SONG KỲ – NAM YÊN : “Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn


Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê:

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch, người làm náo động cả Sài Gòn

(LĐĐS) – Số 28 Song Kỳ – Nam Yên – 7:50 AM, 26/07/2015
Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch và Lê Thương thời trẻ (Ảnh từ trái qua).

Như đã biết, Trần Văn Khê là anh cả trong gia đình có 3 anh em, hai người còn lại là Trần Văn Trạch và Trần Ngọc Sương. Giống như người anh cả Trần Văn Khê, hai người em cũng lớn lên trong môi trường âm nhạc của gia đình, về sau đều thành danh. Đặc biệt là người em kế Trần Văn Trạch, tuy kém anh mình ở học hàm, học vị, nhưng cũng đủ sức làm náo động cả Sài Gòn suốt thời gian dài bằng tài năng nghệ thuật của mình.

“Khê anh” và “Khê em”

Trần Văn Trạch sinh năm 1924, nhỏ hơn Trần Văn Khê 3 tuổi. Thuở nhỏ, cũng giống như anh mình, Trần Văn Trạch theo học tiểu học ở Collège de Mỹ Tho (Trường Trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường. Ngay từ lúc nhỏ, ông đã có năng khiếu về âm nhạc, lại được người cô ruột là cô Ba Viện chỉ dạy, nên ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Ông còn học đàn mandoline với anh ruột Trần Văn Khê và học đàn violon với người anh họ Nguyễn Mỹ Ca. Ở tuổi thiếu niên, ông đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Kể về đứa em kế của mình, GS.TS Trần Văn Khê viết: “Khi Trạch mới sanh, cả nhà đều vui mừng. Ông nội tôi muốn đặt tên con cháu đều có bộ Thủy nên cha tôi tên Triều là dòng nước, tôi tên Khê là khe suối, em tôi tên Trạch là ao, đầm. Nhưng từ lúc lên một, mỗi khi trong nhà có ai gọi em tôi “Trạch ơi!” là con cháu của bà cụ láng giềng trùng tên thấy khó chịu, nên qua xin ông nội tôi đặt tên khác cho chú bé Trạch, để bà khỏi bị kêu réo tên bà”. Từ đó, dù trong sổ bộ vẫn tên Trần Văn Trạch, nhưng cậu bé Trạch được gọi cái tên mới là “Khê em”, còn Trần Văn Khê là “Khê anh”. Trong gia đình và cả làng Vĩnh Kim, ai nấy đều gọi 2 anh em là “Khê anh” và “Khê em”.

GS.TS Trần Văn Khê kể tiếp: “Tuy chúng tôi cách nhau 3 năm, chúng tôi không rời nhau, như anh em sinh đôi. Tối đi ngủ, sáng thức dậy một lượt, cùng ăn lót lòng giống nhau, môt gói bắp nấu, một gói xôi đậu hay xôi nếp than có dừa nạo muối mè. Mỗi buổi ăn, ngồi gần nhau, đi tắm sông, tập đi xe đạp, học võ Thiếu Lâm với anh ba Thuận con của cậu năm Khương, cả khi đi tiểu, đi tiêu cũng đều cùng một lúc”.

Sau khi Trần Văn Khê lên Sài Gòn học Trường Petrus Ký rồi ra Hà Nội học ngành y, Trần Văn Trạch cũng rời quê hương lên Sài Gòn đi theo nghiệp âm nhạc. Nhưng chỉ hơn năm sau, tại quê nhà, cô Ba Viện (như là mẹ ruột của 3 anh em Trần Văn Khê) lâm trọng bệnh. Vì chữ hiếu, “Khê em” phải bỏ giữa chừng mọi dự tính, trở về quê lo tròn chữ hiếu. GS.TS Trần Văn Khê kể: “Khi cô tôi đau nặng, bịnh lao đã tới thời kỳ thứ ba, trắc nghiệm trong đàm đã thấy có vi trùng Koch. Cô tôi có một người giúp việc rất trung thành, tình nguyện nuôi cô tôi lúc đau ốm. Nhưng Trạch, nhứt định bỏ cả công việc về làng Vĩnh Kim, vừa tìm việc làm ăn hùn hiệp với một người anh họ để làm lò chén vừa để mỗi ngày đạp xe lôi đưa cô tôi đi hứng gió ở ngã ba chim chim, cách nhà cô tôi đang ở hơn 1 cây số. Trạch thuê đóng một chiếc xe lôi có ghế nệm, mỗi ngày khi mặt trời xế bóng về chiều, Trạch đạp xe đạp, đưa cô tôi đi hứng gió…”.

Lúc đó, ở Mỹ Tho, có một gia đình người Pháp làm công chức. Người Pháp này có cảm tình với cậu học sinh đàn hay, hát giỏi Trần Văn Trạch. Lúc Nhật đảo chính Pháp năm 1945, ông người Pháp bị bắt lên tập trung tại Sài Gòn. Trước khi đi, ông gởi gắm gia đình nhờ Trạch trông nom. Ông có một cô gái lớn rất đẹp và trai tài gái sắc đã gặp nhau, cuộc tình dẫn đến sự ra đời của một đứa bé. Khi phong trào Việt Minh nổi dậy, Trần Văn Khê gia nhập Thanh niên cứu quốc. Trần Văn Trạch dắt cô vợ Pháp và đứa con nhỏ vào vùng kháng chiến tìm anh. Để rồi sau khi gặp anh ở Cần Thơ, Trần Văn Trạch được vào Ðội quân nhạc Nam bộ và hai anh em sống lại cuộc đời thuở nhỏ, cùng ăn một mâm, cùng ngủ dưới một mái nhà.

“Quái kiệt” Trần Văn Trạch. 

