Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ cuối – lá rụng về cội

01/07/2015 09:34 GMT+7

TTO – Trong năm 2002, có một sự kiện rất quan trọng đã đổi hướng cuộc đời của tôi.

GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê gặp cụ Đào Duy Anh tại khách sạn Bến Nghé (TP HCM) năm 1979 – Ảnh: tư liệu

Trong thời gian tham dự Festival Huế, nhân bữa tiệc chiêu đãi quan khách tôi được xếp ngồi kế bên cháu Trương Ngọc Thủy, giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu

>> Kỳ 2: Lập gia đình

>> Kỳ 3: Đất khách quê người

>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống

>> Kỳ 5: Chuyện gia đình

>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

>> Kỳ 7: Quy cố hương

>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị

>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên

>> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ>> Kỳ 12: Họa vô đơn chí>> Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Trong câu chuyện trao đổi, cháu Trương Ngọc Thủy hỏi tôi có định lưu trữ những tư liệu nghiên cứu của mình ở đâu chăng? Tôi tâm sự đã gom góp khá nhiều tư liệu về âm nhạc Việt Nam cũng như những nền âm nhạc lớn của châu Á, hiện đang được cất giữ tại Pháp. Tôi đã lập di chúc giao lại cho trưởng nam Trần Quang Hải nhiệm vụ quản lý và giữ gìn tất cả tư liệu, chờ khi thuận tiện sẽ trao lại toàn bộ cho cơ quan đúng chức năng trong nước nhận lãnh để lưu giữ cho dân tộc Việt Nam. Nhưng tôi ước ao trong lúc còn sống có được điều kiện đem những tư liệu này về nước.

Nghe vậy, cháu Trương Ngọc Thủy tươi cười nói: “Cháu xin thay mặt Sở Văn hóa Thông tin Hồ Chí Minh sẽ tìm cách giúp bác mang về để lưu trữ trong một căn nhà, sau này sẽ là nhà lưu niệm Trần Văn Khê.”

Hai bác cháu nắm tay nhau, tuy chưa ký thành văn bản mà đã có một ước hẹn.

Ngay trong năm đó, cháu Trương Ngọc Thủy cùng với đại diện Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sang Pháp và đến thăm tôi tại tư gia ở Paris. Nhìn thấy tận mắt khối lượng tư liệu chất đầy kín 5 căn phòng, mọi người đều thích thú và quyết tâm bằng mọi giá sẽ tìm cho tôi một căn nhà tại thành phố. Cháu Thủy giao cho Phó giám đốc Thế Thanh thay mặt Sở Văn hóa Thông tin xúc tiến việc này.

Tháng 10 năm 2003, một người cháu của tôi là Thanh hợp sức với cháu Tươi liên hệ với một công ty vận tải biển của Pháp lo việc đóng gói và chuyên chở toàn bộ “sự nghiệp tinh thần” tôi đã chắt chiu tạo dựng qua hơn nửa thế kỷ để đem về Việt Nam. Tất cả gói gọn trong 465 kiện, trong đó có những bộ sách ghi chép về lịch sử âm nhạc Việt Nam, những dĩa hát đầu tiên của một vài nghệ nhân Việt Nam và các nước châu Á mà ngay ở các nước sở tại đôi khi cũng khó tìm được.

Tôi cũng có hơn 100 quyển thuộc loại từ điển bách khoa của Anh, Mỹ, Ý, Pháp; gần 200 cuốn sổ đi đường, như một thiên nhật ký, ghi chép hành trình tôi tham dự hơn 200 hội nghị ở khoảng hơn 68 nước trên thế giới để làm tư liệu về dân tộc học; hơn 2.000 sách, tạp chí thuộc loại nghiên cứu âm nhạc học và nhạc kịch Việt Nam, một kho hình ảnh cùng 800 băng cassettes ghi lại nội dung gặp gỡ nghệ nhân trong các chuyến điền dã khắp Việt Nam và một số nước trên thế giới…

Những thứ “của cải” này, tuy không có giá trị thương mại, nhưng vô giá đối với tôi và tôi nghĩ rằng chúng có ích cho những thế hệ mai sau trong việc tìm hiểu và nghiên cứu âm nhạc theo phương pháp dân tộc nhạc học.

Nhưng khi mọi thứ được đóng gói xong và chuyển đi, thú thật tôi đã khá lo lắng. Bởi chuyến tàu trên đường đi có thể bị tai nạn, bị sóng đánh chìm, hay hàng hóa có thể bị thất lạc…

Thôi thì, một liều ba bảy cũng liều!

Khi biết được chi phí tổng cộng lên tới 7.000 Euros cho một container 40 feets, một số bạn bè, thân hữu vẫn theo dõi công việc làm của tôi xưa nay, đồng thời thông cảm với hoàn cảnh một nhà nghiên cứu suốt đời thanh bạch, đã tự nguyện cùng nhau đóng góp để giúp tôi trang trải chi phí trong việc vận chuyển khá tốn kém nói trên. Thậm chí một cặp vợ chồng người Việt sống bên Mỹ, chỉ nghe một môn sinh của tôi là cháu Thiên Nga kể về việc làm của tôi trong lãnh vực văn hóa chớ chưa bao giờ tiếp xúc, nhân dịp về thăm quê nhà cũng tìm gặp tôi và đề nghị được chung tay giúp đỡ.

Tôi vô cùng xúc động trước nghĩa cử đẹp của những tấm lòng ấy.

Đầu tháng 12, may mắn thay, chiếc tàu trong đó có kiện hàng của tôi cập bến Việt Nam an toàn. Nhờ sự giúp đỡ của Sở Văn hóa Thông tin Thành phố, nhứt là giám đốc Trương Ngọc Thủy và phó giám đốc Nguyễn Thế Thanh, mà các thủ tục hải quan được tiến hành nhanh chóng. Chỉ sau 5 tiếng đồng hồ, tất cả các kiện hàng được chở về gởi tạm trong Bảo tàng viện Thành phố, vì các cơ quan hữu trách chưa tìm ra căn nhà phù hợp để cấp cho tôi.

Cuối cùng Thế Thanh cho biết Sở Văn hóa Thông tin đã chọn được một biệt thự cũ tại tại số 32 Huỳnh Đình Hai, phường 24, quận Bình Thạnh và giao kiến trúc sư sửa chữa, xây dựng lại cho phù hợp với yêu cầu làm việc và sanh sống của tôi.

Tháng 10 năm 2005, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã chánh thức bàn giao căn nhà trên cho tôi để làm nơi cư trú và lưu trữ toàn bộ hiện vật liên quan đến đời sống cá nhân và nghề nghiệp. Sau khi tôi qua đời, nơi đây sẽ trở thành “Nhà lưu niệm Trần Văn Khê”.

Từ tháng 10, tôi tạm ngưng các hoạt động về văn hóa để đặt trọng tâm cho việc ổn định chỗ ở. Cháu Tươi (thời gian này đã rời Paris về Sài Gòn phụ giúp tôi) cùng với em Lý (Trưởng Trung tâm Hồi ký) cùng hợp sức lo việc trang trí nội thất, sắp đặt các phòng tư liệu, phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp… cho căn nhà Huỳnh Đình Hai.

Em Lý nhờ nghệ nhân Út Tài thiết kế cây cảnh trong sân vườn nhà tôi. Có một kỷ niệm vui là sau khi nhận lời, ngay tối hôm đó cô Út Tài cho xe tải tới đổ xuống rất nhiều cây cảnh và chậu hoa, đến độ tôi lo lắng phải gọi điện thoại cho em Lý: “Thầy e là không đủ tiền để trả cho chừng đó cây cảnh đâu. Nếu ở Paris thì với số lượng này chắc phải bán nhà mới đủ trả”.

Không dè lát sau em Lý gọi điện lại: “Em đã nói chuyện với chị Út rồi, nhưng chị nói sẽ còn mang thêm nhiều nữa!”. Khi khu vườn đã hoàn tất, rất hợp với sở thích của tôi, đến phần thanh toán tiền nong thì cô Út Tài tươi cười khoát tay: “Em làm tặng thầy”. Tôi vô cùng cảm động trước quà tặng này.

Việc trang trí nội thất phòng khách thì vợ chồng kiến trúc sư Trương Hiền Phúc đã thực hiện đúng theo ý tôi là sắp đặt để bình thường đây là nơi tiếp khách, nhưng lại có thể biến thành phòng họp cho cả trăm người đến dự những buổi tôi nói chuyện về âm nhạc. Trên các bức tường trong phòng khách treo đầy tranh, ảnh, nhạc khí… hầu hết là những kỷ vật đã gắn bó với tôi trong suốt những tháng năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, hoặc là những món quà kỷ niệm do thân hữu hoặc bạn bè trao tặng.

Từ đó đến nay, căn nhà này được sử dụng đúng mục đích, vừa là nơi sinh sống của tôi, vừa là một địa chỉ văn hóa mà các hội đoàn hay chánh quyền thành phố vẫn đưa khách trong và ngoài nước đến tham quan.

Các tư liệu tôi mang về nước được sắp xếp phân loại với sự giúp đỡ của Viện Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, tuy chưa hoàn tất nhưng bước đầu cũng đã phục vụ cho nhu cầu tìm đọc của nhiều sinh viên và một số nhà nghiên cứu. Việc chuyển tư liệu từ băng cassette ra CD, băng video VHS ra DVD vẫn đang được tiến hành.

Đặc biệt nơi đây còn diễn ra những chương trình sinh hoạt văn nghệ định kỳ, là dịp để tôi giới thiệu các bộ môn âm nhạc truyền thống cho giới yêu âm nhạc thành phố và cả khách nước ngoài. Khó khăn nhứt là chi phí tổ chức, may mắn đã có em Trần Trọng Thức và cháu Thanh Nga lo việc tìm tài trợ từ những mạnh thường quân hay các doanh nghiệp trong nước.

Bắt đầu từ đây, tôi vui sướng tận hưởng cuộc sống mới của người con đất Việt xa quê hương hơn nửa thế kỷ, nay trở về để có thể tiếp tục cống hiến ngay tại quê nhà.

Trong những năm cuối đời, tôi may mắn được đồng bào trong và ngoài nước theo dõi, biết qua những chuyện tôi đã làm và lấy tình ruột thịt mà đối đãi với tôi.

Từ sự tận tình theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho tôi của các bác sĩ nhiều bịnh viện trong thành phố, đến chiếc xe điện di chuyển trong nhà, chiếc laptop tôi sử dụng hàng ngày, rồi thẻ đi taxi của công ty Mai Linh… thật không sao kể hết những tấm lòng hào hiệp đã bỏ công bỏ của hỗ trợ cho tôi suốt những năm qua.

Tôi đi ăn ở nhiều nhà hàng, chủ nhân đề nghị được chiêu đãi, đi hớt tóc thì chủ hiệu dứt khoát không lấy tiền. Thấy tôi đi ngoài đường chị bán hàng rong đứng dậy hỏi: “Giáo sư đi đâu đó?”, anh xích lô cũng mời: “Giáo sư ơi, lên xe em chở đi hóng mát một vòng”.

Đâu đâu tôi cũng nhận được lời chào thân thiện và niềm nở của mọi người. Cái tình đó là phần thưởng rất lớn giúp tôi thêm hăng say làm việc và cũng ấm lòng một người suốt đời nguyện tận tụy phụng sự âm nhạc truyền thống và văn hóa dân tộc Việt Nam.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 13 – Kiếp tằm vẫn nhả tơ


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 13 – Kiếp tằm vẫn nhả tơ

30/06/2015 17:13 GMT+7

TTO – Bước vào năm 2000, ở tuổi 80 tôi may mắn vẫn còn đủ sức khỏe để tiếp tục làm việc và chưa có năm nào tôi về nước nhiều lần như trong năm ấy.

GS Trần Văn Khê xướng một điệu lý cùng với học trò - nghệ sĩ Hải Phượng tấu đàn tranh trong sự kiện ra mắt sách - Trần Văn Khê - người truyền lửa năm 2013 - Ảnh: T.Huệ
GS Trần Văn Khê xướng một điệu lý cùng với học trò – nghệ sĩ Hải Phượng tấu đàn tranh trong sự kiện ra mắt sách – Trần Văn Khê – người truyền lửa năm 2013 – Ảnh: T.Huệ

Tháng 3 tôi về Sài Gòn để dạy tại Đại học Hùng Vương tới tháng 4 mới trở qua Pháp. Lần này tôi cũng được Ban giám đốc khách sạn Majestic ưu ái dành cho căn phòng 326 như mọi khi.

Ngoài ra tôi còn được mời giảng tại nhiều nơi. Trường Đại học Văn Lang mời tôi dự lễ kỷ niệm 5 năm thành lập, tiếp đãi rất trọng hậu và sau đó tôi giảng một buổi tại nhà trường, sinh viên tới nghe rất đông, có cả chị luật sư Nguyễn Phước Đại và các giáo sư trong trường đến dự.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Tôi còn có những buổi nói chuyện tại Đại học Văn Hiến, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Sư phạm, Nhạc viện trước đông đảo người nghe là thanh niên. Nói chuyện với lớp trẻ là điều tôi luôn thích thú vì được dịp truyền lại cho thế hệ mai sau những điều mình thiết tha mong muốn gìn giữ, mong các em tiếp nối được những công việc mình chưa làm được.

Năm 2000 tôi may mắn gặp được thầy Lệ Trang tại chùa Viên Giác, một người thông hiểu tường tận về cách tán tụng theo phong cách miền Nam. Từ trước đến nay khi nghiên cứu về cách tán tụng trong nhạc Phật giáo tôi được các thầy như thầy Nhất Hạnh, thầy Thiện Châu giảng theo phong cách miền Trung. Miền Nam thì tôi chỉ biết cách tán tụng của thầy cúng mà chưa lần nào nắm được cách tán tụng trong chùa theo kinh nhựt tụng hoặc trong các cuộc lễ như Vu lan hay chẩn tế.

Thầy Lệ Trang tổ chức một buổi mời các vị sư hội lại, có cả dàn nhạc lễ, nhờ vậy lần đầu tiên tôi biết thêm được nhiều cách tán tụng của miền Nam. Thầy giải nghĩa những nghi thức của buổi chẩn tế, từ tiểu đàn, trung đàn đến đại đàn. Tôi được dự một buổi lễ trung đàn từ đầu đến cuối, từ lúc niệm Phật, niệm hương rồi thầy Lệ Trang mặc áo cà sa, đội mão tỳ lư lên đăng đàn, vừa tán tụng vừa bắt ấn liên tục trong mấy tiếng đồng hồ. Đặc biệt lúc đó nét mặt thầy trông hiền hòa thanh thản giống như trong tranh vẽ Tam Tạng đi thỉnh kinh. Sau mấy tiếng đồng hồ tập trung tư tưởng niệm kinh bắt ấn, thầy đến bên tôi ngồi nói chuyện với nụ cười trên môi, không lộ vẻ mệt mỏi chi cả. Tôi thấy rằng điều đó rất lạ lùng mà một người bình thường không sao có thể làm được.

Ngoài ra tôi được mời nói chuyện về âm nhạc trước những vị chức sắc và những người nghiên cứu đạo Cao Đài gồm cả nam lẫn nữ. Nam giới ăn mặc chỉnh tề áo dài trắng bịt khăn đóng, phía nữ tất cả đều mặc áo dài, sau khi nói chuyện về âm nhạc tôi được mời ăn bữa cơm chay thịnh soạn và rất ngon.

Tôi cũng dự một buổi lễ đặc biệt mà phải gặp cơ duyên mới được dự, đó là ngày kỷ niệm Thánh mẫu Liễu Hạnh hiển thánh.

Bà chúa Liễu Hạnh là người đã tạo ra trường phái về Tam tòa Tứ phủ trong Chầu văn tại Sầm Sơn (Thanh Hóa). Từ xưa đến nay một số đông người thường cho rằng “lên đồng” là việc làm mê tín dị đoan mà không chú ý đến mặt xã hội học của hình thức tín ngưỡng này. Nếu Đức Thánh Trần (tức Trần Hưng Đạo Đại vương) là người được dân gian tôn sùng là bực thánh nhân thì về phía nữ, bà chúa Liễu Hạnh cũng là một nhân vật hiển thánh được người dân tôn thờ. Trong khi đạo Phật xuất xứ từ Ấn Độ, đạo Khổng và đạo Lão là của Trung Quốc, Thiên Chúa giáo từ Jérusalem du nhập vào nước ta thì tín ngưỡng Chầu văn hoàn toàn là của người Việt Nam.

Vào ngày 26 tháng 2 âm lịch năm Canh Dần (31/3/2000) tất cả các đền ở miền Nam hội lại tổ chức một lễ thật lớn tại Thủy Lâm Động (thuộc huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai). Tôi được anh Trường Duy, một người không chỉ thông hiểu Chầu văn mà còn biết rất nhiều về nhạc mới, đưa tới đến Thủy Lâm động.

Đây là chuyến đi vô cùng bổ ích đối với tôi vì được dịp chứng kiến tất cả nghi thức của một buổi hát văn, hầu gia. Tôi ghi âm ghi hình lại toàn bộ để đem về nghiên cứu. Lần đầu tiên tôi được nhìn tận mắt cảnh một bà cụ đã ngoài 70 mà lên một lượt mười mấy giá, mỗi giá kéo dài khoảng gần mười phút, phải nhảy múa, phải thay xiêm đổi áo nhiều lần, hết múa đuốc rồi lại múa thanh long đao, múa kiếm. Mỗi lần cụ phát lộc thì người ngồi bên ngoài được thưởng tiền. Sau khi hầu giá hơn hai tiếng đồng hồ, bà cụ vẫn khỏe khoắn như thường!

Bên lãnh vực truyền hình tôi tham gia trong chương trình của Phan Thao, trình bày về những nhạc cụ nhạc khí Việt Nam đặc biệt là cây đờn bầu, có cháu Hải Phượng và nhóm Tiếng hát quê hương biểu diễn. Lần đó Phan Thao cũng giới thiệu một đoạn phim ghi hình buổi tôi giới thiệu đờn bầu tại Canada có Đức Thành đờn minh họa.

Ngoài ra Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh cũng chiếu phim tư liệu dài khoảng 30 phút về chân dung của tôi do hai cháu Việt Bình và Việt Oanh dàn dựng. Tôi vô cùng cảm động và cho rằng phim này thành công về mặt hình ảnh cũng như âm thanh mà nhứt là lời thuyết minh, trong vòng nửa giờ đồng hồ đã phác họa lại toàn bộ cuộc đời của tôi. Sau hôm đó đài còn chiếu lại lần nữa tại Cung văn hóa lao động rồi tổ chức cho tôi giao lưu với khán giả.

Ít có khi nào về Việt Nam trong thời gian rất ngắn mà tôi làm được nhiều việc như chuyến đi này, đem lại cho tôi nhiều niềm vui, thỏa mãn ước mơ, lại có dịp tìm hiểu rất sâu sắc về mặt tôn giáo, mở rộng thêm kiến văn của tôi về tán tụng Phật giáo, biết được cặn kẽ về Chầu văn. Hai tháng đó có giá trị bằng bao nhiêu năm đọc sách và học tập.

Trở lại Pháp vào cuối tháng 4, đến tháng 7 tôi lại về nước cùng với đoàn Vật lý thiên văn do Trần Thanh Vân tổ chức lần thứ hai. Các đại biểu từ ba bốn chục nước khác nhau họp tại Hà Nội để bàn về những vấn đề vật lý năng lượng cao và vật lý thiên văn. Lần này có thêm mấy đề tài nhỏ chẳng hạn về trồng trọt, có đại diện Khoa nông nghiệp các trường đại học ở Cần Thơ, Thái Bình về dự và có những buổi nói chuyện về lãnh vực này.

Mục đích chánh tôi đi theo đoàn là để tổ chức một đêm văn nghệ ngắn gọn trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ tập hợp đầy đủ những bộ môn nghệ thuật truyền thống Việt Nam như ca, nhạc, múa, kịch. Từ bên Pháp tôi đã gọi điện thoại liên hệ với anh Võ Văn Quân, giám đốc Nhà hát chèo để thảo luận về một chương trình có đủ các tiết mục ca trù, chầu văn, trích đoạn hát chèo, múa bỏ bộ, độc tấu sáo, độc tấu đờn bầu, sắp xếp những tiết mục sao cho hấp dẫn. Khi tôi về đến Việt Nam thì ngày hôm sau là tổng dượt tại Nhà hát chèo, các anh chị em trong đoàn chèo từ diễn viên đến dàn nhạc đều nỗ lực biểu diễn thật xuất sắc.

Lần đó tôi rất buồn vì trước đây đêm đêm Nhà hát chèo vẫn còn mở màn biểu diễn nhưng nay cơ sở xuống cấp đến nỗi không còn có thể sử dụng để công diễn được nữa. Trần Thanh Vân và tôi cùng nhau đi xem một vài chỗ khác nhưng nhận thấy không đủ khang trang để dùng làm nơi trình diễn cho khách nước ngoài. Rốt cuộc chúng tôi đành phải xin thuê tại Nhà hát lớn với giá một đêm lên đến gần 20 triệu đồng, nhưng nhờ sự can thiệp của anh Võ Văn Quân và sự thông cảm của ban giám đốc Nhà hát, khi nghe nói buổi biểu diễn này do tôi giới thiệu âm nhạc cho phái đoàn khách nước ngoài nên có giảm được phần nào.

Trước giờ mở màn, khi đứng trên sân khấu thử ánh sáng, bỗng nhiên tôi chợt nhớ lại gần 60 năm trước, tức vào năm 1941, khi còn là một sinh viên trường Thuốc tôi cũng từng đứng tại đây giới thiệu 3 tiết mục hò cấy của Bến Tre, hò mái nhì trên sông Hương và cò lả tại Hội lim miền Bắc bằng tiếng Pháp cho người Pháp lẫn Việt vốn là thầy, bạn trong trường và một số quan khách.

Mới ngày nào tôi còn là thanh niên đôi mươi mà giờ đây đã là một giáo sư già xấp xỉ bát tuần. Tôi xúc động trào nước mắt, đứng im lặng mấy phút trong khi ánh đèn sân khấu rọi vào mặt mà không nói nên lời, cho đến khi có người nhắc nhở tôi mới sực tỉnh. Có một sự khác biệt lớn, lần này tôi không chỉ giới thiệu bằng tiếng Pháp mà cả tiếng Việt và tiếng Anh, không phải cho những người Pháp mà cho rất nhiều đại biểu trên thế giới và không chỉ giới thiệu 3 tiết mục đơn sơ do những nghệ sĩ nghiệp dư trình bày mà là một chương trình được chuẩn bị công phu do những nghệ sĩ chuyên nghiệp, ưu tú và tài năng biểu diễn.

Trước khi kết thúc hội nghị Vật lý thiên văn, anh Trần Thanh Vân mời phái đoàn dự một bữa tiệc lớn tại khách sạn Horizon và nhờ tôi trả lời một số thắc mắc của các đại biểu về âm nhạc dân tộc. Tôi nhận lời, mượn vài nhạc khí của Viện nghiên cứu Âm nhạc để minh họa khi cần. Hôm đó rất vui, mọi người đặt nhiều câu hỏi về tiết tấu, thang âm, điệu thức, tôi nói chuyện có đờn minh họa và ngâm thơ.

Buổi tối sau khi tan tiệc ông Nguyễn Văn Tạo, giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, ngỏ ý mời tôi đến nói chuyện tại nhà trường. Tôi sắp trở về Nam nên ông đề nghị tổ chức buổi nói chuyện ngay sáng hôm sau, tôi trả lời:

– Tôi sẵn sàng nhận lời nhưng bây giờ đã khuya, từ giờ đến sáng mai làm sao giáo sư tập hợp được mọi người?

– Không sao, đêm nay tôi báo tin thì ngày mai mọi người sẽ đến nghe giáo sư nói chuyện.

Điều tôi không ngờ là sáng hôm sau khi xe của nhà trường đưa tôi đến Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng họp đã đầy nghẹt người. So với những trường đại học trong miền Nam thì nơi đây rộng lớn hơn rất nhiều, tôi cũng rất vui khi có thêm người bạn là nhà thơ Huy Cận tới nghe. Bữa nói chuyện có kết quả tốt, nhà trường có ý mời tôi trở lại nói chuyện cho đông đảo sinh viên nghe nhưng đã đến lúc tôi phải về Sài Gòn.

Cuối tháng 7 tôi trở qua Pháp chuẩn bị cho chuyến về nước vào tháng 9 để chủ tọa cuộc liên hoan “Nhạc hội đàn Tranh châu Á lần thứ nhất” do Cung văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, đồng thời dạy thêm một khóa tại trường Đại học Hùng Vương.

Cuộc liên hoan đờn tranh này tôi đã ao ước từ lâu vì muốn cho các cháu từng đoạt giải trong các kỳ thi “Tài năng trẻ đờn tranh” được dịp giao lưu với bên ngoài, gặp gỡ những nghệ sĩ đờn Koto Nhựt Bổn, Kayageum Triều Tiên, Gu Zheng Trung Quốc. Phạm Thúy Hoan mời được giáo sư Thum Soon Poon của Singapore và đoàn Nhựt Bổn, còn tôi liên hệ mời đoàn Nam Triều Tiên. Tổng cộng có 3 đoàn nước ngoài và đoàn Việt Nam tham dự nhạc hội.

Lực lượng tất cả các đoàn đều rất hùng hậu, phía Việt Nam giới thiệu 3 gương mặt trẻ đã đoạt giải nhứt cuộc thi đờn tranh là Hải Phượng, Vân Ánh và Thanh Thủy. Phạm Thúy Hoan là người phụ trách lo phối hợp mọi việc, tôi là cố vấn nghệ thuật kiêm chủ tọa Nhạc hội và điểu khiển buổi hội thảo.

Trong buổi hội thảo, đại diện mỗi đoàn trình bày về cây đờn của dân tộc mình. Phía Việt Nam có hai bài tham luận, một của anh Nguyễn Văn Đời, giáo sư dạy đờn tranh tại Nhạc viện và một của Phạm Thúy Hoan.

Điểm lý thú là mỗi nhạc cụ có một phong cách, cách đờn và nét đặc thù riêng, nhưng tất cả đều từ một nguồn gốc là cây đờn Cổ tranh xuất hiện từ đời nhà Tần bên Trung Hoa. Đến thế kỷ thứ VI vua Kasil của Triều Tiên dựa theo đờn Cổ tranh mà tạo ra cây đờn Kayageum. Qua thế kỷ thứ VII (năm 672) bà Ishikawa Iroko của Nhựt Bổn gặp một đạo sĩ Trung Quốc đờn cây đờn rất lạ nên theo học rồi lập ra trường phái Tsukushi Goto tại miền Nam, sau một ngàn năm cây đờn đó biến chuyển thành cây đờn Koto như ngày nay. Còn đờn tranh của Việt Nam và Mông Cổ xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII. Tất cả những nhạc cụ chung nguồn gốc đó có phong cách đờn giống nhau là tay mặt khảy còn tay trái nhấn. Tuy cùng nguồn gốc và cùng một cách đờn nhưng lại mang nhiều sắc thái khác nhau, từ cách lên dây tới thủ pháp biểu diễn, đó chính là cái đẹp trong nghệ thuật vì nếu giống nhau hết thì không còn gì thú vị nữa.

Theo đánh giá của tôi, Nhạc hội đờn tranh tổ chức lần đầu tiên mà đạt được kết quả như vậy là tuyệt vời, đó là một cuộc giao lưu văn hóa rất bổ ích.

Tất cả các đoàn được sắp xếp ở chung trong khách sạn, được dự những cuộc du ngoạn xuống Tiền Giang, có những buổi biểu diễn chung, biểu diễn riêng, do đó các đại biểu đều hết sức vui vẻ và thích thú.

Sau đêm bế mạc, ngày hôm sau là đám cưới của Hải Phượng. Tiệc cưới tổ chức tại khách sạn Majestic mời mấy trăm quan khách. Đặc biệt tất cả 14 nhạc sĩ của phái đoàn Nhựt Bổn đều đặt may mỗi người một áo dài để mặc dự đám cưới nhìn rất dễ thương, sau khi tiệc tan đoàn Nhựt ra thẳng phi trường trở về nước ngay. Cuộc gặp gỡ này cho thấy tình cảm giữa những người nhạc sĩ rất chân thành và nồng nhiệt, là sợi dây tạo nên sự thông cảm giữa các dân tộc.

Sau khi Liên hoan đờn Tranh châu Á kết thúc tôi ra Hà Nội để dự một cuộc hội thảo rất lớn với đề tài “Việt Nam trong thế kỷ XX” bàn về đủ mọi phương diện chánh trị, kinh tế, văn hóa.

Cựu đại sứ Việt Nam tại Pháp là ông Nguyễn Chiến Thắng phụ trách nội dung của hội thảo đã gởi thơ mời tôi tham dự. Tôi nhận lời và được sắp xếp vào Tiểu ban Văn hóa, vấn đề tôi đưa ra là suy nghĩ về bản sắc dân tộc Việt Nam và phát triển văn hóa như thế nào.

Trong cả hai lần về nước trong năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh và ở Hà Nội tôi đều được dự buổi diễn vở kịch Lộ Địch của cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị. Đây là một vở bi kịch có giá trị nhân bản rất tuyệt vời phỏng theo tác phẩm Le Cid của Corneille (Pháp).

Cụ Ưng Bình sử dụng cốt chuyện của Le Cid mà sắp xếp những chi tiết sao cho phù hợp với tâm lý của người Việt lại hợp với sân khấu hát tuồng Việt Nam: lúc nào nói lối, lúc nào hát Nam, lúc nào hát khách, văn chương chải chuốt và lời thơ rất hay. Theo tôi đây là một kiệt tác đầu tiên đưa ra đường lối mới để phát triển nền hát tuồng của Việt Nam, được Nhà hát Đào Tấn ở Bình Định dàn dựng, đạo diễn là Hòa Bình, một nghệ sĩ ưu tú rất có tài, trẻ đẹp mà nhứt là có tấm lòng. Giáo sư tiến sĩ Thái Kim Lan – dạy Triết ở trường Đại học Munchen bên Đức – là người đứng ra tài trợ cho việc dựng lại vở tuồng để trình diễn trên sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Nhân dự hội nghị này tôi được dịp nghe dàn trống Thăng Long biểu diễn, sử dụng toàn bộ trống Việt Nam từ lớn đến nhỏ, không phải chỉ phong phú về số lượng mà cả về chất lượng. Có những trống đánh theo tiết tấu rất đơn giản trên đó lại thêu dệt thêm những tiết tấu khác phức tạp hơn, kết lại như đan giỏ và làm thành một bài rất đẹp. Đồng thời các động tác từ cánh tay đưa lên đánh xuống đến bước tới bước lui đều phỏng theo phong cách võ Việt Nam.

Đặc biệt trong chuyến ra Hà Nội vào tháng 9 có cháu Bảo Ngọc làm một đoạn phim tư liệu ngắn về chân dung của tôi để phát trên Đài truyền hình VTV3. Cháu mất hết 3 buổi đưa tôi đến Văn miếu, đến khách sạn nơi tôi ở để quay những sinh hoạt thường ngày, phỏng vấn tôi về quan điểm phát triển văn hóa, hỏi thăm đôi nét về chuyến đi Hà Nội.

Trong chuyến này, tôi có dịp đến thăm cụ bà Quách Thị Hồ. Hôm đó thân hữu tổ chức chúc thọ cho cả bà cụ và tôi, cụ 90 còn tôi 80 tuổi, có đủ mặt những người con, vài bạn bè và một số học trò của cụ Quách Thị Hồ. Khi tôi vừa bước vào, mọi người hỏi:

– Cụ còn nhớ Giáo sư Trần Văn Khê không?

Cụ không trả lời thẳng câu hỏi, chỉ nhìn tôi mà cất giọng ngâm:

Vô duyên đâu dễ chăng là

Có duyên nên khiến dù xa hóa gần

Đó là hai câu thơ trong bài cụ Trúc Hiền tặng tôi năm 1976. Ngừng một chút cụ lại ngâm thêm:

Đẹp lòng gặp lại cố nhân

Rồi nắm tay tôi lập lại ba lần “Cố nhân ơi! Cố nhân ơi! Cố nhân ơi”.

Tôi cầm tay cụ mà không cầm được nước mắt, nhớ lại con người tài hoa sắc sảo trước đây, nay tuy chỉ còn da bọc xương mà vẫn giữ được hơi ngâm, còn nhận ra người quen cũ để mà ngâm lên mấy câu thơ ngày xưa chứng tỏ tâm trí còn minh mẫn. Đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp cụ Quách Thị Hồ.

Đặc biệt năm 2000 tôi bắt tay vào việc viết hồi ký với sự cộng tác của “Trung tâm Hồi ký”.

Ý định ban đầu của tôi khi viết hồi ký là ghi chép lại một số công việc đã làm để cất giữ cho riêng mình, đến khi tôi trở về với cát bụi thì những hậu duệ còn sống sẽ tùy nghi phổ biến. Nhưng một vài bạn bè góp ý rằng như vậy lỡ có điều gì không được chính xác thì lúc đó tôi đã nằm yên dưới ba tấc đất làm sao có thể đính chánh được nữa! Tôi nghe vậy cũng hợp lý nên dự định sẽ cho xuất bản khi đang còn sống. Nhưng bắt đầu viết cả sáu bảy năm mà chưa xong một quyển, vì tôi chú ý cho công việc trước mắt nên ngày qua ngày không tập trung được, trong khi viết hồi ký đòi hỏi phải hồi tưởng lại dĩ vãng để hoàn thành một công việc cho tương lai.

Tình cờ các em trong “Trung tâm Hồi ký” chủ động đề nghị hợp tác với tôi để thực hiện hồi ký. Từ nay có cả một ban thơ ký lành nghề, ban biên tập chuyên nghiệp cộng tác nên tôi nhận lời và ưu tiên dành thời giờ cho việc thâu băng thực hiện hồi ký.

Em Lý Thị Lý – Trưởng điều hành Trung tâm – đích thân đến ghi âm. Em có cách nghe làm cho người nói chuyện rất thú vị, giống như đờn Bá Nha rót vô tai Chung Tử Kỳ. Mỗi tuần lễ tôi dành năm buổi để thâu băng. Thứ sáu thì chắc chắn lúc nào cũng là em Lý đến làm việc, những ngày còn lại có khi là em Doãn Phượng, có khi là Thanh Nga, toàn những người có tay nghề và biết cách nghe, nên từ cái chớp mắt, sự xúc động của các em đều làm cho người nói chuyện thấy hứng thú.

Khi tôi trở về Pháp thì bản thảo được chuyển qua email cho tôi sửa chữa trực tiếp trên máy vi tính rồi gởi trở lại để ban biên tập Trung tâm Hồi ký gọt giũa lời văn, cắt bớt những chỗ dư, những đoạn ý trùng lắp mà vẫn giữ được lối viết của tôi. Nói chung công việc rất nhiều nhưng với sự tổ chức chuyên nghiệp của Trung tâm Hồi ký nên công việc tiến hành rất mau, mặc dầu đôi bên ở cách nhau gần nửa vòng trái đất. Nhờ vậy mà chỉ trong vòng hai năm tôi đã hoàn thành năm quyển hồi ký dày gần 2.000 trang.

Bản thảo cuối cùng được chuyển sang Công ty Văn hóa Phương Nam là nơi lo việc in ấn, xuất bản và phát hành các tác phẩm của tôi.

Tháng 10 năm 2000, trường Đại học Cần Thơ mời tôi xuống nói chuyện. Trần Thượng Tuấn, hiệu trưởng Đại học Cần Thơ chính là con nuôi của bạn thân tôi là Tạ Bá Tòng, nên xin phép được gọi tôi bằng chú. Tuấn hãnh diện hướng dẫn tôi đi xem hết mọi nơi, từ phòng vi tính trang bị rất nhiều máy cho sinh viên thực tập, đến nơi ăn ở của sinh viên nội trú, đặc biệt là đại giảng đường 1.300 chỗ ngồi, qui mô lớn hơn bất cứ trường đại học nào ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Đáng nhớ nhứt là hai đêm tôi nói chuyện về những nét đẹp trong âm nhạc dân tộc tại Đại học Cần Thơ. Chưa bao giờ tôi nói chuyện với sinh viên mà thấy hứng thú bằng. Đại giảng đường mênh mông chật kín người, vậy mà còn mấy trăm em đứng bên ngoài. Ban tổ chức phải cho đặt thêm một màn ảnh lớn phía trước cửa. Hôm đó trời mưa lâm râm nhưng các em vẫn kiên trì đứng dưới mưa nghe đến phút cuối cùng.

Sau Cần Thơ thì tỉnh Tiền Giang cũng mời tôi đến nói chuyện với lớp tập huấn cán bộ của Nhà văn hóa các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Long An. Tại đây tôi gặp lại cháu Mai Mỹ Duyên người Tiền Giang, một phụ nữ đã khởi xướng việc hình thành 14 câu lạc bộ tài tử của Tiền Giang và Gò Công. Cháu Duyên đang làm tiểu luận án thạc sĩ về “Ca nhạc tài tử” dưới sự hướng dẫn của giáo sư Tô Vũ nên trước đó có đến gặp tôi tìm hiểu về những nét đặc thù của nhạc cải lương tài tử.

Tôi rất cảm động khi gặp được một người trẻ tuổi mà có lòng say mê tìm hiểu âm nhạc, nên tuy không chuẩn bị trước mà tôi vẫn say sưa nói chuyện với cháu suốt ba tiếng đồng hồ, để cháu ghi âm ghi hình những điều cần biết trong truyền thống ca nhạc tài tử cải lương miền Nam nói chung và Tiền Giang nói riêng.

Năm 2001, tôi về nước chủ yếu để dạy âm nhạc truyền thống cho hai lớp tại Đại học dân lập Hùng Vương, công việc mà tôi lúc nào cũng thích thú. Tôi không chỉ quan tâm đến việc đem lại kiến thức cho các em mà quan trọng hơn là hướng các em trở về với bản sắc văn hóa dân tộc.

