn Việt Nam” của tổ chức YPO (Young Presidents Organisation).

Tổ chức này qui tụ những tổng giám đốc, giám đốc có độ tuổi dưới 50 và đang điều hành các công ty xí nghiệp lớn có doanh số hàng năm trên 8 triệu USD. Việt Nam có 12 doanh nhân tuổi trẻ tài cao được gia nhập làm thành viên của YPO. Hàng năm YPO đều tổ chức cuộc gặp gỡ tại một quốc gia trên thế giới, nhằm tạo điều kiện cho các hội viên không chỉ tiếp cận về mặt kinh tế mà chủ yếu là tiếp thu trên thực tế, chớ không qua sách báo hay hình ảnh, mọi mặt từ lịch sử, địa lý, văn hóa của đất nước được chọn làm điểm đến. Năm 2002, các thành viên Việt Nam của YPO đăng cai tổ chức “Điểm hẹn Việt Nam” tại Hà Nội từ ngày 22 đến 26 tháng 10.

Các bạn trong nhóm YPO Việt Nam đã thiết kế một chương trình hết sức phong phú và đặc sắc gồm những buổi thuyết trình về chính trị, lịch sử, kinh tế, khoa học, văn hóa vào buổi sáng; buổi chiều dành cho việc du ngoạn tham quan danh lam thắng cảnh còn buổi tối thì dự dạ yến tại nhiều nơi khác nhau.

Tôi được cháu Tuyết Mai, giám đốc Công ty du lịch Vidotour, thay mặt ban tổ chức mời nói chuyện với đề tài “Âm dương trong văn hóa Việt Nam”, không chỉ gói gọn trong nghệ thuật mà cả văn hóa ẩm thực và văn hóa trong nếp sống.

Buổi thuyết trình được nhiều người hoan nghênh và đại biểu các nước Âu Mỹ đều ngỏ ý mời tôi đến các nước bạn để giới thiệu đề tài này. Nhưng vì lý do sức khỏe nên tôi không nhận lời mời nào cả.

Trong năm 2002 có một sự kiện về kịch nghệ Việt Nam đáng ghi lại như một dấu son: Nhà hát Đào Tấn được mời sang Đức trình diễn vở Lộ Địch, chi phí do Hội trao đổi Văn hóa Việt – Đức và giáo sư Thái Kim Lan tài trợ. Tôi rất xúc động về việc một cơ quan văn hóa dám bỏ khoản tiền lớn đài thọ cho trên 30 người lưu diễn tại nước ngoài, nơi mà khán giả không hiểu tiếng Việt và lần đầu tiên tiếp cận với với kịch nghệ Việt Nam. Tiền vé vào cửa lại không cao nên cầm chắc chuyện thua lỗ, thế nhưng Hội Việt – Đức và giáo sư Thái Kim Lan sẵn sàng chấp nhận mà không quan tâm đến lợi nhuận.

Bước qua năm 2003, khi đang ở tại Paris, một lần nữa tôi lại kề cận với cái chết, mà nếu không nhờ con gái Thủy Tiên từ tỉnh xa, qua điện thoại phát hiện tôi nói chuyện không mạch lạc đã báo động cho con út Thủy Ngọc kịp thời đưa cha đi cấp cứu thì có lẽ giờ đây tôi đã thành người… thiên cổ.

Mùa Hè năm đó khí hậu Paris trở nên nóng bất thường, lên đến trên 40 độ C trong mát, khiến hơn 14.000 người cao niên bị thiệt mạng. Như những người lớn tuổi khác, tôi cũng bị thiếu nước trong cơ thể dẫn đến tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Một tình cờ may mắn là Thủy Ngọc sau khi được chị báo động đã vội vã chạy đến đưa tôi vào bịnh viện.

Vừa xuất viện sau 12 ngày điều trị, tôi đã phải lên đường về nước để kịp ngày dạy học. Mới được hai tuần thì tôi ngã bệnh và phải vào bịnh viện Triều An. Ngoài căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, suy thận, đến lượt trái tim của tôi lại có vấn đề. Tôi nằm điều trị hai tuần lễ, làm đủ mọi xét nghiệm mà ban giám đốc Bịnh viện Triều An lại không nhận bất kỳ chi phí nào.

Cũng trong năm này, tôi tiếp tục hoàn thành quyển thứ sáu trong bộ hồi ký của mình với tựa đề “Du ngoạn trong truyền thống âm nhạc Việt Nam”. Thật ra đầu tiên tôi rất do dự, vì đây hoàn toàn không phải là quyển sách nghiên cứu âm nhạc truyền thống sâu sắc mà chủ yếu chỉ đề cập đến những nét cơ bản một cách đơn giản nhứt, để đại đa số độc giả bình thường có thể nắm bắt được sơ lược nền âm nhạc đa dạng và phong phú của dân tộc.

Nhưng sau khi bàn bạc kỹ với Trung tâm Hồi ký – đơn vị hợp tác thực hiện bộ hồi ký của tôi – cuối cùng, tôi quyết định viết một quyển sách về âm nhạc trong đời sống người Việt từ khi còn nằm nôi cho đến ngày từ giã cõi đời, được xuất bản vào năm 2004.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

************

Kỳ cuối: Lá rụng về cội

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 12 – Họa vô đơn chí


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 12 – Họa vô đơn chí

30/06/2015 08:11 GMT+7

TTO – Năm 1996 tôi về Việt Nam để tham dự buổi lễ long trọng kỷ niệm 75 năm ngày sanh Lưu Hữu Phước (12/9/1921 – 12/9/1996).


			GS Trần Văn Khê (trái) và nhạc sĩ Phạm Duy - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê (trái) và nhạc sĩ Phạm Duy – Ảnh: tư liệu

Mỗi lần về nước tôi đều có những buổi nói chuyện ở nhiều nơi và có cảm giác rằng càng ngày người nghe càng thấm thía hơn. Đặc biệt năm 1996 anh Huỳnh Văn Tiểng và ban giám đốc Bảo tàng viện Cách mạng mời tôi đến nói chuyện về một đề tài nóng hổi là “Dân tộc và hiện đại”, có ban nhạc Phù Đổng, nhóm Tiếng hát quê hương cùng cháu Hải Phượng minh họa, có quay phim video để dành làm tư liệu.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6: Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên>> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Tất cả những cuộc tiếp xúc trong nước đã giúp tôi sưu tập được rất nhiều tư liệu hình ảnh, băng video, băng ghi âm. Tôi như con kiến cặm cụi tha từng hột gạo đem về chất đầy ổ với lòng mong mỏi rằng những hột gạo đó sẽ được dịp nuôi dưỡng thế hệ mai sau.

Khi trở về Pháp tôi có hơi mệt, lần lần việc đi đứng bắt đầu thấy khó khăn nên phải đến gặp các chuyên gia để khám bệnh. Bác sĩ cho biết tôi bị lệch cột sống, hai khớp xương số bốn và số năm bị lệch chận lên dây thần kinh từ chân lên não, khiến cho não không điều khiển được chân trái làm phản xạ mất đi, chẳng những ảnh hưởng đến việc đi đứng mà cử động cũng khó. Bác sĩ chuyên môn nhận định phải mổ nên gởi tôi tới một chuyên gia giải phẫu, ông này cũng kết luận bắt buộc phải mổ và cho biết:

– Trước khi giải phẫu, cứ mỗi tuần phải lấy máu của ông một lần dự trữ để đến khi mổ vô máu cho ông. Ca mổ kéo dài ít nhứt từ năm đến sáu tiếng đồng hồ, bởi vì ngoài việc lệch cột sống ông còn bị thêm vài vấn đề nho nhỏ phải giải quyết luôn trong khi mổ.

Tôi tìm đến vị chuyên gia thứ ba thì ông nói:

– Nếu tập trung chữa trị một lần e ông chịu không nổi, nhưng việc phải mổ là không thể tránh khỏi rồi. Tôi đề nghị trước hết lo chữa trị cho ông đi đứng bình thường rồi tính tiếp. Nhưng mổ xong ông cũng phải nằm yên trong vòng 5 tháng không được đi đâu.

Tôi nghe vậy thấy không ổn bèn tiếp tục hỏi ý kiến các giáo sư bác sĩ danh tiếng khác, từ người chuyên theo dõi về thận của tôi đến bác sĩ chữa bệnh tiểu đường. Những vị này cho rằng:

– Nếu ông 40 tuổi mới nên mổ chớ ông gần 80 rồi thì phải xem lại. Dĩ nhiên nếu mổ thành công ông sẽ đi đứng bình thường như xưa, nhưng ở tuổi này ông đâu có cần nhảy đầm hay chạy đua với ai, thôi thì nếu chân ông đi chậm một chút cũng không sao. Chúng tôi khuyên ông nên tìm hỏi kỹ những chuyên gia về thấp khớp xem có cách nào khác không?

Trở lại gặp bác sĩ giải phẫu, ông nói nếu không mổ thì sáu tháng nữa chân trái sẽ liệt, một năm sau đến phiên chân mặt và hai năm sau đường tiểu tiện không hoạt động được nữa. Tôi thấy viễn ảnh quá bi đát nhưng có ba người giáo sư vẫn quan niệm:

– Tôi khuyên không nên mổ, bởi vì thứ nhứt ông lớn tuổi rồi, thứ nhì ông bị tiểu đường nên vết thương sẽ lâu lành, thứ ba ông đã uống 17 tháng cortisone nên xương ông không còn chắc lắm đâu, khi mổ phải đục xương không lường trước được hậu quả sẽ ra sao! Mặt khác những chuyên gia giải phẫu giỏi nhứt cũng chỉ dám bảo đảm 60% thành công, như vậy là có tới 40% thất bại. Mà nếu ca mổ không thành công tình trạng sức khỏe sẽ càng trầm trọng hơn trước!

Sau khi tham khảo ý kiến của tổng cộng 9 vị giáo sư bác sĩ, tôi quyết định dứt khoát không mổ. May mắn lúc đó người bác sĩ coi về bệnh tiểu đường giới thiệu cho tôi đến gặp một nữ bác sĩ tên Rozenberg, nổi tiếng về những cách điều trị khác thường mà hiệu quả. Vậy là tôi gom hết toàn bộ hồ sơ bệnh án tới gặp bà. Tôi ngạc nhiên khi gặp một người trẻ tuổi, cách nói chuyện dễ thương nhẹ nhàng. Nhìn đống giấy tờ phim ảnh rọi kiếng của tôi đưa ra bà cười nói:

– Tôi trị bệnh cho ông chớ có trị cho mấy tấm hình này đâu mà ông đưa cho tôi làm chi!

Có nghĩa là bà không như mọi bác sĩ khác đòi hỏi phải có đầy đủ các xét nghiệm mới điều trị. Bà chỉ khám cột sống, nhận xét khớp xương bị lệch rồi biểu tôi đi một hai bước cho bà quan sát. Sau cùng bà nói:

– Chân ông đang đau, mỗi bước cử động đã khó khăn rồi. Bây giờ tôi đề nghị cách điều trị này: ông vô nằm nhà thương một tuần lễ, tôi sẽ tiêm thuốc ngay vô tủy của ông làm cho êm thần kinh để ông có thể đi chầm chậm rồi sẽ bắt đầu tập luyện. Ông phải chịu khó tập trong một năm rưỡi mới có kết quả, chừng đó chân ông đi không phải do não điều khiển mà do tự ông nhấc chân đi. Ông sẽ không đi xa được nữa nhưng vẫn có thể đi được và nếu kiên nhẫn tập luyện thì có lẽ bệnh trạng của ông cũng có thể giải quyết được.

Nghe bà nói tôi thấy nhẹ người, 10 ngày sau sẵn sàng nhập viện, phó thác số mạng trong tay bà. Bà bác sĩ nói:

– Tôi sẽ cố gắng chăm sóc ông nhưng ông cũng phải hứa với tôi là hết sức kiên trì tập luyện.

Trong một tuần lễ, bác sĩ tiêm cho tôi mỗi ngày hai mũi ngay vô tủy thì rõ ràng chân bớt đau, có thể cử động, đi tới lui chút đỉnh được. Từ đó bắt đầu chuỗi ngày tập luyện trong suốt một năm rưỡi, ban đầu có người phụ giúp rồi lần lần tự tập một mình.

Những ngày đầu thật hết sức vất vả, tôi đứng đã khó khăn nhưng bị bắt phải nhón chân lên, mỗi ngày ráng thêm một chút cho tới khi nhón lên xuống được mười cái mới được coi là có kết quả. Sau mấy tháng trời bắt đầu tập bước trên máy giống như đi thang lầu. Ngày đầu đi được vài mươi nấc đã đuối sức, lần lần cố lên ba, bốn rồi năm, sáu chục nấc, cho tới khi được 100 nấc là cả một kỳ công! Rồi phải đạp xe, ban đầu đạp ít sau đó đạp lâu hơn. Thời gian đầu nhìn trên bảng thấy đạp được vài trăm thước đã đổ mồ hôi hột, cả tháng trời mới lên được vài cây số. Cố gắng giữ mức đó mà rút ngắn thời gian, được kết quả tốt lại ráng đạp lên đến năm cây số. Sau đó phải đội trên đầu một ký lô rồi tăng lần lên hai ký, cố làm sao để đừng cho rớt mà cổ mình chịu đựng được. Cứ vậy ngày qua ngày tôi kiên nhẫn bền chí tập luyện.

Tại các thiền viện Phật giáo, các thiền sinh học thuộc lòng những bài kệ để luyện cách tập trung tư tưởng. Tôi cũng tự đặt ra những câu kệ phù hợp với hoàn cảnh để đem lại niềm vui cho mình trong lúc luyện tập:

Ta tự căng cột sống

Sắp lại các khớp xương

Thần kinh thông bất thống

Ta đi đứng như thường

Khi đọc câu đầu, tôi tưởng tượng các cột sống của mình đang căng ra, đọc câu thứ hai tôi nhắm mắt hình dung hai khớp xương chệch nhau đang từ từ xích lại. Cứ đọc hết bốn câu thì làm xong bốn động tác, mỗi lần tập phải đủ 25 lần tức 100 động tác.

Mỗi khi đội vật nặng tập bước lên thang lầu tôi tưởng tượng mình là người Ấn Độ đội thúng đi bán bánh, tôi vừa bước vừa giả giọng người Ấn rao: “Bánh rế bánh cay đây”, nhờ vậy mà thấy vui vui nên đỡ nản lòng.

Ngồi trên xe đạp tôi lẩm nhẩm mấy câu thơ tự trào:

Ta ngồi trên xe đạp

Trông có vẻ thảnh thơi

Đạp đi vòng nước Pháp:

Xe vẫn đứng một nơi!

Khi bắt đầu tập đứng một chân, chỉ mới một giây tôi đã té xuống, tôi kiên trì tập hoài cho đến lúc đứng được năm sáu giây. Bà bác sĩ khuyến khích:

– Chỉ cần ông đứng vững trong vòng ba bốn giây là có thể nhấc chân kia lên để bước đi, lần lần như vậy ông sẽ có thể đi xa hơn.