Người khai sinh nhạc hài hước

Sau khi Nhật đầu hàng trong Thế chiến 2, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà ở Sài Gòn được phép mở cửa trở lại. Trần Văn Trạch trở về Sài Gòn xin vào làm hoạt náo và hát tại Dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau đó, ông mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, TPHCM). Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán ca nhạc tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TPHCM). Nhằm câu khách, ông Trạch thường hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho một cái tên rất Tây là Tracco. Trong thời gian cùng anh trai đi theo ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương. Nhìn thấy Trần Văn Trạch tiềm ẩn nét duyên pha lẫn chất hài, Lê Thương viết thử bài ca hài cho bạn trình diễn. Ðó là bài “Hòa bình 48”, Trạch hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom… Trạch trình diễn thành công, Lê Thương nổi hứng viết tiếp bài “Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu; rồi bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp… cũng do ông Trạch hát. Vì những bài hát này mà Lê Thương và Trần Văn Trạch có lần bị cảnh sát bắt giam ở bót Catinat mấy ngày.

Năm 1949, Trần Văn Trạch đã nảy ra ý nghĩ mở đại nhạc hội – một chương trình văn nghệ tổng hợp bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật… Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền, kể từ đó cái tên “đại nhạc hội” trở nên phổ biến. Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ “chương trình văn nghệ phụ diễn” cũng ra đời từ đó. Trần Văn Trạch cũng sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn. Bản nhạc “Anh phu xích lô” là sáng tác đầu tiên của ông. Ông viết tiếp những bài hát hài “Cái tê-lê-phôn”, “Cái đồng hồ tay”, “Cây bút máy”, “Anh chàng thất nghiệp”, “Sở vòi rồng”, “Đừng có lo”, “Tôi đóng xinê”, “Chiếc ôtô cũ”, “Chiến xa Việt Nam”… Bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú về chất duyên, hài hước của ca từ, giai điệu và cách diễn xuất của chính tác giả.

“Quái kiệt” đa tài

Ngoài nghiệp ca hát và sáng tác, Trần Văn Trạch còn cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, ông cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là “Lòng nhân đạo” (1955) và “Giọt máu rơi” (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương. Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về truyện cổ tích Việt Nam, đó là “Thoại Khanh – Châu Tuấn” (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và “Trương Chi – Mỵ Nương” (1956, đóng chung Trang Thiên Kim, La Thoại Tân).

Năm 1961, sau một chuyến lưu diễn 6 tháng ở Pháp, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là màn múa rối học được ở Pháp. Đồng thời, người yêu nhạc Sài Gòn lấy làm thích thú giọng hát Trần Văn Trạch với bài hát “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa). Bài “Chiều mưa biên giới” với giọng hát Trần Văn Trạch đã đứng vững trong làng tân nhạc Sài Gòn suốt mười mấy năm, hầu như không có ca sĩ nào ở Sài Gòn hát bài này qua Trần Văn Trạch. Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch còn là “ông bầu”, chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ. Khoảng giữa thập niên 1960, bắt đầu từ một bài báo, biệt danh “Quái kiệt Trần Văn Trạch” đã xuất hiện ở Sài Gòn, gắn liền với người nghệ sĩ đa tài mà mỗi lần xuất hiện đều làm náo động sàn diễn.

Hầu hết người Sài Gòn và cả miền Nam không thể nào quên bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” do chính Trần Văn Trạch sáng tác và hát mỗi chiều thứ bảy, khi Đài Phát thanh Sài Gòn phát sóng trực tiếp chương trình xổ số kiến thiết hàng tuần. Cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, phong trào chơi vé số, kèm theo đó là nạn chơi số đề, nở rộ khắp Sài Gòn và cả miền Nam. Bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” qua giọng hát thu hút của Trần Văn Trạch như thêm thôi thúc người dân đến với xổ số và số đề: “Kiến thiết quốc gia/ Giúp đồng bào ta/ Xây đắp muôn người/ Được nên cửa nhà/ Tô điểm giang san/ Qua bao lầm than/ Ta thề kiến thiết/ Trong giấc mộng vàng/ Triệu phú đến nơi/ Chỉ mười đồng thôi/ Mua lấy xe nhà/ Giàu sang mấy hồi…”.

Tháng 12.1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp), ông tiếp tục có những năm tháng sống gần gũi với anh trai là GS.TS Trần Văn Khê. Từ đó trở đi, Trần Văn Trạch gần như chia tay với hoạt động nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống. Trần Văn Trạch mất ngày 12.4.1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière Intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris. Ngày ông qua đời, người anh trai là GS.TS Trần Văn Khê đang ở Việt Nam để sưu tầm âm nhạc truyền thống dân tộc. GS.TS Trần Văn khê đã tức tốc bay về Paris làm chủ tang cho đứa em ruột thịt của mình, đứa em đã từng gắn bó với ông trong những ngày niên thiếu và cùng đi chung với ông trên con đường nghệ thuật thênh thang.

http://laodong.com.vn/van-hoa/quai-kiet-tran-van-trach-nguoi-lam-nao-dong-ca-sai-gon-356437.bld

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Một gia đình đại thụ âm nhạc
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp


Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê: Từ làng Vĩnh Kim tới Đại học Sorbonne Pháp

(LĐĐS) – Số 27 Song Kỳ – Nam Yên – 6:50 PM, 19/07/2015

GS.TS Trần Văn Khê và nhạc sĩ Phạm Duy.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình “đại thụ âm nhạc”, được thừa hưởng truyền thống và những tố chất âm nhạc, nhưng cuộc đời không trải thảm để Trần Văn Khê bước đến vinh quang. Những biến cố trong gia đình cộng với hoàn cảnh đất nước bị xâm lược… đã làm cho những năm tháng tuổi trẻ của ông gặp không ít thăng trầm.

Nhưng với tài năng bẩm sinh, nhiệt huyết cháy bỏng, ông đã vượt qua mọi trở ngại để đạt đến đỉnh cao tài năng trong âm nhạc, góp phần quan trọng làm cho âm nhạc truyền thống Việt Nam được vinh danh trên thế giới.