Ngoài ra tôi cũng tham dự nhiều hội nghị. Sau nhiều năm tiếp cận mật thiết với các nghệ nhân nắm vững truyền thống trong nước, tôi có những thay đổi quan trọng trong cách đánh giá âm nhạc dân tộc. Sự đúc kết của tôi không còn lệ thuộc vào cách nhìn khách quan của phương Tây mà gắn liền với những quan điểm triết lý đời sống của người dân Việt.

Sang năm 2002, vào tháng 5 tôi được mời tham dự Festival Huế. Đây là một trong những sinh hoạt văn hóa tầm cỡ bao gồm nhiều chương trình lễ hội cộng đồng được tái dựng với một không gian rộng lớn cả trong và ngoài thành phố, góp phần làm sống lại các giá trị văn hóa của Huế. Festival chánh thức khai mạc hôm 4 tháng 5 tại quảng trường Ngọ môn, với sự tham gia của các đoàn nghệ thuật Việt Nam và 8 nước gồm Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Sau festival, tôi có viết bài nhận xét về một số ưu khuyết điểm trong việc tổ chức và dàn dựng các chương trình nghệ thuật gởi cho Ban tổ chức để rút kinh nghiệm cho các Festival kế tiếp, được tổ chức hai năm một lần.

Qua tháng 10, tôi có buổi nói chuyện về đề tài “Âm dương trong văn hóa Việt Nam” nhân cuộc họp mặt mang tên “Điểm hẹn Việt Nam” của tổ chức YPO (Young Presidents Organisation).

Tổ chức này qui tụ những tổng giám đốc, giám đốc có độ tuổi dưới 50 và đang điều hành các công ty xí nghiệp lớn có doanh số hàng năm trên 8 triệu USD. Việt Nam có 12 doanh nhân tuổi trẻ tài cao được gia nhập làm thành viên của YPO. Hàng năm YPO đều tổ chức cuộc gặp gỡ tại một quốc gia trên thế giới, nhằm tạo điều kiện cho các hội viên không chỉ tiếp cận về mặt kinh tế mà chủ yếu là tiếp thu trên thực tế, chớ không qua sách báo hay hình ảnh, mọi mặt từ lịch sử, địa lý, văn hóa của đất nước được chọn làm điểm đến. Năm 2002, các thành viên Việt Nam của YPO đăng cai tổ chức “Điểm hẹn Việt Nam” tại Hà Nội từ ngày 22 đến 26 tháng 10.

Các bạn trong nhóm YPO Việt Nam đã thiết kế một chương trình hết sức phong phú và đặc sắc gồm những buổi thuyết trình về chính trị, lịch sử, kinh tế, khoa học, văn hóa vào buổi sáng; buổi chiều dành cho việc du ngoạn tham quan danh lam thắng cảnh còn buổi tối thì dự dạ yến tại nhiều nơi khác nhau.

Tôi được cháu Tuyết Mai, giám đốc Công ty du lịch Vidotour, thay mặt ban tổ chức mời nói chuyện với đề tài “Âm dương trong văn hóa Việt Nam”, không chỉ gói gọn trong nghệ thuật mà cả văn hóa ẩm thực và văn hóa trong nếp sống.

Buổi thuyết trình được nhiều người hoan nghênh và đại biểu các nước Âu Mỹ đều ngỏ ý mời tôi đến các nước bạn để giới thiệu đề tài này. Nhưng vì lý do sức khỏe nên tôi không nhận lời mời nào cả.

Trong năm 2002 có một sự kiện về kịch nghệ Việt Nam đáng ghi lại như một dấu son: Nhà hát Đào Tấn được mời sang Đức trình diễn vở Lộ Địch, chi phí do Hội trao đổi Văn hóa Việt – Đức và giáo sư Thái Kim Lan tài trợ. Tôi rất xúc động về việc một cơ quan văn hóa dám bỏ khoản tiền lớn đài thọ cho trên 30 người lưu diễn tại nước ngoài, nơi mà khán giả không hiểu tiếng Việt và lần đầu tiên tiếp cận với với kịch nghệ Việt Nam. Tiền vé vào cửa lại không cao nên cầm chắc chuyện thua lỗ, thế nhưng Hội Việt – Đức và giáo sư Thái Kim Lan sẵn sàng chấp nhận mà không quan tâm đến lợi nhuận.

Bước qua năm 2003, khi đang ở tại Paris, một lần nữa tôi lại kề cận với cái chết, mà nếu không nhờ con gái Thủy Tiên từ tỉnh xa, qua điện thoại phát hiện tôi nói chuyện không mạch lạc đã báo động cho con út Thủy Ngọc kịp thời đưa cha đi cấp cứu thì có lẽ giờ đây tôi đã thành người… thiên cổ.

Mùa Hè năm đó khí hậu Paris trở nên nóng bất thường, lên đến trên 40 độ C trong mát, khiến hơn 14.000 người cao niên bị thiệt mạng. Như những người lớn tuổi khác, tôi cũng bị thiếu nước trong cơ thể dẫn đến tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Một tình cờ may mắn là Thủy Ngọc sau khi được chị báo động đã vội vã chạy đến đưa tôi vào bịnh viện.

Vừa xuất viện sau 12 ngày điều trị, tôi đã phải lên đường về nước để kịp ngày dạy học. Mới được hai tuần thì tôi ngã bệnh và phải vào bịnh viện Triều An. Ngoài căn bệnh tiểu đường, cao huyết áp, suy thận, đến lượt trái tim của tôi lại có vấn đề. Tôi nằm điều trị hai tuần lễ, làm đủ mọi xét nghiệm mà ban giám đốc Bịnh viện Triều An lại không nhận bất kỳ chi phí nào.

Cũng trong năm này, tôi tiếp tục hoàn thành quyển thứ sáu trong bộ hồi ký của mình với tựa đề “Du ngoạn trong truyền thống âm nhạc Việt Nam”. Thật ra đầu tiên tôi rất do dự, vì đây hoàn toàn không phải là quyển sách nghiên cứu âm nhạc truyền thống sâu sắc mà chủ yếu chỉ đề cập đến những nét cơ bản một cách đơn giản nhứt, để đại đa số độc giả bình thường có thể nắm bắt được sơ lược nền âm nhạc đa dạng và phong phú của dân tộc.

Nhưng sau khi bàn bạc kỹ với Trung tâm Hồi ký – đơn vị hợp tác thực hiện bộ hồi ký của tôi – cuối cùng, tôi quyết định viết một quyển sách về âm nhạc trong đời sống người Việt từ khi còn nằm nôi cho đến ngày từ giã cõi đời, được xuất bản vào năm 2004.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

************

Kỳ cuối: Lá rụng về cội

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 12 – Họa vô đơn chí


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 12 – Họa vô đơn chí

30/06/2015 08:11 GMT+7

TTO – Năm 1996 tôi về Việt Nam để tham dự buổi lễ long trọng kỷ niệm 75 năm ngày sanh Lưu Hữu Phước (12/9/1921 – 12/9/1996).


			GS Trần Văn Khê (trái) và nhạc sĩ Phạm Duy - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê (trái) và nhạc sĩ Phạm Duy – Ảnh: tư liệu

Mỗi lần về nước tôi đều có những buổi nói chuyện ở nhiều nơi và có cảm giác rằng càng ngày người nghe càng thấm thía hơn. Đặc biệt năm 1996 anh Huỳnh Văn Tiểng và ban giám đốc Bảo tàng viện Cách mạng mời tôi đến nói chuyện về một đề tài nóng hổi là “Dân tộc và hiện đại”, có ban nhạc Phù Đổng, nhóm Tiếng hát quê hương cùng cháu Hải Phượng minh họa, có quay phim video để dành làm tư liệu.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6: Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị>> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên>> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp>> Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Tất cả những cuộc tiếp xúc trong nước đã giúp tôi sưu tập được rất nhiều tư liệu hình ảnh, băng video, băng ghi âm. Tôi như con kiến cặm cụi tha từng hột gạo đem về chất đầy ổ với lòng mong mỏi rằng những hột gạo đó sẽ được dịp nuôi dưỡng thế hệ mai sau.

Khi trở về Pháp tôi có hơi mệt, lần lần việc đi đứng bắt đầu thấy khó khăn nên phải đến gặp các chuyên gia để khám bệnh. Bác sĩ cho biết tôi bị lệch cột sống, hai khớp xương số bốn và số năm bị lệch chận lên dây thần kinh từ chân lên não, khiến cho não không điều khiển được chân trái làm phản xạ mất đi, chẳng những ảnh hưởng đến việc đi đứng mà cử động cũng khó. Bác sĩ chuyên môn nhận định phải mổ nên gởi tôi tới một chuyên gia giải phẫu, ông này cũng kết luận bắt buộc phải mổ và cho biết:

– Trước khi giải phẫu, cứ mỗi tuần phải lấy máu của ông một lần dự trữ để đến khi mổ vô máu cho ông. Ca mổ kéo dài ít nhứt từ năm đến sáu tiếng đồng hồ, bởi vì ngoài việc lệch cột sống ông còn bị thêm vài vấn đề nho nhỏ phải giải quyết luôn trong khi mổ.

Tôi tìm đến vị chuyên gia thứ ba thì ông nói:

– Nếu tập trung chữa trị một lần e ông chịu không nổi, nhưng việc phải mổ là không thể tránh khỏi rồi. Tôi đề nghị trước hết lo chữa trị cho ông đi đứng bình thường rồi tính tiếp. Nhưng mổ xong ông cũng phải nằm yên trong vòng 5 tháng không được đi đâu.

Tôi nghe vậy thấy không ổn bèn tiếp tục hỏi ý kiến các giáo sư bác sĩ danh tiếng khác, từ người chuyên theo dõi về thận của tôi đến bác sĩ chữa bệnh tiểu đường. Những vị này cho rằng:

– Nếu ông 40 tuổi mới nên mổ chớ ông gần 80 rồi thì phải xem lại. Dĩ nhiên nếu mổ thành công ông sẽ đi đứng bình thường như xưa, nhưng ở tuổi này ông đâu có cần nhảy đầm hay chạy đua với ai, thôi thì nếu chân ông đi chậm một chút cũng không sao. Chúng tôi khuyên ông nên tìm hỏi kỹ những chuyên gia về thấp khớp xem có cách nào khác không?

Trở lại gặp bác sĩ giải phẫu, ông nói nếu không mổ thì sáu tháng nữa chân trái sẽ liệt, một năm sau đến phiên chân mặt và hai năm sau đường tiểu tiện không hoạt động được nữa. Tôi thấy viễn ảnh quá bi đát nhưng có ba người giáo sư vẫn quan niệm:

– Tôi khuyên không nên mổ, bởi vì thứ nhứt ông lớn tuổi rồi, thứ nhì ông bị tiểu đường nên vết thương sẽ lâu lành, thứ ba ông đã uống 17 tháng cortisone nên xương ông không còn chắc lắm đâu, khi mổ phải đục xương không lường trước được hậu quả sẽ ra sao! Mặt khác những chuyên gia giải phẫu giỏi nhứt cũng chỉ dám bảo đảm 60% thành công, như vậy là có tới 40% thất bại. Mà nếu ca mổ không thành công tình trạng sức khỏe sẽ càng trầm trọng hơn trước!

Sau khi tham khảo ý kiến của tổng cộng 9 vị giáo sư bác sĩ, tôi quyết định dứt khoát không mổ. May mắn lúc đó người bác sĩ coi về bệnh tiểu đường giới thiệu cho tôi đến gặp một nữ bác sĩ tên Rozenberg, nổi tiếng về những cách điều trị khác thường mà hiệu quả. Vậy là tôi gom hết toàn bộ hồ sơ bệnh án tới gặp bà. Tôi ngạc nhiên khi gặp một người trẻ tuổi, cách nói chuyện dễ thương nhẹ nhàng. Nhìn đống giấy tờ phim ảnh rọi kiếng của tôi đưa ra bà cười nói:

– Tôi trị bệnh cho ông chớ có trị cho mấy tấm hình này đâu mà ông đưa cho tôi làm chi!

Có nghĩa là bà không như mọi bác sĩ khác đòi hỏi phải có đầy đủ các xét nghiệm mới điều trị. Bà chỉ khám cột sống, nhận xét khớp xương bị lệch rồi biểu tôi đi một hai bước cho bà quan sát. Sau cùng bà nói:

– Chân ông đang đau, mỗi bước cử động đã khó khăn rồi. Bây giờ tôi đề nghị cách điều trị này: ông vô nằm nhà thương một tuần lễ, tôi sẽ tiêm thuốc ngay vô tủy của ông làm cho êm thần kinh để ông có thể đi chầm chậm rồi sẽ bắt đầu tập luyện. Ông phải chịu khó tập trong một năm rưỡi mới có kết quả, chừng đó chân ông đi không phải do não điều khiển mà do tự ông nhấc chân đi. Ông sẽ không đi xa được nữa nhưng vẫn có thể đi được và nếu kiên nhẫn tập luyện thì có lẽ bệnh trạng của ông cũng có thể giải quyết được.

Nghe bà nói tôi thấy nhẹ người, 10 ngày sau sẵn sàng nhập viện, phó thác số mạng trong tay bà. Bà bác sĩ nói:

– Tôi sẽ cố gắng chăm sóc ông nhưng ông cũng phải hứa với tôi là hết sức kiên trì tập luyện.

Trong một tuần lễ, bác sĩ tiêm cho tôi mỗi ngày hai mũi ngay vô tủy thì rõ ràng chân bớt đau, có thể cử động, đi tới lui chút đỉnh được. Từ đó bắt đầu chuỗi ngày tập luyện trong suốt một năm rưỡi, ban đầu có người phụ giúp rồi lần lần tự tập một mình.

Những ngày đầu thật hết sức vất vả, tôi đứng đã khó khăn nhưng bị bắt phải nhón chân lên, mỗi ngày ráng thêm một chút cho tới khi nhón lên xuống được mười cái mới được coi là có kết quả. Sau mấy tháng trời bắt đầu tập bước trên máy giống như đi thang lầu. Ngày đầu đi được vài mươi nấc đã đuối sức, lần lần cố lên ba, bốn rồi năm, sáu chục nấc, cho tới khi được 100 nấc là cả một kỳ công! Rồi phải đạp xe, ban đầu đạp ít sau đó đạp lâu hơn. Thời gian đầu nhìn trên bảng thấy đạp được vài trăm thước đã đổ mồ hôi hột, cả tháng trời mới lên được vài cây số. Cố gắng giữ mức đó mà rút ngắn thời gian, được kết quả tốt lại ráng đạp lên đến năm cây số. Sau đó phải đội trên đầu một ký lô rồi tăng lần lên hai ký, cố làm sao để đừng cho rớt mà cổ mình chịu đựng được. Cứ vậy ngày qua ngày tôi kiên nhẫn bền chí tập luyện.

Tại các thiền viện Phật giáo, các thiền sinh học thuộc lòng những bài kệ để luyện cách tập trung tư tưởng. Tôi cũng tự đặt ra những câu kệ phù hợp với hoàn cảnh để đem lại niềm vui cho mình trong lúc luyện tập:

Ta tự căng cột sống

Sắp lại các khớp xương

Thần kinh thông bất thống

Ta đi đứng như thường

Khi đọc câu đầu, tôi tưởng tượng các cột sống của mình đang căng ra, đọc câu thứ hai tôi nhắm mắt hình dung hai khớp xương chệch nhau đang từ từ xích lại. Cứ đọc hết bốn câu thì làm xong bốn động tác, mỗi lần tập phải đủ 25 lần tức 100 động tác.

Mỗi khi đội vật nặng tập bước lên thang lầu tôi tưởng tượng mình là người Ấn Độ đội thúng đi bán bánh, tôi vừa bước vừa giả giọng người Ấn rao: “Bánh rế bánh cay đây”, nhờ vậy mà thấy vui vui nên đỡ nản lòng.

Ngồi trên xe đạp tôi lẩm nhẩm mấy câu thơ tự trào:

Ta ngồi trên xe đạp

Trông có vẻ thảnh thơi

Đạp đi vòng nước Pháp:

Xe vẫn đứng một nơi!

Khi bắt đầu tập đứng một chân, chỉ mới một giây tôi đã té xuống, tôi kiên trì tập hoài cho đến lúc đứng được năm sáu giây. Bà bác sĩ khuyến khích:

– Chỉ cần ông đứng vững trong vòng ba bốn giây là có thể nhấc chân kia lên để bước đi, lần lần như vậy ông sẽ có thể đi xa hơn.

Quả nhiên thời gian đầu tôi chỉ đi được quãng đường mười thước, cố gắng lắm mới được hai mươi rồi ba mươi thước. Sau đó tôi có thể đi chừng 200 thước mới phải ngồi nghỉ. Sau vài năm tôi đi được tới 500 thước, điều đó khiến tôi phấn khởi vô cùng vì thấy nỗ lực của mình có được kết quả.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

******************

Kỳ 13: Kiếp tằm vẫn nhả tơ

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 11 – Nói chuyện trên đất Mỹ


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 11 – Nói chuyện trên đất Mỹ

29/06/2015 20:24 GMT+7

TTO – Từ Việt Nam trở về Pháp, tôi có chuyến đi Mỹ theo lời mời của trường Đại học Connecticut.

GS Trần Văn Khê cùng GS Jacques Chailley dự hội nghị âm nhạc tại New York năm 1961 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê cùng GS Jacques Chailley dự hội nghị âm nhạc tại New York năm 1961 – Ảnh: tư liệu

Cháu Trần Thắng, sinh viên trường Đại học Connecticut, ra đón tôi tại phi trường vì lúc đó tôi đi đứng cũng còn hơi khó khăn. Cháu Thắng sắp tốt nghiệp kỹ sư đồng thời phụ trách một tờ báo tiếng Việt chuyên về văn hóa Việt Nam có tên là “Nhịp sống”. Mặc dầu trường đại học đứng ra mời tôi nhưng từ việc tiếp đón đến nơi ăn chốn ở đều do Hội sinh viên Việt Nam tại Connecticut lo liệu.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu >> Kỳ 2: Lập gia đình >> Kỳ 3: Đất khách quê người >> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống >> Kỳ 5: Chuyện gia đình >> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu >> Kỳ 7: Quy cố hương >> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị >> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên >> Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1>> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Nhà trường tổ chức cho tôi nói chuyện hai buổi, buổi đầu tiên thuyết trình bằng tiếng Anh vào lúc 5 giờ chiều trước các giáo sư, sinh viên Mỹ và Việt Nam tại giảng đường lớn của Đại học Connecticut. Sau bữa ăn nhẹ do sinh viên chiêu đãi là buổi họp thứ nhì tại một phòng khác bắt đầu từ 9 giờ tối với khoảng sáu bảy chục sinh viên Việt Nam để tôi nói chuyện bằng tiếng Việt và các em đặt câu hỏi. Cả hai buổi nói chuyện đều do cháu Thắng liên hệ sắp xếp, có mời cả sinh viên từ Boston qua.

Khi các cháu đưa tôi đến trường đại học 15 phút trước khi buổi nói chuyện bắt đầu, tôi ngạc nhiên nhìn thấy nhiều xe tải chở những người Mỹ mặc quần áo theo kiểu quân đội đang bắt đầu nổ máy rời khỏi nơi này. Tôi hỏi cháu lái xe:

– Có chuyện gì mà lính tráng đông quá vậy cháu?

Cậu cười nói:

– Đó là những cựu chiến binh Mỹ tập hợp lại đây định “đánh” bác, nhưng khi thấy bác tới họ bỏ chạy hết trơn!

– Chắc là cháu nói đùa?

– Dạ phải, cháu nói đùa. Thật ra thì có vài chục sinh viên Việt Nam chống lại việc bác tới đây nói chuyện. Những người này thường liên hệ với các cựu chiến binh Mỹ nên đã đến vận động họ ủng hộ sinh viên, lấy lý do là biểu tình chống lại buổi nói chuyện tuyên truyền cho cộng sản tại Đại học Connecticut. Một số cựu chiến binh Mỹ nghe vậy bèn huy động mấy xe cam-nhông chở ba bốn chục người tới trước cổng trường.

Nhà trường cử người ra gặp và cho họ biết người thuyết trình hôm nay là một nhà nghiên cứu âm nhạc người Việt sanh sống tại Pháp, dạy học tại Đại học Sorbonne, được mời qua nói chuyện về âm nhạc chớ không dính líu gì đến chánh trị. Nghe vậy mấy ông cựu chiến binh cho là việc đó không liên quan gì đến họ nên bỏ về.

Tuy mọi việc đã được giải quyết êm thấm nhưng tôi cũng cảm thấy buồn. Các cháu trong Ban tổ chức hỏi:

– Đám phản đối bác bây giờ bơ vơ rồi, không còn ai ủng hộ hết mà họ cũng e ngại không dám vô vì đã tính phá buổi nói chuyện nhưng thất bại. Theo bác mình nên mời họ vô nghe không?

Tôi đáp:

– Bác nghĩ rằng nên lắm chớ.

Ban tổ chức bèn ra mời và đa số những người này cũng vô nghe. Tôi nói chuyện âm nhạc bằng tiếng Anh có minh họa, cuối buổi toàn thể giáo sư và sinh viên nồng nhiệt vỗ tay và đến gặp ngỏ lời khen ngợi. Đến phần giao lưu, cháu Thắng yêu cầu chỉ đặt những câu hỏi về âm nhạc và văn hóa mà không đề cập đến chánh trị. Thính giả phía cuối phòng lao nhao phản đối, tôi bèn nói:

– Trên cương vị một diễn giả, tôi đề nghị Ban tổ chức cứ để cho thính giả đặt bất cứ câu hỏi nào. Tùy câu hỏi, tôi có quyền trả lời hay không.

Ngoài những câu hỏi về xuất xứ của ca trù, quan họ, có thêm một số câu hỏi đặc biệt về chánh trị, xã hội, chẳng hạn như:

– Trong những chuyến về nước giáo sư có nhận thấy đời sống người dân Việt Nam còn nhiều khó khăn hay không?

– Tất nhiên tôi có nhận thấy những điều đó.

– Vậy thì liệu giáo sư có thể điềm nhiên lo việc nghiên cứu âm nhạc, mặc kệ người ta khổ hay không?

Tôi trả lời:

– Dân tộc Việt Nam đang gặp những khó khăn về nhiều phương diện, nhưng đó là cái khó chung cho tất cả những đất nước vừa ra khỏi chiến tranh do bị bủa vây về chánh trị lẫn kinh tế. Điều đó tất cả mọi người đều ý thức được và dĩ nhiên tôi cũng nhận thấy rất rõ. Tuy nhiên quan điểm của tôi là mỗi người tùy ở vị trí và khả năng của mình mà đóng góp với đất nước. Các chánh trị gia có nhiệm vụ lo cho chánh trị hoàn hảo hơn, chuyên viên kinh tế góp sức mình trong việc nâng cao đời sống người dân còn tôi là nhà văn hóa, tôi góp phần mình trong việc phục hồi và bảo vệ nền nghệ thuật dân tộc.

Họ hỏi tiếp:

– Vậy ông đã làm được những gì?

– Tôi may mắn được thường xuyên trở về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, cố gắng ghi lại cũng như phục hồi những gì sắp bị chìm vào quên lãng, gìn giữ cái hay cái đẹp cho thế hệ mai sau. Rồi tôi đem tiếng nhạc lời ca của đất nước đến với bạn bè năm châu bốn biển, làm tròn nhiệm vụ của một nhà nghiên cứu là bảo vệ những di sản văn hóa – âm nhạc của dân tộc, không phải chỉ ghi chép trong băng từ mà còn kêu gọi gìn giữ trong lòng người và trong nếp sống của xã hội.

Đồng thời tôi nỗ lực chống lại tệ nạn vọng ngoại, tôn sùng phương Tây, gột bỏ tự ti mặc cảm để giữ gìn bản sắc dân tộc và tận dụng mọi cơ hội để Việt Nam được góp mặt trên trường quốc tế. Kết quả cụ thể là tôi đã góp sức làm sống lại Ca trù miền Bắc, nhạc Cung đình miền Trung, Hát bội miền Nam và cả lối hát Chầu văn, Múa rối nước. Làm được một việc cũng đủ vui rồi, nhưng tôi có may mắn thành công trong nhiều việc. Đó là về phần của tôi, nhân đây cũng xin hỏi lại một câu, các bạn có nhận thấy dân tộc Việt Nam còn nhiều khó khăn hay không?

– Có chớ!

– Các bạn đã làm gì để giúp cho đất nước mình?

– Chúng tôi vận động kêu gọi lập nên phong trào kháng chiến trong nước.

– Vậy từ lâu nay điều các bạn làm đã đem lại kết quả tốt đẹp nào cho đất nước chưa?

Không ai trả lời được. Buổi tối, khi chỉ còn lại các sinh viên trong nhóm ủng hộ tôi, các cháu nói:

– Hồi chiều có nhiều câu hỏi khó mà bác trả lời rất hay làm tụi cháu thỏa mãn. Hiện giờ năm sáu chục người ngồi trước mặt bác toàn là tiến sĩ và kỹ sư, bác có nghĩ tất cả chất xám này là sức mạnh và vốn quý của dân tộc Việt Nam hay không?

Tôi cười và nhẹ nhàng trả lời:

– Các cháu chỉ nói đến chất xám không thì chưa đủ. Chất xám đó nếu đi đôi với con tim Việt Nam thì quý vô cùng. Còn ngược lại nếu chất xám đó đi đôi với những trái tim vọng ngoại thì chẳng những không giúp ích gì cho Việt Nam mà có khi còn bất lợi cho đất nước.

Một số cháu hỏi:

– Nếu muốn đóng góp với đất nước, theo bác chúng cháu nên về liền ngay lúc này, hay thủng thẳng sẽ về, nên về ở luôn trong nước hay chỉ ở ngắn hạn?

Tôi thành thật nói với các cháu:

– Không bao giờ bác dám khuyên người khác phải làm điều gì bởi mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Bác chỉ mong tất cả chúng ta nên giữ một trái tim Việt Nam, thương đất nước và con người Việt Nam, chính điều đó sẽ giúp mỗi người trong các cháu tìm được cách tốt nhứt để góp phần mình cho đất nước.

Mấy năm sau đó trong số những sinh viên này có sáu bảy người trở về tham gia tích cực vào các chương trình trong nước, đặc biệt riêng cháu Thắng về rất nhiều lần.

Sau đó tôi đi California thăm một người bạn rất quý là em Nguyễn Thị Đoan. Em vốn là học trò cũ của tôi từ năm 1948, từ biệt nhau năm 1949 khi tôi rời Việt Nam qua Pháp, rồi tái ngộ vội vàng năm 1976 tại Sài Gòn. Mãi đến cuối năm 1993 thầy trò gặp lại bên Pháp nhân dịp em Đoan từ Mỹ qua Paris thăm thân nhân. Kể từ đó có cơ hội thơ qua tin lại với nhau, mỗi dịp hè em đều sang Pháp chơi để tìm hiểu thầy cặn kẽ hơn.

Em Đoan định cư tại Mỹ từ năm 1978 và sống với đứa con trai út tại vùng Huntington Beach bang California. Đây là lần đầu tiên tôi đến chơi nhà em tại một biệt thự riêng xinh xắn. Trong nhà bày biện đâu đó rất vén khéo, phòng khách treo nhiều tranh đẹp, trên lò sưởi có những bức tượng Trung Hoa và nhiều bình cổ rất quí.

Chúng tôi đi viếng các nơi, ăn uống nhiều tiệm rất ngon. Đồng thời tôi cũng đến thăm Phạm Duy, được xem dĩa CD ROM trường ca “Con đường cái quan” rất hay với nhiều hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.

Đến Mỹ gặp mùa Phật đản, tôi được hòa thượng Thích Mãn Giác, vị sư trụ trì tại một ngôi chùa Việt Nam vùng Los Angeles, mời tới nói chuyện về cách tán tụng trong truyền thống Phật giáo Việt Nam. Bằng lời văn chải chuốt đầy chất thơ, hòa thượng giới thiệu tôi rất nồng hậu với các Phật tử từ Santa Anna, San Jose và Los Angeles đến dự. Mọi người chăm chú nghe và đặt nhiều câu hỏi rất hay, chẳng hạn như: “Có thể tán tụng bằng tiếng Việt chớ không dùng tiếng Hán Việt hay không?” hoặc: “Thiền vị trong âm nhạc là gì?”.

Tôi trả lời:

– Các đệ tử ghi lời Phật dạy bằng tiếng Phạn, tiếng Pali, Phật tử tại Trung Quốc dịch ra tiếng Hán, do đó chúng ta cũng có thể dịch ra tiếng Việt.

Tôi đưa ra thí dụ cách tán theo hơi Thiền câu “Hỏa diệm hóa hồng liên” và “Núi lửa biến thành bông sen hồng”: cả hai câu đều có thiền vị như nhau.

Một số Phật tử muốn biết về thiền vị trong âm nhạc, tôi thoái thác vì lúc đó đã hơn hai giờ rưỡi chiều, nhiều người đang nghĩ đến việc trở về vì sợ trễ xe, khí hậu lại đang lúc nóng bức. Hơn nữa chùa ở gần đường xe chạy, tâm của người nghe cũng như người giảng đều không định. Tôi xin hẹn một dịp khác có điều kiện thuận tiện hơn sẽ minh họa bằng bản Nam xuân cách đờn có thiền vị.

Tưởng nói như vậy là có thể kết thúc các buổi nói chuyện, không ngờ em Đoan sốt sắng liên lạc với vị sư tại chùa Liên Hoa cũng tọa lạc trong quận Cam (Orange County) để tổ chức buổi gặp gỡ tiếp sau đó và mời Phật tử nào thích nghe nhạc có thiền vị đến dự.

Nơi này xa đường xe qua lại, buổi nói chuyện tổ chức vào lúc 8 giờ tối, khí trời mát mẻ, tâm của tôi và của thính giả đều ổn định, không nôn nao nghĩ đến chuyện ra về. Hôm đó bác sĩ Huyến giới thiệu tôi, em Đoan ngồi ghi âm, có độ 80 Phật tử ngồi chăm chú nghe.

vbTôi đờn bài Nam xuân theo hai phong cách, trước tiên đờn bình thường cho thính giả thưởng thức âm điệu rồi mới đờn với thiền vị và thính giả đã lắng nghe với thiền tâm. Buổi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam hôm đó kết quả rất tốt.

Không ngờ hai năm sau cũng tại ngôi chùa này, tôi dự lễ thất tuần cầu siêu cho em Đoan.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

**************

Kỳ 12: Họa vô đơn chí

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 10 – Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 10 – Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp

29/06/2015 19:51 GMT+7

TTO – Năm 1993 có một sự kiện hết sức quan trọng đối với tôi là được tổng thống Pháp François Mitterrand mời vào phái đoàn Pháp đi cùng ông trong chuyến công du chánh thức sang Việt Nam.


			GS Trần Văn Khê (giữa), NSND Phùng Há (trái) và nhạc sĩ Vĩnh Bảo năm 1989 - Ảnh tư liệu
GS Trần Văn Khê (giữa), NSND Phùng Há (trái) và nhạc sĩ Vĩnh Bảo năm 1989 – Ảnh tư liệu

Khi mới nghe tin tôi vô cùng ngạc nhiên, không biết ai đã đưa tên tôi vào danh sách này? Về sau tôi nghe nói rằng đầu tiên văn phòng Phủ tổng thống chọn lựa tên tuổi của hơn 60 người Việt Nam đang sanh sống tại Pháp và sau khi sàng lọc mới trình lên tổng thống Mitterand danh sách cuối cùng để đích thân ông chọn lựa.

Hôm đó tôi đang ở nhà thì nhận được điện thoại, người đầu dây tự xưng:

– Đây là văn phòng của tổng thống. Chúng tôi xin nói chuyện với giáo sư Trần Văn Khê.

– Dạ tôi đây! Thưa có chuyện chi?

– Xin báo với giáo sư, tổng thống sắp có một chuyến công du đến Việt Nam. Trong lần công du này tổng thống có mời 30 người khách cùng đi, trong đó có giáo sư. Nếu giáo sư đồng ý xin vui lòng trả lời cho chúng tôi biết để ghi tên vào danh sách của phái đoàn.

Tất nhiên tôi nhận lời ngay không chút do dự. Thơ mời chánh thức được một viên sĩ quan của Phủ tổng thống ăn mặc chỉnh tề đem trao tận tay tôi với thái độ hết sức trân trọng và lịch sự.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu >> Kỳ 2: Lập gia đình >> Kỳ 3: Đất khách quê người >> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống >> Kỳ 5: Chuyện gia đình >> Kỳ 6: Bôn ba bốn biển năm châu >> Kỳ 7: Quy cố hương >> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị >> Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên 

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1 >> Hồi ký Trần Văn Khê phần 2

Hôm sau một sĩ quan khác đem đến cho tôi một bao thơ lớn, trong đó gồm tất cả các thiệp mời dự tiệc chiêu đãi trong suốt thời gian ở Việt Nam, trên mỗi thiệp đều có ghi: “Tổng thống và bà Mitterrand vinh hạnh mời giáo sư tham dự buổi chiêu đãi”. Kèm theo là danh sách những khách mời với chương trình hoạt động và làm việc của chuyến đi. Ngoài ra còn có tài liệu ghi lại những nét khái quát về đất nước Việt Nam, cả địa lý, lịch sử và văn hóa để người đi có một khái niệm tổng quát về nơi mình sắp đến thăm. Nhìn cả một phong thơ dày cộm tôi thấy rõ rằng chuyến đi được chuẩn bị rất công phu.

Tới ngày đi, tôi đón taxi nhưng khi nhìn thấy địa chỉ thì người tài xế cho biết:

– Người thường không được vào vùng này của phi trường Roissy.

– Không sao, anh cứ đi vì tôi có giấy mời tới đó.

Quả nhiên khi xe vừa chạy đến nơi thì thấy lính gác đứng đầy và xua tay ra hiệu phải đi chỗ khác. Tôi nói với người tài xế:

– Anh cứ ngừng lại đây chờ tôi.

Tôi xuống xe đưa giấy mời, lập tức mấy người lính đứng nghiêm chào và cho xe chạy tiếp vô trong. Xe ngừng trước một một dinh thự rộng lớn, bước vào bên trong tôi thấy đã có đông người đứng quanh các bàn tiệc bày biện sẵn, gồm các bộ trưởng, viên chức chánh phủ, những người khách mời cùng với đoàn tùy tùng đi theo tổng thống. Một lát sau Thủ tướng Berégovoy đến. Ông bắt tay chào từng người và nói:

– Trước hết tôi xin thay mặt Chánh phủ Pháp cám ơn quí vị đã nhận lời mời của tổng thống đi chuyến công du này và thay mặt Hội đồng chánh phủ kính chúc quí vị lên đường bình an.

Đến tận lúc đó tôi vẫn còn chưa hết ngạc nhiên, nghĩ bụng chuyện này cũng lạ quá, mình là công dân Việt Nam, hiện đang hưu trí, vậy mà bỗng nhiên giờ này tôi đứng đây, được thủ tướng Pháp đích thân tới chúc thượng lộ bình an. Chuyện đó quả là ngoài sự tưởng tượng của tôi. Tôi còn đang nghĩ ngợi mông lung thì cửa mở và tiếng một người dõng dạc xướng lên “Tổng thống đến” rồi ông Mitterand xuất hiện, miệng tươi cười, tiến tới thân mật bắt tay từng người:

– Hết sức cám ơn quí vị đã nhận lời mời đi với tôi trong chuyến công du này. Mong rằng chuyến đi không làm quí vị quá mệt mỏi và hy vọng những chuyến gặp gỡ sắp tới sẽ đem lại lợi ích cho quí vị.

Ông mời mọi người cùng nâng ly, lát sau một viên sĩ quan bước vô trịnh trọng chào báo tin:

– Đã tới giờ khởi hành, xin kính mời tổng thống và quí vị chuẩn bị lên máy bay.

Cánh cửa phòng mở ra, phía bên ngoài là chiếc chuyên cơ của tổng thống đậu sẵn, có thảm đỏ trải dài từ cửa phòng đến tận máy bay. Đoàn người theo chân tổng thống tiến đến phi cơ, vừa bước ra bên ngoài thì đoàn quân nhạc trỗi lên bài quốc ca Pháp. Tôi lại tự nhủ: “Lạ thật, một công dân Việt Nam như mình, không địa vị, không chức tước mà giờ đây được tháp tùng tổng thống, được cả đội quân nhạc của Phủ tổng thống đánh bài quốc ca đưa tiễn!”. Sau bài quốc ca, ban nhạc tiếp tục tấu một bản quân nhạc vui tươi cho đến khi cả đoàn lên hết trên máy bay.

Chuyên cơ của tổng thống thường khi là máy bay Concorde, lần này có lẽ vì phái đoàn đông thêm cả đội ngũ báo chí nên Ban tổ chức sắp đặt trang trí một máy bay Airbus thành chuyên cơ với phòng làm việc, phòng khách, phòng ngủ của tổng thống và một phòng riêng của bà Mitterrand. Lần đó không có mặt bà Mitterand, nghe nói vì lý do sức khỏe (nhưng thật ra hình như bà có chuyện không vui) nên giờ chót không đi. Các bộ trưởng ngồi ở một khoang riêng, khách mời ngồi tiếp theo phía sau và dãy sau cùng dành cho báo chí. Ghế ngồi trên chuyên cơ thật đặc biệt, êm ái và rộng lớn hơn cả những ghế hạng nhứt của máy bay dân dụng, trên mỗi ghế có gắn sẵn tên từng vị khách. Mỗi dãy chỉ có bốn ghế và một cô tiếp viên đặc trách lo việc tiếp đãi nước uống, thức ăn. Tất nhiên thức ăn trên chuyến bay toàn là những món sơn hào hải vị để chiêu đãi thượng khách, từ trứng cá hồi đến gan ngỗng cùng đủ thứ rượu.

