ÁI LAN : Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải ở đại nhạc hội BUDAPEST, năm 1949


http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/tho-cho-ban-o-parislich-su-hai-cay-don-da-giup-anh-tranvankhe-doat-giai/766872.html

THƠ CHO BẠN Ở PARIS

Lịch sử hai cây đờn đã giúp anh Trần-văn-Khê đoạt giải

Ba tuần sau khi đăng trân trọng ngay ảnh bìa nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê dự Đại hội âm nhạc sinh viên Budapest (Hunggari), Việt báo số 21-1949 tiếp tục đăng ảnh bìa về người nhạc sĩ trẻ này với bài viết bên trong về hai cây đờn mang đi thi của nhạc sĩ sinh viên Trần Văn Khê.

 tvk trên đường sang Hongrie ghé Thụy sĩ 1949
 
Nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê trên đường sang Thụy Sĩ và Hunggari khi dự Đại hội âm nhạc Budapest (Hungari) – Ảnh bìa Việt báo số 21-1949

Bài viết ký tên Ái Lan, gửi cho một người bạn ở Pháp.

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

.

Bạn NGỌC-LAN, 

​Trong số báo trước, tôi đã hứa với bạn sẽ kể lại lịch-sử hai cây đờn của anh Khê. Chắc bạn đã mỉm cười, nếu bạn không bỉu môi thầm bảo: Lịch-sử quái gì hai cây đờn ấy.

Thì cứ ra chợ Cầu ông Lãnh mà mua, hay là mua lại đờn cũ của ai đó chớ gì.

Vâng, chính thế, nhưng bạn ạ, bạn có biết đâu trong hai cây đàn đó, nó còn ẩn náu bao nhiêu niềm uẩn khúc đầy triết lý của cái nghèo nơi một nghệ-sĩ chơn chánh như anh Khê chẳng hạn.

Vậy, mời bạn hãy đọc dưới đây một mẫu giai thoại… vui vui về hai cây đờn “bạch chãng” của anh Khê, nhưng tôi cấm bạn cười… ra nước mắt đấy!

Tại nhà ở, chúng tôi đang ngồi nói chuyện phiếm để đỡ sốt ruột trong lúc chờ anh Khê và vài người bạn khác, để dự một bữa tiệc tiễn chơn anh Khê sang Pháp, bỗng một tiếng két của chiếc xe xích-lô thắng ngoài ngõ, và tiếp theo một giọng cười đặc biệt của anh Khê là lúc nào cũng hồn nhiên, sung sướng, từ ngoài cửa ném vào. Một người bạn nói khẽ với tôi: “Anh ấy đi đến đâu là mang cả một vũ-trụ lạc quan đến đó”.

Lời phê-bình vắn tắt, nhưng rất đúng. Bạn không thể nào giữ được nỗi buồn, nếu bạn nghe giọng cười của anh Khê một khi đã cất lên.

Trong lúc chúng tôi nói lén anh, thì anh đã bước vào với hai cây đàn, một cũ, một mới. Cây cò còn mới tinh của anh, làm bằng một thứ cây gì trắng tươi như cây thông mà anh Khê gọi là màu “bach chãng”.

Tôi vội thuật lời nói lén của người bạn khi nãy với anh Khê, anh phá lên cười một chuổi dòn tan trong lúc anh cẩn thận đặt hai cây đờn xuống ván. Bỗng anh Khê hạ thấp giọng:

“Không biết giờ này, vợ tôi đã chạy ra tiền đi chợ chưa? Nhà chỉ còn có vài chục bạc, tôi đã lấy hết đi mua đờn từ sáng tới giờ”. Nói xong, anh lại cười, để cho chúng tôi… ra nước mắt!

– Anh mua đờn làm gì mà gấp đến phải vét cả tiền chợ?, tôi hỏi.

Anh Khê cho hay rằng anh định đem hai cây đờn đó sang Pháp đờn bậy chơi. Nhứt là trong lúc ở dưới tàu, linh-đinh trên mặt biển gần trót tháng.

Anh lại cho biết, cây cò anh mua ở Cầu ông-Lãnh, còn cây tranh, anh xin của cậu anh đem về chữa sửa lại mấy chỗ hư hỏng, vì nó đã cũ kỹ.

–  “Chưa đủ, anh phải đem theo một cái lon, hay cái nón lá xe kéo để người ta bỏ xu, khi anh ngồi đờn nơi mấy cái nhà ga xe điện”. Một người bạn nói đùa.

– “Mua thêm cây độc huyền và một cuốn thơ Lục vân Tiên”.

Tất cả các bạn đều rộ lên cười.

Sau khi cười dứt, anh Khê nghiêm trang nói:

“Được chớ! Nếu ngày nào thấy cần, tôi sẽ làm thế”.

– Anh không mắc cở à? Tôi hỏi.

Khê nhìn tôi với đôi mắt trách thiện:

“Tôi làm gì mà mắc-cở? Nghèo, đi đờn mướn, hát dạo, kiếm tiền ăn, học, nếu nghề ấy có thể giúp tôi học”.

Sau khi dùng cơm xong, anh Khê đờn cho chúng tôi nghe trước khi anh lên đường.

Tối hôm ấy, một bác sĩ ở Cholon lại tiễn anh Khê và thết luôn chúng tôi một bữa cơm Tàu. Bộ đồ “vía” của anh Khê để dành mặc trong lúc đặc biệt, được nó trang hoàng vào người anh, huê dạng như… một chánh khách… chầu rìa.

Sau khi ăn uống xong, chúng tôi đón xe “tắc-xi” về Saigon. Trước khi lên xe, anh Khê kê miệng vào tai H… nói nhỏ: “Ê! H trả tiền xe nhé”.