Từ Vĩnh Kim ra đi

Trần Văn Khê sinh ngày 24.7.1921, là anh cả trong gia đình có 3 anh em. Năm 9 tuổi, ông mồ côi mẹ, đến năm 10 tuổi lại mồ côi cha. Ba anh em Trần Văn Khê đã được cô ruột Trần Ngọc Viện (cô Ba Viện) nuôi và dạy dỗ chu đáo. Ông học tiểu học tại Mỹ Tho, đến năm 13 tuổi ông được cô Ba Viện đưa lên Sài Gòn học tại Trường Trung học Pétrus Ký. Tại đây, Trần Văn Khê cùng 2 bạn học là Lưu Hữu Phước và Võ Văn Quan lập dàn nhạc của trường và dàn nhạc trong câu lạc bộ học sinh mang tên Scola Club của Hội Đức trí Thể dục.

Năm 1941, ông được học bổng của chính phủ thuộc địa và học bổng của Hội Đức trí Thể dục ra Hà Nội học y khoa tại Đại học Đông Dương. Tại đây, Trần Văn Khê có một kỉ niệm nhớ đời. Ông kể: “Ngày khai giảng ở trường đại học (nay là số 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội) để lại ấn tượng không phai mờ trong tôi. Từ nhỏ đến lớn sống ở miền Nam, mỗi lần có lễ lạc gì chỉ nghe bài La Marseillaise trỗi lên cùng với lá cờ tam tài – quốc ca và quốc kỳ của nước Pháp. Nhưng trong ngày khai giảng này, sau khi dứt bài La Marseillaise, một điệu nhạc lạ tai trỗi lên tiếp theo cùng với một lá cờ màu vàng được kéo lên. Một anh bạn miền Bắc đứng kế bên khẽ nói: “Quốc kỳ và quốc ca của ta đấy!”. Tôi vô cùng xúc động, ngây người ngắm lá cờ đang lần lần vươn lên cao, lắng nghe giai điệu mới mẻ mà cả hai dòng nước mắt chảy dài”…

Kể từ ngày đó, trong ông có một ý nghĩ thôi thúc tìm hiểu thêm về đất nước, dân tộc. Tại Đại học Đông Dương, ông cùng các bạn Huỳnh Văn Tiểng, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Phan Huỳnh Tấng (tức Phạm Hữu Tùng)… hoạt động trong tổng hội sinh viên, tham gia ban nhạc, khuấy động phong trào thanh niên lành mạnh, khơi dậy tình dân tộc thể hiện qua các hành khúc đầu tay của Lưu Hữu Phước như: “Người xưa đâu tá”, “Bạch Đằng giang”, “Ải Chi Lăng”…

Cũng năm đó, chàng thanh niên 20 tuổi Trần Văn Khê đã đứng trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội chỉ huy dàn nhạc, hát bằng tiếng Pháp và giới thiệu dân ca 3 miền Việt Nam. Báo La Volonté Indochinoise đã viết khen ngợi: “Việt Nam có một sinh viên trẻ tuổi chỉ huy dàn nhạc với phong cách một nhạc sĩ nhà nghề”. Đó là một kỉ niệm đẹp về đêm nhạc sinh viên đầu tiên của Trần Văn Khê.

Năm 1943, khi còn đang học ngành y ở Đại học Đông Dương, Trần Văn Khê trở về Nam lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sương – người bạn học cùng lớp triết ở Trường Pétrus Ký Sài Gòn. Bị sốt rét nặng, rồi nạn đói ở miền Bắc hoành hành, Trần Văn Khê và nhiều bạn bè phải rời trường về Nam. Tại quê nhà, ông dạy học và đi khắp nơi để hát các bài hát của Lưu Hữu Phước nhằm nhắc lại những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.

Trở thành Giáo sư Đại học Sorbonne

Năm 1945, Trần Văn Khê tham gia kháng chiến, cùng Lưu Hữu Phước đặt các điệu kèn cho quân đội để thay thế các điệu kèn Tây thổi lúc sáng sớm thức dậy, lúc chào cờ, lúc đi ngủ. Các ông tổ chức đoàn quân nhạc gồm các nhạc sĩ công giáo làng Lương Hoà (Bến Tre), đi khắp vùng Đồng Tháp, chợ Thiên Hộ, tới Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… giúp ban tuyên truyền vận động toàn dân kháng chiến, vừa quyên góp tiền để giúp nhà thương quân đội, đàn hát cho thương binh nghe.

Cuối năm 1946, Trần Văn Khê về Sài Gòn vừa viết cho báo Thần Chung, Việt Báo, tạp chí Sông Hương, tạp chí Mai, vừa dạy Anh văn. Được phân công phê bình âm nhạc và sân khấu, Trần Văn Khê thường gặp gỡ các đào kép cải lương như Tư Chơi, Năm Châu, Bảy Nhiêu, Duy Lân… để bàn về sự phát triển của cải lương. Năm 1948, vì các hoạt động yêu nước, Trần Văn Khê bị thực dân Pháp bắt giam tại khám Catinat. Sau khi được trả tự do, năm 1949, Trần Văn Khê cùng một số bạn rời Việt Nam sang Pháp, vừa “lánh nạn” vừa đi du học. Ông ra đi với hai bàn tay trắng, một bộ đồ vải tropical và bản hợp đồng làm “phóng viên” với các báo kể trên. Ông bắt đầu cuộc sống tự lập nơi đất khách quê người bằng cách vừa học, vừa làm nhiều nghề.