Quả nhiên thời gian đầu tôi chỉ đi được quãng đường mười thước, cố gắng lắm mới được hai mươi rồi ba mươi thước. Sau đó tôi có thể đi chừng 200 thước mới phải ngồi nghỉ. Sau vài năm tôi đi được tới 500 thước, điều đó khiến tôi phấn khởi vô cùng vì thấy nỗ lực của mình có được kết quả.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

******************

Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 11 – Nói chuyện trên đất Mỹ


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 11 – Nói chuyện trên đất Mỹ

29/06/2015 20:24 GMT+7

TTO – Từ Việt Nam trở về Pháp, tôi có chuyến đi Mỹ theo lời mời của trường Đại học Connecticut.

GS Trần Văn Khê cùng GS Jacques Chailley dự hội nghị âm nhạc tại New York năm 1961 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê cùng GS Jacques Chailley dự hội nghị âm nhạc tại New York năm 1961 – Ảnh: tư liệu

Cháu Trần Thắng, sinh viên trường Đại học Connecticut, ra đón tôi tại phi trường vì lúc đó tôi đi đứng cũng còn hơi khó khăn. Cháu Thắng sắp tốt nghiệp kỹ sư đồng thời phụ trách một tờ báo tiếng Việt chuyên về văn hóa Việt Nam có tên là “Nhịp sống”. Mặc dầu trường đại học đứng ra mời tôi nhưng từ việc tiếp đón đến nơi ăn chốn ở đều do Hội sinh viên Việt Nam tại Connecticut lo liệu.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu >> Kỳ 2: Lập gia đình >> Kỳ 3: Đất khách quê người >> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống >> Kỳ 5: Chuyện gia đình >> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu >> Kỳ 7: Quy cố hương >> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị >> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Nhà trường tổ chức cho tôi nói chuyện hai buổi, buổi đầu tiên thuyết trình bằng tiếng Anh vào lúc 5 giờ chiều trước các giáo sư, sinh viên Mỹ và Việt Nam tại giảng đường lớn của Đại học Connecticut. Sau bữa ăn nhẹ do sinh viên chiêu đãi là buổi họp thứ nhì tại một phòng khác bắt đầu từ 9 giờ tối với khoảng sáu bảy chục sinh viên Việt Nam để tôi nói chuyện bằng tiếng Việt và các em đặt câu hỏi. Cả hai buổi nói chuyện đều do cháu Thắng liên hệ sắp xếp, có mời cả sinh viên từ Boston qua.

Khi các cháu đưa tôi đến trường đại học 15 phút trước khi buổi nói chuyện bắt đầu, tôi ngạc nhiên nhìn thấy nhiều xe tải chở những người Mỹ mặc quần áo theo kiểu quân đội đang bắt đầu nổ máy rời khỏi nơi này. Tôi hỏi cháu lái xe:

– Có chuyện gì mà lính tráng đông quá vậy cháu?

Cậu cười nói:

– Đó là những cựu chiến binh Mỹ tập hợp lại đây định “đánh” bác, nhưng khi thấy bác tới họ bỏ chạy hết trơn!

– Chắc là cháu nói đùa?

– Dạ phải, cháu nói đùa. Thật ra thì có vài chục sinh viên Việt Nam chống lại việc bác tới đây nói chuyện. Những người này thường liên hệ với các cựu chiến binh Mỹ nên đã đến vận động họ ủng hộ sinh viên, lấy lý do là biểu tình chống lại buổi nói chuyện tuyên truyền cho cộng sản tại Đại học Connecticut. Một số cựu chiến binh Mỹ nghe vậy bèn huy động mấy xe cam-nhông chở ba bốn chục người tới trước cổng trường.

Nhà trường cử người ra gặp và cho họ biết người thuyết trình hôm nay là một nhà nghiên cứu âm nhạc người Việt sanh sống tại Pháp, dạy học tại Đại học Sorbonne, được mời qua nói chuyện về âm nhạc chớ không dính líu gì đến chánh trị. Nghe vậy mấy ông cựu chiến binh cho là việc đó không liên quan gì đến họ nên bỏ về.

Tuy mọi việc đã được giải quyết êm thấm nhưng tôi cũng cảm thấy buồn. Các cháu trong Ban tổ chức hỏi:

– Đám phản đối bác bây giờ bơ vơ rồi, không còn ai ủng hộ hết mà họ cũng e ngại không dám vô vì đã tính phá buổi nói chuyện nhưng thất bại. Theo bác mình nên mời họ vô nghe không?

Tôi đáp:

– Bác nghĩ rằng nên lắm chớ.

Ban tổ chức bèn ra mời và đa số những người này cũng vô nghe. Tôi nói chuyện âm nhạc bằng tiếng Anh có minh họa, cuối buổi toàn thể giáo sư và sinh viên nồng nhiệt vỗ tay và đến gặp ngỏ lời khen ngợi. Đến phần giao lưu, cháu Thắng yêu cầu chỉ đặt những câu hỏi về âm nhạc và văn hóa mà không đề cập đến chánh trị. Thính giả phía cuối phòng lao nhao phản đối, tôi bèn nói:

– Trên cương vị một diễn giả, tôi đề nghị Ban tổ chức cứ để cho thính giả đặt bất cứ câu hỏi nào. Tùy câu hỏi, tôi có quyền trả lời hay không.

Ngoài những câu hỏi về xuất xứ của ca trù, quan họ, có thêm một số câu hỏi đặc biệt về chánh trị, xã hội, chẳng hạn như:

– Trong những chuyến về nước giáo sư có nhận thấy đời sống người dân Việt Nam còn nhiều khó khăn hay không?

– Tất nhiên tôi có nhận thấy những điều đó.

– Vậy thì liệu giáo sư có thể điềm nhiên lo việc nghiên cứu âm nhạc, mặc kệ người ta khổ hay không?

Tôi trả lời:

– Dân tộc Việt Nam đang gặp những khó khăn về nhiều phương diện, nhưng đó là cái khó chung cho tất cả những đất nước vừa ra khỏi chiến tranh do bị bủa vây về chánh trị lẫn kinh tế. Điều đó tất cả mọi người đều ý thức được và dĩ nhiên tôi cũng nhận thấy rất rõ. Tuy nhiên quan điểm của tôi là mỗi người tùy ở vị trí và khả năng của mình mà đóng góp với đất nước. Các chánh trị gia có nhiệm vụ lo cho chánh trị hoàn hảo hơn, chuyên viên kinh tế góp sức mình trong việc nâng cao đời sống người dân còn tôi là nhà văn hóa, tôi góp phần mình trong việc phục hồi và bảo vệ nền nghệ thuật dân tộc.

Họ hỏi tiếp:

– Vậy ông đã làm được những gì?

– Tôi may mắn được thường xuyên trở về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng, gìn giữ cái hay cái đẹp cho thế hệ mai sau. Rồi tôi đem tiếng nhạc lời ca của đất nước đến với bạn bè năm châu bốn biển, làm tròn nhiệm vụ của một nhà nghiên cứu là bảo vệ những di sản văn hóa – âm nhạc của dân tộc, không phải chỉ ghi chép trong băng từ mà còn kêu gọi gìn giữ trong lòng người và trong nếp sống của xã hội.

Đồng thời tôi nỗ lực chống lại tệ nạn vọng ngoại, tôn sùng phương Tây, gột bỏ tự ti mặc cảm để giữ gìn bản sắc dân tộc và tận dụng mọi cơ hội để Việt Nam được góp mặt trên trường quốc tế. Kết quả cụ thể là tôi đã góp sức làm sống lại Ca trù miền Bắc, nhạc Cung đình miền Trung, Hát bội miền Nam và cả lối hát Chầu văn, Múa rối nước. Làm được một việc cũng đủ vui rồi, nhưng tôi có may mắn thành công trong nhiều việc. Đó là về phần của tôi, nhân đây cũng xin hỏi lại một câu, các bạn có nhận thấy dân tộc Việt Nam còn nhiều khó khăn hay không?

– Có chớ!

– Các bạn đã làm gì để giúp cho đất nước mình?

– Chúng tôi vận động kêu gọi lập nên phong trào kháng chiến trong nước.

– Vậy từ lâu nay điều các bạn làm đã đem lại kết quả tốt đẹp nào cho đất nước chưa?

Không ai trả lời được. Buổi tối, khi chỉ còn lại các sinh viên trong nhóm ủng hộ tôi, các cháu nói:

– Hồi chiều có nhiều câu hỏi khó mà bác trả lời rất hay làm tụi cháu thỏa mãn. Hiện giờ năm sáu chục người ngồi trước mặt bác toàn là tiến sĩ và kỹ sư, bác có nghĩ tất cả chất xám này là sức mạnh và vốn quý của dân tộc Việt Nam hay không?

Tôi cười và nhẹ nhàng trả lời:

– Các cháu chỉ nói đến chất xám không thì chưa đủ. Chất xám đó nếu đi đôi với con tim Việt Nam thì quý vô cùng. Còn ngược lại nếu chất xám đó đi đôi với những trái tim vọng ngoại thì chẳng những không giúp ích gì cho Việt Nam mà có khi còn bất lợi cho đất nước.

Một số cháu hỏi:

– Nếu muốn đóng góp với đất nước, theo bác chúng cháu nên về liền ngay lúc này, hay thủng thẳng sẽ về, nên về ở luôn trong nước hay chỉ ở ngắn hạn?

Tôi thành thật nói với các cháu:

– Không bao giờ bác dám khuyên người khác phải làm điều gì bởi mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Bác chỉ mong tất cả chúng ta nên giữ một trái tim Việt Nam, thương đất nước và con người Việt Nam, chính điều đó sẽ giúp mỗi người trong các cháu tìm được cách tốt nhứt để góp phần mình cho đất nước.

Mấy năm sau đó trong số những sinh viên này có sáu bảy người trở về tham gia tích cực vào các chương trình trong nước, đặc biệt riêng cháu Thắng về rất nhiều lần.

Sau đó tôi đi California thăm một người bạn rất quý là em Nguyễn Thị Đoan. Em vốn là học trò cũ của tôi từ năm 1948, từ biệt nhau năm 1949 khi tôi rời Việt Nam qua Pháp, rồi tái ngộ vội vàng năm 1976 tại Sài Gòn. Mãi đến cuối năm 1993 thầy trò gặp lại bên Pháp nhân dịp em Đoan từ Mỹ qua Paris thăm thân nhân. Kể từ đó có cơ hội thơ qua tin lại với nhau, mỗi dịp hè em đều sang Pháp chơi để tìm hiểu thầy cặn kẽ hơn.

Em Đoan định cư tại Mỹ từ năm 1978 và sống với đứa con trai út tại vùng Huntington Beach bang California. Đây là lần đầu tiên tôi đến chơi nhà em tại một biệt thự riêng xinh xắn. Trong nhà bày biện đâu đó rất vén khéo, phòng khách treo nhiều tranh đẹp, trên lò sưởi có những bức tượng Trung Hoa và nhiều bình cổ rất quí.

Chúng tôi đi viếng các nơi, ăn uống nhiều tiệm rất ngon. Đồng thời tôi cũng đến thăm Phạm Duy, được xem dĩa CD ROM trường ca “Con đường cái quan” rất hay với nhiều hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

Đến Mỹ gặp mùa Phật đản, tôi được hòa thượng Thích Mãn Giác, vị sư trụ trì tại một ngôi chùa Việt Nam vùng Los Angeles, mời tới nói chuyện về cách tán tụng trong truyền thống Phật giáo Việt Nam. Bằng lời văn chải chuốt đầy chất thơ, hòa thượng giới thiệu tôi rất nồng hậu với các Phật tử từ Santa Anna, San Jose và Los Angeles đến dự. Mọi người chăm chú nghe và đặt nhiều câu hỏi rất hay, chẳng hạn như: “Có thể tán tụng bằng tiếng Việt chớ không dùng tiếng Hán Việt hay không?” hoặc: “Thiền vị trong âm nhạc là gì?”.

Tôi trả lời:

– Các đệ tử ghi lời Phật dạy bằng tiếng Phạn, tiếng Pali, Phật tử tại Trung Quốc dịch ra tiếng Hán, do đó chúng ta cũng có thể dịch ra tiếng Việt.

Tôi đưa ra thí dụ cách tán theo hơi Thiền câu “Hỏa diệm hóa hồng liên” và “Núi lửa biến thành bông sen hồng”: cả hai câu đều có thiền vị như nhau.

Một số Phật tử muốn biết về thiền vị trong âm nhạc, tôi thoái thác vì lúc đó đã hơn hai giờ rưỡi chiều, nhiều người đang nghĩ đến việc trở về vì sợ trễ xe, khí hậu lại đang lúc nóng bức. Hơn nữa chùa ở gần đường xe chạy, tâm của người nghe cũng như người giảng đều không định. Tôi xin hẹn một dịp khác có điều kiện thuận tiện hơn sẽ minh họa bằng bản Nam xuân cách đờn có thiền vị.

Tưởng nói như vậy là có thể kết thúc các buổi nói chuyện, không ngờ em Đoan sốt sắng liên lạc với vị sư tại chùa Liên Hoa cũng tọa lạc trong quận Cam (Orange County) để tổ chức buổi gặp gỡ tiếp sau đó và mời Phật tử nào thích nghe nhạc có thiền vị đến dự.

Nơi này xa đường xe qua lại, buổi nói chuyện tổ chức vào lúc 8 giờ tối, khí trời mát mẻ, tâm của tôi và của thính giả đều ổn định, không nôn nao nghĩ đến chuyện ra về. Hôm đó bác sĩ Huyến giới thiệu tôi, em Đoan ngồi ghi âm, có độ 80 Phật tử ngồi chăm chú nghe.

vbTôi đờn bài Nam xuân theo hai phong cách, trước tiên đờn bình thường cho thính giả thưởng thức âm điệu rồi mới đờn với thiền vị và thính giả đã lắng nghe với thiền tâm. Buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam hôm đó kết quả rất tốt.

Không ngờ hai năm sau cũng tại ngôi chùa này, tôi dự lễ thất tuần cầu siêu cho em Đoan.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

**************

Kỳ 12: Họa vô đơn chí

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 10 – Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 10 – Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp

29/06/2015 19:51 GMT+7

TTO – Năm 1993 có một sự kiện hết sức quan trọng đối với tôi là được tổng thống Pháp François Mitterrand mời vào phái đoàn Pháp đi cùng ông trong chuyến công du chánh thức sang Việt Nam.


			GS Trần Văn Khê (giữa), NSND Phùng Há (trái) và nhạc sĩ Vĩnh Bảo năm 1989 - Ảnh tư liệu
GS Trần Văn Khê (giữa), NSND Phùng Há (trái) và nhạc sĩ Vĩnh Bảo năm 1989 – Ảnh tư liệu

Khi mới nghe tin tôi vô cùng ngạc nhiên, không biết ai đã đưa tên tôi vào danh sách này? Về sau tôi nghe nói rằng đầu tiên văn phòng Phủ tổng thống chọn lựa tên tuổi của hơn 60 người Việt Nam đang sanh sống tại Pháp và sau khi sàng lọc mới trình lên tổng thống Mitterand danh sách cuối cùng để đích thân ông chọn lựa.