Cách đó vài tháng, chúng tôi được đọc một bức thơ của anh Khê từ Pháp gởi về cho một người bạn tên H. Trong ấy, có một câu đã làm cho tôi cảm động và ghi nhớ mãi: “H… ạ! Sự sống của tôi ở Paris lúc nầy nguy ngặt quá vì số tiền bà gia tôi dự bị để gởi lần cho tôi tạm lúc đầu đã bị gián đoạn, do một việc rủi-ro bất ngờ. Lắm lúc, tôi muốn thực-hành lời nói đùa của các bạn trong buổi tiệc tại nhà P. là đem đờn kéo dạo ở mấy nhà ga. Nhưng bạn ạ! Chỉ vì một lẽ là tôi đã lên diễn đàn mấy lần trong những cuộc lễ của Tổng Hội Sanh Viên V.N tổ chức. Nếu tôi ra ngồi đờn hát như thế, sợ mất thể diện cho Hội. Còn về cá nhân tôi, tôi không ngại gì việc ấy…”

Hôm nay, tôi không ngờ hai cây đờn mà gia-đình anh Khê đã nhịn ăn một ngày để lấy tiền mua nó, nó đã giúp anh Khê đoạt giải nhì về âm nhạc cổ Việt Nam trước mấy ngàn đại-biểu sanh viên quốc-tế ở Budapest.

………./.

TRẦN VĂN KHÊ : TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc


TẠI ĐẠI NHẠC HỘI BUDAPEST TRƯỚC HÀNG 70 NƯỚC KHẮP NĂM CHÂU

Bạn Trần-văn- Khê đã lãnh giải nhì cho Việt-Nam về cổ-nhạc

Năm 1949, nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê đã “đơn thân độc mã” thi âm nhạc tại Đại nhạc hội Budapest (Hungari) với 70 nước tham gia rất “hoành tráng”. Ngay sau kỳ thi, chàng Trần Văn Khê đã gửi thư về nước báo tin vui. 

 tvk budapest 1949 1
TRẦN-VĂN-KHÊ trước khi Đại Hội Budapest – Ảnh Việt báo 18-1949

Tuần san Việt báo số 18-1949 ở Sài Gòn đã đăng toàn văn lá thư – bài viết này của chàng nhạc sĩ trẻ Trần Văn Khê, ngay sau trang 3 xã luận. Và hình bìa tạp chí là hình nhạc sĩ Trần Văn Khê.

TTO xin mạn đăng bài viết cách đây 66 năm này của chàng nhạc sĩ trẻ tài hoa Trần Văn Khê mà ngay từ lúc ấy đã có một  tình yêu dân tộc, quê hương mãnh liệt khi “đem chuông đi đấm xứ người”. 

[Bài đăng xin được phép giữ nguyên cách hành văn, từ dùng và quy cách chính tả của người Nam bộ, người Sài Gòn lúc ấy (1949)]

 tvk budapest 1949 2
 
Hình bìa tuần san Việt báo số 18-1949

“…Vẫn biết rằng nhờ toàn-dân Việt-Nam đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý-do chánh-trị, họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết-quả gì, nhưng tôi sung-sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quý của chúng ta”. – TRẦN-VĂN-KHÊ

Tại…

Gửi những anh chị em quen biết,

Budapest, 25-8-49

Tôi gởi thơ nầy để các bạn chia vui với tôi và để khoe với các bạn rằng trong kỳ thi đàn cổ với các nước tại Budapest, tôi đã đem GIẢI NHÌ cho Việt-Nam ngang hàng với Mông-cổ, thua Nga mà hơn Lỗ-ma-ni (Rumani) và Hung-gia-lợi (Hunggari).

Hôm tôi được mời lại Phòng Văn-Hóa của Đại-Nhạc-Hội Budapest để bàn về những cuộc tranh tài về nhạc và khiêu-vũ, tôi đã nói với những nhân-viên Phòng Văn-Hóa rằng: Nước Việt-Nam đã xa xôi lại còn đang tranh-đấu giành tự-do thành ra các nhân-tài vì nhiệm-vụ kháng chiến không thể dự Hội-nghị. Chúng tôi là những sinh-viên ở Âu-châu, bất tài, chỉ cố gắng trình-bày phần nào của văn-hóa Việt-Nam, vì đó là bổn-phận của chúng tôi chứ ra mà tranh tài với các nước thì chúng tôi không dám”.

Nhưng nhân-viên Phòng Văn-Hóa nói rằng: “Nếu Việt Nam không tranh tài về các môn đờn piano hay violon thì ít ra Việt-Nam cũng có một lối nhạc cổ đặc biệt và các nước như Mông-cổ, Hung-gia-lợi cũng sẽ đem nhưng cây đàn cổ thô sơ ra dự thi, anh cố gắng để Việt-Nam có thể góp mặt với các nước chớ!”.

Bảo tôi ra tranh tài thì tôi không dám. Nhưng bảo tôi rán dự thi để Việt Nam được góp mặt với các nước thì tôi khó thể chối từ. Thế là tôi nhận lời.

Về nhà tôi nói với anh em:

“Chắc chắn thể nào mình cũng hạng chót, nhưng ít ra trong lúc dự thi và khi có kết-quả, dầu hạng chót đi nữa, mình cũng làm cho tên tuổi Việt-Nam được người ta để ý thêm một chút. Tôi kỳ này thật là “liều mạng già” làm lý ra dự thi để cho tên Việt-Nam được nhắc nhở đến”.

Tuy nghĩ thế nhưng lòng vẫn phập phồng. Và chiều ngày 17-8-49 tôi o cây đàn cò “chết nhát” của tôi lại, gắn cục tòng chỉ cho ngay, thay dây mới, phủi bụi cây đàn tranh và nhấn dây cho nó êm dây. Đúng 4 giờ chúng tôi lại Magyar Synhez mà dự thi.

Trong lúc chờ đợi, tôi nghe người giới thiệu đọc bằng tiếng Nga, Pháp, Anh, Hung rằng hôm nay có những nước Tiệp-khắc, Hung-gia-lợi, Lỗ-ma-ni, Bảo-gia-lợi (Bungari) và Việt-Nam dự thi về nhạc và khiêu-vũ theo xưa; tôi đâm ra lo.