Suốt thời gian từ 1949 – 1951, ông viết mục “Điểm báo”, làm phóng viên về các sinh hoạt của Việt kiều, viết du kí, phóng sự cắt gửi về toà soạn những bài xã luận về chính trị quốc tế và chính trị liên hệ đến Việt Nam. Sau đó, Trần Văn Khê thi đỗ vào Viện Khoa học Chính trị nổi tiếng mang tên Sciences Po và tốt nghiệp hạng cao (hạng 5) Khoa Giao dịch quốc tế sau hai năm miệt mài học tập và học thêm Anh văn tại Đại học Văn khoa Paris. Sau khi tốt nghiệp, ông phải đi điều trị bệnh và giải phẫu 4 lần. Ngay trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu, đọc nhiều sách tại thư viện Paris và học tiếng Ả Rập từ những bệnh nhân cùng phòng.

Cuối năm 1954, ông theo học và làm luận án tiến sĩ tại Khoa Anh văn và Âm nhạc học, Trường Đại học Sorbonne, Paris, Pháp. Để có tiền sinh hoạt, ông đã làm nhiều công việc như thuyết trình về âm nhạc, kịch nghệ, kể chuyện cổ tích Việt Nam cho đài BBC, đóng phim, lồng tiếng… Tháng 6.1958, ông bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ với đề tài “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” và hai đề tài phụ “Khổng Tử và âm nhạc”, “Vị trí âm nhạc trong xã hội Việt Nam”. Từ đây, ông bắt đầu đi những bước đầu tiên trên chặng đường dài mà mình đã chọn: Sưu tầm, nghiên cứu, quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Kể từ khi ông trở thành một giáo sư – tiến sĩ ở Đại học Sorbonne danh tiếng, thế giới bắt đầu biết đến hình ảnh một “thầy đờn” Việt Nam độc đáo và hấp dẫn kỳ lạ. Ông không bỏ lỡ một dịp nào để đem lời ca, tiếng nhạc Việt Nam đến khắp năm châu dù đó là những lần thuyết trình trên các đài truyền thanh, truyền hình hay trong các chuyến đi tham dự hội nghị âm nhạc.

GS.TS Trần Văn Khê và NSND Phùng Há. 

Về với cội nguồn

Năm 1975, ông trở về Việt Nam với tư cách Giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp, thành viên Hội đồng Quốc tế Âm nhạc thuộc UNESCO. Ông không ngần ngại thừa nhận rằng, công trình khoa học về âm nhạc truyền thống Việt Nam làm nên tấm bằng tiến sĩ của ông còn nhiều thiếu sót, hạn chế do được thực hiện trong hoàn cảnh xa đất nước.

Từ năm 1976 – 1990, năm nào ông cũng về Việt Nam, lặn lội khắp các miền đất nước, ghi âm, chụp hình trên 500 bài dân ca, dân nhạc các loại nhằm tìm hiểu cặn kẽ một nền âm nhạc đa dạng và sâu rộng. Mỗi năm, ông dành ra 2-3 tháng để thuyết trình tại các trường đại học trong nước. Những kiến thức bác học và cách thuyết trình tài hoa của GS.TS Trần Văn Khê đã gieo vào lòng nhiều thế hệ sinh viên tình yêu âm nhạc truyền thống và niềm tự hào về quê hương, dân tộc. Ông không chỉ nổi tiếng là người phổ biến âm nhạc dân gian Việt Nam với thế giới mà còn là người cực kỳ am hiểu âm nhạc dân tộc của nhiều nước.

Gần nửa thế kỉ nghiên cứu, hoạt động và giảng dạy âm nhạc ở 67 quốc gia trên thế giới, GS.TS Trần Văn Khê đã viết hàng trăm bài báo và tham luận về đề tài âm nhạc dân tộc Việt Nam được dịch ra 14 thứ tiếng. Ông đã thực hiện được gần 30 đĩa hát 33 vòng và CD về âm nhạc Việt Nam và âm nhạc một số nước châu Á; đã tham dự 210 hội nghị quốc tế về âm nhạc và âm nhạc học trên 67 quốc gia, gần 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc khắp năm châu. GS.TS Trần Văn Khê là thành viên của nhiều hội quốc tế về âm nhạc và nghiên cứu âm nhạc.

Năm 2003, sau hơn nửa thế kỉ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài, GS.TS Trần Văn Khê đã trở về Tổ quốc với dự định tiếp tục làm công việc nghiên cứu, giảng dạy, gặp gỡ bạn bè trong và ngoài nước để góp phần bảo vệ, bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc truyền thống. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, GS.TS Trần Văn Khê là người Việt Nam đầu tiên được ghi danh và tiểu sử vào cuốn “Đại từ điển âm nhạc thế giới”, được tặng Giải thưởng đặc biệt về âm nhạc của UNESCO (1981), Huân chương Văn hoá nghệ thuật của chính phủ Pháp (1991), Huân chương Lao động hạng Nhất của nước CHXHCN Việt Nam (1999), giải thưởng “Vinh danh nước Việt”…

GSTS Trần Văn Khê có 4 người con. Hai con trai là GS.TS Trần Quang Hải hiện là nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tại Paris và Trần Quang Minh hiện là kiến trúc sư ở TPHCM. Hai con gái của ông là Trần Thị Thuỷ Tiên (sống tại Paris) và Trần Thị Thuỷ Ngọc (nữ nhạc sĩ đàn tranh và làm việc cho Ban nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia ở Paris). Nối nghiệp cha, GS.TS Trần Quang Hải (SN 1944) đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học năm 1973, đã trình diễn khoảng 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt Nam tại 65 quốc gia trên thế giới, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Châu Âu, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học trên thế giới, tham dự hơn 130 liên hoan âm nhạc quốc tế. Ông là người sáng tạo ra lối hát đồng song thanh độc đáo, là hội viên của 20 hội nghiên cứu nhạc học quốc tế; một chuyên gia về âm thanh học và âm nhạc dân tộc.

Ông được tặng thưởng Huy chương vàng của Hàn lâm viện Văn hóa Á châu (1986); Tiến sĩ Danh dự của International – Hoa Kỳ (1987); Giải thưởng đặc biệt của Đại hội thế giới về đàn môi (1998 và 2002), vinh dự được Tổng thống Pháp Jacques Chirac tặng Bắc đẩu Bội tinh.

