DOMINIQUE DE MISCAULT : TRAN VAN KHE : REMARQUABLE FIGURE DE LIBERTÉ


tran van khe photo funeral

Trần Văn Khê ou une remarquable figure deLIBERTE, s’est éteint à Hochiminhville où ilrésidait à nouveau depuis 2005 dans sa maison-musée dont il avait dessiné le jardin, le 24 juin 2015 à l’âge de 94 ans

Trần Văn Khê, est né le 24 juillet 1921 à Binh Hoà Dông, un village, à une centaine de kilomètres à l’ouest d’Hochiminhville dans une famille de musiciens depuis plusieurs générations. Orphelin de mère, puis de père, à 10 ans, il est recueilli par son oncle numéro 5, Nguyễn Tri Khương (1890-1962) 1. Fabuleusement doué,  après des études de médecine à Hanoi, partisan du Viet Nam libre Trần Văn Khê mène une campagne ouverte anti- française. Arrêté en 1949, il aurait du être fusillé mais grâce à un engagé volontaire,

il part pour la France qu’il combattait. A Paris, il rentre à Sciences Po tandis qu’il affronte pendant plus de 3 ans une maladie qui l’invalidera pour le reste de sa vie. Erudit mais avec une sensibilité d’artiste, il choisira définitivement et par vocation la musique qui en a fait ce génial ethnomusicologue reconnu dans le monde entier. Trần Văn Khê n’a jamais obtenu la nationalité française et définitivement libre, il avait prévu ne pas vouloir de funérailles nationales…

Il avait choisi ce poème en 2014 qu’il chantait de sa voix venue des profondeurs de son 2Lý Trường MÃN GIÁC 滿覺 (1052 – 1096)

Il dit avant de mourir :

春去 百 花 落

春到 百 花 開

事逐 眼 前 過

老從 頭 上 來

莫 謂春 殘 花 落 儘

庭 前昨 夜 一 枝 梅

Le printemps est passé, cent fleurs jonchent le sol,

Le printemps est revenu, cent fleurs s’épanouissent.


Doucement la vieillesse s’empare de nos têtes.

La nuit dernière devant la cour, une branche de prunier a fleuri.

Ainsi file la vie,

Ne pensons plus à toutes ces fleurs fanées,

Xuân ruổi, trăm hoa rụng,

Xuân tới, trăm hoa cười.

Trước mắt, việc đi mãi,


Trên đầu, già đến rồi.


Ðừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,

Ðêm qua, sân trước, một cành mai.

http://www.aafv.org/tran-van-khe-1921-2015

1 Erudit et célèbre évêque Caodaï

2 Un livre des moines Bouddhistes dans le Viêt Nam d’autrefois, 2005 page 92 – « murmures aujourd’hui »2014

Un hommage lui sera rendu le 26 novembre 2015 à la maison des cultures du Monde 101 boulevard Raspail avec Simha Arom, François Picard, Cheng Shui Sheng, Tran Quang Hai, son fils ethnomusicologue et Bach Yen et Hô Thuy Tien.

BÙI THƯ : Nhạc sư Vĩnh Bảo rưng rưng tấu đàn tưởng nhớ giáo sư Trần Văn Khê


Nhạc sư Vĩnh Bảo rưng rưng tấu đàn tưởng nhớ giáo sư Trần Văn Khê

 

(TNO) Nhạc sư Vĩnh Bảo, cây đại thụ của dân ca tài tử Nam bộ, rưng rưng nước mắt tiếc nhớ người bạn tâm giao là giáo sư Trần Văn Khê và người vợ gắn bó suốt 68 năm trong buổi mừng thọ 98 tuổi của mình diễn ra vào ngày 25.8.

Nhạc sư Vĩnh Bảo tấu đàn tưởng nhớ giáo sư Trần Văn Khê và vợ 1Nhạc sư Vĩnh Bảo cảm ơn mọi người nhớ và tổ chức mừng thọ ông
Dù đã 98 tuổi nhưng nhạc sư Vĩnh Bảo vẫn nhớ như in những kỷ niệm của ông và giáo sư Trần Văn Khê, nhất là những ngày cuối cùng của giáo sư Khê trong bệnh viện.
Ông kể: “Trong cuộc đời tôi có hai kỷ niệm khó quên. Một trong hai kỷ niệm đó là về giáo sư Trần Văn Khê. Trong những ngày ông nằm ở bệnh viện, khi chỉ còn nói được với bác sĩ vài ba câu đứt đoạn: nhạc Vĩnh Bảo. Ông đã nhờ cậu Quang, học trò ông gọi cho tôi yêu cầu tôi đờn cho ông nghe. Lúc đó, tôi lập tức lấy đờn ra và đờn tùy hứng Nam ai Rao xuân. Khi tôi đờn, hình ảnh người bạn thân của tôi Trần Văn Khê, tôi thấy ông đang nằm trên giường bệnh. Nghĩa là hình ảnh của ông nó lảng vảng trong đầu tôi và cứ thế tôi tùy hứng đờn hai đoạn nhạc và gửi cho ông nghe. Đó là kỷ niệm khó quên của cả cuộc đời tôi”.
Không chỉ nhớ đến người bạn tâm giao của mình, nhạc sư Vĩnh Bảo còn ngậm ngùi kể lại cho mọi người câu chuyện về người vợ đã mất. Ông lý giải vì sao suốt một năm qua ít xuất hiện trước mọi người: “Thành thật mà nói, tôi ở với vợ tôi 68 năm, không bao giờ tôi được vợ tôi ôm tôi. Và cũng không bao giờ được bả hôn tôi. Bả thì ham báo chí viết về tôi, hễ có báo nhắc đến tên tôi là bả mua 4-5 tờ. Bả cắt, dán rồi lưu lại. Ai mời tôi đi nói chuyện về âm nhạc, tôi từ chối. Bả năn nỉ tôi, tôi nhận lời và ra điều kiện: bà hôn tôi tôi mới nhận lời. Trên cơ hội đó, tôi được bả hôn, nghĩa là tôi có cái để áp phe với bả. Mà bây giờ hông có bả, người ta rủ tôi đi chỗ này chỗ kia, tôi mất cái hăng hái”.
Nhạc sư Vĩnh Bảo tấu đàn tưởng nhớ giáo sư Trần Văn Khê và vợ 2Nhạc sư Vĩnh Bảo cùng nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng tấu đàn tưởng nhớ giáo sư Trần Văn Khê
Trong niềm xúc động trào dâng, nhạc sư Vĩnh Bảo cùng nghệ sĩ Hải Phượng và nhiều nghệ sĩ khác như Hà Mỹ Xuân (nổi tiếng với vai Trưng Nhị trong vở Tiếng trống Mê Linh), Xuân Lan (cựu diễn viên của đoàn cải lương Thanh Minh – Thanh Nga, được biết đến với vai công chúa Bích Vân trong vở Bên cầu dệt lụa) đàn, hát nhiều khúc ca quen thuộc.
Nhạc sư chơi nhiều loại nhạc cụ liên tiếp như đàn tranh, đàn kìm, đàn gáo để bày tỏ nỗi nhớ thương của mình. Ông nói: “Nhiều người nhận xét tiếng đàn của tôi buồn và chắc là cuộc đời tôi cũng buồn. Nhưng ngược lại, tôi mượn tiếng đàn để đưa ra ngoài, giải tỏa ra ngoài. Tôi còn dạy đời, khi cao hứng thì làm thơ”.
Chuyện trò riêng với Thanh Niên Online, nhạc sư Vĩnh Bảo chia sẻ bằng giọng buồn buồn, luyến tiếc: “Ngày hôm nay, tôi rất nhớ thương người bạn thân Trần Văn Khê. Ông ấy đi rồi, tiếng đàn của tôi không còn ai hiểu nữa. Bà nhà tôi đi rồi, tôi chẳng còn muốn đi tham dự chương trình gì nữa”.
Nhạc sư Vĩnh Bảo tấu đàn tưởng nhớ giáo sư Trần Văn Khê và vợ 3Nhạc sư Vĩnh Bảo hài hước kể chuyện vui khi cắt bánh khiến mọi người cười òa
Con gái lớn của nhạc sư Vĩnh Bảo, bà Thu Anh nhìn người cha tóc đã bạc hết, đôi môi lúc nào cũng run run nhưng vẫn miệt mài gảy đàn mà nghẹn ngào: “Lúc mẹ tôi mất, ba tôi không khóc. Lúc giáo sư Trần Văn Khê mất, ông cũng không khóc. Nhưng ba tôi đàn, ông đàn trước bàn thờ mẹ tôi và trước linh cữu giáo sư Khê. Người già đâu phải khóc là mới thương, nén lại trong lòng mới đáng sợ”.
Buổi lễ mừng thọ nhạc sư Vĩnh Bảo diễn ra tại nhà riêng của vợ chồng tiến sĩ sử học Hãn Nguyên Nguyễn Nhã đầy ấm cúng và thân mật.
Tiến sĩ Nguyễn Nhã cho biết: “Giáo sư Trần Văn Khê đã đi rồi, tôi không muốn mọi người quên mất cây đại thụ còn ở lại với nền âm nhạc Việt Nam là nhạc sư Vĩnh Bảo. Tôi muốn tất cả mọi người, nhất là những người trẻ sẽ yêu và làm giàu văn hóa Việt Nam nên tôi tổ chức tiệc mừng thọ cho nhạc sư, mong ông vẫn luôn khỏe mạnh và nhiều người trẻ được tiếp cận”.

Bài, ảnh: Bùi Thư

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/nhac-su-vinh-bao-rung-rung-tau-dan-tuong-nho-giao-su-tran-van-khe-601216.html

>> Số phận cô giúp việc hơn 10 năm của giáo sư Trần Văn Khê
>> Ước nguyện chưa thành của hai đại thụ âm nhạc
>> Giáo sư Trần Văn Khê muốn nghe lại tiếng đàn tranh trước lúc ra đi
>> Giáo sư Trần Văn Khê ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn
>> Nhạc sư Vĩnh Bảo nhận bằng khen của Thủ tướng

TRẦN TUY AN : Ấm áp đêm hát thơ mừng đại thọ nhạc sư Vĩnh Bảo


thứ năm, ngày 27/8/2015, 10h46
 

Ấm áp đêm hát thơ mừng đại thọ nhạc sư Vĩnh Bảo

 

Tối qua, 25-8, tại tư gia của TS sử học Nguyễn Nhã đã diễn ra đêm hát thơ mừng đại thọ 98 tuổi nhạc sư Vĩnh Bảo (sinh 1918). Chương trình có sự góp mặt của các nghệ sĩ tên tuổi như: TS-nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng và NSƯT Thúy Hoan; Vũ Huy Dự, Hồng Oanh, Kim Thoa, Hà Mỹ Xuân, Diệu Thanh, Xuân Lan… Các nghệ sĩ đã đưa người nghe, người xem đến tất cả các vùng miền qua làn điệu chầu văn, hát xẩm, dân ca Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên và hò Đồng Tháp…

Nhạc sư Vĩnh Bảo cùng các nghệ sĩ

TS Nguyễn Nhã (trái) mời rượu nhạc sư Vĩnh Bảo

Nghệ sĩ hát thơ Hồng Oanh

Nhạc sư Vĩnh bảo giao lưu với người yêu âm nhạc dân tộc

Nhạc sư Vĩnh Bảo biểu diễn đàn tranh

Ngón đàn điêu luyện với đàn kìm

Và đàn nhị.

Cùng các nghệ sĩ trẻ.

Người mộ điệu còn được thưởng thức tiết mục hát và bắt nhịp các làn điệu dân ca, song tấu giữa nhạc sư Vĩnh Bảo và TS- Nghệ sĩ Hải Phượng. Rất đông người mến mộ nhạc sư và yêu âm nhạc dân tộc từ khắp nơi đã đến tham dự. Đặc biệt, do sức khỏe không cho phép, danh cầm Năm Thê (Vĩnh Long) đã gửi đến video clip tiếng đàn của mình làm quà tặng sinh nhật nhạc sư Vĩnh Bảo. Đêm giao lưu thơ nhạc diễn ra trong không khí ấm áp.

Trần Tuy An

http://www.giaoduc.edu.vn/am-ap-dem-hat-tho-mung-dai-tho-nhac-su-vinh-bao.htm

HÀ BẮC và NGỌC BỘI viết về SỰ NGHIỆP ÂM NHẠC , NHIẾP ẢNH của GS LÊ VĂN KHOA và tác phẩm LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM/ chương trình giới thiệu sách LÊ VĂN KHOA /MỘT NGƯỜI VIỆT NAM , 19.09.2015 tại SAIGON 9 RESTAURANT , GARDEN GROVE , CA92840



le van khoa giới thiệu sách calif sept 2015
GIỚI THIỆU SÁCH

LÊ VĂN KHOA / MỘT NGƯỜI VIỆT NAM

chương trình tổ chức ngày thứ bảy 19.09.2015

Địa điểm: SAIGON 9 RESTAURANT, 2801 HARBOR BLVD , GARDEN GROVE, CA 92840

CHƯƠNG TRÌNH :

Tiếp tân: 11:00am – 11:30 am

Khai mạc: 11:30am – 12:30pm

MC giới thiệu chương trình

Diễn giả : Nhà văn PHẠM XUÂN ĐÀI

chủ đề : LÊ VĂN KHOA , MỘT NGƯỜI VIỆT NAM

Diễn giả : Nhà văn TRỊNH Y THƯ

Chủ đề : LÊ VĂN KHOA và Âm nhạc

MC giới thiệu nhạc sĩ LÊ VĂN KHOA

Phần âm nhạc: ca sĩ góp mặt : NGỌC HÀ, VƯƠNG LAN, NHƯ AN

Chụp hình và ký tên sách lưu niệm với NS LÊ VĂN KHOA

Tiệc trưa : 12:30pm – 1:30pm (mỗi phần ăn $ 15.00)

Sách được bán : $ 50.00 cho bìa thường , $ 70.00 cho bía cứng

Liện lạc : TRẦN VIỆT HẢI  (818) 451-5157

TRẦN MẠNH CHI (310) 628-7499

LƯU ANH TUẤN  (619) 203-9118

LÝ TỒNG TÔN (661) 733-1602

NHÂN ẢNH TÂN VĂN trân trọng kính mời

 
Nhạc Giao Hưởng Việt: Hiện Tượng LÊ VĂN KHOA
 
gs-le-van-khoa-hoa-binh-resized
Nhạc Sư Lê Văn Khoa và Tổng Quản Trị Việt Báo Hòa Bình
(VietBao photo)


HÀ BẮC

Theo đề nghị của trưởng ban tổ chức, Tiến sĩ Nguyễn Kim Quý, bài này được viết để nhận xét – thay vì phân tích vì tác giả không phải nhạc sĩ – về dòng nhạc giao hưởng “tân lãng mạn” đồ sộ lẫy lừng của Nhạc Sư Lê Văn Khoa, về nỗ lực của ông đưa dân ca Việt ra thế giới và về chính hiện tượng Lê Văn Khoa của dòng nhạc không lời này. Ông không chỉ là cây đại thụ nhạc giao hưởng Việt, ông còn là nhà khai phá thành đạt, người soạn hòa âm giao hưởng phá kỷ lục của Việt Nam Cộng Hòa, nhà giáo, nhiếp ảnh gia và nhà tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ không mệt mỏi.

Khi mới nhận được năm dĩa audio tặng phẩm của tác giả qua ban tổ chức, kẻ viết bài này đã để trong tủ nhạc Việt một cách tự nhiên theo thói quen để chờ đưa tuần tự vào máy; và sau khi thưởng thức xong toàn bộ các giai tác này – nhiều lần – thì mới nhận chân ra nội dung “áo bà ba” của các bài dân ca không còn “đóng phèn” nữa; mà đã óng ánh những sợi kim tuyến mang nét chấm phá nghệ thuật thích nghi với thính thị của mọi dân tộc từ Âu sang Úc; từ Mỹ sang Á châu; và đặt chúng vào tủ nhạc giao hưởng quốc tế.

Chiều hướng đem dân ca Việt vào dòng nhạc giao hưởng phương Tây; cụ thể là dòng nhạc giao hưởng Mỹ đã khiến Nhạc Sư Lê Văn Khoa phải bỏ ra nhiều nỗ lực để khán thính giả bản xứ quên đi trong chốc lát “khẩu vị” quen thuộc cố hữu của họ để (bước đầu) thưởng thức cái “hương vị” xa lạ đến từ nửa vòng trái đất qua người tỵ nạn cộng sản; để có ngày nào đó sẽ trở nên “khoái khẩu” không thể thiếu vắng trong “dạ tiệc” tại các nhạc viện và hý viện. Khán thính giả bản xứ sẽ thấy ngạc nhiên và thú vị khi thưởng thức một giai tác của ông mà nghe như của Frederic Chopin (1810-1849) và các đại nhạc sư khác; nghe như “Nocturne” ở Áo, ở Đức, ở Pháp mà tựa đề lại là “A Night in Vietnam” (11:51 phút) trong dĩa “Piano Solo”!

Trong dịp trình tấu ở Washington D.C. năm 2010, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa than “cô đơn” trong nỗ lực quốc tế hóa dân ca Việt; quả không sai! Thiện chí đến Việt Nam tìm kiếm và nhiệt tình tìm hiểu âm nhạc Việt của các bạn hữu Hoa Kỳ của ông đã trở nên vô ích vì gặp trở ngại lớn từ các “đỉnh cao trí tuệ”và chủ trương “hồng hơn chuyên” của đảng Cộng Sản Việt Nam cầm quyền; điển hình là trường hợp Tiến sĩ Giáo Sư Deborah Rosen của Irvine Valley College, đã tốn công tốn của đến “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” để nghiên cứu và rồi trở về với thành quả là mớ nhạc tuyên truyền rẻ tiền của chế độ; không thể dùng làm luận án được!

Nhạc Lê Văn Khoa không phải chỉ để hợp xướng; nó cũng được dùng để đơn ca và song ca; độc tấu và song tấu từ thời văn hóa khởi sắc Việt Nam Cộng Hòa; và sau này ở hải ngoại. Nó được hòa tấu tại các hý viện tráng lệ ở Mỹ, Âu và Úc Châu. Hơn thế nữa, nó còn được dùng để đấu tranh chống chế độ cộng sản phi nhân bản và phi dân tộc ở Việt Nam hiện nay; điển hình là “Trường Ca Việt Nam Quê Hương Mến Yêu” đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa; rồi “Trường Ca Khóc Đi Em, Trên Biển Cả, Ca Ngợi Tự Do, v. v…” và bằng cả lãnh vực nhiếp ảnh nữa trước 1975! Khúc giao hưởng “Symphony Việt Nam 1975” hoàn thành ở hải ngoại là tác phẩm lớn nổi tiếng nhất về mặt này; được đánh giá như một sử ký viết bằng âm nhạc, một “legacy” của tác giả. Nó là tấu khúc Việt đầu tiên được trình diễn ở Melbourne ngày 22/10/2005 bởi The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra trong lịch sử 150 năm của dàn nhạc này.

