PHẠM ANH : Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 2: Người đưa cồng chiêng xuất ngoại


Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 2: Người đưa cồng chiêng xuất ngoại

 
Ngay ngáy lo mai này người làng xã sẽ quên đi văn hóa dân tộc mình, ông bỏ việc nhà, hằng ngày chỉ dạy đánh cồng chiêng, múa xoang cho dân làng. Hết lớp này đến lớp khác, bây giờ làng ông có đội nghệ nhân gần chục lần xuất ngoại biểu diễn cho thế giới biết văn hóa Tây nguyên.
Ông là nghệ nhân A Thur (62 tuổi), người Ba Na ở làng Đăk Wớt, xã Hơ Moong, H.Sa Thầy (Kon Tum).
Theo thầy A Thur múa xoang
Một lần về Đăk Wớt, được nghe, được thấy các nghệ nhân chân chất ở đây tập biểu diễn để sang Pháp tham gia lễ hội, mới hiểu vì sao đồng bào Tây nguyên mê đến thế. Điều đáng nói là, những nghệ nhân ấy có người tuổi đã 60, trung niên, nhưng cũng có người chỉ mới đôi mươi. Hôm đó, trời Tây nguyên mưa gió tơi tả, nhà rông bị mưa tạt vào ướt mèm, nhưng gần 30 nghệ nhân vẫn như “lên đồng” say sưa tập đánh cồng chiêng và múa xoang nhịp nhàng.
Y Lạng (18 tuổi) kể đã tham gia học múa xoang với thầy A Thur từ năm 14 – 15 tuổi. Giống bạn bè trang lứa, ban đầu Y Lạng chưa thích múa xoang. Sau nghe lời A Thur “phải học múa, không phải cho mày, mà cho làng Ba Na mình đấy, con à!”, Y Lạng mới đi tập múa. Ban ngày đi học, hết đi học lại đi rẫy, nhưng một tuần 2 – 3 buổi chiều thầy A Thur dạy múa xoang, Y Lạng đều có mặt đầy đủ và càng học thì càng thích, thân hình cân đối, uyển chuyển hơn.
A Tráp (61 tuổi), người đánh cồng của làng nghệ nhân Đăk Wớt, bảo không chỉ dạy múa xoang cho các cô gái làng, A Thur còn dạy đám thanh niên đánh cồng chiêng nữa. Theo A Tráp, đã gần 20 năm A Thur bỏ sức ra dạy cồng chiêng và múa xoang, trai gái trong làng, trong xã từng theo “học nghệ”, nếu không giỏi thì cũng rành. Ấy là chưa kể, riêng làng Đăk Wớt có đội nghệ nhân 30 người, nhuần nhuyễn đánh cồng chiêng và múa xoang, sẵn sàng biểu diễn bất cứ vùng nào khi được tỉnh Kon Tum điều động.
Tiếng thơm để lại cho đời
A Thur mê cồng chiêng và các điệu hát xoang từ cảm hứng của bác ruột là A Thik và nhất là máu “gia truyền” từ người cha A Bek. Những ngày còn niên thiếu, A Thur học văn hóa (viết và giao tiếp được tiếng Anh), nhưng cái “ăn trong cái bụng mình” là cồng chiêng ngân nga của dân tộc Ba Na. “Hồi đó làng xã mình chỉ có người già mới biết đánh cồng chiêng thôi. Mình thì mê đàn, nhưng thấy lớp trẻ không ai biết cồng chiêng nên mình học. Chính thức là năm 1996 mình bắt đầu dạy đánh cồng chiêng, múa xoang cho thanh niên nam nữ, thậm chí là cả người trung niên nữa”, A Thur tâm sự.