Kỳ cuối: “Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người làm sôi động cả Sài Gòn

http://laodong.com.vn/am-nhac/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-tu-lang-vinh-kim-toi-dai-hoc-sorbonne-phap-355020.bld

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc
,

,

,

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc


Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc

(LĐĐS) – Số 26 Song Kỳ – Nam Yên – 2:20 PM, 15/07/2015
Gánh hát Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện.

Đất Vĩnh Kim (thuộc huyện Châu Thành, tỉnh tiền Giang ngày nay) nổi tiếng từ xưa là miền đất sinh ra nhiều tài năng âm nhạc dân tộc. Gia tộc họ Trần của GS.TS Trần Văn Khê là một tộc họ nổi danh về âm nhạc và là niềm tự hào không chỉ cho Tiền Giang mà cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn đời âm nhạc dân tộc

Dòng họ Trần trên đất Vĩnh Kim có xuất xứ là nhạc quan của triều đình Huế. Bất mãn cảnh nước mất nhà tan, ông Trần Quang Thọ – một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế – đã từ bỏ kinh thành, di cư vào Nam vào khoảng năm 1860. Tại làng Vĩnh Kim, ông đã dừng chân và dạy nhạc. Người con của ông tên Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925) cũng tiếp tục nghề nhạc của cha. Ông Diệm có người con là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) rất nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua ngón đàn kìm. Ông Bảy Triều kết hôn với bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành, 1899-1930, cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương), cũng là một người xuất thân trong gia đình âm nhạc. Ông Bảy Triều và bà Tám Dành sinh 3 người con, con trai trưởng là Trần Văn Khê, một tài năng âm nhạc dân tộc kiệt xuất sau này.

Ông Bảy Triều có người chị thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944) biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tì bà. Ngoài ra, bà còn có tài thêu thùa may vá và chính nhờ nghề này, bà đã nuôi sống cả gia đình. Chồng cô Ba Viện là con một ông Phán mê âm nhạc ở đất Mỹ Tho, họ lấy nhau được hơn một năm thì sinh con, nuôi được ba tháng thì mất; sau đó không lâu, chồng bà cũng mất theo. Cảm thương tình cảnh góa bụa sớm, gia đình bên chồng cho bà về lại quê nhà. Thuở đó, người ta nói bà là hồng nhan bạc phận, một kiếp lênh đênh trên cõi đường tình duyên.

Khoảng năm 1915-1916, bà Ba Viện lên Sài Gòn dạy đàn ở trường nữ sinh Áo Tím (Trường Gia Long cũ, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai). Ở trường, bà đọc nhiều sách báo tiến bộ của các nhà yêu nước, các chí sĩ tiền bối nên ý thức chính trị được giác ngộ, nâng cao hiểu biết rộng rãi hơn nhiều phụ nữ đương thời. Nhưng cũng vì thế mà bà bị mật thám Pháp tình nghi làm “quốc sự” cùng với em rể là giáo sư Nguyễn Văn Bá – chủ bút tờ báo Thần Chung. Đến năm 1926, sau lần đi dự đám tang cụ Phan Chu Trinh, bà bị nhà trường đuổi việc. Từ đó, trường Áo Tím cũng dẹp luôn môn dạy đàn.

Gánh hát Đồng Nữ Ban

Về lại quê nhà Vĩnh Kim, bà Ba Viện tham gia hoạt động kháng Pháp. Lúc bấy giờ, nhiều người yêu nước nghe tiếng, thường xuyên tới lui thăm viếng, trong số đó có ông Nguyễn An Ninh và ông xem bà như người chị ruột. Năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Mỹ Tho thành lập, sau đó Chi bộ xã Vĩnh Kim, thuộc tổ chức trên cũng được thành lập. Để góp phần tuyên truyền, kêu gọi lòng yêu nước của nhân dân, đồng thời tạo ngân quỹ cho chi bộ xã, bà Ba Viện – với sự góp sức của người em dâu là Nguyễn Thị Dành – đã hăng hái đứng ra thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban, đảm nhiệm vai trò bầu gánh và đạo diễn.

Nói thêm về bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) còn gọi là Tám Dành, sinh trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở xã Vĩnh Kim. Bà là cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương và là con của ông Nguyễn Tri Túc – một nghệ nhân nhạc tài tử ở địa phương – và là em gái của soạn giả Nguyễn Tri Khương – người sáng tác tuồng “Giọt máu chung tình” nổi tiếng một thời. Năm 1918, bà Dành kết hôn với ông Trần Văn Triều. Năm 1927, bà là người đầu tiên ở xã được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Năm 1930, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản và được Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ định làm Bí thư đầu tiên của Chi bộ xã Vĩnh Kim…

 GS.TS Trần Văn Khe (lúc nhỏ) và mẹ.

Ngày 3.5.1930, sau một cuộc biểu tình của hàng ngàn người tại Cao Lãnh, bà bị lính đối phương đâm trọng thương. Dù được đưa lên Sài Gòn điều trị, nhưng do vết thương quá nặng lại bị đau tim và sảy thai nên bà đã mất vào ngày 25 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930), hưởng dương 31 tuổi. Bà qua đời để lại 3 người con nhỏ, về sau đều nên danh, đó là GS.TS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ  Thủy Ngọc (tên thật làTrần Ngọc Sương) .

Vào khoảng giữa năm 1928, lần đầu tiên gánh hát Đoàn Nữ Ban ra mắt khán giả vở “Giọt máu chung tình”, nội dung là câu chuyện tình của hai nhân vật Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà, diễn tại cầu Ba Lung, xã Vĩnh Kim, được nhân dân háo hức cổ vũ. Trong một bài viết, GS Trần Quang Hải (con GS.TS Trần Văn Khê) đã nêu lên những đặc điểm của gánh Đồng Nữ Ban như sau: Gánh hát không có kép nam (do vậy mang tên là Đồng Nữ Ban), quy tụ con em tuổi từ 17 – 20 của những gia đình nông dân, điền chủ trong làng Vĩnh Kim và các làng lân cận Bình Hoà Đông, Rạch Gầm, Kim Sơn, Long Hưng.