Tên gọi “Symphony Việt Nam 1975” đã được tác giả đặt theo kiểu “Overture 1812” và “Symphony 1997” (đánh dấu hai biến cố chính trị bi tráng ở Nga và HongKong) để ôn lại từng thời kỳ lịch sử bi ai của dân tộc Việt. Trong buổi trình diễn ở Úc, chính nhạc trưởng Andrew Wailes đã hát bài “The Last Time” (6:32 ’ dĩa Souvenir của Lê Văn Khoa); câu cuối “goodbye” nghe chẳng khác gì lối trình bày của Julie Andrews trong “The Sound of Music” của bà. Đàn tranh trong “Full Moon” đã quyện với các nhạc cụ phương Tây thật nhịp nhàng. Bản “The Rice Drum” (4:19’) trong dĩa “Souvenir” đã được độc tấu bằng chiếc đàn bandura, một nhạc cụ khiến người Nga, nhất là bạo chúa Staline phải sợ hãi đến độ tiêu hủy hết, giết hết nhạc công và cấm tuyệt để ngăn ngừa lòng ái quốc của dân Ukraine.

Có thể nói mỗi tác phẩm giao hưởng của ông là một giai tác. Nhạc Lê Văn Khoa “quen” vì nghe biết ngay là dân ca; là “lý”; là “hò”; là “Chopin, Beethoven, Strauss, Berlioz, Mozart, Haydn v. v…”; nhưng cũng “lạ” vì có các nhạc cụ cổ truyền Việt và Ukraine cùng hòa tấu với nhạc khí Tây phương; vì nhiều nốt “lạ” không dễ xoay trở ngón đàn. Âm thanh thì bàn tay phải có lúc phải với nốt “lá” ở bậc cao; bỗng bàn tay trái phải lặn sâu nốt “là” ở bậc thấp như trong bài “In The Pond” (4:50’) của dĩa “Piano Solo” do Giáo Sư Lyudmila Chichuk độc tấu. Bè thì có khi bổng khi trầm, vắt ngang vắt chéo, vắt ngược vắt xuôi (Hymn to Freedom 5:43’); cung thì chuyển từ mineur sang majeur; tiết nhịp thì khi đột ngột, thoăn thoắt, lúc lại khoan thai; hiện tượng “lạ”, bốn bàn tay cùng lướt trên phím đàn piano (Song of The Black Horse 1:49’); nghe như vó ngựa dập dồn chỉ có ở nhạc của ông.

Lê Văn Khoa là cây đại thụ nhạc giao hưởng Việt bởi khuynh hướng và thành quả. Từ tiểu khúc đến bản giao hưởng đều diễn tả được nỗi lòng của tác giả. Ba mặt sáng tác, trình tấu và thưởng thức đã hội tụ như góc tam giác, như kiềng ba chân nên đã giúp cả ba được cộng hưởng. Nhạc giao hưởng của ông tựa cấu trúc căn nhà lầu ba tầng; trong đó đại gia đình đông đảo leo lên xuống không ngừng; kẻ chậm rãi, người thoăn thoắt tùy đặc tính và vai trò của họ. Nhạc ngũ cung không chỉ dùng trong dòng nhạc Lê Văn Khoa, nó thoáng hiện trong hầu hết các tác phẩm của các soạn giả trứ danh phương Tây; ẩn tàng tung tích một cách kín đáo. Hòa âm cho giao hưởng còn xa lạ thời Việt Nam Cộng Hòa. Nó là sản phẩm đặc thù của châu Âu có mặt muộn màng ở Đông Dương thời Pháp thuộc. Dòng nhạc giao hưởng của ông tựa như mưa tưới cánh đồng khô hạn của nhánh nhạc này trong nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa. Trong nhạc giao hưởng Lê Văn Khoa, từng nốt nhạc được trình tấu bằng từng nhạc cụ khác nhau. Âm nhạc của ông đủ ước lệ mà không cần ca từ; do đó, đã không cần sinh ngữ vì âm nhạc là sinh ngữ quốc tế phi biên cương. Ông đánh thức tâm khảm Việt bằng kho tàng âm nhạc ngũ cung; đem chuông ngũ cung tiềm ẩn đi đánh vào tâm tư xứ người bằng nhạc khí của chính họ. Chủ trương dùng nhạc cụ Tây để đánh nhạc Ta của ông thật là một ý tưởng cách mạng về âm nhạc; khác với chủ trương bảo thủ khép kín của các nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, Trần Văn Khê và các nhà văn hóa khác.

Dĩa “Lullaby” có hai bài điệu Valse. Các bài “Dawn of My Country” (5:57’), và “Dream of My Homeand” (5:20’) có lời ca, nghe hùng hồn nhịp quân hành. Bản “Memory” (5:10’) có lời nghe như Tiếng Tơ Đồng trước 1975. Bài “Serenade” (5:31’) do Nhạc Sĩ Semchuck độc tấu violon nghe thật duyên dáng, yêu kiều đến lạ lùng! Trong dĩa “Souvenir”, bản “The Last Time” (6:32’) giọng Ngọc Hà đơn ca bộc bạch; thổ lộ lời ca trau chuốt hợp soạn của hai người đậm nỗi hợp tan của loại tình yêu đôi lứa. Bản “Welcome Spring” (1:57’) điệu Polka ngắn ngủi nhưng rộn ràng, tươi vui tạo lạc quan. “Autumn Evening” (5:43’) lạ vì đệm giọng ngân soprano và đàn guitar; “Wondrous Love” (5:32’) đơn ca nam giọng tenor đệm bằng nhiều bè trôi nổi; nghe như nửa nhạc yêu nước, nửa thánh ca. “The Rice Drum” (4:19’) dân ca Việt Nam nghe bi tráng với dàn orchestra; lạ tai với nhạc khí truyền thống Bandura của dân Ukraine. Trong dĩa “Memories”, bài “Nocturne” (4:57’) của ông với solo violon và piano phụ họa đã không miên man trầm lắng như các Nocturne khác; mà lại có lúc vui tươi, nhộn nhịp; kết quả việc đổi âm giai thứ ra trưởng. Nếu đã có “Nocturne” ở châu Âu của Schubert, Chopin . . . thì nay người Việt hãnh diện vì cũng có “Nocturne” của ta! Bản “In the Moonlight” (6:36 ’) có tiếng flute của Kalitovky nghe như tiếng sáo lớn. Dĩa “Piano Solo” kết thúc với bài số 7 “A Night in Vietnam” (11:51’) tuy chỉ độc tấu nhưng nghe như có lời vì thính giả Việt ai cũng thuộc các bài dân ca Nam bộ. Bài số 5 “Cut the Tree” có âm thanh nghe như hồn nước hiện về; thật cảm động! Bài số 7 trong dĩa legacy “Symphony Việt Nam 1975” tuy dùng tiết nhịp của bài dân ca “Lý Chim Quyên” nhưng với ban hợp ca nam nữ nghe hùng hồn, bi tráng; không mộc mạc như “Lý Chim Quyên” dùng nhạc cụ dân tộc.

Giới hạn của bài này không cho phép đề cập đến phạm vi nghệ thuật nhiếp ảnh của ông. Tuy nhiên có một kỷ niệm liên quan khá đẹp và khó quên: Trước Tết Mậu Thân 1968, khi đài Truyền Hình Việt Nam băng tần số 9 mới được quân đội Mỹ giúp thành lập được mấy năm, Nhạc Sĩ Lê Văn Khoa đã có chương trình dạy nhạc định kỳ và hợp xướng bất định kỳ trên màn ảnh đài này. Trong một chương trình đặc biệt, ông đã mời Hoa Hậu đài Truyền Hình Việt Nam và hai Á Hậu; trong đó có người nhà của kẻ viết bài này, Á Hậu Hoàng Tô Châu xuất hiện trong chương trình. Chân dung của họ cũng được hân hạnh lọt vào ống kính nghệ thuật của nhà soạn nhạc kiêm nhiếp ảnh gia đa tài này để rồi lần lượt được xuất hiện trên bìa các tuần báo phụ nữ tại thủ đô Saigon của Việt Nam Cộng Hòa thời đó. Trước 1975 ít ai nhắc đến ông vì nhiều nguyên do; chẳng hạn họ không có TV, không thưởng thức nhạc giao hưởng hoặc không có nhạc giao hưởng để thưởng thức và nhất là vì ông rất khiêm tốn.

Ngoài mấy lần phải trích đoạn thay vì được trình diễn nguyên bài vì thời lượng hạn chế hoặc phải viết lại để thích ứng với tình huống thay đổi nhạc cụ và số lượng nhạc công trình tấu bất ngờ xảy ra không tiên liệu được, đã không có lời bình bác nào về dòng nhạc của ông. Nhưng chắc hẳn Việt Cộng, Việt gian và vài kẻ tị hiềm nào đó có thể chỉ trích vì không lợi dụng được ông và vì đố kỵ. Nhà văn Pháp Octave Mirbeau (1848-1917) đã chẳng có câu “Jamais la critique n’a su discerner un ouvrage remarquable, trouver un artiste, faire surgir un nom glorieux!” (Phẩm bình không bao giờ biện bác được một giai tác, nhận chân được một nghệ sĩ và nêu bật được một tên tuổi lẫy lừng); vả lại, bi kịch gia Philippe “Néricault” Destouches (1680-1754) trong bi hài kịch về phong hóa “Le Glorieux” đã có câu “La critique est aisée, et l’art est difficile!” (bình bác thì dễ, nghệ thuật mới khó). Cũng là đại thụ như Trần Văn Khê, Phạm Duy nhưng Lê Văn Khoa không bị “hòa hợp” (hòa hoãn hợp tác) bởi chế độ phi nhân Cộng Sản Việt Nam. Trái lại, ông đã không để cho kẻ thù núp bóng lâu đài âm nhạc đồ sộ lẫy lừng của mình để lợi dụng tuyên truyền lừa bịp. Ông hòa nhã nhưng bất khuất; tựa Gloria Estefan của Cuba vậy.

Vì nhạc giao hưởng kén thính giả (quần chúng Việt phần lớn quen nghe boléros và cải lương) và vì ông Lê Văn Khoa không chủ trương kinh doanh nghệ thuật, việc thực hiện một compact disc nhạc loại này để phổ biến bằng một ban hòa tấu tiêu chuẩn 60 nhạc công trở lên và một hý viện tráng lệ; chi phí ắt không phải là trung bình. Tình trạng này chắc hẳn phải khiến việc phát hành các CD nhạc không lời của ông – đôi khi có bài có lời (lyrics) – rốt cuộc chẳng CD nào có lời (interests) cả! Tuy nhiên, cổ ngữ Latin có câu “bis vivit qui bene” (kẻ sống gấp đôi người khác thì sống mạnh mẽ); nhạc sư Lê Văn Khoa chính là típ người này để mà tự hào! Cũng tựa Hoa Hậu không chỉ bởi cái đẹp thể chất, thiên tài không chỉ bởi bản thân cái tài mà còn phải có cái đức nữa. Ông có cái đức của người quốc gia chân chính; của nhà giáo, nhà tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ. Và bởi những thành quả vô song mà ông đã nhiều thập niên tạo dựng. Có nhìn và nghe thấy những Kateryna Myronyuk (Ukraine) độc tấu bandura bài “Trống Cơm”, Suzuki Hitoshi (Nhật) độc tấu cello bản “Memory”, Phương Oanh (Pháp) độc tấu đàn tranh “Hát Hội Trăng Rằm”, nhạc trưởng Andrew Wailes (Úc) hát “The Last Time“ (Lần Cuối) mới thấy được bức tranh “Thế Giới Đại Đồng” với bản sắc dân tộc khác nhau quấn quít trong tình người và nghệ thuật; không phải thứ thế giới đại đồng ảo vun xới bằng dối trá, bạo lực và xác hàng triệu dân vô tội mà cái đuôi mãng xà Cộng Sản Việt Nam, dù đầu đã bị đập nát từ 1989 vẫn đang mù quáng toan tính áp đặt!

Nếu gọi các tay vĩ cầm là “vĩ” nhân thì Lê Văn Khoa không phải vĩ nhân trong số đó; bằng không, ông chính là vĩ nhân nhạc giao hưởng Việt của nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa và trên trường quốc tế hiện nay. Nếu gọi thiên “tài” là tiền từ trời rơi xuống thì ông chưa có thiên tài; bằng không, với lứa tuổi từ thượng thọ đến đại thọ và với “legacy” đã có, ông chính là thiên tài về âm nhạc của Việt Nam Cộng Hòa và của cộng đồng Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi; chưa kể nhận xét đồng tình của các nhạc sư bản xứ các nước. Có thể nói dòng nhạc giao hưởng Lê Văn Khoa là một hiện tượng đặc thù đáng để trân quý và thưởng ngoạn. Nói theo văn phong của Đại Tướng Douglas McArthur kết thúc 52 năm binh nghiệp, trong diễn văn giã biệt trước Quốc Hội lưỡng viện Hoa-kỳ hôm 19/4/1951, kết thúc bằng câu “Old soldiers never die, they just fade away” thì composer Lê Văn Khoa, một ngày nào đó buông viết cũng sẽ phải nói như lời của một nhân vật mà tôi quên tên. Ông nói: “Old composers never die, they just decompose!”.

HÀ BẮC

*****************************************************************************
 
LÊ VĂN KHOA LÀ MỘT TRONG BA NHẠC SĨ TRÊN THẾ GIỚI
viết nhạc cho đàn BANDURA của xứ UKRAINE.
sach bandura ukrainele van khoa
Một tin quan trọng đến vừa đúng ngày kỷ niệm tháng Tư Ðen, đánh dấu 40 năm ly hương
của người Việt tị nạn cộng sản: Nhạc sĩ Lê Văn Khoa được vinh danh là một trong ba nhạc sĩ
trên thế giới viết nhạc cho đàn Bandura độc tấu với dàn nhạc giao hưởng.
Một quyển sách bằn;g tiếng Ukraine với tên khá dài “NGHỆ THUẬT VÀ SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA ÐÀN BANDURA UKRAINA TRONG THẾ KỶ 20 VÀ ÐẦU THẾ KỶ 21”,
do trường  đại  học “Vasyl Stefanyk Precarpathian National University và Ivana-Frankivsk
Regional Organization of Ukrainian Kobzars National Union thuộc viện Cao Học Quốc Gia
Ukraine mới  ấn hành, vừa được gửi đến Nhạc sĩ Lê Văn Khoa từ Kiev, Ukraine.
Giáo sư Tiến sĩ Violetta Dutchak là tác giả, dành nhiều trang trong chương thứ sáu để viết về Nhạc sĩ
Lê Văn Khoa, về sự đóng góp của ông trong việc phát triển đàn Bandura bằng cách viết nhạc cho cây
đàn dân tộc của Ukraine. Bài viết có phần nhận xét kỹ thuật viết nhạc của ông cho đàn này. Tác giả xác
nhận Lê Văn Khoa là một trong ba nhạc sĩ trên toàn thế giới, đã viết nhạc cho đàn Bandura trình tấu với
dàn nhạc giao hưởng.
Ðiểm quan trọng cần được nhấn mạnh ở đây là Nhạc sĩ Lê Văn Khoa dùng nhạc dân tộc Việt, bài dân ca
Trống Cơm và Se Chỉ Luổn Kim, viết lại cho nhạc sĩ Ukraine đàn trên cây đàn dân tộc của họ, một hình
thức đưa văn hóa của hai dân tộc đến với nhau qua âm nhạc độc đáo của cả hai bên. Ý niệm đó đã được
tác giả Tiến sĩ Violetta Dutchak nhận thấy và ghi trong lời đề tặng như sau:
“With regards to the Composer Lê Văn Khoa with great respect and gratitude for the development of cultural contacts between countries and peoples.
Professor Violetta Dutchak
Sự thành công lớn của một người tị nạn cộng sản được ghi nhận đúng vào ngày Quốc Hận thứ 40 mang một ý nghĩa sâu đậm cho mọi người Việt Nam.
Phụ lục:2 videos Trống Cơm và Se Chỉ Luồn Kim do nữ nhạc sĩ Kateryna Myronyuk trình t ấu  đàn Bandura  với dàn nhạc giao hưởng Ukraine.( HoaThịnh Đốn, năm 2010)

1/ https://youtu.be/LA3sBhxxB1Q ( Trống Cơm)
2/ https://youtu.be/2s4Bwo4ezQQ ( Se Chỉ Luồn Kim)
 
Nhạc Giao Hưởng Việt: Hiện Tượng LÊ VĂN KHOA
 
gs-le-van-khoa-hoa-binh-resized
Nhạc Sư Lê Văn Khoa Tổng Quản Trị Việt Báo Hòa Bình
(VietBao photo)
SỰ NGHỆP ÂM NHẠC VÀ NHIẾP ẢNH LỪNG LẪY của Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa, và tác phẩm: LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM.
 
Ngọc Bội
                                                             
Nói đến Âm nhạc, Nhiếp ảnh, cũng như Hội họa là nói đến nghệ thuật, nói đến sự rung động của tâm hồn. Và tất nhiên, còn tùy ở tâm cảm, và tâm cảnh của người thưởng thức. Chúng tôi không đủ tư cách phê bình, chỉ xin nêu lên những điều Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa đã nói, cũng như thành tích mà ông đã lập được dưới mắt của một độc giả, không chuyên môn, nhưng có lòng trân quý, và cảm phục đến tác giả và tác phẩm. Cho dẫu có sự am tường nào, ngôn bất tận ý, cá nhân chúng tôi cũng không thể nói hết được những lời hay, ý đẹp của tác giả.
Nhắc đến đây chúng tôi chợt nghĩ đến những lời ví von: “Việt Nam là suối nhạc sông thơ. Tâm hồn người Việt Nam là tâm hồn của thi sĩ v.v…” Vậy âm vang truyền thống dòng suối nhạc đó từ đâu? Nếu không phải là tiếng ru cùa mẹ Việt Nam tự ngàn đời, từ lúc con còn là cái bào thai, cho đến khi lọt lòng mẹ, được mẹ ôm con vào lòng, qua những điệu ru ca dao:
À ơi, hay ầu ơ, ví dầu,
 
Cái cò xung chát khế chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru…
 
CHÂN DUNG TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM.
 
1- TÁC GIẢ.
– Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa là một soạn nhạc gia quốc tế lừng danh, một nhiếp ảnh gia tài ba, một nhà Văn hóa, Giáo dục và Nghệ thuật v.v… Ông chào đời năm 1933, tại Cần Thơ, Tây Đô của miền nam Việt Nam, cái nôi của nền văn minh miệt vườn, sông nước Cửu Long Giang. Và là trung tâm của miền gạo trắng, trăng thanh, đất lành, người lành, đất của cổ nhạc miền Nam mê say, mang đậm tình văn hóa dân tộc.
Nhắc đến niên tuế, Giáo sư Nhạc trưởng Lê Văn Khoa đã vượt Bát Tuần Khánh Thọ, trân quý biết bao, “Ngũ phúc, thọ vi tiên”. Chúng tôi, cùng quý vị quan khách xin trân trọng chúc mừng đến ông và tác phẩm.
 