Đoàn Tiệp-khắc ra sân khấu với trên 80 thanh niên nam nữ hát những bài hát cổ và múa nhưng điệu đặc-biệt theo đồng quê.

Đoàn Bảo-gia-lợi đem trên 100 thanh-niên hợp-xướng những bản xưa và nhảy múa rầm rộ. Lại thêm có giàn nhạc violon đờn theo điệu triganest. Mặc dầu trời không nóng lắm mà tôi toát mồ hôi. Trời ơi! Người ta đi dự thi với hàng trăm người, với bao nhiêu bài hát điệu múa với cả giàn nhạc, mà tôi “đơn thân” với hai cây đàn quèn nầy tôi sợ làm xấu hổ cho Việt-Nam quá. Tôi nhớ lại ân hận rằng không năn nỉ anh Tư Huyện mượn cây đàn-cò cần, để cây đàn-cò bạch chảng của tôi ra sân-khấu dự-thi coi kỳ quá.

Trong khi đoàn Hung-gia-lợi ngoài nhiều lối khiêu-vũ theo xưa còn có thêm một giàn nhạc xưa với cây đàn giống như cây tam-thập-lục với mấy ống sáo bằng đồng bằng cây.

Đoàn Lỗ-ma-ni lựa ra hai người kỳ tài. Một em bé 13 tuổi thổi ông sáo 5 lỗ thổi những bài nhạc xưa giống tiếng sáo của mấy mục đồng đuổi trâu về xóm; một thiếu-nữ chỉ dùng một lá cây mà thổi một điệu nhạc xưa tiếng kêu tương tự như giọng kèn tiểu của nhạc ta. Rồi giàn đờn gồm có mấy cây đàn tam-thập-lục, đàn hình bầu dục như cây tỳ-bà. Thêm vào đấy bao nhiêu điệu múa tưng-bừng.

Chết tôi rồi! Áo tôi ướt đẫm mồ hôi, khi bỏ màn, người giới thiệu ra nói: “Bây giờ đến phiên anh V.K. biểu-diễn cổ nhạc Việt-Nam”.

Trái lại với quang cảnh tưng bừng màu sắc, rầm-rộ với những điệu khiêu-vũ trên sân khấu minh-mông chỉ “đơn thân” và “độc mã” với cây đàn xấu-xí.

Màn kéo lên.

Khán giả hơn ngạc nhiên vì từ 4 giờ tới bây giờ toàn những ban nhạc, những đoàn khiêu vũ bây giờ chỉ một người ngồi với một cây đàn dị kỳ.

Phóng viên các báo chụp hình. Ánh magne-sium làm chóa mắt tôi.

Khi lên dây xong, định thần lại, tôi thấy trên lầu 8 người giám khảo ngồi trước 8 tờ giấy trắng. Thính giả lặng thinh. Tôi nghe tim tôi đập mạnh.

“Cầu xin ông Tổ nhạc giúp cho tôi trong phen nầy”.

Những tay đàn lỗi lạc như Sáu Tửng, Tư Huyện, Sáu Quý, Chín Kỳ,v.v… các anh ở đâu để tôi lãnh trách nhiệm nặng nề là thay mặt cho cổ nhạc Việt- Nam đây?

Tôi bắt đầu rao ít câu. Tôi không rao theo các điệu cải lương. Tôi phỏng theo điệu sa-mạc rồi đặt ra nhiều câu với nhiều ngón run, ngón vuốt.

Hôm nay tôi để cả tâm hồn tôi vào đấy, tôi đàn bực trên rồi xuống bực đưới. Cả rạp im lặng nghe.

Dạo đàn trong 5 phút tôi ngâm 5 câu sa mạc vừa ngâm vừa đàn phụ họa theo. Dứt bài tiếng vỗ tay vang dậy cả rạp và họ vỗ mãi trong vòng gần 2 phút không ngừng. Tôi hơi vững lòng “lên tinh thần” lấy đàn tranh ra. Tôi nhấn trên một sợi dây đến 9 chữ đàn khác nhau. Phóng-viên các báo lại chụp hình một lần nữa. Tôi rao đàn tranh trong 5 phút lại bắt đầu ca bản “Bắc Cung Ai”. Lại cũng vừa đàn vừa ca. Trước khi ca tôi có cắt nghĩa sơ bằng tiếng Anh và tiếng Pháp ý nghĩa bài hát: “một thiếu phụ than thân trách phận”.

Tôi cố diễn tả sự đau đớn của thiếu-phụ bằng giọng ngân, bằng chữ nhất, bằng nét mặt, và khi dứt bài một tràng pháo tay vang dậy. Tôi phải trở ra chào thính-giả mấy lượt. Nhưng tôi nghĩ rằng chẳng qua là lối xã-giao chứ so với các giàn nhạc kia tôi còn cho mình kém quá.

Nhưng tôi đã rán hết sức tôi và tôi đã thành công: tôi đã làm được một số thính giả cảm động vì bài hát.

Nhiều phóng-viên các báo Hung, Tiệp, Lỗ đến hỏi tôi về cây đàn cò và đàn tranh và họ nói rằng đây là đầu tiên trong lịch-sử mà cây đàn tranh và đàn cò lên tiếng tại kinh đô nước Hung.

Cùng đi với tôi, anh Nguyễn-ngọc-Hà đờn bản Thiên-Thai bằng “guitare electrique” nhưng khi nhà báo đến hỏi cây đàn gì anh Hà bảo là cây đàn Lục-huyền cầm Hạ-uy-di cho nó có cái tên Việt-Nam. Anh Hà rất được hoan-nghinh với cây đờn ấy và có điều lạ là dân chúng Hung chưa nghe guitare hawaienne lần nào cả và rất thích giọng đàn uốn éo.

Làm xong phận sự, chúng tôi về ra sung sướng ở chỗ VIỆT-NAM CŨNG ĐÃ GÓP MẶT VỚI CÁC NƯỚC KHÁC trong cuộc tranh tài nầy.