Các diễn viên sống nội trú, có thời khoá biểu các môn học chữ, học nữ công, học võ thuật để dùng trong những lớp tuồng. Khi đi lưu diễn, cạnh chiếc ghe con chuyên chở thầy đàn, thầy võ, bà Ba Viện cùng tất cả diễn viên ở chung trong một chiếc ghe chài to chứa được mấy mươi người. Ngoại trừ lúc biểu diễn, tất cả diễn viên đều phải mặc áo dài tím (vì cô Ba Viện trước kia là giáo viên dạy đàn cho Trường Áo Tím, nên thích áo dài tím). Tích tuồng không dùng lịch sử Trung Quốc mà lấy trong sử Việt Nam như: Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Quang Trung – Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Xiêm ở đoạn sông Rạch Gầm – Xoài Mút – quê hương Vĩnh Kim, máu chảy ruột mềm… Trong số đó, vở diễn chủ lực là “Giọt máu chung tình” của soạn giả Nguyễn Tri Khương.

Ngoài những bài bản nhạc tài tử thông thường như Tây Thi Cổ bản, Lưu thủy đoản, Lưu thủy trường, Hành Vân, Tứ đại Oán, Dạ cổ hoài lang, gánh Đồng Nữ Ban còn sử dụng nhiều bản mới do ông Nguyễn Tri Khương đặt thêm theo phong cách cổ truyền như Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Thất trĩ bi hùng… Cảnh trí, trang phục đều do cô Ba Viện thiết kế dàn dựng và may ráp, không lấy kiểu theo hát bội. Động tác diễn đều do cô Ba Viện sắp đặt, với phương châm diễn xuất phải “nhập tâm, nhập vai”, diễn xuất theo tình cảm chân thật của mình, không “cường điệu”.

Trong bài viết “Đồng Nữ Ban – gánh cải lương toàn phụ nữ đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam”, TS Nguyễn Phúc Nghiệp nhận xét: Nhận thấy tính cách “quốc sự” của gánh, nên giới cầm quyền thực dân ở Nam kỳ đã ra lệnh cho Đồng Nữ Ban phải ngưng hoạt động vào năm 1929. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng gánh Đồng Nữ Ban là niềm tự hào của nữ giới Tiền Giang trong công cuộc vận động giải phóng dân tộc và góp thêm vào sự đa dạng của sân khấu cải lương trong những năm 20 của thế kỉ vừa qua.

Đến khoảng giữa năm 1929, do sự khủng bố gắt gao của đối phương, gánh hát Đồng Nữ Ban phải giải tán. Khi không còn đoàn hát nữa, bà Ba Viện về ở nhà người em là ông Bảy Triều, sống một cuộc đời thanh bạch. Ở đây, bà đã hết lòng nuôi dạy các cháu của mình là Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch, Trần Thị Mộng Trung khi mẹ các cháu mất sớm. Bà Trần Ngọc Viện mất năm 1944, thọ 60 tuổi.

Cố học giả Vương Hồng Sển khen ngợi bà Ba Viện như sau: “Bà Trần Ngọc Viện là chị nhà tài tử vắn số Bảy Triều. Nay mộ (bà) chôn ở giữa hai mộ vợ chồng em trai Bảy Triều tại làng Vĩnh Kim… Bà biết ca và sử dụng cây thập lục tươi mướt. Bà từng làm cách mạng, không sợ vào khám và đã nếm cơm tù nhiều lần. Đứng về mặt mĩ thuật và văn hóa, bà có công đào tạo mớ đào cải lương và người lỗi lạc để tiếng nhắc đời không ai khác hơn là cô Năm Phỉ”. Nói về bà, trong bài ca trù “Địa linh nhân kiệt” của Hồng Thuận Đăng có đoạn viết như sau: “Người chợ Giữa đi khắp bốn phương hồ hải/Giỏi vạn nghề há phải một nghề thi/Nầy! Ngón tơ đồng trong sáu tỉnh chưa có tương tri/Chơi phong nhã, nói gì cờ với vẽ/So kim cổ biết bao nhiêu kẻ/Dẫu thoa quần cũng san sẻ gánh non sông/Chuyện năm xưa ai có nhớ không?/Ôi! Dân khí, dân quyền rền một lúc…”.

Trần Văn Khê (sinh ngày 24.7.1921) đã lớn lên, được giáo dục và thụ hưởng truyền thống âm nhạc dân tộc trong một gia đình như thế. Chỉ tính từ khi họ Trần từ kinh đô Huế vào đất Vĩnh Kim đến đời Trần Văn Khê đã có 4 đời làm nhạc sĩ. Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị) và được cô ruột Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) dạy đàn tranh. Từ đó, ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng Đại học Sorbonne ở thủ đô Paris nước Pháp.

Kỳ tới: Từ làng Vĩnh Kim đến Đại học Sorbonne – Pháp

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng
  • Nhiều nghệ sĩ xúc động viếng thăm GS Trần Văn Khê
  • Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến viếng GS Trần Văn Khê
  • Video: Hàng nghìn người tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê về cõi vĩnh hằng
  • Video: Hai cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn điêu luyện khiến người nghe ngây ngất
  • Dàn nhạc dân tộc tấu khúc tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê
  • Phạm Duy qua hồi ức của Giáo sư Trần Văn Khê
  • http://laodong.com.vn/xa-hoi/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-ky-2-mot-gia-dinh-dai-thu-am-nhac-351433.bld

SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê


Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê

(LĐĐS) – Số 25 Song Kỳ – Nam Yên – 6:45 PM, 05/07/2015
GSTS Trần Văn Khê.

Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) được xem là vùng đất được khai phá sớm nhất Nam Bộ, ra đời trước cả Sài Gòn – Gia Định gần 30 năm. Nơi đây từng có một “Mỹ Tho đại phố”, đô thị sầm uất nhất Nam Bộ cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Tại vùng đất “địa linh nhân kiệt” này có một ngôi làng độc đáo, là nơi sản sinh ra rất nhiều tiến sĩ cho đất nước, cũng là ngôi làng giàu truyền thống âm nhạc. GSTS Trần Văn Khê sinh ra và lớn lên ở ngôi làng ấy.

Kỳ 1: Làng tiến sĩ bên bờ sông Tiền
Chợ Giữa Vĩnh Kim

Dòng sông Tiền chở nặng phù sa tạo nên vùng đất Mỹ Tho đất đai màu mỡ, sản vật dồi dào. Ở đoạn sông Rạch Gầm – Xoài Mút – nơi anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ tiêu diệt mấy vạn quân Xiêm xâm lược – có một loại trái cây nổi tiếng: Vú sữa Lò Rèn ở Vĩnh Kim. Đây cũng chính là nơi được xem là vùng đất học thuật nổi tiếng nhất miền Tây Nam bộ: Làng tiến sĩ bên sông Tiền, quê hương của GSTS Trần Văn Khê.

Xã Vĩnh Kim (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) gồm 6 ấp bắt đầu bằng chữ “Vĩnh”, là chữ húy kỵ của triều vua Nguyễn đời sau, người dân không được sử dụng: Vĩnh Thới, Vĩnh Bình, Vĩnh Quý, Vĩnh Hoà, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phú. Diện tích tự nhiên của xã Vĩnh Kim là 460ha, trong đó vườn cây ăn trái khoảng trên 412ha. Dân số hơn 10.356 nhân khẩu. Ngành nghề chủ yếu là trồng cây ăn trái với đặc sản vú sữa Lò Rèn và nhiều loại cây ăn trái khác rất ngon. Chợ Giữa ở trung tâm xã thuộc ấp Vĩnh Hoà, nằm cách TP.Mỹ Tho khoảng 15 cây số.

Tại trung tâm xã Vĩnh Kim có một ngôi chợ nổi tiếng, tên là Chợ Giữa, gắn với một sự kiện đau thương. Vào sáng 5.12.1940, dân từ các làng lân cận đổ về Chợ Giữa để họp chợ như thường nhật. Không ai cảm nhận được chút gì về tai họa sắp xảy ra. Trời xanh, nắng lên, vườn cây trái xanh tươi, ghe xuồng, vựa chất đầy trái cây tấp nập người mua kẻ bán. Vào giữa lúc chợ họp đông đúc nhất, bọn giặc Pháp đã cho máy bay ném hai trái bom trúng giữa chợ. Bom nổ làm chết và bị thương khoảng 200 người. Máu lẫn trái cây văng tung tóe giữa chợ, người la thét, kêu gào hoảng loạn thất thanh.

Ném bom xong, giặc Pháp xua quân bao vây chợ, bắt những người sống sót kéo xác những người đã chết ném xuống hố bom, không cho thân nhân đem xác về chôn. Trong số này, có người bị thương chưa chết cũng bị chôn sống. Dưới sông, gần chợ ghe xuồng, chúng còn bắn giết bừa bãi, xác chết trôi đầy sông, máu loang đỏ cả một đoạn sông.

Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim là nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược gây ra cho người dân vùng Vĩnh Kim – Mỹ Tho. Tỉnh Tiền Giang xây dựng một tượng đài với chất liệu bằng đồng, cao 8m, một phụ nữ một tay bồng con, một tay cầm cây đòn gánh bị gãy với những đường nét mạnh mẽ, đầy căm thù. Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia năm 2003. Hằng năm, cứ đến ngày mùng 5.11 âm lịch, người dân đều tổ chức lễ giỗ Chợ Giữa để tưởng nhớ những đồng bào đã bị giặc Pháp thảm sát năm xưa.

Làng tiến sĩ

Vĩnh Kim được xem là một làng tiến sĩ “độc nhất vô nhị” của các tỉnh phương Nam với những tên tuổi lớn như: TS Phan Hiển Đạo; TS Trương Tấn Ngọc; GS.TS Trần Văn Khê; GS.TS Trần Quang Hải (con trai GS.TS Trần Văn Khê); GS.TS – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam; PGS.TS Nguyễn Tấn Phát, PGS.TS Phạm Đình Hùng…

Đây cũng là nơi có nhiều vị cách mạng tiền bối đến tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), Chủ tịch Tôn Đức Thắng và các đồng chí Nguyễn An Ninh, Ngô Gia Tự, Lê Duẩn, Phạm Hùng… Vĩnh Kim còn được biết đến là nơi đã sinh ra ông Ngô Tấn Nhơn – Bộ trưởng Bộ Canh nông và Bộ trưởng Bộ Kinh tế đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và hai người con là tiến sĩ Ngô Kiều Nhi và tiến sĩ Ngô Kiều Oanh.

Lại có gia đình của ông Trần Năng Lựa (cậu ruột phu nhân Bác Tôn Đức Thắng) có ba người con đều làm bác sĩ rất nổi tiếng: Bác sĩ Trần Nam Hưng, bác sĩ Trần Khải Siêu, bác sĩ Trần Hữu Di. Theo thống kê, Vĩnh Kim có hơn mười vị tiến sĩ, trong đó một số người được phong hàm giáo sư và phó giáo sư.

