SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê


Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê

(LĐĐS) – Số 25 Song Kỳ – Nam Yên – 6:45 PM, 05/07/2015
GSTS Trần Văn Khê.

Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) được xem là vùng đất được khai phá sớm nhất Nam Bộ, ra đời trước cả Sài Gòn – Gia Định gần 30 năm. Nơi đây từng có một “Mỹ Tho đại phố”, đô thị sầm uất nhất Nam Bộ cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Tại vùng đất “địa linh nhân kiệt” này có một ngôi làng độc đáo, là nơi sản sinh ra rất nhiều tiến sĩ cho đất nước, cũng là ngôi làng giàu truyền thống âm nhạc. GSTS Trần Văn Khê sinh ra và lớn lên ở ngôi làng ấy.

Kỳ 1: Làng tiến sĩ bên bờ sông Tiền
Chợ Giữa Vĩnh Kim

Dòng sông Tiền chở nặng phù sa tạo nên vùng đất Mỹ Tho đất đai màu mỡ, sản vật dồi dào. Ở đoạn sông Rạch Gầm – Xoài Mút – nơi anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ tiêu diệt mấy vạn quân Xiêm xâm lược – có một loại trái cây nổi tiếng: Vú sữa Lò Rèn ở Vĩnh Kim. Đây cũng chính là nơi được xem là vùng đất học thuật nổi tiếng nhất miền Tây Nam bộ: Làng tiến sĩ bên sông Tiền, quê hương của GSTS Trần Văn Khê.

Xã Vĩnh Kim (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) gồm 6 ấp bắt đầu bằng chữ “Vĩnh”, là chữ húy kỵ của triều vua Nguyễn đời sau, người dân không được sử dụng: Vĩnh Thới, Vĩnh Bình, Vĩnh Quý, Vĩnh Hoà, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phú. Diện tích tự nhiên của xã Vĩnh Kim là 460ha, trong đó vườn cây ăn trái khoảng trên 412ha. Dân số hơn 10.356 nhân khẩu. Ngành nghề chủ yếu là trồng cây ăn trái với đặc sản vú sữa Lò Rèn và nhiều loại cây ăn trái khác rất ngon. Chợ Giữa ở trung tâm xã thuộc ấp Vĩnh Hoà, nằm cách TP.Mỹ Tho khoảng 15 cây số.

Tại trung tâm xã Vĩnh Kim có một ngôi chợ nổi tiếng, tên là Chợ Giữa, gắn với một sự kiện đau thương. Vào sáng 5.12.1940, dân từ các làng lân cận đổ về Chợ Giữa để họp chợ như thường nhật. Không ai cảm nhận được chút gì về tai họa sắp xảy ra. Trời xanh, nắng lên, vườn cây trái xanh tươi, ghe xuồng, vựa chất đầy trái cây tấp nập người mua kẻ bán. Vào giữa lúc chợ họp đông đúc nhất, bọn giặc Pháp đã cho máy bay ném hai trái bom trúng giữa chợ. Bom nổ làm chết và bị thương khoảng 200 người. Máu lẫn trái cây văng tung tóe giữa chợ, người la thét, kêu gào hoảng loạn thất thanh.

Ném bom xong, giặc Pháp xua quân bao vây chợ, bắt những người sống sót kéo xác những người đã chết ném xuống hố bom, không cho thân nhân đem xác về chôn. Trong số này, có người bị thương chưa chết cũng bị chôn sống. Dưới sông, gần chợ ghe xuồng, chúng còn bắn giết bừa bãi, xác chết trôi đầy sông, máu loang đỏ cả một đoạn sông.

Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim là nơi ghi dấu tội ác của thực dân Pháp xâm lược gây ra cho người dân vùng Vĩnh Kim – Mỹ Tho. Tỉnh Tiền Giang xây dựng một tượng đài với chất liệu bằng đồng, cao 8m, một phụ nữ một tay bồng con, một tay cầm cây đòn gánh bị gãy với những đường nét mạnh mẽ, đầy căm thù. Di tích Chợ Giữa Vĩnh Kim được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia năm 2003. Hằng năm, cứ đến ngày mùng 5.11 âm lịch, người dân đều tổ chức lễ giỗ Chợ Giữa để tưởng nhớ những đồng bào đã bị giặc Pháp thảm sát năm xưa.