Trên máy bay tôi hội ngộ hai đồng nghiệp là giáo sư Georges Condominas, một nhà dân tộc học cha Pháp mẹ Việt, đã từng sống trên dãy Trường Sơn rất lâu. Người thứ hai là Trịnh Xuân Thuận, giáo sư Việt Nam sanh sống bên Mỹ đang dạy ngành vật lý thiên văn tại Đại học Virginia. Đây là một nhân vật tiếng tăm trên thế giới, mặc dầu dạy học bằng tiếng Mỹ nhưng chuyên viết sách bằng tiếng Pháp và rất được người Pháp ưa chuộng vì sách của ông tuy đề cập đến những chuyện cao siêu trên trời dưới đất nhưng văn phong nhẹ nhàng, giản dị và đầy chất thơ.

Trong chuyến đi tuy ngồi cách xa nhau nhưng ba chúng tôi thường gặp nhau chuyện trò. Anh Condominas có nhiều dịp về Việt Nam nghiên cứu về dân tộc học. Anh Trịnh Xuân Thuận thì rời Việt Nam đã mấy chục năm nay mới về nước lần đầu. Anh rất hân hoan và hy vọng có dịp trở về thăm quê nhà tại một tỉnh miền Bắc.

Thỉnh thoảng trong chuyến đi, chúng tôi cũng gặp tổng thống và được ông đứng lại chào, vui vẻ hỏi han. Tôi nghĩ cũng lạ, khi ở bên Pháp muốn gặp ông thật vô cùng khó khăn, bỗng nhiên nay mình gặp dễ dàng, lại còn nói chuyện thân tình như bà con lâu ngày gặp lại.

Chuyến bay khởi hành từ Paris trực chỉ Hà Nội chớ không quá cảnh nơi nào và sau hơn 12 giờ bay đến Hà Nội đúng giờ đã định. Mỗi người được hướng dẫn tới chiếc xe dành cho mình, xuống máy bay thì đi thẳng lên xe ngồi, thủ tục xuất nhập cảnh đã có người lo. Tôi đi trên xe số 6 cùng với đại tướng Tổng tư lệnh quân đội Pháp, ông cũng đồng thời cai quản cả vùng Invalides. Chúng tôi tự giới thiệu với nhau rồi viên đại tướng tâm sự:

– Ngày xưa tôi từng là tù binh tại Điện Biên Phủ. Trở lại Việt Nam lần này tôi rất háo hức vì nghe nói sẽ có đến viếng Điện Biên Phủ. Nhưng ước mong lớn nhứt của tôi khi qua đây là được dịp gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp, một người tuy không cùng chiến tuyến nhưng tôi vô cùng kính trọng và mong mỏi được diện kiến.

– Tôi được biết sẽ có một buổi tiệc do đại sứ quán Pháp thay mặt chánh phủ Pháp chiêu đãi. Nếu có dịp thuận tiện tôi sẽ trình bày với Ban tổ chức sắp xếp cho đại tướng được ngồi gần đại tướng Võ Nguyên Giáp.

– Nếu được vậy thì thật tuyệt vời!

Trong những lần về nước tôi vẫn lui tới đại sứ quán Pháp nên có quen biết vị tùy viên văn hóa. Ngoài ra trong Ban tổ chức tiếp đón đoàn chánh phủ Pháp cũng có người Việt Nam nên tôi đến gặp họ nói sơ qua nguyện vọng của ông đại tướng Pháp. Nhờ vậy tôi biết chắc chắn Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đến dự buổi chiêu đãi và là một trong những thượng khách của chánh phủ Pháp.

Tôi cũng đã được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào năm 1980 trong lần về nước nói chuyện về Nguyễn Trãi, lần đó trong buổi chiêu đãi đại tướng đến gặp tôi nói:

– Nghe anh nói chuyện âm nhạc thời đại của Nguyễn Trãi, biết được nhiều chuyện lý thú quá.

Vì vậy khi gặp đại tướng trong buổi chiêu đãi lần này tôi tới chào ông:

– Xin phép giới thiệu với đại tướng đây là tổng tư lệnh quân đội Pháp muốn được gặp gỡ nói chuyện với đại tướng vì trước đây ông ấy có tham gia trận Điện Biên Phủ.

Đại tướng vui vẻ bắt tay cười nói với viên tổng tư lệnh và cùng nhau nhắc lại chuyện cũ một cách thoải mái. Ban tổ chức sắp xếp cho hai người ngồi cùng bàn, vậy là viên tổng tư lệnh quân đội Pháp vô cùng mãn nguyện.

Tôi ngồi cùng bàn với giáo sư Vũ Khiêu cũng là người nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Bàn nào cũng gồm có thành viên của hai phái đoàn Việt Nam lẫn Pháp và dĩ nhiên tôi thuộc về phái đoàn Pháp. Đây cũng là điều khiến tôi thấy lạ lẫm! Từ nhiều năm nay tôi thường xuyên về nước nghiên cứu làm việc như một công chức chuyên viên của chánh phủ Pháp nhưng là một công dân Việt Nam. Bỗng nhiên hôm nay, trên sân khấu trường đời tôi phải đóng một vai hoàn toàn khác hẳn, phải đi đứng, tiếp xúc, xử sự với cương vị một thành viên trong chuyến công du chánh thức của vị nguyên thủ một quốc gia đến viếng xã giao… tổ quốc mình.

Khi vừa tới Việt Nam, tôi hỏi Ban tổ chức:

– Tôi có thể quay phim chuyến đi để kỷ niệm được không?

– Tại sao ông cần phải quay, chính người ta phải quay phim ông chớ ông quay người khác làm chi?

– Không, người ta quay thì tôi lại không có hình giữ kỷ niệm. Do đó tôi muốn quay mà không biết theo qui chế tổ chức tôi có quyền làm vậy không?

– Qui chế không đề cập đến việc này, do vậy ông cứ làm theo ý mình vì ông là khách.

Lần đó tôi là người độc nhứt trong phái đoàn có đem theo máy quay nhỏ thâu được những thước phim đặc biệt trong chuyến đi đáng ghi nhớ này.

Tại Hà Nội, phái đoàn ở tại khách sạn Tây Hồ. Ban tổ chức Việt Nam đối với tôi cũng có phần ưu ái. Khi tới nơi, bộ ba chúng tôi cùng đi với nhau nhưng rồi anh Condominas và anh Trịnh Xuân Thuận được hướng dẫn lên trước, còn một mình tôi đứng lại. Sau đó tôi lại được đưa lên tầng lầu đối diện, tôi thắc mắc không hiểu tại sao mình không được xếp ở chung với các bạn thì được Ban tổ chức cho biết:

– Phòng bên đây đẹp và lớn hơn nhiều nhưng chỉ có ít phòng, nếu mọi người ở hết thì không đủ. Do đó chúng tôi chỉ mời riêng giáo sư, từ phòng này có thể ngắm được bao quát cả phong cảnh rất đẹp của hồ Tây.

Quả nhiên nơi dành cho tôi hết sức tiện nghi gồm mấy phòng rất rộng rãi, tôi ấm lòng nghĩ rằng đó cũng là tình của người trong nước đối với tôi và cám ơn Ban tổ chức. Tuy tôi là người Việt nhưng cũng vẫn phải có một người thông dịch riêng – một người Pháp biết tiếng Việt – để được hướng dẫn việc đi đứng di chuyển và chương trình làm việc hàng ngày.

Có một chuyện đặc biệt làm tôi rất cảm động trong bữa dự tiệc chiêu đãi tại Phủ chủ tịch Nhà nước Việt Nam. Chờ quan khách tiến vào hết bên trong, tôi và anh Trịnh Xuân Thuận đứng lại trên tấm thảm đỏ trải dài phía bên ngoài và nói với nhau: “Mấy thuở mình được đi vào Phủ chủ tịch trên thảm đỏ, anh chụp tôi một tấm hình, tôi chụp anh một tấm để kỷ niệm”. Vào Phủ chủ tịch rồi thì phái đoàn chia ra hai bên Pháp và Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình, Phó chủ tịch nước, từ bên phái đoàn Việt Nam bước qua bên phía phái đoàn Pháp để bắt tay tôi. Tôi cúi chào và đưa chị trở về phía đoàn Việt Nam, chị Bình đưa tôi đến giới thiệu với Chủ tịch Lê Đức Anh:

– Đây là anh Trần Văn Khê, mặc dầu ở trong phái đoàn Pháp nhưng anh mang quốc tịch Việt Nam và đã về nước làm việc nhiều lần.

Ông chủ tịch trả lời:

– Tôi có biết và đã nghe nói nhiều về anh Khê.

Bỗng nhiên tôi đứng trong phái đoàn Pháp mà không ở yên như người ta, đi qua đi lại chào hỏi nhiều người, kể ra cũng trái với qui định vì trong những nghi lễ đón tiếp chánh thức, ai được sắp ở đâu phải ở yên nơi đó chớ không được di chuyển. Nhưng may mắn mọi người đều thông cảm mà không có ý kiến phiền hà gì tôi.

Khi vô Sài Gòn cũng vậy, tôi ngồi phía bên phái đoàn Pháp, rất nhiều bạn bè tôi ngồi đối diện phía phái đoàn Việt Nam. Tại miền Nam phái đoàn được sắp xếp ở tại khách sạn Rex, tất cả các nhân viên tại đây đều mặc quốc phục trong thời gian tiếp phái đoàn.

Đêm đầu tiên Tổng thống Mitterand muốn dùng cơm tại nhà hàng của chị luật sư Nguyễn Phước Đại ở đường Nguyễn Du. Người nào không tháp tùng theo tổng thống thì lên lầu thượng khách sạn Rex dùng bữa tiệc gồm các món ăn truyền thống Việt Nam. Tôi vẫn thường xuyên ghé ăn ở nhà hàng của chị Nguyễn Phước Đại, đi với bạn bè hoặc do chính chị mời riêng nên hôm đó tôi ở lại khách sạn, được ăn tối ngoài trời trên sân thượng với những thức ăn dân tộc đặc sắc như chạo tôm, chả giò, bì cuốn, gỏi cuốn, tất cả đều rất ngon.

Hôm tổng thống Mitterand cùng phái đoàn Pháp đi bộ dọc con đường Nguyễn Huệ, đông đảo người dân thành phố tụ tập niềm nở đón chào. Tôi cũng đi lẫn trong phái đoàn, bỗng nhiên nghe có người kêu: “Chú Hai! Chú Hai!”. Tôi quay lại thì thấy cháu Minh Quyên, con của người anh họ tôi là Đặng Minh Trứ đang đứng bên lề đường nhìn thấy tôi rối rít gọi rồi chạy lại chào. Đi thêm một đoạn lại nghe kêu: “Thầy ơi! Thầy ơi!”, thì ra là Michiko, cô sinh viên Nhựt Bổn làm luận án cao học về ca khúc của Trịnh Công Sơn bên Pháp, chạy tới chào tôi. Chung quanh tôi là vô số những cánh tay đưa ra mong được có dịp một lần bắt tay chào mừng Tổng thống Mittérrand.

Chuyến công du diễn tiến tốt đẹp và vui vẻ trong suốt chuyến đi. Ngày trở về gặp lúc tiết trời Paris lạnh buốt thấu xương. Máy bay cũng hạ cánh ngay bên cạnh tòa nhà riêng như hồi đi. Mặc dầu đã rất khuya nhưng Tổng thống Mitterand vẫn lịch sự đứng ngay tại cửa dinh bắt tay từng người chào từ biệt: “Cám ơn ông đã đi theo chuyến công du của tôi. Xin chúc ông nhiều sức khỏe”, giống như một người chủ nhà nồng hậu ân cần từ giã khách.

Những ngày sau đó tôi được mời lên phủ tổng thống gặp hai người cố vấn đặc biệt của tổng thống. Họ cho biết:

– Chúng tôi mời tất cả khách đi trong chuyến công du vừa qua vui lòng ghi lại cảm tưởng và trả lời một số câu hỏi để góp ý kiến giúp nhà nước hình thành một chánh sách đối với Việt Nam thiết thực và có hiệu quả hơn.

Những câu hỏi dành cho tôi là về lãnh vực văn hóa. Tôi viết một báo cáo ngắn gọn trong đó đưa ra vấn đề cấp học bổng cho người Việt Nam, đề xuất những hoạt động về mặt âm nhạc, về trao đổi văn hóa giữa hai nước.

Đây quả là một trong những chuyến đi mà tôi không chờ đợi nhưng mang lại nhiều thú vị nhứt. Không hiểu do cơ duyên nào mà tôi được tham dự một chuyến công du đến chính đất nước Việt Nam của mình, thật là một giấc mơ đẹp trong cuộc đời!

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành) **********

Kỳ 11: Nói chuyện trên đất Mỹ

GS TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 9 – Một chuyến đi Bắc Triều Tiên


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 9 – Một chuyến đi Bắc Triều Tiên

29/06/2015 09:31 GMT+7

TTO – Năm 1983 Bắc Triều Tiên đăng cai tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á và yêu cầu UNESCO gởi người qua cố vấn để việc tổ chức được hoàn hảo.

GS Trần Văn Khê (chính giữa) tại Bình Nhưỡng (Bắc Triều Tiên) dự Diễn đàn Âm nhạc Châu Á năm 1983 - Ảnh: tư liệu
GS Trần Văn Khê (chính giữa) tại Bình Nhưỡng (Bắc Triều Tiên) dự Diễn đàn Âm nhạc Châu Á năm 1983 – Ảnh: tư liệu

UNESCO chỉ định tôi làm trưởng đoàn sang Bình Nhưỡng, thủ đô của Bắc Triều Tiên, vào tháng 4 để chuẩn bị cho diễn đàn vào tháng 9. Chuyến đi còn có thêm ông Menon, người Ấn Độ, là Chủ tịch Uỷ ban tuyển lựa trong các Diễn đàn Âm nhạc châu Á từ trước đến nay và giáo sư người Đức Eric Stockmann, Chủ tịch Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Truyền thống.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu>> Kỳ 7: Quy cố hương>> Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

Ông Menon và giáo sư Stockmann giao cho tôi đứng ra sắp xếp mọi việc, hai ông là những người kỳ cựu chỉ đi theo để yểm trợ khi cần, vì đây là lần đầu tiên một diễn đàn âm nhạc được tổ chức ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, một nước còn “kín cổng cao tường” vào thời kỳ này, những người ở phương Tây vào nơi đây được coi là hi hữu.

Chúng tôi được xem nhiều tiết mục âm nhạc tại Bình Nhưỡng đồng thời tôi cũng đưa ra chương trình theo qui định của UNESCO cho nước chủ nhà tham khảo. Tất cả yêu cầu của UNESCO đưa ra Ban tổ chức đều chấp nhận, công việc thuận lợi dễ dàng chớ không khó khăn như chúng tôi e ngại lúc ban đầu. Mọi việc góp ý xong xuôi, chúng tôi trở về Paris.

Cuối tháng 9 tôi trở qua Bình Nhưỡng để dự Diễn đàn. Tại phi trường Bình Nhưỡng phái đoàn đại diện UNESCO được tiếp đón rất trang trọng với đầy đủ nghi thức từ dàn nhạc đến vòng hoa, có cả đại diện sứ quán của các nước tham dự Diễn đàn ra đón và bắt tay chào hỏi nồng nhiệt. Tôi chú ý không thấy người của Sứ quán Việt Nam bèn hỏi thăm Ban tổ chức thì được trả lời rằng họ đã có mời nhưng không thấy ai tới cả. Tôi thắc mắc nghĩ bụng chẳng lẽ nhân viên Sứ quán Việt Nam kỳ thị cá nhân tôi nên không đi?

Tôi được sắp xếp ở một phòng khách sạn hết sức sang trọng gồm phòng ngủ rộng lớn với một phòng làm việc và phòng khách có thể tiếp được ba bốn chục người. Trong tủ lạnh có đầy đủ thức ăn, nước uống và nhiều loại rượu ngon kể cả rượu sâm nhung.

Tôi muốn nói chuyện điện thoại với Sứ quán Việt Nam nhưng người của Ban tổ chức đi theo giúp việc cho tôi gọi hoài mà không liên lạc được. Cảm thấy có điều gì đó bất thường nên hôm sau khi đến Đại sứ quán Liên Xô để xin thị thực quá cảnh cho chuyến về, tôi nhờ nơi đây điện thoại cho Sứ quán Việt Nam thì liên lạc được liền. Hóa ra anh em tại đây không hay biết gì về việc tôi đến Bình Nhưỡng. Ngày hôm sau Sứ quán Việt Nam cử tùy viên văn hóa tới thăm tôi, thấy vậy mấy người trong Ban tổ chức của Bắc Triều Tiên có hơi ngại ngùng.

Chưa nơi nào tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á long trọng và hoàn hảo bằng nơi đây. Nhưng riêng tôi với cương vị trưởng đoàn đã rơi vào nhiều hoàn cảnh phải ứng phó rất gay go.

Mỗi đêm Ban tổ chức sắp xếp cho hội nghị xem một chương trình âm nhạc, sau mỗi chương trình, với cương vị là trưởng đoàn, tôi thường được mời phát biểu cảm tưởng. Không phải chương trình nào cũng hay, cho nên cái khó nhứt của tôi là ở chỗ tôi không thể khen khi không thấy hay, nhưng cũng không thể nói là dở vì nhiều lý do tế nhị, cho nên tôi luôn phải tìm cách nói sao cho xuôi.

Đó là một trong những chuyện khó khăn phải đối phó, nói sao cho chân thật với lòng mình mà phải lựa lời để người khác đừng phật lòng. Đạo Phật có dạy phải dùng “chánh ngữ”: điều mình nói đừng mích lòng ai, không xúc phạm người khác, đem lại hòa khí với nhau. Tôi thấy rằng văn hóa phương Đông đã giúp tôi có được thái độ hòa hoãn với mọi người, không chỉ trích, không tranh luận để chê bai hay làm mất mặt người khác nhưng cũng không vị nể mà khen khi lòng mình không nghĩ vậy.

Trong buổi hội thảo về cải tiến nhạc cụ do tôi chủ tọa, tôi yên tâm là khỏi phải đóng góp ý kiến mà chỉ điều động trao lời cho người này người kia, nhắc nhở những người nói quá thời hạn qui định để cho buổi họp tiến hành đúng theo chương trình.

Theo nguyên tắc có qui định thời gian cho người thuyết trình lẫn người đặt câu hỏi, tôi báo trước sẽ rất chặt chẽ về thời gian để các bạn đừng buồn khi tôi cắt lời bởi vì đó là phận sự của tôi. Mỗi khi một diễn giả thuyết trình xong, tôi hỏi xem ai có ý kiến gì và mời đặt câu hỏi.

Một bạn Triều Tiên trình bày rất hào hứng về việc cải tiến nhạc cụ truyền thống của nước này. Riêng tôi thì không hoàn toàn hoan nghinh. Cây đờn cổ Kayageum của Triều Tiên là đờn dây thuộc về loại đờn tranh ngày xưa rất đẹp, dài một thước sáu, dáng thon thả như cô gái thắt đáy lưng ong. Nay đờn được cải tiến tăng thêm một số dây thành rộng ra, cây đờn trở thành “có da có thịt”, nói theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, nên hình dáng không còn thanh tú. Khi biểu diễn âm thanh cũng không còn giống như tiếng đờn trước đây. Quan điểm của diễn giả là việc cải tiến đờn Kayageum nhằm mục đích không chỉ đờn được nhạc Triều Tiên mà đờn được cả nhạc phương Tây.

Không phải chỉ có đờn Kayageum, ống Piri là loại kèn dăm đôi cũng không còn hình dáng bình thường nữa mà nay to hơn, có gắn khóa chỗ này chỗ kia giống như kèn ôboa bên phương Tây, dụng ý để thổi được thang âm bình quân, do đó tiếng kêu trong hơn, không còn tiếng rè rè đặc trưng như trước.

Bỗng nhiên khi vừa thuyết trình xong diễn giả nhìn tôi và nói:

– Tôi đề nghị giáo sư Trần Văn Khê phát biểu về vấn đề này.

Bị đưa ra chỗ không thể lùi được, tôi nói:

– Thưa các bạn, khi tiến hành cải tiến một nhạc cụ dĩ nhiên là nhằm mục đích để cho được hay hơn. Các bạn hẳn là hiểu rõ người Triều Tiên muốn gì và nghe âm nhạc thế nào, đã suy nghĩ năm này qua năm khác rồi mới bắt tay vô làm. Tôi ngồi nghe trong 15 phút làm sao dám đưa ra nhận xét điều các bạn làm là đúng hay sai. Tôi thích hay không là ý của riêng mình, tôi lại là người bên ngoài. Nếu các bạn cho rằng điều đó đúng thì cứ việc làm, không nên vì người khác không thích mà không làm.

– Nhưng chúng tôi muốn biết ý kiến của giáo sư.

– Tôi chỉ nói ý kiến của tôi về việc cải tiến. Theo qui định tôi có được ba phút nên để cho ngắn gọn xin đưa ra ba nguyên tắc mà tôi cho là phải đạt được khi cải tiến một nhạc cụ: hình dáng phải đẹp hơn, khả năng biểu diễn phải nhiều hơn và cuối cùng phải diễn tả được trung thực và rõ ràng tiếng nói âm nhạc của dân tộc đã tạo ra nhạc cụ đó.

Điểm đầu tiên là hiển nhiên rồi, nếu không làm cho đẹp hơn thì thay đổi để làm gì? Thứ nhì, khi cải tiến là cốt để làm cho khả năng biểu diễn được nhiều thêm. Và cuối cùng điều quan trọng nhứt là vẫn giữ được ngôn ngữ âm nhạc của dân tộc, còn nếu cải tiến chỉ để đờn được nhạc của nước khác mà khi nói tiếng nhạc nước nhà lại đâm ra ngọng nghịu thì tôi cho rằng không ai cần mình phải cải tiến nhạc cụ truyền thống để đờn âm nhạc của họ. Mỗi đất nước cần phải có nhạc cụ riêng phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của dân tộc mình. Tôi xin chấm dứt ở đây vì đã hết 3 phút, nhưng nếu các bạn cho phép nói thêm tôi có thể trình bày một số chuyện nữa.

Mọi người đồng thanh nói:

– Giáo sư cứ tự tiện, chúng tôi rất đồng ý.

Tôi tiếp tục:

– Nếu một nhạc cụ truyền thống mà không diễn tả được tiếng nói của dân tộc tất yếu sẽ bị đào thải, vì dân tộc nào cũng cần tiếng nói trung thực và chính xác chớ không chấp nhận làm tiếng nói của mình nghe như tiếng nói ngoại lai.

Những diễn giả phát biểu sau đó đều hoàn toàn ủng hộ quan điểm của tôi. Mấy ngày kế tiếp, khi bàn tới buổi liên hoan bế mạc diễn đàn, Ban tổ chức nói:

– Chúng tôi cho rằng trong Diễn đàn này giáo sư là người xứng đáng để được cử ra hát bài ca ngợi Kim Chủ tịch, có dàn nhạc giao hưởng phụ họa. Xin đề nghị giáo sư nhận lời chúng tôi sẽ cử người tới tập cho giáo sư.

Tôi không tiện từ chối chỉ nói:

– Đó là vinh dự rất lớn cho tôi nhưng có mấy trở ngại. Thứ nhứt là vì tôi còn phải chủ tọa cho nhiều buổi hội thảo nữa, ngoài ra hàng ngày phải viết báo cáo gởi về cho UNESCO nên công việc của tôi rất nhiều. Thứ hai là tôi không biết tiếng Triều Tiên lại chưa bao giờ hát nhạc Triều Tiên, vì vậy trong vòng hai ba bữa không thể tập hát rành rẽ một bài được. Xin các bạn vui lòng chọn người khác.

Tôi nói vậy tưởng các bạn đồng ý, không ngờ sáng sớm bữa sau nghe tiếng gõ cửa, một người tới gặp tôi tự giới thiệu:

– Tôi là người chỉ huy dàn nhạc giao hưởng. Ban tổ chức chỉ định tôi tới hướng dẫn giáo sư cách hát, chỗ nào hát lớn chỗ nào hát nhỏ, tôi đem bản tổng phổ tới cho giáo sư coi.

– Nhưng tôi đâu có nhận lời?

– Tôi chỉ biết Ban tổ chức yêu cầu tôi như vậy.

– Nhờ ông về nói lại với Ban tổ chức tôi không thể hát được. Tôi sẽ gặp Ban tổ chức để bàn sau.

Lát sau lại có tiếng gõ cửa:

– Tôi là người lĩnh xướng có nhiệm vụ tập cho giáo sư khi ca phát âm đúng giọng Triều Tiên.

– Nhưng tôi đâu có nhận lời!

– Ban tổ chức nói phải tập cho giáo sư trong vòng ba ngày để kịp ra hát.

Tôi phải tới gặp Ban tổ chức lần nữa:

– Tôi hết sức cảm động trước lòng ưu ái của các bạn nhứt định dành cho tôi vinh dự hát bài ca ngợi Kim Chủ tịch. Thế nhưng tôi có những điều khó khăn riêng, trước hết là UNESCO có chỉ thị bằng văn bản chánh thức nói rõ: trong tất cả những lời phát biểu của người đại diện cho UNESCO không được ca ngợi cũng như không chỉ trích bất cứ một chánh khách nào. Tôi là một uỷ viên Ban chấp hành nên phải tuân thủ qui định này. Do đó nếu tôi muốn hát bài ca ngợi Kim Chủ tịch thì phải điện về xin ý kiến của UNESCO có cho phép tôi phá lệ hay không, việc này rất phức tạp và không kịp thời gian. Ngoài ra gần 20 năm nay tôi chuyên tâm nghiên cứu nhạc truyền thống Việt Nam, vì vậy ngay cả nhạc mới của Việt Nam tôi cũng ít hát, nay tôi lại hát một bản nhạc mới nước ngoài, điều đó sẽ làm cho đồng bào của tôi không hiểu và không vui.

Cuối cùng tôi không thể nào học thuộc lời cũng như tập hát cho đúng giọng trong thời gian ngắn như vậy được. Nếu đó là một bài ca bình thường còn tạm chấp nhận được, chớ bài hát ca ngợi một vị lãnh tụ như Kim Chủ tịch mà làm như vậy là vô phép. Tôi không dám làm chuyện thất lễ đối với một vị lãnh đạo lớn như Kim Chủ tịch.

Lý lẽ sau cùng này thuyết phục được Ban tổ chức, vậy là tôi khỏi hát.

Cho đến lúc bế mạc hội nghị tôi vẫn chưa hết gặp chuyện rắc rối: UNESCO chuẩn bị 20 dĩa hát làm quà tặng cho vị lãnh tụ của Triều Tiên, nhưng cuối cùng chỉ gởi giấy tờ còn dĩa hát lại để quên tại Paris. Tôi đành báo với Ban tổ chức:

– Hội đồng Quốc tế Âm nhạc có dự bị 20 dĩa hát châu Á tặng cho Kim Chủ tịch, bây giờ coi lại thì không có đem theo, nếu tôi điện về kêu gởi qua cũng không kịp nữa rồi. Phần tôi có đem theo một dĩa nhạc do tôi đờn và một quyển sách của tôi viết về âm nhạc Việt Nam để tặng Ban tổ chức.

Ông Chủ tịch nhận quà nhưng bỗng nhiên lại nói:

– Cái này dùng để gởi tặng Kim Chủ tịch thì rất hay.

– Quà tặng Kim Chủ tịch là 20 dĩa nhạc của UNESCO, còn đây chỉ là một dĩa nhạc và cuốn sách của cá nhân tôi, tôi không dám đem tặng một người lãnh đạo lớn như Kim Chủ tịch.

– Nếu đó là dĩa nhạc và cuốn sách của phương Tây quả là không nên, nhưng đây chính là dĩa hát và cuốn sách của chính giáo sư thực hiện, viết về âm nhạc Việt Nam kèm theo lời đề tặng của tác giả. Tôi nghĩ rằng Kim Chủ tịch sẽ thích thú khi nhận được quà tặng của một người Việt Nam đến thăm Triều Tiên.

Tôi nói:

– Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, tôi sẽ làm theo ý kiến của các bạn. Xin các bạn cân nhắc sao đừng để cho tôi thất lễ với Kim Chủ tịch.

Ban tổ chức làm cho tôi một bao màu đỏ để đựng quà, đưa tôi tờ giấy thật đẹp để viết lời đề tặng bằng tiếng Việt: “Trân trọng kính tặng Chủ tịch Kim Nhựt Thành chút quà của một nhạc sĩ đồng thời cũng là nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam nhân dịp đến Bình Nhưỡng dự Diễn đàn và hội nghị về âm nhạc châu Á. Xin chân thành cám ơn Chủ tịch và Chánh phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã cho phép Ủy ban quốc gia Triều Tiên tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á cho các nước tham dự mà tôi được vinh dự là chủ tịch của Diễn đàn.”

Hai ngày sau Ban tổ chức báo với tôi:

– Năm giờ chiều mai yêu cầu giáo sư có mặt tại khách sạn và mặc lễ phục để tiếp đón người đại diện của Kim Chủ tịch.

Hôm sau toàn bộ thành viên của Ban tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á có mặt đầy đủ tại nơi tôi ở. Đến giờ hẹn, người đại diện của Kim Chủ tịch tới phòng tôi, bưng một hộp thiệt lớn trên có ghi dòng chữ: “Kim Chủ tịch cám ơn giáo sư Trần Văn Khê và xin giáo sư nhận một chút quà của Kim Chủ tịch.”

Ông trịnh trọng nói:

– Kim Chủ tịch rất cảm động khi nhận được quà của giáo sư. Đáp lại Kim Chủ tịch gởi chút quà cho giáo sư để khi về Pháp cũng như về Việt Nam giáo sư vẫn nhớ đến dân tộc Triều Tiên.

“Một chút quà” của Kim Chủ tịch gồm một tấm trải giường rất lớn thêu hình hai con phụng, một hộp đựng những chung bằng đá quí dùng để uống rượu sâm nhung, ba lít rượu sâm nhung và hai cuốn sách tựa là “Dân tộc Triều Tiên chúng tôi” còn cuốn kia là “Bình Nhưỡng”.

Tôi nhận quà và nhờ viên chức cao cấp chuyển lời tôi trân trọng cám ơn Kim Chủ Tịch.

Chuyến đi Bình Nhưỡng gay go cho đến những giờ phút cuối cùng. Khi tiễn tôi về Pháp, tại phòng VIP của phi trường, các bạn trong Ban tổ chức thắc mắc:

– Hổm rày chúng tôi nghe giáo sư nói chuyện về nhạc Triều Tiên mà dùng từ rất chính xác, xin hỏi giáo sư đã học nhạc Triều Tiên ở đâu và với ai?

– Ở Nam Triều Tiên tôi có vài người bạn trong giới nhạc tại nơi này.

– Giáo sư đi Nam Triều Tiên bao nhiêu lần?

– Tôi mới đến Seoul một lần vào năm 1981 nhân dịp Đại hội Âm nhạc do Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Truyền thống tổ chức mà tôi là Phó chủ tịch.

– Giữa hai bên Nam, Bắc Triều Tiên, nơi nào tiếp rước giáo sư nồng hậu hơn?

– Thưa các bạn, dân tộc Triều Tiên là một, không phải vì việc đất nước Triều Tiên bị chia rẽ bằng một vĩ tuyến mà thay đổi được đặc tính hiếu khách của các bạn. Ở cả hai nơi, tôi đều được tiếp rước hết sức nồng hậu.

– Như vậy đối với giáo sư, Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên không có gì khác nhau sao?

Đây là một câu hỏi có dụng ý chánh trị mà với tư cách là người đại diện của UNESCO tôi phải tuyệt đối tránh không đề cập đến, tuy nhiên chủ nhà đã hỏi thì khách phải trả lời:

– Theo tôi có hơi khác nhau một chút: ở Nam Triều Tiên tôi là người mà họ “bắt buộc” phải tiếp, còn ở Bắc Triều Tiên thì tôi là người các bạn “mong đợi” để đón tôi: Trong đại hội ở Nam Triều Tiên, tôi đến với cương vị Phó chủ tịch nên ban tổ chức bắt buộc phải tiếp đón tôi, còn ở đây các bạn cần một người cố vấn để tổ chức diễn đàn cho hoàn hảo, tôi rất vui khi thấy mình được các bạn chờ đón. (There was a slight difference: In South Korea, I was someone they “had” to receive. In North Korea, I am someone you “wish” to reveive).

Một lần nữa tôi “thoát hiểm” mà các bạn trong Ban tổ chức cũng tỏ vẻ hài lòng. Tôi rất vui vì tuy có nhiều khó khăn nhưng tôi vẫn giữ được tình cảm tốt cho tới ngày về.

Sau này khi tôi đi các nơi thuật chuyện về chuyến đi Bình Nhưỡng được nhiều người rất thích, nhứt là các bạn trong giới ngoại giao. Các bạn cho rằng đây là những kinh nghiệm về cách ứng xử sao cho không trái với lòng mình mà đừng mích lòng người.

Diễn đàn Âm nhạc châu Á còn mang lại một kết quả tốt đẹp khác. Tôi cùng anh Lưu Hữu Phước giới thiệu tiết mục bà Quách Thị Hồ hát bài Tỳ bà hành, được Ban tuyển chọn khen ngợi và xếp vào trong 9 tiết mục xuất sắc nhứt của diễn đàn lần này. Tôi rất mừng khi ca trù được nhìn nhận là một bộ môn âm nhạc có giá trị, tên tuổi bà Quách Thị Hồ được ghi vào danh sách những nghệ sĩ được tuyển lựa của Diễn đàn Âm nhạc châu Á tại Bình Nhưỡng và bài Tỳ bà hành được ghi âm trong loạt dĩa hát của Bắc Triều Tiên thực hiện để kỷ niệm Diễn đàn Âm nhạc châu Á năm 1983.

Kết quả này được gởi về nước, may mắn tôi cũng có mặt tại Việt Nam trong buổi lễ trao giải thưởng được tổ chức tại Đài Phát thanh Hà Nội. Anh Trần Lâm lúc đó là chủ tịch Ủy ban phát thanh và truyền hình đã tổ chức buổi nhận giải thưởng rất long trọng. Ông Tổng lãnh sự Triều Tiên đại diện cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên trao giấy chứng nhận cho Đài Tiếng nói Việt Nam là đơn vị có tiết mục được tuyển lựa tại Diễn đàn Âm nhạc châu Á. Bà Quách Thị Hồ được tặng hoa và hiện vật vì là nghệ sĩ chánh trong tiết mục được tuyên dương. Sau đó bà rút hai bông hoa trong bó hoa đem lại tặng tôi:

– Xin tặng giáo sư, người hôm nay khai sinh lại cho ca trù. Xin báo với giáo sư, khi hay tin tôi được tuyên dương anh chị em giáo phường tại Lỗ Khê đã tụ họp hát ca trù suốt đêm với nhau mà chảy nước mắt vì vui mừng. Vinh dự này không phải cho riêng tôi mà là cho cả truyền thống ca trù. Chúng tôi hết sức vinh hạnh về việc ngày nay bộ môn này đã được thế giới nhìn nhận và tán thưởng cũng như không bao giờ quên công lao đóng góp của giáo sư trong việc khôi phục ca trù.

Đối với tôi, chuyến đi Bình Nhưỡng tuy có bao thấp thỏm lo âu, không ít khó khăn nhưng cũng rất nhiều niềm vui. Tôi giống như người bị lọt vào một mê hồn trận nhưng cuối cùng vẫn thoát ra được bình yên lại còn giữ được nhiều kỷ niệm đẹp.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

*******

Kỳ 10: Viếng thăm Việt Nam với tổng thống Pháp

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 8 – Những cuộc tao ngộ thú vị


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 8 – Những cuộc tao ngộ thú vị

28/06/2015 19:05 GMT+7

TTO – Từ sau năm 1976, hàng năm tôi đều về nước ít nhứt một lần. Tháng 3 năm 1977 tôi trở về Việt Nam, vì chưa có đường bay thẳng từ Pháp về Sài Gòn nên tôi phải ghé Hà Nội mặc dầu lần này do trong Nam mời.

Jpeg
Jpeg

GS Trần Văn Khê (phải) với nhạc sĩ Văn Cao năm 1987

Tại Hà Nội tôi được gặp chủ tịch Tôn Đức Thắng, mà tôi vẫn kêu bằng anh Hai vì cụ là chồng của chị Hai Oanh, một người bà con sống cùng làng với gia đình tôi. Đêm biểu diễn giới thiệu ra mắt vở đại ca kịch A Sao tại Nhà hát lớn, bác Tôn có đi dự và tôi cũng được mời. Khi vãn hát, anh Đỗ Nhuận là tác giả vở kịch tới chào rồi nhân đó thưa với bác:

– Báo cáo Chủ tịch, hôm nay có anh Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu âm nhạc về nước.

Tôi giựt mình vì đó là lần đầu tiên nghe chữ “báo cáo”. Bác Tôn quay lại thấy tôi bèn hỏi:

– Ủa, em về hồi nào?

– Thưa được vài bữa rồi.

– Vậy tới chỗ anh Hai đi, gặp lại bà con, có chị Hai, cháu Hạnh (con gái bác Tôn), bây giờ nó có cháu ngoại rồi.

Tôi thưa:

– Dạ tùy theo giờ giấc thuận tiện của Chủ tịch em xin tới thăm.

Bác cười:

– Đừng có kêu vậy, anh Hai thì kêu anh Hai.

Ngay sáng hôm sau có xe đón tôi đến nhà bác. Gặp tôi bác nói:

– Đừng lên nhà trên, anh Hai thích ở nhà dưới hơn, mặc pyjama ăn sáng cho khỏe.

Hàn huyên xong hai anh em chụp một tấm ảnh kỷ niệm mà tôi vẫn còn giữ cho đến nay.

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu

>> Kỳ 2: Lập gia đình

>> Kỳ 3: Đất khách quê người

>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống

>> Kỳ 5: Chuyện gia đình

>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

>> Kỳ 7: Quy cố hương

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

Rời Hà Nội vào Nam tôi lại gặp thêm những chuyện thú vị khác. Tại Sài Gòn có tổ chức liên hoan ca nhạc Cải lương tài tử qui tụ những nghệ sĩ kỳ cựu trong Nam. Ngoài ra còn có những diễn viên các đoàn cải lương miền Bắc tham dự và cả những nghệ sĩ miền Nam tập kết ra Bắc trở về.

