SONG KỲ – NAM YÊN : Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc


Giải mã tài năng âm nhạc GS.TS Trần Văn Khê – Kỳ 2: Một gia đình đại thụ âm nhạc

(LĐĐS) – Số 26 Song Kỳ – Nam Yên – 2:20 PM, 15/07/2015
Gánh hát Đồng Nữ Ban của cô Ba Viện.

Đất Vĩnh Kim (thuộc huyện Châu Thành, tỉnh tiền Giang ngày nay) nổi tiếng từ xưa là miền đất sinh ra nhiều tài năng âm nhạc dân tộc. Gia tộc họ Trần của GS.TS Trần Văn Khê là một tộc họ nổi danh về âm nhạc và là niềm tự hào không chỉ cho Tiền Giang mà cho cả dân tộc Việt Nam.

Bốn đời âm nhạc dân tộc

Dòng họ Trần trên đất Vĩnh Kim có xuất xứ là nhạc quan của triều đình Huế. Bất mãn cảnh nước mất nhà tan, ông Trần Quang Thọ – một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế – đã từ bỏ kinh thành, di cư vào Nam vào khoảng năm 1860. Tại làng Vĩnh Kim, ông đã dừng chân và dạy nhạc. Người con của ông tên Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925) cũng tiếp tục nghề nhạc của cha. Ông Diệm có người con là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) rất nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua ngón đàn kìm. Ông Bảy Triều kết hôn với bà Nguyễn Thị Dành (Tám Dành, 1899-1930, cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương), cũng là một người xuất thân trong gia đình âm nhạc. Ông Bảy Triều và bà Tám Dành sinh 3 người con, con trai trưởng là Trần Văn Khê, một tài năng âm nhạc dân tộc kiệt xuất sau này.

Ông Bảy Triều có người chị thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944) biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tì bà. Ngoài ra, bà còn có tài thêu thùa may vá và chính nhờ nghề này, bà đã nuôi sống cả gia đình. Chồng cô Ba Viện là con một ông Phán mê âm nhạc ở đất Mỹ Tho, họ lấy nhau được hơn một năm thì sinh con, nuôi được ba tháng thì mất; sau đó không lâu, chồng bà cũng mất theo. Cảm thương tình cảnh góa bụa sớm, gia đình bên chồng cho bà về lại quê nhà. Thuở đó, người ta nói bà là hồng nhan bạc phận, một kiếp lênh đênh trên cõi đường tình duyên.

Khoảng năm 1915-1916, bà Ba Viện lên Sài Gòn dạy đàn ở trường nữ sinh Áo Tím (Trường Gia Long cũ, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai). Ở trường, bà đọc nhiều sách báo tiến bộ của các nhà yêu nước, các chí sĩ tiền bối nên ý thức chính trị được giác ngộ, nâng cao hiểu biết rộng rãi hơn nhiều phụ nữ đương thời. Nhưng cũng vì thế mà bà bị mật thám Pháp tình nghi làm “quốc sự” cùng với em rể là giáo sư Nguyễn Văn Bá – chủ bút tờ báo Thần Chung. Đến năm 1926, sau lần đi dự đám tang cụ Phan Chu Trinh, bà bị nhà trường đuổi việc. Từ đó, trường Áo Tím cũng dẹp luôn môn dạy đàn.

Gánh hát Đồng Nữ Ban

Về lại quê nhà Vĩnh Kim, bà Ba Viện tham gia hoạt động kháng Pháp. Lúc bấy giờ, nhiều người yêu nước nghe tiếng, thường xuyên tới lui thăm viếng, trong số đó có ông Nguyễn An Ninh và ông xem bà như người chị ruột. Năm 1927, Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội Mỹ Tho thành lập, sau đó Chi bộ xã Vĩnh Kim, thuộc tổ chức trên cũng được thành lập. Để góp phần tuyên truyền, kêu gọi lòng yêu nước của nhân dân, đồng thời tạo ngân quỹ cho chi bộ xã, bà Ba Viện – với sự góp sức của người em dâu là Nguyễn Thị Dành – đã hăng hái đứng ra thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban, đảm nhiệm vai trò bầu gánh và đạo diễn.