Vài hôm sau nước Nga với một nhạc công danh tiếng biểu diễn balalaika và những cây đàn cổ khác, nước Mông Cổ với cây đàn tami lúc khẩy lúc kéo. Nhạc sĩ Mông-cổ kéo rất hay tiếng kêu như tiếng violoncelle.

Đến bữa 24-8-49, sau khi ban giám khảo cọng điểm lại thì cô thông ngôn hối hả chạy cho tôi hay. “Anh Khê này! Bốn giờ chiều nay anh lại Âm-nhạc-viện mà lãnh thưởng. Phòng Văn-hóa vừa cho hay anh được giải thưởng về nhạc. Anh thay đồ đi mau. Tôi có mấy lời khen anh đấy!”.

Thay đồ đi mà tôi vẫn nghĩ rằng có lẽ mình hạng chót nhưng họ cho giải an ủi hoặc một cấp bằng danh dự chi chi chớ chẳng lẽ mình hơn người ta.

Đến Âm-nhạc-viện thấy bao nhiêu đại biểu các nước ngồi thật. Trên bàn danh dự có Chủ-tịch Thanh niên thế giới, Chủ-tịch sinh viên thế giới, 14 viên giám khảo, các nhạc sư nhạc trưởng các nước.

Hôm ấy, Nga được tất cả 50 giải thưởng đàn violon, đàn piano, hợp xướng, độc xướng, kèn trompette v.v… các anh nhạc sĩ Nga hạng nhứt cả.

Đến phiên cổ nhạc, hạng nhứt anh Garayev (Nga) hạng nhì Biemian (Mông Cổ) và tôi (Việt-Nam), hạng ba Florika (Lỗ-ma-ni) và Beres (Hung-gia-lợi).

Khi kêu đến tên tôi, tôi đi lên sân khấu và trong lúc Chủ-tịch phiên nhóm bắt tay tôi và cả rạp vỗ tay, phóng-viên báo chụp hình, tôi sung sướng vì đại-biểu các nơi không phải hoan-nghinh cá nhân tôi mà hoan nghinh cả một nền cổ nhạc Việt-Nam, tôi sung-sướng vì tôi đã không làm hổ mặt Việt-Nam.

Và nói ra chắc bạn cười tôi sao yếu tánh chớ trong những trường-hợp thế nầy tôi thấy mặt tôi nóng bừng và nước mắt từ đâu tuôn dài theo má khi tôi trở về chỗ ngồi.

Lúc đứng trên sân khấu tôi cố dằn và rán cười nhưng khi về đến chỗ ngồi lại thấy nước mắt đâu nó tuôn ra như thế?

Dở quá bạn nhỉ? Nhưng nhạc-sĩ nào lại chẳng dễ cảm xúc hơn người!

Hôm sau, khi các báo đăng kết quả, khi các đài phát thanh loan báo tin các cuộc tranh tài, nhiều bạn nhạc-sĩ các nước tìm tôi hỏi thăm về âm-nhạc Việt-Nam, về những cây đàn cổ. Tiếc rằng tôi không có những cây đàn sến, đàn kìm, đàn tỳ bà, đàn độc huyền để cho họ biết thêm, vì khi qua Pháp tôi chỉ đem được có hai cây đàn cũ mua lại của người ta. Nhưng hiện giờ tôi quí hai cây đàn ấy lắm. Chúng nó đã giúp tôi trong khi tôi trình bày cổ nhạc Việt-Nam và hôm 24-8, có lẽ tôi đã sống được một phút cảm động nhứt trong đời nhạc của tôi.

Vẫn biết rằng nhờ toàn dân V.N. đang anh-dõng tranh-đấu, nhờ những lý do chính-trị họ phải để cho Việt-Nam có một hai kết quả gì, nhưng tôi sung sướng vì đã được đem chút tài mọn mà phụng-sự Tổ-quốc: nước Việt-Nam yêu quí của chúng ta.

TRẦN-VĂN-KHÊ

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20150625/ban-tranvan-khe-da-lanh-giai-nhi-cho-vietnam-ve-conhac/766839.html

http://chengdec.blogspot.fr/2015/06/giao-su-tran-van-khe.html

Nhớ tác giả Quốc ca – ‘bậc tài danh thế kỷ’


Thứ năm, 27/08/2015 – 12:00

Nhớ tác giả Quốc ca – ‘bậc tài danh thế kỷ’

Văn Cao là một trong những nhạc sĩ thuộc lớp tiền bối của nền tân nhạc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn gắn chặt và hoà trộn với dòng chảy lịch sử của dân tộc. Nhiều tác phẩm của ông đã trở thành di sản âm nhạc quý báu của nước nhà. Trong đó, có tác phẩm Tiến quân ca – Quốc ca Việt Nam – mà ông là tác giả.
 >> “Sẽ không bàn thêm về tiền bản quyền ca khúc Tiến quân ca”
 >> Thanh tra Bộ Văn hóa yêu cầu dừng việc thu tiền bản quyền “Tiến quân ca”

Không chỉ là một nhạc sĩ tài năng, Văn Cao còn viết văn xuôi, làm thơ và vẽ tranh. Dù ở lĩnh vực nào, ông cũng gặt hái được những thành công nhất định.

Người nghệ sĩ tài hoa và những ca khúc trữ tình nổi tiếng

Văn Cao, một tài hoa thiên bẩm, nhạc sĩ của nhiều bài hát rung động lòng người, những bài hát trở thành một phần trong tài sản tinh thần của biết bao thế hệ người Việt. Những bài hát của Văn Cao trên thực tế được quảng đại quần chúng ưa thích, bất kể nó là tình khúc hay ca khúc.