Hôm đó tôi đang ở nhà thì nhận được điện thoại, người đầu dây tự xưng:

– Đây là văn phòng của tổng thống. Chúng tôi xin nói chuyện với giáo sư Trần Văn Khê.

– Dạ tôi đây! Thưa có chuyện chi?

– Xin báo với giáo sư, tổng thống sắp có một chuyến công du đến Việt Nam. Trong lần công du này tổng thống có mời 30 người khách cùng đi, trong đó có giáo sư. Nếu giáo sư đồng ý xin vui lòng trả lời cho chúng tôi biết để ghi tên vào danh sách của phái đoàn.

Tất nhiên tôi nhận lời ngay không chút do dự. Thơ mời chánh thức được một viên sĩ quan của Phủ tổng thống ăn mặc chỉnh tề đem trao tận tay tôi với thái độ hết sức trân trọng và lịch sự.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu >> Kỳ 2: Lập gia đình >> Kỳ 3: Đất khách quê người >> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống >> Kỳ 5: Chuyện gia đình >> Kỳ 6: Bôn ba bốn biển năm châu >> Kỳ 7: Quy cố hương >> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị >> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên 

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1 >> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Hôm sau một sĩ quan khác đem đến cho tôi một bao thơ lớn, trong đó gồm tất cả các thiệp mời dự tiệc chiêu đãi trong suốt thời gian ở Việt Nam, trên mỗi thiệp đều có ghi: “Tổng thống và bà Mitterrand vinh hạnh mời giáo sư tham dự buổi chiêu đãi”. Kèm theo là danh sách những khách mời với chương trình hoạt động và làm việc của chuyến đi. Ngoài ra còn có tài liệu ghi lại những nét khái quát về đất nước Việt Nam, cả địa lý, lịch sử và văn hóa để người đi có một khái niệm tổng quát về nơi mình sắp đến thăm. Nhìn cả một phong thơ dày cộm tôi thấy rõ rằng chuyến đi được chuẩn bị rất công phu.

Tới ngày đi, tôi đón taxi nhưng khi nhìn thấy địa chỉ thì người tài xế cho biết:

– Người thường không được vào vùng này của phi trường Roissy.

– Không sao, anh cứ đi vì tôi có giấy mời tới đó.

Quả nhiên khi xe vừa chạy đến nơi thì thấy lính gác đứng đầy và xua tay ra hiệu phải đi chỗ khác. Tôi nói với người tài xế:

– Anh cứ ngừng lại đây chờ tôi.

Tôi xuống xe đưa giấy mời, lập tức mấy người lính đứng nghiêm chào và cho xe chạy tiếp vô trong. Xe ngừng trước một một dinh thự rộng lớn, bước vào bên trong tôi thấy đã có đông người đứng quanh các bàn tiệc bày biện sẵn, gồm các bộ trưởng, viên chức chánh phủ, những người khách mời cùng với đoàn tùy tùng đi theo tổng thống. Một lát sau Thủ tướng Berégovoy đến. Ông bắt tay chào từng người và nói:

– Trước hết tôi xin thay mặt Chánh phủ Pháp cám ơn quí vị đã nhận lời mời của tổng thống đi chuyến công du này và thay mặt Hội đồng chánh phủ kính chúc quí vị lên đường bình an.

Đến tận lúc đó tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên, nghĩ bụng chuyện này cũng lạ quá, mình là công dân Việt Nam, hiện đang hưu trí, vậy mà bỗng nhiên giờ này tôi đứng đây, được thủ tướng Pháp đích thân tới chúc thượng lộ bình an. Chuyện đó quả là ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi còn đang nghĩ ngợi mông lung thì cửa mở và tiếng một người dõng dạc xướng lên “Tổng thống đến” rồi ông Mitterand xuất hiện, miệng tươi cười, tiến tới thân mật bắt tay từng người:

– Hết sức cám ơn quí vị đã nhận lời mời đi với tôi trong chuyến công du này. Mong rằng chuyến đi không làm quí vị quá mệt mỏi và hy vọng những chuyến gặp gỡ sắp tới sẽ đem lại lợi ích cho quí vị.

Ông mời mọi người cùng nâng ly, lát sau một viên sĩ quan bước vô trịnh trọng chào báo tin:

– Đã tới giờ khởi hành, xin kính mời tổng thống và quí vị chuẩn bị lên máy bay.

Cánh cửa phòng mở ra, phía bên ngoài là chiếc chuyên cơ của tổng thống đậu sẵn, có thảm đỏ trải dài từ cửa phòng đến tận máy bay. Đoàn người theo chân tổng thống tiến đến phi cơ, vừa bước ra bên ngoài thì đoàn quân nhạc trỗi lên bài quốc ca Pháp. Tôi lại tự nhủ: “Lạ thật, một công dân Việt Nam như mình, không địa vị, không chức tước mà giờ đây được tháp tùng tổng thống, được cả đội quân nhạc của Phủ tổng thống đánh bài quốc ca đưa tiễn!”. Sau bài quốc ca, ban nhạc tiếp tục tấu một bản quân nhạc vui tươi cho đến khi cả đoàn lên hết trên máy bay.

Chuyên cơ của tổng thống thường khi là máy bay Concorde, lần này có lẽ vì phái đoàn đông thêm cả đội ngũ báo chí nên Ban tổ chức sắp đặt trang trí một máy bay Airbus thành chuyên cơ với phòng làm việc, phòng khách, phòng ngủ của tổng thống và một phòng riêng của bà Mitterrand. Lần đó không có mặt bà Mitterand, nghe nói vì lý do sức khỏe (nhưng thật ra hình như bà có chuyện không vui) nên giờ chót không đi. Các bộ trưởng ngồi ở một khoang riêng, khách mời ngồi tiếp theo phía sau và dãy sau cùng dành cho báo chí. Ghế ngồi trên chuyên cơ thật đặc biệt, êm ái và rộng lớn hơn cả những ghế hạng nhứt của máy bay dân dụng, trên mỗi ghế có gắn sẵn tên từng vị khách. Mỗi dãy chỉ có bốn ghế và một cô tiếp viên đặc trách lo việc tiếp đãi nước uống, thức ăn. Tất nhiên thức ăn trên chuyến bay toàn là những món sơn hào hải vị để chiêu đãi thượng khách, từ trứng cá hồi đến gan ngỗng cùng đủ thứ rượu.

Trên máy bay tôi hội ngộ hai đồng nghiệp là giáo sư Georges Condominas, một nhà dân tộc học cha Pháp mẹ Việt, đã từng sống trên dãy Trường Sơn rất lâu. Người thứ hai là Trịnh Xuân Thuận, giáo sư Việt Nam sanh sống bên Mỹ đang dạy ngành vật lý thiên văn tại Đại học Virginia. Đây là một nhân vật tiếng tăm trên thế giới, mặc dầu dạy học bằng tiếng Mỹ nhưng chuyên viết sách bằng tiếng Pháp và rất được người Pháp ưa chuộng vì sách của ông tuy đề cập đến những chuyện cao siêu trên trời dưới đất nhưng văn phong nhẹ nhàng, giản dị và đầy chất thơ.

Trong chuyến đi tuy ngồi cách xa nhau nhưng ba chúng tôi thường gặp nhau chuyện trò. Anh Condominas có nhiều dịp về Việt Nam nghiên cứu về dân tộc học. Anh Trịnh Xuân Thuận thì rời Việt Nam đã mấy chục năm nay mới về nước lần đầu. Anh rất hân hoan và hy vọng có dịp trở về thăm quê nhà tại một tỉnh miền Bắc.

Thỉnh thoảng trong chuyến đi, chúng tôi cũng gặp tổng thống và được ông đứng lại chào, vui vẻ hỏi han. Tôi nghĩ cũng lạ, khi ở bên Pháp muốn gặp ông thật vô cùng khó khăn, bỗng nhiên nay mình gặp dễ dàng, lại còn nói chuyện thân tình như bà con lâu ngày gặp lại.

Chuyến bay khởi hành từ Paris trực chỉ Hà Nội chớ không quá cảnh nơi nào và sau hơn 12 giờ bay đến Hà Nội đúng giờ đã định. Mỗi người được hướng dẫn tới chiếc xe dành cho mình, xuống máy bay thì đi thẳng lên xe ngồi, thủ tục xuất nhập cảnh đã có người lo. Tôi đi trên xe số 6 cùng với đại tướng Tổng tư lệnh quân đội Pháp, ông cũng đồng thời cai quản cả vùng Invalides. Chúng tôi tự giới thiệu với nhau rồi viên đại tướng tâm sự:

– Ngày xưa tôi từng là tù binh tại Điện Biên Phủ. Trở lại Việt Nam lần này tôi rất háo hức vì nghe nói sẽ có đến viếng Điện Biên Phủ. Nhưng ước mong lớn nhứt của tôi khi qua đây là được dịp gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người tuy không cùng chiến tuyến nhưng tôi vô cùng kính trọng và mong mỏi được diện kiến.

– Tôi được biết sẽ có một buổi tiệc do đại sứ quán Pháp thay mặt chánh phủ Pháp chiêu đãi. Nếu có dịp thuận tiện tôi sẽ trình bày với Ban tổ chức sắp xếp cho đại tướng được ngồi gần đại tướng Võ Nguyên Giáp.

– Nếu được vậy thì thật tuyệt vời!

Trong những lần về nước tôi vẫn lui tới đại sứ quán Pháp nên có quen biết vị tùy viên văn hóa. Ngoài ra trong Ban tổ chức tiếp đón đoàn chánh phủ Pháp cũng có người Việt Nam nên tôi đến gặp họ nói sơ qua nguyện vọng của ông đại tướng Pháp. Nhờ vậy tôi biết chắc chắn Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đến dự buổi chiêu đãi và là một trong những thượng khách của chánh phủ Pháp.

Tôi cũng đã được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào năm 1980 trong lần về nước nói chuyện về Nguyễn Trãi, lần đó trong buổi chiêu đãi đại tướng đến gặp tôi nói:

– Nghe anh nói chuyện âm nhạc thời đại của Nguyễn Trãi, biết được nhiều chuyện lý thú quá.

Vì vậy khi gặp đại tướng trong buổi chiêu đãi lần này tôi tới chào ông:

– Xin phép giới thiệu với đại tướng đây là tổng tư lệnh quân đội Pháp muốn được gặp gỡ nói chuyện với đại tướng vì trước đây ông ấy có tham gia trận Điện Biên Phủ.

Đại tướng vui vẻ bắt tay cười nói với viên tổng tư lệnh và cùng nhau nhắc lại chuyện cũ một cách thoải mái. Ban tổ chức sắp xếp cho hai người ngồi cùng bàn, vậy là viên tổng tư lệnh quân đội Pháp vô cùng mãn nguyện.

Tôi ngồi cùng bàn với giáo sư Vũ Khiêu cũng là người nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Bàn nào cũng gồm có thành viên của hai phái đoàn Việt Nam lẫn Pháp và dĩ nhiên tôi thuộc về phái đoàn Pháp. Đây cũng là điều khiến tôi thấy lạ lẫm! Từ nhiều năm nay tôi thường xuyên về nước nghiên cứu làm việc như một công chức chuyên viên của chánh phủ Pháp nhưng là một công dân Việt Nam. Bỗng nhiên hôm nay, trên sân khấu trường đời tôi phải đóng một vai hoàn toàn khác hẳn, phải đi đứng, tiếp xúc, xử sự với cương vị một thành viên trong chuyến công du chánh thức của vị nguyên thủ một quốc gia đến viếng xã giao… tổ quốc mình.

Khi vừa tới Việt Nam, tôi hỏi Ban tổ chức:

– Tôi có thể quay phim chuyến đi để kỷ niệm được không?

– Tại sao ông cần phải quay, chính người ta phải quay phim ông chớ ông quay người khác làm chi?

– Không, người ta quay thì tôi lại không có hình giữ kỷ niệm. Do đó tôi muốn quay mà không biết theo qui chế tổ chức tôi có quyền làm vậy không?

– Qui chế không đề cập đến việc này, do vậy ông cứ làm theo ý mình vì ông là khách.

Lần đó tôi là người độc nhứt trong phái đoàn có đem theo máy quay nhỏ thâu được những thước phim đặc biệt trong chuyến đi đáng ghi nhớ này.

Tại Hà Nội, phái đoàn ở tại khách sạn Tây Hồ. Ban tổ chức Việt Nam đối với tôi cũng có phần ưu ái. Khi tới nơi, bộ ba chúng tôi cùng đi với nhau nhưng rồi anh Condominas và anh Trịnh Xuân Thuận được hướng dẫn lên trước, còn một mình tôi đứng lại. Sau đó tôi lại được đưa lên tầng lầu đối diện, tôi thắc mắc không hiểu tại sao mình không được xếp ở chung với các bạn thì được Ban tổ chức cho biết:

– Phòng bên đây đẹp và lớn hơn nhiều nhưng chỉ có ít phòng, nếu mọi người ở hết thì không đủ. Do đó chúng tôi chỉ mời riêng giáo sư, từ phòng này có thể ngắm được bao quát cả phong cảnh rất đẹp của hồ Tây.

Quả nhiên nơi dành cho tôi hết sức tiện nghi gồm mấy phòng rất rộng rãi, tôi ấm lòng nghĩ rằng đó cũng là tình của người trong nước đối với tôi và cám ơn Ban tổ chức. Tuy tôi là người Việt nhưng cũng vẫn phải có một người thông dịch riêng – một người Pháp biết tiếng Việt – để được hướng dẫn việc đi đứng di chuyển và chương trình làm việc hàng ngày.

Có một chuyện đặc biệt làm tôi rất cảm động trong bữa dự tiệc chiêu đãi tại Phủ chủ tịch Nhà nước Việt Nam. Chờ quan khách tiến vào hết bên trong, tôi và anh Trịnh Xuân Thuận đứng lại trên tấm thảm đỏ trải dài phía bên ngoài và nói với nhau: “Mấy thuở mình được đi vào Phủ chủ tịch trên thảm đỏ, anh chụp tôi một tấm hình, tôi chụp anh một tấm để kỷ niệm”. Vào Phủ chủ tịch rồi thì phái đoàn chia ra hai bên Pháp và Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình, Phó chủ tịch nước, từ bên phái đoàn Việt Nam bước qua bên phía phái đoàn Pháp để bắt tay tôi. Tôi cúi chào và đưa chị trở về phía đoàn Việt Nam, chị Bình đưa tôi đến giới thiệu với Chủ tịch Lê Đức Anh:

– Đây là anh Trần Văn Khê, mặc dầu ở trong phái đoàn Pháp nhưng anh mang quốc tịch Việt Nam và đã về nước làm việc nhiều lần.

Ông chủ tịch trả lời:

– Tôi có biết và đã nghe nói nhiều về anh Khê.