Tôi đề nghị Ban tổ chức mời nhạc sư Vĩnh Bảo tham dự liên hoan nhưng anh còn ngần ngại vì cảm thấy chưa hoàn toàn hòa nhập với xã hội mới. Cuối cùng anh Vĩnh Bảo nhận lời với tất cả sự e dè và yêu cầu người giới thiệu anh trong liên hoan phải là tôi. Theo chương trình, khi nhạc hội bế mạc, Ban tổ chức trao tặng giấy chứng nhận ghi lời cám ơn cho những người tham dự để làm kỷ niệm, anh Vĩnh Bảo cũng đề nghị tôi trao cho anh. Anh Lưu Hữu Phước rất cảm thông và đồng ý làm theo những yêu cầu của anh Vĩnh Bảo.

Hôm đó anh Vĩnh Bảo đờn hết sức xuất sắc. Khi kết thúc chương trình, như đã giao ước tôi trao tờ giấy chứng nhận cho anh. Bất ngờ anh Vĩnh Bảo gục vào vai tôi bật khóc nức nở, tôi xúc động ôm anh, anh Lưu Hữu Phước chứng kiến cảnh này cũng thấy mủi lòng.

Một cuộc gặp gỡ thú vị khác là tôi tiếp xúc được với những nhân vật kỳ cựu của hát bội như bà Năm Đồ, cô Ba Út và anh Thành Tôn. Viện Nghiên cứu Âm nhạc mời ba nghệ sĩ này đến trụ sở để cho tôi chụp ảnh và ghi âm những điều cần biết trong nghệ thuật hát bội miền Nam. Anh Thành Tôn cắt nghĩa cho tôi hiểu rõ những nguyên tắc trong vũ điệu: thế nào là “tay trắng tay đen”, phong cách “trụ bộ trống chiến”, “gian quay xỏ néo” đặc trưng của bộ múa, có trên có dưới, có đông có tây, có đầu có đuôi, tay đâu mắt đó… cùng những danh từ chuyên môn trong hát bội.

Rồi anh em hát bội cũng như sân khấu cải lương mời tôi nói chuyện về hát bội và cải lương. Tôi từ chối:

– Làm sao tôi rành những bộ môn kịch nghệ truyền thống bằng các anh chị!

– Nhưng chúng tôi muốn nghe người không phải trong nghề mà hiểu và thưởng thức được rồi nói về nghề nghiệp của chúng tôi, như vậy mới thú vị hơn.

Tôi lâm vô cảnh phải múa rìu qua mắt thợ, cũng giống như việc tôi nói chuyện tụng kinh cho các nhà sư nghe trước đây. Nhưng rõ ràng không phải tự ý tôi muốn làm mà do sự yêu cầu thiết tha của các anh em trong nghề khiến tôi không thể từ chối.

Sau hai tháng lưu lại trong nước, tháng 5 tôi trở về Pháp và nhận được giấy mời dự đại hội của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Dân gian tổ chức tại Honolulu (Mỹ) vào tháng 8. Đồng thời trường Đại học Berkley gần thành phố San Francisco cũng mời tôi tham dự một hội thảo quốc tế về âm nhạc cùng tổ chức trong thời gian này.

Tại Honolulu, tôi nói chuyện về sinh hoạt âm nhạc Việt Nam ngày nay, minh họa bằng băng cassette ghi âm trích đoạn ca trù, chèo, quan họ, đồng thời chiếu hình dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc chèo. Những nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam tại Mỹ rất thú vị nói với tôi:

– Cũng nhờ ông về nước thâu thập những hình ảnh đó mà chúng tôi mới có khái niệm về sinh hoạt âm nhạc của dân tộc Việt Nam ngày nay.

Tôi cũng đưa ra tập kỷ yếu của những cuộc hội nghị về quan họ tổ chức ở Bắc Ninh trong đó có mấy chục bài tham luận về quan họ. Những nhà nghiên cứu trên thế giới đều tiếc không có những bản dịch bằng tiếng Anh để họ tham khảo.

Từ Honolulu tôi bay qua thành phố San Francisco để dự một hội nghị khác về âm nhạc tại Đại học Berkley. Khi tôi tới Berkley nhiều bạn bè ở khắp các bang tại Mỹ gọi điện thoại hỏi thăm, chẳng hạn như Phạm Duy lúc đó đang ở Florida, hay Nguyễn Thành Nguyên, một người bạn ở Hà Nội trước đây nay làm giáo sư ở San Francisco. Tôi cũng được mời đi dự một buổi hòa nhạc ở Los Angeles, không ngờ được gặp lại rất nhiều người quen tại đây như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nhạc sĩ Lữ Liên, nghệ sĩ cải lương Việt Hùng.

Đến tháng 10 tôi qua Tiệp Khắc dự hội nghị của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO nhân ngày Quốc tế Âm nhạc. Dịp này có cả anh Lưu Hữu Phước đại diện Việt Nam qua tham dự.

Tôi được mời trình bày âm nhạc Việt Nam, như thường lệ tôi mặc áo dài khăn đóng. Anh Lưu Hữu Phước nói nhỏ với tôi:

– Khê ơi, qua mấy nước tư bản muốn bận sao cũng được chớ ở đây là nước xã hội chủ nghĩa, Khê bận vậy người ta nói mình phong kiến.

Tôi không đồng ý:

– Phong kiến là tại cái đầu của mình chớ không phải tại bộ đồ. Khi ra giới thiệu âm nhạc mà mặc quốc phục thì chưa cần nói người ta đã thấy dân tộc Việt Nam rồi. Còn nếu mặc đồ Tây phải sau một hồi người ta mới nhận ra tôi nói về âm nhạc Việt Nam.

– Bộ mặc đồ Tây đờn không hay bằng áo dài khăn đóng sao?

– Dầu không hay hơn đi nữa thì cái vẻ bên ngoài cũng ủng hộ cho cái bên trong vì thông thường nghệ thuật phải toàn diện. Chẳng hạn như trong nghệ thuật uống trà, tại sao không uống bằng ly giấy, không dùng tô mà phải chọn chén thiệt nhỏ? Tại sao rượu champagne phải uống với đúng loại ly của nó mới thấy ngon? Tiếng đờn cũng vậy, khi nghệ sĩ biểu diễn mặc áo dài khăn đóng trang trọng tự nhiên người nghe cũng cảm nhận tiếng đờn hay hơn. Thành ra dầu ai nói gì thì nói tôi nhứt định bận quốc phục.

Anh Phước có cái lý của anh, xuất phát từ tình cảm của một người bạn nên muốn nhắc nhở tôi. Tuy nhiên tôi vẫn giữ quan điểm của mình, hễ nơi nào không cho tôi mặc áo dài khăn đóng là tôi không đờn. Rốt cuộc buổi hòa nhạc hôm đó thành công và không ai có ý kiến gì về quốc phục của tôi.

Năm 1978 tôi về nước theo lời mời của Viện Nghiên cứu Âm nhạc, do đó toàn bộ chương trình làm việc và các cuộc tiếp xúc của tôi tại đây đều do Viện Âm nhạc sắp xếp. Tôi có nhiều buổi nói chuyện ở Trường Âm nhạc, các trường trung học phổ thông và trường Đại học Tổng hợp.

Jpeg
Jpeg

GS Trần Văn Khê, GS – nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và GS – nhạc sĩ Tô Vũ (từ trái qua) tại Viện Nghiên cứu âm nhạc năm 1982 – Ảnh: tư liệu

Ngoài ra năm 1978 cũng là năm đầu tiên có cuộc liên hoan để chuẩn bị cho Đại hội âm nhạc của dân tộc ít người tại Buôn Ma Thuột. Anh Lưu Hữu Phước mời tôi tham dự, nhờ đó tôi mới biết Buôn Ma Thuột theo tiếng địa phương có nghĩa là “làng của cha mẹ người tên Thuột”, chớ trước kia tôi vẫn kêu theo cách gọi của người Pháp là Bam Mê Thuột.

Tôi gặp tất cả các đoàn ca múa của dân tộc MNông, Êđê, Gia Rai…, nói chuyện với các anh chị em, chụp hình những nhạc cụ và ghi âm nhiều bài hát trữ tình. Tôi thật ngạc nhiên khi nhận ra âm nhạc Tây Nguyên phong phú và lãng mạn vô cùng. Chẳng hạn anh Kpa Ylang dịch cho tôi nghe nội dung lời chàng trai nói với người yêu trong một bài hát đối ca nam nữ:

Chúng ta yêu thương nhau mà lại ở cách một con sông nhưng con sông này còn có thể qua được khó nhứt là cha mẹ không ưng thuận cho chúng ta cưới nhau Trước bao khó khăn trong cuộc đời này ước gì chúng mình được làm đôi chim bay bổng trên trời cao để không có con sông nào chia cách không có uy lực nào ngăn cản chúng ta đến với nhau

Bài tình ca đẹp làm sao, không phải chỉ vì các âm thanh hòa quyện vào nhau với giọng cao giọng thấp mà ý nhạc lời ca gây xúc động trong tâm hồn. Tôi bàn với Kpa Ylang tìm cách tập trung những bài ca này dịch ra tiếng Việt rồi in thành sách để phổ biến âm nhạc Tây Nguyên. Kpa Ylang gốc người dân tộc Banar có tên Việt Nam là La Mai Chững, một người nghiên cứu rất sâu sắc văn hóa Tây Nguyên.

Thời kỳ này ở Buôn Ma Thuột có phong trào khuyến khích người Thượng thay đổi tập quán ăn mặc giống như người ở đồng bằng, mặc quần áo thay vì quấn khố. Một buổi tối gặp tôi, vài người trong đoàn ca múa nói:

– Biểu bận quần thì tôi đờn không hay, chỉ khi bận khố tôi đờn mới hay.

Tôi đem chuyện này nói với anh Lưu Hữu Phước:

– Theo tôi, khuyến khích họ bận quần áo là một việc các bạn cho là tốt, nhưng riêng người nghệ sĩ nên để cho họ được thoải mái khi biểu diễn chớ không nên bó buộc họ.

Anh Phước thông cảm:

– Phải rồi, khi biểu diễn thì họ cứ ăn mặc tùy theo ý thích của mình.

Vì vậy lần đó các nhạc công đều bận khố trên sân khấu và quả nhiên họ biểu diễn rất hay.

Trong chuyến đi Tây Nguyên tôi được dịp thấy tận mắt, nghe tận tai, chụp rất nhiều ảnh màu các nhạc cụ, xiêm y và cảnh sinh hoạt của các đồng bào miền núi, làm phong phú thêm vốn hiểu biết của tôi về âm nhạc dân tộc.

Trở về Sài Gòn, có ba nơi hết sức đặc biệt, không liên quan gì đến chuyên môn của tôi nhưng lại gởi thơ tới Viện Nghiên cứu Âm nhạc đề nghị tôi đến nói chuyện. Đó là Trường Phục hồi nhân phẩm, nơi tập trung những người trước đây bán phấn buôn hương nay được đưa vào học nghề rồi sẽ được trở về xã hội để làm lại cuộc đời. Nơi thứ hai là Trung tâm cai nghiện ma túy và cuối cùng là Trại thanh niên phạm pháp ở Xuyên Mộc. Tôi đồng ý nhận lời tới nói chuyện tại cả ba nơi này.

Tám giờ sáng ngày 5/4/1978, xe của Viện Nghiên cứu Âm nhạc đưa tôi lên Thủ Đức, dự kiến tới nhà trường khoảng tám giờ rưỡi để nói chuyện đến 11 giờ. Nhưng dọc đường xe bị hư phải chờ sửa chữa, đến mười giờ rưỡi mới lên tới nơi. Lúc đó đã gần tới giờ cơm trưa, Ban giám hiệu bèn hỏi ý kiến các học viên nên chờ sau giờ cơm hay là nghe tôi nói chuyện ngay, mọi người yêu cầu nghe trước rồi ăn cơm sau.

Tôi nói chuyện về đề tài âm nhạc trong môt tiếng đồng hồ, sau đó một cô tên là Nguyễn Thị Kim thay mặt toàn thể học viên lên nói đôi lời. Cô mở đầu bằng câu:

– Thưa chú, cho phép cháu gọi là “chú” chớ không gọi là “giáo sư”, bởi vì giáo sư thì phải nói chuyện trong trường đại học hay trường âm nhạc, chớ hiếm có giáo sư nào chấp nhận tới những nơi như thế này. Đã đồng ý tới nơi đây nói chuyện phải là người nhân ái, vì vậy xin cho phép cháu được xưng hô như trong chỗ tình thân.

– Khi biết Ban giám hiệu gởi thơ mời chú tới trường, chị em ở đây không tin rằng chú nhận lời, vì vậy nghe tin chú sẽ đến đây chị em rất bất ngờ. Đến sáng nay chờ hoài không thấy chú lên thì cũng không ai ngạc nhiên vì nghĩ rằng mặc dầu chú nhận lời nhưng sau đó có thể viện lý do bận bịu này kia để không tới.

Đó cũng là lẽ thường tình và chị em ở đây cũng không lấy thế mà phật lòng. Do đó khi chú tới thật chị em rất lấy làm lạ. Đến khi nói chuyện thì chú đưa mọi người từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Chú không đề cập những chuyện xa xôi mà chỉ nói chuyện ngay trong đất nước Việt Nam, bằng lời lẽ mộc mạc quen thuộc của người dân Nam bộ.

Khi chú cất lên một câu hát ru, xin thưa thật với chú cháu đã nghẹn ngào chảy nước mắt, tưởng chừng như nghe lại tiếng mẹ mình ru con ngày xưa. Khi chú hò thật giống y như bà con anh em chúng cháu ở nhà quê cất giọng hò. Hơn 20 năm nay cháu chưa hề có dịp nghe lại lời ru giọng hò và câu chuyện chú nói nãy giờ đã đưa tụi cháu trở về quê hương nguồn cội.

– Hôm nay sau khi nghe chú nói chuyện, chị em nhờ cháu đại diện để nói lời cám ơn. Thưa chú, lời cám ơn suông không đủ mà phải cám ơn bằng hành động. Vì vậy cháu thay mặt chị em ở đây mà hứa rằng năm sau khi trở về nước chú sẽ không còn gặp chúng cháu tại nơi này nữa. Mỗi người trong chúng cháu sẽ cố gắng học cho được một nghề để rồi trở về sống cuộc đời bình thường trong xã hội: đó là cách mà chúng cháu cám ơn chú.

Tôi ngồi nghe mà chảy nước mắt, lòng xúc động không thể tả. Tôi không tưởng tượng được cô gái này có thể nói một cách suôn sẻ, mạch lạc, tự nhiên và chân tình đến như vậy. Tôi ra về lòng thấy ấm áp, hy vọng biết đâu trong số chị em nơi đây sẽ có nhiều người cùng một suy nghĩ như cô Kim, thực hiện lời đã hứa để khi trở về trong xã hội sẽ làm lại cuộc đời và quên đi một quá khứ không mấy tốt đẹp.

Sau khi ăn cơm tại nhà trường, một giờ trưa tôi đi tiếp đến Trung tâm cai nghiện ma túy. Các bác sĩ vui mừng đón tiếp, hướng dẫn tôi đi thăm bệnh nhân và giải thích cách điều trị đặc biệt theo phương pháp riêng khá hiệu nghiệm của Việt Nam.

Các anh nói vui rằng gọi là “phương pháp đặc biệt” không phải vì mình giỏi hơn người mà chỉ vì nghèo hơn người! Thông thường những nơi cai nghiện áp dụng phương pháp dùng thuốc đặc trị thay thế chất ma túy, giảm lần lần lượng thuốc sử dụng mỗi ngày để bệnh nhân khỏi bị “sốc”.

Nhưng lúc bấy giờ thuốc men rất thiếu thốn, Trung tâm buộc lòng phải cho bệnh nhân cai liền tức thì. Thật không có gì kinh khủng cho bằng khi lên cơn ghiền mà không có thuốc, người bệnh quằn quại, lâu lâu lại giựt bắn người, mồ hôi tuôn đầm đìa trông vô cùng thiểu não. Các bác sĩ nói:

– Chúng tôi chỉ có cách điều trị duy nhứt là châm cứu vào các huyệt để hạn chế bớt cơn ghiền đang hành hạ bệnh nhân. Ngoài ra chúng tôi áp dụng một phương cách mà có lẽ ít nơi nào làm, đó là dùng tình thương để xoa dịu. Chúng tôi ôm người bệnh vô lòng, lấy khăn lau mặt, nói những câu vỗ về: “Cố gắng đi em, rồi nó sẽ qua”. Cách làm này rất hiệu nghiệm, khi nghe những lời nói trìu mến, được sự vỗ về của bác sĩ, người bệnh đang vật vã mau chóng qua cơn.

Tại đây tôi cũng nói chuyện về âm nhạc, sau khi nghe xong các em đặt câu hỏi:

– Giáo sư ở bên Pháp chắc biết được cách người ta áp dụng để cai ma túy, nghe nói họ chỉ toàn sử dụng thuốc tây phải không?

Tôi thừa nhận đúng như vậy thì các em than phiền:

– Vậy mà ở đây trị toàn bằng cam thảo, rễ tranh, hà thủ ô, toàn các thứ lá với rễ cây không thôi, chẳng biết có hiệu nghiệm hay không!

Tôi trả lời:

– Nghe các em nói vậy tôi nhớ tới một chuyện khác. Khi ở bên Tây, có người bạn Pháp hỏi tôi: “Anh sống ở đây đã lâu, anh nhận xét thế nào về cách ăn uống của chúng tôi?”. Tôi trả lời rằng mỗi dân tộc có cách ăn khác nhau, tôi không dám phê bình cách ăn của người Pháp mà chỉ nói về cách ăn của người Việt Nam. Theo tôi người Việt Nam ăn một cách toàn diện, khoa học và dân chủ.

– Chúng tôi ăn trước hết bằng mắt, thức ăn phải bày biện cho đẹp. Thứ nhì là ăn bằng mũi, sử dụng những gia vị rất nồng như nước mắm, rau thơm, cà cuống, cho tỏa mùi thơm ngào ngạt. Thứ ba là chúng tôi ăn bằng xúc giác, thức ăn gắp bỏ vô miệng phải gồm nhiều dạng: dai dai của thịt, mềm mềm của bún, giòn rụm của bánh tráng, hoặc có thêm đậu phộng rang, hành ngò cho thơm. Cuối cùng thì tai phải nghe tiếng nhai giòn rụm, bẻ bánh tráng rốp rốp, húp sùm sụp, có vậy ăn mới thấy khoái. Đó chính là cách ăn toàn diện.

– Kế đến, tôi nói rằng người Việt Nam ăn một cách khoa học, bởi vì thông thường mặn là dương, chua và ngọt là âm, vì vậy nước mắm mặn nên phải pha thêm đường mà nấu chè thì phải dằn chút muối. Kho thịt, kho cá bao giờ cũng có bỏ đường, món nào chua thì chấm với muối.

Ngược lại, ở bên Pháp khi ăn bưởi chua các bạn lại cho thêm đường, tôi ăn không thấy ngon. Đường là âm mà bưởi chua cũng là âm thành ra “âm thịnh dương suy”, các bạn ăn như vậy có thể dễ bị bịnh hơn chúng tôi. (Thỉnh thoảng sau đó vài người bạn Pháp của tôi bắt chước cách ăn món chua bỏ vô chút muối và nói rằng cảm thấy ngon hơn).

Ngoài ra chúng tôi còn phân biệt nhiệt với hàn, cá trê, thịt vịt, cua đinh là món hàn phải ăn với nước mắm gừng là món nhiệt. Người Việt Nam không đưa ra nguyên tắc hay phương pháp nào trong ăn uống, nhưng nếu xem xét kỹ thì thấy rằng rất phù hợp với khoa học.

– Cuối cùng tôi cho là chúng tôi ăn dân chủ vì thức ăn dọn hết trên bàn, ai thích món gì ăn món nấy. Còn người Pháp thì, xin lỗi bạn, tôi không ưa món khoai tây tán mà nhiều khi đến nhà bạn bè dọn cho tôi một dĩa, nếu không ăn là bất lịch sự nên tôi bắt buộc phải ăn chớ không được quyền lựa. Trong khi đó nếu dọn ra hết trên bàn, món nào không ưa tôi không gắp, hạp khẩu vị thì gắp thêm.

Kể xong chuyện này tôi kết luận:

– Tôi nói như vậy để các em thấy rằng không phải cái gì phương Tây cũng hay hơn mình. Họ có cách điều trị của họ, còn mình trị theo điều kiện của mình. Vấn đề là xét xem những vị hà thủ ô, cam thảo mà chúng ta đang sử dụng ở đây có đem lại kết quả hay không? Các em nên so sánh tình trạng của mình lúc mới vào đây với hiện nay, sau một thời gian chữa trị, nếu thấy tiến bộ tức là thuốc có hiệu nghiệm. Không nhứt thiết phải có thuốc của phương Tây điều trị mới là tốt, chúng ta không nên vọng ngoại.

Mọi người cười vui, chấp nhận chữa trị bằng phương pháp dân tộc và nói rằng sẽ không mang nặng mặc cảm nữa. Trong buổi gặp gỡ này tôi chỉ thuật chuyện vui cho các em nghe chơi, kể chuyện ăn mà kỳ thật là nói về việc uống thuốc, đồng thời đề cập cả về con người và văn hóa Việt Nam, mong các em xóa bỏ được tự ti mặc cảm và tinh thần vọng ngoại.

Nơi cuối cùng tôi đến là Xuyên Mộc. Đường đi xa, vô sâu tận trong rừng. Tôi hình dung trại giam giữ thanh niên phạm pháp phải có lính gác phía trước, tường cao kiên cố, có rào kẽm gai, nên khi tới nơi tôi hơi ngỡ ngàng trước một không gian khác hẳn. Không có người gác ở cổng, vừa vô bên trong, thấy một thanh niên đang đi tới trên tay cầm dao mác tôi cũng hơi e ngại, nghĩ rằng hẳn người này đã từng giết người mặc dầu cậu vừa đi vừa hát nghêu ngao. Nhìn quanh tôi không thấy tường cao, hàng rào kẽm gai, chỉ có một sân khấu lộ thiên rất lớn ở chính giữa. Tôi hỏi sân khấu để làm gì thì được trả lời:

– Mỗi cuối tuần chúng tôi tổ chức văn nghệ, diễn kịch và hát cho nhau nghe tại đây. Thỉnh thoảng cũng mời những đoàn ca nhạc ở thành phố lên diễn cho mọi người xem.

Tôi vừa bất ngờ vừa bồi hồi xúc động. Một hồi chuông reng lên, mọi người tụ họp lại đón chào khách mới đến. Trước tiên, tôi được đưa đi thăm trại ở gồm nhiều gian nhà, mỗi gian dành cho mười người với chỗ ngủ riêng biệt, từng phòng tự cử ra một người chỉ huy. Nam nữ ở hai dãy riêng, bên dãy nữ thấy một cô da đen nhánh, tôi hỏi thăm mới biết cô là người Ấn Độ lai, vì phạm tội giết người nên bị đưa về đây.

Thấy một nhóm các em cầm dao mác đi ngoài sân, tôi thắc mắc và được cho biết các em đi trồng trọt, tự chăm bón đủ các loại rau trái để cung cấp cho bữa ăn hàng ngày, rồi còn đi đốn cây chặt lá trên rừng. Các em nói rằng lúc đầu mới lên đây cũng được canh giữ rất nghiêm ngặt. Sau một thời gian khi Ban quản giáo đã giải thích để các em hiểu việc đưa các em lên đây không phải để trừng phạt mà là cải hóa, rèn luyện cho các em một nếp sống khác, từ đó các em có thay đổi trong suy nghĩ mà kỷ luật trong trại cũng lần lần được nới lỏng. Tôi rất ngạc nhiên bởi từ trước tới nay chưa bao giờ thấy một trại giam như vậy. Các em nghe tôi nói chuyện âm nhạc mà vui cười rất thoải mái.

Được dịp tới nói chuyện ở những nơi đó tôi hết sức vui khi nghĩ rằng tiếng nói của mình không chỉ để dạy học trò hay đến với những ai tha thiết muốn học hỏi hoặc những người muốn tìm hiểu vì hiếu kỳ. Ngoài ra còn có những người tuy không quan tâm đến âm nhạc, nhưng khi được nghe lời ca tiếng nhạc cổ truyền êm ái và dịu dàng, tự nhiên tâm hồn họ trở về gắn bó với quê hương, với văn hóa của dân tộc.

Nghĩ lại tôi mới thấy lời nói chơi lâu nay của mình vậy mà thành thiệt. Tôi thường cho rằng mình không chỉ nói chuyện âm nhạc mà là “giảng đạo nhạc”, giúp người khác tìm ra một con đường đi: vì đạo chính là con đường chớ không phải chuyện gì cao xa. Tôi rất tự hào được làm một người giảng đạo nhạc. Nhờ những chuyến đi này mà tôi nghe được lời nói chân tình của cô Kim, giải tỏa được phần nào thắc mắc của các em đang cai nghiện ma túy về phương thuốc điều trị và nhận thức được nơi họ tới không phải là chốn rừng thiêng nước độc mà là nơi họ tìm thấy lẽ sống một cách xứng đáng trong cuộc đời.

Trở về Paris, đầu tháng 8 tôi lại tới thành phố Dresden (Đông Đức) dự cuộc gặp gỡ do Hội đồng Quốc tế Âm nhạc Dân gian tổ chức hội thảo về đề tài “Điệu thức trong âm nhạc”.

Sang tháng 9 tôi đại diện cho UNESCO qua Ấn Độ dự hội nghị tại tỉnh Hyderabad. Chuyến đi này tôi gặp rất nhiều rắc rối!

Trước đó bạn tôi là ông Menon đang giữ chức vụ Giám đốc Trung tâm Ca vũ nhạc Ấn Độ tại Bombay, mời tôi sau khi đến Hyderabad sẽ lưu nói chuyện tại Trung tâm của ông, sau đó sẽ giới thiệu âm nhạc Việt Nam trên Đài Truyền hình Bombay.

Máy bay của Hãng Hàng không Pháp (Air France) từ Paris đến Hyderabad phải ghé qua thủ đô Téhéran của Ba Tư để lấy nhiên liệu, sau đó quá cảnh tại New Delhi rồi tôi phải đổi đường bay, đi máy bay nội địa xuống tỉnh này. Nhưng khi máy bay vừa đáp xuống phi trường Téhéran thì bỗng nhiên phát cháy, tôi ngồi ngay cửa sổ nên nhìn thấy rõ ngọn lửa bùng lên ở chỗ bánh xe chạm đất. Cô tiếp viên hàng không trấn an mọi người:

– Xin quí vị đừng lo sợ, sẽ có xe chữa lửa tới ngay. Trong trường hợp nguy cấp hành khách sẽ được xuống bằng cửa thoát hiểm phía sau.

Tôi bình tĩnh lấy hành lý xách tay đầy đủ và chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để rời khỏi máy bay. Xe chữa lửa hú còi inh ỏi ào ào chạy tới và cuối cùng dập tắt được ngọn lửa. Cô tiếp viên hướng dẫn hành khách theo cửa sau rời khỏi phi cơ và yêu cầu mọi người nhận lại hành lý vì máy bay phải nằm lại đây để sửa chữa.

Năm đó ở Ba Tư nổ ra cuộc cách mạng Hồi giáo, ông Khomeini vừa lên cầm quyền nên việc kiểm soát tại phi trường rất chặt chẽ. Vì vậy vừa xuống sân bay tất cả hành khách phải nộp hộ chiếu và mỗi người được phát một con số. Tôi cảm thấy e ngại, một lần nữa lại bị “thu hồi hộ chiếu”. Tôi nghĩ mình giờ đây chỉ còn là một con số, trong lòng hết sức băn khoăn không biết liệu họ có giữ hộ chiếu kỹ lưỡng hay không?

Tới khi lấy hành lý thì thêm chuyện rắc rối: hai va li của tôi bị thất lạc! Tôi báo cho nhân viên tại phi trường Téhéran và được trả lời:

– Theo Luật quốc tế nếu ông đi tới nơi đây là trạm cuối mà hành lý bị thất lạc thì mới khai báo với chúng tôi. Trường hợp của ông máy bay chỉ ghé ngang đây để lấy xăng nên chúng tôi không nhận lời khai này. Tới New Delhi ông sẽ khai báo với hãng Air France tại nơi đó.

Vậy là tôi chỉ còn cái túi xách tay với hai cây đờn cò và đờn tranh. May mắn tôi đã cẩn thận để trong túi xách tay một ít tài liệu, tạm thời có thể sử dụng tuy không đầy đủ gồm bài tham luận tại Hyderabad, vài chục tấm hình màu để minh họa khi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam tại Bombay cùng với một số dây đờn tranh dự phòng. Ngồi chờ hồi lâu thì được thông báo việc sửa chữa máy bay sẽ phải mất hai ba ngày. Ngay lúc đó không có sẵn máy bay khác để đi tiếp nên hành khách được đưa về ở khách sạn do hãng máy bay đài thọ, chỉ có điều không được phép ra ngoài vì tình hình ở Téhéran chưa được ổn định.

Tôi phải lưu lại đây 24 giờ đồng hồ, hết sức nóng ruột vì sợ trễ ngày khai mạc hội nghị. Hôm sau phi trường Téhéran chuyển hành khách sang chuyến bay khác, nhưng vì không đủ chỗ nên họ xét giải quyết ưu tiên cho những người có công chuyện hết sức quan trọng. Tôi báo với nhân viên phi trường tôi cần đi sớm để dự hội nghị của UNESCO nhưng người này trả lời:

– Ông để từ từ chúng tôi xem xét, ai tới đây cũng nói có việc gấp đòi được ưu tiên hết.

Phải đợi tới khi bạn tôi, ông Ghotbi, giám đốc Đài Truyền hình Téhéran, đến can thiệp thì họ mới giải quyết cho tôi đi vào ngày hôm sau. Tôi tới New Delhi trên chuyến bay của Hãng Pan American, sau đó sẽ phải đổi máy bay nội địa để tới Hyderabad. Tới Delhi đã 11 giờ rưỡi khuya, coi lại cũng không có hai va li của mình, tôi yêu cầu Hãng Pan American chứng nhận việc tôi mất hành lý, nhưng nhân viên hãng này không chịu:

– Ông đi vé của Air France nên họ chịu trách nhiệm chớ không phải chúng tôi.

Tôi hỏi:

– Vậy thì văn phòng của Air France ở đâu?

– Bữa nay nhằm ngày nghỉ không có ai làm việc hết.

– Tôi đi trên máy bay của các ông do đó ông phải có phận sự ghi nhận việc này.

– Chúng tôi không gánh trách nhiệm của Air France.

– Nhưng ít nhứt ông phải chứng nhận là tôi đã mất hành lý sau khi xuống chuyến bay này. Có đền bù hay không là chuyện của Air France, phần ông chỉ ghi nhận việc tôi bị mất hành lý.

Nghe vậy họ mới chịu làm giấy. Khi hỏi thăm tôi biết được tới chiều hôm sau mới có máy bay đi Hyderabad. Lúc đó đã gần 12 giờ khuya, tôi yêu cầu Hãng Pan American:

– Tôi không thể ngồi ở phi trường suốt đêm nay, các ông phải giải quyết cho tôi vô ở tại khách sạn trong New Delhi và đài thọ cả tiền taxi cho tôi, đó là Luật quốc tế.

Nhưng hãng này không đồng ý:

– Đó là trách nhiệm của Air France chớ không phải của chúng tôi.

Còn đang cãi lý qua lại, chợt nhìn thấy văn phòng của Air France bật đèn sáng, tôi bèn qua gõ cửa, nhưng ở đó chỉ có người trực văn phòng, nghe tôi thuật chuyện ông ta nói:

– Việc này không thuộc trách nhiệm của tôi.

Tôi bực mình hỏi lại:

– Vậy là không ai chịu trách nhiệm hết phải không? Tôi sẽ viết một bức thơ về việc Hãng Hàng không Pháp không lo chu đáo cho hành khách khi chuyến bay bị trục trặc kỹ thuật.

Thấy tôi phản ứng mạnh người này bèn đồng ý giải quyết cho tôi về ở khách sạn Ashoka tại Delhi đồng thời cho vé đi taxi không tốn tiền. Qua việc này mới thấy may là tôi biết luật lệ quốc tế lại chịu khó đi tới đi lui, cãi qua cãi lại mới được giải quyết, chớ nếu không chắc là phải ngồi tại phi trường cho tới bữa sau.

Nhưng chuyện rắc rối tới đó chưa chấm dứt! Trong phòng ngủ của khách sạn quốc tế Ashoka không có bàn chải đánh răng cũng không có đồ cạo râu. Thường thì các khách sạn quốc tế đều có bán những thứ này nên tôi hỏi thăm để mua thì được trả lời:

– Tại đây sắp có nạn lụt nên toàn bộ đồ đạc của khách sạn được dời đi nơi khác. Khách chỉ ở tạm tại đây, ông phải lưu ý khi nào chúng tôi gọi điện thoại báo động là phải xuống ngay để được đưa đến vùng cao hơn, chỗ này thấp nước lụt tràn vô là chết.

Quả nhiên khi mở cửa sổ nhìn xuống đường tôi thấy mọi người gồng gánh khuân vác đồ đạc dời đi nơi khác. Tôi đành nằm đó chịu trận, ngủ chập chờn suốt đêm, sáng dậy không có bàn chải đánh răng cũng không cạo râu được. Ngoài đường mọi người vẫn ùn ùn kéo nhau chạy lụt, tình cảnh có vẻ nguy hiểm nhưng tôi không lo sợ bởi vì khách sạn đang có một số người lưu lại đây, lúc nguy cấp thế nào cũng có xe đưa mọi người di tản. May mắn không có chuyện gì xảy ra, sau khi ăn trưa, lúc 12 giờ xe đưa tôi trở lại phi trường. Tôi vẫn mặc bộ quần áo đi đường, tay xách hai cây đờn, xuống tới phi trường Hyderabad là gần 4 giờ chiều. Mấy người ra đón tôi rất vui mừng:

– Từ hôm qua tới nay chúng tôi lo quá, chỉ sợ ông không tới kịp thì không có ai đại diện cho UNESCO trong ngày bế mạc. Hiện hội nghị đang tới chương trình thảo luận, bây giờ đã là 4 giờ mà 5 giờ ông phải đọc tham luận nên chúng ta phải đi thẳng tới hội nghị.

– Nhưng hai ngày nay tôi chưa cạo râu cũng không đánh răng, tôi lại đang mặc bộ đồ đi đường chớ không phải quần áo dự hội nghị.

– Không sao, chuyện ông nói quan trọng hơn cách ông ăn mặc.

Không thể làm gì khác hơn, tôi đành đi ngay cho kịp giờ. Sau khi tôi đọc tham luận với đề tài “Ảnh hưởng tốt hay xấu của khoa học trong việc phát triển âm nhạc truyền thống”, nhiều đại biểu đặt câu hỏi và muốn gặp tôi khi hết giờ. Tan hội nghị tôi rất mừng, vội vã xin được trở về khách sạn ăn uống và quan trọng nhứt là đi mua ít đồ dùng cần thiết. Tới khách sạn lúc 7 giờ rưỡi tối, tôi hỏi nhân viên tiếp tân:

– Xin chỉ cho tôi chỗ mua bàn chải đánh răng, đồ cạo râu và áo quần.

– Rất tiếc hiện nay đang là tháng Ramadan, mùa chay của Hồi giáo, nên sau 7 giờ chiều mọi người chỉ đọc kinh thôi chớ không mua bán gì hết.

Vậy là tôi đành phải đi ngủ! Hôm sau dậy thật sớm, trước khi tới hội nghị tôi ghé mua được bàn chải với dao cạo. Còn quần áo thì mấy tiệm ở đây chỉ bán áo quần Ấn Độ, rốt cuộc tôi đành phải mua tạm vài sơ mi màu xanh đỏ vàng đặc trưng của người bổn xứ. Nhưng điều này không hề chi vì người Ấn Độ dự hội nghị rất đông, mọi người chỉ tưởng tôi lập dị không thích bận đồ tây thôi. Tôi lưu lại Hyderabad gần một tuần lễ, mặc đồ Ấn Độ, ăn cơm Ấn Độ và tham dự hội nghị.

Tôi cũng tới sân bay Hyderabad khai mất hành lý nhưng nơi đây không có văn phòng đại diện của hãng Hàng không Pháp nên đành bó tay. Sau khi hội nghị kết thúc tôi bay qua Bombay, việc đầu tiên là tới thẳng văn phòng của Air France. Họ cho biết:

– Theo qui định khi nào mất hành lý phải khai báo trong vòng 48 giờ đồng hồ. Đến nay đã hơn một tuần lễ rồi, chúng tôi rất khó kiểm tra xem hành lý của ông lạc đi đâu. Thôi bây giờ ông chịu khó làm đơn khiếu nại để chúng tôi chuyển về bên Pháp định liệu. Thơ trả lời cho ông cũng phải đợi hơn 10 ngày.

Không còn cách nào khác hơn, tôi phải làm giấy khiếu nại, khai tỉ mỉ đồ đạc trong hai va li bị lạc.

Tại Bombay tôi nói chuyện ở Trung tâm Ca vũ nhạc và sau đó là một buổi giới thiệu âm nhạc trên Đài truyền hình. Giảng tại Trung tâm, ăn mặc thế nào cũng được, nhưng nan giải nhứt là tôi không có quốc phục để mặc khi giới thiệu nhạc truyền thống Việt Nam trên truyền hình. Ông Menon bàn với tôi:

– Quần chúng thấy anh đờn nhạc cổ truyền Việt Nam mà bận âu phục loại đi đường sẽ không thích đâu. Tôi nghĩ ra cách này: con gái tôi dẫn anh ra chợ mua một áo lụa và cái quần kiểu nhạc sĩ Ấn Độ để anh mặc, rồi tôi có cách nói.