Những ngày đầu dạy, đám thanh niên có ai ham đâu, có điều A Thur bảo nên bọn trẻ nghe lời. Dần dần từ chỗ vâng lời, nam nữ thanh niên mê dần, lớp dạy ban đêm ở nhà rông trong ánh lửa bập bùng phải chuyển dần xuống sân vì “lũ nhỏ đi đông, nhà rông không có chỗ đứng”. Cái khó của A Thur là, tiếng cồng chiêng thì ít nhiều mấy người già còn nhớ điệu, giữ nhịp, còn múa xoang thì mỗi ngày mai một dần. Thế là A Thur thân hành đi học múa xoang từ các nữ nghệ nhân Ba Na, tập múa cho thuần thục và đẹp mắt rồi về dạy lại.
“Nhiều điệu xoang giờ mất dần điệu gốc cổ, mình nghiên cứu và sáng tác thêm cho phù hợp với tiếng chiêng, tiếng cồng”, A Thur kể. Nói thì nghe đơn giản, nhưng cái “nghiên cứu” này khó vô cùng. Bởi người Ba Na rất phong phú lễ hội, mỗi điệu múa xoang phải phù hợp với từng lễ hội đó. Vì vậy, A Thur phải “vắt óc” ra mới thành công như bây giờ. Đám con gái, đàn bà bây giờ ở xã Hơ Moong rành múa xoang, phần lớn đều nhờ những buổi tối A Thur dạy ở nhà rông.
Biết đánh cồng chiêng thì phải có… chiêng, cồng mà chơi chứ! A Thur đã mang những bộ chiêng, trong đó có bộ rất quý, để cho làng tập luyện và đánh trong những lễ hội. Không những thế, ông còn lùng mua những bộ chiêng từ bên Lào mà ngày xưa người làng vốn có nhưng đã bán mất đi, hoặc mất trong chiến tranh. Sưu tầm chiêng mãi đến giờ, A Thur có trọn 3 bộ chiêng quý với trên 30 cái cả thảy, trị giá trên 500 triệu đồng. Theo đó, bộ chiêng quý chỉ mang ra đánh những ngày lễ hội lớn, 2 bộ còn lại thì mang ra dạy cho thanh niên làng.
A Thur kể: “Năm 1983 thiếu ăn, ông ngoại mình có cái chiêng quý định bán đi. Nghe chuyện, mình dắt… đàn bò qua đổi cái chiêng này. Năm 2007, mình dẫn 16 nghệ nhân của làng sang Mỹ biểu diễn. Có người đến trả 50.000 USD cái chiêng này nhưng không bán. Mình phải giữ lại chiêng, vì chiêng này rất nhiều làng đâu còn nữa. Giữ là giữ hồn cho làng, cho đời sau còn chiêng để đánh”.
Ông Nguyễn Văn Niệm, Chủ tịch UBND xã Hờ Moong, nhận xét: “A Thur với uy tín của mình đã đoàn kết đồng bào, góp phần rất lớn vào công cuộc an sinh xã hội. Đội nghệ nhân làng Đăk Wớt do A Thur quản lĩnh đã có tiếng lành vang xa. Đến nay, chưa thấy ai có thể thay A Thur duy trì đội cồng chiêng nổi tiếng này”.
Anh Trần Lâm, Phó phòng Nghiệp vụ, Sở VH-TT-DL Kon Tum, nói làng nghệ nhân Đăk Wớt đã có gần chục lần được mời ra nước ngoài biểu diễn cồng chiêng, múa xoang, hát kể sử thi… Lần đầu tiên là tháng 7.2007, tham gia lễ hội “Mê Kông – Dòng sông kết nối các nền văn hóa” và gần đây nhất là lễ hội nhiệt đới tại Pháp vào đầu tháng 7.2014.