Nhạc sĩ Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, ông sinh ngày 15/11/1923 trong một gia đình nghèo ở Hải Phòng. Ông là người thuộc thế hệ thanh niên ưu tú, giàu lòng yêu nước, được tiếp thu những tinh hoa của văn hoá Đông Tây. Những tác phẩm của ông đã mang lại cho người nghe, người xem một lối cảm thụ nghệ thuật mới.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhạc sĩ Văn Cao tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 7/12/1989. Ảnh: Quang Phùng

Văn Cao bước vào con đường nghệ thuật khá sớm, khi mới ở tuổi thiếu niên. Đầu tiên ông xuất hiện ở làng văn nghệ bằng những vở kịch và truyện ngắn, sau đó Văn Cao chuyển sang thơ và nhạc.

Đúng như giới văn nghệ sĩ đánh giá, Văn Cao là một nghệ sĩ tài hoa trên cả ba lĩnh vực: Thơ, họa, nhạc. Ngay từ trước cách mạng, Văn Cao đã là một nhạc sĩ tài danh với những ca khúc trữ tình nổi tiếng. Bài hát đầu tay của ông viết năm 1939 tại Hải Phòng là Buồn tàn thu, tiếp sau đó là những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng với những ca từ đạt đến độ hoàn mỹ: Thiên thai, Suối Mơ, Trương Chi, Bến xuân, Cung đàn xưa, Đàn chim Việt…

Tuy đa phần những ca khúc đó đều chứa đựng một tâm sự buồn của bản thân ông, nhưng đó thực sự là những khúc tình ca bất hủ không chỉ của riêng ông mà còn của cả nền âm nhạc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua. Bên cạnh những sáng tác nhạc trữ tình, Văn Cao còn có những hành khúc hùng tráng lấy đề tài từ lịch sử dân tộc như: Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca viết cho tráng sinh Hướng đạo thuộc nhóm “Đồng Vọng” của nhạc sĩ Hoàng Quý – một nhóm nhạc nổi tiếng ở Hải Phòng trước cách mạng.

Trong lĩnh vực thơ ca, độc giả biết đến Văn Cao với những vần tự sự về chính cuộc đời ông, về quê hương, về cuộc sống tự do với bạn bè; biết đến những vần thơ đau thương nhất của ông về cuộc sống cùng cực của người dân nghèo nơi xóm ả đào, nẻo nhà ga, lề đường, góc chợ. Đối với Văn Cao, “người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng, cảm xúc và cảm giác trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây dựng”.

Với bài thơ đầu tiên Một đêm đàn lạnh trên sông Huế và tiếp theo là: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Bến Ngự trên thương cảng, Ngoại ô mùa đông năm 1946, Những người trên cửa biển, Với Nguyễn Huy Tưởng, Với Nguyên Hồng…, ông đã để lại trong lòng độc giả nhiều thế hệ những tình cảm đặc biệt.

Nói đến Văn Cao, người ta không thể không nhắc đến lĩnh vực hội họa. Ở lĩnh vực này, ông là một họa sĩ sử dụng cọ và mầu cũng sắc sảo, mặn nồng không thua gì các họa sĩ chuyên nghiệp. Ông đã có những bức tranh minh họa, những bìa sách và nhiều bức sơn dầu nổi tiếng. Đặc biệt, với lối vẽ tranh sơn dầu bằng hình thức và nội dung mới, bức họa đầu tay Cuộc khiêu vũ của những người tự tử được Văn Cao trưng bày tại Phòng triển lãm Duy nhất (Hà Nội-1944) đã làm giới mỹ thuật ngạc nhiên về bút pháp và màu sắc.

Người nhạc sĩ – chiến sĩ với dấu ấn lịch sử Tiến quân ca – Quốc ca

Năm 1944, là năm chuyển biến trong cuộc đời của Văn Cao. Sau khi được đồng chí Vũ Quý giác ngộ cách mạng, ông đã tham gia hoạt động bí mật. Văn Cao viết và phụ trách ấn loát cơ quan Phan Chu Trinh in sách báo và truyền đơn bí mật. Cũng trong hoạt động, nhận chỉ thị của tổ chức viết một hành khúc cho quân đội cách mạng của Việt Minh, ông đã sáng tác Tiến quân ca vào cuối năm 1944 tại căn gác số 171 phố Mông Grăng (nay là nhà 45 phố Nguyễn Thượng Hiền, Hà Nội).

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhạc sĩ Văn Cao tại nhà nhạc sĩ Văn Cao mồng 5 Tết Nhâm Thân (1992)- Ảnh: Nguyễn Đình Toán 

Đây là một hành khúc mang đầy tính dự báo và gây được nhiều ảnh hưởng tích cực cho phong trào cách mạng. Tiến quân ca thực sự trở thành hồn dân tộc, hồn nước, làm xốc dậy tinh thần của những quân du kích, những binh đoàn, những quân đoàn và cả những người dân Việt Nam bình thường nhất. Sau đó không lâu, ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định chọn Tiến quân ca làm Quốc ca nước Việt Nam. Năm 1993, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam một lần nữa khẳng định vị trí bất di bất dịch của Tiến quân ca là Quốc ca nước Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vừa làm trình bày, kiêm bảo vệ báo Lao Động, Văn Cao nhanh chóng hoàn thành bộ “tứ bình” bài hát cho lực lượng vũ trang non trẻ, đó là: Chiến sĩ Việt Nam, Hải quân Việt Nam, Không quân Việt Nam và Bắc Sơn – một hành khúc dành cho lực lượng dân quân du kích.

Toàn quốc kháng chiến, Văn Cao cùng gia đình ra khu 3 vùng chợ Đại. Ngay đầu năm 1947, ông được cử phụ trách một bộ phận điều tra đặc biệt của công an liên khu 10 ở Lào Cai và làm báo “Độc Lập”. Hoàn thành nhiệm vụ sau Chiến thắng Sông Lô, Văn Cao đã sáng tác trường ca hoành tráng Sông Lô tại chiến khu Việt Bắc. Đây là tác phẩm đã để lại dấu ấn rực rỡ; một hình thức độc đáo trong các thể loại thanh nhạc của Việt Nam. Toàn bài chia làm nhiều đoạn, bằng nhiều tốc độ khác nhau, ông muốn vươn lên khỏi những hình thức của thể loại ca khúc bình thường. Giai điệu đẹp, ca từ mang nhiều chất thơ. Sự nối tiếp trong cấu trúc các đoạn hợp lý, khiến cho trường ca có sức hấp dẫn riêng, đặc biệt.