Nói thêm về bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) còn gọi là Tám Dành, sinh trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở xã Vĩnh Kim. Bà là cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương và là con của ông Nguyễn Tri Túc – một nghệ nhân nhạc tài tử ở địa phương – và là em gái của soạn giả Nguyễn Tri Khương – người sáng tác tuồng “Giọt máu chung tình” nổi tiếng một thời. Năm 1918, bà Dành kết hôn với ông Trần Văn Triều. Năm 1927, bà là người đầu tiên ở xã được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Năm 1930, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản và được Tỉnh ủy Mỹ Tho chỉ định làm Bí thư đầu tiên của Chi bộ xã Vĩnh Kim…

 GS.TS Trần Văn Khe (lúc nhỏ) và mẹ.

Ngày 3.5.1930, sau một cuộc biểu tình của hàng ngàn người tại Cao Lãnh, bà bị lính đối phương đâm trọng thương. Dù được đưa lên Sài Gòn điều trị, nhưng do vết thương quá nặng lại bị đau tim và sảy thai nên bà đã mất vào ngày 25 tháng 6 năm Canh Ngọ (1930), hưởng dương 31 tuổi. Bà qua đời để lại 3 người con nhỏ, về sau đều nên danh, đó là GS.TS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ  Thủy Ngọc (tên thật làTrần Ngọc Sương) .

Vào khoảng giữa năm 1928, lần đầu tiên gánh hát Đoàn Nữ Ban ra mắt khán giả vở “Giọt máu chung tình”, nội dung là câu chuyện tình của hai nhân vật Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà, diễn tại cầu Ba Lung, xã Vĩnh Kim, được nhân dân háo hức cổ vũ. Trong một bài viết, GS Trần Quang Hải (con GS.TS Trần Văn Khê) đã nêu lên những đặc điểm của gánh Đồng Nữ Ban như sau: Gánh hát không có kép nam (do vậy mang tên là Đồng Nữ Ban), quy tụ con em tuổi từ 17 – 20 của những gia đình nông dân, điền chủ trong làng Vĩnh Kim và các làng lân cận Bình Hoà Đông, Rạch Gầm, Kim Sơn, Long Hưng.

Các diễn viên sống nội trú, có thời khoá biểu các môn học chữ, học nữ công, học võ thuật để dùng trong những lớp tuồng. Khi đi lưu diễn, cạnh chiếc ghe con chuyên chở thầy đàn, thầy võ, bà Ba Viện cùng tất cả diễn viên ở chung trong một chiếc ghe chài to chứa được mấy mươi người. Ngoại trừ lúc biểu diễn, tất cả diễn viên đều phải mặc áo dài tím (vì cô Ba Viện trước kia là giáo viên dạy đàn cho Trường Áo Tím, nên thích áo dài tím). Tích tuồng không dùng lịch sử Trung Quốc mà lấy trong sử Việt Nam như: Hai Bà Trưng, Trần Quốc Toản, Quang Trung – Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Xiêm ở đoạn sông Rạch Gầm – Xoài Mút – quê hương Vĩnh Kim, máu chảy ruột mềm… Trong số đó, vở diễn chủ lực là “Giọt máu chung tình” của soạn giả Nguyễn Tri Khương.

Ngoài những bài bản nhạc tài tử thông thường như Tây Thi Cổ bản, Lưu thủy đoản, Lưu thủy trường, Hành Vân, Tứ đại Oán, Dạ cổ hoài lang, gánh Đồng Nữ Ban còn sử dụng nhiều bản mới do ông Nguyễn Tri Khương đặt thêm theo phong cách cổ truyền như Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Thất trĩ bi hùng… Cảnh trí, trang phục đều do cô Ba Viện thiết kế dàn dựng và may ráp, không lấy kiểu theo hát bội. Động tác diễn đều do cô Ba Viện sắp đặt, với phương châm diễn xuất phải “nhập tâm, nhập vai”, diễn xuất theo tình cảm chân thật của mình, không “cường điệu”.

Trong bài viết “Đồng Nữ Ban – gánh cải lương toàn phụ nữ đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam”, TS Nguyễn Phúc Nghiệp nhận xét: Nhận thấy tính cách “quốc sự” của gánh, nên giới cầm quyền thực dân ở Nam kỳ đã ra lệnh cho Đồng Nữ Ban phải ngưng hoạt động vào năm 1929. Tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng gánh Đồng Nữ Ban là niềm tự hào của nữ giới Tiền Giang trong công cuộc vận động giải phóng dân tộc và góp thêm vào sự đa dạng của sân khấu cải lương trong những năm 20 của thế kỉ vừa qua.