2- TÁC PHẨM: LÊ VĂN KHOA/ MỘT NGƯỜI VIỆT NAM.
– Nói về cuốn sách của ông (đang có trước mặt chúng ta), đã được hình thành qua một ban biên tập và ban thực hiện hết sức công phu. Chúng tôi thật sự choáng ngợp, cuốn hút lạ thường, khi cầm trong tay một tác phẩm đồ sộ với tựa đề: Lê Văn Khoa/ Một người Việt Nam. Một đề tựa thật khiêm nhường và cũng thật cao thượng! Sự cuốn hút không chỉ vì vẻ đẹp về hình thức, mà còn ở nội dung vô cùng phong phú, tập hợp được hàng trăm các cây viết văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà bình luận, nhà ngoại giao, từ khắp nơi trên thế giới, kể cả các người thế hệ trẻ, và người ngoại quốc. Chính đề tựa của cuốn sách, cho chúng ta biết về nội dung, không phải là những bản nhạc của ông được in thành tuyển tập mà là những bài do ông viết, qua kiến thức, nghiên cứu, những khám phá, và những nhận định hết sức sâu sắc về âm nhạc, và về nhiếp ảnh, kể cả những truyện ngắn đặc sắc. Và cùng các thân hữu của ông, đã đóng góp những bài viết giá trị về văn hóa và nghệ thuật, nói về ông, một thiên tài xuất chúng.
Sách khổ lớn, bìa cứng, hiện đại, là chân dung Giáo Sư Lê Văn Khoa bằng tranh sơn dầu của Họa sĩ Trương Vũ/ Trương Hồng Sơn, với số trang đáng nể, 700 trang, được chia làm ba phần: Âm nhạc, Nhiếp ảnh, và phần Anh Ngữ. Người đọc sẽ được thấy ở đó, thật nhiều điều kỳ thú bất ngờ, những hạt ngọc của tư tưởng, và rất nhiều hình ảnh màu sắc đẹp mắt, được in ấn trang nhã, sáng láng, và đáng yêu vô cùng.
 
3- SỨC MẠNH CỦA ÂM NHẠC.
– Ông chia sẻ: “Âm nhạc là một nghệ thuật rộng lớn vô biên, là nghệ thuật hòa hợp âm thanh để diễn tả tình cảm. Có thể nói,  âm nhạc ảnh hưởng đến vạn vật, và âm nhạc là sức mạnh đáng sợ. Âm thanh khác hơn tiếng động, vì trong âm thanh ta đo được “chiều cao” và “chiều dài”, hay không gian và thời gian, và là cung bậc, trương độ của âm thanh.
Âm nhạc ảnh hưởng đến tâm trí con người, là hơi thở của tâm hồn, khi niềm vui cũng như nỗi đau dâng lên cao ngút. Nhạc kích động quần chúng, kích động chiến sĩ, là vũ khí tuyên truyền vô cùng quan trọng trong cuộc chiến tranh tâm lý. Nên rất cần nghiên cứu nhạc cặn kẽ, để hiểu rõ tác động của nó mà sự lợi hại sẽ không thể lường được!”.
Chúng tôi chỉ xin nêu lên hai ví dụ:
– “Stalin và Đảng Cộng sản Nga rất sợ những người hát ca khúc ái quốc và tôn giáo ca ngợi lịch sử Ukraine của các nhạc sĩ mù (kobzari) đi hát rong khắp nơi, với tiếng đàn Bandura, nhạc cụ dân tộc của Ukraine. Họ đã lùng bắt khắp nơi, cho giam tập chung, và hành quyết tập thể, con số 300 người nhạc sĩ mù này, cùng với những người khác vào thập niên 1930.” (LVK/MNVN, tr.111).
-Một nhận xét sâu sắc khác về âm nhạc của Kim Thanh, (Tiến Sĩ Nguyễn Kim Quý) trong một bài viết về Platon Và Khung Trời Của Ý (Oregon Thời Báo): “Tôi nghĩ, một người nếu thật sự đã nghe Sonate Appassionata của Beethoven một lần, rồi sẽ không còn muốn oán thù ai nữa. Và tôi đọc ở đâu đó, Lenine có nói rằng, nếu cứ tiếp tục nghe bản nhạc này, ông ta sẽ không hoàn thành nổi cuộc cách mạng vô sản.” (ORTB, 5/15/2014, số: 626, tr.24).
 
4-NHỮNG SÁNG TÁC PHẨM VỀ ÂM NHẠC VÀ NHIẾP ẢNH.
– Những sáng tác phẩm của ông thật nhiều trên cả hai lãnh vực âm nhạc và nhiếp ảnh, mang sắc hồn dân tộc.
Âm nhạc và nhiếp ảnh vẫn luôn gắn liền với nhau trong con người của ông, nên có đôi khi, “người nghe sẽ thấy được hình ảnh trong âm nhạc của ông hay ngược lại…”
Ông đã từng chiếm được rất nhiều những giải thưởng về âm nhạc và nhiếp ảnh, kể cả huy chương cao quý về giáo dục.Trong giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1969 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông đã được thắng giải cùng với các nhạc sĩ hoà âm thời danh Vũ Thành, và Nghiêm Phú Phi.
Ông là người khai phá đầu tiên, nâng tầm thưởng thức nhạc giao hưởng trong cộng đồng người Việt, và đưa dòng nhạc Việt giao hưởng ra khắp thế giới qua các sáng tác của ông từ nhiều thập niên qua, làm vẻ vang cho người Việt chúng ta.
Các nhạc phẩm giao hưởng này đã do ông hòa âm, phối khí cho dàn nhạc danh tiếng Kyiv Symphony Orchestra với hàng trăm các nhạc sĩ thượng thặng của Ukraine trình tấu.
-Ai cũng hiểu rằng: “ Đối với Tây phương, nhạc giao hưởng thuần túy mà không cần lời diễn giải, như đã quen thuộc với họ, và hẳn nhiên còn quá mới mẻ đối với nhiều người trong chúng ta”. Tuy thế, khi được thưởng thức dòng nhạc giao hưởng của Soạn Nhạc Gia Lê Văn Khoa, dường như, người nghe không thấy đơn điệu, còn cảm được cái thần của nó trong tiếng đàn, tiếng ca nhiều bè, âm vực vang lên tuyệt vời, trong không gian có bề ngang, và cả bề dầy.
-Tác phẩm Symphony Vietnam 1975 của ông, mang đầy âm hưởng ngũ cung Việt Nam. Tác giả Thanh Hằng cho rằng: “Những bản nhạc Symphony Việt Nam 1975, Memoríes, Souvenir của Lê Văn Khoa là tiếng khóc nức nở của một người Việt đối diện với lịch sử trong những giai đoạn đen tối nhất.” (LVK/MNVN, tr.406).
-Symphony Việt Nam 1975 “vang dội” trời Úc, qua dàn nhạc The Royal Melbourne Philhamonic Orchestra trình diễn năm 2005 và đã được tàng trữ tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Úc Đại Lợi, mở rộng cho các nhà nghiên cứu tham khảo. Ông Trịnh Y Thư nhận định: “Đại tấu khúc giao hưởng Việt Nam 1975 đã trở thành gia sản văn hóa của nhân loại.”
 
5- NHẠC NGŨ CUNG.
Nhạc sĩ Anh Bằng và Hoàng Nam chia sẻ: “Việt Nam là một nước gồm nhiều sắc dân hòa nhịp theo dòng lịch sử lập quốc và với một nền văn hóa lâu đời, cho nên dân ca Việt rất phong phú và đa dạng. Kho tàng dân ca VN gồm nhiều vùng, nhiều miền, nhiều thể loại: Dân ca Nam phần, dân ca Huế, quan họ Bắc Ninh, dân ca Cao nguyên, và dân ca Miền núi.” (tr.415). 
Nhạc trưởng Lê Văn Khoa cho biết thêm: “Nhạc cổ truyền VN có Tam cung, Tứ cung, Ngũ cung, và Lục cung. Nhưng phổ thông hơn hết là Ngũ cung (tức có thang âm năm nốt nhạc). Khác với nhạc Tây phương có Thất cung (bẩy nốt nhạc) như quý vị đã biết. Mỗi cung có màu sắc khác nhau, gây xúc động khác nhau, dùng diễn tả tâm tình khác nhau. Nhạc Ngũ cung không phải là nghèo. Nguồn gốc nhạc Việt ảnh hưởng đến với thế giới gần như không được nói đến, và người Việt cứ nghĩ mình chịu ảnh hưởng của Âu tây mà thôi. “Thật đáng tiếc!”. Một số bản nhạc của Hoa Kỳ, và các nước khác cũng đã viết hoàn toàn bằng ngũ cung, như bản nhạc Auld Lang Syne của Tô Cách Lan (Scottish) tức bài Chia Tay của Hướng Đạo, còn gọi là bài Tiễn Đưa Năm Cũ, được nhiều người biết đến là một ví dụ.”
-Ngoài ra, theo thiển ý, ta thử đọc lại câu thơ Kiều, tả “khúc đoạn trường”, qua tiếng đàn Nguyệt (Cầm trăng). Đàn Nguyệt và Đàn Tỳ Bà, nguyên thủy có 4 dây. Chỉ thuần tiếng đàn, dây vũ (dây to), dây văn (dây nhỏ) mà mang nét nghệ thuật và hấp lực cao:
“Trong như tiếng hạc bay qua
 Đục như nước suối mới sa nửa vời
 Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
 Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.”
        (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)
 
Và:
“Bốn dây như khóc như than
 Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng!”
        (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)
 
6- HAI NGUỒN VĂN HÓA ĐÔNG TÂY:
– Những âm điệu dân gian Việt Nam, qua các bài dân nhạc truyền thống, bằng lời ca dao đầy trữ tình, và bản sắc dân tộc, đem đến những cảm giác thăng hoa cho đời sống, như: “Se chỉ luồn kim”, “Trống Cơm”, “Ru Con”, “Lý Ngựa Ô”, “Lý Cây Đa” v.v…được ông phối khí, hòa âm, hợp ca nhiều bè, cho dàn nhạc giao hưởng Tây phương, xen lẫn tài tình những tiếng đàn tranh, đàn bầu, như rót vào hồn người để quảng bá đến người ngoại quốc biết về những nét đẹp của văn hóa Việt Nam.
– Nếu âm nhạc là “sinh ngữ”, việc mở ra một cánh cửa cho nhạc cổ truyền dân tộc Việt đi xa, hòa nhịp trong muôn sắc màu thắm tươi của ta, và của thế giới, thay vì còn mãi trong một khung trời hạn hẹp, quen thuộc, thì đó là một phương cách để bảo lưu được truyền thống dân nhạc Việt Nam? Và ta mới thấy ông đã có những đóng góp, nhìn xa, trông rộng, đem sự hòa hợp cái đẹp của âm nhạc cổ truyền Việt Nam với âm nhạc Tây phương qua các dàn nhạc giao hưởng đại hòa tấu. Sự thành công đến nỗi Tiến sĩ Nhạc trưởng Edward Cumming của Harford Symphony Orchestra tại Connecticut, Hoa Kỳ, đã phát biểu rằng:
 “Khi Đàn bầu, Sáo và Khánh quyện lại với dàn nhạc giao hưởng, tôi thấy nhạc Việt và nhạc Tây phương ôm choàng lấy nhau, gắn bó nhau. Đó là cái ôm siết chặt của hai nguồn văn hóa Đông, Tây”.
Mặt khác, ngay cả đến những nhạc sĩ lừng danh thế giới như Franz Liszt, Chopin, Lully, Mozart, Beethoven, Schubert, và Tchaikowsky v.v…cũng điểm thêm nhạc ngũ cung cho dòng nhạc cổ điển quen thuộc của họ có một thoáng hương xa, như ông đã nói.
– Giáo Sư Lê Văn Khoa luôn kêu gọi, nhắc nhở anh em, trong lãnh vực âm nhạc cũng như nhiếp ảnh: 
“Đừng quên yếu tố DÂN TỘC, tìm cái đẹp, tạo cái mới, HƯỚNG VỀ QUÊ HƯƠNG, CHỐNG CỘNG, làm VÌ DANH DỰ TẬP THỂ và DÂN TỘC hơn là vinh hiển cá nhân!” (tr.498). Còn lời chân tình nào cao đẹp hơn, đã được in thành văn sách, và cảm phục biết bao đến lời nói khí thế, và chính trực này.
 
7- NHIẾP ẢNH.
– Một bộ môn nghệ thuật đặc sắc, trong sự nghiệp đa dạng của Giáo sư Nhiếp ảnh gia đại tài Lê Văn Khoa.
Trong những bài Khảo luận về tư tưởng đạo đức và nghệ thuật nhiếp ảnh của ông đem thích thú và hữu ích đến với người đọc, nhất là cho những người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh:
– “ Luật 1/3, tức ý niệm cân đối đã có từ thời tiền sử. Sự cân đối này đã nằm trong thiên nhiên mà con người đã quan sát tìm thấy, và ứng dụng trong nghệ thuật từ ngàn xưa, cho đến ngày nay và sẽ còn rất lâu trong tương lai.
– Người ảnh (sử dụng) phải có khóe nhìn của một họa sĩ, một điêu khắc gia, và tâm hồn rung động của một thi, văn, nhạc sĩ. 
Nhiếp ảnh là đẹp, vì ảnh không làm cho sự việc có vẻ thật hơn mà chính nó là sự thật, (nói lên cả ngàn lời). Song, trong nghệ thuật, ta có thể biến sự thật trở nên mơ hồ, tạo một hình ảnh khác biệt, như câu nói của danh họa Pablo Picasso:“ Nghệ thuật là sự giả dối để làm cho chúng ta nhận thức sự thật.” (Art is a lie that make us realize the truth)”.
Giáo sư Nhiếp ảnh gia Lê Văn Khoa cho ra đời một trường phái:“DO YOU SEE WHAT I SEE?” Tạm dịch: “Bạn có nhìn thấy, điều tôi nhìn thấy không?”.
Ông là người đầy óc sáng tạo, đi trước thời đại, đã thành công đưa cảm nhận của mình đến với người xem, đưa cái mơ hồ vào cái thật, rất thật hầu thỏa mãn cái chiều kích vô biên của con người!
Có hai vị Nhiếp Ảnh Gia viết về ông, thổ lộ:
– NAG Gia Trung nói: “Nhờ có Ô. Khoa mà tôi có được huy chương vàng của Hội Photographic Society of New York, năm 2000, qua tác phẩm Đóa Hoa Sen. (tr.523)
– Và NAG Duy Anh, hiện ở Việt Nam, viết thư biết ơn thày, chỉ vì đã được học qua sách của thày Lê Văn Khoa mà ông đoạt được nhiều giải Huy Chương Vàng Quốc Tế tại VN, (2000-2005). (tr.527).
-Hiện nay, có 7 tác phẩm nhiếp ảnh của GS/ NAG Lê Văn Khoa được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Baltimore, Maryland, Hoa Kỳ. Một số khác hiện có tại Thư Viện của Trường Đại Học Boston, Hoa Kỳ để giảng dạy v.v…
 
8- CON NGƯỜI LÝ TƯỞNG.
– Giáo sư, Nhạc trưởng Lê Văn Khoa, một thiên tài xuất chúng, một người “làm việc toát mồ hôi”, rất hiếm người sánh kịp. Và là một người quốc gia yêu nước mãnh liệt, đã cống hiến một đời, những giá trị sâu sắc về văn hóa nhân bản và nghệ thuật cho tha nhân, như đã nói ở trên. Đặc biệt với sáng kiến hòa âm, phối khí, dành cho ban quân nhạc Tổng Thống Phủ Ukraine/ Kyiv trình bầy bản quốc thiều VNCH một cách xuất sắc, hào hùng, gửi đến cộng đồng quốc tế như một di sản văn hóa của VNCH, nói lên sự hiện diện lá cờ vàng sáng ngời của người Việt tự do trên toàn thế giới. Và cũng là việc làm tâm linh đến với mọi con dân VN, hãy nhớ đến  Lá Cờ Vàng Quốc Gia (Cờ vàng, ba sọc đỏ) mang hồn thiêng sông núi. Một tụ điểm sống còn, đã được tô thắm bằng những giọt máu đào của người chiến sĩ VNCH, cũng như bao chiến sĩ vô danh vẫn còn đang âm thầm tiếp tục xả thân cho đại nghĩa. Cùng với bài Mặc niệm/ Hồn Tử Sĩ, tưởng nhớ đến các anh hồn tử sĩ đã nằm xuống cho chúng ta, cho đất nước được trường tồn, thì đây là việc làm lịch sử, là tiếng trống Mê Linh, là tiếng trống trận Tây Sơn, là chất keo sơn gắn bó người Việt tự do khắp năm châu, còn quan tâm đến đất nước và dân tộc, trước hiểm họa mất nước do bọn ngoại xâm và nội xâm Việt Cộng và Tàu Cộng tàn ác phi nhân gây nên. Việc làm của ông, đáng lẽ phải ở tầm vóc một quốc gia, trong lúc chỉ có mình ông cùng một nhóm người rất ít ỏi có lòng cùng với ông, mang tâm huyết ra “gánh vác” lấy, như chúng ta thấy trong tác phẩm của ông! Ông xứng đáng được tất cả chúng ta kính trọng, đón tiếp, ngưỡng mộ và tôn vinh.
– Chúng ta nguyện xin Hồn Thiêng Sông Núi, mong niềm tin vào Dân Tộc Tính, mọi sợi dây Truyền Thống Bất Tuyệt, nối quá khứ với hiện tại, và tương lai mai sau:
“Mai sau dù có bao giờ
 Đốt lò hương ấy so tơ phím này.”
  (Truyện Thúy Kiều/Nguyễn Du)
Câu thơ Kiều của cụ Nguyễn Du, cho phép chúng tôi được khép lại bài giới thiệu ở đây.
Sự nghiệp lừng lẫy về Văn Hóa, Nghệ Thuật của ông và Tác phẩm Lê Văn Khoa/ Một Người Việt Nam sẽ là niềm hãnh diện vô bờ cho ông, cũng như cho chúng ta. Chắc chắn, nhiều thế hệ con cháu, sẽ tôn quý ông và yêu mến tác phẩm.
 
NGỌC BỘI
Portland, Oregon.
24/5/2014.
 
-Nhận xét của Nhà văn Hà Bắc trên Oregon Thời Báo số 628
ngày 29/5/2014:
“Đề tài “Sự nghiệp âm nhạc lẫy lừng của Nhạc trưởng Lê Văn Khoa”
đã được Nhà thơ Ngọc Bội trình bầy lúc 1:45pm tại Hội trường Hollywood
Senior Center một cách mạch lạc và nhuận sắc; dù với thời gian qui định 
20 phút hạn hẹp vẫn phác họa được một tổng thể thấu đáo mà không để 
thiếu những tình tiết dẫn chứng độc đáo”.
 
-Nhà thơ Ngọc Bội
Tên thật là Trịnh Đình Bội
Nguyên Giáo Sư Trung Học tại Saigòn trước 1975.
Nguyên Thiếu Tá Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/ Quân Lực VNCH.
Tu nghiệp Báo Chí tại Indiana, Hoa Kỳ năm 1969.
Tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ 1975.
Từng tham gia những sinh hoạt Văn hóa, Chính trị, Xã hội và Văn nghệ
trong Cộng đồng người Việt hải ngoại từ nhiều thập niên qua. 
 


.


__,_._,___

TÂN NHẠC VIỆT NAM – NHẠC VN HẢI NGOẠI


XIN BẤM VÀO LINK DƯỚI ĐÂY ĐỂ ĐỌC BÀI TÂN NHẠC VIETNAM và NHẠC VN HẢI NGOẠI

http://dotchuoinon.com/2015/08/26/tan-nhac-viet-nam-nhac-hai-ngoai/

“Nhạc Hải Ngoại” là một khái niệm thường được dùng để chỉ nền âm nhạc do các nghệ sĩ Việt Nam sáng tác, trình bày tại hải ngoại. Nền âm nhạc hải ngoại bao gồm những ca khúc tân nhạc Việt Nam thuộc nhiều dòng nhạc khác nhau như “Nhạc Tiền Chiến”, “Nhạc Vàng”, “Tình Khúc 1954-1975”, những sáng tác sau 1975 tại hải ngoại và các ca khúc nước ngoài được viết lời Việt và cả những sáng tác theo “Dân Ca Dân Nhạc”, “Nhạc Giao Hưởng”, “Nhạc Kịch Tây Phương”, “Nhạc Đương Đại”… do người gốc Việt tại các nước ngoài sáng tác.