Phạm Anh

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/bau-vat-song-tay-nguyen-ky-2-nguoi-dua-cong-chieng-xuat-ngoai-525117.html

>> Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 1: Già làng chế tác 15 nhạc cụ

PHẠM ANH : Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 1: Già làng chế tác 15 nhạc cụ


Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 1: Già làng chế tác 15 nhạc cụ

 

Có người đã lớn tuổi, người ở tuổi trung niên và người còn rất trẻ nhưng đã cùng nhau giữ gìn những di sản văn hóa Tây nguyên. Dân trong vùng gọi họ là những báu vật sống. 

 Bloong Vẽ bên đàn tơ rưng - Ảnh: Phạm Anh

Bloong Vẽ bên đàn tơ rưng – Ảnh: Phạm Anh
Già làng Bloong Vẽ (70 tuổi) ở làng Đăk Răng, xã Đăk Dục, H.Ngọc Hồi (Kon Tum) đã tự mày mò và chế tác được 15 loại nhạc cụ dân tộc Tây nguyên.
Mê mải tiếng đàn, tiếng sáo
Biết khách muốn “mục sở thị” những nhạc cụ do mình chế tác, già làng Bloong Vẽ mời về nhà. Điều ấn tượng nhất chính là hàng chục nhạc cụ dân tộc treo đầy trên vách gỗ làm bằng ván bìa. Dường như ông già miền sơn cước này muốn gom tất cả nhạc cụ đồng bào Tây nguyên về đây.
Trải tấm “dồ” giữa sàn nhà mời khách ngồi, già làng Bloong Vẽ kể: “17 – 18 tuổi tui mới học nhạc. Hồi đó, thấy cha thổi ống ta lun (như cây sáo, dài khoảng 0,8 m, trên thân có đục lỗ nhỏ) thấy thích lắm. Tui xin thổi thử, cha gật đầu nói “được”. Vậy là tui tập thổi nó…”. Hồi đó khi tập thổi ta lun, Bloong Vẽ “dị” lắm, thấy ai đi ngang qua cũng… đỏ mặt, vì sợ chọc. Để hết bị chọc, Bloong Vẽ quyết tâm thổi ta lun cho thật hay. “Ở nhà, ra đường hay đến chòi trên rẫy, lúc nào cũng để sẵn cây ta lun, đi chiến trường tui cũng cầm ta lun theo. Cứ rảnh hồi nào tui cầm ta lun lúc đó để tập thổi. Đến 3 tháng sau tui mới thổi rành ta lun”, già Bloong Vẽ nhớ lại.
Thế rồi, từ 1 chiếc ta lun, Bloong Vẽ tự mày mò học tiếp qua đàn bin long, eng ong ọt, đàn gor, khèn, ong eng nhâm, long gia ling ling… và rành đến 15 loại nhạc cụ như bây giờ. Không chỉ đàn hay, thổi sáo giỏi, già Bloong Vẽ còn tự sáng chế nhạc cụ cho chính mình.
Đi tìm truyền nhân
Bên bếp lửa bập bùng, Bloong Vẽ cầm ta lun thổi cho khách nghe một đoạn rồi giải thích: đây là nhạc cụ thông dụng nhất của người Triêng vùng biên giới này. Đang chìm đắm trong tiếng ta lun, già Bloong Vẽ bỗng ngưng giữa chừng, bỏ ta lun xuống sàn nhà, với tay lấy đàn bin long (đàn có 2 dây) gảy một đoạn nhạc êm dịu.