Sau khi được kết nạp Đảng tháng 3-1948, Văn Cao về lại Liên khu 3 công tác phong trào văn nghệ, trình bày báo Thủ đô của ủy ban Hành chính Hà Nội. Trong thời gian này, ông viết Làng tôi, Ngày mùa và đặc biệt là hành khúc trữ tình Tiến về Hà Nội. Hành khúc trữ tình Tiến về Hà Nội được sáng tác vào năm 1949, trước ngày giải phóng Thủ đô 5 năm, nhưng đó cũng là một hành khúc mang tính dự báo rất lãng mạn và hùng ca của Văn Cao: “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh”. Cho đến tận bây giờ, âm hưởng và hình bóng của ca khúc vẫn còn in đậm trong tâm hồn các thế hệ người Việt Nam.

Rồi như là một người có tài dự đoán và đón bắt lịch sử, nhạc sĩ Văn Cao đã sáng tác ca khúc Ca ngợi Hồ Chủ tịch. Với tính chất âm nhạc trang nghiêm, sâu sắc Ca khúc Ca ngợi Hồ Chủ tịch là một trong những ca khúc mang màu sắc, phong cách rất riêng của Văn Cao.

Sau chiến thắng Mùa xuân năm 1975, đất nước ta trong khí thế chuyển mình bước vào thời kỳ mới. Mùa xuân năm 1976, sau ba mươi năm xa cách, hai miền Nam Bắc mới được chung vui một cái Tết thống nhất. Niềm hân hoan ấy ngập tràn trong mỗi người dân đất Việt, trong đó có các văn nghệ sĩ. Văn Cao sau nhiều năm vắng bóng trong mảng ca khúc Việt Nam trở về với chính mình…

 

Nhạc sĩ Văn Cao qua nét ký họa của Hùng Văn và bút tích chép tay câu chuyện Tiến quân ca của nhạc sĩ

Trong không khí rạo rực của những ngày đầu mùa xuân năm 1976 bình yên ấy, giai điệu của một bản nhạc Valse nhẹ nhàng định hình trong đầu ông. Lời đầu tiên trong ca khúc Mùa xuân đầu tiên, Văn Cao đưa đến cho người nghe những nét quen thuộc giản dị mà xiết bao ấm áp: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về. Mùa bình thường mùa vui nay đã về. Mùa xuân mơ ước ấy đã đến đầu tiên. Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông. Một trưa nắng vui cho bao tâm hồn”.

Sau một thời gian dài vắng bóng, kể từ sau khi viết Tiến về Hà Nội (1949) nhiều người tưởng thời ca khúc của Văn Cao đã khép lại. Trong nhiều năm, ông làm thơ, viết khí nhạc, vẽ minh họa để kiếm sống và tạm lãng quên sáng tác ca khúc. Thật đáng mừng vì một “Mùa xuân mới” đã về với dân tộc, đem lại sự phục sinh trong tâm hồn người nghệ sĩ. Giữa bao ca khúc khải hoàn rộn rã của ngày chiến thắng, người ta vẫn bắt gặp một tiếng reo nén lại của ông. Sự lắng lại để chiêm ngưỡng và suy ngẫm về niềm vui của một mùa xuân mới bình yên ở đây cũng chính là sự lắng lại của một đời người từng trải qua nhiều đau thương và mất mát. Mùa xuân đầu tiên không là một dự cảm tất thắng như trong Tiến về Hà Nội, mà như là một sự khẳng định chân lý bình thường sẽ và đã trở lại với cuộc sống con người. Ca khúc khép lại, nhưng giai điệu của nó một lần nữa khẳng định cái “Mùa bình thường” ấy sẽ mãi mãi ở lại cùng ông và đất nước.

Cho đến nay bản lĩnh sáng tạo trong ca khúc của Văn Cao được ghi nhận là sự tổng hợp hài hoà của nhạc-hoạ-văn-thơ. Giai điệu âm nhạc của ông bao giờ cũng đẹp, uyển chuyển; ca từ được gọt rũa kỹ, hình ảnh đẹp. Đúng như sự đánh giá của nguyên Tổng Bí thư Đảng Đỗ Mười: Văn Cao – “người nhạc sĩ đầy tài năng” của nền âm nhạc Việt Nam.

Với những cống hiến trọn đời cho nền âm nhạc dân tộc, năm 1993, Văn Cao đựợc Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc Lập hạng Nhất. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt I cho các ca khúc: Tiến quân ca (1944), Chiến sĩ Việt Nam (1945), Làng tôi (1947), Sông Lô (1947), Tiến về Hà Nội (1948), Ca ngợi Hồ Chủ tịch (1950).

Theo Thông tin tư liệu – TTXVN

http://dantri.com.vn/van-hoa/nho-tac-gia-quoc-ca-bac-tai-danh-the-ky-20150827130829963.htm

NGÀNH MAI /thông tín viên RFA : Ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ


 

Ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ

Ngành Mai, thông tín viên RFA
2015-08-22
chuanghes620i700.jpg

Chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp

Photo by giacngo.vn

Nếu như tính theo Âm lịch thì ngày Rằm tháng Bảy là một trong 3 ngày lễ lớn trong năm, gồm Thượng Nguơn (tháng Giêng), Trung Nguơn (tháng Bảy) và Hạ Nguơn (tháng Mười). Đặc biệt Rằm tháng Bảy lại kèm theo “ngày báo hiếu” dựa theo sự tích Mục Liên – Thanh Đề, và cũng đồng thời là “tháng cúng cô hồn” được phổ biến rộng rãi trong nhân gian, hầu như ai cũng biết. Do nhiều sự kiện quan trọng ở cái tháng Bảy trong lịch sử văn hóa dân tộc này, mà thiên hạ đi cúng chùa rất đông, và đây là tập tục đã có từ lâu đời trong xã hội Việt Nam.