Năm 1975, sau sự sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người Việt rời Việt Nam sống lưu vong tại các quốc gia trên thế giới, tập trung đông nhất là Hoa Kỳ. Họ, trong đó có nhiều nhạc sĩ, ca sĩ, đã mang theo những dòng nhạc của miền Nam Việt Nam. Tại hải ngoại, các ca sĩ, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác và trình diễn, nhiều trung tâm nhạc được thành lập.

nhachaingoai11

Những nhạc sĩ nổi tiếng trước năm 1975 như Phạm Duy, Anh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên vẫn sáng tác mạnh, tiếp nối dòng nhạc “Tình Khúc 1954-1975” và Nhạc Vàng, và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn như Đức Huy, Trúc Hồ, Trịnh Nam Sơn đã tạo nên dòng “Nhạc Hải Ngoại”. Các băng, dĩa nhạc và các chương trình đại nhạc hội của các trung tâm như Paris By Night, Asia,Vân Sơn, Tình (Eagle),… và các đài truyền hình, truyền thanh radio của người Việt hải ngoại như “SBTN”, “Radio Little Saigon” và những sinh hoạt cộng đồng đã giúp phổ biến dòng nhạc này. Từ đó hình thành một thị trường âm nhạc hải ngoại với sức tiêu thụ cao và thu hút cả sự tham gia của nhiều ca sĩ, nhạc sĩ từ trong nước.

Tại Việt Nam, từ những năm cuối thập kỷ 1980, tuy “Nhạc Vàng” và “Tình Khúc 1954-1975” chưa được phép lưu hành ở Việt Nam, nhưng các băng đĩa nhạc hải ngoại vẫn được bán phổ biến bằng cách truyền tay và sang băng trái phép. Từ năm 2000, bắt đầu có nhiều tình khúc hải ngoại được phép lưu hành chính thức trong nước.

Các nhạc sĩ của Việt Nam Cộng Hòa sau 1975 định cư tại nước ngoài vẫn tiếp tục sáng tác và cùng với những nhạc sĩ trẻ hơn đã tạo nên dòng “Nhạc Hải Ngoại”.

Tác phẩm thâu thanh đầu tiên tại hải ngoại là cuốn băng cassette “Khi Tôi Về” của ca sĩ Khánh Ly, và “Saigon ơi! Vĩnh biệt” (Thanh Thúy 1) của ca sĩ Thanh Thúy được phát hành tháng 5 năm 1976.

nhachaingoai1

Những nhạc sĩ tên tuổi đầu tiên rời Việt Nam khoảng cuối năm 1975, trong những năm đầu, chủ đề sáng tác chính của họ là nỗi nhớ quê hương và Sài Gòn như: “Sài Gòn ơi! Vĩnh biệt” của Nam Lộc, “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn” của Phạm Đình Chương, “Khi Xa Sài Gòn” của Lê Uyên Phương, “Việt Nam Về Trong Nỗi Nhớ”, “Đêm Nhớ Về Sài Gòn” của Trầm Tử Thiêng, “Quê Hương Bỏ Lại” của Tô Huyền Vân, “Đường Về Quê Hương” của Lam Phương…etc…

Chủ đề thân phận lưu vong cũng được nói đến với loạt bài: “Tỵ Nạn Ca” của Phạm Duy, “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc, “Ai Trở Về Xứ Việt” của Võ Tá Hân, Phan Văn Hưng, “Một Chút Quà Cho Quê Hương” của Việt Dzũng…

Từ khoảng đầu thập kỷ 1980, một số nhạc sĩ sau thời gian cải tạo tại Việt Nam ra định cư ở nước ngoài. Họ viết nhiều ca khúc tả lại thời gian cải tạo ở Việt Nam như Hà Thúc Sinh với tập “Tủi Nhục Ca” năm 1982, Châu Đình An với “Những Lời Ca Thép” năm 1982… Phạm Duy cũng sáng tác 20 bài lấy tựa là “Ngục Ca” phổ từ thơ tù của Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”.

Đến giữa thập niên 1980, các nhạc sĩ bắt đầu bớt chủ đề nhớ quê và tỵ nạn, quay lại viết các bản tình ca. Ở giai đoạn này, những nhạc sĩ tiêu biểu có thể kể đến Đức Huy với “Và Con Tim Đã Vui Trở Lại”, “Đừng Xa Em Đêm Nay”, Trần Quảng Nam với “Mười Năm Tình Cũ”, Hoàng Thanh Tâm với “Tháng Sáu Trời Mưa”, Trúc Hồ với “Trái Tim Mùa Đông”, Ngọc Trọng với “Buồn Vương Màu Áo”, Trịnh Nam Sơn với “Dĩ Vãng”, “Quên Đi Tình Yêu Cũ”, “Hỡi Người Tình”, Nguyễn Tâm với “Rong Rêu”, Lê Tín Hương với “Có Những Niềm Riêng”… Ngô Thụy Miên tại hải ngoại cũng có nhiều sáng tác mới, trong đó nổi tiếng hơn cả là “Riêng Một Góc Trời” viết năm 1997.

Nhiều băng nhạc thu âm ở Sài Gòn từ trước 1975 được tái phát hành. Từ năm 1982, hiện tượng phục sinh “Nhạc Tiền Chiến” được phát triển rộng rãi ở hải ngoại. Các ca sĩ Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Sĩ Phú, Elvis Phương, Ngọc Minh,… trong những năm 1982 đến 1989 đã thu âm và phát hành cả trăm băng “Nhạc Tiền Chiến” và “Tình Khúc 1954-1975”. Dòng “Nhạc Vàng” cũng được tiếp tục với các ca sĩ Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Tuấn Vũ,… Một tầng lớp ca sĩ mới xuất hiện và nhanh chóng nổi tiếng như Ngọc Lan, Don Hồ, Như Quỳnh, Ngọc Hạ, Trường Vũ, Nguyễn Thắng…

nhachaingoai3

Thời gian này cũng là thời gian phát triển “Hưng Ca” với nhóm “Tổng hội Sinh viên Việt Nam” tại Paris với các nhạc sĩ Phan Văn Hưng, Khúc Lan, Đinh Tuấn và “Phong Trào Hưng Ca” tại Mỹ với các nhạc sĩ Việt Dzũng, Huỳnh Công Ánh, Châu Đình An, Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh. Cùng thời gian này có phong trào hát lại mảng hùng ca, lịch sử ca của “Nhạc Tiền Chiến”, với những ca khúc được sáng tác thời kháng chiến chống Pháp, như “Hội nghị Diên Hồng”, “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước, “Chiến Sĩ Ca”, “Không Quân Việt Nam” của Văn Cao, “Xuất Quân” của Phạm Duy, các bài lịch sử ca của nhóm Tổng hội Sinh viên, nhóm Đồng Vọng và của phong trào Hướng Đạo Việt Nam như “Bóng Cờ Lau”, “Nước Non Lam Sơn” của Hoàng Quý, “Hùng Vương”, “Trưng Nữ Vương” của Thẩm Oánh…

Từ giữa thập niên 1990, cũng có nhiều nghệ sĩ sáng tác nhạc new age, new wave, rap, hip hop lời Việt như Phong Lê, Heart2Exist (Lê Huy Phong & Lê Huy Phát). Hoặc các ca sĩ hát nhạc trẻ với tiết điệu nhanh, mới nổi lên như Lương Tùng Quang, Andy Quách, Nguyễn Thắng, Cát Tiên, VPop, Asia4, Dương Triệu Vũ…

Các trung tâm nhạc hải ngoại như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn đã giúp bảo tồn và phổ biến nhạc Việt trong một thời gian dài tại hải ngoại. Tuy nhiên, những ca khúc được trình diễn trong các chương trình đại nhạc hội của các trung tâm này thường thu hẹp trong phạm vi nhạc phổ thông, nhạc trẻ chiều theo thị hiếu. Các nhạc sĩ độc lập không thuộc các trung tâm trên hoặc thuộc dòng nhạc khác, rất khó và thiếu điều kiện để phổ biến sáng tác của mình trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy khó, nhưng một số nhạc sĩ độc lập vẫn thành công và được biết rộng rãi như Võ Tá Hân, Diệu Hương, Võ Đông Điền, Nguyên Bích, Lê Tín Hương, Đăng Khánh, Trần Duy Đức, Xuân Điềm, Bảo Trường…

nhachaingoai10

Có thể chia nền âm nhạc hải ngoại sau 1975 làm 4 dòng chính: nhạc cổ truyền, nhạc cổ điển & bán cổ điển Tây phương, nhạc cận đại & đương đại và tân nhạc Việt Nam.

• Nhạc cổ truyền / Dân ca Dân nhạc: Trần Văn Khê, Trần Quang Hải, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn Đình Nghĩa, Phương Oanh, Trần Lãng Minh, Nga Mi…

• Nhạc cổ điển và bán cổ điển Tây phương / giao hưởng: Nguyễn Thiện Đạo, Tôn Thất Tiết, Cung Tiến, Lê Văn Khoa, Đặng Thái Sơn…

• Nhạc cận đại Tây phương và nhạc đương đại:

– Rock: Steel Owl, Adam Hồ…
– Pop: Kristine Sa, Quỳnh Anh, Tinna Tình, Vy Nguyễn, Roni Trần Bình Trọng, Thanh Bùi, Shayla, Trish Thùy Trang…
– Rap/Hip hop: Tyga, Choosen 1, Phong Lê, Khanh Nhỏ, Heart2Exist
Jazz: Nguyên Lê, Hương Thanh, Niels Lan Doky, Cuong Vu (thành viên Pat Metheny Group), Jazzy Dạ Lâm…
– Nhạc kịch (Opera/Musical): Ignace Lai, Ca đoàn Nhạc Việt.
– World music/Nhạc đương đại (contemporary music): Hoàng Ngọc Tuấn, Phan Quang Phục, Lê Tuấn Hùng….

• Tân nhạc/Tình ca: Đây có thể xem là dòng nhạc chủ đạo của nhạc hải ngoại và bao gồm nhiều loại: Nhạc Tiền Chiến, Tình Ca, Nhạc Vàng, Hưng Ca, Du Ca, Ngục Ca, Nhạc Trẻ… với nhiều nhạc sĩ và ca sĩ tên tuổi, như Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, Trầm Tử Thiêng, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Lam Phương, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Song Ngọc, Đức Huy, Trúc Hồ, Trịnh Nam Sơn,…

GS TS Trần Văn Khê.
GS TS Trần Văn Khê.
NS Trần Quang Hải và Danh ca Bạch Yến.
NS Trần Quang Hải và Danh ca Bạch Yến.

Các nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam như Nguyễn Thuyết Phong, Trần Văn Khê, Trần Quang Hải đã đi thuyết giảng nhiều nơi khắp thế giới cũng như phát hành dĩa nhạc, sách để quảng bá cho nhạc cổ truyền Việt Nam. Từ cuối năm 1994, nhóm các nhà soạn nhạc Việt Nam tại Pháp gồm Tôn Thất Tiết, Trần Văn Khê, Nguyễn Thiện Đạo đã bắt đầu chú ý đến việc phục hồi Nhã Nhạc Cung Đình Huế và đã về Việt Nam để dàn dựng một chương trình âm nhạc cung đình . Bằng nỗ lực cá nhân, các ông cũng nhận bảo trợ cho các nghệ nhân Nhã Nhạc và Ca Trù, và nhờ sự góp sức đó mà các nghệ nhân có dịp đi trình tấu tại Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Áo, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc… Phương Oanh, cựu giáo sư tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đã mở nhiều lớp dạy đàn tranh tại Pháp.

Ca sĩ Khánh Hà và NS Quách Vĩnh Thiện - Paris 2007.
Ca sĩ Khánh Hà và NS Quách Vĩnh Thiện – Paris 2007.

Tại Pháp còn có nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện soạn nhạc toàn bộ truyện “Kim Vân Kiều” và “Chinh Phụ Ngâm” để giúp cho mọi người dễ dàng tiếp cận với tinh hoa văn hóa cổ truyền dân tộc Việt.

nhachaingoai_Nga Mi và Trần Lãng Minh2

nhachaingoai_Nga Mi và Trần Lãng Minh3

Ở Mỹ khoảng cuối thập niên 80 có đôi uyên ương nghệ sĩ Trần Lãng Minh và Nga Mi thành lập ban “Văn Nghệ Nhà Nam” (tiền thân của “Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt” ngày nay) chuyên tổ chức dàn dựng những chương trình “Dân Ca Dân Nhạc Cổ Truyền Việt Nam” thuần túy như: “Phong Châu Mở Hội”, “Quê Hương Tình Yêu Muôn Thuở”,…etc… với các bộ môn dân ca dân nhạc truyền thống đi trình diễn khắp nơi không ngoài mục tiêu gìn giữ và truyền bá âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Ngoài ra còn có tổ chức “Nhà Việt Nam” (Vietnam House) do ông bà Nguyễn Phước Vĩnh Lữ và Lê Thị Nga thành lập đầu thập niên 90. “Nhà Việt Nam” thường xuyên đóng góp chương trình “Dân Ca Dân Nhạc Truyền Thống Việt Nam” trong “Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế” có trên dưới 50 quốc gia tham dự.

Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế.
Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế.
Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế - từ trái -Giám đốc Nhà Việt Nam, bà Lê Thị Nga, thành viên Thiên Thanh, trưởng ban văn hóa Linh Phượng, ái nữ của ông bà Nguyễn Phước Vĩnh Lữ, Nguyễn Phước Liên Như.
Nhà Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế – (từ trái) Giám đốc Nhà Việt Nam, bà Lê Thị Nga, Trưởng ban Giáo dục Thiên Thanh, Trưởng ban Văn hóa Linh Phượng, ái nữ của ông bà Nguyễn Phước Vĩnh Lữ và Lê Thị Nga, Nguyễn Phước Liên Như.

Tại Singapore có nhạc sĩ guitar cổ điển Võ Tá Hân sáng tác hơn 500 ca khúc phổ thơ, kinh Phật giáo. Anh phát hành khoảng 30 CD Tình Khúc, Thiền Ca, và Ca khúc Phật giáo, v.v… Anh còn là tác giả của các sách dạy đàn guitar cổ điển.

NS Võ Tá Hân.
NS Võ Tá Hân.

Những băng Video đầu tiên của Thúy Nga là băng cải lương, trước khi chuyển sang thực hiện các chương trình Paris By Night, mà hầu hết là các tiết mục tân nhạc. Thúy Nga cũng là trung tâm đầu tiên phối hợp nhạc cụ cổ truyền Việt Nam như đàn cò, đàn bầu, đàn tranh (với nhạc sĩ Đức Thành) với nhạc cụ Tây phương để hòa âm các bản nhạc và sau này nhiều trung tâm hải ngoại (và cả trong nước) làm theo. Các chương trình đại nhạc hội Paris By Night, Asia, Vân Sơn cũng thường kèm những phần trình tấu vũ điệu cổ truyền, Dân ca Dân nhạc và cải lương, Tân cổ giao duyên với các nghệ sĩ Chí Tâm, Phượng Liên, Thành Được, Ái Vân, Đức Thành, Hương Lan, Phi Nhung, Mạnh Quỳnh, Ngọc Huyền, Quang Lê, Y Phụng và Vũ đoàn Lạc Hồng. Cũng nhờ đó, nền âm nhạc cổ truyền được các thế hệ sau tại hải ngoại biết đến rộng rãi.

Năm 2005, Ban nhạc Heart2Exist với anh em Lê Huy Phong, Lê Huy Phát là ban nhạc đầu tiên đem Cải lương vào nhạc Rap với bài “Tự hào là người Việt Nam”, ngụ ý khuyên giới trẻ lầm đường trong thế giới “sành điệu” hay “băng đảng” từ bỏ băng đảng để trở về làm người có ích cho xã hội.

Những nhạc sĩ được đào tạo từ những nhạc viện nước ngoài như Nguyễn Thiện Đạo, Tôn Thất Tiết và Phan Quang Phục với những bản nhạc viết cho dàn đại hòa tấu, những vở nhạc kịch opera, từng được trình diễn trên khắp thế giới. Ignace Lai (Lại Vũ Hán Dương) và ca đoàn Nhạc Việt thuộc Trung tâm Văn hóa Giáo dục Hồng Đức tại Canada đã tổ chức thành công 3 nhạc kịch tại Quebec trước đông đảo khán giả và có thể xem là người đầu tiên thử nghiệm nhạc kịch Tây phương phối hợp giữa nhạc quan họ, ngũ cung Việt với nhạc Jazz Tây Phương [5]. Nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm (1987) của Cung Tiến, soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3 năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose. Lê Văn Khoa đã thực hiện nhiều CD và chương trình nhạc giao hưởng, trong đó có trường khúc Vietnam 1975 được dàn nhạc đại hòa tấu Kyiv Symphony Orchestra and Chorus tại Ukraina trình tấu năm 2005.

Làng Jazz châu Âu có 2 người gốc Việt nổi tiếng, là Nguyên Lê (ở Pháp) và Niels Lan Doky (ở Đan Mạch). Cường Vũ (thành viên Pat Metheny Group) đoạt giải Grammy 2003…

nhachaingoai_Phạm Quỳnh Anh

Nhạc Pop tiếng nước ngoài có Kristine Sa, Roni Trần Bình Trọng, Quỳnh Anh, Thanh Bùi… Quỳnh Anh từ năm 13 tuổi giành giải nhất cuộc thi mang tên “Pour la gloire” của đài truyền hình RTBF (Bỉ) và năm 2005 tạo nên hiện tượng Bonjour Vietnam. Thanh Bùi lọt vào Tốp 8 Australian Idol 2008 và thành công với những chuyến lưu diễn các nước châu Á. Roni Trọng được chú ý qua Idols Finland (Phần Lan), một chương trình Pop Idol của Phần Lan.

P.Q. Phan tức Phan Quang Phục, giáo sư về sáng tác đương đại tại trường Đại Học Indiana, Hoa Kỳ, đã đoạt giải âm nhạc quan trọng The Prize of Rome năm 1988. Anh đã được xem như một trong 6 nhạc sĩ trẻ sáng tác có tài năng nhất Hoa Kỳ về nhạc đương đại.

Ngay từ trước 1975 tại miền Nam, nhiều nhạc sĩ như Phạm Duy, Nam Lộc, Trường Kỳ, Vũ Xuân Hùng đã viết lời Việt cho nhiều ca khúc nước ngoài nổi tiếng. Sau 1975 tại hải ngoại, các nhạc sĩ Lữ Liên, Khúc Lan, Lê Xuân Trường, Nhật Ngân, Lãnh Ngọc Tâm, Huỳnh Nhật Tân,… tiếp tục soạn lời Việt cho nhiều ca khúc tiếng Anh, Pháp, Hoa và được trình bày bởi các ca sĩ trẻ như Lưu Bích, Ngọc Lan, Don Hồ, Linda Trang Đài, Nguyễn Thắng… Thập niên 80 là phong trào viết lời Việt cho các ca khúc trong các phim bộ tiếng Hoa và các ca khúc new wave sôi nổi. Những năm 2000 là nhạc trẻ Trung Hoa, Hàn quốc, Nhật Bản.