Già Bloong Vẽ bảo, trong tất cả các loại nhạc cụ do mình chế tác thì khèn là loại khó nhất và hiện giờ biết làm khèn này chỉ còn vài người. Chỉ 2 cái khèn treo trên vách, Bloong Vẽ nói mỗi năm mới làm xong một khèn. Hỏi vì sao như vậy, ông giải thích: Nhìn bề ngoài thấy ống nứa nhỏ như nhau nhưng vào rừng lựa rất nhiều cây nứa mới có một loạt ống nứa cùng kích cỡ. Sau đó về cắt ra rồi hong cho khô vừa, nếu hong ngoài nắng nhiều ống nứa sẽ nứt, vỡ, âm thanh không còn hay nữa. Làm các lỗ khèn gắn ống nứa vào phải rất dày công mới xong. Lỗ to quá không xong, nhỏ quá cũng không được, mà phải làm sao vừa vặn. Đó là chưa kể, lỗ khèn (chỗ đưa miệng vào thổi) nhìn bề ngoài bình thường nhưng phía trong nó có gắn ống kim loại bằng đồng. Đây là việc khó nhất khi làm khèn, bởi nếu ráp đồng vào to, dài hoặc ngắn, nhỏ quá thì âm thanh không hay. Vì thế, người làm khèn hay phải thuộc diện “tinh hoa” mới gắn đồng vào được. Sau đó thẩm âm, thấy âm thanh không ổn, xem như bỏ cả khèn này và làm lại khèn mới.
“Làm xong khèn, thổi không hay phải bỏ đi là chuyện thường”, Bloong Vẽ nhìn nhận. Hay đơn giản như khèn sừng trâu thổi vào khai hội đâm trâu cũng thế, nhìn thì nó như cái sừng trâu bình thường, nhưng làm sao để chọn lựa sừng phù hợp, khoét lỗ trên sừng… có khi phải mất cả nửa tháng, một tháng mới hoàn thành. Theo Bloong Vẽ, khi chế tác nhạc cụ, nếu việc tìm nguyên liệu khó 1 – 2, thì cách làm và sử dụng nguyên liệu khó đến 9 – 10. Còn như sáo gor, cũng làm bằng cây nứa, dài trên dưới 1 m, khoét một lỗ khoảng 1/4 chiều dài trên thân ống nứa. “Ai không biết cách, khoét… cả đời cũng không thổi được. Cả làng Đăk Răng, giờ chỉ có mình tui làm được sáo gor”, già Bloong Vẽ nói.
Tiếng tăm của Bloong Vẽ ngày càng vang xa, ông đi biểu diễn khắp nơi trong tỉnh, trong nước. Lâu lâu lại có các đoàn từ Hà Nội, Huế, từ miền Nam tìm đến để chiêm ngưỡng và học đàn, thổi sáo, sau đó lại mua những nhạc cụ do Bloong Vẽ chế tác. Ngoài việc không… giấu nghề, Bloong Vẽ còn làm thêm nhạc cụ bán cho khách để có tiền “tái đầu tư”. Thế nhưng, điều trăn trở nhất trong lòng của già Bloong Vẽ là chưa tìm được “truyền nhân”. Ông tâm sự, vì quá mê nhạc, từ thời trẻ ông say mê mày mò tập đàn, thổi sáo và chế tác nhạc cụ, để trước là cho bản thân, sau nữa để cho dân tộc mình mãi mãi giữ gìn nét văn hóa truyền thống hay. Vậy mà mấy năm nay, 5 đứa con của ông và hàng trăm học sinh trong xã lẫn các xã xung quanh được dạy nhưng chưa ai chơi nhạc được như ông.
“Chơi nhạc cụ dân tộc Tây nguyên thì có rất nhiều người, còn “hay” và chơi được nhiều nhạc cụ lại không mấy người”, già Bloong Vẽ bỗng trầm ngâm. Trong số những người được ông dạy, có 18 người Bloong Vẽ “ưng bụng” thì chỉ được 2 người khá nhất. Có điều, mỗi người chỉ chơi được 8 nhạc cụ mà thôi. Bloong Vẽ muốn truyền cho 2 người này đủ 15 nhạc cụ, nhưng vẫn chưa đạt.
“Báu vật” có một không hai
Chủ tịch UBND H.Ngọc Hồi (Kon Tum), ông Trần Văn Chí cho hay: “Già làng Bloong Vẽ là “báu vật” có một không hai ở huyện này và cả tỉnh Kon Tum. Chính những người luôn đau đáu gìn giữ văn hóa dân tộc mình là những gì mà khách du lịch đến và đi luôn nhớ mãi. Hiện địa phương đang xây dựng hai làng du lịch cộng đồng ở Đăk Mế, xã Bờ Y và Đăk Răng, xã Đăk Dục.