Ở đây tôi không nói về lịch sử ngày Rằm tháng Bảy được ghi lại rất nhiều trong kinh sách của Phật Giáo, có liên quan đến tiền thân Đức Phật Mục Kiền Liên Bồ Tát. Và cũng không đề cập đến câu chuyện 12 cửa ngục Âm Phủ, với hình ảnh ghê sợ mà người gây nên tội ở trần gian, khi thác xuống phải chịu hình phạt. Mà trong buổi nói chuyện này tôi chỉ đề cập đến sự thể, hình ảnh diễn ra ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ Gò Vấp trong ngày Rằm tháng Bảy hằng năm mà thôi!

Rằm tháng Bảy thì hầu hết các ngôi chùa Phật đều làm lễ cúng lớn, nhưng Chùa Nghệ Sĩ thì lại mang một sắc thái riêng biệt mà các chùa khác đã không có, do bởi ngoài việc cúng kiến làm lễ theo nghi thức cổ truyền, chùa còn có thêm trình diễn cải lương, và khách thập phương đi… tảo mộ.

Từ nhiều năm nay ở Chùa Nghệ Sĩ cứ đến ngày Rằm tháng Bảy thì tờ mờ sáng là khách thập phương đã chen chân đến chùa hành lễ, và cứ mỗi lúc đông dần. Cảnh chùa luôn tấp nập, nghẹt hết lối đi từ sáng cho đến chiều tối, ước tính từ có trên một vạn khách đến chùa.

Do biết chùa này lễ nào cũng đãi cơm chay gồm nhiều món ăn ngon cho toàn bộ khách thập phương, và năm nào số lượng người đến dùng cơm chay ở chùa cũng đông quá mức. Không cao lương mỹ vị nhưng ai cũng ngồi vào bàn ăn một miếng cơm chay thanh khiết để “lấy lộc”, mong những điều bình an, tốt đẹp sẽ đến với mình. Ban trụ trì chùa tuy mệt đừ nhưng rất hài lòng vì đã phục vụ khách thập phương tốt, tạo được uy tín cho chùa.

Hoạt động nổi bật nhứt ở Chùa Nghệ Sĩ là chương trình văn nghệ, ca cổ nhạc và trình diễn trích đoạn cải lương, do bởi rất nhiều nghệ sĩ tài danh tên tuổi về góp mặt. Hội trường của chùa có sân khấu, tuy không rộng như rạp hát, cũng chứa khoảng 200 người, nhưng thông thường năm nào cũng vậy, số người coi hát nhiều gấp mấy lần sức chứa của khán phòng.

Các nghệ sĩ, soạn giả, đạo diễn, ký giả kịch trường, và những người làm công tác sân khấu về tụ tập rất nhiều, riêng giới nghệ sĩ thành phố thì rất đông đảo, họ tự động về chớ không ai mời gọi. Khán giả được dịp diện kiến mặt thật các nghệ sĩ – những thần tượng của họ. Quay phim, chụp hình chung, xin chữ ký… giữa nghệ sĩ và khán giả luôn diễn ra ở mọi lúc,  mọi nơi trong ngày lễ này.

Trước tình hình sân khấu khốn đốn, các đoàn gần như ngưng hoạt động; anh chị em nghệ sĩ, diễn viên, tác giả, đạo diễn, nhạc công, họa sĩ, công nhân… ít có cơ hội gặp nhau nên đây là dịp để họ hàn huyên tâm sự.

Từ 60 năm trước ở vùng Hạnh Thông Tây, Gò Vấp có một miếng đất rộng khoảng 8 ngàn thước vuông gần như bỏ hoang, không có nhà cửa người dân, bởi quanh đây là thành lính, căn cứ quân sự của quân đội viễn chinh Pháp. Mảnh đất được các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu đại diện Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu mua để xây cất ngôi chùa, và phần lớn đất đai còn lại thì làm nghĩa trang nghệ sĩ.

Việc cúng kiếng hành lễ ở Chùa Nghệ Sĩ cũng giống như nhiều ngôi chùa khác ở trong vùng, nhưng có sự khác biệt là khách thập phương ngoài việc cúng chùa thắp hương lạy Phật, họ còn đi coi cải lương như đã nói, và còn đi tảo mộ ở nghĩa trang cạnh bên. Đặc biệt ngày Rằm tháng Bảy thì quá rõ, người đi thăm mồ mả quá đông đã vô tình tạo nên một nét đặc thù mà có lẽ chỉ ở đây mới có.

Không riêng gì người nghệ sĩ đi cúng chùa, rồi sẵn đó tấp qua thăm mộ những người cùng Tổ nghiệp, mà những người tuy không phải nghệ sĩ nhưng lại có liên quan đến các cô đào, anh kép quá cố đang nằm ở nghĩa trang, thì họ cũng nhân ngày Rằm tháng Bảy vừa đi cúng chùa, vừa vào đây thăm mộ luôn. Lại có cả những khán giả cải lương sẵn dịp cũng vào thăm mộ thần tượng của họ lúc sinh tiền, như trường hợp nghệ sĩ Thanh Nga, rất nhiều người bao quanh ngôi mộ của cô nhân ngày Rằm tháng Bảy này.

Từ giữa thập niên 1960 trở về trước, người đi cúng chùa không nhiều, và người viếng mộ nghệ sĩ cũng lưa thưa, nhưng dần dần về sau thì nghệ sĩ cải lương già yếu cứ nối tiếp nhau vào đây “nghỉ xả hơi dài hạn”, thì con số người đi cúng chùa đông đảo hơn nhiều, và số người đi viếng nghĩa trang cũng tăng theo.