Con gái ông Menon mua cho tôi một áo lụa rất đẹp và một quần trắng kiểu Ấn Độ cùng với đôi dép da. Bữa đó ông Menon giới thiệu hết sức tuyệt vời:

– Tôi xin giới thiệu ông Trần Văn Khê là một giáo sư người Việt Nam sẽ biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam. Ông Trần Văn Khê sinh sống tại Pháp, là người đã từng giới thiệu âm nhạc Ấn Độ trong Bảo tàng viện Guimet ở Paris. Vì vậy khi ông đến đây các nhạc sĩ của chúng ta do quý cái tình của ông đã giới thiệu nhạc Ấn Độ nhiều nơi trên thế giới nên gởi tặng một bộ y phục nhạc sĩ Ấn Độ để làm kỷ niệm. Hôm nay, đáp lại sự ưu ái của các nhạc sĩ Ấn Độ, ông Trần Văn Khê mặc bộ đồ này và đờn nhạc Việt Nam cho các bạn nghe.

Thính giả có mặt tại Đài Truyền hình vỗ tay hoan nghinh. Tôi rất vui vì người bạn giới thiệu mình rất khéo và đã “chuyển bại thành thắng”. Tôi lưu lại đây vài ngày, được các bạn đưa đi xem nhiều cảnh đẹp trong thành phố. Khi họ trả thù lao, tôi nhận thấy Trung tâm Ca vũ nhạc trả cho tôi số tiền 100 roupies (một roupie gần bằng một franc của Pháp) như thường trả cho một giáo sư thỉnh giảng (vì tôi nói chuyện là chính, chỉ đờn minh họa vài bản) còn Đài Truyền hình trả cho tôi số tiền 300 roupies là mức thù lao dành cho nghệ sĩ (tôi biểu diễn đờn truyền thống kèm theo lời giải thích) nghĩa là tại đây thù lao của người nghệ sĩ gấp ba lần tiền lương người giáo sư.

Đó cũng là một chuyện làm tôi suy nghĩ. Bên Pháp thì lương giáo sư lớn hơn người giới thiệu nhạc cổ điển, nhưng lương người giới thiệu nhạc cổ điển thua người giới thiệu nhạc trẻ có khi đến năm sáu lần. Việc đánh giá về công việc làm của một người trong xã hội phần nhiều không định theo giá trị của công việc mà người ta thường đánh giá qua mức thu hút và sức hấp dẫn đối với quần chúng.

Rõ ràng âm nhạc ngày nay không còn là môn nghệ thuật để mọi người toàn tâm toàn ý phụng sự mà đã biến thành mọt món hàng để người ta mua bán. Món hàng nào ăn khách thì giá cao, còn món hàng nào bán không chạy thì giá thấp. Nhận ra điều này tôi cảm thấy hơi buồn, nhưng dĩ nhiên đành phải chấp nhận vì đó là một điều không thể thay đổi được.

Sau chuyến đi Hyderabad trở về Pháp, 6 tháng sau hãng Air France báo cho tôi hay họ đã tìm thấy hành lý của tôi ở… Hongkong. Tôi nhận lại hai chiếc va li còn y nguyên, không mất một món đồ nào, với lời xin lỗi của Air France.

Chuyến đi này quả thật quá rắc rối. Nhưng tôi luôn được cái may là lúc nào cũng “tiền hung hậu kiết”, sau cùng thì mọi việc đâu cũng vào đó.

Trở về Việt Nam năm 1978, tôi ẵm được đứa cháu đích tôn đầu tiên là Trần Tri Hòa, tôi đặt tên này để tưởng nhớ đến cậu Năm Nguyễn Tri Khương. Mỗi năm tôi về nước đám cháu nội ngoại lớn lên lần lần, đứa nào cũng quấn quýt tôi và giành nhau nằm gần ông.

Buổi chiều đi học về đám cháu tập trung tới khách sạn để tối ngủ chung với tôi, Diễm Tiên hồi nhỏ đeo ông ngoại không thể tưởng được nhưng khi lớn biết nhường các em, chịu cho Cẩm Thy và Đào Tiên nằm hai bên tôi, Tri Hòa nằm dưới chân.

Tối tối tôi kể chuyện đời xưa cho mấy cháu nghe, tới đoạn gay cấn hồi hộp nhứt thì ngưng lại hẹn hôm sau kể tiếp. Tụi nhỏ xuýt xoa tiếc rẻ, nôn nóng chờ mau tới ngày mai để nghe đoạn kết. Tôi cưng chiều nhưng cũng nghiêm khắc với các cháu, hễ đứa nào không ngoan thì phạt không cho nghe kể chuyện đời xưa, kể ra đó là một hình phạt hết sức nặng nề đối với chúng nó. Tuy về nước chủ yếu là để nghiên cứu nhưng tôi cũng ấm lòng nhờ sống trong tình thương của các con các cháu.

Sau Việt Nam tôi đi Ba Lan dự nhạc hội với đề tài “Gặp gỡ Đông Tây” tổ chức ở làng Bydgoszcz. Người đón tôi tại phi trường là bà Zeranska, giáo sư phụ tá tại trường Đại học Varsovie do bà đại giáo sư Czcekanoska cử đi. Bà chào tôi và nói:

– Bà Czcekanoska nhờ tôi làm thông dịch cho giáo sư. Tôi cũng nghiên cứu về Shashmakom, một điệu thức vùng Tashkent (Liên Xô) nên nhân dịp này sẽ trao đổi với giáo sư thêm về chuyên môn.

Quả là tôi gặp may, bỗng nhiên có được một người thông dịch vừa đẹp, vừa lo lắng cho tôi chu đáo, nói thông thạo tiếng Pháp, lại có thể bàn chuyện về âm nhạc với nhau. Nhân dịp này bà Czcekanoska mời tôi sau nhạc hội ghé qua Varsovie giảng tại trường đại học của bà một buổi về âm nhạc Việt Nam.

Tiếp đó tôi được Nhạc viện ở Genève (Thuỵ Sĩ) mời qua thuyết trình về nhạc truyền thống Việt Nam có giáo sư Baud Bovy giới thiệu. Ngoài ra còn một buổi nói chuyện trên đài phát thanh của thành phố này. Người tiếp tôi tại đây là Laurent Aubert, về sau chúng tôi còn nhiều dịp liên hệ với nhau. Lần đó tôi rất xúc động khi được ông mời ăn tối và nói rằng:

– Tôi thú vị mời được ông tới nhà chúng tôi ăn cơm. Năm tôi sanh ra đời, cha tôi mua mấy trăm chai rượu cất trong hầm rượu của gia đình, dặn tôi sau này khi nào có khách quý tới nhà thì đem ra đãi. Hôm nay tôi hân hạnh mời ông uống chai rượu cha tôi mua vào đúng năm sanh của tôi.

Đêm đó tôi uống ly rượu thấy rất ngon vì hưởng được cả cái tình của người có lòng quí mến mình.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

Kỳ 9: Một chuyến đi Bắc Triều Tiên
GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150628/hoi-ky-tran-van-khe-ky-8-nhung-cuoc-tao-ngo-thu-vi/767433.html

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 7 – Quy cố hương


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 7 – Quy cố hương

28/06/2015 11:03 GMT+7

TTO – Năm 1976 đánh dấu một sự kiện hết sức quan trọng trong đời tôi: lần đầu tiên sau hơn một phần tư thế kỷ lìa xa đất nước tôi được “về” quê hương chớ không phải “ghé” như hồi năm 1974.

Jpeg
Jpeg

GS Trần Văn Khê thăm trường Vĩnh Kim vào năm 1976 – Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình>> Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

Năm 1974 tôi về nước bằng giấy thông hành của Chánh phủ miền Nam nhưng chỉ được phép “quá cảnh”. Sau ngày 30/4/1975 giấy này không còn giá trị. Cơ quan thẩm quyền ở Pháp kêu tôi lên hỏi có muốn xin gia nhập quốc tịch Pháp hay không, nhưng tôi xin đổi qua hộ chiếu của nước Việt Nam.

Biết rằng chuyến về nước lần này phải làm nhiều việc nên trước khi đi tôi chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Việc đầu tiên là lãnh nhiệm vụ mà UNESCO giao phó, trước đó rất lâu một viên chức cao cấp mời tôi lên nói rằng:

– Gần 25 năm nay trong chương trình của UNESCO chưa hề có ghi âm được một bản nhạc truyền thống miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi không rõ ở miền Bắc có những loại nhạc truyền thống nào và hiện nay có thể còn ghi lại được không?

Tôi trả lời trong dân gian có quan họ, trên sân khấu có hát chèo còn nhạc thính phòng có ca trù. UNESCO đề nghị nếu tôi ghi âm được thì họ sẽ xuất bản vài dĩa hát đặc biệt về âm nhạc Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh.

Tiếp đó ông Alain Daniélou cũng bàn với tôi:

– Nếu anh có thể ghi âm được những loại nhạc truyền thống chánh cống của miền Bắc Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng đài thọ tiền chuyến đi và cho anh mượn băng từ, kể cả máy thu âm, nhưng anh phải mang về cho chúng tôi hai bản gốc để làm dĩa hát.

Số tiền tài trợ chẳng phải là nhiều, chỉ đủ mua vé máy bay khứ hồi và tiền ăn ở tối thiểu, nhưng được vậy đã là may. Tôi nhận lời và hứa sẽ cố gắng thực hiện.

Cùng lúc đó Trung tâm CNRS nơi tôi đang làm việc cũng cho biết:

– Đất nước anh mới thống nhứt, tuy chúng tôi chưa liên hệ được để tìm hiểu về văn hóa Việt Nam, nhưng trong tương lai sẽ có một chương trình lớn gọi là “Trao đổi của hai nước Pháp và Việt Nam giữa những nhà nghiên cứu và những giáo sư nhạc học”. Nay anh về nước, coi như người đi tiên phong để tìm hiểu xem một cuộc trao đổi như vậy có thể thực hiện được hay không? Sau đó chúng tôi sẽ gởi văn bản chính thức. Trong thời gian này, Trung tâm cho phép anh vắng mặt hai tháng được hưởng lương.

Đây là một điều kiện vô cùng thuận lợi, vì thông thường trước mỗi chuyến đi tôi phải làm đơn xin phép, nói rõ mình đi đâu, làm gì, việc làm đó mang lại lợi ích nào cho chương trình nghiên cứu âm nhạc của tôi, rồi phải chờ có khi mấy tuần sau mới được trả lời.

Nay bỗng nhiên tôi được một lúc ba điều kiện thuận lợi: UNESCO bằng lòng làm dĩa hát, Viện nghiên cứu Tây Bá Linh đài thọ tiền, CNRS cho phép dễ dàng.

Nhưng đó chỉ mới là phần bên Pháp, còn xin về nước được hay không lại là chuyện khác. Tôi gởi thơ về Hà Nội cho anh Đỗ Nhuận, Tổng thơ ký Hội nhạc sĩ Việt Nam, nhờ anh thăm dò thử trong nước có bằng lòng cho tôi về hay không? Sau đó tôi nhận được thơ của anh trả lời: “Rất may là tôi nói ra thì ai cũng đồng ý, nhưng bên này nghèo, anh muốn về phải tự lo chớ chánh phủ không đài thọ tiền máy bay được.”

Điều đó tôi đã dự trù rồi. Anh Đỗ Nhuận hỏi tôi có những yêu cầu gì, tôi cho biết muốn được gặp các nhạc sĩ trong nước, tìm hiểu sanh hoạt âm nhạc từ trước tới nay và xin được ghi âm quan họ, hát chèo, ca trù để làm một loạt dĩa cho UNESCO giới thiệu với các nước trên thế giới.

Phía Hội nhạc sĩ đề nghị tôi nói chuyện về việc nghiên cứu âm nhạc Việt Nam bên phương Tây, đồng thời nhắc nhở tôi phải mang theo thuốc men, phim ảnh màu và máy móc cần dùng chớ trong nước lúc đó còn thiếu thốn nhiều phương tiện.

Vậy là tháng 3 năm 1976, tôi chánh thức trở về nước với tư cách là khách mời của Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Lúc bấy giờ từ Paris muốn về Việt Nam phải đi máy bay của Ba Lan qua Đông Bá Linh, đợi vài ngày có chuyến bay từ Đông Đức qua Moscow, ở lại đây một đêm rồi mới đáp máy bay của Hãng hàng không Liên Xô về Việt Nam.

Ngồi trên máy bay lòng tôi bồi hồi không thể tả. Thắm thoát mà đã hơn 30 năm tôi mới trở về Hà Nội, kể từ ngày tôi nghỉ học trường Thuốc để trở về miền Nam năm 1944.

Máy bay vừa đáp xuống, cô tiếp viên hàng không người Nga thông báo:

– Yêu cầu hành khách ngồi yên cho tới khi nào công an cho phép mới được xuống máy bay.

Nghe vậy tôi hơi hồi hộp vì từ nhiều năm nay vẫn thường xuyên đi máy bay mà không hề gặp cảnh này. Mấy người công an bước lên nhìn khắp lượt hành khách với vẻ mặt vừa quan sát vừa soi mói chớ không phải là cái nhìn chào hỏi thân thiện. Sau đó họ đem một giỏ mây lớn để giữa khoang hành khách và nói dõng dạc:

– Thu hồi hộ chiếu!

Tôi lo lắng thật sự, nghĩ rằng nếu hộ chiếu bị thu hồi thì mình không còn giấy tờ gì hết, rồi phải xoay xở ra sao? Lần lượt mỗi hành khách tự cầm hộ chiếu của mình bỏ vô giỏ, tôi cũng làm như mọi người, liệng tấm hộ chiếu mà có cảm giác lý lịch của mình bây giờ tiêu hết rồi, lỡ có bị bắt cũng chẳng ai biết tôi là ai!

Bước xuống máy bay tôi báo “hung tin” với anh Đỗ Nhuận và anh Hoán:

– Hộ chiếu của tôi bị thu hồi rồi!

Anh Đỗ Nhuận trấn an:

– Công an chỉ thu hồi hộ chiếu của người Việt Nam đi ra nước ngoài trở về, còn anh ở nước ngoài tới đây thì sẽ được trả lại.

May thời họ trả lại hộ chiếu cho tôi ngay. Tới hải quan lại thêm một chuyện bất ngờ: tôi phải khai rõ đem về bao nhiêu tiền và lấy tiền ra trình cho họ kiểm từng tờ. Tôi được cho biết trong thời gian lưu lại Việt Nam bất cứ chi tiêu gì cũng phải có hóa đơn và phải giữ đầy đủ để khai báo khi rời khỏi đây, sao cho khớp với số tiền khi đem vô mới được. Việc này tôi cũng mới gặp lần đầu nên cảm thấy hơi hoang mang!

Máy bay đáp xuống phi trường quân sự Vĩnh Phú (Đa Phúc) cách Hà Nội hơn 40 cây số, vì phi trường Gia Lâm đang được trùng tu. Nhờ vậy mà trên đường từ Vĩnh Phú về Hà Nội tôi được dịp đi ngang qua vùng nông thôn, nhìn thấy tận mắt những hố bom to tướng, những chiến hào dọc theo đường lộ. Qua cầu sông Đuống thấy một bên cầu nổi, một bên cầu treo, dọc hai bên đường là những bức tường nhà bị đổ nát. Tôi vô cùng xúc động khi nhìn thấy những căn nhà nhỏ, quán cóc cần thiết cho nhu cầu hàng ngày của đồng bào sơ tán trong thời kỳ chiến tranh trước đây.

Tôi giống như đứa con đi xa, nghe tin mẹ ốm đau, nhà bị cướp bóc, lòng buồn nhưng không hình dung được cái đau đớn của mẹ, cái tang thương trong gia đình. Đến khi trở về tận mắt nhìn thấy những vết thẹo trên mình mẹ, chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát thì không sao dằn được nỗi đau trong lòng.

Trong suốt một tiếng đồng hồ, tôi giương mắt ra để “chụp” lại những lũy tre xanh vẫn còn đó như ngày xưa, vài con trâu nhơi cỏ bên bờ ruộng, những nông dân đang cấy lúa trên đồng. Tôi nhận thấy máy bơm nước thay cho chiếc gàu sòng, tà áo tơi của chị nông dân nay là tấm ni lông màu xanh da trời chớ không phải bằng lá màu nâu như ngày trước: vài nét hiện đại trên cảnh cũ muôn đời. Vẫn còn cảnh chợ chiều chen chúc kẻ bán người mua, cảnh bà lão quạt lửa đun trà trong quán cóc vách tre nóc lá, anh thợ sửa xe đạp lom khom vá ruột bánh xe (miền Bắc gọi là “săm”). Cảnh thanh bình ấy không xóa được dấu vết chiến tranh như nhiều nhịp cầu bắc ngang sông Hồng đã bị mất cả nóc.

Tiếp tôi tại Hội Nhạc sĩ, anh Đỗ Nhuận đưa ra tờ lịch làm việc với thời gian đã được sắp xếp tỉ mỉ từng ngày, chẳng hạn như:

– 2/3: đón tại sân bay; 3/3: nghỉ ngơi; 4/3: gặp Ban thường vụ Hội nhạc sĩ; …; 14/3: đi chùa Hương; 15/3: đi Hạ Long; 16/3: đi Hải Phòng; …; 18-26/3: đi Sài Gòn; …; 1/4: nghỉ ngơi; 2/4: tiễn về nước.

Tôi coi kỹ chương trình thấy chỉ được nghe quan họ, hát chèo và ca trù mỗi bộ môn 1 ngày, trong khi đó lại đi rừng Cúc Phương 2 ngày, vịnh Hạ Long 3 ngày. Tôi ngần ngại xin anh Đỗ Nhuận thay đổi chương trình, vì Hạ Long tôi đã đi nhiều lần, còn rừng Cúc Phương tuy biết là đẹp lắm nhưng vì thời gian về đây quá ngắn ngủi nên tôi thích làm việc hơn đi chơi.

Tôi đề nghị được gặp quan họ 3 ngày, đoàn chèo ít nhứt 2 ngày, riêng ca trù tôi mong muốn gặp nhiều lần vì còn biết rất ít về bộ môn này nên cần tìm hiểu kỹ trước khi ghi âm. Điều làm tôi rất mừng là anh Đỗ Nhuận chấp nhận sửa chương trình theo ý tôi.

Về nước mới được 3 ngày tôi lại bị công an mời về đồn! Hôm đó tôi cầm máy ảnh đi một vòng thăm phố phường Hà Nội. Anh Đỗ Nhuận đã dặn dò kỹ lưỡng không được chụp hình phi trường, cơ quan nhà nước, trại lính.

Tôi cũng ghi nhớ lời anh dặn, nhưng trên đường đi tình cờ nhìn thấy căn nhà có gắn bảng tên Đông Viên, tôi mừng quá liền chụp hình vì đây là nhà ông cụ thân sinh của anh Phạm Gia Huỳnh bạn tôi. Trước khi tôi về nước cụ đã ân cần dặn dò nếu gặp được căn nhà xưa thì nhớ chụp hình đem về để ông được nhìn lại ngôi nhà cũ của mình. Tôi vừa chụp xong thì một người công an tới đòi tịch thâu máy ảnh. Anh nghiêm giọng hỏi tôi:

– Anh có giấy phép chụp ảnh không?

– Tôi là khách mời của Hội nhạc sĩ. Tôi chỉ chụp hình một căn nhà thường sao lại phải cần giấy phép?

– Đây là nhà tập thể, anh chụp để làm gì? Mời anh về cơ quan làm việc.

Thế là tôi phải ngoan ngoãn theo anh công an về đồn. Tại đây họ lại đòi tịch thâu cuộn phim, tôi không đồng ý và yêu cầu được gọi điện thoại liên lạc với Hội nhạc sĩ. Anh Đỗ Nhuận vội vã chạy tới, đứng ra bảo đảm mọi hành vi của tôi. Nhờ vậy mà tôi được tha, lại một phen hết hồn!

Tại Hà Nội lần này tôi được gặp nhiều văn nghệ sĩ như anh Nguyễn Văn Thương, anh Văn Chung, anh Tô Vũ, anh Chế Lan Viên, anh Cù Huy Cận, anh Nguyễn Đình Thi.

Anh Tố Hữu, trong một buổi gặp gỡ có cả các anh Cù Huy Cận, Đỗ Nhuận, Bảo Định Giang, sau khi hỏi han về công việc đã phong cho tôi chức… “đại sứ lưu động” về văn hóa. Anh cười nói:

– Chúng ta phải cung cấp phương tiện cho “đại sứ lưu động” giới thiệu âm nhạc của Việt Nam với người nước ngoài, đồng thời được dịp về nước để nói lại cho chúng ta biết những tiến bộ của nước ngoài về mặt nghiên cứu và sáng tác âm nhạc.

Anh Đỗ Nhuận tổ chức buổi biểu diễn ca trù đặc biệt dành cho tôi. Hôm đó, những nghệ nhân hàng đầu của ca trù lúc bấy giờ như bà Quách Thị Hồ và bà Phúc lúc đầu không thích hát, vì nghĩ rằng tôi bên Pháp về có biết gì về ca trù đâu.

Sau khi gặp mặt, biết tôi đã từng nghe ca trù qua dĩa hát và muốn tìm hiểu thêm để có thể ghi âm làm dĩa hát, hai bà bèn hát rất nhiều bài xưa và nay, đồng thời xúc động nói rằng ít khi được dịp hát những bài như thế này, kể cả bài rất xưa như Hồng Hồng Tuyết Tuyết. Nhưng khi bàn tới chuyện ghi âm, anh Đỗ Nhuận khuyên tôi nên ghi thêm một bài mới của anh Chu Hà là Xuân Rồng có lời ca nói về chủ nghĩa xã hội.

Thật ra tôi chỉ muốn ghi âm toàn bài ca cổ, nhưng tôi ý thức rõ rằng nếu cứ làm việc theo nguyên tắc cứng nhắc sẽ không thành công, vì vậy tôi đồng ý ghi âm bài hát mới cùng với những bài xưa. Vả lại bài hát của anh Chu Hà viết đủ khổ, lời hay, ý đẹp, được bà Quách Thị Hồ trình bày tuyệt vời, nhả chữ đổ hột rất nhuyễn, tiếng phách giòn tan.

Về việc ghi âm hát chèo lại có một số ý kiến muốn đưa ra những nghệ sĩ trẻ để lên ảnh bìa dĩa cho đẹp. Tôi trình bày:

– Các cô này trẻ tuổi nên còn có dịp ghi âm được. Những người như bác Năm Ngũ, bác Phẩm, bác Minh Lý đều là các cụ cao niên. Tôi ghi âm lần này cũng như chụp một tấm ảnh bằng âm thanh để kỷ niệm, giữ được tiếng hát vừa chân phương vừa đúng theo lề lối, có thể làm khuôn mẫu để lại cho sau này, do đó tôi xin phép chỉ ghi âm giọng hát của các cụ.

Quan điểm của tôi cũng lọt vào tai nhiều người có thẩm quyền nên cuối cùng tôi được làm theo ý mình.

Nhưng anh Đỗ Nhuận cho biết tôi chỉ được phép ghi âm để làm dĩa hát sau khi có sự đồng ý của anh Tố Hữu là người trong Ban Tuyên huấn chịu trách nhiệm về văn hóa. Sở dĩ có khó khăn như vậy vì lúc đó Việt Nam chưa gia nhập UNESCO nên trong nước có thành kiến là UNESCO chỉ quan hệ với các nước tư bản chớ chưa tin tưởng đó là cơ quan có thể liên hệ mật thiết hay ủng hộ cho các nước không phải tư bản. Anh Đỗ Nhuận nói với tôi:

– Chừng nào anh Lành (anh Tố Hữu) bạt đèn xanh mình mới làm được.

Tuy nhiên, tôi hỏi mấy lần về việc này mà anh Tố Hữu vẫn không trả lời, mỗi khi tôi hỏi anh lại tìm cách nói lãng qua chuyện khác. Tôi thắc mắc về thuật lại với anh Đỗ Nhuận:

– Tôi đã hỏi anh Tố Hữu ba lần rồi nhưng lần nào anh cũng nói qua chuyện khác chớ không trả lời. Tôi không hiểu như vậy là cho hay không cho phép?

Anh Đỗ Nhuận trả lời:

– Như thế là “treo” đấy, nhưng vẫn còn hy vọng.

Trong thời gian chờ đợi vào Nam, anh Đỗ Nhuận sắp đặt cho tôi gặp Đoàn Ca múa dân tộc, Viện Nghiên cứu Âm nhạc, Nhà hát Giao hưởng.

Ngày 18/3 anh Hồ Bông ra tận Hà Nội đón tôi vào Sài Gòn, chương trình trong Nam do anh Lưu Hữu Phước lo liệu và cũng đã được định sẵn từ trước.

Tại Sài Gòn, tôi ở nhà anh bạn thân Huỳnh Văn Tiểng, lúc đó là Giám đốc Đài truyền hình. Anh Hồ Bông có chiếc xe hơi riêng, sau ngày giải phóng anh đem tặng cho Bộ Văn hóa trong miền Nam. Hàng ngày anh đưa tôi đi khắp nơi bằng xe này. Ngồi trên xe tôi thấy có cây súng bèn hỏi: “Có chuyện gì mà phải đem theo súng vậy?”. Anh nói: “Không có chuyện gì cả. Nhưng anh là khách quốc tế nên tôi phải bảo vệ anh”.

Dịp này anh Lưu Hữu Phước đưa tôi về Vĩnh Kim thăm gia đình, gặp lại họ hàng bà con. Tôi được ngủ một đêm tại Vĩnh Kim trong nhà anh Ba Thuận, con trai thứ ba của cậu Năm Khương. Hai anh em thức trắng đêm cùng nhau nhắc lại hết chuyện nọ đến chuyện kia. Trước khi rời Vĩnh Kim anh Ba Thuận đãi tôi món canh chua rất ngon mà anh đặt tên là “canh chua cầu Bà Lung”, tên chiếc cầu sắt gần nhà anh.

Trở về Sài Gòn, các bạn tổ chức cho tôi một buổi nói chuyện về âm nhạc dân tộc và ngâm thơ trên Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh. Tôi được yêu cầu phải đưa bài viết sẵn để duyệt trước khi đọc, nhưng tôi lại không bao giờ đọc trong những buổi nói chuyện như vậy. Tôi cho rằng dẫu đọc hết sức trôi chảy cũng chỉ là việc lặp lại những điều đã ghi nên không còn tự nhiên. Vì vậy tôi đề nghị ghi âm ghi hình buổi tôi ứng khẩu nói chuyện, sau đó Đài sẽ duyệt lại, chỗ nào không được cứ việc cắt bỏ.

Trong buổi gặp gỡ với các nghệ sĩ, không thấy cô Bảy Phùng Há, tôi ngỏ ý muốn gặp mặt thì được biết cô đang bệnh nhưng Ban tổ chức cũng nhiệt tình đem xe đón cô tới. Khi gặp nhau cô Bảy Phùng Há ôm tôi mà rưng rưng nước mắt.

Dự định lưu lại Sài Gòn 8 ngày, nhưng đến ngày thứ năm tôi nhận được điện tín của anh Đỗ Nhuận:

– Anh trở ra Hà Nội gấp, “đèn xanh đã bạt rồi”.

Đọc câu đó tôi hiểu anh Tố Hữu đã cho phép ghi âm làm dĩa hát. Tôi nói với anh Lưu Hữu Phước chuyện này rất quan trọng nên phải trở ra Hà Nội ngay.

Cuối cùng tôi cũng được phép ghi âm nên vui mừng không thể tưởng tượng được. Không chỉ riêng tôi mà những nghệ nhân hát ca trù cũng vô cùng phấn khởi khi nghe báo tin vui.

Tới đây lại gặp một trở ngại lớn vì cả Hà Nội không có một phòng cách âm nào. Duy nhứt đài truyền hình và đài phát thanh có phòng ghi âm rất tốt, nhưng anh Đỗ Nhuận cho biết hai nơi này không cho thuê mà cũng không cho mượn. Tôi thử ghi âm ở Hội Nhạc sĩ nhưng không ổn vì bị quá nhiều tạp âm. Vậy là đành thúc thủ, tôi bối rối không biết giải quyết ra sao.

Thời may sau đó Đài Tiếng nói Việt Nam mời tôi nói chuyện hai buổi về âm nhạc truyền thống. Sau khi thâu xong các anh nói:

– Theo thông lệ, bất cứ ai thu thanh cho Đài cũng được thù lao, chúng tôi mời anh nói chuyện là có trả tiền. Nhưng vì khoản tiền này qui ra đồng franc không được bao nhiêu nên chúng tôi định dùng để mua một bức tranh sơn mài biếu anh.

Tôi từ chối:

– Tranh sơn mài nặng lắm tôi không mang về được.

– Vậy anh thích món gì?

– Nếu có thể được xin các anh cho tôi ghi âm ba buổi tại Đài, mỗi buổi bốn tiếng đồng hồ.

– Chuyện đó thì có thể được.

Nghe tôi báo tin, anh Đỗ Nhuận cho rằng đây là chuyện hi hữu! Nhưng rồi lại thêm một khó khăn khác, các đoàn hát chèo và quan họ đều ở xa, muốn mời về Hà Nội ghi âm phải đài thọ tiền xe, tiền ăn ở.

Chúng tôi còn đang tính toán bỗng nhiên anh Hà Huy Giáp, Thứ trưởng Bộ Văn hóa lúc bấy giờ, tới gặp cho biết anh Tố Hữu có yêu cầu Bộ Văn hóa giúp đỡ tôi trong việc ghi âm. Anh Hà Huy Giáp nhiệt tình nói:

– Chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ anh, sẽ soạn thảo công văn, liên hệ với các nơi, có lẽ mất khoảng hai tháng.

Tôi thất vọng:

– Chỉ còn mười ngày nữa tôi trở về Pháp rồi!

Thế là anh Hà Huy Giáp cũng không thể giúp gì được. Tôi bèn nhờ anh Đỗ Nhuận tính toán giùm toàn bộ chi phí là bao nhiêu? Lúc bấy giờ một đồng franc chỉ đổi được năm hào tiền miền Bắc, tất cả phí tổn tính ra là khoảng 5.700 franc, một khoản tiền khá lớn. Tôi vét hết tiền của mình cộng với tiền của Viện nghiên cứu tại Tây Bá Linh thì vừa đủ, liền nói với anh Đỗ Nhuận:

– Thôi đừng chờ đợi nữa mà lỡ việc. Tôi bỏ tiền túi ra làm việc này, tôi có sẵn máy móc ghi âm, băng từ cũng của tôi, kể cả phòng cách âm của đài phát thanh vì người ta cho mượn để trả công tôi thâu thanh.

Anh Đỗ Nhuận lại còn lo không biết ngân hàng có giải quyết nhanh chóng cho việc đổi một số tiền lớn như vậy hay không? May mắn tuy ngân hàng không biết tôi là ai nhưng nghe việc tôi làm người ta thích nên sẵn sàng tiến hành thủ tục giấy tờ thiệt mau, ngay hôm sau tôi có đủ tiền trang trải mọi phí tổn.

Anh Đỗ Nhuận mừng lắm và sốt sắng cho xe đi đón các đoàn. Khi trả tiền thù lao cho mọi người anh nói:

– Thù lao này chưa xứng đáng đối với công sức và tài nghệ các cụ, nhưng công việc chúng ta làm đây không phải để kiếm tiền mà chủ yếu ta giới thiệu âm nhạc Việt Nam ra thế giới.

Mọi người đều vui vẻ chấp nhận. Quả thật việc chúng tôi làm không phải nhắm vào thương mãi và doanh thu mà cốt làm cho chương trình của UNESCO. Tổ chức này bỏ tiền ra mua 400 dĩa gởi đi khắp nơi trên thế giới, do đó hai dĩa hát này có mặt ở các trường đại học bên Mỹ và những nhà văn hóa lớn bên Pháp. Một dĩa gồm một mặt là quan họ, mặt kia là ca trù, dĩa thứ hai là hát chèo.

Đối với tôi đó là những tư liệu rất quý giá, nhứt là dĩa ca trù ghi âm những người như bà Quách Thị Hồ, anh Đinh Khắc Ban, cụ Trúc Hiền… Tất cả nay đã thành người thiên cổ, nhưng chúng ta vẫn còn giữ được một tấm ảnh kỷ niệm bằng âm thanh, ghi lại tiếng hát lề lối, chân phương, mẫu mực.

Thực hiện xong những dĩa ấy, tôi nghĩ lại mới thấy mình đã vô cùng may mắn vì việc làm này đòi hỏi rất nhiều điều kiện. Thế mà bao nhiêu chuyện tình cờ đã hội đủ cho tôi mọi thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần, mà nhứt là có UNESCO đứng ra yểm trợ. Dĩa hát do UNESCO thực hiện và gởi tới các nơi tất nhiên sẽ được đón nhận trân trọng hơn là do cá nhân tôi đưa vào.

Do dĩa hát có giá trị, nên sau đó UNESCO đã in ra thành dĩa CD để phổ biến, quyền tác giả thuộc về UNESCO vì trước đây khi giao dĩa hát tôi đồng ý nhượng quyền cho UNESCO, chỉ nhận tiền tác quyền một lần là 1.500 đô la. Tôi tự coi là người trung gian giữa UNESCO với Hội nhạc sĩ ở miền Bắc và Viện nghiên cứu âm nhạc trong Nam, số tiền bản quyền tác giả ấy tôi chia đều cho hai hội này, bản thân tôi không nhận đồng nào.

Thế nhưng sau này thỉnh thoảng về nước tôi nghe có người nói:

– Anh Khê cho mình ít trăm đô la chớ ảnh nhận cả triệu đô la.

Tôi nghe vậy vừa buồn cười vừa cảm thấy chua chát nên có lần đã nói với vài người: “Tôi là nhạc sĩ nên rất quí bàn tay của mình. Tôi lấy bàn tay của tôi ra đánh cá: nếu ai ghi âm được những bản đờn, bài hát dân tộc có thể dùng làm một dĩa hát rồi đem ra nước ngoài, đề nghị cho bất cứ hãng dĩa nào thực hiện còn họ chỉ nhận tiền quyền tác giả, đừng ra giá đến 1 triệu mà chỉ đòi 3.000 đôla thôi, tức gấp đôi số tiền tôi đã nhận. Nếu bán được với giá đó thì tôi đồng ý cho chặt bàn tay mình, còn nếu không bán được tôi chỉ xin lại họ một ngón tay thôi. Liệu có ai dám cá với tôi không?”

Tất nhiên là không có ai cả. Anh Tô Vũ và anh Lưu Hữu Phước khuyên tôi đừng giận mấy người nói bậy. Tôi cười trả lời rằng tôi nói chơi vậy thôi chớ không giận, nếu giận tôi đã không trở về nước nữa.

Việc tôi làm không phải cho một cơ quan, một tổ chức, một chánh phủ nào và càng không phải vì bất cứ cá nhân nào, mà chủ yếu tôi làm cho dân tộc và nhạc truyền thống Việt Nam. Tất cả những chuyện không hay đó tôi nghe qua, tôi nói chơi, rồi để ngoài tai.

Chuyến về nước lần này tôi gặp nhiều chuyện vui buồn lẫn lộn. Buồn là khi gặp lại một số bạn ốm đau yếu đuối, có người lại lâm vào cảnh khó khăn, còn vui nhứt là được gặp gỡ anh em bạn bè trong tất cả các giới.

Đặc biệt lần này tôi được gặp mặt người mà tôi từng nghe danh: anh Nguyễn Xuân Khoát, một nhạc sĩ lão thành đồng thời là nhà chuyên môn nghiên cứu ca trù từ mấy chục năm nay. Trước đây anh Nguyễn Hữu Ba có lần gởi thơ cho tôi viết rằng:

“Về việc nghiên cứu, binh vực và bảo vệ truyền thống âm nhạc Việt Nam thì ở miền Bắc có anh Nguyễn Xuân Khoát, miền Nam và hải ngoại có anh, còn miền Trung có tôi. Ước gì ba chúng ta được hội ngộ một lần để hàn huyên thì vui biết bao nhiêu”.

Nhưng tiếc thay điều đó không bao giờ thực hiện được. Riêng tôi lần này may mắn được gặp cả anh Khoát lẫn anh Nguyễn Hữu Ba. Tôi giống như chiếc cầu kết nối sự cảm thông giữa anh Nguyễn Hữu Ba và anh Nguyễn Xuân Khoát.

Lúc bấy giờ anh Nguyễn Xuân Khoát đã nghiên cứu sâu về ca trù, học đánh phách, học hát với bà Quách Thị Hồ. Nhưng anh lại không được phép giới thiệu ca trù trên đài phát thanh. Tôi rất buồn khi biết được điều này và thường lên tiếng công khai binh vực ca trù trong những buổi nói chuyện của mình khiến vài anh em rất e ngại nói riêng với tôi:

– Trời đất ơi, hiện nay đang cấm hát ca trù mà anh cứ nhắc tới hoài vậy.

Tôi trả lời:

– Việc cấm hay không là tùy theo nhà nước, tôi không có ý phản đối gì hết. Tuy nhiên, từ trước đến nay, những người hát ca trù bị coi như người bán phấn buôn hương, nhưng thật ra nghệ sĩ ca trù bị những người bán phấn buôn hương lợi dụng. Ít người phân biệt được sự khác nhau giữa “cô đầu rượu” và “cô đầu hát”. Nay tôi chỉ muốn đặt ca trù trở lại đúng vị trí của nó. Trước kia người đi thi hát ca trù mà tánh hạnh không tốt là không được thi chớ không phải chỉ ca hay hát đúng là được.