Bỗng nhiên tôi đứng trong phái đoàn Pháp mà không ở yên như người ta, đi qua đi lại chào hỏi nhiều người, kể ra cũng trái với qui định vì trong những nghi lễ đón tiếp chánh thức, ai được sắp ở đâu phải ở yên nơi đó chớ không được di chuyển. Nhưng may mắn mọi người đều thông cảm mà không có ý kiến phiền hà gì tôi.

Khi vô Sài Gòn cũng vậy, tôi ngồi phía bên phái đoàn Pháp, rất nhiều bạn bè tôi ngồi đối diện phía phái đoàn Việt Nam. Tại miền Nam phái đoàn được sắp xếp ở tại khách sạn Rex, tất cả các nhân viên tại đây đều mặc quốc phục trong thời gian tiếp phái đoàn.

Đêm đầu tiên Tổng thống Mitterand muốn dùng cơm tại nhà hàng của chị luật sư Nguyễn Phước Đại ở đường Nguyễn Du. Người nào không tháp tùng theo tổng thống thì lên lầu thượng khách sạn Rex dùng bữa tiệc gồm các món ăn truyền thống Việt Nam. Tôi vẫn thường xuyên ghé ăn ở nhà hàng của chị Nguyễn Phước Đại, đi với bạn bè hoặc do chính chị mời riêng nên hôm đó tôi ở lại khách sạn, được ăn tối ngoài trời trên sân thượng với những thức ăn dân tộc đặc sắc như chạo tôm, chả giò, bì cuốn, gỏi cuốn, tất cả đều rất ngon.

Hôm tổng thống Mitterand cùng phái đoàn Pháp đi bộ dọc con đường Nguyễn Huệ, đông đảo người dân thành phố tụ tập niềm nở đón chào. Tôi cũng đi lẫn trong phái đoàn, bỗng nhiên nghe có người kêu: “Chú Hai! Chú Hai!”. Tôi quay lại thì thấy cháu Minh Quyên, con của người anh họ tôi là Đặng Minh Trứ đang đứng bên lề đường nhìn thấy tôi rối rít gọi rồi chạy lại chào. Đi thêm một đoạn lại nghe kêu: “Thầy ơi! Thầy ơi!”, thì ra là Michiko, cô sinh viên Nhựt Bổn làm luận án cao học về ca khúc của Trịnh Công Sơn bên Pháp, chạy tới chào tôi. Chung quanh tôi là vô số những cánh tay đưa ra mong được có dịp một lần bắt tay chào mừng Tổng thống Mittérrand.

Chuyến công du diễn tiến tốt đẹp và vui vẻ trong suốt chuyến đi. Ngày trở về gặp lúc tiết trời Paris lạnh buốt thấu xương. Máy bay cũng hạ cánh ngay bên cạnh tòa nhà riêng như hồi đi. Mặc dầu đã rất khuya nhưng Tổng thống Mitterand vẫn lịch sự đứng ngay tại cửa dinh bắt tay từng người chào từ biệt: “Cám ơn ông đã đi theo chuyến công du của tôi. Xin chúc ông nhiều sức khỏe”, giống như một người chủ nhà nồng hậu ân cần từ giã khách.

Những ngày sau đó tôi được mời lên phủ tổng thống gặp hai người cố vấn đặc biệt của tổng thống. Họ cho biết:

– Chúng tôi mời tất cả khách đi trong chuyến công du vừa qua vui lòng ghi lại cảm tưởng và trả lời một số câu hỏi để góp ý kiến giúp nhà nước hình thành một chánh sách đối với Việt Nam thiết thực và có hiệu quả hơn.

Những câu hỏi dành cho tôi là về lãnh vực văn hóa. Tôi viết một báo cáo ngắn gọn trong đó đưa ra vấn đề cấp học bổng cho người Việt Nam, đề xuất những hoạt động về mặt âm nhạc, về trao đổi văn hóa giữa hai nước.

Đây quả là một trong những chuyến đi mà tôi không chờ đợi nhưng mang lại nhiều thú vị nhứt. Không hiểu do cơ duyên nào mà tôi được tham dự một chuyến công du đến chính đất nước Việt Nam của mình, thật là một giấc mơ đẹp trong cuộc đời!

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành) **********

Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 9 – Một chuyến đi Bắc Triều Tiên


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 9 – Một chuyến đi Bắc Triều Tiên

29/06/2015 09:31 GMT+7

TTO – Năm 1983 Bắc Triều Tiên đăng cai tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á và yêu cầu UNESCO gởi người qua cố vấn để việc tổ chức được hoàn hảo.

GS Trần Văn Khê (chính giữa) tại Bình Nhưỡng (Bắc Triều Tiên) dự Diễn đàn Âm nhạc Châu Á năm 1983 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê (chính giữa) tại Bình Nhưỡng (Bắc Triều Tiên) dự Diễn đàn Âm nhạc Châu Á năm 1983 – Ảnh: tư liệu

UNESCO chỉ định tôi làm trưởng đoàn sang Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên, vào tháng 4 để chuẩn bị cho diễn đàn vào tháng 9. Chuyến đi còn có thêm ông Menon, người Ấn Độ, là Chủ tịch Uỷ ban tuyển lựa trong các Diễn đàn Âm nhạc châu Á từ trước đến nay và giáo sư người Đức Eric Stockmann, Chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Truyền thống.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

Ông Menon và giáo sư Stockmann giao cho tôi đứng ra sắp xếp mọi việc, hai ông là những người kỳ cựu chỉ đi theo để yểm trợ khi cần, vì đây là lần đầu tiên một diễn đàn âm nhạc được tổ chức ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, một nước còn “kín cổng cao tường” vào thời kỳ này, những người ở phương Tây vào nơi đây được coi là hi hữu.

Chúng tôi được xem nhiều tiết mục âm nhạc tại Bình Nhưỡng đồng thời tôi cũng đưa ra chương trình theo qui định của UNESCO cho nước chủ nhà tham khảo. Tất cả yêu cầu của UNESCO đưa ra Ban tổ chức đều chấp nhận, công việc thuận lợi dễ dàng chớ không khó khăn như chúng tôi e ngại lúc ban đầu. Mọi việc góp ý xong xuôi, chúng tôi trở về Paris.

Cuối tháng 9 tôi trở qua Bình Nhưỡng để dự Diễn đàn. Tại phi trường Bình Nhưỡng phái đoàn đại diện UNESCO được tiếp đón rất trang trọng với đầy đủ nghi thức từ dàn nhạc đến vòng hoa, có cả đại diện sứ quán của các nước tham dự Diễn đàn ra đón và bắt tay chào hỏi nồng nhiệt. Tôi chú ý không thấy người của Sứ quán Việt Nam bèn hỏi thăm Ban tổ chức thì được trả lời rằng họ đã có mời nhưng không thấy ai tới cả. Tôi thắc mắc nghĩ bụng chẳng lẽ nhân viên Sứ quán Việt Nam kỳ thị cá nhân tôi nên không đi?

Tôi được sắp xếp ở một phòng khách sạn hết sức sang trọng gồm phòng ngủ rộng lớn với một phòng làm việc và phòng khách có thể tiếp được ba bốn chục người. Trong tủ lạnh có đầy đủ thức ăn, nước uống và nhiều loại rượu ngon kể cả rượu sâm nhung.

Tôi muốn nói chuyện điện thoại với Sứ quán Việt Nam nhưng người của Ban tổ chức đi theo giúp việc cho tôi gọi hoài mà không liên lạc được. Cảm thấy có điều gì đó bất thường nên hôm sau khi đến Đại sứ quán Liên Xô để xin thị thực quá cảnh cho chuyến về, tôi nhờ nơi đây điện thoại cho Sứ quán Việt Nam thì liên lạc được liền. Hóa ra anh em tại đây không hay biết gì về việc tôi đến Bình Nhưỡng. Ngày hôm sau Sứ quán Việt Nam cử tùy viên văn hóa tới thăm tôi, thấy vậy mấy người trong Ban tổ chức của Bắc Triều Tiên có hơi ngại ngùng.

Chưa nơi nào tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á long trọng và hoàn hảo bằng nơi đây. Nhưng riêng tôi với cương vị trưởng đoàn đã rơi vào nhiều hoàn cảnh phải ứng phó rất gay go.

Mỗi đêm Ban tổ chức sắp xếp cho hội nghị xem một chương trình âm nhạc, sau mỗi chương trình, với cương vị là trưởng đoàn, tôi thường được mời phát biểu cảm tưởng. Không phải chương trình nào cũng hay, cho nên cái khó nhứt của tôi là ở chỗ tôi không thể khen khi không thấy hay, nhưng cũng không thể nói là dở vì nhiều lý do tế nhị, cho nên tôi luôn phải tìm cách nói sao cho xuôi.

Đó là một trong những chuyện khó khăn phải đối phó, nói sao cho chân thật với lòng mình mà phải lựa lời để người khác đừng phật lòng. Đạo Phật có dạy phải dùng “chánh ngữ”: điều mình nói đừng mích lòng ai, không xúc phạm người khác, đem lại hòa khí với nhau. Tôi thấy rằng văn hóa phương Đông đã giúp tôi có được thái độ hòa hoãn với mọi người, không chỉ trích, không tranh luận để chê bai hay làm mất mặt người khác nhưng cũng không vị nể mà khen khi lòng mình không nghĩ vậy.

Trong buổi hội thảo về cải tiến nhạc cụ do tôi chủ tọa, tôi yên tâm là khỏi phải đóng góp ý kiến mà chỉ điều động trao lời cho người này người kia, nhắc nhở những người nói quá thời hạn qui định để cho buổi họp tiến hành đúng theo chương trình.

Theo nguyên tắc có qui định thời gian cho người thuyết trình lẫn người đặt câu hỏi, tôi báo trước sẽ rất chặt chẽ về thời gian để các bạn đừng buồn khi tôi cắt lời bởi vì đó là phận sự của tôi. Mỗi khi một diễn giả thuyết trình xong, tôi hỏi xem ai có ý kiến gì và mời đặt câu hỏi.

Một bạn Triều Tiên trình bày rất hào hứng về việc cải tiến nhạc cụ truyền thống của nước này. Riêng tôi thì không hoàn toàn hoan nghinh. Cây đờn cổ Kayageum của Triều Tiên là đờn dây thuộc về loại đờn tranh ngày xưa rất đẹp, dài một thước sáu, dáng thon thả như cô gái thắt đáy lưng ong. Nay đờn được cải tiến tăng thêm một số dây thành rộng ra, cây đờn trở thành “có da có thịt”, nói theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, nên hình dáng không còn thanh tú. Khi biểu diễn âm thanh cũng không còn giống như tiếng đờn trước đây. Quan điểm của diễn giả là việc cải tiến đờn Kayageum nhằm mục đích không chỉ đờn được nhạc Triều Tiên mà đờn được cả nhạc phương Tây.

Không phải chỉ có đờn Kayageum, ống Piri là loại kèn dăm đôi cũng không còn hình dáng bình thường nữa mà nay to hơn, có gắn khóa chỗ này chỗ kia giống như kèn ôboa bên phương Tây, dụng ý để thổi được thang âm bình quân, do đó tiếng kêu trong hơn, không còn tiếng rè rè đặc trưng như trước.

Bỗng nhiên khi vừa thuyết trình xong diễn giả nhìn tôi và nói:

– Tôi đề nghị giáo sư Trần Văn Khê phát biểu về vấn đề này.

Bị đưa ra chỗ không thể lùi được, tôi nói:

– Thưa các bạn, khi tiến hành cải tiến một nhạc cụ dĩ nhiên là nhằm mục đích để cho được hay hơn. Các bạn hẳn là hiểu rõ người Triều Tiên muốn gì và nghe âm nhạc thế nào, đã suy nghĩ năm này qua năm khác rồi mới bắt tay vô làm. Tôi ngồi nghe trong 15 phút làm sao dám đưa ra nhận xét điều các bạn làm là đúng hay sai. Tôi thích hay không là ý của riêng mình, tôi lại là người bên ngoài. Nếu các bạn cho rằng điều đó đúng thì cứ việc làm, không nên vì người khác không thích mà không làm.

– Nhưng chúng tôi muốn biết ý kiến của giáo sư.

– Tôi chỉ nói ý kiến của tôi về việc cải tiến. Theo qui định tôi có được ba phút nên để cho ngắn gọn xin đưa ra ba nguyên tắc mà tôi cho là phải đạt được khi cải tiến một nhạc cụ: hình dáng phải đẹp hơn, khả năng biểu diễn phải nhiều hơn và cuối cùng phải diễn tả được trung thực và rõ ràng tiếng nói âm nhạc của dân tộc đã tạo ra nhạc cụ đó.

Điểm đầu tiên là hiển nhiên rồi, nếu không làm cho đẹp hơn thì thay đổi để làm gì? Thứ nhì, khi cải tiến là cốt để làm cho khả năng biểu diễn được nhiều thêm. Và cuối cùng điều quan trọng nhứt là vẫn giữ được ngôn ngữ âm nhạc của dân tộc, còn nếu cải tiến chỉ để đờn được nhạc của nước khác mà khi nói tiếng nhạc nước nhà lại đâm ra ngọng nghịu thì tôi cho rằng không ai cần mình phải cải tiến nhạc cụ truyền thống để đờn âm nhạc của họ. Mỗi đất nước cần phải có nhạc cụ riêng phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của dân tộc mình. Tôi xin chấm dứt ở đây vì đã hết 3 phút, nhưng nếu các bạn cho phép nói thêm tôi có thể trình bày một số chuyện nữa.

Mọi người đồng thanh nói:

– Giáo sư cứ tự tiện, chúng tôi rất đồng ý.

Tôi tiếp tục:

– Nếu một nhạc cụ truyền thống mà không diễn tả được tiếng nói của dân tộc tất yếu sẽ bị đào thải, vì dân tộc nào cũng cần tiếng nói trung thực và chính xác chớ không chấp nhận làm tiếng nói của mình nghe như tiếng nói ngoại lai.

Những diễn giả phát biểu sau đó đều hoàn toàn ủng hộ quan điểm của tôi. Mấy ngày kế tiếp, khi bàn tới buổi liên hoan bế mạc diễn đàn, Ban tổ chức nói:

– Chúng tôi cho rằng trong Diễn đàn này giáo sư là người xứng đáng để được cử ra hát bài ca ngợi Kim Chủ tịch, có dàn nhạc giao hưởng phụ họa. Xin đề nghị giáo sư nhận lời chúng tôi sẽ cử người tới tập cho giáo sư.

Tôi không tiện từ chối chỉ nói:

– Đó là vinh dự rất lớn cho tôi nhưng có mấy trở ngại. Thứ nhứt là vì tôi còn phải chủ tọa cho nhiều buổi hội thảo nữa, ngoài ra hàng ngày phải viết báo cáo gởi về cho UNESCO nên công việc của tôi rất nhiều. Thứ hai là tôi không biết tiếng Triều Tiên lại chưa bao giờ hát nhạc Triều Tiên, vì vậy trong vòng hai ba bữa không thể tập hát rành rẽ một bài được. Xin các bạn vui lòng chọn người khác.