Rồi kể từ đầu thập niên 1990 trở về sau thì cảnh tượng ngày Rằm tháng Bảy ở chùa nghệ sĩ vô cùng tấp nập. Thiên hạ chen chúc nhau vào chùa lạy Phật cầu nguyện. Sau đó thì một số không ít đã kéo nhau ra nghĩa trang cạnh bên để thắp hương cho các ngôi mộ với ước vọng gì đó không hiểu, mà người nằm ở đây có hiểu được chăng để chứng cho tấm lòng của họ? Rất khó mà có câu trả lời vậy!

Khói hương nghi ngút trong ngày này, hình như ngôi mộ nào cũng được đốt nhang. Do bởi ngoài việc thắp hương ngôi mộ chính thức mà họ đi viếng, người ta cũng không tiếc gì bó nhang đang cháy còn lại, nên đã cắm luôn cho những ngôi mộ xung quanh.

Tiếng chào nhau, tiếng hỏi thăm, kể cả tiếng mời gọi coi bói coi tay, hòa lẫn tiếng rao hàng inh ỏi của mấy bà mấy chị bán nhang, bán giấy tiền vàng bạc, mỗi người một tiếng đã tạo nên âm thanh hỗn tạp, ồn ào trong khu đất nghĩa trang này. “Mộ nghệ sĩ A ở đâu, mả nghệ sĩ B ở chỗ nào?” Đó là các câu hỏi mà người chưa biết ngôi mộ mình muốn đi thăm nằm ở đâu.

Các em nhỏ ở đây khá rành, các em biết rõ và sẵn sàng hướng dẫn.

Dĩ nhiên khi khách xác định ngôi mộ thì các em được cho tiền, nhiều ít tùy theo sự hào hiệp của khách. Ngày Rằm tháng Bảy cũng là dịp để các người bán nhang dạo quanh chùa kiếm tiền, bởi có ai đi thăm mộ mà không đốt nhang?

Tóm lại cảnh tượng ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa Nghệ Sĩ đã vô tình biến thành ngày “Lễ Thanh Minh” hằng năm của giới nghệ sĩ, cùng các thành phần liên hệ. Và trong câu thơ tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du nếu như đem áp dụng ở đây thì sẽ là “Thanh Minh nhằm tiết tháng… Bảy”.

Trên đây là cảnh tượng ngày Rằm tháng Bảy ở Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ Gò Vấp. Phần sau đây là nói về khu đất nghệ sĩ trong khuôn viên Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương, bởi nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp đã không còn được chôn cất, thì chỉ có ở Bình Dương mới có khu đất dành cho giới nghệ sĩ chớ chẳng còn ở đâu khác. Do vậy mà rất nhiều nghệ sĩ về già đã nhắm vào đây làm nơi an nghỉ khi linh hồn về với Tổ nghiệp. Hiện nay khu đất này đã có một số văn nghệ sĩ gởi thân xác, thì ngày Rằm tháng Bảy năm nay cũng có ít nhiều người thân của nghệ sĩ đến viếng thăm.

Thế nhưng, đã có mấy ai nghĩ rằng càng về sau mộ nghệ sĩ ở đây sẽ tăng lên nhiều, lên nhanh, và khu đất dành cho nghệ sĩ có thể trở thành “làng nghệ sĩ” trong tương lai. Mà nếu đúng như vậy thì phải nghĩ rằng có 2 lý do chính:

1) Nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp đã “đóng cưả  ” thì nghĩa trang Bình Dương lại mở cửa đón nhận. Người nghệ sĩ nào cũng muốn mình được “đoàn tụ” với người cùng chung Tổ nghiệp, vì biết đâu một ngày kia (nếu có) họ sẽ cùng lên sân khấu đóng chung một tuồng hát cải lương, dù rằng ở bên kia thế giới, bởi vì lòng yêu nghề rất cao của họ.

2) Do đường lối chủ trương của Ban quản trị Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương, đã xét đến công lao làm đẹp cho đời của người nghệ sĩ, mà giúp đỡ cho họ được giảm phần nào chi phí “định cư” vĩnh viễn ở đây.

Đã có người nói rằng, sau này “làng nghệ sĩ” Bình Dương cũng có thể sẽ không còn chỗ chôn, như trường hợp nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp hiện giờ. Không chóng thì chầy, thời gian có thể hơn nửa thế kỷ, nếu như không tính trước ngay từ bây giờ, thế hệ sau sẽ gặp phải khó khăn. Rồi thì việc gì đến nó sẽ đến thôi!

Cũng nên hiểu thêm rằng khi xưa lúc Má Bảy Phùng Há, và nghệ sĩ lão thành Năm Châu đi tìm mua đất lập nghĩa trang cho giới nghệ sĩ, thì lúc ấy số nghệ sĩ cải lương không nhiều. Các nghệ sĩ như Hữu Phước,Thành Được, Minh Cảnh, và luôn cả căp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng cũng chưa xuất hiện, hầu hết nghệ sĩ trúng giải Thanh Tâm cũng chưa vào nghề. Nhưng chỉ hơn một thập niên sau thì số người gia nhập làng cải lương tăng nhanh, và qua đời cũng nhiều, đưa đến tình trạng “quá tải”, đất nghĩa trang nghệ sĩ ngày càng thu hẹp, hồi mấy chục năm trước đâu có ai nghĩ đến. Bởi vậy ban quản trị nghĩa trang Gò Vấp đã có quy trình lấy cốt những ngôi mộ lâu ngày, hỏa thiêu xong đặt vào trong cái am, để có đất trống chôn người khác.

Thế nhưng, “con người tính không qua trời tính”, công việc đang tiến hành thì chính quyền ra lệnh cấm không cho chôn cất ở đây nữa vì ô nhiễm môi trường, bởi vùng đất Gò Vấp không còn là đất hoang như hồi mới mua mà đã trở thành đô thị hóa.

Như vậy coi như quy trình lấy cốt thiêu đốt đặt vô am đã đương nhiên dừng lại, bởi không cho chôn nữa thì lấy cốt lên làm chi cho tốn kém chớ!

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/mid-of-july-at-nghesi-pagoda-cemetery-08222015085220.html