Thời gian đầu, tân nhạc hải ngoại được coi như là tiếp nối dòng tình khúc 1954-1975 và nhạc vàng tại miền Nam Việt Nam trước kia, tuy nhiên ranh giới giữa hai dòng nhạc này không còn rõ rệt như thời kỳ trước năm 1975.

nhachaingoai16

Các nhạc sĩ Tình Khúc 1954-1975 như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Ngô Thụy Miên,… vẫn sáng tác mạnh. Phạm Duy vẫn sáng tác mạnh theo nhiều thể loại, và cùng với con trai là Duy Cường thử nghiệm cả nhạc new age, thực hiện các băng nhạc Minh họa truyện Kiều. Vũ Thành An tiếp tục những bài không tên từ số 11 đến Bài không tên số 50 và nhiều tình khúc khác.

Các nhạc sĩ nhạc vàng như Lam Phương, Nhật Ngân, Song Ngọc và đặc biệt Anh Bằng thời kỳ này sáng tác rất nhiều và sáng tác cả nhạc trữ tình, và Anh Bằng có nhiều ca khúc nổi tiếng thời kỳ này như Anh còn nợ em, Khúc Thụy Du, Chuyện giàn thiên lý. Võ Đông Điền ở Úc tiếp nối dòng tình ca quê hương với Tiếng hát chim đa đa, Màu hoa bí, Đêm giao thừa nghe một khúc dân ca và Phan Ni Tấn với Lý con sáo Bạc Liêu,…

Từ cuối thập niên 80 xuất hiện một lớp nhạc sĩ mới với những tình ca thường được gọi là tình ca hải ngoại như Nguyễn Đình Toàn, Võ Đông Điền, Đăng Khánh, Vũ Tuấn Đức, Diệu Hương, Ngọc Trọng, Lê Tín Hương, Ngọc Loan, Thanh Trang, Trần Quảng Nam, Hoàng Thanh Tâm, Trần Duy Đức, Trần Đức, Mai Anh Việt, Hoàng Việt Khanh, Hoàng Trọng Thụy, Phạm Anh Dũng, Trần Chí Phúc và Nhạc trẻ hải ngoại với Đức Huy, Trúc Hồ, Trịnh Nam Sơn, Jimmii Nguyễn,…. Đầu thế kỷ 21, các nhạc sĩ trẻ như Huỳnh Nhật Tân, Nhật Trung, Đồng Sơn, Sỹ Đan, Lê Xuân Trường, Trúc Sinh, Quốc Hùng, Tùng Châu, Phạm Khải Tuấn, Trịnh Lam đã mang đến nhiều tiết điệu mới (và cả cách phối khí mới) cho nhạc trẻ tại hải ngoại. Một số nhạc sĩ sáng tác nhạc chỉ có lời Anh như Vũ Tuấn Đức, Kristine Sa, Lê Tâm, Cardin Nguyễn, Trish Thùy Trang, Alan Nguyễn, Vy Nguyễn,…

Ngoài ra còn các nhạc sĩ Hưng ca, Thanh niên ca thập niên 80, 90 với nhóm Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris gồm các nhạc sĩ Phan Văn Hưng, Khúc Lan, và Phong trào Hưng ca tại Mỹ với các nhạc sĩ Việt Dzũng, Huỳnh Công Ánh, Châu Đình An, Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Phan Ni Tấn… như một hình thức tiếp nối Phong Trào Du Ca trước đó, cũng với những ưu tư về hiện tình đất nước và kêu gọi thanh niên quan tâm và dấn thân cho quê hương. Từ năm 2007, nhạc sĩ Ngô Nguyễn Trần và Tâm Thơ đã bắt đầu dự án Sử Ca Việt Nam và đến nay đã sáng tác gần 200 bài nhạc kể chuyện 4000 năm lịch sử Việt Nam và cho phép phổ biến miễn phí. Ngoài ra, có các nhạc sĩ chuyên về nhạc thiền, nhạc đạo như Võ Tá Hân, Hoàng Quốc Bảo, Thanh Lâm.

Ca sĩ Ngọc Hạ.
Ca sĩ Ngọc Hạ.

Các ca sĩ nhạc tiền chiến nổi tiếng: Thái Thanh, Duy Trác, Anh Ngọc, Mai Hương, Kim Tước, Lệ Thu, Hà Thanh, Tuấn Ngọc, thế hệ sau là Quỳnh Giao, Vũ Anh, Thùy Dương, Ngọc Hạ, Quang Tuấn, Trần Thái Hòa và Ca đoàn Ngàn Khơi.

Các ca sĩ nhạc trữ tình nổi tiếng: Sĩ Phú, Hà Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Khánh Hà, Vũ Khanh, Lê Uyên, Duy Quang, Thanh Lan, Họa Mi, Elvis Phương, Julie, Thái Hiền, Ý Lan, Phi Khanh, Hải Lý, Thùy Dương, Ngọc Minh, Tuấn Anh, Quốc Anh, Như Mai, Kim Anh và sau này là Ngọc Lan, Dalena, Don Hồ,Diễm Liên, Thanh Hà, La Sương Sương, Thế Sơn, Thiên Kim, Lâm Nhật Tiến, Quang Tuấn, Nguyên Khang, Lâm Thúy Vân, Bằng Kiều, Loan Châu, Hồ Lệ Thu, Y Phương, Nguyễn Hồng Nhung, Đặng Minh Thông,…

Các ca sĩ nhạc vàng, tình ca quê hương: Duy Khánh, Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Hoàng Oanh, Hương Lan, Thái Châu, Giao Linh, Phương Dung,Phương Hồng Quế, Mỹ Huyền, Sơn Ca, Băng Châu và thế hệ hải ngoại là Lưu Hồng, Như Quỳnh, Tuấn Vũ, Jimmii Nguyễn, Mạnh Quỳnh, Phi Nhung, Trường Vũ,Mạnh Đình, Quang Lê, Quốc Khanh, Ngọc Huyền, Tâm Đoan, Hạ Vy, Đặng Thế Luân, Đan Nguyên, Hương Thủy, Mai Thiên Vân, Băng Tâm, Y Phụng, Duy Trường, Tường Nguyên,…

Các ca sĩ Nhạc Trẻ: Elvis Phương, Lưu Bích, Kiều Nga, Linda Trang Đài, Don Hồ, Lan Anh, Nguyễn Hưng, Thúy Vy, Nini và sau này là Shayla, Minh Tuyết, Nguyễn Thắng, Andy Quách, Bảo Hân, Tú Quyên, Gia Huy, Trish Thùy Trang, Lương Tùng Quang, Philip Huy, Johnny Dũng, Trúc Lam & Trúc Linh, Thủy Tiên, Minh Trí (Johnny Trí Nguyễn) & Việt Thi, Vân Quỳnh, Như Loan, Cát Tiên, Cardin Nguyễn, Dạ Nhật Yến, Nhóm VPop, Nhóm Asia4, Trịnh Lam, Đoàn Phi, Dương Triệu Vũ, Quỳnh Vi, Ánh Minh, Thùy Hương, Mai Tiến Dũng,…

Các nghệ sĩ hài nổi tiếng: Vân Sơn, Bảo Liêm, Quang Minh, Hồng Đào, Hoài Linh, Kiều Oanh, Lê Huỳnh, Lê Tín, Chí Tài, Nguyễn Dương, Thu Tuyết, Hoài Tâm,…

Ca sĩ Khánh Ly.
Ca sĩ Khánh Ly.

Nhạc hải ngoại cũng có sự nối kết và liên hệ mật thiết với nhạc trong nước. Các nhạc sĩ trong nước như Lê Hựu Hà, Trịnh Công Sơn, Quốc Dũng, Vũ Đức Sao Biển, Bắc Sơn, Trần Quang Lộc, Ái Lan tuy ở trong nước nhưng cũng tham gia thị trường âm nhạc hải ngoại bằng những tình ca mới và lúc đầu, gần như các sáng tác mới của họ chỉ được hát tại hải ngoại. Các ca khúc của nhạc sĩ Bảo Chấn, Phú Quang, Nguyễn Ngọc Thiện được trình bày và nổi tiếng tại nước ngoài từ những năm đầu thập niên 1990, trước khi những nhạc sĩ này được biết đến trong nước. Đức Trí và Việt Anh, Nhật Trung, Nguyễn Xinh Xô trong thời gian du học cũng sáng tác nhiều ca khúc cho thị trường âm nhạc tại hải ngoại.

Nhiều nhạc sĩ đã nổi tiếng từ trong nước trước khi ra định cư tại nước ngoài và trở thành nhạc sĩ hải ngoại như Sỹ Đan, Quốc Hùng, Ngọc Lễ, Phạm Khải Tuấn. Sau này, một số nhạc sĩ trẻ trong nước như Lê Quang, Hoài An, Nguyễn Nhật Huy, Nguyễn Kim Tuấn,Thái Thịnh, Minh Nhiên, Minh Khang, Vũ Quốc Việt,… cộng tác và bán độc quyền một số ca khúc của họ cho các Trung tâm hải ngoại. Các ca sĩ trong nước nổi tiếng như Trần Thu Hà, Bằng Kiều, Thu Phương, Kiều Hưng, Ngọc Anh, Lam Trường, Thủy Tiên, Quang Dũng, Nguyễn Hồng Nhung, Xuân Mai, sau này định cư tại hải ngoại cũng tham gia sinh hoạt âm nhạc tại đây và rất được nhiều người yêu thích. Gần đây nhất là ca sĩ Tóc Tiên sang Mỹ du học và trở thành ca sĩ chính thức của Trung Tâm Thúy Nga.

Trong những năm 1991-2000, riêng Trung tâm Mưa Hồng đã phát hành tại Mỹ hơn 400 tựa CD với các giọng ca quốc nội như Bảo Yến, Nhã Phương, Đình Văn, Bích Phượng, Cẩm Vân hát nhạc hải ngoại, tình khúc 1954-1975 và tình ca quê hương và làm những ca sĩ này rất nổi tiếng tại hải ngoại. Trung tâm Làng Văn/Lạc Vũ cũng đặt hàng và phát hành rất nhiều CD với các giọng ca trong nước và sau này thực hiện các chương trình Duyên dáng Việt Nam trong nước.

Từ năm 2000, một số ca khúc nhạc hải ngoại bắt đầu được phép lưu hành chính thức trong nước (tuy rằng trước đó và sau đó, một số ca khúc hải ngoại phải thay tên tác giả để qua kiểm duyệt, như trường hợp “Em đã quên một dòng sông” của Trúc Hồ lại ghi là tác giả Hải Triều, “Cơn mưa hạ” của Trúc Hồ – Trầm Tử Thiêng, ghi là nhạc Hoa, “Vì đó là em” của Diệu Hương do Quang Dũng thể hiện đoạt giải Mai Vàng 2003 nhưng sau đó bị rút giấy phép khi biết Diệu Hương ở hải ngoại).

Ca sĩ Ý Lan.
Ca sĩ Ý Lan.

Một số nhạc sĩ hải ngoại sau này về thực hiện nhiều dĩa nhạc, cũng như hòa âm phối khí cho các ca sĩ và tham gia các chương trình văn nghệ trong nước như Phạm Duy, Phạm Duy Cường, Đức Huy, Trịnh Nam Sơn, Huỳnh Nhật Tân, Trần Viết Tân. Một số ca sĩ hải ngoại sau này về định cư hẳn tại quê nhà hay thường xuyên hát trong nước như Elvis Phương, Hương Lan, Ái Vân, Duy Quang, Tuấn Vũ, Phi Nhung, Thái Châu, Ngô Thanh Vân và nghệ sĩ hài Hoài Linh, Chí Tài, Hoài Tâm,…. Tuy không thường xuyên, nhưng các ca sĩ nổi tiếng khác ở hải ngoại như Lệ Thu, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan cũng đã từng nhiều lần về nước lưu diễn.

Hầu hết các ca sĩ tình ca trong nước đều đã từng lưu diễn tại hải ngoại, nhiều năm tấp nập đến mức thị trường trong nước thiếu hẳn các ngôi sao. Nhiều ca sĩ trong nước đã hát nhạc hải ngoại như Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Quang Dũng, Thanh Long Bass, Hồng Ngọc, Song Giang, Tùng Dương, Lệ Quyên, Hoài Phương,….

Băng nhạc đầu tiên ra đời tại hải ngoại là cuốn Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt của ca sĩ Thanh Thúy được phát hành ngày 9 tháng 5 năm 1976 tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ và sau là cuốn Khi tôi về của ca sĩ Khánh Ly cùng tháng đó. Tiếp đó nhiều trung tâm băng nhạc của người Việt được thành lập và phát triển mạnh mẽ. Trong những năm đầu, các chương trình được phát hành dưới dạng băng nhựa cassette. Lúc đầu những băng nhạc được ghi âm rất kém với những ban nhạc gia đình, nhưng từ đầu thập niên 80, cùng với sự xuất hiện của các Trung tâm Phượng Nga, Khánh Ly, Diễm Xưa, Mây, Thanh Lan, Người đẹp Bình Dương, các băng nhạc đã được thâu âm với kỹ thuật tiên tiến cho âm thanh tốt hơn hẳn. Nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người xa quê lúc ấy rất lớn, nên những băng nhạc thời này có số bán kỷ lục.

Ca sĩ Mỹ Linh.
Ca sĩ Mỹ Linh.
Ca sĩ Hồng Nhung.
Ca sĩ Hồng Nhung.

Sau đó, vào cuối năm 1987, NS Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào đĩa CD do Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề Nhạc tình Phạm Duy.

Nhiều băng nhạc thu âm ở Sài Gòn từ trước 1975 được tái phát hành. Và nhiều Trung tâm đặt hàng nhiều băng nhạc, CD với những giọng ca trong nước để phát hành tại hải ngoại như hiện nay là Trung tâm Kim Lợi, Làng Văn….

Từ năm 1983, Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện các chương trình ca nhạc Paris By Night và phát hành băng video.

Cho tới những năm gần đây, các trung tâm như Thúy Nga, Asia, Vân Sơn, Tình (Eagle)… phát hành đều đặn các chương trình dạng DVD.

Dưới đây mình có các bài:

– Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam – Phần II
– Nhớ người khai sinh tân nhạc
– Thời Kỳ Thành Lập – (1938-45)

Cùng với 29 clips tổng hợp “Nhạc Hải Ngoại” tiêu biểu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

nhachaingoai_Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam

Lịch sử Tân Nhạc Việt Nam – Phần II

(NS Trần Quang Hải)

5. Nhạc di tản từ 30 tháng 4, 1975.

30 năm lặng lẽ trôi qua.30 năm đầy biến chuyển trong lịch sử thế giới nói chung và trong lịch sử Việt Nam nói riêng. Chỉ riêng về ngành âm nhạc Việt Nam, nhất là ở hải ngoại, số lượng bài bản tân nhạc , những ca khúc đã thay đổi nhiều đề tài, đã tăng số lượng theo một mức độ ngoài sức tưởng tượng của loài người. Những năm đầu của thời di tản cho thấy những băng nhựa đủ loại, từ các cuốn băng sao lại băng cũ thời trước 75, đến các băng được sản xuất tại Âu Mỹ do hàng chục trung tâm băng nhạc. Ðến năm 1988 mở màn cho giai đoạn dĩa laser loại compact disc. Chỉ trong vòng 5 năm (1988-1993) hàng nghìn dĩa laser tràn lan khắp nơi. Loại dĩa laser video phát triển từ 1992 lúc phong trào hát Karaoke khởi xướng mạnh tại Hoa Kỳ và Canada. Nhiều quán cà phê và quán phở, tiệm ăn ở Bắc Mỹ phải trang bị máy karaoke và luôn cả tư nhân cũng thích hát Karaoke vào cuối tuần trong những cuộc họp bạn tại gia. Gần đây hơn, các loại dĩa CDV, và DVD thay thế loại laserdisc làm bành trướng mạnh phong trào Karaoke tại tư gia. Video về tân nhạc cũng rất thịnh hành. Hàng mấy chục trung tâm băng nhạc xuất hiện tại Âu Mỹ và các ca sĩ tự lập các trung tâm sản xuất riêng. Trong phạm vi nhạc di tản, tôi chỉ đề cập tới tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại. Tân nhạc Việt Nam ở hải ngoại (1975-2005) Giai đoạn di tản qua 25 năm cho thấy sức mạnh vô cùng mãnh liệt của ngươì Việt trong lĩnh vực sáng tác. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người làm văn nghệ lúc nào cũng hăng say tìm nguồn hứng qua những sáng tác âm nhạc. Một số nhạc sĩ ra đi trong đợt di tản đầu tiên gồm có Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Nam Lộc, Song Ngọc, Tô Huyền Vân, Huỳnh Anh.

Năm giai đoạn thể hiện lịch sử tiến triển của tân nhạc hải ngoại:

1. Nhớ Quê Hương, nhớ Saigon

Ðất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào giữa mùa xuân năm 1975. Phải đợi tới cuối thu 1975, một số nhạc sĩ có tên tuổi ở Saigon đã ra đi trong đợt đầu và trong số đó có Nam Lộc. Nam Lộc là người đã viết một bản nhạc vào cuối năm 1975 và là bài thành công nhứt trong giai đoạn đầu của di tản (1975-1980). Ðó là bài “Saigon Ơi ! Vĩnh Biệt “. Saigon , thành phố của bao kỷ niệm, của nhớ nhung, của hàng triệu con tim bi. rung động mỗi khi hai chữ Saigon được nhắc đến, là đề tài cho một số nhạc phẩm như “Saigon Ơi! Vĩnh Biệt !” (Nam Lộc , 1975), “Saigon Ơi ! Thôi Ðã Hết” (Nam Lộc , 1976), “Saigon, Bây giờ Buồn Không Em ?” (Song Ngọc, 1976), “Ðêm Qua Mơ Thấy Saigon” (Hoàng Thi Thơ, 1976), “Saigon Niềm Nhớ Không Tên” (Nguyễn Ðình Toàn, 1977), “Khi Xa Saigon” (Lê Uyên Phương, 1980), “Bài Cuối Cho Saigon” (Song Ngọc, 1981), “Saigon Áo Xanh Nón Lá ” (Anh Bằng – Vũ Kiện, 1981), “Trả lại Saigon Cho Tôi” , “Saigon Ra Ðường” (thơ Duyên Anh, nhạc Vũ Trung Hiền, 1982), “Saigon Năm Xưa “(Trần Quang Hải, 1985).

Ngày 9 tháng 5, 1976 tại Los Angeles, California, lễ kỷ niệm một năm xa xứ đã được một số nghệ sĩ Việt tổ chức một chương trình đại nhạc hội đầu tiên giống như ở Saigon cùng lúc với sự chào đời cuốn băng thực hiện lần đầu tại hải ngoại do nữ ca sĩ Thanh Thúy hát với tựa cuốn băng Thanh Thúy 1: Saigon ơi! Vĩnh biệt đánh dấu một biến chuyển mấu chốt trong lĩnh vực tân nhạc di tản và sản xuất băng nhạc tại hải ngoại.

Ở Âu châu tại Paris, phải đợi tới tháng 9,1976 mới thấy sự bùng nổ của chương trình nhạc hội qua sự cố gắng của Lê Lai (đài VOA) từ Hoa Thịnh Ðốn sang Paris để tổ chức 4 buổi trình diễn tân nhạc, dân ca và ngâm thơ với Khánh Ly, Hoàng Oanh và sự cộng tác của nhạc sĩ Trần Quang Hải . Sự thành công của chương trình thi ca nhạc di tản đầu tiên đã khơi mào cho chương trình thi ca vũ nhạc kịch của đoàn Hoàng Thi Thơ từ Mỹ sang Pháp và Thụy Sĩ trình diễn vào cuối tháng 10, 1976.