Phạm Anh

http://www.thanhnien.com.vn/van-hoa-nghe-thuat/bau-vat-song-tay-nguyen-ky-1-gia-lang-che-tac-15-nhac-cu-524831.html

 

>> Trưng bày tượng gỗ Tây nguyên
>> Nghề chơi cũng lắm công phu – Kỳ 29: Người lưu giữ “ký ức” Tây nguyên

PHẠM ANH : CHIÊNG BUAR BÍ ẨN


Chiêng Buar bí ẩn

 

Người Xê Đăng nhánh Sơđră ở xã Ngọc Réo, H.Đăk Hà (Kon Tum) có một bộ chiêng Buar “độc nhất vô nhị”. Bộ chiêng này cứ vài năm thì mang ra đánh một lần, nhưng có khi đến 4-5 năm, đồng bào nơi đây mới đưa chiêng này ra đánh tại lễ hội lớn nhất của dân tộc mình, rồi cất kỹ.

 Lá chiêng Buar của bà Y Jyang ở làng Kon Rôn Lá chiêng Buar của bà Y Jyang ở làng Kon Rôn – Ảnh: Phạm Anh
“Cho sờ, không cho đánh”
Dẫn khách đến một ngôi nhà mái ngói ở giữa làng Kon Rôn, xã Ngọc Réo, H.Đăk Hà, anh U Rớp, cán bộ phụ trách văn hóa – xã hội của xã giới thiệu: “Đây là nhà của già Y Jyang, còn giữ một lá chiêng gọi là y kor. Mình vào hỏi, nếu chủ nhà cho phép mới mang nó ra được, nhưng phải để ở trong nhà, không được đưa ra ngoài sân”. Chừng 5 phút, bà Y Jyang (70 tuổi) từ trên sàn nhà đi ra, tay cầm chiếc chiêng và dùi đánh. Chiếc chiêng này đường kính chừng 0,3 m, không có núm, cầm trên tay thấy nằng nặng. Khi tôi định cầm dùi đánh chiêng thì bà Y Jyang liền lên tiếng: “Cho sờ thôi, không cho đánh đâu!”. Hỏi ra mới hay, vì “nể nang” nhà báo lắm nên bà mới mang chiêng ra cho mục sở thị, chụp hình, sờ mó, còn ngày thường, cha mẹ cất chiêng chỗ nào, con cái chỉ biết thôi, không dám tự lấy chiêng ra. U Rớp rỉ tai tôi: “Ngay cả chủ lá chiêng này cũng không dám tự đánh, bởi sẽ bị làng phạt rất nặng. Lúc nãy lấy chiêng ra cũng phải khấn xin chiêng đó”.
Cách nhà bà Y Jyang chừng 500 m, vợ chồng U Dộr và Y Uâ (cả 2 cùng 56 tuổi) cũng đang giữ lá chiêng gọi là y thiêng. Trưa hôm ấy đến nhà này, tôi cùng U Rớp phải đợi rất lâu, vợ chồng họ mới đưa chiếc chiêng quý cho xem vì phải làm “thủ tục” xin chiêng. Bề ngoài nó cũng giống chiêng của bà Y Jyang nhưng mang tên khác. Bà Y Uâ kể, nhà có 5 anh em, bà là con út. Khi ba mẹ mất đi, chưa kịp giao chiêng quý cho ai mà Y Uâ đang ở với ba, mẹ nên được giữ chiêng này từ năm 17 tuổi. Theo phong tục đồng bào Sơđră, chiêng này chỉ giao cho con trai, gái trong nhà, còn dâu và rể thì không được giữ nó, và việc giao chiêng cũng rất cầu kỳ, trong đó có vài điều bí ẩn khó hiểu.
U Rớp nói cha của anh vốn là già làng uy tín ở đây kể lại rằng, bộ chiêng thiêng Buar được đồng bào của anh xem là báu vật. Bộ chiêng này vốn có 3 chiếc, ngày xưa phải mua lại từ 5-10 con trâu, nhưng không phải làng nào cũng may mắn có được. Đến bây giờ, khắp cộng đồng người Sơđră chỉ có làng Kon Rôn còn 2 chiếc mà thôi. Muốn đánh chiêng này, ngay cả chủ lá chiêng chỉ được đánh “lễ” trong lễ tỉa lúa mới, “nghĩa là trước khi khai lễ, mang chiêng ra nhưng chỉ đánh vài tiếng rồi cất kỹ”.