Làng tiến sĩ

Vĩnh Kim được xem là một làng tiến sĩ “độc nhất vô nhị” của các tỉnh phương Nam với những tên tuổi lớn như: TS Phan Hiển Đạo; TS Trương Tấn Ngọc; GS.TS Trần Văn Khê; GS.TS Trần Quang Hải (con trai GS.TS Trần Văn Khê); GS.TS – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam; PGS.TS Nguyễn Tấn Phát, PGS.TS Phạm Đình Hùng…

Đây cũng là nơi có nhiều vị cách mạng tiền bối đến tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cộng sản như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), Chủ tịch Tôn Đức Thắng và các đồng chí Nguyễn An Ninh, Ngô Gia Tự, Lê Duẩn, Phạm Hùng… Vĩnh Kim còn được biết đến là nơi đã sinh ra ông Ngô Tấn Nhơn – Bộ trưởng Bộ Canh nông và Bộ trưởng Bộ Kinh tế đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ và hai người con là tiến sĩ Ngô Kiều Nhi và tiến sĩ Ngô Kiều Oanh.

Lại có gia đình của ông Trần Năng Lựa (cậu ruột phu nhân Bác Tôn Đức Thắng) có ba người con đều làm bác sĩ rất nổi tiếng: Bác sĩ Trần Nam Hưng, bác sĩ Trần Khải Siêu, bác sĩ Trần Hữu Di. Theo thống kê, Vĩnh Kim có hơn mười vị tiến sĩ, trong đó một số người được phong hàm giáo sư và phó giáo sư.

Người Vĩnh Kim vẫn còn nhắc chuyện tiến sĩ Phan Hiển Đạo. Ông sinh năm 1822, đến năm Đinh Mùi (1847) thi đỗ cử nhân. Năm Bính Thìn (1856), đời vua Tự Đức, ông thi đỗ tiến sĩ, được bổ chức Đốc học tỉnh Định Tường. Ông nổi tiếng là người tài hoa phong nhã, giỏi âm nhạc, tuyệt diệu nhất là ngón đàn tranh. Năm 1861, thực dân Pháp chiếm Định Tường, ông lui về ở ẩn tại quê nhà để tỏ lòng bất hợp tác với giặc. Nhiều lần thực dân Pháp sai Tôn Thọ Tường tới vừa dụ dỗ, mua chuộc vừa ép buộc ông ra làm việc, dù ông đã kiên quyết từ chối, nhưng vẫn bị người đời hiểu nhầm.

Để tỏ lòng tiết liệt với quê hương, đất nước, ông uống thuốc độc quyên sinh để tỏ cái tâm trong sáng của mình và nhằm xóa bỏ oan ức ô danh ở đời. Ông mất năm 1864 lúc mới 42 tuổi. Trên mộ ông giờ đây vẫn còn dòng chữ: “Niên Pháp lang khấu Quốc thống vong công bất khuất/Tử tán ư Vĩnh Kim Đông chi Hương”.

Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Phan Hiển Đạo đỗ tiến sĩ, nhưng sau vì phạm lỗi bị đục bỏ tên trong bia tiến sĩ. Lúc Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862), ông dạy học ở Mỹ Tho. Một hôm, ông đến thành Vĩnh Long xin gặp Phan Thanh Giản để bàn về việc nước, việc dân. Nhưng khi đưa thư vào trình, ông Phan phê vào thư tám chữ: “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh”, nghĩa là: Người con gái đã bị thất thân, sao còn gọi là trinh được. Ngờ là quan Phan có ý chê trách khí tiết của mình, ông buồn bực trở về nhà uống thuốc độc rồi mất. Cũng có một số thông tin khác về ông trở thành giai thoại, nhưng điều đó không thể làm phai mờ trong ký ức người Vĩnh Kim về tiến sĩ Phan Hiển Đạo.