Các trung tâm băng nhạc lần lần xuất hiện ở Mỹ và Pháp. Từ 1988 bắt đầu chuyển mình sang phong trào làm dĩa laser. Cả chục nghìn dĩa CD đã được tung ra trên thị trường băng nhạc Việt Nam từ 1987. Nhạc sĩ Phạm Duy là người đầu tiên đưa nhạc Việt vào dĩa CD do Phạm Duy Cường soạn hòa âm và sản xuất với tựa đề “Nhạc Tình Phạm Duy” vào cuối năm 1987. Vào đầu tháng 2, 1988, tại Paris, nhà sản xuất dĩa hát Pháp Playasound đã tung ra thị trường quốc tế dĩa laser đầu tiên về nhạc cổ truyền Việt Nam với Trần Quang Hải và Bạch Yến qua dĩa “Rêves et Réalités/Trần Quang Hải et Bạch Yến” (Giấc Mơ và Sự Thật).

Băng vidéo trở thành một món ăn tinh thần cần thiết cho cộng đồng người Việt hải ngoại. Trung tâm Thúy Nga trở nên một nơi phát hành các chương trình ca nhạc hay nhất từ 1989 trở đi với sự tuyển chọn ca sĩ, phối hợp vơí kỹ thuật thu hình do một cơ quan chuyên nghiệp Pháp đảm nhận. Phong trào Karaoke lan tràn vào giới nhạc Việt từ 1990.

1. Nhạc tranh đấu và kháng chiến

Sau ba năm im hơi 1975-1978), sống ẩn dật tại Miami (Florida) bên Mỹ trong khi chờ đợi các con (ban nhạc The Dreamers) còn kẹt lại ở Saigon (sau đó toàn ban nhạc The Dreamers đã được sang Mỹ và hiện định cư tại Midway City, California), trong khi ca sĩ Duy Quang đã nhờ Julie Quang (bây giờ chỉ mang tên Julie thôi sau khi chia tay với Duy Quang) để sang Pháp vào cuối năm 1978, Phạm Duy, người sáng tác nhạc nhiều nhất ở Việt Nam, lại xuất hiện lộ diện qua quyển nhạc “Hát Trên Ðường Tạm Dung” (1978). Bản “Tôi Ði Trên Ðường Tạm Dung” và bản “Nguyên Vẹn Hình Hài” của Phạm Duy đã là ngọn đuốc đốt cháy tạo nguồn hứng sáng tác cho một số nhạc sĩ trẻ để tung ra những nhạc phẩm tả nỗi uất ức oán hờn căm thù đi liền với phong trào phục quốc kháng chiến cùng lúc với sự xuất hiện của Võ Ðại Tôn và Hoàng Cơ Minh. Nguyệt Ánh , một hiện tượng mới trong làng tân nhạc từ 1980 bắt đầu sáng tác nhiều nhạc phẩm phục quốc qua những cuốn băng như “Em nhớ màu cờ”, “Dưới Cờ Phục Quốc”, vv… Tên Nguyệt Ánh đi liền với giai đoạn phục quốc, kháng chiến.

Việt Dzũng, một nhạc sĩ trẻ, hăng say kháng chiến, nói lên tiếng nói căm hờn qua các bản nhạc đầy ý chí trong hai cuốn băng “Lưu Vong Khúc” và “Kinh Tỵ Nạn” (1981). Trần Quang Hải và Bạch Yến đã sáng tác một số nhạc phẩm đấu tranh , điển hình nhất là “Thương Nhớ Quê Hương” (1978), “Cầu Mong Cho Mau Hòa Bình” (1978), và “Em Về Giữ Lửa” ( phổ thơ của Minh Ðức Hoài Trinh, 1978) Chí nguyện đoàn hải ngoại phục quốc Việt Nam, với mục đích yểm trợ “chiến dịch người về” đã xuất bản hai cuốn băng “Hát Cho Những Người Về ” (1981), và”Rực Lửa Trời Ðông” (1983) gồm những ca khúc nung nấu tinh thần kháng chiến ở hải ngoại và quốc nội. Nhiều chủ đề được tung ra qua một số băng nhạc sản xuất từ 1976-80 như “Tháng Tư Buồn”, “Sài Gòn Vĩnh Biệt Tình Ta”, “Ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 75”, “Người Di Tản Buồn”, “Hát Cho Người Tìm Tự Do”, “Quê Hương Bỏ Lại”, vv…

2. Nhạc tả lại cảnh lao tù Việt Nam

Năm 1981, Phạm Duy sáng tác 20 bài lấy tựa là “Ngục Ca” qua lời thơ của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập thơ “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực”. Hà Thúc Sinh sáng tác trong thời gian học tập cải tạo ở Việt Nam . Sau khi vượt biển , được định cư tại Mỹ, đã xuất bản tập nhạc “Tiếng Hát Tủi Nhục” (1982). Châu Ðình An, một nhạc sĩ trẻ , đã đóng góp qua tập nhạc “Những Lời Ca Thép ” (1982). Phạm Duy, Lê Uyên Phương, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Nguyễn Ðức Quang ở Mỹ, Nguyễn Hữu Nghĩa, Phan Ni Tấn, Vy Hùng ở Canada, Trần Quang Hải, Duyên Anh, Ngô Càn Chiếu ở Pháp, Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan, Nguyễn Ðình Ngoạn ở Ðức, Phạm Quang Ngọc, Cung Ðàn Nguyễn Sỹ Nam, Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc châu đã viết nhiều bài ca tranh đấu cũng như những ca khúc phù hợp với phong trào phục quốc.

3. Sự phục sinh của nhạc tiền chiến

Từ năm 1982 trở đi, hiện tượng phục sinh nhạc tiền chiến được phát triển rộng rãi. Những ca sĩ đua nhau sản xuất băng nhạc hát lại những bài hát tiền chiến hay những bài trước 1975. Bạch Yến, Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy, Kim Anh, Minh Hiếu, Thanh Tuyền, Hương Lan, Julie, Huyền Châu, Bích Thuận, Phương Dung, Kim Loan, Duy Quang, Elvis Phương, Thanh Mai, vv…. trong những năm 1983-85 đã phát hành trên 100 cuốn băng nhạc làm sống lại những bài ca tiền chiến như để gợi lại biết bao kỷ niệm của thời quá khứ. Chủ đề phục quốc, kháng chiến nhường bước cho chủ đề tình yêu và kỷ niệm quê hương sau 10 năm lưu vong. Một số nhạc sĩ như Lam Phương, Ðức Huy, Phan Kiên, Duy Quang, Ngô Minh Khánh, Trần Quang Hải, Duyên Anh trong khoảng thời gian 1982-85 đã sáng tác rất nhiêù nhạc phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa. “Yêu Em Dài Lâu” (Ðức Huy), “Ru Ðơì Phù Ảo” (Duyên Anh, 1984), “Anh Cần Em” (Trần Quang Hải -Lương Ngọc Châu, 1982). Giai đoạn này đánh dấu một chiều hướng mới trong làng nhạc Việt với sự viết lời ngoại quốc (Pháp và Anh) trên nhạc Việt do nhạc sĩ Trần Quang Hải đề xướng và mang nhạc Việt do nhạc sĩ Việt sáng tác vào thị trường quốc tế.

1. Hưng Ca, nhạc trẻ, nhạc song ngữ

Phong trào phổ thơ được bành trướng, cũng như sự tái sinh phong trào du ca vơí Nguyễn Ðức Quang, Nguyễn Hữu Nghĩa và Phan Ni Tấn. Nguyễn Quyết Thắng ở Hòa Lan đã đẩy mạnh phong trào du ca với sự thực hiện một trang nhà Du Ca với đầy đủ hình ảnh các sáng lập viên, bài hát và sinh hoạt ở hải ngoại. (http://home.wanadoo.nl/duca)

Phong trào Hưng Ca gồm các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Nghĩa, Hà Thúc Sinh, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Châu Đình An, Huỳnh Công Ánh, Trần Lãng Minh, Phan Ni Tấn, Khúc Lan, được chánh thức ra đời tại San Jose vào ngày 7 tháng 9, năm 1985 với tôn chỉ là dùng văn nghệ sân khấu và thanh niên để giữ vững niềm tin cách mạng dân tộc chống chủ nghĩa và bạo quyền cộng sản. Hai tập nhạc được phát hành: “Hưng Ca 1: Lên Ðường “(1985), và “Hưng Ca 2: Hẹn Em Sài Gòn” (1986).

Vấn đề thích nhạc ngoại quốc đã có từ thập niên 60 tại Việt Nam. Ba mươi năm trôi qua ở hải ngoại, giờ đây phong trào thích nhạc ngoại quốc (giống loại nhạc trẻ thời thập niên 70 ở Saigon) lại bành trướng mạnh và được giới trẻ lớn lên ở hải ngoại hưởng ứng nồng nhiệt. Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đã tạo ra phong trào xuất bản nhạc khiêu vũ và sự phát hiện nhiều vũ trường ở các nơi có đông người Việt sinh sống. Một số mầm non ca sĩ trẻ như Linda Trang Ðài, Cinda Thúy, Sơn Tuyền, Thúy Vi, Thái Hiền, Phương Thúy, Lucia Kim Chi, Tryzzie Phương Trinh, Tuệ Châu, Tuấn Anh ở Mỹ, Ngọc Huệ (sang định cư ở Mỹ từ năm 1991), Bảo Khánh, Quỳnh Lân ở Úc châu cùng với Công Thành và Lynn (sang định cư ở Hoa kỳ từ năm 1987). Về sau có Don Hồ (nổi tiếng nhứt trong năm 1992), Dalena (nữ ca sĩ Mỹ chuyên hát tiếng Việt, nổi tiếng nhứt trong hai năm 1991 và 1992),Trịnh Nam Sơn, Thái Tài, Ý Nhi, Ý Lan, Sher’e Thu Thủy, Phi Khanh, Như Mai, Kenny, Mỹ Huyền, Ngọc Bích, Thanh Hà, Quỳnh Như, Mạnh Ðình, Phi Nhung, Thanh Trúc, vv… mang lại cho nền nhạc trẻ một luồng gió mới và tạo nhiều sống động.

Từ chỗ ưa thích nhạc ngoại quốc đi tới nhạc song ngữ rất gần. Một số nhạc sĩ Việt như Phạm Duy, gần đây hơn có Khúc Lan, Ngọc Huệ, tất cả đều ở Mỹ và dịch lời ca Mỹ và Pháp ra bằng tiếng Việt và các ca sĩ trẻ hát nửa Việt nửa Anh hay Pháp và tạo thành một phong trào nhạc song ngữ từ năm 1987 trở đi. Trong thơì gian 10 năm chót của thế kỷ 20, Phạm Duy đã phổ nhạc thơ Hoàng Cầm, phát hành quyển “Ngàn Lời Ca” (1987). Năm 1991, Phạm Duy thực hiện một loạt ca khúc “Bầy Chim Lìa Xứ”, và phần giao hưởng cho “Con Ðường Cái Quan”. Sau cùng ông soạn nhạc phổ thơ “Truyện Kiều” và sẽ hoàn thành trong một thời gian gần đây. Trong vài năm chót đây (từ 1988), một số ca sĩ tân nhạc sống dưới chế độ cộng sản đã thoát ra hải ngoại và xin tỵ nạn như Họa Mi ( Pháp, 1988), Ái Vân (Ðức, 1990, và sau đó định cư tại Hoa Kỳ), Anh Khoa (Hung Gia Lợi, 1988), Thái Châu (Gia nã đại, 1990), Bích Liên (Ðức, 1992), Duy Khánh (Hoa Kỳ, 1991), Duy Trác (Hoa Kỳ, 1992), Nhật Trường (Hoa Kỳ, 1993) đã mang lại cho nhạc Việt ở hải ngoại một luồng gió mới, nhứt là trong ngành phát hành băng nhạc và băng vidéo.

Một số nữ nhạc sĩ nổi danh ở hải ngoại qua nhiều sáng tác như Nguyệt Ánh, Khúc Lan, Linh Phương, Lê Tín Hương, mdtt ở Hoa kỳ, Bảo Trâm ở Canada, Trang Thanh Trúc, Mộng Trang ở Pháp, Bích Hà, Quách Nam Dung ở Úc châu. Nhạc sĩ Vô Thường (từ trần năm 2003 tại Hoa kỳ) tạo một chỗ đứng riêng biệt với tiếng đàn Tây ban cầm tay trái qua hàng trăm CD tự xuất bản tại Hoa Kỳ. Các nhạc sĩ nghiệp dư như bác sĩ Phạm Anh Dũng (Hoa Kỳ), bác sĩ Nguyên Bích (Hoa Kỳ), giáo sư tiến sĩ Phạm Quang Tuấn (Úc châu) có viết nhạc, và nhiều hội viên của hai hội Nhạc Việt (nhacviet@yahoo.com ) và Em Ca Hát (emcahat@yahoo.com), cũng như nhạc sĩ Võ Tá Hân đã phổ nhạc cho trên 200 bài thơ và thực hiện trên 22 CD với toàn nhạc của anh. Nhạc thiền đạo được phát triển từ năm 1996 vơí hai hiện tượng đáng kể: thiền sư Lương Sĩ Hằng và Vô Thượng Sư Thanh Hải và một số nhạc phổ thơ của hai vị này.

Nhạc cận đại Việt Nam theo chiều hướng Tây phương cũng được phát triển trong giới nhạc Việt. Nhạc sĩ Nguyễn Mạnh Cường chưa đầy 30 tuổi khi sáng tác bài «Phụng Vũ» đã đoạt giải thưởng ở đại hội quốc tế âm nhạc gia trẻ Á châu và Thái Bình Dương tại Wellington (Tân Tây Lan) năm 1984. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn rời Việt Nam năm 1983 định cư tại Úc châu đã học dân tộc nhạc học và hiện giảng dạy nhạc đương đại tại trường đại học University of New South Wales và mỹ học tại University of Sydney.. Tác giả của nhiều nhạc phẩm đương đại phối hợp nhạc ngữ Việt, Á và Úc , Âu qua nhiều dĩa CD xuất bản tại Úc. Nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng (sinh năm 1962 đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học tại trường đại học Monash University (Melbourne, Úc châu) và chú trọng nhiều tới sáng tác nhạc đương đại giữ nhạc Việt và nhạc Tây phương cùng với sự cộng tác của vợ là nữ nhạc sĩ Đặng Kim Hiền (huy chương vàng đàn tranh và dân ca ở Việt Nam trước khi sang định cư tại Úc năm 1990) với nhiều dĩa CD phát hành tại Úc .

Tại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Cung Tiến (sinh năm 1938) tiếp tục sáng tác nhạc đương đại. Nhạc tấu khúc “Chinh phụ ngâm” (1987), soạn cho 21 nhạc khí, đã được trình diễn lần đầu vào ngày 27 tháng 3, 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988. Hội viên của hội nhạc sĩ sáng tác ở Minneapolis (Minnesota, Hoa Kỳ), Cung Tiến đã trình làng một sáng tác nhạc đương đại «Lơ thơ tơ liễu buông mành» dựa trên một điệu dân ca Quan họ (2003). Nhạc sĩ Phan Quang Phục (sinh năm 1962) sang Hoa Kỳ năm 1982, đậu tiến sĩ âm nhạc tại trường đại học Michigan (Hoa kỳ), dạy sáng tác tại trường đại học Cleveland State University (1993-1996) và sau đó tại trường đại học University of Illinois. Được giải thưởng Prix de Rome năm 1997, một giải thưởng cao quý nhứt trong lĩnh vực âm nhạc. Phan Quang Phục, được xem như là một trong 6 nhạc sĩ trẻ giỏi nhứt xứ Mỹ về nhạc đương đại, đã sáng tác rất nhiều và các nhạc phẩm được trình diễn khắp năm châu.

Xứ Pháp đã đào tạo một số nhạc sĩ Việt Nam có một chỗ đứng quan trọng trong làng nhạc hiện đại. Nguyễn Văn Tường (1929-1996), người Việt đầu tiên học nhạc điện thanh (musique électro-acoustique) đã viết những nhạc phẩm phối hợp hai tư tưởng Âu Á như bài «Cộng Tồn» (1968) (Co-existence), «Về Nguồn» (1975) sử dụng máy móc điện tử và nhạc cổ truyền Việt Nam. Nguyễn Thiên Đạo (sinh năm 1939), học trò Việt duy nhứt của nhạc sư Olivier Messiaen đã sử dụng nhạc ngữ cận đại tây phương trong một số nhạc phẩm như «Thành Đồng Tổ Quốc», «Khóc Tố Như», vở kịch opéra «Mỵ Châu Trọng Thủy». Tôn Thất Tiết (sinh năm 1933) học nhạc ở Pháp từ năm 1958 và khởi sự sáng tác năm 1964. Ông đã sáng tác trên 50 nhạc phẩm đa số mang tên Việt như «Tứ đại cảnh» (1968), «Hy Vọng» (1971), «Ngũ Hành» (1973), «Chu Kỳ 1 tới 5» (1976-1983, «Kiếm Ai» (1978), «Tranh» (1980). Ông nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế, và ông viết nhạc phim cho những phim «Mùi Đu Đủ Xanh», «Xích Lô» của nhà đạo diễn trẻ tuổi Trần Anh Hùng. Trương Tăng (1936-1989) học nhạc ở nhiều trường nhạc tại Paris, sáng tác nhiều nhạc phẩm như «Fujiyama» (thơ giao hưởng), «Dạ Hương» (kịch hát dựa trên một truyện cổ tích Việt Nam), «Mẹ». Anh đã sáng tác nhiều tiểu khúc cho đàn tranh, đàn bầu. Được giải thưởng của ông hoàng Rainier của Monaco cho một giao hưởng khúc với 100 nhạc khí. Trương Tăng chuyển sang nhạc điện toán (musique assistée par ordinateur) và học tại trung tâm IRCAM, Paris. Trần Quang Hải đóng góp nhiều trong lĩnh vực nhạc đương đại. Cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tường trong phần trình diễn đàn môi, đàn tranh, hát đồng song thanh và muỗng trong nhạc phẩm «Về Nguồn» (1975), cũng như đã cộng tác với Misha Lobko để hoàn thành bản «Shaman» (1982) trong đó nhạc jazz, điện tử, nhạc cổ truyền, nhạc tùy hứng đều được sử dụng. Trần Quang Hải đã trình bày nhạc phẩm «Trở Về Nguồn Cội» với đàn tranh và nhạc điện tử tại đại học nhạc Á châu ở tỉnh Etampes (Pháp) năm 1988. Sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh nghĩa là hát hai âm thanh khác nhau cùng một lúc từ trong cổ họng (chant diphonique/chant de gorge – overtone singing/throat singing) phát xuất từ Mông Cổ, Tuva đã giúp cho Trần Quang Hải từ năm 1974 sáng tác nhiều nhạc phẩm mới trong nhạc điện thanh (musique électro-acoustique), nhạc tùy hứng (musique improvisée – improvized music), nhạc thế giới (musique du monde – world music), nhạc thiền (musique méditative – music for meditation), nhạc điều trị học (musicothérapie– music therapy).