Tôi mong chúng ta nên thay đổi quan điểm, cũng như bên Nhựt Bổn hiện nay đã không còn xem các geisha là người bán phấn buôn hương mà ngược lại là người có văn hóa cao, từ cử chỉ đến thái độ đều hết sức lịch sự. Mấy hôm nay tôi được tiếp chuyện với các nghệ nhân ca trù, gặp được bà Quách Thị Hồ, bà Phúc, gặp anh Đinh Khắc Ban đờn đáy, cụ Trúc Hiền làm thơ, đánh trống chầu và nhà văn Chu Hà nói chuyện về ca trù. Tôi nhận thấy môn nghệ thuật này hết sức tinh vi, thơ hay, nhạc xuất sắc, tiết tấu tuyệt vời, đờn rất điêu luyện. Vậy mà tiếc thay lại bị cấm.

Sau này tôi được biết hai người ủng hộ quan điểm của tôi nhiều nhứt là Bộ trưởng Xuân Thủy và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thế rồi vào ngày 19/4/1976, một tuần trước khi tôi trở về Pháp, anh Nguyễn Xuân Khoát được mời lên trình bày về ca trù trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Nhiều người ngạc nhiên hỏi tại sao bỗng nhiên giờ đây ca trù lại được giới thiệu công khai? Anh Khoát thú vị vô cùng và nói với tôi:

– Tớ vẫn kêu ầm lên chớ, nhưng mà cổ tớ bé lắm nói không ai nghe. Anh về anh kêu ầm lên một tiếng là có người nghe, thôi thế là tôi vui lắm rồi.

Anh cũng viết trong sổ lưu niệm của tôi một câu: “Sự kiện anh về nước động viên tôi rất nhiều”.

Từ đó ca trù được trả lại cuộc sống bình thường của nó và lần lần được đưa ra giới thiệu với khách quốc tế.

Lần về nước này tôi cũng giữ ấn tượng đẹp về chuyến thăm làng quan họ Bắc Ninh. Anh Lê Hồng Dương, Trưởng Ty Văn hóa Hà Bắc, tổ chức đón tôi như đón một “liền anh” quan họ đi xa về. Các “liền chị” Ba Mạnh, Năm Duyên, Sáu Hạ mặc áo tứ thân, yếm thắm hoa đào, chít khăn mỏ quạ, thắt lưng lụa màu, chân đi đôi dép cong, hát bài Con chim thước nội dung báo tin có người quan họ ở xa về. Rồi chị Hai Cải, chị Năm Đán hát bài Mời giầu và tôi phải “xơi giầu” thật sự rồi mới được nghe tiếp những bài khác. Sau bữa cơm quan họ lại được nghe các cụ ở Khả Lễ, Xuân Ổ, Khúc Toại hát.

Tôi được sắp xếp ở tại nhà khách của Tỉnh ủy, có cô gái quan họ mỗi sáng lấy nước giếng lên nấu nước pha trà cho tôi, được thưởng thức món gà chọi “cục tác lá chanh” rất ngon, uống rượu Làng Vân đặc sản của Bắc Ninh, được ăn cam Bố Hạ, sáng sáng được ăn xôi chấm muối vừng.

Đáp lại tôi nói chuyện cho người làng quan họ nghe về đối ca nam nữ trong miền Nam, hò cho họ nghe câu hò Bến Tre, Bạc Liêu, Cần Thơ.

Các cụ cao niên trong làng tổ chức một đêm hát quan họ đặc biệt mà theo lời các cụ từ mấy chục năm nay mới có lại. Đêm hát được tổ chức tại nhà cụ Tình, một liền anh có tên tuổi trước đây trong làng quan họ nay đã qua đời. Con trai của ông là một sĩ quan bộ đội và là đảng viên Đảng Cộng sản. Tôi xúc động khi nhìn thấy anh thành kính thắp ba cây nhang khấn với cha:

– Thưa thầy, đêm nay làng ta có tổ chức một canh hát quan họ mà từ lâu đã không có được. Xin thầy về chứng giám vui với canh hát này cùng chúng con.

Đêm hôm đó tôi ngồi trong nhà thưởng thức các cụ ở hai làng kết nghĩa là Thị Cầu và Đắc Xá hát nhiều bài quan họ, toàn những nghệ nhân cao niên như cụ Tuy 79 tuổi, cụ Nghiễm 67 tuổi, cụ Vuốt 63 tuổi, bà Sáu Tất 58 tuổi, bà Hai Soạn 52 tuổi, bà Tư Hiền 50 tuổi…

Các cụ cũng cho các cô trẻ tuổi như cô Ninh, cô Hoa, cô Bích, cô Nguyệt, cô Lan, cô Trinh, cô Hải, anh Thắng, anh Vượng hát cho vui. Dân làng tụ tập ngồi nghe rất đông ngoài sân. Thỉnh thoảng trong bóng tối loé lên đốm đỏ của điếu thuốc, một làn khói nhẹ bay lên. Tôi ngồi ghi âm mà vô cùng xúc động vì được đắm mình trong bầu không khí thanh bình của một đêm hát ngay giữa lòng quê hương quan họ.

Rồi tôi gặp đoàn hát chèo, ghi lại được những tiếng trống đánh nhịp đôi, nhịp tư, nhịp tám, những điều rất mới mẻ đối với tôi. Tôi biết được tiếng đờn đáy ba dây, đờn nguyệt thì dây đài, dây tiếu, nhưng ca trù là dây hàn, dây trung, dây tiếu. Rồi đờn nhấn chùn là thế nào, vê thế nào, vẩy thế nào, đánh phách sòng đầu thế nào, phách khổ giữa thế nào.

Tất cả những điều tôi thu thập được vào năm 1976 làm cho sự hiểu biết về âm nhạc dân tộc Việt Nam của tôi đầy đủ hơn, không chỉ tập trung vào nhạc tài tử trong miền Nam. Những chuyện tôi ước ao đều làm được mặc dầu trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn. Tôi đã thâu được tổng cộng 50 cuộn băng cassettes loại 90 phút mà tôi còn giữ cho đến nay.

Trong thời gian rất ngắn về nước lần này, tôi đã ghi âm được những điều tôi muốn ghi, chụp lại những hình ảnh tôi muốn chụp, gặp những người bạn mà tôi thèm gặp gỡ. Đối với tôi điều đó thật tuyệt vời.

Điểm lại quãng đời đã qua, hạnh phúc nhứt là tôi đã làm được những điều mình thiết tha mong muốn: có cơ hội sưu tầm vốn cổ trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, chắt lọc những cái hay để lưu truyền lại cho thế hệ mai sau, cứu vãn những truyền thống sắp bị chôn vùi trong quên lảng. Rồi đem tiếng nhạc lời ca dân tộc đến mọi nơi để siết chặt tình thân hữu giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè bốn biển năm châu, đem được vui tươi nhẹ nhàng cho người nghe, lại có dịp góp sức với đồng nghiệp các nước Á, Phi bảo vệ nền âm nhạc cổ truyền chống lại tệ nạn vọng ngoại, sùng bái nhạc phương Tây.

Đôi khi chợt nhận thấy rằng kết quả việc làm của mình tốt đẹp nhiều lần hơn cả sự mong đợi thì tôi thấy vui sướng và mãn nguyện rồi chắp tay lạy tạ ơn Trời Phật.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

Kỳ 8: Những cuộc tao ngộ thú vị
GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150630/hoi-ky-tran-van-khe-ky-7-quy-co-huong/766809.html

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 2 – Lập gia đình 4
Vĩnh biệt thầy GS.TS Trần Văn Khê – người truyền lửa 4
Hồi ký Trần Văn Khê 1: kỳ 1 Thơ ấu vào đời 3

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 4 – Giới thiệu nhạc truyền thống


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 4 – Giới thiệu nhạc truyền thống

27/06/2015 10:02 GMT+7

TTO – Năm 1959, nhân dịp đoàn Nghệ thuật Dân tộc Việt Nam sang biểu diễn tại Praha, thủ đô nước Tiệp, anh Nguyễn Khắc Viện hỏi tôi có thể sang Tiệp để tiếp xúc với nghệ sĩ bên nhà không.

Năm 1959 tại Unesco giáo sư Trần Văn Khê được bà Maryvonne Kendergi phỏng vấn - Ảnh tư liệu
Năm 1959 tại Unesco giáo sư Trần Văn Khê được bà Maryvonne Kendergi phỏng vấn – Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người

Tôi vui vẻ đồng ý và anh Viện xin thị thực nhập cảnh cho tôi trên giấy rời để khỏi lưu lại dấu vết chuyến đi này. Các anh dặn tôi không cho ai biết nên ngày tôi lên đường chỉ có một người bạn là chị Mai Thị Trình tiễn tôi ra ga. Qua Tiệp tôi được sắp ở chung phòng với trưởng đoàn là nhà thơ danh tiếng Lưu Trọng Lư.

Tôi cũng gặp được anh Nguyễn Văn Thương, tác giả bài Đêm đông; gặp em Đinh Thìn lúc đó chưa nổi danh với tiếng sáo nhưng rất thông hiểu về hát chèo và đã ký âm cho tôi nhiều làn điệu chèo để nghiên cứu.

Tôi nói chuyện có minh họa cho các anh chị em trong đoàn nghe về nhạc tài tử miền Nam. Khi các anh em khen tôi là một nhạc sĩ cổ truyền, anh Nguyễn Văn Thương đính chánh:

– Anh Khê đâu phải là một “nghệ sĩ”. Anh là “nghệ nhân” về nhạc tài tử.

Đó là lần đầu tiên tôi nghe đến danh từ “nghệ nhân” mà anh Nguyễn Văn Thương dùng một cách trang trọng, cũng là lần đầu được gặp gỡ các nghệ sĩ miền Bắc và nghe qua những làn điệu chèo, những bài ca quan họ.

Bước qua năm 1960, tôi được mời qua thành phố Bath bên Anh dự một buổi sinh hoạt âm nhạc có biểu diễn minh họa cho nghệ thuật ứng tác ứng tấu trong âm nhạc trên thế giới. Người mời tôi là nhạc sĩ tài danh Yehudi Menuhin, một thần đồng về đờn violon, năm này (1960) ông đã quá lục tuần.

Tại đây tôi được gặp ông Paul Roberson, một ca sĩ nhạc jazz có khả năng ứng tác ứng tấu tuyệt vời, gặp tiến sĩ Narayana Menon, người Ấn Độ, nói chuyện có minh họa về ứng tác ứng tấu khi đờn Saraswati Veena theo truyền thống nhạc “Carnatic” của miền Nam Ấn Độ. Phần tôi nói về ứng tấu, cách rao mở đầu và đờn tùy hứng theo phong cách đờn tài tử miền Nam Việt Nam.

Tôi mới vừa đậu tiến sĩ, nghề nghiệp chưa ổn định mà được dự nhiều buổi gặp gỡ quốc tế, sánh vai với những danh tài, họ nói chuyện của họ thì mình cũng trình bày chuyện của mình. Đây là buổi biểu diễn âm nhạc có tánh cách quốc tế lần thứ nhì tôi được tham dự.

Tôi cũng tham dự hội nghị do Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO tổ chức với đề tài “Tâm trạng người nhạc sĩ trước, trong và sau khi biểu diễn”. Tôi có bài tham luận về tâm trạng người nhạc sĩ Việt Nam.

Năm này tôi được cử vô Ban Chấp hành của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc, thay thế cho giáo sư Tapales người Phi Luật Tân vừa mãn nhiệm kỳ. Ban chấp hành có 9 người mang quốc tịch khác nhau, tôi đại diện cho châu Á với nhiệm kỳ 6 năm, việc đi lại tại các nước do UNESCO đài thọ.

Năm 1961 đánh dấu những chuyến đi quan trọng đối với tôi. Làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Âm nhạc mới được 2 năm mới cấp bực thấp nhứt là Tùy viên nghiên cứu (Attaché de recherche), lâu lâu được thầy cho đi theo tập sự nói chuyện về âm nhạc tại Đại học Sorbonne, vậy mà bỗng nhiên tôi được mời đi dự hội nghị tại nhiều nơi.

Trước hết là hội nghị “Bảo vệ và phát triển âm nhạc truyền thống của các nước trên thế giới” tổ chức tại Téhéran (Ba Tư), tôi tham luận về đề tài: Những nguyên tắc cơ bản của truyền thống âm nhạc châu Á.

Đồng thời tôi được mời tham dự hội nghị quốc tế âm nhạc mang tên “Cuộc gặp gỡ Đông – Tây” (Rencontres Est-Ouest) tổ chức tại Tokyo vào cuối tháng tư, qui tụ 1.400 người, do Nhựt và Mỹ tài trợ.

Mùa thu năm 1961, Hội Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc tổ chức tại Nữu Ước hội thảo về đề tài “Tô điểm chữ nhạc và nét nhạc”. Bà bá tước De Chambure – Giám đốc Viện Bảo tàng nhạc khí của Nhạc viện Paris – là thành viên của chi nhánh hội này tại Pháp đề nghị mời tôi đi dự để nói về cách tô điểm chữ nhạc và nét nhạc trong nhạc truyền thống Việt Nam.

Nhưng một vấn đề khó khăn đặt ra là lúc đó tôi bỗng nhiên bị rơi vào hoàn cảnh một người “không có quốc tịch hợp pháp” (apatride). Số là khi đi Pháp tôi mang giấy thông hành Đông Dương do Pháp cấp. Sau khi Đại tướng De Gaulle thành lập Liên hiệp Pháp, tôi được cấp thẻ căn cước và giấy thông hành công dân Liên hiệp Pháp.

Sau Hiệp định Genève, chánh phủ Pháp qui định bỏ giấy thông hành này, ai muốn nhập quốc tịch Pháp phải làm đơn xin để họ xét, còn không thì đương nhiên trở thành công dân Việt Nam.

Tôi không vô dân Pháp nên làm đơn xin giấy thông hành tại sứ quán của chánh phủ miền Nam Việt Nam. Năm 1960, họa sĩ Võ Lăng – em của anh Võ Hải là bạn học của tôi ở trường Chánh trị Paris, đang có liên hệ với ông Ngô Đình Luyện – báo cho tôi biết theo ý kiến của ông Ngô Đình Nhu, Bộ Văn hóa chánh phủ miền Nam muốn mời tôi về Sài Gòn nói chuyện về âm nhạc, đồng thời cũng đánh tiếng đề nghị tôi cùng đi với ông Bửu Hội làm Đại sứ lưu động tại các nước châu Phi vì biết tôi đã tốt nghiệp Đại học Chánh trị. Tôi từ chối, viện lẽ đang làm công việc nghiên cứu âm nhạc tại Pháp. Có lẽ vì việc đó nên Tòa đại sứ miền Nam được lịnh thâu giấy thông hành cũ mà lại không cấp giấy mới cho tôi.

Không còn giấy tờ tùy thân nên tôi không thể đi dự các hội nghị nói trên, bèn phải cầu cứu bà bá tước De Chambure. Bà bày tôi thủ tục xin chánh phủ Pháp cấp cho “Titre de voyage” tức là một loại giấy thông hành đặc biệt dành cho những người không còn quốc tịch, có giá trị đi khắp nơi thế giới trừ nước của mình.

Không may cho tôi, hôm đi nộp đơn thì có bốn người Việt Nam khác hoạt động chánh trị cũng xin giấy thông hành nên nhân viên phòng này gộp chung hết năm lá đơn lại. Khi bốn người kia bị bác đơn tôi cũng chịu chung số phận.

Tôi lại phải nhờ tới bà Bá tước. Cũng may con rể của bà làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ Pháp, sau khi kiểm tra lại mới biết có sự hiểu lầm nên ra lệnh giải quyết hồ sơ của tôi. Vài ngày sau tôi có giấy thông hành đặc biệt được đi tới tất cả các nước trên thế giới trừ Việt Nam.

Thời gian quá gấp rút, ngày khai mạc hội nghị đã gần kề mà tôi còn phải xin chiếu khán nhập cảnh vào ba nước: Ba Tư, Nhựt Bổn và Hoa Kỳ. Tòa đại sứ Nhựt cấp visa ngay, sáng ngày thứ Năm tôi cấp tốc tới sứ quán Ba Tư để xin nhập cảnh vì 3 giờ chiều thứ Hai tuần sau đã phải lên máy bay.

Đại sứ Ba Tư là bạn rất thân của tôi nhưng ông bối rối cho biết ông chỉ được quyền cấp chiếu khán nhập cảnh miễn phí cho những người tham dự hội nghị có giấy thông hành bình thường. Giấy thông hành của tôi thuộc loại đặc biệt nên phải chờ xin ý kiến của Chính phủ Ba Tư.

Hai giờ trưa thứ Năm ông điện khẩn về nước nhưng lúc đó đã 5 giờ chiều bên Ba Tư, hết giờ làm việc, hôm sau thứ Sáu lại là ngày nghỉ của các nước Hồi giáo. Phải chờ tới sáng thứ Bảy, Hoàng đế Ba Tư chủ tọa buổi họp của Hội đồng Chánh phủ ra lệnh đánh điện khẩn yêu cầu sứ quán của họ bên Pháp cấp chiếu khán nhập cảnh cho tôi.

Nhưng điện tới Paris vào chiều thứ Bảy, bên này không ai làm việc! Sáng sớm thứ Hai tôi tới ngồi chờ ông đại sứ vì điện đánh theo mật mã gởi riêng cho ông. Mãi đến mười giờ ông đại sứ mới tới làm việc, năm phút sau ông đi ra mừng rỡ báo tin tôi được phép nhập cảnh vào Ba Tư và ra lệnh nhân viên cấp tốc làm thủ tục. Mười một giờ rưỡi giấy tờ xong xuôi, ông đại sứ bắt tay chúc tôi đi mạnh giỏi, tôi vội vàng về nhà thu xếp mọi thứ vừa kịp ra phi trường, lên máy bay vào giờ chót!

Trong chuyến đi này còn có một chuyện bất ngờ khác. Trước đó một người bạn Mỹ cho tôi biết Rockefeller Foundation ở Mỹ hàng năm cấp ba học bổng nghiên cứu cho bất kỳ ai trên thế giới có công trình nghiên cứu mà họ cho là đáng tài trợ.

Tôi bèn làm đơn xin, tự giới thiệu là tiến sĩ âm nhạc người Việt Nam, thành viên Ban Chấp hành Hội đồng Quốc tế Âm nhạc, nói rõ thêm gia đình tôi có truyền thống mấy đời là nhạc sĩ, tôi biết đờn tranh và sắp đi Nhựt Bổn dự hội nghị nên muốn ở lại đó hai tháng để thực hiện công trình nghiên cứu so sánh đờn tranh của Việt Nam với đờn koto của Nhựt.

Thật bất ngờ, Hội này báo cho biết đề tài của tôi rất hay và gởi hỗ trợ một ngân phiếu 3.000 đô la. Nếu lãnh tiền này tại Pháp thì ngân hàng sẽ đổi ra quan Pháp trong khi tôi cần đô la Mỹ để tiêu xài tại Nhựt, do đó thay vì đi thẳng qua Téhéran, tôi đổi chuyến bay ghé Thụy Sĩ vì ngân hàng ở đây có thể trả bằng đô la.

Tới Thụy Sĩ đã gần 4 giờ chiều, một người bạn là anh Khiêm, chủ nhà hàng tại Genève, đón ở phi trường đưa tôi cấp tốc tới ngân hàng. Lại thêm một rắc rối nữa là ngân hàng tại đây chỉ chuyển tiền vào trương mục ngân hàng chớ không trả trực tiếp. Nếu không có trương mục thì phải có người bảo lãnh, đề phòng trường hợp nơi phát hành ngân phiếu không có tiền người bảo lãnh sẽ phải trả. Bạn tôi bèn đứng ra bảo lãnh, làm thủ tục nhận tiền xong là vừa tới giờ đóng cửa ngân hàng!

Sáng hôm sau tôi lên đường qua Ba Tư. Bài tham luận của tôi lần này chủ yếu kêu gọi sự bảo vệ và phát huy nhạc truyền thống của châu Á, gây được xúc động trong toàn hội nghị. Hội nghị tại Ba Tư vừa kết thúc thì phần lớn đại biểu đều đi ngay qua Tokyo để dự một hội nghị khác được tổ chức hai ngày sau đó.

Tôi có bổng Rockefeller sẽ ở lại Nhựt hai tháng nên không có gì vội vàng, tôi lưu lại Ba Tư thêm hai ngày để viếng thành phố Persepolis, một đô thị cổ xưa có nhiều đền đài mà nay đã điêu tàn cũng như Đế Thiên, Đế Thích vậy.

Chuyến bay Air France đưa những người tham dự hội nghị Tokyo khi rời Bangkok thì bị trục trặc kỹ thuật nên bắt buộc phải đáp xuống Sài Gòn để sửa chữa. Hành khách ngủ lại một đêm tại Tân Sơn Nhứt bị nhà chức trách giữ toàn bộ giấy thông hành tới hôm sau khi lên máy bay mới trả lại. Tôi không có mặt trong chuyến bay, đó là một sự may mắn, nếu tôi vô Sài Gòn không chừng sẽ bị rắc rối vì giấy thông hành của tôi cho phép đi khắp nơi, trừ Việt Nam. Hú hồn!

Hai ngày sau tôi qua Tokyo bằng máy bay của Hãng Pan American, tại phi trường đã có Ban tổ chức chờ đón. Tôi chuẩn bị đi theo họ thì một người Nhựt tự xưng là người của Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại đây tới đón tôi. Tôi không biết ông đại sứ này là ai, hỏi ra mới biết đó là ông Bùi Văn Thinh một người bạn cũ. Vào năm 1945 khi ông làm việc ở một tỉnh miền Tây thì gặp tôi đi cùng đoàn sinh viên xuống lục tỉnh hát lấy tiền mua gạo giúp đồng bào miền Bắc đang bị đói, vợ chồng ông quí tôi từ dạo đó. Nghe tin tôi qua dự hội nghị tại Tokyo, ông cho người bí thơ của ông ra đón.

Viên bí thơ hỏi giấy thông hành của tôi để làm thủ tục nhập cảnh và khai hải quan. Khi thấy tôi sử dụng giấy thông hành “vô quốc tịch” (apatride) thì ông rất bối rối vì đã báo với Công an phi trường tôi là bạn thân của ông đại sứ Việt Nam.

Ông yêu cầu tôi chờ một chút, lát sau ông trở ra cho biết Công an nói rằng tôi vừa là đại biểu tham dự Hội nghị Quốc tế vừa là bạn của đại sứ Việt Nam nên họ vẫn để cho đi qua cửa thượng khách. Mọi việc đều êm xuôi. Khi ra xe viên bí thơ cẩn thận xin phép tôi cho ông cất lá cờ Việt Nam Cộng hòa gắn phía trước xe ngoại giao đoàn rồi đưa tôi về khách sạn.

Sáng sớm hôm sau, ông Bùi Văn Thinh điện thoại cho tôi. Ông cho biết đã được báo lại về tình trạng giấy thông hành của tôi và nói rằng trong hoàn cảnh hiện tại ông biết tôi sẽ không thích tới Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa, mà ông cũng không thể đến thăm tôi tại khách sạn một cách chánh thức. Ông đề nghị tôi đến một tiệm ăn nằm giữa Đại sứ quán và khách sạn. Ông nói:

– Anh đi nửa đường, tôi đi nửa đường để anh em mình được gặp nhau.

Vậy là chúng tôi cùng đổ đường đến nơi hẹn, hàn huyên với nhau suốt cả ngày. Ông tỏ ý tiếc về chuyện tôi bị tịch thâu giấy tờ, biết tôi sẽ lưu lại Nhựt hai tháng, ông phái một tùy viên văn hóa luôn luôn ở bên cạnh tôi. Hai vợ chồng người tùy viên này rất tốt, hết lòng giúp đỡ trong thời gian tôi ở tại Nhựt.

Tại hội nghị, trong số 1.400 đại biểu tham dự, chỉ có 50 người được mời vô nghe nhã nhạc trong hoàng cung trong đó có tôi. Đây là một vinh dự cho tôi vì khách được mời gồm toàn những giáo sư kỳ cựu hoạt động gần 20 năm trong lãnh vực nghiên cứu âm nhạc trong khi tôi chỉ mới có 3 năm trong ngành. Về sau, tôi mới biết sở dĩ mình được mời vì hai điểm: tôi là Ủy viên Ban chấp hành Hội đồng Quốc tế Âm nhạc của UNESCO đại diện cho châu Á và điểm thứ hai là vì Ban tổ chức biết việc tôi được học bổng của Rockefeller Foundation, nghĩa là một trong 3 nhà nghiên cứu được cơ quan này cho là xứng đáng được tài trợ.

Sang Nhựt mà gặp mùa hoa anh đào nở là dịp may hiếm có. Chỉ trong vòng mấy ngày, hoa nở rộ, sau đó tàn rất mau. Lần đầu tiên trong đời tôi được ngắm hoa anh đào nở đẹp rực rỡ khi cùng đi với người bạn mới quen là giáo sư Koizumi Fumio. Ông là người bạn tốt đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu đờn koto. Đến năm 1995 tôi được giải thưởng quốc tế mang tên ông về nhạc học dân tộc của Nhựt, giải thưởng được đặt ra sau khi ông qua đời.

Tôi cũng thú vị khi được gặp giáo sư Kishibe, người bạn đồng chí hướng quen nhau từ 3 năm này. Dịp này ông Kishibe mời tôi về nhà ăn tối, thưởng thức đặc sản Nhựt Bổn như món cá sống sushi và uống rượu sa kê.

Tại hội nghị tôi cũng gặp lại ông Yuize Shinichi, nhạc sĩ đờn koto mà tôi được gặp lần đầu tiên ở hội nghị của UNESCO tại Paris năm 1958. Lần này ông và phu nhân, nhũ danh Nakashima, nhận dạy tôi đờn koto đồng thời giới thiệu tôi với những người trong trường phái Ikuta, còn bà Kishibe thì giới thiệu tôi với trường phái Yamada. Đây là hai trường phái lớn của đờn koto, mỗi trường phái có một số nhạc sư nổi tiếng và không liên hệ giao hảo với nhau, một nhạc sinh nhập môn trường phái này không thể học với trường phái kia.

Khi vừa tới Tokyo, tôi viết thơ tự giới thiệu và xin phép đến chào cả hai phái. Tôi đến gặp ông Nakashima, trưởng phái Ikuta trước vì ông lớn tuổi hơn, rồi xin gặp giáo sư Nakanoshima Kinichi, trưởng phái của Yamada sau. Hai bên đều chấp nhận tiếp tôi và sẵn sàng trả lời tất cả những gì tôi muốn tìm hiểu. Đây cũng là một trường hợp hi hữu.

Cả hai phái đều ngỏ ý muốn nghe tôi nói chuyện về đờn tranh và âm nhạc Việt Nam. Tôi trình bày với đại diện hai phái rằng tôi có thể lần lượt tới hai nơi để nói chuyện, nhưng nếu tôi lỡ bỏ sót một vài vấn đề nào đó trong một buổi, có thể bị ngộ nhận là có sự thiên vị, trong khi tôi thật tình quí trọng cả hai bên. Vì vậy tôi đề nghị chọn một địa điểm trung lập để tổ chức buổi nói chuyện. Một điều bất ngờ là cả hai phái đều chấp nhận.

Chưa khi nào tôi đờn mà trong lòng lo lắng bằng bữa đó. Tôi có cảm giác đây là một cuộc hội ngộ anh hùng trong giới nhạc trên đất Phù Tang. Tôi “đơn đao phó hội” trước các sư tổ, sư bá, sư phụ, sư huynh, sư đệ của hai trường phái đờn koto đến xem đường quyền, đường thương của một võ sĩ Việt Nam.

Tôi thưa cùng các trưởng phái:

– Tôi không phải là người xứng đáng đờn cho quí vị nghe. Trong nước tôi có nhiều nhạc sĩ đờn rất hay nhưng họ không có dịp qua đây, còn tôi biết đờn là do truyền thống gia đình, nhưng lại chuyên về nghiên cứu nên tiếng đờn của tôi chưa đạt được trình độ cao nhứt của đờn tranh. Do đó xin quí vị đừng đánh giá đờn tranh Việt Nam qua tiếng đàn chân phương mộc mạc của tôi.

Tôi đã quan sát thấy đờn koto của Nhựt Bổn sở trường về biểu diễn tay mặt nhưng sử dụng tay trái yếu hơn đờn tranh. Vì vậy trong khi trình bày các thủ pháp, tôi chú trọng đề cập đến điểm mạnh của đờn tranh:

– Theo truyền thống Việt Nam, bàn tay mặt sinh ra âm thanh, bàn tay trái nuôi dưỡng và làm đẹp âm thanh. Bàn tay mặt cho cái xác còn bàn tay trái cho cái hồn. Vì vậy, bàn tay trái đối với chúng tôi vô cùng quan trọng. Quí vị nhấn nửa bậc và một bậc còn chúng tôi có thể nhấn từ nửa bậc, một bậc cho đến hai bậc rưỡi. Cách nhấn thì rất phong phú và tinh vi, có nhấn – vuốt, nhấn – rung, nhấn – mổ, nhấn mượn hơi. Mổ thì mổ đơn, mổ kép, mổ kiềm dây, phối hợp tất cả để âm thanh trở nên sinh động hơn.

Tôi nói đến đâu minh họa đến đó, những người nghe rất thú vị và hoan nghinh nồng nhiệt. Sau bữa đó, vào cuối tháng 5 năm 1961, Đài truyền hình Nhựt Bổn NHK mời tôi nói chuyện trong chương trình giới thiệu và so sánh đờn tranh với đờn koto. Tôi nói về đờn tranh được ông Koizumi thông dịch ra tiếng Nhựt, khi đối chiếu với đờn koto thì bà nhạc sư Hirai Sumiko minh họa. Băng ghi hình này được giữ tại Phòng lưu trữ băng từ của đài.

Bảy năm sau, năm 1968, Đài NHK của Nhựt Bổn chọn chương trình đó dự thi tại Vienne, kinh đô của nước Áo, trong chương trình “Áp dụng phương pháp thính thị trong giáo dục âm nhạc”. Đài truyền hình Pháp cũng gởi dự thi một chương trình do nhạc sư Daniel Lesur và tôi thực hiện, trong đó tôi giới thiệu bốn nhạc khí dân tộc gồm đờn kìm, đờn cò, đờn tranh và trống. Tuy Việt Nam không dự hội nghị này nhưng mọi người vẫn được nghe âm nhạc Việt Nam tới 2 lần qua các đoạn phim của Nhựt Bổn và Pháp. Đó là một niềm vui lớn của tôi trong sứ mạng giới thiệu âm nhạc Việt Nam trên thế giới.

Trở lại chuyện ở Tokyo, hôm tôi thâu hình tại Đài NHK cũng là ngày ông Đại sứ Bùi Văn Thinh mời ăn bữa cơm tiễn tôi rời nước Nhựt. Ông phải dời bữa tiệc tới 9 giờ rưỡi tối để chờ tôi ghi hình xong tại đài. Phần tôi vừa ghi hình xong vội vàng xách cây đờn mặc nguyên áo dài khăn đóng ra xe đưa tôi về tư gia của ông đại sứ. Bữa tiệc có nhiều người, ai cũng vui vẻ thân mật chào hỏi tôi. Chúng tôi ngồi vào bàn ăn, nói chuyện về âm nhạc mà không hề đề cập tới vấn đề chánh trị.

Đến tuần rượu tiễn hành, Đại sứ Thinh mời tất cả mọi người cùng nâng ly chúc sức khỏe tôi và nói lời cuối:

– Mong có ngày gặp lại anh. Nhìn anh châu du khắp nơi tôi tự hỏi “hành nhân hà thời qui”, mỗi lần nhớ anh tôi lại thầm hỏi: anh “cư hà phương, hành hà sự?”

Tôi đáp lời:

– Tôi không dám tự sánh mình với người xưa, nhưng anh đã hỏi thì tôi xin đáp. Tôi luôn “cư thiên hạ chi quảng cư, hành thiên hạ chi đại đạo, lập thiên hạ chi chánh vị” Và “phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, oai võ bất năng khuất”.

Anh Thinh cạn ly với tôi. Ngồi giữa quan khách đông vầy trong một khung cảnh ngày nay, nhưng qua những câu đối thoại vừa rồi tôi cảm giác chỉ có hai chúng tôi cùng thưởng thức cái phong vị của ngày xưa. Tôi cám ơn anh Thinh đã cho tôi hưởng được những giờ phút vui vẻ gặp người đồng hương nơi xứ lạ, cùng nhau hàn huyên vui vẻ trong tình người.

Cũng trong hội nghị ở Tokyo, tôi gặp lại giáo sư đờn cổ tranh người Đài Loan tên Liang Tsai Ping (Lương Tại Bình), Chủ tịch Hội Nhạc sĩ truyền thống Đài Loan. Tôi quen với ông khi ông sang Pháp giới thiệu âm nhạc Trung Quốc tại Bảo tàng viện Guimet trước đó mấy năm. Ông mời tôi trên đường về ghé Đài Loan chơi và sẽ là khách mời của Hội nhạc sĩ Đài Loan. Tôi cảm thấy thú vị nên nhận lời, vậy là sau 2 tháng ở Tokyo, thay vì về thẳng bên Pháp tôi ghé qua Đài Loan.

Khi tới phi trường Đài Bắc đã có phóng viên đợi sẵn, biết tôi là khách mời đặc biệt của Hội nhạc sĩ Đài Loan nên họ thay nhau phỏng vấn, chụp ảnh. Giáo sư Liang Tsai Ping cùng vài nhạc sư đến bắt tay tôi chào hỏi và đưa tôi về khách sạn sang trọng ở vùng “Bắc đầu”. Đặc biệt phòng ngủ nơi đây có buồng tắm rất lớn được thiết kế dẫn nước từ nguồn suối nước nóng vào tận nơi.

Tại đây tôi gặp được ông Chuang Pen Li (Trương Bổn Lập), người có công trình nghiên cứu rất sâu sắc về “hoàng chung”, âm thanh cơ bản trong nhạc truyền thống của Trung Quốc. Tôi gặp gỡ thêm nhiều nhạc sư chuyên dạy cổ cầm, cổ tranh; được đi xem Kinh kịch, tinh hoa của nền sân khấu cổ truyền Trung Quốc và viếng trường đào tạo diễn viên.

Ông Liang Tsai Ping mời tôi về nhà ăn cơm do tự tay phu nhân của ông nấu, hái trái cây trong vườn nhà đãi tôi. Ông cũng mời tôi nói chuyện trên Đài phát thanh Đài Bắc về đờn tranh và ca một bài Bắc cung ai. Vì muốn giới thiệu đờn tranh Việt Nam cũng tương tựa đờn cổ tranh của Trung Quốc nên ông cho thâu luôn bài “Bắc cung ai” vô đĩa hát giới thiệu đờn Gu zheng (cổ tranh) của ông.

Một cậu trẻ tuổi tên là Cheng De Yuan (Trịnh Đức Uyên) rất thích đờn tranh, khi nghe tôi ca cậu tìm tới xin học. Tôi không dạy được mà chỉ đờn cho cậu nghe. Cậu ghi âm, chép lời theo cách phát âm Trung Quốc rồi nghe theo băng tập ca được bài Bắc cung ai. Sau này khi tôi dự hội nghị tại Đài Loan cậu là người thông dịch cho tôi, rồi tôi cũng gặp lại cậu đang làm luận án tiến sĩ tại Đại học Maryland (Baltimore Country bên Mỹ). Mấy năm sau cậu trở thành một giáo sư âm nhạc danh tiếng của Đài Loan.

Trong thời gian tham dự hội nghị ở Tokyo, tiến sĩ Narayana Menon, người tôi đã gặp ở Hội nghị Ứng tác ứng tấu tại Bath bên Anh, cũng mời tôi ghé qua New Delhi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam, vì ông là Tổng Giám đốc Đài phát thanh All India Radio của Ấn Độ. Vậy là sau khi rời Đài Loan, tôi lại ghé qua Ấn Độ lần đầu tiên trong đời để nói chuyện về âm nhạc truyền thống Việt Nam có minh họa đờn tranh trên Đài phát thanh Ấn Độ trong chương trình tiếng Pháp và tiếng Anh.

Ông Menon sắp đặt cho tôi nghe vài buổi ghi âm nhạc truyền thống Ấn Độ và tôi nói chuyện một buổi về âm nhạc Việt Nam tại Sangeet Natak Akademy (Hàn lâm viện Ca vũ nhạc kịch). Tôi ở lại Ấn Độ 5 ngày. Ngoài hai buổi ghi âm bài nói chuyện tại Đài phát thanh, tôi được dự một buổi hòa nhạc Ấn Độ và gặp gỡ vài nhạc sĩ tên tuổi tại đây, nhờ đó mà tôi có cơ hội học hỏi thêm nhiều.

Trở về Pháp, đến tháng 7 tôi đi New York, hết sức vui mừng được gặp lại thầy tôi là Giáo sư Chailley cũng dự hội nghị quốc tế âm nhạc này. Bài thuyết trình của tôi tại đây đề cập về “Cách tô điểm chữ nhạc và nét nhạc truyền thống Việt Nam”. Hai thầy trò tôi được sắp xếp ở chung trong học xá sinh viên tại Đại học Columbia, cùng đi thăm nhiều nơi như Đại học Harvard, Yale, Princeton, viếng tượng Nữ thần Tự do, tòa nhà Empire State cao 102 từng và khu nhà mang tên Rockefeller.

Gần Đại học Columbia, trong một buổi chiều đi dạo, tôi nhìn thấy một tiệm ăn mang bảng hiệu Việt Nam. Đang ăn cơm Mỹ không hạp khẩu vị, gặp được chỗ bán món ăn quê nhà khác nào buồn ngủ gặp chiếu manh, tôi liền ghé vào.

Ông chủ tiệm người miền Bắc khi biết tôi là Trần Văn Khê đang dự hội nghị âm nhạc tại New York bèn vào bên trong báo tin. Lát sau một người phụ nữ mang kiếng trắng đi ra hỏi thăm tôi bằng giọng Huế nhẹ nhàng. Biết tôi là bạn của Lưu Hữu Phước, chị ân cần mời tôi nhiều thức ăn Huế rất ngon mà nhứt định không chịu lấy tiền, lại còn đề nghị tôi mỗi ngày ghé ăn cơm chiều.