Tôi nói vậy tưởng các bạn đồng ý, không ngờ sáng sớm bữa sau nghe tiếng gõ cửa, một người tới gặp tôi tự giới thiệu:

– Tôi là người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng. Ban tổ chức chỉ định tôi tới hướng dẫn giáo sư cách hát, chỗ nào hát lớn chỗ nào hát nhỏ, tôi đem bản tổng phổ tới cho giáo sư coi.

– Nhưng tôi đâu có nhận lời?

– Tôi chỉ biết Ban tổ chức yêu cầu tôi như vậy.

– Nhờ ông về nói lại với Ban tổ chức tôi không thể hát được. Tôi sẽ gặp Ban tổ chức để bàn sau.

Lát sau lại có tiếng gõ cửa:

– Tôi là người lĩnh xướng có nhiệm vụ tập cho giáo sư khi ca phát âm đúng giọng Triều Tiên.

– Nhưng tôi đâu có nhận lời!

– Ban tổ chức nói phải tập cho giáo sư trong vòng ba ngày để kịp ra hát.

Tôi phải tới gặp Ban tổ chức lần nữa:

– Tôi hết sức cảm động trước lòng ưu ái của các bạn nhứt định dành cho tôi vinh dự hát bài ca ngợi Kim Chủ tịch. Thế nhưng tôi có những điều khó khăn riêng, trước hết là UNESCO có chỉ thị bằng văn bản chánh thức nói rõ: trong tất cả những lời phát biểu của người đại diện cho UNESCO không được ca ngợi cũng như không chỉ trích bất cứ một chánh khách nào. Tôi là một uỷ viên Ban chấp hành nên phải tuân thủ qui định này. Do đó nếu tôi muốn hát bài ca ngợi Kim Chủ tịch thì phải điện về xin ý kiến của UNESCO có cho phép tôi phá lệ hay không, việc này rất phức tạp và không kịp thời gian. Ngoài ra gần 20 năm nay tôi chuyên tâm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt Nam, vì vậy ngay cả nhạc mới của Việt Nam tôi cũng ít hát, nay tôi lại hát một bản nhạc mới nước ngoài, điều đó sẽ làm cho đồng bào của tôi không hiểu và không vui.

Cuối cùng tôi không thể nào học thuộc lời cũng như tập hát cho đúng giọng trong thời gian ngắn như vậy được. Nếu đó là một bài ca bình thường còn tạm chấp nhận được, chớ bài hát ca ngợi một vị lãnh tụ như Kim Chủ tịch mà làm như vậy là vô phép. Tôi không dám làm chuyện thất lễ đối với một vị lãnh đạo lớn như Kim Chủ tịch.

Lý lẽ sau cùng này thuyết phục được Ban tổ chức, vậy là tôi khỏi hát.

Cho đến lúc bế mạc hội nghị tôi vẫn chưa hết gặp chuyện rắc rối: UNESCO chuẩn bị 20 dĩa hát làm quà tặng cho vị lãnh tụ của Triều Tiên, nhưng cuối cùng chỉ gởi giấy tờ còn dĩa hát lại để quên tại Paris. Tôi đành báo với Ban tổ chức:

– Hội đồng Quốc tế Âm nhạc có dự bị 20 dĩa hát châu Á tặng cho Kim Chủ tịch, bây giờ coi lại thì không có đem theo, nếu tôi điện về kêu gởi qua cũng không kịp nữa rồi. Phần tôi có đem theo một dĩa nhạc do tôi đờn và một quyển sách của tôi viết về âm nhạc Việt Nam để tặng Ban tổ chức.

Ông Chủ tịch nhận quà nhưng bỗng nhiên lại nói:

– Cái này dùng để gởi tặng Kim Chủ tịch thì rất hay.

– Quà tặng Kim Chủ tịch là 20 dĩa nhạc của UNESCO, còn đây chỉ là một dĩa nhạc và cuốn sách của cá nhân tôi, tôi không dám đem tặng một người lãnh đạo lớn như Kim Chủ tịch.

– Nếu đó là dĩa nhạc và cuốn sách của phương Tây quả là không nên, nhưng đây chính là dĩa hát và cuốn sách của chính giáo sư thực hiện, viết về âm nhạc Việt Nam kèm theo lời đề tặng của tác giả. Tôi nghĩ rằng Kim Chủ tịch sẽ thích thú khi nhận được quà tặng của một người Việt Nam đến thăm Triều Tiên.

Tôi nói:

– Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, tôi sẽ làm theo ý kiến của các bạn. Xin các bạn cân nhắc sao đừng để cho tôi thất lễ với Kim Chủ tịch.

Ban tổ chức làm cho tôi một bao màu đỏ để đựng quà, đưa tôi tờ giấy thật đẹp để viết lời đề tặng bằng tiếng Việt: “Trân trọng kính tặng Chủ tịch Kim Nhựt Thành chút quà của một nhạc sĩ đồng thời cũng là nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam nhân dịp đến Bình Nhưỡng dự Diễn đàn và hội nghị về âm nhạc châu Á. Xin chân thành cám ơn Chủ tịch và Chánh phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã cho phép Ủy ban quốc gia Triều Tiên tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á cho các nước tham dự mà tôi được vinh dự là chủ tịch của Diễn đàn.”

Hai ngày sau Ban tổ chức báo với tôi:

– Năm giờ chiều mai yêu cầu giáo sư có mặt tại khách sạn và mặc lễ phục để tiếp đón người đại diện của Kim Chủ tịch.

Hôm sau toàn bộ thành viên của Ban tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á có mặt đầy đủ tại nơi tôi ở. Đến giờ hẹn, người đại diện của Kim Chủ tịch tới phòng tôi, bưng một hộp thiệt lớn trên có ghi dòng chữ: “Kim Chủ tịch cám ơn giáo sư Trần Văn Khê và xin giáo sư nhận một chút quà của Kim Chủ tịch.”

Ông trịnh trọng nói:

– Kim Chủ tịch rất cảm động khi nhận được quà của giáo sư. Đáp lại Kim Chủ tịch gởi chút quà cho giáo sư để khi về Pháp cũng như về Việt Nam giáo sư vẫn nhớ đến dân tộc Triều Tiên.

“Một chút quà” của Kim Chủ tịch gồm một tấm trải giường rất lớn thêu hình hai con phụng, một hộp đựng những chung bằng đá quí dùng để uống rượu sâm nhung, ba lít rượu sâm nhung và hai cuốn sách tựa là “Dân tộc Triều Tiên chúng tôi” còn cuốn kia là “Bình Nhưỡng”.

Tôi nhận quà và nhờ viên chức cao cấp chuyển lời tôi trân trọng cám ơn Kim Chủ Tịch.

Chuyến đi Bình Nhưỡng gay go cho đến những giờ phút cuối cùng. Khi tiễn tôi về Pháp, tại phòng VIP của phi trường, các bạn trong Ban tổ chức thắc mắc:

– Hổm rày chúng tôi nghe giáo sư nói chuyện về nhạc Triều Tiên mà dùng từ rất chính xác, xin hỏi giáo sư đã học nhạc Triều Tiên ở đâu và với ai?

– Ở Nam Triều Tiên tôi có vài người bạn trong giới nhạc tại nơi này.

– Giáo sư đi Nam Triều Tiên bao nhiêu lần?

– Tôi mới đến Seoul một lần vào năm 1981 nhân dịp Đại hội Âm nhạc do Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Truyền thống tổ chức mà tôi là Phó chủ tịch.

– Giữa hai bên Nam, Bắc Triều Tiên, nơi nào tiếp rước giáo sư nồng hậu hơn?

– Thưa các bạn, dân tộc Triều Tiên là một, không phải vì việc đất nước Triều Tiên bị chia rẽ bằng một vĩ tuyến mà thay đổi được đặc tính hiếu khách của các bạn. Ở cả hai nơi, tôi đều được tiếp rước hết sức nồng hậu.

– Như vậy đối với giáo sư, Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên không có gì khác nhau sao?

Đây là một câu hỏi có dụng ý chánh trị mà với tư cách là người đại diện của UNESCO tôi phải tuyệt đối tránh không đề cập đến, tuy nhiên chủ nhà đã hỏi thì khách phải trả lời:

– Theo tôi có hơi khác nhau một chút: ở Nam Triều Tiên tôi là người mà họ “bắt buộc” phải tiếp, còn ở Bắc Triều Tiên thì tôi là người các bạn “mong đợi” để đón tôi: Trong đại hội ở Nam Triều Tiên, tôi đến với cương vị Phó chủ tịch nên ban tổ chức bắt buộc phải tiếp đón tôi, còn ở đây các bạn cần một người cố vấn để tổ chức diễn đàn cho hoàn hảo, tôi rất vui khi thấy mình được các bạn chờ đón. (There was a slight difference: In South Korea, I was someone they “had” to receive. In North Korea, I am someone you “wish” to reveive).

Một lần nữa tôi “thoát hiểm” mà các bạn trong Ban tổ chức cũng tỏ vẻ hài lòng. Tôi rất vui vì tuy có nhiều khó khăn nhưng tôi vẫn giữ được tình cảm tốt cho tới ngày về.

Sau này khi tôi đi các nơi thuật chuyện về chuyến đi Bình Nhưỡng được nhiều người rất thích, nhứt là các bạn trong giới ngoại giao. Các bạn cho rằng đây là những kinh nghiệm về cách ứng xử sao cho không trái với lòng mình mà đừng mích lòng người.

Diễn đàn Âm nhạc châu Á còn mang lại một kết quả tốt đẹp khác. Tôi cùng anh Lưu Hữu Phước giới thiệu tiết mục bà Quách Thị Hồ hát bài Tỳ bà hành, được Ban tuyển chọn khen ngợi và xếp vào trong 9 tiết mục xuất sắc nhứt của diễn đàn lần này. Tôi rất mừng khi ca trù được nhìn nhận là một bộ môn âm nhạc có giá trị, tên tuổi bà Quách Thị Hồ được ghi vào danh sách những nghệ sĩ được tuyển lựa của Diễn đàn Âm nhạc châu Á tại Bình Nhưỡng và bài Tỳ bà hành được ghi âm trong loạt dĩa hát của Bắc Triều Tiên thực hiện để kỷ niệm Diễn đàn Âm nhạc châu Á năm 1983.

Kết quả này được gởi về nước, may mắn tôi cũng có mặt tại Việt Nam trong buổi lễ trao giải thưởng được tổ chức tại Đài Phát thanh Hà Nội. Anh Trần Lâm lúc đó là chủ tịch Ủy ban phát thanh và truyền hình đã tổ chức buổi nhận giải thưởng rất long trọng. Ông Tổng lãnh sự Triều Tiên đại diện cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên trao giấy chứng nhận cho Đài Tiếng nói Việt Nam là đơn vị có tiết mục được tuyển lựa tại Diễn đàn Âm nhạc châu Á. Bà Quách Thị Hồ được tặng hoa và hiện vật vì là nghệ sĩ chánh trong tiết mục được tuyên dương. Sau đó bà rút hai bông hoa trong bó hoa đem lại tặng tôi:

– Xin tặng giáo sư, người hôm nay khai sinh lại cho ca trù. Xin báo với giáo sư, khi hay tin tôi được tuyên dương anh chị em giáo phường tại Lỗ Khê đã tụ họp hát ca trù suốt đêm với nhau mà chảy nước mắt vì vui mừng. Vinh dự này không phải cho riêng tôi mà là cho cả truyền thống ca trù. Chúng tôi hết sức vinh hạnh về việc ngày nay bộ môn này đã được thế giới nhìn nhận và tán thưởng cũng như không bao giờ quên công lao đóng góp của giáo sư trong việc khôi phục ca trù.

Đối với tôi, chuyến đi Bình Nhưỡng tuy có bao thấp thỏm lo âu, không ít khó khăn nhưng cũng rất nhiều niềm vui. Tôi giống như người bị lọt vào một mê hồn trận nhưng cuối cùng vẫn thoát ra được bình yên lại còn giữ được nhiều kỷ niệm đẹp.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

*******

Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 8 – Những cuộc tao ngộ thú vị


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 8 – Những cuộc tao ngộ thú vị

28/06/2015 19:05 GMT+7

TTO – Từ sau năm 1976, hàng năm tôi đều về nước ít nhứt một lần. Tháng 3 năm 1977 tôi trở về Việt Nam, vì chưa có đường bay thẳng từ Pháp về Sài Gòn nên tôi phải ghé Hà Nội mặc dầu lần này do trong Nam mời.

Jpeg
Jpeg

GS Trần Văn Khê (phải) với nhạc sĩ Văn Cao năm 1987

Tại Hà Nội tôi được gặp chủ tịch Tôn Đức Thắng, mà tôi vẫn kêu bằng anh Hai vì cụ là chồng của chị Hai Oanh, một người bà con sống cùng làng với gia đình tôi. Đêm biểu diễn giới thiệu ra mắt vở đại ca kịch A Sao tại Nhà hát lớn, bác Tôn có đi dự và tôi cũng được mời. Khi vãn hát, anh Đỗ Nhuận là tác giả vở kịch tới chào rồi nhân đó thưa với bác:

– Báo cáo Chủ tịch, hôm nay có anh Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu âm nhạc về nước.

Tôi giựt mình vì đó là lần đầu tiên nghe chữ “báo cáo”. Bác Tôn quay lại thấy tôi bèn hỏi:

– Ủa, em về hồi nào?

– Thưa được vài bữa rồi.

– Vậy tới chỗ anh Hai đi, gặp lại bà con, có chị Hai, cháu Hạnh (con gái bác Tôn), bây giờ nó có cháu ngoại rồi.

Tôi thưa:

– Dạ tùy theo giờ giấc thuận tiện của Chủ tịch em xin tới thăm.

Bác cười:

– Đừng có kêu vậy, anh Hai thì kêu anh Hai.

Ngay sáng hôm sau có xe đón tôi đến nhà bác. Gặp tôi bác nói:

– Đừng lên nhà trên, anh Hai thích ở nhà dưới hơn, mặc pyjama ăn sáng cho khỏe.

Hàn huyên xong hai anh em chụp một tấm ảnh kỷ niệm mà tôi vẫn còn giữ cho đến nay.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu

>> Kỳ 2: Lập gia đình

>> Kỳ 3: Đất khách quê người

>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống

>> Kỳ 5: Chuyện gia đình

>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

>> Kỳ 7: Quy cố hương

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

Rời Hà Nội vào Nam tôi lại gặp thêm những chuyện thú vị khác. Tại Sài Gòn có tổ chức liên hoan ca nhạc Cải lương tài tử qui tụ những nghệ sĩ kỳ cựu trong Nam. Ngoài ra còn có những diễn viên các đoàn cải lương miền Bắc tham dự và cả những nghệ sĩ miền Nam tập kết ra Bắc trở về.