1. Nhạc tại Việt Nam sau 1975

Tân nhạc từ năm 1975 trở đi đã thay đổi đề tài. Nhạc đã xoay từ chiến tranh tới hòa bình, từ đất nước bị chia đôi tới thống nhất với một cuộc sống mới, từ nhạc bị gò ép trong lối viết nhạc Nga sô và Trung quốc tới sự giao lưu văn hóa phóng túng với thế giới. Trong vòng gần 30 năm (1975-2004) mức sản xuất ở Việt Nam đã tiến rất xa và rất mau.

Đất nước được thống nhất, đề tài xoay về phong cảnh đẹp của Việt Nam. Lính trong vai trò kiến thiết, trong hòa bình. Tình yêu đôi lứa được phát triển mạnh.

Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc , và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc viết cho kịch, vũ và điện ảnh.

* Nhạc nhẹ

Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng.

1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng (« Mưa Ngâu », « Giọt Nắng Bên Thềm ») đề xướng qua đề tài tình yêu . Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng(« Cơn Mưa Em Bất Chợt »), Từ Huy (« Những Lời Em Hát »), Phú Quang (« Em Ơi, Hà Nội Phố »), Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện (« Như Khúc Tình Ca »), Dương Thụ (« Tiếng Sóng Biển »), Đặng Hữu Phúc (« Ru Con Mùa Đông »), Phạm Trọng Cầu (« Tiếng Hát Cho Em »).

2. Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền. Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường« Đừng Sánh Em Với Mặt Trời », « Một Nét Ca Trù Mùa Xuân »), Trần Tiến (« Tùy Hứng Ngựa Ô », « Tiếng Trống Baranưng »), Phó Đức Phương (« Nha Trang Thu »), Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.

Nhạc tại Việt Nam sau 1975. Trong xứ Việt Nam có hai chiều hướng về nhạc: nhạc nhẹ chú trọng về giải trí, hay nói một cách khác là tân nhạc, và nhạc nặng tức là loại nhạc giao hưởng, nhạc trình diễn trong khung cảnh của viện quốc gia âm nhạc. Loại nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang, nhạc trẻ khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, nhạc ngoại quốc kích động. Nó được phát hiện theo hai khuynh hướng:

1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu do nhạc sĩ Thanh Tùng đề xướng qua đề tài tình yêu. Có rất nhiều nhạc sĩ trẻ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và sáng tạo khác nhau như Nguyễn Ðình Bảng, Từ Huy, Phú Quang, Duy Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Dương Thụ.

2. Khuynh hướng thứ nhì chuyên về âm nhạc dân tộc cổ truyền. Ban nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do Ðỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng nhạc dân gian. Các nhạc sĩ Nguyễn Cường, Trần Tiến, Phó Ðức Phương, Trương Ngọc Ninh sáng tác theo chiều hướng này.

Một số nhạc sĩ thuộc thế hệ trước như Hoàng Vân, Huy Du, Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Phan Huỳnh Điểu, Nguyền Đức Toàn, Phạm Tuyên, Tân Huyền, Hồng Đăng, Văn Ký, Vũ Thanh, Nguyễn Văn Tý cũng sáng tác những nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi trong quần chúng .

Ca khúc quần chúng gồm có mọi thể loại: hành khúc (« Khúc Quân Hành Trên Bán Đảo » của Cát Vận, « Hành Quân Lên Tây Bắc » của An Thuyên ; trữ tình (« Dáng Đứng Bến Tre » của Nguyễn Văn Tý, «Điệp Khúc Tình Yêu» của Trần Tiến, « Em Ơi , Hà Nội Phố » của Phú Quang phổ thơ Phan Vũ .

Nhóm «Những Người Bạn» gồm 8 nhạc sĩ: Trịnh Công Sơn (từ trần năm 2001), Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Từ Huy, Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Nguyễn Văn Hiên, và Vũ Hoàng được chào đời tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 3, năm 1992 sau khi Trịnh Công Sơn sang Pháp gặp nhóm nghệ sĩ phố (artists on the road/artists de rue). Tên «Những Người Bạn» do Trịnh Công Sơn đề nghị với mục đích là sáng tác và trình bày sáng tác mới cho bạn và công chúng nghe. Mỗi tháng, nhóm đều có họp và mỗi người phải giới thiệu ít nhất là một sáng tác mới của mình và nghe lời phê bình của an hem. Nhóm «Những Người Bạn» sẵn sàng đi giới thiệu những tác phẩm mới và làm thành băng nhạc, vidéo với sự phụ giúp của những ca sĩ nổi tiêng như Lệ Thu (sang định cư tại Pháp), Lê Tuấn, Ngọc Sơn, Thế Sơn, Thu Hà, Yến Linh. Trong buổi đầu tiên của nhóm này, Trịnh Công Sơn đã trình bày nhạc phẩm mới nhứt tên là «Con Mắt Còn Lại» (ý thơ Bùi Giáng). Thanh Tùng viết một ca khúc «Lối Cũ Ta Về» trong hoài niệm về người vợ đã mất. Trần Long Ẩn viết tặng mẹ. Hiện tượng này xảy ra vì các ca khúc mới sau 1975 không còn người nghe. Dân chúng ưa nhạc «sến», nhạc «vàng» hay nhạc trướ 75. Các ca khúc trữ tình trước 75 xua đuổi các loại nhạc đấu tranh ca tụng Bác và Đảng, và luôn cả nhạc mới sau 75.

Từ năm 1990 trở đi, phong trào tổ chứ hát vinh danh các nhạc sĩ lão thành như Nguyễn Văn Thương, Lê Thương, Hoàng Giác, Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý hay các nhạc sĩ trẻ hơn như Trịnh Công Sơn được tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn và những ca khúc tiền chiến được hát trở lại.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên đã chuyển hướng sáng tác qua nhạc trẻ em (nhạc đồng dao) được nhiều thành công qua hàng trăm ca khúc mới. Một số nhạc sĩ trẻ như Phú Quang, Thanh Tùng, Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phạm Minh Tuấn, Tôn Thất Lập, Thế Hiền, Nguyễn Văn Hiên, Dương Thụ, Từ Huy, Ngọc Đại, vv… viết nhiều bài nhạc mới rất được ưa chuộng. Đề tài mới hướng về tình yêu chứ không còn ca tụng Đảng nữa.

Nhiều nhạc sĩ trẻ tiếp nối các nhạc sĩ đàn anh tạo một thế hệ mới trong địa hạt sáng tác. Có thể kể Nguyễn Hiệp (1947), Thế Hải (1947), Văn Thành Nho (1949), Nguyễn Phú Quang (1949), Trần Quang Lộc (1949), Vũ Ngọc Giao (1951), Linh Giang, Trần Thiết Hùng (1951, Quang Minh (1953), Quang Lộc (1954), Châu Đăng Khoa (1955), Vũ Hoàng (1956), Võ Công Ánh (1957), Nguyễn Hải (1958), Trương Ngọc Ánh (1959).

Các ca sĩ trẻ nổi tiếng hiện nay càng ngày càng nhiều như Lê Dung (từ trần năm 2001), Ánh Tuyết, Thanh Lam, Hồng Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Lam Trường, Đan Trường, Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng, Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Bằng Kiều (sang định cư ở Hoa Kỳ, thành hôn với nữ ca sĩ Trizzy Phương Trinh), Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Trần Thu Hà (định cư tại Hoa kỳ), Tạ Minh Tâm, Quang Thọ… Nhạc trẻ, nhạc ngoại quốc thuộc đủ loại pop, hip hop, house, rave, rap, jazz, thịnh hành trở lại với nhiều tụ điểm hát ngoài trời rộng lớn tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ)

Năm 2002 đánh dấu sự phát hiện hai nhạc sĩ trẻ Quốc An và Nguyễn Nhất Huy với bản nhạc «Hát Với Dòng Sông». Một nhạc sĩ trẻ khác Tiến Luân chuyên về nhạc có âm hưởng dân tộc nổi lên với bài «Quê Em Mùa Nước Lũ». Nhạc sĩ Quang Đạt (sinh năm 1976), giảng viên Nhạc Viện TPHCM và trường âm nhạc Yamaha và là người soạn hòa âm cho rất nhiều ca khúc thịnh hành nhất trong năm 2002 như «Cây Đàn Sinh Viên», «Hát Với Dòng Sông», «Hát Cho Người Ở Lại», «Tình Phiêu Lãng», «Lời Mẹ Ru». Các ca sĩ thuộc thế hệ thế kỷ 21 như Mỹ Tâm, Nguyễn Phi Hùng, Thanh Thảo, nhóm MTV, Minh Quân, Nhóm Ty My Ty, Việt Quang, Ưng Hoàng Phúc, Lâm Chí Khanh, Ngô Thành Vân, Mỹ Lệ, vv….

Thị trường băng dĩa, CD, VCD và ngay cả DVD bành trướng mạnh mẽ từ năm 2000. Hàng chục đại hội liên hoan tân nhạc được đài truyền hình , đài phát thanh, báo chí tổ chức khắp nơi trên toàn xứ tạo cơ hội cho những ca sĩ trẻ có điều kiện thăng tiến. Hội nhạc sĩ Việt Nam thành lập năm 1957 đã quy tụ hàng trăm nhạc sĩ và trở thành hội viên của hiệp hội các nhà soạn nhạc Châu Á (ACL – Asian Composers League) từ năm 2000. Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam được thành lập vào năm 2002 bảo vệ những nhạc phẩm Việt Nam ở Việt Nam và ngoại quốc.

Từ năm 2001, một số ca sĩ trẻ trong nước chạy ra xứ ngoài (Trần Thu Hà, Bằng Kiều qua hôn nhân, Thu Phương, MC Huy, Bảo Yến, Nhã Phương), một số ca sĩ bị mắc bịnh « siêu sao », đa số chạy theo kiểu hát nhép (tạo nên những « búp bê biết hát »), fan ảo (phát sinh fan club), hát nhạc chưa được phép, một số ca sĩ tranh nhau ca khúc mua độc quyền, làm xáo trộn đời sống âm nhạc trẻ ở Việt Nam.

Một số nhạc sĩ tìm lợi tức thương mại qua việc đặt lời Việt cho nhạc ngoại, chìm đắm trong nhạc lai, nhạc nhái, đạo nhạc (chấn động nhất trong năm 2004 với hai nhạc sĩ Bảo Chấn và Quốc Bảo), đạo thơ.

Việc viết lời Việt trên nhạc ngoại không phải là chuyện mới mẻ. Trước đó đã có các bản «Đồng Xanh» (từ «Greenfield»), «Cha Yêu» (từ «Papa»), và rất nhiều ca khúc song ngữ được lưu hành ở miền Nam trước 75. Vấn đề chuyển ngữ bị lạm phát vì yếu tố thương mại. Những ca khúc thời trang của Tây phương hay Á châu được chuyển ngữ một cách hấp tấp, vội vàng, đôi khi trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn, không còn ý nghĩa nguyên bản như trong ca khúc «Yêu Nhau Đi» (từ «Tragedy»), «Ôi Tình Yêu», «Mắt Bồ Câu» (từ nhạc Thái)

Những bài hát nổi tiếng của các «diva» lừng danh thế giới như Whitney Houston, Celine Dion, Mariah Carey, Toni Braxton đã được các ca sĩ Việt Nam chọn và bắt chước sao cho thật giống nguyên bản, tạo thành một phong trào nhạc nhái. Điển hình nhất là nữ ca sĩ Hồng Nhung với «Everything I Do», «Beauty and Beast» (do Brandy hát nguyên bản), Thanh Lam với «Unbreak My Heart», «I Will Always Love You» (do Toni Braxton hát), Hồng Hạnh nổi tiếng với bài «I Wanna Dance With Somebody» (do Whitney Houston trình bày).

Sự ra đời của chương trình Làn Sóng Xanh (LSX) của đài Tiếng Nói Nhân Dân TPHCM, chương trình VTV Bài Hát Tôi Yêu và Mai Vàng cho thấy những bản nhạc ngoại đa số đứng đầu bảng xếp hạng ca khúc được yêu thích nhứt. Vì lý do đó, các ca sĩ đua nhau hát nhạc ngoại để có tên trên danh sách ca khúc của ba chương trình kể trên. Ca khúc thuần túy Việt Nam hay có âm hưởng dân ca dần dần bị chìm trong quên lãng và không được giới trẻ để ý tới. Hiện tượng «nhạc sĩ thị trường» được chào đời để đáp ứng thị hiếu quần chúng trẻ.

Hiện tượng trong làng nhạc trẻ ở Việt Nam từ năm 2003 là «liveshow» đã đưa nữ ca sĩ Mỹ Tâm lên hàng đầu các ca sĩ nổi tiếng trong năm 2003 và 2004.

Năm 2004, nhạc ngoại lời Việt chiếm 30% số ca khúc phổ biến trong băng dĩa nhạc theo thống kê của phòng ca múa nhạc sở VHTT TPHCM. Trên sân khấu biểu diễn, số ca khúc nhạc ngoại lời Viẹt chiếm gần 50 %. Những quyết định, kiểm điểm, phê bính, trừng phạt được đưa ra qua các quyết định mới trong quy chế 47 về tổ chức biểu diễn để mong mang lại trật tữ và tạo điều kiện cho việc hồi sinh nhạc trẻ thuần túy Việt Nam

Nhạc Jazz được nhập vào thị trường nhạc Việt từ khi Việt Nam mở cửa và chấp nhận «đổi mới» (perestroika) vào cuối thập niên 80. Nhạc sĩ kèn saxophone Quyên Văn Minh đã gây dựng phong trào nghe nhạc Jazz từ đầu thập niên 90 với sự thành lập Hanoi Jazz Club. Tại Sài Gòn (TPHCM bây giờ) có một số quán có nhạc Jazz như Dragon Bar, Yoko Cafe, Bob Jazz va Wild Horse. Qua 4 liên hoan nhạc Jazz Châu Âu từ năm 2001, không khí thích nhạc Jazz được bừng sôi trong giới yêu nhạc jazz còn trong giai đoạn phôi thai tại Việt Nam, nhưng hy vọng sẽ được phát triển mạnh trong tương lai.

Nhạc thiếu nhi

Từ năm 1976, sau khi Việt Nam được thống nhất, ca khúc thiếu nhi được sáng tác mạnh hơn với sự đóng góp của nhiều nhạc sĩ đàn anh như Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước, Phong Nhã (« Bài Ca Sum Hợp »), Phan Huỳnh Điểu (« Ngày Vui Mới »), Phạm Tuyên (« Hát Dưới Trời Thu Hà Nội », tập nhạc thiếu nhi « Chú Voi Con Ở Bản Đôn »), Hoàng Vân, Hồ Bắc, Xuân Giao (« Giấc Mơ Em Bé »), Hoàng Hà (« Chú Bộ Đội ») , Hoàng Long ( « Từ Rừng Xanh Cháu Về Thăm Lăng Bác » sáng tác chung với Hoàng Lân), Hoàng Hà ( « Con Mèo Ra Bờ Sông »), Vũ Thanh (« Em Đi Trong Tươi Xanh »), Huy Trân (« Bầu Trời Này, Mặt Đất Này » thơ Diệp Minh Tuyên ), Minh Châu (« Dàn Đồng Ca Mùa Hạ »), Hàn Ngọc Bích (« Mùa Xuân Và Tuổi Hoa »), vv… Các nhạc sĩ trẻ của thế hệ đang lên như Cao Minh Khanh (« Mùa Xuân Và Tình Bạn »), Trần Ngọc (« Em Như Chim Câu Trắng »), Đỗ Trí Dũng (« Các Đám Mây Sẽ Kể »), Vũ Trọng Tường (« Mùa Thu Ngày Khai Trường »), vv… cũng như các nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn (« Em Là Hoa Hồng Nhỏ »), Phạm Trọng Cầu (« Nhịp Cầu Tre »), Trương Quang Lục ( « Màu Mực Tím »), Nguyễn Văn Hiên (« Thêm Một Tuổi Hồng »), Nguyễn Ngọc Thiện ( « Cô Bé Dỗi Hờn »), Phạm Đăng Khương (« Con Đường Đến Trường »), Vũ Hoàng (« Hoa Điểm 10 »), vv…viết nhiều bài hát cho trẻ em . Nhiều trung tâm văn hóa thiếu nhi Hà Nội, TPHCM, Quảng Nam, Đà Nẵng , Cần Thơ tạo điều kiện cho trẻ em hát với nhau. Đại hội liên hoan nhạc trẻ em được tổ chức hàng năm khắp nơi . Cuộc hội thảo « Âm nhạc thiếu nhi » do ban âm nhạc thiếu nhi – hội nhạc sĩ Việt Nam tổ chức năm 1985 đánh dấu sự lưu ý của giới nhạc sĩ đối với giới trẻ em. Băng nhạc cassette audio và video, hay băng karaoke giúp cho trẻ em thích hát nhạc của lứa tuổi của chúng.

Nhạc mới cho nhạc khí cổ truyền

Sau 1975, phong trào cải tiến nhạc khí cổ truyền và sáng tác bài bản mới lên tới cao độ. Những công trình cải tiến nhạc khí đáng được để ý như cải tiến đàn tính của dân tộc Tày, Thái, hệ thống mõ ống, mõ cá của Tạ Thâm, đàn trưng của Đỗ Lộc, Bá Phổ, sáo mèo của Lương Kim Vinh, sáo trúc của Đinh Thìn, đàn bầu của Phan Chí Thanh, Xuân Hoạch, k’ni của Quốc Hùng, dinh pah cũa Nay Knia Sơn, đàn tranh của Phương Bảo, Nguyễn Vĩnh Bảo. Ngoài ra, một số nhạc sĩ đã chế ra những cây đàn hoàn toàn mới như nhạc sĩ Phạm Lý (Tp. HCM) chế tạo mới bộ đàn lý gồm 4 cây. Nhạc sĩ Lê Thái Sơn (Hà Tây) với cây đàn p’rông (một dạng piano làm bằng tre, nứa). Những trường hợp này được xem như là sự sáng chế nhạc cụ.

Các nhạc phẩm được lưu truyền trong dân chúng gồm có: «Trở Về Tây Nguyên» (Đỗ Lộc) cho đàn trưng và dàn nhạc dân tộc, «Khát Vọng Ba Dan» (Nguyễn Cường) cho đàn đinh pah của dân tộc Ê Đê và dàn nhạc, «Thúy Kiều» (Văn Thắng) cho đàn tỳ bà và tốp nhạc dây (2 viôlông, 1 viôla, 1 xenlô), «Biển Quê Hương» (Trần Quý) cho đàn bầu và dàn nhạc giao hưởng, tổ khúc «Rừng Đêm Trăng» (Phú Quang) viết cho 5 loại sáo cải tiến píthiu, pípặp, sáo H’Mông, pítầmlay, pítốp) của một số sắc tộc Tây Bắc cùng dàn nhạc nhẹ Tây phương với trống mõ dân tộc. Nhạc cụ gõ rất được các nhạc sĩ dùng trong nhiều sáng tác đương đại như «Tiếng Pháo Giao Thừa» (Nguyễn Xuân Khoát), «Trống Cười Cưới Chồng» (Đỗ Nhuận), «Âm Vang Điện Biên» (Huy Thục).

Ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc điện ảnh

Những loại ca kịch (kịch hát mới – comédie musicale), và nhạc kịch (opéra) chỉ được phát triển thực sự từ 1985 trở đi. Vở kịch hát «Thạch Sanh Lý Thông» (Đức Minh) đã tạo thành công qua lần trình diễn đầu tiên năm 1985 tại Hải Phòng. Đề tài được lấy từ các truyện cổ tích như «Nàng Công Chúa Lên Rừng» (Văn Thành Nho), «Chuyện Tình Nàng Tiên Du» (Phó Đức Phương), hay đề tài trong đời sống hàng ngày như «Lửa Tình Trên Cát Trắng» (Vũ Ngọc Quang), «Yêu Trước Phật Đài» (Trọng Đài), hoặc liên hệ tới văn học xứ người như «Tình Yêu Và Danh Dự» (Vũ Ngọc Quang) dựa trên Le Cid của Pierre Corneille thuộc xứ Pháp.