Trên lĩnh vực khác, TS Thú y Trương Tấn Ngọc là người đầu tiên tìm ra vi trùng dịch hạch và tên của ông đã được đặt tên cho loại vi trùng này: Ngoccique. Bên cạnh đó còn có PGS.TS Nguyễn Tấn Phát, Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo, Ủy viên Trung ương Đảng khóa 1996-2001 và 2001-2006 và có PGS.TS Phạm Đình Hùng – tiến sĩ Hóa học tại CHLB Đức.

Ngoài những vị giáo sư, tiến sĩ từng nổi tiếng nêu trên, lớp hậu bối sau này ở Vĩnh Kim còn có Lâm Chí Hùng – con của ông Lâm Ba, ấp Vĩnh Hòa – đậu tiến sĩ tại Canada. Có Phạm Xuân Quang – con ông Phạm Xuân Thới, ấp Vĩnh Thạnh – thi vào đại học đậu thủ khoa, thi ra trường cũng đậu thủ khoa và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Mỹ.

Chợ Giữa Vĩnh Kim. 

Và vùng đất của nhạc

Theo sử sách ghi lại, ông Trần Quang Thọ – một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế – đã xin từ nhiệm và di cư vào Nam vào khoảng 1860, sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ông Thọ đã đến làng Vĩnh Kim lập nghiệp và dạy nhạc. Người con của ông tên Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925) cũng tiếp tục nghề nhạc của cha. Ông Năm Diệm có người con là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) rất nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn kìm lên dây theo kiểu dây Tố Lan do ông sáng chế ra.

Ông Bảy Triều có người chị thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944) biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tỳ bà. Bà chính là người đã thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban vào khoảng năm 1927, với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên đều là nữ, một hiện tượng duy nhất trong lịch sử hát cải lương miền Nam. Bà Ba Viện thành lập gánh hát cải lương Đồng Nữ Ban để khích lệ, truyền bá chủ nghĩa yêu nước trong dân chúng. Và bà cũng là người nuôi dạy ba người con của ông Triều, khi vợ ông Triều là bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) mất sớm. Sau, cả ba người cháu này đều thành danh, đó là GS.TS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ Trần Ngọc Sương.

Cũng từ đất Vĩnh Kim, GS.TS – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam (sinh ngày 14.7.1936) khi mới 11 tuổi đã theo người cậu ruột Mười Tê (Phạm Ngọc Lân, nguyên Phó Văn phòng Trung ương Cục miền Nam) vào bưng biền tham gia kháng chiến. Năm 1948, ông học trường Văn hóa kháng chiến Phan Lương Trực tại Đồng Tháp Mười sau đó vào bộ đội năm 1949, công tác tại Tổ Quân nhạc khu 8. Sau một thời gian, ông chuyển sang Đoàn Văn công Mặt trận Đồng Tháp Mười.

Năm 1954, tập kết ra Bắc đến năm 1959, chuyển ngành sang Bộ Văn hóa và được cử đi học khoa Sáng tác tại Trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Nhạc viện Hà Nội). Năm 1966, ông được cử đi học tại Nhạc viện Leningrad, nay là Nhạc viện Saint- Peterbourg (CHLB Nga), đến năm 1973 tốt nghiệp về nước. Năm 1974, ông lại được cử đi học nghiên cứu sinh tại Nhạc viện Leningrad và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ hai ngành sáng tác và lý luận. Năm 1979, Nguyễn Văn Nam công tác tại Viện Nghiên cứu khoa học nước CH Cabardine-Boncar và là hội viên chính thức Hội Nhạc sĩ Liên Xô (nay là CHLB Nga). Ông trở về nước năm 1991, tham gia công tác giảng dạy bậc đại học và cao học chuyên ngành sáng tác, lý luận tại Nhạc viện TPHCM và Nhạc viện Quốc gia Hà Nội.

Kỳ tới: Một gia đình đại thụ âm nhạc

  • Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng

http://laodong.com.vn/van-hoa/giai-ma-tai-nang-am-nhac-cua-gsts-tran-van-khe-350082.bld

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

This blog is focused on Trân Quang Hai