Tôi đề nghị Ban tổ chức mời nhạc sư Vĩnh Bảo tham dự liên hoan nhưng anh còn ngần ngại vì cảm thấy chưa hoàn toàn hòa nhập với xã hội mới. Cuối cùng anh Vĩnh Bảo nhận lời với tất cả sự e dè và yêu cầu người giới thiệu anh trong liên hoan phải là tôi. Theo chương trình, khi nhạc hội bế mạc, Ban tổ chức trao tặng giấy chứng nhận ghi lời cám ơn cho những người tham dự để làm kỷ niệm, anh Vĩnh Bảo cũng đề nghị tôi trao cho anh. Anh Lưu Hữu Phước rất cảm thông và đồng ý làm theo những yêu cầu của anh Vĩnh Bảo.

Hôm đó anh Vĩnh Bảo đờn hết sức xuất sắc. Khi kết thúc chương trình, như đã giao ước tôi trao tờ giấy chứng nhận cho anh. Bất ngờ anh Vĩnh Bảo gục vào vai tôi bật khóc nức nở, tôi xúc động ôm anh, anh Lưu Hữu Phước chứng kiến cảnh này cũng thấy mủi lòng.

Một cuộc gặp gỡ thú vị khác là tôi tiếp xúc được với những nhân vật kỳ cựu của hát bội như bà Năm Đồ, cô Ba Út và anh Thành Tôn. Viện Nghiên cứu Âm nhạc mời ba nghệ sĩ này đến trụ sở để cho tôi chụp ảnh và ghi âm những điều cần biết trong nghệ thuật hát bội miền Nam. Anh Thành Tôn cắt nghĩa cho tôi hiểu rõ những nguyên tắc trong vũ điệu: thế nào là “tay trắng tay đen”, phong cách “trụ bộ trống chiến”, “gian quay xỏ néo” đặc trưng của bộ múa, có trên có dưới, có đông có tây, có đầu có đuôi, tay đâu mắt đó… cùng những danh từ chuyên môn trong hát bội.

Rồi anh em hát bội cũng như sân khấu cải lương mời tôi nói chuyện về hát bội và cải lương. Tôi từ chối:

– Làm sao tôi rành những bộ môn kịch nghệ truyền thống bằng các anh chị!

– Nhưng chúng tôi muốn nghe người không phải trong nghề mà hiểu và thưởng thức được rồi nói về nghề nghiệp của chúng tôi, như vậy mới thú vị hơn.

Tôi lâm vô cảnh phải múa rìu qua mắt thợ, cũng giống như việc tôi nói chuyện tụng kinh cho các nhà sư nghe trước đây. Nhưng rõ ràng không phải tự ý tôi muốn làm mà do sự yêu cầu thiết tha của các anh em trong nghề khiến tôi không thể từ chối.

Sau hai tháng lưu lại trong nước, tháng 5 tôi trở về Pháp và nhận được giấy mời dự đại hội của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Dân gian tổ chức tại Honolulu (Mỹ) vào tháng 8. Đồng thời trường Đại học Berkley gần thành phố San Francisco cũng mời tôi tham dự một hội thảo quốc tế về âm nhạc cùng tổ chức trong thời gian này.

Tại Honolulu, tôi nói chuyện về sinh hoạt âm nhạc Việt Nam ngày nay, minh họa bằng băng cassette ghi âm trích đoạn ca trù, chèo, quan họ, đồng thời chiếu hình dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc chèo. Những nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam tại Mỹ rất thú vị nói với tôi:

– Cũng nhờ ông về nước thâu thập những hình ảnh đó mà chúng tôi mới có khái niệm về sinh hoạt âm nhạc của dân tộc Việt Nam ngày nay.

Tôi cũng đưa ra tập kỷ yếu của những cuộc hội nghị về quan họ tổ chức ở Bắc Ninh trong đó có mấy chục bài tham luận về quan họ. Những nhà nghiên cứu trên thế giới đều tiếc không có những bản dịch bằng tiếng Anh để họ tham khảo.

Từ Honolulu tôi bay qua thành phố San Francisco để dự một hội nghị khác về âm nhạc tại Đại học Berkley. Khi tôi tới Berkley nhiều bạn bè ở khắp các bang tại Mỹ gọi điện thoại hỏi thăm, chẳng hạn như Phạm Duy lúc đó đang ở Florida, hay Nguyễn Thành Nguyên, một người bạn ở Hà Nội trước đây nay làm giáo sư ở San Francisco. Tôi cũng được mời đi dự một buổi hòa nhạc ở Los Angeles, không ngờ được gặp lại rất nhiều người quen tại đây như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhạc sĩ Lữ Liên, nghệ sĩ cải lương Việt Hùng.

Đến tháng 10 tôi qua Tiệp Khắc dự hội nghị của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO nhân ngày Quốc tế Âm nhạc. Dịp này có cả anh Lưu Hữu Phước đại diện Việt Nam qua tham dự.

Tôi được mời trình bày âm nhạc Việt Nam, như thường lệ tôi mặc áo dài khăn đóng. Anh Lưu Hữu Phước nói nhỏ với tôi:

– Khê ơi, qua mấy nước tư bản muốn bận sao cũng được chớ ở đây là nước xã hội chủ nghĩa, Khê bận vậy người ta nói mình phong kiến.

Tôi không đồng ý:

– Phong kiến là tại cái đầu của mình chớ không phải tại bộ đồ. Khi ra giới thiệu âm nhạc mà mặc quốc phục thì chưa cần nói người ta đã thấy dân tộc Việt Nam rồi. Còn nếu mặc đồ Tây phải sau một hồi người ta mới nhận ra tôi nói về âm nhạc Việt Nam.

– Bộ mặc đồ Tây đờn không hay bằng áo dài khăn đóng sao?

– Dầu không hay hơn đi nữa thì cái vẻ bên ngoài cũng ủng hộ cho cái bên trong vì thông thường nghệ thuật phải toàn diện. Chẳng hạn như trong nghệ thuật uống trà, tại sao không uống bằng ly giấy, không dùng tô mà phải chọn chén thiệt nhỏ? Tại sao rượu champagne phải uống với đúng loại ly của nó mới thấy ngon? Tiếng đờn cũng vậy, khi nghệ sĩ biểu diễn mặc áo dài khăn đóng trang trọng tự nhiên người nghe cũng cảm nhận tiếng đờn hay hơn. Thành ra dầu ai nói gì thì nói tôi nhứt định bận quốc phục.

Anh Phước có cái lý của anh, xuất phát từ tình cảm của một người bạn nên muốn nhắc nhở tôi. Tuy nhiên tôi vẫn giữ quan điểm của mình, hễ nơi nào không cho tôi mặc áo dài khăn đóng là tôi không đờn. Rốt cuộc buổi hòa nhạc hôm đó thành công và không ai có ý kiến gì về quốc phục của tôi.

Năm 1978 tôi về nước theo lời mời của Viện Nghiên cứu Âm nhạc, do đó toàn bộ chương trình làm việc và các cuộc tiếp xúc của tôi tại đây đều do Viện Âm nhạc sắp xếp. Tôi có nhiều buổi nói chuyện ở Trường Âm nhạc, các trường trung học phổ thông và trường Đại học Tổng hợp.

Jpeg
Jpeg

GS Trần Văn Khê, GS – nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và GS – nhạc sĩ Tô Vũ (từ trái qua) tại Viện Nghiên cứu âm nhạc năm 1982 – Ảnh: tư liệu

Ngoài ra năm 1978 cũng là năm đầu tiên có cuộc liên hoan để chuẩn bị cho Đại hội âm nhạc của dân tộc ít người tại Buôn Ma Thuột. Anh Lưu Hữu Phước mời tôi tham dự, nhờ đó tôi mới biết Buôn Ma Thuột theo tiếng địa phương có nghĩa là “làng của cha mẹ người tên Thuột”, chớ trước kia tôi vẫn kêu theo cách gọi của người Pháp là Bam Mê Thuột.

Tôi gặp tất cả các đoàn ca múa của dân tộc MNông, Êđê, Gia Rai…, nói chuyện với các anh chị em, chụp hình những nhạc cụ và ghi âm nhiều bài hát trữ tình. Tôi thật ngạc nhiên khi nhận ra âm nhạc Tây Nguyên phong phú và lãng mạn vô cùng. Chẳng hạn anh Kpa Ylang dịch cho tôi nghe nội dung lời chàng trai nói với người yêu trong một bài hát đối ca nam nữ:

Chúng ta yêu thương nhau mà lại ở cách một con sông nhưng con sông này còn có thể qua được khó nhứt là cha mẹ không ưng thuận cho chúng ta cưới nhau Trước bao khó khăn trong cuộc đời này ước gì chúng mình được làm đôi chim bay bổng trên trời cao để không có con sông nào chia cách không có uy lực nào ngăn cản chúng ta đến với nhau

Bài tình ca đẹp làm sao, không phải chỉ vì các âm thanh hòa quyện vào nhau với giọng cao giọng thấp mà ý nhạc lời ca gây xúc động trong tâm hồn. Tôi bàn với Kpa Ylang tìm cách tập trung những bài ca này dịch ra tiếng Việt rồi in thành sách để phổ biến âm nhạc Tây Nguyên. Kpa Ylang gốc người dân tộc Banar có tên Việt Nam là La Mai Chững, một người nghiên cứu rất sâu sắc văn hóa Tây Nguyên.

Thời kỳ này ở Buôn Ma Thuột có phong trào khuyến khích người Thượng thay đổi tập quán ăn mặc giống như người ở đồng bằng, mặc quần áo thay vì quấn khố. Một buổi tối gặp tôi, vài người trong đoàn ca múa nói:

– Biểu bận quần thì tôi đờn không hay, chỉ khi bận khố tôi đờn mới hay.

Tôi đem chuyện này nói với anh Lưu Hữu Phước:

– Theo tôi, khuyến khích họ bận quần áo là một việc các bạn cho là tốt, nhưng riêng người nghệ sĩ nên để cho họ được thoải mái khi biểu diễn chớ không nên bó buộc họ.

Anh Phước thông cảm:

– Phải rồi, khi biểu diễn thì họ cứ ăn mặc tùy theo ý thích của mình.

Vì vậy lần đó các nhạc công đều bận khố trên sân khấu và quả nhiên họ biểu diễn rất hay.

Trong chuyến đi Tây Nguyên tôi được dịp thấy tận mắt, nghe tận tai, chụp rất nhiều ảnh màu các nhạc cụ, xiêm y và cảnh sinh hoạt của các đồng bào miền núi, làm phong phú thêm vốn hiểu biết của tôi về âm nhạc dân tộc.

Trở về Sài Gòn, có ba nơi hết sức đặc biệt, không liên quan gì đến chuyên môn của tôi nhưng lại gởi thơ tới Viện Nghiên cứu Âm nhạc đề nghị tôi đến nói chuyện. Đó là Trường Phục hồi nhân phẩm, nơi tập trung những người trước đây bán phấn buôn hương nay được đưa vào học nghề rồi sẽ được trở về xã hội để làm lại cuộc đời. Nơi thứ hai là Trung tâm cai nghiện ma túy và cuối cùng là Trại thanh niên phạm pháp ở Xuyên Mộc. Tôi đồng ý nhận lời tới nói chuyện tại cả ba nơi này.

Tám giờ sáng ngày 5/4/1978, xe của Viện Nghiên cứu Âm nhạc đưa tôi lên Thủ Đức, dự kiến tới nhà trường khoảng tám giờ rưỡi để nói chuyện đến 11 giờ. Nhưng dọc đường xe bị hư phải chờ sửa chữa, đến mười giờ rưỡi mới lên tới nơi. Lúc đó đã gần tới giờ cơm trưa, Ban giám hiệu bèn hỏi ý kiến các học viên nên chờ sau giờ cơm hay là nghe tôi nói chuyện ngay, mọi người yêu cầu nghe trước rồi ăn cơm sau.

Tôi nói chuyện về đề tài âm nhạc trong môt tiếng đồng hồ, sau đó một cô tên là Nguyễn Thị Kim thay mặt toàn thể học viên lên nói đôi lời. Cô mở đầu bằng câu:

– Thưa chú, cho phép cháu gọi là “chú” chớ không gọi là “giáo sư”, bởi vì giáo sư thì phải nói chuyện trong trường đại học hay trường âm nhạc, chớ hiếm có giáo sư nào chấp nhận tới những nơi như thế này. Đã đồng ý tới nơi đây nói chuyện phải là người nhân ái, vì vậy xin cho phép cháu được xưng hô như trong chỗ tình thân.

– Khi biết Ban giám hiệu gởi thơ mời chú tới trường, chị em ở đây không tin rằng chú nhận lời, vì vậy nghe tin chú sẽ đến đây chị em rất bất ngờ. Đến sáng nay chờ hoài không thấy chú lên thì cũng không ai ngạc nhiên vì nghĩ rằng mặc dầu chú nhận lời nhưng sau đó có thể viện lý do bận bịu này kia để không tới.

Đó cũng là lẽ thường tình và chị em ở đây cũng không lấy thế mà phật lòng. Do đó khi chú tới thật chị em rất lấy làm lạ. Đến khi nói chuyện thì chú đưa mọi người từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Chú không đề cập những chuyện xa xôi mà chỉ nói chuyện ngay trong đất nước Việt Nam, bằng lời lẽ mộc mạc quen thuộc của người dân Nam bộ.

Khi chú cất lên một câu hát ru, xin thưa thật với chú cháu đã nghẹn ngào chảy nước mắt, tưởng chừng như nghe lại tiếng mẹ mình ru con ngày xưa. Khi chú hò thật giống y như bà con anh em chúng cháu ở nhà quê cất giọng hò. Hơn 20 năm nay cháu chưa hề có dịp nghe lại lời ru giọng hò và câu chuyện chú nói nãy giờ đã đưa tụi cháu trở về quê hương nguồn cội.

– Hôm nay sau khi nghe chú nói chuyện, chị em nhờ cháu đại diện để nói lời cám ơn. Thưa chú, lời cám ơn suông không đủ mà phải cám ơn bằng hành động. Vì vậy cháu thay mặt chị em ở đây mà hứa rằng năm sau khi trở về nước chú sẽ không còn gặp chúng cháu tại nơi này nữa. Mỗi người trong chúng cháu sẽ cố gắng học cho được một nghề để rồi trở về sống cuộc đời bình thường trong xã hội: đó là cách mà chúng cháu cám ơn chú.

Tôi ngồi nghe mà chảy nước mắt, lòng xúc động không thể tả. Tôi không tưởng tượng được cô gái này có thể nói một cách suôn sẻ, mạch lạc, tự nhiên và chân tình đến như vậy. Tôi ra về lòng thấy ấm áp, hy vọng biết đâu trong số chị em nơi đây sẽ có nhiều người cùng một suy nghĩ như cô Kim, thực hiện lời đã hứa để khi trở về trong xã hội sẽ làm lại cuộc đời và quên đi một quá khứ không mấy tốt đẹp.

Sau khi ăn cơm tại nhà trường, một giờ trưa tôi đi tiếp đến Trung tâm cai nghiện ma túy. Các bác sĩ vui mừng đón tiếp, hướng dẫn tôi đi thăm bệnh nhân và giải thích cách điều trị đặc biệt theo phương pháp riêng khá hiệu nghiệm của Việt Nam.