Người Vĩnh Kim vẫn còn nhắc chuyện tiến sĩ Phan Hiển Đạo. Ông sinh năm 1822, đến năm Đinh Mùi (1847) thi đỗ cử nhân. Năm Bính Thìn (1856), đời vua Tự Đức, ông thi đỗ tiến sĩ, được bổ chức Đốc học tỉnh Định Tường. Ông nổi tiếng là người tài hoa phong nhã, giỏi âm nhạc, tuyệt diệu nhất là ngón đàn tranh. Năm 1861, thực dân Pháp chiếm Định Tường, ông lui về ở ẩn tại quê nhà để tỏ lòng bất hợp tác với giặc. Nhiều lần thực dân Pháp sai Tôn Thọ Tường tới vừa dụ dỗ, mua chuộc vừa ép buộc ông ra làm việc, dù ông đã kiên quyết từ chối, nhưng vẫn bị người đời hiểu nhầm.

Để tỏ lòng tiết liệt với quê hương, đất nước, ông uống thuốc độc quyên sinh để tỏ cái tâm trong sáng của mình và nhằm xóa bỏ oan ức ô danh ở đời. Ông mất năm 1864 lúc mới 42 tuổi. Trên mộ ông giờ đây vẫn còn dòng chữ: “Niên Pháp lang khấu Quốc thống vong công bất khuất/Tử tán ư Vĩnh Kim Đông chi Hương”.

Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Phan Hiển Đạo đỗ tiến sĩ, nhưng sau vì phạm lỗi bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ. Lúc Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), ông dạy học ở Mỹ Tho. Một hôm, ông đến thành Vĩnh Long xin gặp Phan Thanh Giản để bàn về việc nước, việc dân. Nhưng khi đưa thư vào trình, ông Phan phê vào thư tám chữ: “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh”, nghĩa là: Người con gái đã bị thất thân, sao còn gọi là trinh được. Ngờ là quan Phan có ý chê trách khí tiết của mình, ông buồn bực trở về nhà uống thuốc độc rồi mất. Cũng có một số thông tin khác về ông trở thành giai thoại, nhưng điều đó không thể làm phai mờ trong ký ức người Vĩnh Kim về tiến sĩ Phan Hiển Đạo.

Trên lĩnh vực khác, TS Thú y Trương Tấn Ngọc là người đầu tiên tìm ra vi trùng dịch hạch và tên của ông đã được đặt tên cho loại vi trùng này: Ngoccique. Bên cạnh đó còn có PGS.TS Nguyễn Tấn Phát, Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 1996-2001 và 2001-2006 và có PGS.TS Phạm Đình Hùng – tiến sĩ Hóa học tại CHLB Đức.

Ngoài những vị giáo sư, tiến sĩ từng nổi tiếng nêu trên, lớp hậu bối sau này ở Vĩnh Kim còn có Lâm Chí Hùng – con của ông Lâm Ba, ấp Vĩnh Hòa – đậu tiến sĩ tại Canada. Có Phạm Xuân Quang – con ông Phạm Xuân Thới, ấp Vĩnh Thạnh – thi vào đại học đậu thủ khoa, thi ra trường cũng đậu thủ khoa và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Mỹ.

Chợ Giữa Vĩnh Kim. 

Và vùng đất của nhạc

Theo sử sách ghi lại, ông Trần Quang Thọ – một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế – đã xin từ nhiệm và di cư vào Nam vào khoảng 1860, sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ông Thọ đã đến làng Vĩnh Kim lập nghiệp và dạy nhạc. Người con của ông tên Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925) cũng tiếp tục nghề nhạc của cha. Ông Năm Diệm có người con là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) rất nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn kìm lên dây theo kiểu dây Tố Lan do ông sáng chế ra.

Ông Bảy Triều có người chị thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944) biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tỳ bà. Bà chính là người đã thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban vào khoảng năm 1927, với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên đều là nữ, một hiện tượng duy nhất trong lịch sử hát cải lương miền Nam. Bà Ba Viện thành lập gánh hát cải lương Đồng Nữ Ban để khích lệ, truyền bá chủ nghĩa yêu nước trong dân chúng. Và bà cũng là người nuôi dạy ba người con của ông Triều, khi vợ ông Triều là bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) mất sớm. Sau, cả ba người cháu này đều thành danh, đó là GS.TS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ Trần Ngọc Sương.

Cũng từ đất Vĩnh Kim, GS.TS – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam (sinh ngày 14.7.1936) khi mới 11 tuổi đã theo người cậu ruột Mười Tê (Phạm Ngọc Lân, nguyên Phó Văn phòng Trung ương Cục miền Nam) vào bưng biền tham gia kháng chiến. Năm 1948, ông học trường Văn hóa kháng chiến Phan Lương Trực tại Đồng Tháp Mười sau đó vào bộ đội năm 1949, công tác tại Tổ Quân nhạc khu 8. Sau một thời gian, ông chuyển sang Đoàn Văn công Mặt trận Đồng Tháp Mười.

Năm 1954, tập kết ra Bắc đến năm 1959, chuyển ngành sang Bộ Văn hóa và được cử đi học khoa Sáng tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Nhạc viện Hà Nội). Năm 1966, ông được cử đi học tại Nhạc viện Leningrad, nay là Nhạc viện Saint- Peterbourg (CHLB Nga), đến năm 1973 tốt nghiệp về nước. Năm 1974, ông lại được cử đi học nghiên cứu sinh tại Nhạc viện Leningrad và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ hai ngành sáng tác và lý luận. Năm 1979, Nguyễn Văn Nam công tác tại Viện Nghiên cứu khoa học nước CH Cabardine-Boncar và là hội viên chính thức Hội Nhạc sĩ Liên Xô (nay là CHLB Nga). Ông trở về nước năm 1991, tham gia công tác giảng dạy bậc đại học và cao học chuyên ngành sáng tác, lý luận tại Nhạc viện TPHCM và Nhạc viện Quốc gia Hà Nội.

Kỳ tới: Một gia đình đại thụ âm nhạc

  • Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng

http://laodong.com.vn/van-hoa/giai-ma-tai-nang-am-nhac-cua-gsts-tran-van-khe-350082.bld

This blog is focused on Trân Quang Hai