Nhạc kịch (opéra) theo kiểu opéra tây phương phải kể đến hai vở tạo tiếng vang nhiều nhứt sau 1975. Đó là vở «Nguyễn Trãi» (Đỗ Nhuận) được trình diễn lần đầu nhân dịp kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, và vở «Tình Yêu Của Em» (Tiếng Hát Xanh) (Nguyễn Đình Tấn) diễn lần đầu năm 1981 nói lên số phận của một số người trong cuộc chiến tranh cách mạng dành lại độc lập, tự do cho Việt Nam.

Vũ kịch (ballet) là một loại hình đã có trước 1975, dựa trên các vũ điệu sắc tộc Việt Nam nhưng chưa có hoàn chỉnh. Tổ khúc thơ múa «Giai điệu Niềm Tin» (biên đạo múa: Đoàn Long, nhạc của Hoàng Việt với nhạc phẩm « Giao Hưởng số 1 ») và thơ múa «Hồ Gươm» với Hoàng Đình Quý biên đạo múa, và nhạc của Cao Việt Bách. Từ năm 1990 trở đi, vũ kịch tái sinh và nẩy nở khắp nơi. Vở kịch múa «Ngọc Trai Đỏ» (Ca Lê Thuần) được ra mắt tại nhà hát lớn TPHCM nhân dịp kỷ niệm 300 năm thành lập thành phố Sài Gòn. Đa số đề tài vũ kịch đều hướng về các sắc tộc ở Việt Nam như «Hành Trình Đến Cõi Then» (múa do Lê Khình, nhạc của Phó Đức Phương), «Sự Tích Chiếc Khèn Bè» múa do Đoàn Long, nhạc của Vũ Duy Cường), «Huyền Sử Chiêng Cồng» (múa do Đoàn Long, nhạc của Đặng Nguyễn), «Huyền Thoại Trường Sơn» (múa do Bằng Thịnh, nhạc của Ngô Quốc Tính.

Nhạc kịch nói chỉ là nhạc đệm, nhạc nền (musique de fond) cho vở kịch. Loại này ít được phát triển. Một số nhạc sĩ đã thử thách qua một số kịch nói . Chẳng hạn như «Âm Mưu Và Hậu Quả» (Đàm Linh), «Hẹn Ngày Trở Lại» (Trọng Bằng), «Quyền Được Hạnh Phúc» (Hoàng Vân), «Cuộc Gặp Gỡ Muộn Màng» (Doãn Nho), «Ăn Mày Hạnh Phúc» (Huy Thục), «Chị Nhàn» (Tô Hải), «Đứng Gác Dưới Đèn Nêông» (Trần Ngọc Xương), «Nguồn Sáng Trong Đời» (Phó Đức Phương), và những nhạc sĩ khác như Ca Lê Thuần, Quang Hải, Phú Quang, Phạm Minh Tuấn, An Thuyên, Ngô Quốc Tính, vv…

Nhạc điện ảnh còn ở trong tình trạng sơ khai trong giai đoạn chiến tranh (1954-75) với chủ đề chiến tranh, giải phóng đất nước. Nhạc phim chuyên về nhạc hùng. Cuốn phim đầu tiên có nhạc loại giao hưởng của Nguyễn Đình Phúc được soạn nghiêm túc là «Chung Một Dòng Sông». Sau đó có thêm nhạc sĩ khác như Hoàng Vân, Trọng Bằng, Hoàng Hiệp, Y Vân, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn, Phạm Minh Tuấn, vv…

Nhạc sĩ Hồng Đăng viết cho trên 70 phim đủ loại «Kén Rể», «Hà Nội Mùa Chim Làm Tổ», «Đời Hát Trong», «Hạt Muối Của Biển», vv… Trọng Bằng, tốt nghiệp ở Nga Sô, viết nhạc loại giao hưởng cho các phim «Cù Chính Lan», «Hoàng Hoa Thám», «Ngôi Sao Tren Biển», vv… Đàm Linh tạo sự chú ý qua nhạc của phim «Trận Chiến Đấu Tiếp Diễn», «Đường Về Quê Mẹ», «Đứa Con Người Hàng Xóm», vv… với cách sử dụng nhạc khí Tây phương, hay hòa hợp Tây phương và Việt Nam. Hoàng Vân viết nhạc phim chuyên về nhạc giao hưởng cho cả trăm cuốn phim trong đó có phim được giải thưởng như «Con Chim Vành Khuyên», «Biển Gọi», «Em Bé Hà Nội». Đặng Hữu Phúc khởi sự viết nhạc cuốn phim «Anh Và Em» từ năm 1986 và liên tiếp nhiều phim khác như «Tướng Về Hưu», «Người Đàn Bà Bị Săn Đuổi», vv… Gần đây Đặng Hữu Phúc sử dụng máy vi tính để viết nhạc phim. Trọng Đài viết nhạc phim từ 1989 như «Canh Bạc», «Số Phận Của Một Tình Yêu», «Quạ Và Công» (phim hoạt họa). Đỗ Hồng Quân đã chiếm nhiều giải thưởng âm nhạc của liên hoan phim toàn quốc lần 8 (1987) với phim «Thằng Bờm», liên hoan phim toàn quốc lần 9 (1990) với phim «Đêm Hội Long Trì», liên hoan phim toàn quốc lần 10 (1993) với phim «Cờ Lau».

Nhạc Giao Hưởng

Trong thời gian 10 năm đầu (1975-1985) nhạc giao hưởng theo ngôn ngữ Tây phương cổ điển gặp khó khăn trong việc phổ biến. Nhưng sau đó, giới yêu nhạc cổ điển đông hơn, và nhiều nhạc phẩm được chào đời qua tài năng của các nhà soạn nhạc được huấn luyện tại Âm nhạc viện Hà Nội hay ở các âm nhạc viện Âu châu và Nga sô.

Đỗ Hồng Quân (« Chủ Đề Và Biến Tấu » cho dương cầm, « Rápxôđi Việt Nam »), Đặng Hữu Phúc (« Xô Nát Phúc Điệu » cho dương cầm), Nguyễn Văn Quý (« Xô Nát số 4 cho viôlông và pianô »), Nguyễn Cường (« Tứ tấu dây 94 »), Thụy Loan (« Khúc Trữ Tình » – Romance), Phúc Linh (« Ngẫu Hứng » cho ôboa, bátxông, và pianô), Xuân Tứ (« Bài Ca Chung Thủy ») mở màn cho những nhạc phẩm lớn theo chiều hướng nhạc cổ điển Tây phương đương đại .

Nhạc giao hưởng thu hút một số nhạc sĩ như Doãn Nho (thơ giao hưởng « Thánh Gióng »), Nguyễn Thị Nhung (thơ giao hưởng « Khát Vọng »), Trần Trọng Hùng ( « Giao hưởng cho đàn dây và gõ »), Đàm Linh (giao hưởng « Không Đề ») , Nguyễn Đình Bảng (balát giao hưởng « Thị Kính Thị Mầu »), Trọng Bằng (« Người Về Đem Tới Ngày Vui »), Trần Ngọc Xương (« Trăm Sông Đổ Về Biển Lớn »), Lê Khiêm Hoàn (tổ khúc giao hưởng « Hội Được Mùa »), Đặng Văn Bông (‘Mẹ Và Đất Nước », Trần Trọng Hùng (« Trở Về Với Điện Biên »).

Loại hình hòa tấu (concerto) cho nhạc cụ và dàn nhạc không thấy trong nhạc Việt Nam cho tới năm 1985. Một số nhạc phẩm dùng nhạc khí cổ truyền dân tộc cho phần độc tấu (Quang Hải với nhạc phẩm « Hòa Tấu Số 1 » chủ đề 1 cho đàn tranh và dàn nhạc « Quê Tôi Giải Phóng »). Điển hình là các nhạc sĩ Ca Lê Thuần (« Hòa Tấu Nhỏ Cho Pianô Và Dàn Nhạc ») Phạm Minh Tuấn (« Bất Khuất »), Trọng Đại (« Hòa Tấu Cho Dàn Nhạc »), Đỗ Hồng Quân (« Hòa Tấu Cho Viôlông Và Dàn Nhạc »). Chủ đề để sáng tạo nhạc giao hưởng, hòa tấu dựa trên làn điệu dân ca, thang âm điệu thức nhạc dân tộc. Trong sự phát triển các nhạc phẩm, đa số các nhà soạn nhạc chú tâm về các bè theo chiều ngang. Nhưng cũng có một vài nhà soạn nhạc trẻ như Vũ Nhật Tân (« Ký Ức ») tạo sự gặp gỡ các âm theo chiều dọc.

Giá trị âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử bi thảm, khó khăn mà chúng ta hiện nay đang trải qua, sẽ được chấp nhận, hay bị đào thải là do nơi sự cố gắng của mỗi cá nhân, mỗi nghệ sĩ. Khi chúng ta tự hào nhạc của tổ tiên và hãnh diện khi học hỏi cũng như lúc trình diễn, tìm đủ mọi cách để vun bồi, phát triển và truyền lại cho đám hậu sinh theo một đường lối tốt đẹp, phản ảnh dân tộc tính thì trong tương lai, nhạc Việt sẽ được nẩy nở ngày càng đẹp hơn, giàu hơn, phong phú hơn để tạo một chỗ đứng vững mạnh trong vườn nhạc Á châu. Chính dân tộc Việt Nam sẽ quyết định sự sống còn của nền âm nhạc Việt trong tương lai.

Sách tham khảo

ĐÀO Trọng Từ, 1979: «La Renaissance de la musique vietnamienne», Essais sur la musique viêtnamienne, Editions en langues étrangères: 146-221, Hanoi, Vietnam.

GIBBS, Jason, 1996: «Nhạc Tiền Chiến: The Origins of Vietnamese Popular Song», bài tham luận ở hội nghị của Society for Ethnomusicology, Northern Carolina, Hoa kỳ. (8 trang)

GIBBS, Jason, 1997: «Reform and Tradition in Early Vietnamese Popular Song», Nhạc Việt 6: 5-33, Kent, Ohio, Hoa Kỳ.

HOÀNG Hiệp, CA Lê Thuần, XUÂN Hồng, LƯU Hữu Phước, QUANG Hải, NGUYỄN Lang, PHAN Huỳnh Điểu, TRÍ Thanh, TRỊNH Công Sơn, TRẦN Trọng, ĐĂNG Đàn, TÔ Hải, 1986: Âm Nhạc ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh, 180 trang, TP HCM, Việt Nam.

HỒ Trường An, 1998: Theo Chân Những Tiếng Hát, 385 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ.

HỒ Trường An, 2000: Theo Chân Những Tiếng Hát, 380 trang, tổ hợp xuất bản miền Đông, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ.

LÊ Hoàng Anh, 2000: Trò Chuyện Với Nghệ Sĩ , nhà xuất bản Thanh Niên, 965 trang, TP HCM, Việt Nam.

LÊ Hoàng Long, 1996: Chuyện Tình Các Nhạc Sĩ Tiền Chiến, Văn Hóa Thông Tin (nxb), 202 trang, Hà Nội, Việt Nam.

PHẠM Duy, : Hồi ký 1: Thời Thơ Ấu, Vào Đời, 149 trang, Midway City, Calif. Hoa Kỳ

PHẠM Duy, : Hồi ký 2: Thời Cách Mạng Kháng Chiến, 128 trang, Midway City, Calif, Hoa kỳ

PHẠM Duy, : Hồi ký 3: Thời Phân Chia Quốc Cộng, 164 trang, Midmay City, Calif, Hoa Kỳ

PHẠM Duy, : Hồi ký 4: Thời Lưu Vong, 176 trang, Midway City, Calif, Hoa Kỳ

REYES, Adelaida, 1999: Songs of the Caged, Songs of the Frê/ Music and the Refugê Experience, Temple University Press (nxb), 218 trang, Philadelphia, Hoa Kỳ

TRẦN Cường, 1996: Âm Nhạc / Tác Giả Và Tác Phẩm, Giáo dục âm nhạc phổ thông, tập 1, Nhà xuất bản âm nhạc, 347 trang, Hà Nội, Việt Nam

TRẦN Quang Hải, 1987: “La Musique et les réfugiés », La Revue Musicale (nxb) 402-403-404 : 125-133, Paris, Pháp.

TRẦN Quang Hải, 1989 : Âm Nhạc Việt Nam Biên Khảo , Bắc Đẩu (nxb), 361 trang, Paris, Pháp.

TRẦN Quang Hải, 2001, 2002, 2003 : Tổng Kết Nhạc Việt Hải Ngoại, trang nhà http://www.vietnhac.org , Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ

TRẦN Quang Hải, 2001: « Vietnamese Music in Exile since 1975 and Musical Life in Vietnam since Perestroika”, The World of Music 2-3: 103-112, University of Bamberg, Đức (có thể xem trang nhà http://www.honque.com , New Jersey, Hoa Kỳ hay http://www.vietnhac.org , Minneapolis, Hoa Kỳ)

TRƯỜNG Kỳ, 1995: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 1 , tác giả xuất bản, 300 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 1997: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 2 , tác giả xuất bản, 320 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 1999: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3 , tác giả xuất bản, 367 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2000: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 4 , tác giả xuất bản, 368 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2001: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 5 , tác giả xuất bản, 378 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2002: Tuyển Tập Nghệ Sĩ 6 , tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada

TRƯỜNG Kỳ, 2002 : Một Thời Nhạc Trẻ, tác giả xuất bản, 384 trang, Montreal, Canada

TÚ Ngọc, NGUYỄN Thị Nhung, VŨ Tự Lân, NGUYỄN Ngọc Oánh, THÁI Phiến : 2000 : Âm Nhạc Mới Việt Nam / Tiến Trình Và Thành Tựu, Viện Âm Nhạc (nxb), 1000 trang, Hà Nội, Việt Nam

VŨ Tự Lân, 2001: Những Tác Động Của Giao Lưu Văn Hóa Quốc Tế Đối Với Sự Hình Thành – Phát Triển Âm Nhạc Chuyên Nghiệp Mới Việt Nam, Hội Nhạc Sĩ Việt Nam (nxb), 92 trang, Hà Nội, Việt Nam.

Báo Chí:

Sóng Nhạc, nguyệt san, chuyên về sinh hoạt tân nhạc Việt Nam ở quốc nội ,địa chỉ: 81 Trần Quốc Tuhảo, Q3, TPHCM, Việt Nam. Điện thư:ngvanhien@hcmeuco.edu.vn

Văn Hóa Nghệ Thuật, nguyệt san, chuyên về nghiên cứ nhạc dân tộc, tân nhạc và nhạc cổ điển Tây phương ỡ Việt Nam; địa chỉ: 32 Hào Nam, Đống Đa, Việt Nam. Điện thư: tcvhnt@hn.vnn.vn

Âm Nhạc và Thời Đại, nguyệt san, chuyên về đủ mọi khí cạnh âm nhạc Việt Nam tại quốc nội. Cơ quan ngôn luận của Hội Nhạc sĩ Việt Nam; địa chỉ: 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, Việt Nam. ĐT: (84-4) 94 35 384

Trang Nhà

http://www.tranquanghai.com và  http://tranquanghai1944.com
Hai trang nhà này của Trần Quang Hải có một bài viết về tân nhạc Việt Nam bằng 3 thứ tiếng (Việt/Pháp/Anh)

http://www.vnstyle.vdc.com.vn/vim : khánh thành năm 2002, trang nhà này của Viện Âm Nhạc Hà Nội giới thiệu sinh hoạt của Viện qua tin tức, bài vở, sách, dĩa CD, VCD về nhạc Việt Nam bằng hai thứ tiếng (Việt/Anh)

http://www.vov.org.vn: những bài ca không quên, ca khúc trữ tình, nhạc không lời, chương trình ca nhạc, ca nhạc thiếu nhi.

http://www.vietscape.com: nhạc trẻ, tân nhạc, phỏng vấn ca nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại
http://www.saigonbao.com/amnhac/Amnhac2.htm: những trang nhà về nhạc Việt và điện ảnh Việt Nam ở hải ngoại

http://www.vnunited.org/audio: rất nhiều bài tân nhạc Việt Nam do các ca sĩ trình bày (MP3)

http://www.vncentral.com/news/vanhoa: tin tức về tân nhạc Việt Nam

http://www.angelfire.com/ut/ttran4/VN.html: các ca sĩ Việt Nam, tân nhạc, nhạc vàng

http://www.vietet.com: tin tức nhạc trẻ Việt Nam ở Hoa kỳ, tiểu sử các ca sĩ và địa chỉ

http://www.vietnhac.org: trang nhà do sinh viên ở Minneapolis thực hiện có trên 100 tiểu sử nhạc sĩ hải ngoại, tiểu sử các nhạc sĩ qua đời, và gần 200 bài viết về nhạc Việt Nam đủ loại.

http://www.honque.com: báo mạng lưới với nhiều bài viết về nhạc Việt Nam, phỏng vấn nhiều nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại, và có thể nghe và xem video nhạc Việt sáng tác ở hải ngoại.

http://www.talawas.org: báo mạng lưới ỡ Đức với một số bài về nhạc Việt Nam, phỏng vấn nhạc sĩ Việt Nam hải ngoại

http://www.tienve.org: báo mạng lưới ở Úc châu với nhiều bài viết và nhạc phẩm về nhạc Việt Nam.

http://vietsciences.free.fr: báo mạng lưới ở Pháp có một chương trình dành cho nhạc Việt Nam

http://home.wanadoo.nl/duca: lịch sử du ca, du ca viên, và nghe nhạc du ca

http://www.emviet.com/pvh: trang nhà chào đời năm 2002 ở Úc châu, giới thiệu những sáng tác của nhạc sĩ Phan Văn Hưng và những ca khúc khác cùng một số dân ca Việt Nam

http://home.vicnet.net.au/~aaf/us.htm: trang nhà của đôi nhạc sĩ Lê Tuấn Hùng và Đặng Kim Hiền ớ Úc châu, gồm có những sáng tác nhạc hiện đại của Lê Tuấn Hùng và những bài viết về nhạc Việt Nam.

http://www.geocities.com/emcahat: nơi sinh hoạt của giới yêu nhạc tài tử và bán chuyên nghiệp ở hải ngoại

http://www.vota.com/nhac: trang nhà của nhạc sĩ Võ Tá Hân với tất cả sáng tác của anh và có thể nghe những CD gồm trên 200 nhạc phẩm đã được phát hành.

http://perso.club-internet.fr/nmchau: rất nhiều sáng tác của các nhạc sĩ của nhóm Nhạc Việt và của nhóm The Silicon Band ở Pháp.

http://www.giaidieu.net: diễn đàn trao đổi nhạc Việt, tin tức nhạc trẻ Việt Nam , tiểu sử nhạc sĩ và ca sĩ sống tại Việt Nam.

http://www.giaidieuxanh.com.vn: tất cả tin tức nhạc ở Việt Nam từ nhạc cổ truyền dân tộc đến nhạc Pop Việt/Tây phương, nhạc cổ điển Tây phương và nhạc hiện đại thế giới.

© http://vietsciences.free.fr Trần Quang Hải