Một ngày trước khi tôi trở về Paris, anh chị chủ quán mời tất cả bạn bè người Việt đang sống tại New York, lúc đó mới chỉ độ vài ba chục người, tới để nghe nói chuyện về âm nhạc Việt Nam. Nghe một câu hò miền Nam thì người Nam lau nước mắt, câu hò mái nhì làm người Trung ứa lệ, một khúc ngâm theo hơi sa mạc làm cho người miền Bắc sụt sùi.

Sau buổi nói chuyện, chị chủ quán bỗng hỏi tôi:

– Anh có biết bài Hương Giang dạ khúc không?

– Thưa tôi có biết. Nhưng tác giả bài hát có dặn tôi là không được tiết lộ tên người sáng tác.

– Không cần thiết phải giới thiệu tên tác giả, nhưng anh có thể hát cho tôi nghe được không?

– Nếu chị yêu cầu, tôi xin hát cho chị nghe bài Hương Giang dạ khúc của nhạc sĩ không tên.

Khi tôi hát đến câu “Làn hương mờ xóa bóng ai yêu kiều”, người thiếu phụ bỗng ôm mặt khóc. Thấy tôi ngạc nhiên, chị nói:

– Đây là bài hát của Lưu Hữu Phước. Anh có biết bài này anh Phước viết cho ai không?

Tôi trả lời:

– Phước làm tặng cho một người con gái Huế tên là Thu Hương.

– Anh có biết Thu Hương không?

– Không.

– Thu Hương là tôi đây.

Trong cuộc sống có những cuộc gặp gỡ tình cờ đến lạ lùng, tôi không ngờ lại gặp được Thu Hương tại New York này. Anh Lưu Hữu Phước trao cho tôi bài Hương Giang dạ khúc vào năm 1941 trước khi đi kháng chiến, dặn tôi đừng hát cho ai nghe, còn nếu có hát thì không được nói tên người sáng tác. Tôi hát bài này hai lần trong đời, một lần ở Vị Thanh trong thời kỳ tham gia kháng chiến ở Nam bộ và đây là lần thứ hai. Chị Thu Hương nhờ tôi chuyển lời tới Lưu Hữu Phước:

– Thu Hương đã hai lần lập gia đình nhưng không bao giờ quên người đã tặng bài Hương Giang dạ khúc cho Thu Hương.

Nói xong, lệ chị tuôn lai láng. Người chồng lấy khăn lau nước mắt cho vợ, tuy rằng biết vợ khóc cho một kỷ niệm sâu đậm của thời son trẻ chớ nước mắt đó không phải vì mình. Tôi chứng kiến cảnh này mà cảm phục sự cao thượng của tình người.

Năm 1961 đối với tôi như một giấc chiêm bao. Tôi thực hiện được ước mơ thầm kín của mình hồi nhỏ là được đi nhiều nước, gặp nhiều người bạn trong giới nhạc, có dịp giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam cho ấm lòng những đứa con Việt Nam xa xứ, làm cho người nước ngoài, ngang qua lời ca tiếng nhạc, hiểu và thương thêm dân tộc Việt Nam. Nghĩ đến điều này tôi luôn chắp tay tạ ơn Trời Phật đã cho tôi may mắn thực hiện được những mơ ước của mình và có cơ hội gặp gỡ học hỏi những bậc thầy, nhờ đó mà kiến thức ngày càng được mở rộng.

Năm 1962 tôi qua Roma (Ý) dự đại hội của Hội đồng Quốc tế Âm nhạc với tư cách thành viên của Ban chấp hành và được tiếp đãi như thượng khách. Các thành viên của Ban chấp hành được Đức Giáo hoàng Jean XXIII tiếp và ban phép lành. Tôi thưa rằng tuy không theo đạo Thiên Chúa nhưng cũng biết đây là một đặc ân nên xin phép Đức Thánh Cha được chuyển phép lành này về cho nhạc mẫu tôi là một người rất sùng đạo. Đức Thánh Cha đồng ý.

Các bạn cùng đoàn nghe vậy bấm nhau cười, vì phần đông đàn ông phương Tây không thuận thảo với mẹ vợ, họ tưởng tôi không muốn nhận phép lành nên nói vậy để thoái thác. Các bạn ấy không ngờ rằng sau đó tôi gởi liền một bưu thiếp có hình Đức Giáo hoàng Jean XXIII về Việt Nam cho nhạc mẫu tôi: “Thưa má, con mới nhận được phép lành của Đức Thánh Cha và được Ngài chấp thuận cho con chuyển phép lành về cho má”. Nhạc mẫu tôi đang bệnh, nhận được tấm bưu ảnh này mừng đến hết bệnh và đem khoe cùng khắp xóm.

Trong năm 1962 tôi có niềm vui lớn là con trai đầu lòng Trần Quang Hải được qua Pháp. Vợ tôi xin phép cho con sang Pháp vừa để thăm cha vừa trị bệnh và chỉ được nhà cầm quyền cho phép đi 3 tháng. Qua tới Pháp, tôi đưa con đi kiểm tra sức khỏe tổng quát và nhờ có giấy bác sĩ chứng nhận cháu Hải đang trong thời kỳ đợi kết quả thử máu, rọi kiếng… để “dục hưỡn cầu mưu”, kéo dài thời gian ở đây.

Tuy nhà chật, Mộng Trung vẫn thu xếp cho Hải ở chung phòng với con trai lớn của em là cháu Thanh. Tôi ghi tên cho Hải học thêm tiếng Pháp tại Alliance Française và học đờn violon tại Nhạc viện quốc tế (Conservatoire International de la Musique). Thuở nhỏ Hải rất đeo theo ba, nay cha con gặp lại, đêm nào sau bữa cơm tối cũng trò chuyện với nhau tới khuya.

Cùng thời gian này tôi được trường Đại học Rabat tại Maroc mời qua thuyết trình về nhạc Việt Nam. Đây là lần đầu tiên tôi biểu diễn âm nhạc Việt Nam cho dân tộc Á Rập tại một nước vùng Bắc Phi thưởng thức. Đài phát thanh Rabat phát thanh lại buổi nói chuyện của tôi. Một thính giả gởi thơ cho đài phát thanh nói rằng tiếng đờn cò của Việt Nam nghe giống như tiếng đờn Keman, một loại đờn kéo dây của các nước Á Rập. Ngoài ra, nhiều thính giả khác cũng gởi thơ đến đài nói rằng tuy lần đầu tiên được nghe nhạc dân tộc Việt Nam nhưng họ thấy rất quen thuộc, có điều gì đó rất gần gũi với người dân ở đây.

Sau này tôi còn đi đến nhiều nước thuộc khối Á Rập như Algerie, Tunisie để giới thiệu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Đến đâu thính giả cũng thích nghe điệu Sa mạc và cho rằng Sa mạc nghe tương tự như điệu Si Kâh của nhạc Á Rập.

Năm 1962 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong sự nghiệp tinh thần của tôi, đó là Nhà xuất bản Đại học Pháp (Presses universitaires de France) khởi công in cuốn luận án tiến sĩ tôi viết về âm nhạc truyền thống Việt Nam. Khi bảo vệ luận án vào năm 1958, do tôi gặp khó khăn về tài chánh nên nhà trường cho phép sử dụng bản thảo đánh máy chớ không bắt buộc phải in thành sách. Luận án của tôi có nhiều chữ Hán, nhiều bảng kẻ để ghi các bài bản ký âm theo phương pháp phương Tây và nhiều hình ảnh. Không nhà xuất bản nào dám bỏ tiền ra in vì nặng vốn lại khó bán bởi luận án là loại sách chuyên môn.

Tôi làm đơn xin tài trợ, không ngờ được tới 2 cơ quan đồng ý. Trung tâm Nghiên cứu Khoa học tài trợ một số tiền, sách nào do cơ quan này hỗ trợ thì được ghi ngoài bìa: Với sự tài trợ của Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học và được đánh giá là có giá trị. Cơ quan thứ nhì không kém quan trọng là Bảo tàng viện Guimet cũng tài trợ để đưa vào bộ sách loại nghiên cứu của nơi này.

Thủ tục kéo dài từ năm 1958 tới 4 năm sau mới hoàn tất. Nhưng nhà xuất bản và hai nơi tài trợ chỉ ký kết hợp đồng in ra 1.000 cuốn chia cho hai cơ quan này mà không để ý đến qui định của Đại học Sorbonne là khi xuất bản luận án, tác giả phải nộp 140 quyển cho tất cả các trường đại học ở Pháp. Do vậy sau khi in xong mới nhớ ra còn thiếu 140 quyển, lúc đó không thể đòi hai cơ quan này tài trợ thêm nữa, nghĩa là chính tôi phải chịu khoản chi phí trên. Nhưng thông cảm hoàn cảnh tôi là một bần sĩ nên nhà xuất bản chỉ yêu cầu tôi ký tên theo đúng thủ tục và cho nợ rồi trừ lần vào tiền tác quyền.

Vì vậy thông thường khi có sách được in, ai cũng có chút ít tiền quyền tác giả, trong khi đó sách của tôi in ra vừa dày vừa đẹp với nhiều hình ảnh, nhưng chẳng những tôi không được tiền nhuận bút mà còn phải mắc nợ tới 6 năm sau mới trả dứt. Sau đó thỉnh thoảng khi bán thêm được sách thì nhà xuất bản gởi trả tiền nhưng không được bao nhiêu vì đây là sách chuyên môn ít người mua.

Tuy mang nợ nhưng tôi rất vui vì có được một đứa con tinh thần. Tôi viết thơ báo tin cho cậu Năm là người thầy dạy nhạc đầu tiên của tôi. Cậu tôi nhờ người nhắn lại: “Cậu rất mừng và nhắc con nhớ trước khi con ra đi, cậu có chúc con sẽ được lưỡng quốc trạng nguyên như Mạc Đĩnh Chi hồi xưa”.

Tôi đọc thơ cậu mà giựt mình, nghĩ bụng được một bằng tiến sĩ đã là may, thời giờ đâu mà làm thêm bằng thứ hai. Không ngờ tới năm 1975 tôi được cấp bằng tiến sĩ danh dự của Đại học Ottawa đúng theo lời chúc của cậu.

Chỉ tiếc là cậu Năm không còn để chung vui với tôi vì cậu từ trần ngày mùng 6 tháng 10 âm lịch năm 1962. Cậu Nguyễn Tri Khương không chỉ là người thầy mà còn là người đã lo việc giáo thai từ khi tôi còn trong bụng mẹ. Khi tôi được mười mấy tuổi thì cậu dạy tôi đánh trống. Tôi qua Pháp cậu lại viết thơ cắt nghĩa nhiều chuyện về âm nhạc. Cậu cũng là một nhân vật, nhân chứng trong lịch sử âm nhạc tài tử cải lương miền Nam.

Sau cái chết của cha mẹ tôi, kế đến là cái chết của cô Ba, người thay cha mẹ nuôi dưỡng tôi nên người, thì đây là cái chết làm tôi đau buồn nhứt. Tôi cũng để ý cứ mỗi lần tôi bị xúc động mạnh về tình cảm thì cơ thể tôi cũng yếu lần đi và sau đó thường lâm bệnh nặng.

Tháng 8 năm 1963 tôi đi Jérusalem dự một hội nghị về âm nhạc. Tôi đờn cò và đờn tranh trong một tiết mục của buổi hòa nhạc chung với nhiều nhạc sĩ khác. Trong số thính giả có nhạc sư người Hungary tên Kodaly tham dự, sau đó ông đến gặp tôi và chúng tôi trao đổi quanh vấn đề thang âm ngũ cung là đề tài ông đang nghiên cứu. Ông đã vào độ tuổi bát tuần, tóc bạc phơ mà đôi mắt vẫn sáng, tinh thần hết sức minh mẫn. Được gặp ông tôi có cảm giác như sống trong huyền thoại vì đã nghe tiếng tăm ông từ lâu, thấy tên ông trong sách lịch sử âm nhạc. Tôi không ngờ có ngày được hân hạnh trực diện với ông và tay tôi được nắm tay ông.

Tôi đang chuẩn bị chuyến du ngoạn tới vùng hồ lớn Tibériade thì bị bệnh nặng. Bệnh trĩ lại tái phát, lần này bị vi trùng lao tấn công khiến vết thương cũ sưng lên bể ra làm chảy máu rất nhiều. Ban tổ chức hội nghị cấp tốc cho một người y tá đưa tôi đi máy bay từ Jérusalem về Paris, đưa thẳng vô bịnh viện của sinh viên. Nơi này chỉ chữa trị những bệnh nhẹ, trường hợp của tôi phải điều trị tại bịnh viện chuyên khoa về lao, do đó tôi được chuyển về bịnh viện ở Bouffémont.

Hồi năm 1954 khi rời bịnh viện lao tôi tưởng tình hình sức khỏe đã hoàn toàn yên ổn, không ngờ nay bệnh lại tái phát. Lại thêm nỗi buồn cha con mới gặp lại nhau, chưa chăm sóc được nhiều cho con thì tôi phải vào bịnh viện. Mỗi cuối tuần Hải và Mộng Trung mới tới thăm tôi được một lần.

Tôi đi đến đâu là có nhạc kịch Việt Nam đi đến đó. Hôm nào thấy khỏe trong người, tôi nói chuyện về âm nhạc và kịch nghệ Việt Nam cho các bác sĩ và bệnh nhân tại đây nghe.

Bệnh tôi gần như hết thuốc chữa, rất khó trị vì đã bị lờn thuốc. Bác sĩ nói rằng chỉ còn một cách là thử dùng loại thuốc mới tên Trécator. Nhưng thuốc này rất nguy hiểm, nhiều người uống vào đã phát điên. Muốn được điều trị bằng thuốc này phải ký tên cam đoan không khiếu nại trong trường hợp bị phản ứng thuốc. Ngoài ra tôi phải nằm trong một phòng riêng, vì trước đây có vài trường hợp bệnh nhân bị thuốc hành nên lên cơn bóp cổ y tá, đập bể cửa kiếng. Nghe vậy tôi cũng ngại nhưng đành phải chấp nhận, không còn cách lựa chọn nào khác.

Trong hai tháng điều trị bằng thuốc Trécator, quả nhiên tôi thấy trong người rất bực bội, dễ nổi giận, y tá tới trễ một chút là muốn la rầy. Mỗi lần như vậy tôi lại tự nhủ bản chất mình luôn vui vẻ hòa nhã với mọi người, bỗng nhiên lại thấy muốn bạt tai, rầy la y tá, đó chắc chắn là do tác động của thuốc. Vậy thì tôi phải tự kiểm soát, hết sức kiềm chế không để cho tác động bên ngoài làm thay đổi bản chất của mình. Nghĩ như vậy nên mỗi lần muốn lên cơn tôi tự khắc phục bằng cách bỏ ra ngoài tập điều hòa hơi thở, uống thật nhiều nước lạnh cho qua cơn giận. Tôi uống thuốc này trong 6 tháng mà không bị nổi điên như phần đông những bệnh nhân khác, bác sĩ rất vui lòng và khen ngợi. Thuốc rất có hiệu quả, bệnh lành mau hơn dự kiến. Tháng 2 năm 1964 tôi ra khỏi bịnh viện.

Liền đó tôi được mời qua Ấn Độ để dự hội nghị. Tôi rất thèm được đi bởi lúc này đang nghiên cứu đề tài “Những ảnh hưởng âm nhạc của vài nước châu Á đối với âm nhạc Việt Nam” trong đó có âm nhạc Ấn Độ. Nhưng vì tôi mới khỏi bệnh nên bác sĩ không cho phép đi xa. Chưa bao giờ tôi thấm thía câu “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” như lần này, việc thực hiện được điều mong ước đôi khi lại không tùy thuộc vào mình. Tôi đành chỉ gởi bài tham luận qua Ấn Độ.

Khi mới vào làm tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học CNRS hồi năm 1959, tôi chỉ làm việc bán thời gian để có thời giờ lo cho Trung tâm Nhạc học phương Đông. Tới cuối năm 1962 sau khi mọi việc đã đi vào nề nếp, nghe theo lời khuyên của thầy Chailley, tôi xin làm toàn thời gian để vừa có thể nghiên cứu nhạc Việt Nam tại CNRS vừa đem áp dụng vào thực tiễn tại CEMO.

Năm 1964, ông Alain Daniélou, người đã cùng tôi thành lập Trung tâm nhạc học phương Đông năm 1959 ở Pháp, trong một bức thơ viết từ Berlin cho biết ông vừa được tổ chức Ford Foundation của Mỹ tài trợ một số tiền lớn để thành lập Viện Quốc tế Nghiên cứu Âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu trụ sở đặt tại Berlin (Tây Đức). Lúc đó chiến tranh đang diễn ra giữa hai phe tư bản và xã hội chủ nghĩa. Tây Bá Linh còn một lõm nằm trong lãnh thổ Đông Đức do ba nước Anh, Mỹ, Pháp kiểm soát, phía Mỹ muốn đặt trụ sở này tại Tây Bá Linh coi như là một tiền đồn văn hóa.

Ông Alain Daniélou mời tôi sang cộng tác với ông trong Viện này với mức lương gấp 2 lần ở Pháp. Ông còn hứa lập một Khoa âm nhạc Việt Nam do tôi làm giám đốc, điều kiện đi lại và làm việc cũng dễ dàng như ở CNRS. Đây là một cơ hội mới đưa tới. Tôi suy nghĩ, bàn bạc với thầy và bạn bè đồng nghiệp, mọi người không muốn cho tôi đi nhưng không ai dám khuyên tôi ở lại, vì điều kiện bên Đức đưa ra thuận lợi hơn ở Pháp nhiều.

Tổ chức Ford Foundation dự kiến tài trợ cho Viện nghiên cứu âm nhạc ở Berlin trong 4 năm, sau mỗi đợt sẽ cứu xét để quyết định có tiếp tục tài trợ hay không. Tôi cân nhắc thấy rằng vì có chiến tranh lạnh mới khai sanh ra viện này, vậy thì khi chiến tranh lạnh chấm dứt liệu nó còn tồn tại hay không? Mặt khác con trai tôi vừa mới qua Pháp, hai cha con đang ở nhờ nhà cô em họ Mộng Trung, nay qua Đức làm việc phải bỏ con một mình ở Pháp thiệt tình tôi không yên lòng. Đó là chưa kể nếu qua Berlin phải học thêm tiếng Đức rất vất vả.

Dầu vậy khi có thơ mời tôi sang thuyết trình về âm nhạc Việt Nam tại viện mới thành lập tôi cũng đi thử qua Berlin một chuyến xem sao. Chuyến đi này rắc rối vô cùng!

Trước đây vào năm 1961 tôi sử dụng giấy thông hành của Pháp cấp cho người không có quốc tịch, giấy này đôi khi gây rắc rối cho tôi khi xin nhập cảnh vì có nước e ngại, như lần đi Ba Tư chẳng hạn. Đến năm 1962, anh của Phạm Duy là Phạm Duy Khiêm làm Đại sứ của Chánh phủ miền Nam tại Pháp ngỏ ý cấp hộ chiếu cho tôi để có thể đi đây đi đó dễ dàng hơn. Vì vậy từ cuối năm 1962 tôi sử dụng giấy thông hành của Việt Nam Cộng hòa.

Đầu tháng 2 năm 1964 tôi lấy vé máy bay đi Berlin vào ngày thứ Ba cho kịp chiều thứ Năm nói chuyện về âm nhạc dân tộc Việt Nam tại Viện nghiên cứu âm nhạc Tây Bá Linh. Nhưng ngày hôm đó nhiều sương mù nên các chuyến bay đều bị hoãn, sáng hôm sau tôi buộc phải chuyển qua đi xe lửa từ Gare du Nord ở Pháp, xuyên nước Bỉ, ngang qua thành phố Cologne của Tây Đức rồi mới tới Berlin.

Tôi quên mất một điều là mình mang giấy thông hành Việt Nam, hễ ngang qua nước nào cũng phải xin thị thực quá cảnh mặc dầu chỉ ngồi trên xe lửa. Do đó khi tới Bỉ, cảnh sát biên phòng yêu cầu tôi phải tới Tòa lãnh sự Bỉ xin thị thực quá cảnh. Có một chiếc taxi túc trực sẵn tại nhà ga để đưa những người gặp cảnh ngộ như tôi.

Từ nơi này đến văn phòng lãnh sự Bỉ vừa đi vừa về mất nửa tiếng đồng hồ. Nhưng xe lửa chỉ ngừng tại đây có 10 phút, nên khi tôi trở lại thì xe lửa đã rời ga Bruxelles từ lâu. Tôi đành mua vé chuyến xe tốc hành loại TEE (Train Europe Express) hy vọng đi kịp đến Cologne đón đầu chuyến xe lửa vừa rồi để lấy hành lý và tư liệu đã gởi. Ngồi trên xe lửa tôi mới khám phá ra quầy vé đã bán lộn cho tôi vé đi Dusseldorlf! Một lần nữa tôi phải đổi xe đi Cologne.

Chiều tối tới nơi, tôi cẩn thận nhờ nhà ga coi kỹ xem giấy tờ tôi có đầy đủ để ngày mai đi Berlin hay không và được trả lời là hoàn toàn hợp lệ. Sáng hôm sau tôi lên xe lửa đi Tây Bá Linh, tới biên giới thì cảnh sát Đông Đức lên xét giấy tờ đòi phải có thị thực của Đông Đức. Nhưng may lần này chỉ phải đóng tiền 10 mark Tây Đức để được đóng dấu quá cảnh, mặc dầu tôi cũng hơi lo không biết sau này Tòa Đại sứ miền Nam thấy tôi có đi qua Đông Đức liệu có làm khó dễ hay không.

Nhưng vẫn chưa hết rắc rối. Khi xe lửa phải qua trạm kiểm soát trước khi vô Tây Bá Linh, người soát vé cho biết vé xe lửa của tôi ghi đi đến Đông Đức mà giấy thông hành của Chánh phủ miền Nam cấp lại không có hiệu lực tại nơi này. Hóa ra là do người bán vé đã ghi sai: tôi mua vé đi Tây Bá Linh, tiếng Pháp là Berlin Ouest, người đó lại ghi lầm là Ost Berlin, mà tiếng Đức thì Ost Berlin là Đông Đức!

Tôi vào Đông Bá Linh như vậy là bất hợp pháp nên bị buộc phải xuống xe và bị giữ trong một căn nhà nhỏ để đợi lịnh của Bộ Nội vụ Đông Đức. Trời lạnh nên họ đốt lò sưởi lên, tôi thấy vậy rầu trong bụng, nghĩ chắc phải ở đây suốt đêm rồi. Lúc đó là 2 giờ chiều, mà 5 giờ tôi đã phải có mặt để nói chuyện.

Viên cảnh sát biên phòng cho biết nếu tôi có quen ai tại Đông Bá Linh thì người đó có thể bảo lãnh cho tôi được. Tôi nói rằng có quen một giáo sư ở tại Leipzig nhưng viên chức này không chấp nhận vì cơ quan công an biên phòng ở Bá Linh khó liên lạc với Leipzig. Tôi nhớ đến một người quen ở Paris trước đây, nghe nói đang làm đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Đức là ông Phạm Ngọc Thuần. Họ đi kiểm tra lát sau trở lại cho biết ông Thuần đã mãn nhiệm từ hai năm nay! Nhưng may mắn là người đại sứ mới có biết tôi nên xác nhận tôi chỉ là người nghiên cứu âm nhạc, nhờ đó tôi được quyền đi tiếp sang Tây Bá Linh.

Trong thành phố Bá Linh có đường xe ngầm gọi là U Bahn và xe chạy trên cầu là S Bahn. Thường những xe đi tới vùng Tây Bá Linh thì không chạy qua biên giới Đông Bá Linh, ngược lại xe từ Đông Bá Linh khi ngang qua trạm Tây Bá Linh không được dừng lại. Lần này đặc biệt xe S Bahn phải ngừng cho tôi xuống Tây Bá Linh nên tôi phải ngồi trong một toa riêng cùng với người lính đi kèm, tới nhà ga họ tháo toa xe này để lại đây.

Vừa bước xuống xe tôi thấy mọi người xếp hàng dài, hỏi thăm thì được biết họ chờ xin đóng thị thực nhập cảnh. Lúc đó là 4 giờ chiều, nếu phải chờ đợi tới phiên sẽ trễ giờ, tôi đi thẳng tới hàng đầu trình bày tôi là một nhà nhạc học, cần phải có mặt lúc 5 giờ rưỡi để thuyết trình về âm nhạc nên xin được giải quyết ưu tiên. Họ cho biết đây chỉ là nơi thị thực cho người từ Tây Bá Linh trở về Đông Bá Linh!

Vậy là tôi chỉ cần lên từng lầu trên làm thủ tục đổi tiền, tôi ba chân bốn cẳng chạy lên lầu, đổi tiền xong vội vàng kêu điện thoại cho Viện nghiên cứu Âm nhạc nhưng điện thoại bị bận liên tục. Sau này tôi mới biết vì đã gần 5 giờ chiều mà tôi chưa tới nên Viện đành phải gọi điện khắp nơi xin hồi buổi nói chuyện, lấy lí do vì thời tiết xấu nên diễn giả không tới kịp. Khi tôi bắt được liên lạc, Ban tổ chức mừng rỡ hướng dẫn tôi cách đi taxi tới Viện, một mặt điện thoại thông báo lại cho các nơi mời khách tới dự.

Tôi tới Viện âm nhạc vào lúc 5 giờ 25 phút! Trải qua một cuộc hành trình bão táp, tôi chỉ kịp rửa mặt qua loa rồi bước lên diễn đàn đúng 5 giờ 30 như dự định. Tôi nói chuyện về âm nhạc Việt Nam có đờn minh họa. Khi đờn tới bản Nam Xuân là một bài đòi hỏi tâm hồn phải hết sức thanh thản, tôi cười thầm trong bụng nghĩ rằng nếu có người tri âm ngồi đây sẽ nhận ra tâm hồn tôi lúc này quả thật không thanh thản chút nào!

Bữa sau tôi lại xin giấy trở qua Đông Đức để lấy hành lý còn gởi trên xe lửa, phải làm đủ thứ giấy tờ cực khổ mới lấy được va li về Tây Đức.

Chuyến đi này mang lại điều lợi là tuy tôi không qua Đức làm việc theo yêu cầu của ông Alain Dniélou nhưng ông vẫn lập một khoa Âm nhạc Việt Nam, trực thuộc Viện nghiên cứu Âm nhạc tại Berlin do tôi phụ trách, có một thư ký riêng làm việc 3 ngày trong tuần giúp tôi tìm tư liệu trong sách báo hoặc trong các viện bảo tàng. Ngoài ra ông còn cho tôi một ngân quỹ để làm dĩa hát.

Nhân dịp bà Bá tước De Chambure qua thăm Việt Nam, tôi nhờ bà tìm gặp giáo sư Nguyễn Hữu Ba nhờ anh ghi âm hai loại nhạc truyền thống ở Huế và ở miền Nam. Bà De Chambure là người giàu có, thích mua sắm nhiều loại nhạc cụ nhạc khí của châu Á hình thành một bảo tàng viện riêng sau đó hiến cho Nhạc viện Paris. Bà cũng có đồn điền cao su ở Việt Nam nên thường xuyên về đây.

Về tới Sài Gòn, bà De Chambure đưa chương trình ghi âm do tôi soạn trước cho anh Nguyễn Hữu Ba. Anh sốt sắng nhận lời, ra Huế ghi âm các loại nhạc cung đình, nhã nhạc, về miền Nam thâu băng nhạc lễ, trống lạy do Tư Huyện chỉ đạo, và ca nhạc tài tử do nhạc sĩ Sáu Tửng đờn, ca sĩ Bạch Huệ ca, nghĩa là thực hiện đầy đủ tất cả những mong ước của tôi. Khi đánh giá được tầm quan trọng của công việc này, chính quyền địa phương miền Nam ngỏ ý cho một số tiền để thực hiện dĩa hát. Giáo sư Nguyễn Hữu Ba liên lạc hỏi ý kiến nhưng tôi không đồng ý và đề nghị chỉ làm trong vòng số tiền của Viện nghiên cứu Âm nhạc Tây Bá Linh tài trợ mà thôi.

Với các loại nhạc do anh Nguyễn Hữu Ba ghi âm tại Việt Nam, tôi thực hiện hai dĩa hát mang tên Việt Nam I và Việt Nam II tại Tây Đức, phát hành vào năm 1967. Cả hai dĩa nhạc này ghi rõ do Trần Văn Khê và Nguyễn Hữu Ba chỉ đạo nghệ thuật.

Dĩa Việt Nam I sau đó được hai giải thưởng: “Deutscher Schallplatten Preis”, một giải thưởng lớn về dĩa hát của Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 1969; đồng thời được Hàn lâm viện Dĩa hát Pháp tặng: “Giải thưởng lớn về dân tộc nhạc học” (Grand Prix: Prix d’ethnomusicologie) vào năm 1970. Các giải thưởng nói trên là phần thưởng “danh dự”, được cấp bằng ban khen chớ không có hiện vật kèm theo. Nhưng điều quan trọng là được ghi ngoài bìa “Phần thưởng lớn cho dĩa hát” (Grand prix du disque) nhờ vậy mà bán chạy hơn.

Khi tôi gởi cho anh Nguyễn Hữu Ba dĩa hát có dán nhãn giải thưởng của Đức và Pháp, anh rất vui mừng và đặt trang trọng trong tủ kiếng tại nhà.

Nhờ ông Daniélou giúp đỡ cho tôi có một cơ sở để nghiên cứu cũng như có thơ ký lo đánh máy các văn bản nên tôi hoàn tất được một bản thảo về Âm nhạc truyền thống Việt Nam vào năm 1965. Đến năm 1967 quyển sách này được xuất bản bằng tiếng Pháp, sau đó được dịch ra tiếng Đức.

Cả hai dĩa hát và cuốn sách đều do Viện nghiên cứu Âm nhạc với phương pháp đối chiếu tại Tây Bá Linh tài trợ, Hội đồng Quốc tế Âm nhạc đứng tên chủ trì công trình nghiên cứu và hai dĩa hát được mang nhãn hiệu của UNESCO.

Sau khi hoàn thành cuốn sách thứ nhì và phát hành hai dĩa hát, tôi rút ra một bài học kinh nghiệm là đừng sợ không có phương tiện, chỉ cần quyết tâm thì sẽ tìm ra được cách thức thực hiện được điều mình mong muốn. Tôi rất vui mừng khi những ý tưởng trừu tượng hằng ôm ấp trong lòng nay đã hình thành ra những công trình cụ thể.

Trong năm 1964 tôi được lên chức trong Trung tâm Nghiên cứu Âm nhạc, từ Tùy viên nghiên cứu (Attaché de recherche) lên Ủy viên đặc nhiệm (Chargé de recherche), nghĩa là được làm việc vĩnh viễn trong Trung tâm với điều kiện mỗi năm phải hoàn tất ít nhứt một vài đề tài nghiên cứu mới.

Năm này tôi cũng đi dự một hội nghị quốc tế âm nhạc được tổ chức tại Hamburg với tư cách thành viên của Ban chấp hành Hội đồng Quốc tế Âm nhạc. Tôi lại được mời thuyết trình trong một buổi thảo luận quan trọng về đề tài “Đại ca kịch của các nước trên thế giới”.

Dịp này tôi trình bày về những nghệ thuật ca kịch của Việt Nam như hát tuồng, chèo và cải lương. Ban đầu tôi dự định chỉ để băng nhạc minh họa cho bài tham luận, nhưng rất may lúc đó cô Bảy Phùng Há và nghệ sĩ Kim Cương đang có mặt tại Pháp nên tôi mời hai người cộng tác.

Thời gian này Cô Bảy và Kim Cương được mời biểu diễn trích đoạn Lữ Bố hí Điêu Thuyền tại nhà hàng La Table du Mandarin. Tôi thấy trích đoạn này rất hay bèn đề nghị giới thiệu tại hội nghị bên Đức. Muốn vậy cả hai người phải nghỉ hát ở nhà hàng mà còn phải bỏ tiền túi để đi. Còn đang phân vân thì anh Mười chủ tiệm ăn nghe nói vậy bèn đồng ý cho phép cả hai người nghỉ diễn vài bữa tại nhà hàng đồng thời đài thọ luôn tiền vé máy bay.

Nhưng còn một trở ngại là phần nhạc đệm. Tôi nhờ anh Danh – một người giúp việc trong tiệm La table du Mandarin – đờn kìm và đánh trống, còn tôi đờn tranh và đánh chập chỏa. Cô Bảy Phùng Há phải diễn trước cho chúng tôi coi để canh cho nhạc ăn khớp với phần biểu diễn.

Đến khi ra diễn, tôi giới thiệu cô Bảy Phùng Há trong vai Lữ Bố đi qua chiếc cầu gặp Điêu Thuyền rồi ẵm vào lòng. Trong lúc đó Kim Cương đóng vai Điêu Thuyền làm màu mè khóc lóc rất điêu luyện, khán giả vỗ tay khen ngợi từng hồi khiến Kim Cương thích chí gạt nước mắt khóc tiếp. Vậy là phần biểu diễn không còn ăn khớp với nhạc trong cuộn băng thâu sẵn. Đến khi nhạc chuyển sang bài Khốc Hoàng thiên, thấy đã bị lố mấy câu, cô Bảy Phùng Há ứng phó bằng cách giậm chân nhảy phốc qua sông ẵm Điêu Thuyền vào lòng. Khán giả không chú ý nên vẫn vỗ tay khen ngợi như thường.

Nhưng sau buổi diễn có ông Régamey là người rất sành về tuồng Tàu nhận xét rằng ông không thấy Lữ Bố đi qua cầu như lời giới thiệu mà chỉ thấy nhân vật này nhảy qua sông. Trời đang lạnh mà cô Bảy Phùng Há xuất hạn mồ hôi. Cô nói rằng một người am tường chỉ trích mình còn đáng sợ hơn là một trăm người không biết mà khen ngợi mình. Cũng may sau đó ông Régamey trấn an cô Bảy:

– Bà đừng lo, chỉ mình tôi nhận biết điều này mà thôi.

Lữ Bố hí Điêu Thuyền là một lớp cải lương diễn theo phong cách của tuồng cổ nên tôi phải giới thiệu sự cách điệu hóa trong phần biểu diễn, từ câu hát đến điệu bộ. Khi cô Bảy Phùng Há xuất hiện, sân khấu như sáng rực lên, trang phục của cô đẹp đẽ mà nghệ thuật biểu diễn hết sức nhuần nhuyễn. Buổi nói chuyện với phần minh họa rất thành công, tất cả đại biểu say mê thưởng thức, sau khi diễn xong mọi người đồng loạt đứng dậy vỗ tay hoan nghinh. Tiết mục này được xem là cái đinh của hội nghị, rất nhiều kịch sĩ đến xin chữ ký của hai nữ nghệ sĩ Việt Nam và mời đi ăn tiệc trên sông Hamburg.

Cả ba người chúng tôi đều vui mừng trước sự thành công này. Mười giờ đêm hôm đó, sau khi tan bữa tiệc trở về cô Bảy Phùng Há vẫn còn thú vị rủ tôi cùng đi bách bộ để tận hưởng cảm giác sung sướng vì đã thành công trong việc giới thiệu kịch nghệ Việt Nam ra trường quốc tế.

Sau khi về Pháp, anh Khiêm, bạn tôi ở Thụy Sĩ, mời chúng tôi sang Genève để diễn tại CERN là một cơ quan nghiên cứu về nguyên tử lực. Chuyến đi Thụy Sĩ rất vui, có cả cô Bảy Nam, thân mẫu của Kim Cương, và Mộng Trung cùng đi. “Ông bầu” Khiêm lo đãi ăn trưa và chiều, để cả cháo gà, hủ tiếu cho bữa khuya sau đêm biểu diễn.

Đáng nhớ nhất trong năm 1965 là việc tôi thực hiện một phim về nhạc Ấn Độ, nhân dịp gặp gỡ hai anh em nhạc sĩ vốn sanh trưởng trong một dòng họ mấy đời có truyền thống chuyên hát nhạc cổ điển rất đặc sắc của Ấn Độ là ông Mohinuddin Dagar và ông Aminuddin Dagar.

Tôi đứng ra tổ chức cho hai ông vừa giảng dạy vừa nói chuyện về âm nhạc truyền thống Ấn Độ tại Trung tâm Nhạc học phương Đông và Đại học Sorbonne, đồng thời biểu diễn nghệ thuật hát theo phong cách Dhrupad trong một buổi hòa nhạc do UNESCO tổ chức tại Paris. Kết quả ngoài sự chờ đợi, thính giả đứng dậy vỗ tay rất lâu.

Nhận thấy truyền thống hát Dhrupad quá đặc biệt về mặt âm nhạc cũng như trong nghệ thuật biểu diễn, trong khi đó Viện Nghiên cứu Tây Bá Linh chỉ có duy nhứt một dĩa ghi âm của hai nghệ sĩ thượng thặng này nên tôi nảy ra ý tưởng làm một cuộn phim. Nhưng công việc chính của tôi tại CNRS là nghiên cứu nhạc Việt Nam nên không có quyền nghiên cứu nhạc Ấn Độ. Muốn thực hiện một phim về kỹ thuật hát Dhrupad, tôi phải xin nghỉ việc 3 tháng không ăn lương và tìm cách gây quỹ để thuê phim trường, mướn người quay phim.

Tôi đến gặp ông Pierre Schaffer, Giám đốc “Nhóm nghiên cứu âm nhạc” (Groupe de recherche musicale) của Đài phát thanh Pháp trình bày việc tôi định làm và xin tài trợ. Ông Pierre Schaffer là một nhạc sĩ rất nổi tiếng, cha đẻ của một loại nhạc gọi là “Nhạc cụ thể” (musique concrète): ông khám phá ra những nét nhạc trong từng giọt mưa rơi, tiếng con vụ quay, tiếng xe chạy… và lập ra trường phái này. Khi nghe tôi trình bày về nhạc truyền thống Ấn Độ Dhrupad, ông đồng ý cấp cho tôi 30 ngàn quan và được sử dụng phim trường Cơ quan nghiên cứu của ông để quay phim.