Các anh nói vui rằng gọi là “phương pháp đặc biệt” không phải vì mình giỏi hơn người mà chỉ vì nghèo hơn người! Thông thường những nơi cai nghiện áp dụng phương pháp dùng thuốc đặc trị thay thế chất ma túy, giảm lần lần lượng thuốc sử dụng mỗi ngày để bệnh nhân khỏi bị “sốc”.

Nhưng lúc bấy giờ thuốc men rất thiếu thốn, Trung tâm buộc lòng phải cho bệnh nhân cai liền tức thì. Thật không có gì kinh khủng cho bằng khi lên cơn ghiền mà không có thuốc, người bệnh quằn quại, lâu lâu lại giựt bắn người, mồ hôi tuôn đầm đìa trông vô cùng thiểu não. Các bác sĩ nói:

– Chúng tôi chỉ có cách điều trị duy nhứt là châm cứu vào các huyệt để hạn chế bớt cơn ghiền đang hành hạ bệnh nhân. Ngoài ra chúng tôi áp dụng một phương cách mà có lẽ ít nơi nào làm, đó là dùng tình thương để xoa dịu. Chúng tôi ôm người bệnh vô lòng, lấy khăn lau mặt, nói những câu vỗ về: “Cố gắng đi em, rồi nó sẽ qua”. Cách làm này rất hiệu nghiệm, khi nghe những lời nói trìu mến, được sự vỗ về của bác sĩ, người bệnh đang vật vã mau chóng qua cơn.

Tại đây tôi cũng nói chuyện về âm nhạc, sau khi nghe xong các em đặt câu hỏi:

– Giáo sư ở bên Pháp chắc biết được cách người ta áp dụng để cai ma túy, nghe nói họ chỉ toàn sử dụng thuốc tây phải không?

Tôi thừa nhận đúng như vậy thì các em than phiền:

– Vậy mà ở đây trị toàn bằng cam thảo, rễ tranh, hà thủ ô, toàn các thứ lá với rễ cây không thôi, chẳng biết có hiệu nghiệm hay không!

Tôi trả lời:

– Nghe các em nói vậy tôi nhớ tới một chuyện khác. Khi ở bên Tây, có người bạn Pháp hỏi tôi: “Anh sống ở đây đã lâu, anh nhận xét thế nào về cách ăn uống của chúng tôi?”. Tôi trả lời rằng mỗi dân tộc có cách ăn khác nhau, tôi không dám phê bình cách ăn của người Pháp mà chỉ nói về cách ăn của người Việt Nam. Theo tôi người Việt Nam ăn một cách toàn diện, khoa học và dân chủ.

– Chúng tôi ăn trước hết bằng mắt, thức ăn phải bày biện cho đẹp. Thứ nhì là ăn bằng mũi, sử dụng những gia vị rất nồng như nước mắm, rau thơm, cà cuống, cho tỏa mùi thơm ngào ngạt. Thứ ba là chúng tôi ăn bằng xúc giác, thức ăn gắp bỏ vô miệng phải gồm nhiều dạng: dai dai của thịt, mềm mềm của bún, giòn rụm của bánh tráng, hoặc có thêm đậu phộng rang, hành ngò cho thơm. Cuối cùng thì tai phải nghe tiếng nhai giòn rụm, bẻ bánh tráng rốp rốp, húp sùm sụp, có vậy ăn mới thấy khoái. Đó chính là cách ăn toàn diện.

– Kế đến, tôi nói rằng người Việt Nam ăn một cách khoa học, bởi vì thông thường mặn là dương, chua và ngọt là âm, vì vậy nước mắm mặn nên phải pha thêm đường mà nấu chè thì phải dằn chút muối. Kho thịt, kho cá bao giờ cũng có bỏ đường, món nào chua thì chấm với muối.

Ngược lại, ở bên Pháp khi ăn bưởi chua các bạn lại cho thêm đường, tôi ăn không thấy ngon. Đường là âm mà bưởi chua cũng là âm thành ra “âm thịnh dương suy”, các bạn ăn như vậy có thể dễ bị bịnh hơn chúng tôi. (Thỉnh thoảng sau đó vài người bạn Pháp của tôi bắt chước cách ăn món chua bỏ vô chút muối và nói rằng cảm thấy ngon hơn).

Ngoài ra chúng tôi còn phân biệt nhiệt với hàn, cá trê, thịt vịt, cua đinh là món hàn phải ăn với nước mắm gừng là món nhiệt. Người Việt Nam không đưa ra nguyên tắc hay phương pháp nào trong ăn uống, nhưng nếu xem xét kỹ thì thấy rằng rất phù hợp với khoa học.

– Cuối cùng tôi cho là chúng tôi ăn dân chủ vì thức ăn dọn hết trên bàn, ai thích món gì ăn món nấy. Còn người Pháp thì, xin lỗi bạn, tôi không ưa món khoai tây tán mà nhiều khi đến nhà bạn bè dọn cho tôi một dĩa, nếu không ăn là bất lịch sự nên tôi bắt buộc phải ăn chớ không được quyền lựa. Trong khi đó nếu dọn ra hết trên bàn, món nào không ưa tôi không gắp, hạp khẩu vị thì gắp thêm.

Kể xong chuyện này tôi kết luận:

– Tôi nói như vậy để các em thấy rằng không phải cái gì phương Tây cũng hay hơn mình. Họ có cách điều trị của họ, còn mình trị theo điều kiện của mình. Vấn đề là xét xem những vị hà thủ ô, cam thảo mà chúng ta đang sử dụng ở đây có đem lại kết quả hay không? Các em nên so sánh tình trạng của mình lúc mới vào đây với hiện nay, sau một thời gian chữa trị, nếu thấy tiến bộ tức là thuốc có hiệu nghiệm. Không nhứt thiết phải có thuốc của phương Tây điều trị mới là tốt, chúng ta không nên vọng ngoại.

Mọi người cười vui, chấp nhận chữa trị bằng phương pháp dân tộc và nói rằng sẽ không mang nặng mặc cảm nữa. Trong buổi gặp gỡ này tôi chỉ thuật chuyện vui cho các em nghe chơi, kể chuyện ăn mà kỳ thật là nói về việc uống thuốc, đồng thời đề cập cả về con người và văn hóa Việt Nam, mong các em xóa bỏ được tự ti mặc cảm và tinh thần vọng ngoại.

Nơi cuối cùng tôi đến là Xuyên Mộc. Đường đi xa, vô sâu tận trong rừng. Tôi hình dung trại giam giữ thanh niên phạm pháp phải có lính gác phía trước, tường cao kiên cố, có rào kẽm gai, nên khi tới nơi tôi hơi ngỡ ngàng trước một không gian khác hẳn. Không có người gác ở cổng, vừa vô bên trong, thấy một thanh niên đang đi tới trên tay cầm dao mác tôi cũng hơi e ngại, nghĩ rằng hẳn người này đã từng giết người mặc dầu cậu vừa đi vừa hát nghêu ngao. Nhìn quanh tôi không thấy tường cao, hàng rào kẽm gai, chỉ có một sân khấu lộ thiên rất lớn ở chính giữa. Tôi hỏi sân khấu để làm gì thì được trả lời:

– Mỗi cuối tuần chúng tôi tổ chức văn nghệ, diễn kịch và hát cho nhau nghe tại đây. Thỉnh thoảng cũng mời những đoàn ca nhạc ở thành phố lên diễn cho mọi người xem.

Tôi vừa bất ngờ vừa bồi hồi xúc động. Một hồi chuông reng lên, mọi người tụ họp lại đón chào khách mới đến. Trước tiên, tôi được đưa đi thăm trại ở gồm nhiều gian nhà, mỗi gian dành cho mười người với chỗ ngủ riêng biệt, từng phòng tự cử ra một người chỉ huy. Nam nữ ở hai dãy riêng, bên dãy nữ thấy một cô da đen nhánh, tôi hỏi thăm mới biết cô là người Ấn Độ lai, vì phạm tội giết người nên bị đưa về đây.

Thấy một nhóm các em cầm dao mác đi ngoài sân, tôi thắc mắc và được cho biết các em đi trồng trọt, tự chăm bón đủ các loại rau trái để cung cấp cho bữa ăn hàng ngày, rồi còn đi đốn cây chặt lá trên rừng. Các em nói rằng lúc đầu mới lên đây cũng được canh giữ rất nghiêm ngặt. Sau một thời gian khi Ban quản giáo đã giải thích để các em hiểu việc đưa các em lên đây không phải để trừng phạt mà là cải hóa, rèn luyện cho các em một nếp sống khác, từ đó các em có thay đổi trong suy nghĩ mà kỷ luật trong trại cũng lần lần được nới lỏng. Tôi rất ngạc nhiên bởi từ trước tới nay chưa bao giờ thấy một trại giam như vậy. Các em nghe tôi nói chuyện âm nhạc mà vui cười rất thoải mái.

Được dịp tới nói chuyện ở những nơi đó tôi hết sức vui khi nghĩ rằng tiếng nói của mình không chỉ để dạy học trò hay đến với những ai tha thiết muốn học hỏi hoặc những người muốn tìm hiểu vì hiếu kỳ. Ngoài ra còn có những người tuy không quan tâm đến âm nhạc, nhưng khi được nghe lời ca tiếng nhạc cổ truyền êm ái và dịu dàng, tự nhiên tâm hồn họ trở về gắn bó với quê hương, với văn hóa của dân tộc.

Nghĩ lại tôi mới thấy lời nói chơi lâu nay của mình vậy mà thành thiệt. Tôi thường cho rằng mình không chỉ nói chuyện âm nhạc mà là “giảng đạo nhạc”, giúp người khác tìm ra một con đường đi: vì đạo chính là con đường chớ không phải chuyện gì cao xa. Tôi rất tự hào được làm một người giảng đạo nhạc. Nhờ những chuyến đi này mà tôi nghe được lời nói chân tình của cô Kim, giải tỏa được phần nào thắc mắc của các em đang cai nghiện ma túy về phương thuốc điều trị và nhận thức được nơi họ tới không phải là chốn rừng thiêng nước độc mà là nơi họ tìm thấy lẽ sống một cách xứng đáng trong cuộc đời.

Trở về Paris, đầu tháng 8 tôi lại tới thành phố Dresden (Đông Đức) dự cuộc gặp gỡ do Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Dân gian tổ chức hội thảo về đề tài “Điệu thức trong âm nhạc”.

Sang tháng 9 tôi đại diện cho UNESCO qua Ấn Độ dự hội nghị tại tỉnh Hyderabad. Chuyến đi này tôi gặp rất nhiều rắc rối!

Trước đó bạn tôi là ông Menon đang giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Ca vũ nhạc Ấn Độ tại Bombay, mời tôi sau khi đến Hyderabad sẽ lưu nói chuyện tại Trung tâm của ông, sau đó sẽ giới thiệu âm nhạc Việt Nam trên Đài Truyền hình Bombay.

Máy bay của Hãng Hàng không Pháp (Air France) từ Paris đến Hyderabad phải ghé qua thủ đô Téhéran của Ba Tư để lấy nhiên liệu, sau đó quá cảnh tại New Delhi rồi tôi phải đổi đường bay, đi máy bay nội địa xuống tỉnh này. Nhưng khi máy bay vừa đáp xuống phi trường Téhéran thì bỗng nhiên phát cháy, tôi ngồi ngay cửa sổ nên nhìn thấy rõ ngọn lửa bùng lên ở chỗ bánh xe chạm đất. Cô tiếp viên hàng không trấn an mọi người:

– Xin quí vị đừng lo sợ, sẽ có xe chữa lửa tới ngay. Trong trường hợp nguy cấp hành khách sẽ được xuống bằng cửa thoát hiểm phía sau.

Tôi bình tĩnh lấy hành lý xách tay đầy đủ và chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để rời khỏi máy bay. Xe chữa lửa hú còi inh ỏi ào ào chạy tới và cuối cùng dập tắt được ngọn lửa. Cô tiếp viên hướng dẫn hành khách theo cửa sau rời khỏi phi cơ và yêu cầu mọi người nhận lại hành lý vì máy bay phải nằm lại đây để sửa chữa.

Năm đó ở Ba Tư nổ ra cuộc cách mạng Hồi giáo, ông Khomeini vừa lên cầm quyền nên việc kiểm soát tại phi trường rất chặt chẽ. Vì vậy vừa xuống sân bay tất cả hành khách phải nộp hộ chiếu và mỗi người được phát một con số. Tôi cảm thấy e ngại, một lần nữa lại bị “thu hồi hộ chiếu”. Tôi nghĩ mình giờ đây chỉ còn là một con số, trong lòng hết sức băn khoăn không biết liệu họ có giữ hộ chiếu kỹ lưỡng hay không?

Tới khi lấy hành lý thì thêm chuyện rắc rối: hai va li của tôi bị thất lạc! Tôi báo cho nhân viên tại phi trường Téhéran và được trả lời:

– Theo Luật quốc tế nếu ông đi tới nơi đây là trạm cuối mà hành lý bị thất lạc thì mới khai báo với chúng tôi. Trường hợp của ông máy bay chỉ ghé ngang đây để lấy xăng nên chúng tôi không nhận lời khai này. Tới New Delhi ông sẽ khai báo với hãng Air France tại nơi đó.

Vậy là tôi chỉ còn cái túi xách tay với hai cây đờn cò và đờn tranh. May mắn tôi đã cẩn thận để trong túi xách tay một ít tài liệu, tạm thời có thể sử dụng tuy không đầy đủ gồm bài tham luận tại Hyderabad, vài chục tấm hình màu để minh họa khi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại Bombay cùng với một số dây đờn tranh dự phòng. Ngồi chờ hồi lâu thì được thông báo việc sửa chữa máy bay sẽ phải mất hai ba ngày. Ngay lúc đó không có sẵn máy bay khác để đi tiếp nên hành khách được đưa về ở khách sạn do hãng máy bay đài thọ, chỉ có điều không được phép ra ngoài vì tình hình ở Téhéran chưa được ổn định.

Tôi phải lưu lại đây 24 giờ đồng hồ, hết sức nóng ruột vì sợ trễ ngày khai mạc hội nghị. Hôm sau phi trường Téhéran chuyển hành khách sang chuyến bay khác, nhưng vì không đủ chỗ nên họ xét giải quyết ưu tiên cho những người có công chuyện hết sức quan trọng. Tôi báo với nhân viên phi trường tôi cần đi sớm để dự hội nghị của UNESCO nhưng người này trả lời:

– Ông để từ từ chúng tôi xem xét, ai tới đây cũng nói có việc gấp đòi được ưu tiên hết.