Đến khoảng giữa năm 1929, do sự khủng bố gắt gao của đối phương, gánh hát Đồng Nữ Ban phải giải tán. Khi không còn đoàn hát nữa, bà Ba Viện về ở nhà người em là ông Bảy Triều, sống một cuộc đời thanh bạch. Ở đây, bà đã hết lòng nuôi dạy các cháu của mình là Trần Văn Khê, Trần Văn Trạch, Trần Thị Mộng Trung khi mẹ các cháu mất sớm. Bà Trần Ngọc Viện mất năm 1944, thọ 60 tuổi.

Cố học giả Vương Hồng Sển khen ngợi bà Ba Viện như sau: “Bà Trần Ngọc Viện là chị nhà tài tử vắn số Bảy Triều. Nay mộ (bà) chôn ở giữa hai mộ vợ chồng em trai Bảy Triều tại làng Vĩnh Kim… Bà biết ca và sử dụng cây thập lục tươi mướt. Bà từng làm cách mạng, không sợ vào khám và đã nếm cơm tù nhiều lần. Đứng về mặt mĩ thuật và văn hóa, bà có công đào tạo mớ đào cải lương và người lỗi lạc để tiếng nhắc đời không ai khác hơn là cô Năm Phỉ”. Nói về bà, trong bài ca trù “Địa linh nhân kiệt” của Hồng Thuận Đăng có đoạn viết như sau: “Người chợ Giữa đi khắp bốn phương hồ hải/Giỏi vạn nghề há phải một nghề thi/Nầy! Ngón tơ đồng trong sáu tỉnh chưa có tương tri/Chơi phong nhã, nói gì cờ với vẽ/So kim cổ biết bao nhiêu kẻ/Dẫu thoa quần cũng san sẻ gánh non sông/Chuyện năm xưa ai có nhớ không?/Ôi! Dân khí, dân quyền rền một lúc…”.

Trần Văn Khê (sinh ngày 24.7.1921) đã lớn lên, được giáo dục và thụ hưởng truyền thống âm nhạc dân tộc trong một gia đình như thế. Chỉ tính từ khi họ Trần từ kinh đô Huế vào đất Vĩnh Kim đến đời Trần Văn Khê đã có 4 đời làm nhạc sĩ. Năm 6 tuổi, Trần Văn Khê được cậu ruột Nguyễn Tri Khương (cháu nội danh tướng Nguyễn Tri Phương), vốn là một thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng hát có tiếng, dạy chơi đàn nguyệt (đàn kìm), đàn cò (đàn nhị) và được cô ruột Trần Ngọc Viện (tức cô Ba Viện) dạy đàn tranh. Từ đó, ba cây đàn chẳng rời ông nửa bước, kể cả khi ông là một sinh viên Trường Y Hà Nội hay là một giáo sư danh tiếng Đại học Sorbonne ở thủ đô Paris nước Pháp.

Kỳ tới: Từ làng Vĩnh Kim đến Đại học Sorbonne – Pháp

Tin bài liên quan

  • Giải mã tài năng âm nhạc của GSTS Trần Văn Khê
  • Người dân xúc động đưa tiễn GS -TS Trần Văn Khê về nơi an nghỉ cuối cùng
  • Nhiều nghệ sĩ xúc động viếng thăm GS Trần Văn Khê
  • Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến viếng GS Trần Văn Khê
  • Video: Hàng nghìn người tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê về cõi vĩnh hằng
  • Video: Hai cha con GS Trần Văn Khê hòa đàn điêu luyện khiến người nghe ngây ngất
  • Dàn nhạc dân tộc tấu khúc tiễn biệt giáo sư Trần Văn Khê
  • Phạm Duy qua hồi ức của Giáo sư Trần Văn Khê
  • http://laodong.com.vn/xa-hoi/giai-ma-tai-nang-am-nhac-gsts-tran-van-khe-ky-2-mot-gia-dinh-dai-thu-am-nhac-351433.bld

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

This blog is focused on Trân Quang Hai