Người trong làng, trong xã muốn thấy và đánh được chiêng này thì phải đợi đến lễ hội Ting Pêng (lễ bắn trâu), lễ hội lớn nhất của người Sơđră. Đây là lễ hội xuất phát từ quan niệm trả nợ thần linh, mới mang chiêng Buar ra đánh. Già U Thông (77 tuổi) ở làng Kon Rôn cho biết: lễ hội này cúng trâu, dê, lợn và gà. Trước khi đánh chiêng khai lễ hội, dân làng phải lấy máu của tất cả các vật cúng Yàng rồi bôi lên bộ chiêng này, khấn vái chiêng hãy “ăn” đi, hãy mang lòng thành khẩn của dân làng “nói” với Yàng, phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, không đau ốm bệnh tật, mùa màng tốt tươi. “Có khi mỗi năm tổ chức một lần, nhưng có khi đến 4-5 năm mới có lễ Ting Pêng, người làng mới thấy được bộ chiêng Buar”, già U Thông nói.
Bí ẩn cách chọn người giữ chiêng
Buổi chiều ở làng Kon Rôn, lá rừng nhuộm sẫm đường làng cũng là lúc men rượu ghè chuếnh choáng. Chuyện phong tục và cách truyền người giữ chiêng Buar được già U Thông say sưa kể lại. “Trước đây, chỗ cất chiêng chỉ có đàn ông được bước vào, còn đám đàn bà thì cấm tuyệt đối. Việc truyền chiêng cũng chỉ truyền cho con trai thôi, con gái và người ngoài, kể cả trong dòng tộc cũng không được đâu. Bây giờ phong tục thay đổi rồi, khác xưa ở chỗ chiêng cũng truyền được cho con gái”, mắt già U Thông nhìn thấu vào bóng rừng đêm, kể chuyện như nói với chính mình. Rằng, người cha trong nhà không phải muốn truyền cho đứa con nào trong nhà cũng được, “chỉ có Yàng cho ai thì người đến được giữ”.
Già U Thông giới thiệu cách truyền chiêng Già U Thông giới thiệu cách truyền chiêng – Ảnh: Phạm Anh
Quan niệm của người Sơđră cho rằng, chiêng Buar luôn có “linh hồn”. Vì vậy chọn ai giữ chiêng thì phải tuân thủ theo phong tục. Theo đó, cách mà đồng bào Sơđră thường sử dụng là đi vào rừng tìm cây lá thuốc (giống như cây nghệ, cũng là một cây thiêng), đào lấy củ to bằng ngón tay cái mang về và dùng dao (cũng là dao thiêng) chẻ đôi củ thuốc ra. Ngày chọn người giữ chiêng, người cha kêu các con trai lại ngồi giữa sàn nhà, rồi mang củ thuốc ra đi đến trước mặt từng đứa con trai khấn vái. Sau đó người cha thả củ thuốc xuống bàn tay hay sàn chiếu (như cách xin keo của người Kinh), nếu 2 miếng của củ thuốc một sấp, một ngửa rơi vào đứa con trai nào và được cả 3 lần liên tục thì người đó được chọn giữ chiêng Buar.
Tuy nhiên, cách chọn người giữ chiêng nói trên chưa được xem là bí ẩn, cách đo sải tay mới lạ. Ấy là những đứa con trai trong gia đình phải đo sải tay trên nhánh cây “danh” từ mút đầu hai ngón tay giữa. Đo xong thì lấy sợi dây buộc ở đầu mút tầm của 2 ngón tay trên cây này. Sau đó, đo 3 lần, nếu ai đo đúng như thế thì được giữ chiêng. U Thông bảo, cũng đo tại chỗ, không ai dám kéo ra hay sụt vào sợi dây buộc ở hai đầu mút, nhưng có nhiều người đo lại 2-3 lần vẫn không trùng như cũ. Hay như cách chọn người giữ chiêng bằng gang tay cũng thế. Người cha dùng gang tay của mình gang từ mút vai bên phải (hoặc trái) sang đầu mút ngón tay giữa cánh tay trái (hoặc phải) bên kia 3 lần. Nếu cả 3 lần gang đều trùng nhau, không dư ra dù nửa lóng tay thì được chọn. Đồng bào Sơđră quan niệm đó là điều mà Yàng chọn, không cãi lại được.

Phạm Anh

http://www.thanhnien.com.vn/doi-song/nhip-song-dia-phuong/chieng-buar-bi-an-602088.html

>> UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang
>> Di sản Việt Nam tụ hội tại TP.HCM
>> Báu vật sống Tây nguyên – Kỳ 2: Người đưa cồng chiêng xuất ngoại
>> Xây dựng thương hiệu du lịch cho Buôn Ma Thuột