Phải đợi tới khi bạn tôi, ông Ghotbi, giám đốc Đài Truyền hình Téhéran, đến can thiệp thì họ mới giải quyết cho tôi đi vào ngày hôm sau. Tôi tới New Delhi trên chuyến bay của Hãng Pan American, sau đó sẽ phải đổi máy bay nội địa để tới Hyderabad. Tới Delhi đã 11 giờ rưỡi khuya, coi lại cũng không có hai va li của mình, tôi yêu cầu Hãng Pan American chứng nhận việc tôi mất hành lý, nhưng nhân viên hãng này không chịu:

– Ông đi vé của Air France nên họ chịu trách nhiệm chớ không phải chúng tôi.

Tôi hỏi:

– Vậy thì văn phòng của Air France ở đâu?

– Bữa nay nhằm ngày nghỉ không có ai làm việc hết.

– Tôi đi trên máy bay của các ông do đó ông phải có phận sự ghi nhận việc này.

– Chúng tôi không gánh trách nhiệm của Air France.

– Nhưng ít nhứt ông phải chứng nhận là tôi đã mất hành lý sau khi xuống chuyến bay này. Có đền bù hay không là chuyện của Air France, phần ông chỉ ghi nhận việc tôi bị mất hành lý.

Nghe vậy họ mới chịu làm giấy. Khi hỏi thăm tôi biết được tới chiều hôm sau mới có máy bay đi Hyderabad. Lúc đó đã gần 12 giờ khuya, tôi yêu cầu Hãng Pan American:

– Tôi không thể ngồi ở phi trường suốt đêm nay, các ông phải giải quyết cho tôi vô ở tại khách sạn trong New Delhi và đài thọ cả tiền taxi cho tôi, đó là Luật quốc tế.

Nhưng hãng này không đồng ý:

– Đó là trách nhiệm của Air France chớ không phải của chúng tôi.

Còn đang cãi lý qua lại, chợt nhìn thấy văn phòng của Air France bật đèn sáng, tôi bèn qua gõ cửa, nhưng ở đó chỉ có người trực văn phòng, nghe tôi thuật chuyện ông ta nói:

– Việc này không thuộc trách nhiệm của tôi.

Tôi bực mình hỏi lại:

– Vậy là không ai chịu trách nhiệm hết phải không? Tôi sẽ viết một bức thơ về việc Hãng Hàng không Pháp không lo chu đáo cho hành khách khi chuyến bay bị trục trặc kỹ thuật.

Thấy tôi phản ứng mạnh người này bèn đồng ý giải quyết cho tôi về ở khách sạn Ashoka tại Delhi đồng thời cho vé đi taxi không tốn tiền. Qua việc này mới thấy may là tôi biết luật lệ quốc tế lại chịu khó đi tới đi lui, cãi qua cãi lại mới được giải quyết, chớ nếu không chắc là phải ngồi tại phi trường cho tới bữa sau.

Nhưng chuyện rắc rối tới đó chưa chấm dứt! Trong phòng ngủ của khách sạn quốc tế Ashoka không có bàn chải đánh răng cũng không có đồ cạo râu. Thường thì các khách sạn quốc tế đều có bán những thứ này nên tôi hỏi thăm để mua thì được trả lời:

– Tại đây sắp có nạn lụt nên toàn bộ đồ đạc của khách sạn được dời đi nơi khác. Khách chỉ ở tạm tại đây, ông phải lưu ý khi nào chúng tôi gọi điện thoại báo động là phải xuống ngay để được đưa đến vùng cao hơn, chỗ này thấp nước lụt tràn vô là chết.

Quả nhiên khi mở cửa sổ nhìn xuống đường tôi thấy mọi người gồng gánh khuân vác đồ đạc dời đi nơi khác. Tôi đành nằm đó chịu trận, ngủ chập chờn suốt đêm, sáng dậy không có bàn chải đánh răng cũng không cạo râu được. Ngoài đường mọi người vẫn ùn ùn kéo nhau chạy lụt, tình cảnh có vẻ nguy hiểm nhưng tôi không lo sợ bởi vì khách sạn đang có một số người lưu lại đây, lúc nguy cấp thế nào cũng có xe đưa mọi người di tản. May mắn không có chuyện gì xảy ra, sau khi ăn trưa, lúc 12 giờ xe đưa tôi trở lại phi trường. Tôi vẫn mặc bộ quần áo đi đường, tay xách hai cây đờn, xuống tới phi trường Hyderabad là gần 4 giờ chiều. Mấy người ra đón tôi rất vui mừng:

– Từ hôm qua tới nay chúng tôi lo quá, chỉ sợ ông không tới kịp thì không có ai đại diện cho UNESCO trong ngày bế mạc. Hiện hội nghị đang tới chương trình thảo luận, bây giờ đã là 4 giờ mà 5 giờ ông phải đọc tham luận nên chúng ta phải đi thẳng tới hội nghị.

– Nhưng hai ngày nay tôi chưa cạo râu cũng không đánh răng, tôi lại đang mặc bộ đồ đi đường chớ không phải quần áo dự hội nghị.

– Không sao, chuyện ông nói quan trọng hơn cách ông ăn mặc.

Không thể làm gì khác hơn, tôi đành đi ngay cho kịp giờ. Sau khi tôi đọc tham luận với đề tài “Ảnh hưởng tốt hay xấu của khoa học trong việc phát triển âm nhạc truyền thống”, nhiều đại biểu đặt câu hỏi và muốn gặp tôi khi hết giờ. Tan hội nghị tôi rất mừng, vội vã xin được trở về khách sạn ăn uống và quan trọng nhứt là đi mua ít đồ dùng cần thiết. Tới khách sạn lúc 7 giờ rưỡi tối, tôi hỏi nhân viên tiếp tân:

– Xin chỉ cho tôi chỗ mua bàn chải đánh răng, đồ cạo râu và áo quần.

– Rất tiếc hiện nay đang là tháng Ramadan, mùa chay của Hồi giáo, nên sau 7 giờ chiều mọi người chỉ đọc kinh thôi chớ không mua bán gì hết.

Vậy là tôi đành phải đi ngủ! Hôm sau dậy thật sớm, trước khi tới hội nghị tôi ghé mua được bàn chải với dao cạo. Còn quần áo thì mấy tiệm ở đây chỉ bán áo quần Ấn Độ, rốt cuộc tôi đành phải mua tạm vài sơ mi màu xanh đỏ vàng đặc trưng của người bổn xứ. Nhưng điều này không hề chi vì người Ấn Độ dự hội nghị rất đông, mọi người chỉ tưởng tôi lập dị không thích bận đồ tây thôi. Tôi lưu lại Hyderabad gần một tuần lễ, mặc đồ Ấn Độ, ăn cơm Ấn Độ và tham dự hội nghị.

Tôi cũng tới sân bay Hyderabad khai mất hành lý nhưng nơi đây không có văn phòng đại diện của hãng Hàng không Pháp nên đành bó tay. Sau khi hội nghị kết thúc tôi bay qua Bombay, việc đầu tiên là tới thẳng văn phòng của Air France. Họ cho biết:

– Theo qui định khi nào mất hành lý phải khai báo trong vòng 48 giờ đồng hồ. Đến nay đã hơn một tuần lễ rồi, chúng tôi rất khó kiểm tra xem hành lý của ông lạc đi đâu. Thôi bây giờ ông chịu khó làm đơn khiếu nại để chúng tôi chuyển về bên Pháp định liệu. Thơ trả lời cho ông cũng phải đợi hơn 10 ngày.

Không còn cách nào khác hơn, tôi phải làm giấy khiếu nại, khai tỉ mỉ đồ đạc trong hai va li bị lạc.

Tại Bombay tôi nói chuyện ở Trung tâm Ca vũ nhạc và sau đó là một buổi giới thiệu âm nhạc trên Đài truyền hình. Giảng tại Trung tâm, ăn mặc thế nào cũng được, nhưng nan giải nhứt là tôi không có quốc phục để mặc khi giới thiệu nhạc truyền thống Việt Nam trên truyền hình. Ông Menon bàn với tôi:

– Quần chúng thấy anh đờn nhạc cổ truyền Việt Nam mà bận âu phục loại đi đường sẽ không thích đâu. Tôi nghĩ ra cách này: con gái tôi dẫn anh ra chợ mua một áo lụa và cái quần kiểu nhạc sĩ Ấn Độ để anh mặc, rồi tôi có cách nói.

Con gái ông Menon mua cho tôi một áo lụa rất đẹp và một quần trắng kiểu Ấn Độ cùng với đôi dép da. Bữa đó ông Menon giới thiệu hết sức tuyệt vời:

– Tôi xin giới thiệu ông Trần Văn Khê là một giáo sư người Việt Nam sẽ biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam. Ông Trần Văn Khê sinh sống tại Pháp, là người đã từng giới thiệu âm nhạc Ấn Độ trong Bảo tàng viện Guimet ở Paris. Vì vậy khi ông đến đây các nhạc sĩ của chúng ta do quý cái tình của ông đã giới thiệu nhạc Ấn Độ nhiều nơi trên thế giới nên gởi tặng một bộ y phục nhạc sĩ Ấn Độ để làm kỷ niệm. Hôm nay, đáp lại sự ưu ái của các nhạc sĩ Ấn Độ, ông Trần Văn Khê mặc bộ đồ này và đờn nhạc Việt Nam cho các bạn nghe.

Thính giả có mặt tại Đài Truyền hình vỗ tay hoan nghinh. Tôi rất vui vì người bạn giới thiệu mình rất khéo và đã “chuyển bại thành thắng”. Tôi lưu lại đây vài ngày, được các bạn đưa đi xem nhiều cảnh đẹp trong thành phố. Khi họ trả thù lao, tôi nhận thấy Trung tâm Ca vũ nhạc trả cho tôi số tiền 100 roupies (một roupie gần bằng một franc của Pháp) như thường trả cho một giáo sư thỉnh giảng (vì tôi nói chuyện là chính, chỉ đờn minh họa vài bản) còn Đài Truyền hình trả cho tôi số tiền 300 roupies là mức thù lao dành cho nghệ sĩ (tôi biểu diễn đờn truyền thống kèm theo lời giải thích) nghĩa là tại đây thù lao của người nghệ sĩ gấp ba lần tiền lương người giáo sư.

Đó cũng là một chuyện làm tôi suy nghĩ. Bên Pháp thì lương giáo sư lớn hơn người giới thiệu nhạc cổ điển, nhưng lương người giới thiệu nhạc cổ điển thua người giới thiệu nhạc trẻ có khi đến năm sáu lần. Việc đánh giá về công việc làm của một người trong xã hội phần nhiều không định theo giá trị của công việc mà người ta thường đánh giá qua mức thu hút và sức hấp dẫn đối với quần chúng.

Rõ ràng âm nhạc ngày nay không còn là môn nghệ thuật để mọi người toàn tâm toàn ý phụng sự mà đã biến thành mọt món hàng để người ta mua bán. Món hàng nào ăn khách thì giá cao, còn món hàng nào bán không chạy thì giá thấp. Nhận ra điều này tôi cảm thấy hơi buồn, nhưng dĩ nhiên đành phải chấp nhận vì đó là một điều không thể thay đổi được.

Sau chuyến đi Hyderabad trở về Pháp, 6 tháng sau hãng Air France báo cho tôi hay họ đã tìm thấy hành lý của tôi ở… Hongkong. Tôi nhận lại hai chiếc va li còn y nguyên, không mất một món đồ nào, với lời xin lỗi của Air France.

Chuyến đi này quả thật quá rắc rối. Nhưng tôi luôn được cái may là lúc nào cũng “tiền hung hậu kiết”, sau cùng thì mọi việc đâu cũng vào đó.

Trở về Việt Nam năm 1978, tôi ẵm được đứa cháu đích tôn đầu tiên là Trần Tri Hòa, tôi đặt tên này để tưởng nhớ đến cậu Năm Nguyễn Tri Khương. Mỗi năm tôi về nước đám cháu nội ngoại lớn lên lần lần, đứa nào cũng quấn quýt tôi và giành nhau nằm gần ông.

Buổi chiều đi học về đám cháu tập trung tới khách sạn để tối ngủ chung với tôi, Diễm Tiên hồi nhỏ đeo ông ngoại không thể tưởng được nhưng khi lớn biết nhường các em, chịu cho Cẩm Thy và Đào Tiên nằm hai bên tôi, Tri Hòa nằm dưới chân.

Tối tối tôi kể chuyện đời xưa cho mấy cháu nghe, tới đoạn gay cấn hồi hộp nhứt thì ngưng lại hẹn hôm sau kể tiếp. Tụi nhỏ xuýt xoa tiếc rẻ, nôn nóng chờ mau tới ngày mai để nghe đoạn kết. Tôi cưng chiều nhưng cũng nghiêm khắc với các cháu, hễ đứa nào không ngoan thì phạt không cho nghe kể chuyện đời xưa, kể ra đó là một hình phạt hết sức nặng nề đối với chúng nó. Tuy về nước chủ yếu là để nghiên cứu nhưng tôi cũng ấm lòng nhờ sống trong tình thương của các con các cháu.

Sau Việt Nam tôi đi Ba Lan dự nhạc hội với đề tài “Gặp gỡ Đông Tây” tổ chức ở làng Bydgoszcz. Người đón tôi tại phi trường là bà Zeranska, giáo sư phụ tá tại trường Đại học Varsovie do bà đại giáo sư Czcekanoska cử đi. Bà chào tôi và nói:

– Bà Czcekanoska nhờ tôi làm thông dịch cho giáo sư. Tôi cũng nghiên cứu về Shashmakom, một điệu thức vùng Tashkent (Liên Xô) nên nhân dịp này sẽ trao đổi với giáo sư thêm về chuyên môn.

Quả là tôi gặp may, bỗng nhiên có được một người thông dịch vừa đẹp, vừa lo lắng cho tôi chu đáo, nói thông thạo tiếng Pháp, lại có thể bàn chuyện về âm nhạc với nhau. Nhân dịp này bà Czcekanoska mời tôi sau nhạc hội ghé qua Varsovie giảng tại trường đại học của bà một buổi về âm nhạc Việt Nam.

Tiếp đó tôi được Nhạc viện ở Genève (Thuỵ Sĩ) mời qua thuyết trình về nhạc truyền thống Việt Nam có giáo sư Baud Bovy giới thiệu. Ngoài ra còn một buổi nói chuyện trên đài phát thanh của thành phố này. Người tiếp tôi tại đây là Laurent Aubert, về sau chúng tôi còn nhiều dịp liên hệ với nhau. Lần đó tôi rất xúc động khi được ông mời ăn tối và nói rằng:

– Tôi thú vị mời được ông tới nhà chúng tôi ăn cơm. Năm tôi sanh ra đời, cha tôi mua mấy trăm chai rượu cất trong hầm rượu của gia đình, dặn tôi sau này khi nào có khách quý tới nhà thì đem ra đãi. Hôm nay tôi hân hạnh mời ông uống chai rượu cha tôi mua vào đúng năm sanh của tôi.

Đêm đó tôi uống ly rượu thấy rất ngon vì hưởng được cả cái tình của người có lòng quí mến mình.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên
GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150628/hoi-ky-tran-van-khe-ky-8-nhung-cuoc-tao-ngo-thu-vi/767433.html