Cuốn phim này là một tư liệu về dân tộc học rất quí đối với những người nghiên cứu khoa học, được ông Gilbert Rouget viết bài khen ngợi trong Bách khoa tự điển La Pléiade về Dân tộc học.

Sau khi phim hoàn tất, tôi làm báo cáo và giới thiệu cuộn phim. Ông Schaffer rất thích thú nên đề nghị để cho ông đứng tên và đọc lời giới thiệu, vì theo ông, tôi chưa có tên tuổi sẽ không gây được sự chú ý. Tôi thấy ông nói có lý nên đồng ý, không ngờ sau đó ông để tên GRM (Group de Recherche Musicale) thực hiện phim, còn tôi chỉ được ghi là cố vấn về âm nhạc. GRM là nhóm nghiên cứu âm nhạc do ông Schaffer làm giám đốc.

Nghiệp đoàn trong CNRS rất bất bình cho rằng ông Schaffer cướp công của tôi nên đề nghị tôi kiện nhưng tôi không đồng ý. Tôi đã thực hiện được mong ước của mình, khi làm xong rồi thì ai đứng tên đối với tôi không quan trọng. Tôi làm việc này không phải vì danh hay vì lợi mà vì tấm lòng đối với những giá trị truyền thống đẹp đẽ cần được lưu giữ. Hơn nữa, trước đó tôi vận động khắp nơi nhưng không ai chịu cho tiền, cũng nhờ ông Schaffer bỏ tiền ra mới có phim này nên coi như tôi chịu ơn ông. Ông lại là người có tên tuổi, tôi không muốn vì một chuyện nhỏ mà đi kiện cáo làm mất uy tín của ông. Hơn nữa trên thực tế mọi người đều biết chính tôi là người thực hiện phim đó. Nghiệp đoàn rất bất bình khi tôi không chịu ký tên vào đơn kiện ông Schaffer và nhóm nghiên cứu GRM.

Không ngờ hai năm sau, ông Schaffer được Chánh phủ Pháp bổ nhậm vô Ủy ban xét duyệt tất cả những đề án và báo cáo nghiên cứu về âm nhạc của nhân viên Phân bộ “Nghiên cứu văn học và âm nhạc” mà tôi trực thuộc. Ông biết chuyện tôi không kiện ông theo ý kiến của nghiệp đoàn và có lẽ cảm kích về điều này nên từ đó trở đi đã hết lòng giúp đỡ và dành cho tôi nhiều ưu tiên. Chẳng hạn nhóm nghiên cứu của ông mời tôi nói chuyện 10 buổi trên Đài phát thanh về âm nhạc truyền thống châu Á, khi tôi xin 10 ngàn quan để mua băng từ, phim ảnh, thì ông duyệt cho 15 ngàn quan. Tôi xin việc gì hay cần đi đâu đều được ông giải quyết. Ông luôn sẵn sàng ủng hộ tôi, những năm sau đó tôi được lên chức trước thời hạn đều do ông đề nghị.

Những điều tôi nhận lại nhiều hơn cả chục lần so với việc tôi đã chịu thiệt thòi khi thực hiện phim về nhạc Ấn Độ. Đó cũng là một bài học trong đời cho tôi: xử sự với tình người thường được trả lại bằng tình người.

Việc thực hiện cuốn phim này là một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời nghiên cứu của tôi. Mặc dầu không phải là nhà làm phim, nhưng với tầm nhìn của người nghiên cứu tôi đã lưu giữ được hình ảnh về việc biểu diễn theo phong cách Dhrupad của hai bậc kỳ tài về âm nhạc truyền thống Ấn Độ.

Sau khi ông Mohinuddin qua đời, chánh phủ Ấn Độ xin chép lại phim tư liệu này để lưu trữ vì chính Ấn Độ cũng không có phim nào đầy đủ về cách hát theo truyền thống Dhrupad như vậy.

TríchHồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

Kỳ 5: Chuyện gia đình

GIÁO SƯ TRẦN VĂN KHÊ

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu


Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 6 – Bôn ba bốn biển năm châu

27/06/2015 11:07 GMT+7

TTO – Năm 1971, Diễn đàn Âm nhạc châu Á được tổ chức lần thứ nhì. Diễn đàn này được tổ chức lần thứ nhất vào năm 1969 do sáng kiến của ông Jack Bornoff, thư ký ban chấp hành Hội đồng Quốc tế âm nhạc và ông Alain Daniélou, cố vấn Hội đồng Quốc tế âm nhạc.

Jpeg
Jpeg

Tại viện âm nhạc của Đại học Sorbonne, GS Trần Văn Khê và con gái Thủy Ngọc giới thiệu nhạc Việt Nam vào năm 1968 – Ảnh tư liệu

>> Kỳ 1: Thời thơ ấu>> Kỳ 2: Lập gia đình>> Kỳ 3: Đất khách quê người>> Kỳ 4: Giới thiệu âm nhạc truyền thống>> Kỳ 5: Chuyện gia đình

>> Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1

Trước đó UNESCO đã có Diễn đàn Âm nhạc châu Âu, hằng năm các đài phát thanh châu Âu đem những chương trình phát thanh nhạc cổ điển hay cận đại của mình đến Paris để tham dự. Một ủy ban gồm các chuyên gia âm nhạc và đại diện các đài phát thanh sau khi nghe xong sẽ bỏ thăm cho điểm, tuyển lựa tiết mục xuất sắc nhất để tuyên dương. Tuy không có tặng thưởng hiện vật nhưng chương trình nào được tuyển lựa sẽ được rất nhiều đài phát thanh trên thế giới xin phát thanh, nhờ vậy chương trình đó được phổ biến rộng rãi.

Hai ông hỏi ý kiến tôi, nếu dựa theo mô hình này mà tổ chức Diễn đàn Âm nhạc châu Á liệu có thành công hay không. Tôi nghe vậy rất mừng, cho rằng dầu chưa biết thành công hay không nhưng được cái lợi là các nước châu Á sẽ thấy UNESCO cũng quan tâm đến âm nhạc châu Á.

Diễn đàn tổ chức lần đầu chỉ có bốn đoàn tham dự gồm Nhựt Bổn, Đài Loan, Ấn Độ, Ba Tư và Nhựt Bổn được giải nhứt. Lần này diễn đàn được mở rộng, tuy là thành viên của Ủy ban tuyển lựa từ hai năm trước, nhưng tôi không thể đề nghị Đài phát thanh Việt Nam tham dự vì trong nước còn đang chiến tranh. Cậu học trò người Đài Loan của tôi là Cheng Shui Cheng giới thiệu một chương trình độc tấu pipa (tì bà Trung Quốc) do người thầy của cậu biểu diễn. Tiết mục đó được tuyển chọn cùng chung với nhạc Ấn Độ.

Bắt đầu từ thời gian này công việc của tôi rất nhiều. Năm 1968 tôi được thăng chức nghiên cứu sư (Maitre de recherche au CBRS), nên ngoài công việc của mình, tôi phải chỉ đạo cho những người tùy viên nghiên cứu. Tôi lại được quyền tham gia chỉ đạo và hướng dẫn các thí sinh thi tiến sĩ nhạc học. Trong số các “Thành viên với tính cách cá nhân” chỉ có tôi sống tại Paris nên mỗi khi có vấn đề gì liên quan đến âm nhạc Á, Phi là Hội đồng Quốc tế âm nhạc lại mời tôi đến họp để hỏi ý kiến.

Tôi cũng giúp cho Trung tâm Nghiên cứu âm nhạc Đông phương mời những nhà nghiên cứu hay các nhạc sĩ có tên tuổi biểu diễn.

Tôi rất hài lòng vì không chỉ giới thiệu âm nhạc Việt Nam mà còn cả âm nhạc truyền thống của các nước khác để giúp người phương Tây hiểu thêm về nhạc châu Á, nhờ đó mà các mối quan hệ quốc tế của tôi ngày càng mở rộng.

Cũng vào năm 1971 tôi được mời đi dự hội nghị của Hội đồng Quốc tế âm nhạc tổ chức tại Moscow với tư cách là “Thành viên có tính cách cá nhân”. Đó là lần đầu tiên tôi đến một nước xã hội chủ nghĩa và được tiếp đãi khá trọng hậu.

Trưởng phái đoàn của Đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa là anh Đỗ Nhuận, tổng thơ ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Tôi nghe tên anh từ lâu và rất vui khi được diện kiến.

Tại hội nghị tôi được quen với các giáo sư của Cộng hòa dân chủ Đức, Hungary, Ba Lan, có thêm những người bạn trong lãnh vực âm nhạc và sau đó tôi được mời sang các nước xã hội chủ nghĩa nhiều lần.

Điểm đặc biệt là sau 10 ngày ở Moscow thì tôi được mời sang nói chuyện tại Trường đại học Carbondale của tiểu bang Illinois ở miền Nam nước Mỹ.

Đây là cuộc gặp gỡ về âm nhạc Việt Nam do giáo sư Nguyễn Đình Hòa dạy ngôn ngữ Việt Nam tại đại học này tổ chức. Tại đây tôi nói chuyện về lịch sử âm nhạc Việt Nam và các vấn đề liên quan đến nhạc ngữ như thang âm, điệu thức, tiết tấu… Ngoài ra còn có hai người ở Sài Gòn được mời tham dự là nhạc sư Vĩnh Bảo – cựu giáo sư Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, cũng là một nghệ nhân đóng đờn danh tiếng – giảng về cách đờn, cách đóng đờn và nhạc sĩ Phạm Duy nói về dân ca Việt Nam cùng những ca khúc mới. Ba anh em chúng tôi được anh chị Nguyễn Đình Hòa và các con của anh chị tiếp đãi rất nồng hậu.

Đã từ lâu tôi chưa được đờn chung với nhạc sĩ nào từ Việt Nam qua, cho nên cách đờn của tôi còn giữ nguyên chất ngây ngô, mộc mạc và quê mùa của thời còn đi học. Lần đó tôi được nghe tiếng đờn điêu luyện và sâu sắc của anh Vĩnh Bảo, vừa bay bướm vừa mượt mà, mang đầy sức sống mãnh liệt trẻ trung của dân tộc. Nhờ gặp anh mà cách đờn của tôi thay đổi rất nhiều.

Thân phụ anh Vĩnh Bảo vốn là học trò của ông nội tôi về đờn dân tộc, còn anh Vĩnh Bảo thì chơi thân với cậu Năm tôi. Tôi ngưỡng mộ anh qua tiếng đờn trong những cuộn băng của bác sĩ Phạm Kim Tương ghi âm từ bên nhà gởi qua. Vì vậy tuy chưa gặp nhau mà có cảm giác như đã quen từ lâu, nên lần này vừa gặp mặt chúng tôi đã trở thành thân thiết.

Ban tổ chức sắp đặt mỗi người ở một biệt thự riêng, hai chúng tôi ở hai nơi xa nhau, mỗi lần cần nói chuyện phải trao đổi qua điện thoại. Anh Vĩnh Bảo đề nghị tôi dọn qua ở chung, tôi đồng ý và ngày nào hai anh em cũng nói chuyện rồi đờn tới khuya. Anh tặng tôi một cây đờn mà tôi còn giữ cho đến nay, mặt đờn đóng bằng gỗ ngô đồng, tiếng đờn trong và đẹp vô cùng. Khi gặp anh, tôi vẫn còn đờn bài vọng cổ 16 nhịp, chính anh hướng dẫn cho tôi đờn bài vọng cổ 32 nhịp.

Gặp lại Phạm Duy lần này chúng tôi nói chuyện về sáng tác mới. Tuy không theo dõi sát nhạc mới nhưng tôi cũng rất thích nên thường trao đổi thơ từ với Phạm Duy ở Sài Gòn và anh Lưu Hữu Phước ở miền Bắc.

Khi ở Pháp tôi chỉ lo việc nghiên cứu, không có dịp gặp được các nhạc sĩ cổ nhạc hay tân nhạc. Do đó cuộc gặp gỡ ở Carbondale đem lại cho tôi nhiều bổ ích, đó là tiếng đờn dân tộc đương thời và những bài hát sáng tác theo phong trào mới. Trong một thời gian rất ngắn, tôi thâu thập được nhiều kiến thức từ những bậc thầy thượng thặng, học được những nét đặc biệt của mỗi người, đó cũng là một cơ duyên của tôi.

Ba tuần ở Carbondale qua mau như chớp mắt. Tôi trở về Pháp trước, anh Vĩnh Bảo ở lại thêm vài tháng để dạy một khóa đóng đờn, sử dụng loại gỗ có sẵn bên Mỹ chớ không phải bằng cây tung hay ngô đồng như ở Việt Nam. Đầu năm 1972, trên đường về nước anh Vĩnh Bảo ghé Paris ở chơi với tôi một tháng.

Dịp này anh dạy cho con gái tôi thêm những ngón đờn, nhận dạy một số học trò tại nhà tôi, đồng thời nói thêm về lịch sử âm nhạc dân tộc Việt Nam thời kỳ cận đại cho tôi nghe. Anh nhắc lại từng nhạc sĩ thời đó như Sáu Tửng, Năm Vinh, Mười Phú, Hai Thơm. Tôi thâu âm tất cả vào băng, đây là tư liệu rất quý do một nhân chứng sống ngay trong thời kỳ cận đại kể lại.

Mặc dầu rất bận rộn tôi vẫn luôn chú ý đến chuyện học của con, nhưng cũng không bao giờ ép con phải học theo đúng ý mình. Anh Vĩnh Bảo dạy đờn rất kỹ, Thủy Ngọc nhấn một chữ “xang” theo hơi Ai cả tiếng đồng hồ mà anh vẫn chưa vừa ý. Thủy Ngọc tiếp thu chậm mà lại dễ thối chí nên tôi phải tìm cách can thiệp. Tôi để micro ở phòng khách chuyền dây vào phòng làm việc của mình, mỗi khi anh Vĩnh Bảo dạy đến hồi căng thẳng, đoán biết Thủy Ngọc sắp sửa òa khóc tôi bèn lên tiếng sai con làm một việc gì đó để giải tỏa, nhờ vậy mà sau đó Ngọc mới tiếp tục học được.

Khi Thủy Ngọc thối chí không muốn học nữa, tôi cắt nghĩa cho con hiểu được học với bác Vĩnh Bảo ngay tại nhà là một điều may mắn vì những học trò khác thường phải năn nỉ bác mới nhận dạy và phải đổ đường từ xa tới để học. Khi Thủy Ngọc học khá hơn, anh Vĩnh Bảo đóng cho một cây đờn mà con tôi rất thích.

Một bữa anh Vĩnh Bảo và tôi cùng hòa đờn rất hào hứng ở một trường đại học. Trong số thính giả có ông Charles Duvelle, giám đốc Hãng OCORA, một cơ sở rất có uy tín trực thuộc đài phát thanh, chuyên cộng tác nhiều nơi để làm chương trình phát thanh, trong đó có việc in dĩa hát. Ông mời hai chúng tôi thâu thanh một dĩa hát nhạc tài tử lấy tên Nhạc truyền thống miền Nam Việt Nam để phát hành trong loạt dĩa âm nhạc truyền thống thế giới của OCORA.

Anh Vĩnh Bảo là một người rất giàu nghệ sĩ tính và làm việc tùy hứng, hễ không hứng thì không đờn. Buổi sáng hôm ghi âm, chương trình định sẵn gồm anh Vĩnh Bảo đờn tranh, tôi đờn tì bà bản Lưu thủy, Bình bán, Kim tiền; kế đó anh Vĩnh Bảo đờn xến, tôi đờn gáo bản Tây Thi Quảng; tiếp theo anh Vĩnh Bảo đờn tranh, tôi đờn kìm bản Phú lục. Cuối cùng là hai đoạn anh Vĩnh Bảo rao tùy hứng với đờn kìm và đờn tranh độc tấu. Ông Charles Duvelle rất thích nên đích thân tới nghe. Mọi người đã sẵn sàng để ghi âm, bỗng nhiên anh Vĩnh Bảo nói nhỏ với tôi:

– Tôi không có hứng mà lại thèm cà phê nữa, bây giờ mà đờn sẽ không hay đâu. Anh nói với ông Charles Duvelle cho mình một tiếng đồng hồ để đi uống cà phê.

Tôi đành phải nói với ông Charles Duvelle rằng bạn tôi là người rất giàu nghệ sĩ tính, khi không có hứng đờn sẽ không hay vì tiếng đờn không có hồn. Thật là may mắn, ông Duvelle hết sức thông cảm và đồng ý. Ông ra lịnh cho kỹ sư thâu thanh chờ khi nào nhạc sĩ Vĩnh Bảo sẵn sàng thì mới thâu.

Phòng thâu có sẵn máy pha cà phê, chỉ việc bấm nút là có nhưng anh Vĩnh Bảo không thích uống cà phê bột mà đòi uống cà phê phin.

Được người chủ tỏ ra thông cảm, được bạn chiều theo ý thích, anh Vĩnh Bảo cảm kích nên khi uống cà phê xong trở vô thâu thanh, anh hứng thú đờn xuất thần khiến tôi cũng hào hứng lây. Thâu thanh xong ông Charles Duvelle thú vị đến nỗi ngoài tiền thù lao còn ký một ngân phiếu tặng riêng nhạc sĩ đã cho ông hưởng được những giờ phút say sưa với âm nhạc.

Anh Vĩnh Bảo rất cảm động khi nhận tấm ngân phiếu, coi đó là lời khen bằng hiện vật của một người tri âm tri kỷ. Ông Charles Duvelle cũng chụp hình anh Vĩnh Bảo để in lên trên bìa dĩa hát.

Dĩa hát này bán rất chạy trong năm 1973 và khi in lại thành dĩa CD vào năm 1994 đã được tạp chí phê bình nhạc Diapason tặng danh hiệu Dĩa hát Diapason vàng vì là dĩa hát bán chạy nhứt trong năm. Hễ dĩa hát nào được dán huy hiệu đó ở ngoài bìa thì rất có uy tín. Riêng tôi lần nào nghe lại cũng thấy xúc động.

Có một sự tình cờ trùng hợp khi nghệ sĩ đờn tranh trẻ tuổi Hải Phượng qua Pháp hòa đờn với tôi vào năm 1994, người phụ trách Hãng dĩa OCORA lúc đó là ông Claude Samuel cũng muốn thâu thanh một dĩa hát.

Năm 1972 tôi hòa đờn cùng với anh Vĩnh Bảo, người bạn cùng thế hệ với mình. Hơn 20 năm sau, tôi lại cùng với Hải Phượng, tuổi bằng cháu ngoại tôi, thâu thanh một dĩa hát CD nhạc tài tử có tên “Đờn tranh Việt Nam xưa và nay”. Lần này tôi đề nghị ghi tên cháu trước vì tôi muốn đề cao lớp trẻ. Việc tôi là một người thầy mà tình nguyện đứng sau tên học trò làm cho mọi người ngạc nhiên. Nhứt là đối với Hãng OCORA, xưa nay họ chỉ toàn mời các bậc cao tuổi, nên học trò có đờn cũng chỉ để phụ họa, mà nói theo tiếng nghề nghiệp là ông thầy cứ đứng án bàn thờ tổ nghiệp nên lớp trẻ khó mà phát huy được tài năng.

Dĩa hát sau khi phát hành nhận được hai giải thưởng, một giải thưởng “Dĩa hát hay nhứt trong năm 1994” ở Đức và một giải hạng nhứt “Choc” của Tạp chí Thế giới âm nhạc ở Pháp. (Choc trong tiếng Pháp nghĩa là chấn động, ý muốn nói người nghe dĩa này sẽ có cảm giác như bị chấn động). Ông Laurent Aubert, nhà phê bình nhạc, đã nói rằng ông bị “chấn động” sau khi nghe dĩa hát này.

Trong cuộc đời nghiên cứu và hoạt động âm nhạc, tôi được hưởng những niềm vui mà dầu có tiền nhiều đến đâu cũng không mua được. Niềm vui này không phải do tôi được lợi lộc gì mà là vì tôi nhận rõ một điều bước đường đem nhạc dân tộc ra nước ngoài của mình ngày càng tiến xa hơn.

Vừa trở về Pháp, tôi phải lên đường sang Liên Xô tham dự Diễn đàn Âm nhạc châu Á do Liên Xô và UNESCO tổ chức tại Alma Ata, thủ đô nước Cộng hòa xã hội Xô viết Kazakhstan, một vùng có truyền thống âm nhạc đặc biệt, rất gần với châu Á.

Ủy ban tuyển lựa của diễn đàn gồm bảy thành viên do ông Narayana Menon người Ấn Độ làm chủ tịch, còn tôi là phó chủ tịch. Hai chúng tôi được tiếp đãi đặc biệt hơn năm thành viên kia, có xe hơi và thông dịch riêng, phòng ở rộng rãi và đủ tiện nghi. Ngoài việc tuyển lựa các tiết mục xuất sắc của những đài phát thanh châu Á như thường lệ, diễn đàn lần này còn tổ chức hội thảo về “Ngôn ngữ âm nhạc châu Á”.

Đây là lần đầu tiên Diễn đàn Âm nhạc châu Á được tổ chức tại một nước thuộc châu Á, có nhiều chương trình âm nhạc châu Á cho đại biểu tham dự diễn đàn và công chúng thưởng thức. Lại có một hội thảo quy tụ nhiều nhà nhạc học danh tiếng về nhạc châu Á. Đây là một tiền lệ rất hay để từ đó về sau các Diễn đàn Âm nhạc châu Á đều làm theo cách này.

Tôi đã viếng thăm Moscow, nay lại tới một vùng thuộc châu Á của Liên Xô, biết được thêm một phong cách khác. Đặc biệt có lần vào buổi sáng tôi được nghe đài phát thanh phát bài hát quan họ Yêu nhau cởi áo cho nhau do một ca sĩ Liên Xô hát bằng tiếng Việt. Tôi vô cùng xúc động khi thấy bài ca quan họ đã vượt ra biên giới của 49 làng quan họ tỉnh Bắc Ninh, đi khắp nước Việt Nam rồi ra thế giới. Khi ở Pháp tôi đã được nghe bài quan họ này một lần, nay lại nghe tận một nước cộng hòa xa xôi của Liên Xô.

Tại Alma Ata, tôi được nghe nhiều điệu nhạc vừa lạ vừa hay. Đặc biệt nhứt của vùng này là cây đờn dombra truyền thống, có thùng hình bầu dục, cần rất dài, phím không phải bằng tre hay kim loại mà bằng gân con trừu, có thể xê dịch được tạo thành những quãng không cố định, hoặc thấp hơn hoặc cao hơn các quãng thông thường một chút, nhờ vậy màu sắc thang âm hết sức phong phú.

Tôi đã được nghe tiếng đờn dombra trong một dĩa hát nên khi qua Kazakhstan tôi háo hức chờ nghe chính người dân tộc địa phương đờn. Nhưng khi quan sát cây đờn tôi bất ngờ thấy nó đã bị chỉnh lại, phím gân trước kia xê dịch được cho nghe những quãng không cố định, nay bị cột chặt lại. Tôi rất thất vọng bởi giờ đây khi đánh lên âm thanh nghe như tiếng đờn mandoline, với thang âm bình quân như đờn piano chớ không còn đầy màu sắc như ngày trước.

Trong hội nghị này đoàn Kazakhstan giới thiệu chương trình đại quy mô với dàn nhạc dân tộc gồm hàng trăm cây đờn dombra, bảy tám chục người hợp xướng, tất cả đều mặc trang phục truyền thống màu sắc rực rỡ. Sau đó tôi được tặng cây đờn dombra đổi mới mà tôi còn giữ cho đến nay.

Các bạn Liên Xô trong ban tổ chức biết tôi là người nghiên cứu âm nhạc châu Á nên mời dự tiệc trà để thăm dò ý kiến, hỏi cảm tưởng của tôi sau buổi trình diễn hôm qua. Tôi nói:

– Thưa các bạn, các bạn là những người am tường cũng như hiểu rõ thị hiếu và khuynh hướng thẩm mỹ của dân tộc mình, đã suy tư nghiền ngẫm rất lâu để tìm cách thể hiện cho hay. Tôi không biết gì về truyền thống Kazakhstan trong khi đó chỉ được nghe qua vài ba giờ đồng hồ thì làm sao dám phê bình.

Họ hỏi tôi có thích hay không, tôi trả lời:

– Điều này lại càng khó nói, bởi thích hay không là tùy thuộc vào quan điểm cá nhân, tùy thuộc sự hiểu biết của tôi, nếu không thích có khi là do tôi không hiểu. Tôi chỉ có thể nói là tôi nghe với sự tò mò nhiều hơn, tôi nghe bằng lý trí để tìm hiểu chớ chưa có được sự rung cảm của con tim. Xin các bạn cho một dịp khác, khi đã hiểu biết nhiều hơn sẽ trả lời với các bạn tôi thích hay không.

Theo phép tắc xã giao, khi người khách được mời tới nhà ăn cơm thì dù thức ăn nấu không ngon cũng không dám chê dở, nhưng nếu ngon sẽ khen liền. Có lẽ hiểu như vậy nên sau buổi biểu diễn ban tổ chức nhờ anh Zagorski thăm dò ý kiến của tôi. Anh là người bạn cùng làm việc chung trong Hội đồng Quốc tế âm nhạc, hai chúng tôi thường trao đổi thân mật vui vẻ với nhau. Buổi tối Zagorski ăn cơm với tôi, sau hai ba tuần rượu Vodka, anh nói:

– Các bạn tôi muốn biết ý kiến của anh nhưng anh thoái thác, nhưng nếu tôi hỏi liệu anh có chịu trả lời hay không?

– Tôi sẵn sàng trả lời vì anh là bạn của tôi.

– Anh cho biết nhận xét của mình về buổi biểu diễn của đoàn Kazakhstan?

– Tôi có hai điều muốn nói về cả hình thức lẫn nội dung. Về hình thức, tôi hết sức buồn bởi cả trăm nhạc sĩ mặc quần áo dân tộc đẹp đẽ vô cùng ngồi đàn dưới sự chỉ huy của một người mặc lễ phục theo phương Tây. Dàn hợp xướng bảy tám chục người mặc trang phục dân tộc rất rực rỡ nhưng người lĩnh xướng lại mặc áo đuôi tôm. Hình ảnh đó gây cho tôi cảm giác phương Đông chịu sự chỉ huy của phương Tây nên tôi không chấp nhận được.

Theo tôi thì trang phục biểu diễn phải đồng bộ từ người chỉ huy đến cả người hát. Việc để người ăn mặc theo phương Tây đứng chỉ huy người mặc theo phương Đông cho thấy các anh trong tinh thần còn lệ thuộc phương Tây. Còn về nội dung, tôi nhớ trước đây âm thanh tiếng đờn dombra nghe đầy màu sắc còn bây giờ thì không còn được như vậy nữa.

– Dàn nhạc có cả trăm cây đờn, nếu để như cũ thì mỗi đờn âm thanh mỗi khác sẽ không hòa được với nhau.

– Tại sao phải cần đến cả trăm cây để cho mất hết màu sắc, trong khi bản chất của cây đờn này chỉ cần một hai cây hòa với nhau đã đầy màu sắc và gây xúc cảm trong lòng người nghe. Số lượng nếu không đi đôi với chất lượng thì không còn giá trị, mà nếu lỡ sai một chỗ thì sai lầm đó lại bị nhân lên gấp trăm. Các anh sửa nhạc khí và cách đờn như vậy có hơn được cái cũ không?

– Có chớ, điểm hay là đờn hòa với nhau không lạc giọng, lại có cái lợi là khi đờn thiệt mau không bị lạc phím.

– Tuy hòa đờn không bị lạc phím nhưng lại thành đơn điệu. Thang âm của nhạc dân tộc Kazakh rất độc đáo, muốn đờn mau như khi dùng thang âm bình quân của piano thì không còn bản sắc dân tộc nữa. Đối với nghệ thuật không nên chú trọng tới chuyện nhanh hay chậm mà quan trọng là có đi vào lòng người hay không. Âm nhạc là tiếng nói. Đâu phải nói mau là hay. Về nội dung tôi thấy rằng đưa ra cây đờn như vậy chỉ làm cho nó xuống cấp. Tôi cũng mong mỏi được nghe lại tiếng đờn dombra truyền thống để có thể thưởng thức nét độc đáo của âm nhạc dân tộc Kazakh.

Nghe xong anh Zagorski nói:

– Anh nói nhiều điều tôi nghe cũng có lý. Nếu tôi lặp lại những lời của anh cho ban tổ chức buổi biểu diễn, anh có giận tôi không?

– Không, tôi nói điều này xuất phát từ lòng quý mến một người bạn. Tôi đã nói cho anh nghe rồi thì chuyện của tôi đã thành chuyện của anh và anh trọn quyền sử dụng theo ý mình. Nếu anh nói với các bạn không khéo hay lặp lại không thật đúng để họ giận tôi thì đó là lỗi của anh.

Hôm sau anh Zagorski nói lại với các bạn và có lẽ nhờ nói khéo nên ban tổ chức chẳng những không giận mà còn nhờ anh mời tôi ở lại thêm một tuần lễ. Tôi có việc bên Pháp nên không nhận lời mời.

Hai bữa sau ban tổ chức mời năm người nhạc sĩ truyền thống Kazakh tới đờn dombra “nguyên xi” và trình bày nhạc dân tộc chính cống. Tôi xúc động không thể nói được, còn tất cả những người tham dự đều khen ngợi. Sau bữa này tôi phân tích với anh Zagorski:

– Tính ra lần này về mặt kinh tế thì các anh lỗ, còn về mặt nghệ thuật thì thất bại. Các anh tốn công sửa đờn, bỏ tiền may quần áo cho cả trăm người, cơm ghe bè bạn tập dượt hàng tháng, vậy mà khi ra biểu diễn không làm mọi người xúc động. Trong khi đó chỉ với năm người vừa đờn vừa hát và đánh trống theo điệu dân gian, không tốn kém bao nhiêu mà chúng tôi hết sức thích thú. Các anh muốn làm đại quy mô nhưng rốt cuộc không đạt được kết quả về mặt nghệ thuật, bất quá chỉ có thể làm người ta nể phục vì sự đồ sộ. Nhưng âm nhạc không cần làm cho người ta kính nể mà phải làm rung động lòng người.

Anh Zagorski vỗ vai tôi:

– Anh thiệt lạ, mới qua không lâu đã thấy được nhiều điều mà chúng tôi chứng kiến hằng ngày lại không để ý.

Sự việc này càng củng cố thêm quan điểm của tôi là trong nghệ thuật số lượng phải đi đôi với chất lượng. Trong khi luyện tập, cần phải nắm bắt được kỹ thuật để phục vụ cho nghệ thuật, nhưng nếu dùng kỹ thuật để phô trương kỹ thuật thì chỉ mới đứng ở ngưỡng cửa của nghệ thuật mà thôi.

Trong giới nghiên cứu, kể cả những bạn trong khoa dân tộc học là những người thường đi điền dã tại các nước xa xôi, nhưng cũng hiếm người được đi nhiều như tôi. Đặc biệt ít có năm nào mà tôi lại đi nhiều, đi xa và thú vị bằng năm 1974.

Đầu mùa xuân tôi đến Rennes, một thành phố vùng Bretagne của Pháp để dự hội nghị về đề tài nhạc dân tộc truyền thống. Ba cha con tôi cùng tham dự để giới thiệu âm nhạc Việt Nam.

Tiếp theo tôi tham dự liên hoan quốc tế của Hội Thanh niên yêu nhạc quốc tế tổ chức tại Zagreb, thủ đô của Nam Tư. Hải bận công việc nên chỉ có tôi với Thủy Ngọc đi dự. Các con tôi ngoài việc góp sức cùng cha giới thiệu nhạc Việt Nam cũng là dịp học hỏi trên thực địa rất quý giá.

Liên hoan quy tụ nhiều ban nhạc của các nước, kỳ này đặc biệt có dàn nhạc cung đình và dàn nhạc dân gian của Triều Tiên tham dự. Viện Nhạc học Seoul dưới sự điều khiển của giáo sư Lee Hye Gu (Lý Huệ Cầu) đã dựng lại hai loại nhạc cung đình tang ak (đường nhạc) và hyang ak (hương nhạc) đã thất truyền từ lâu.

Nhạc công mặc áo thụng đỏ, đội mão đen, biểu diễn những bản nhạc tấu trong cung đình ngày xưa với những nhạc khí truyền thống đã được hoan nghinh nhiệt liệt. Báo chí phỏng vấn, các đài truyền thanh truyền hình đua nhau ghi âm, ghi hình và phát trong những chương trình đặc biệt.

Điều này làm tôi nhớ lại năm 1963 bà bá tước De Chambure có ghi âm chương trình nhạc cung đình Huế in trong dĩa của UNESCO được hai giải thưởng lớn dành cho dĩa hát bên Đức và bên Pháp. Nhưng chẳng biết giờ đây nhạc cung đình có còn được biểu diễn tại quê nhà không hay đã bị chìm trong quên lãng rồi! Nhìn thấy kết quả của nhạc Triều Tiên mà vui cho âm nhạc truyền thống châu Á đồng thời lo cho truyền thống của nước nhà.

Đến mùa hè, vào tháng 7 tôi lại có một chuyến viễn du rất thú vị đến châu Mỹ La tin dự hội nghị về âm nhạc truyền thống tổ chức tại hai nơi, thành phố Rio de Janeiro xinh đẹp ở cạnh bờ biển cát trắng, và thành phố Sau Paulo trù phú, dân cư đông đúc, ở phía trong lục địa của nước Brésil. Đây là lần đầu tôi đến một quốc gia nằm tại bán cầu phương Nam, được viếng hai thành phố đẹp nhứt của Brésil.

Đêm nhạc châu Á và châu Phi do tôi và bạn tôi, giáo sư nhạc sĩ Salah el Mahdi người Tunisie, giới thiệu. Hai chúng tôi rất vui mừng vì quen nhau đã lâu mà chưa bao giờ cùng đờn chung trong một chương trình nhạc hội quốc tế. Nhạc sư Salah el Mahdi chuyên đờn Ud, một nhạc khí giống như đờn tì bà. Ông cũng là tác giả bài quốc ca của nước Tunisie.

Dịp này đúng vào ngày sinh nhật thứ 53 của tôi. Trải qua quá nửa đời người, tôi xúc động được có một vài bạn tri âm tri kỷ từ các nơi xa xôi cùng dự hội nghị, thể theo lời mời của ông tổng thơ ký ban chấp hành Hội đồng Quốc tế am nhạc, đã đến uống với tôi một ly rượu chúc mừng. Tại đây tôi được tiếp đón một cách trang trọng để nói chuyện về âm nhạc Việt Nam, được viếng thăm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước xinh đẹp này.

Năm đó tôi có duyên với bán cầu phương Nam, mới đi Brésil về lại chuẩn bị đi Úc. Chỉ trong vòng mấy tháng, tôi từ châu Âu qua châu Mỹ La tin rồi đi tới châu Úc, tiếp xúc với nhiều dân tộc mà mỗi nơi có một phong cách hoàn toàn khác nhau.

Hội Quốc tế về giáo dục âm nhạc tổ chức tại thành phố Perth, thủ phủ của miền tây Úc châu, một hội nghị rất lớn về đề tài “Giáo dục âm nhạc tại châu Á”. Giáo sư người Úc tên Frank Calaway làm trưởng ban tổ chức rất muốn tôi có mặt trong hội nghị này. Nhưng vé máy bay từ Paris qua Úc rất mắc, đó là chưa kể chi phí ăn ở mười mấy bữa tại đây. Ông phải gởi thơ tới nhiều nơi, kể cả UNESCO vận động xin tài trợ, nhưng cuối cùng ngân quỹ không đủ để đài thọ chi phí cho tôi. Ông rất tiếc và viết thơ đề nghị tôi gởi bài tham luận để ban tổ chức đọc trong hội nghị. Tôi nhận lời và không nghĩ tới chuyến đi Úc châu nữa mặc dầu đó là điều tôi vẫn ao ước.

Không ngờ sau đó tôi lại được thơ ông Callaway đề nghị một phương án khác. Ông sẽ tổ chức cho tôi hòa nhạc vào buổi trưa (lunch concert), nghĩa là sau khi ăn trưa tất cả đại biểu đều ở lại để nghe tôi biểu diễn đờn tranh. Ông hỏi tôi có bằng lòng đờn vào giờ đó hay không, có lẽ ông sợ tôi mệt vì buổi sáng phải đọc tham luận, trưa lại đờn. Tôi gởi điện tín trả lời rất thú vị được dịp đờn để giới thiệu nền văn hóa nghệ thuật của dân tộc Việt Nam.

Ông Callaway vui mừng gởi ngay điện tín báo cho biết Đài phát thanh tại Perth sẽ ghi âm buổi hòa nhạc của tôi. Đổi lại họ đài thọ cho tôi một vé máy bay hạng nhứt của Hãng hàng không Qantas, không chỉ đi từ Paris qua Úc mà có giá trị đi tới bất cứ nước nào ở châu Á trong vòng hai tháng. Điều này nằm ngoài sự tưởng tượng của ban tổ chức, riêng tôi thì ngoài niềm vui được đi Úc còn tính xa hơn, bởi nước châu Á mà tôi ước ao đi tới nhứt chính là Việt Nam.

Trích Hồi ký Trần Văn Khê (Phương Nam phát hành)

Kỳ 7: Quy cố hương
Trần Văn Khê

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150627/hoi-ky-tran-van-khe-ky-6-bon-ba-bon-bien-nam-chau/766791.html

Hồi ký Trần Văn Khê: Kỳ 2 – Lập gia đình 4
Vĩnh biệt thầy GS.TS Trần Văn Khê – người truyền lửa 4
Mời bạn nghe sách nói Hồi ký Trần Văn Khê phần 1
Hồi ký Trần Văn Khê 1: kỳ 1 Thơ ấu vào đời 3