WIKIPEDIA: tiểu sử nhạc sĩ ANH BẰNG


Anh Bằng

Anh-Bang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Anh Bằng
Tên khai sinh Trần An Bường
Sinh 1926
Nga Điền, Nga Sơn, Thanh Hóa
Nghề nghiệp Nhạc sĩ
Thể loại Nhạc vàng, tình khúc 54-75, Nhạc trẻ, nhạc hải ngoại
Ca khúc tiêu biểu Chuyện tình Lan và Điệp, Anh còn nợ em, Khúc thụy du, Nỗi lòng người đi, Chuyện hoa sim, Tình là sợi tơ, Tango tím, Tình yêu tuyệt vời

Anh Bằng (sinh năm 1926) là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam với số lượng sáng tác khoảng 650 tình khúc để lại cho đời. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu dòng của dòng nhạc vàngnhạc hải ngoại, là người đã sáng lập Trung tâm Asia vào năm 1981.

Ngoài những tác phẩm của chính ông, Anh Bằng còn là một trong nhóm ba người hợp tác soạn nhạc với bút hiệu Lê Minh Bằng.

Mục lục

Tiểu sử

Anh Bằng tên thật Trần An Bường, sinh năm 1926[1] tại thị tứ Điền Hộ, nay thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa giáp giới tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía Nam. Năm 1935 ông xa gia đình để học Tiểu chủng viện Ba Làng tại huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, sau đó ông lại tiếp tục theo học trung học ở Hà Nội. Vì gia đình anh em ông chống Việt Minh, vào thời kỳ Kháng Pháp, ông bị Việt Minh bắt giam ở trại Lý Bá Sơ. Các anh em ông bị tuyên án tử hình nhưng sau được thả, riêng người anh Trần An Lạc bị Việt Minh thủ tiêu. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn cho đến năm 1975.

Trong thời kỳ 1954 – 1975, nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như “Nỗi lòng người đi” (đanh dấu cuộc di cư vào Nam), “Nếu vắng anh” (phổ từ bài thơ “Cần thiết” của nhà thơ Nguyên Sa), “Hoa học trò (Bây giờ còn nhớ hay không)”, “Người thợ săn và đàn chim nhỏ”… đã được các ca sĩ Tuấn Ngọc, Ngọc Lan, Khánh Ly thể hiện rất thành công.

Ông gia nhập Quân lực Việt Nam Cộng hòa năm 1957 ngành Công binh sau chuyển sang Nha Chiến tranh Tâm lý trong Đại đội 2 Văn nghệ đến năm 1962 thì giải ngũ. Cũng trong thời gian trong quân đội, ông là đạo diễn cùng là diễn viên trong ban kịch Liên đoàn Công binh lưu diễn từ Quảng Trị vào Bình Định.[2] Anh Bằng sáng tác vở kịch Đứa con nuôi. Tác phẩm này đoạt “Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc” thời Đệ nhất Cộng hòa. Những vở kịch khác do ông soạn tiếp theo nhau ra đời là Hoa Tàn Trên Đất Địch, Lẽ SốngNát Tan.[3] Sau khi giải ngũ ông tiếp tục hoạt động trên đài truyền thanh VTVN, phụ trách ban Sóng Mới.

Cũng vào thời gian hoạt động ở Sài Gòn, Anh Bằng ông hợp tác trong nhóm Lê Minh Bằng quản lý nhà xuất bản và hãng đĩa Sóng Nhạc. Quán cà phê Làng Văn nổi tiếng một thời ở Sài Gòn cũng do ông kinh doanh.

Năm 1975, Anh Bằng cùng gia đình di tản sang Mỹ ở độ tuổi 50, và vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassette Dạ Lan (19811990). Thời gian sau này ông cộng tác với Trung tâm Asia. Thời kỳ tại hải ngoại, ông sáng tác nhiều ca khúc, đáng kể có “Anh còn nợ em”, “Căn gác lưu đày”, “Chuyện giàn thiên lý”, “Khúc thụy du”, “Kỳ diệu”, “Mai tôi đi”…

Trung tâm Asia tại Hoa Kỳ đã thực hiện một số chương trình ca nhạc và DVD để vinh danh ông, như Asia 15: Tình ca Anh Bằng (1997), Asia 52: Huyền thoại Lê Minh Bằng (2007), Asia 62: Anh Bằng – Một đời cho âm nhạc (2009), Golden Asia DVD 1: Anh Bằng – Dòng nhạc lưu vong (2011).

Gia đình

Nhạc sĩ Anh Bằng có con gái là Thy Vân, người đã đứng ra quản lý Trung tâm Asia, sau đó chuyển giao lại nhạc sĩ Trúc Hồ. Ngoài ra những người con khác của Anh Bằng là Dân, Việt, Nam, Trần An Thanh[4], Trần Ngọc Sơn (tác giả ca khúc Hạnh phúc lang thang) [5]

Nhóm Lê Minh Bằng

Bài chi tiết: Lê Minh Bằng

Năm 1966, Anh Bằng cùng với hai nhạc sĩ khác là Lê DinhMinh Kỳ thành lập một nhóm sáng tác nhạc, ký chung tên là Lê Minh Bằng. Các hoạt động chính của nhóm bao gồm:

  • Mở lớp dạy nhạc có tên là “Lớp Nhạc Lê Minh Bằng” tại địa chỉ số 102/8 đường Hai Bà Trưng, Tân Định, Sài Gòn. Ba nhạc sĩ thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý, ký âm) và thực hành (luyện giọng, xướng âm).
  • Thành lập ban nhạc “Sóng Mới”, chuyên trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn.
  • Cố vấn cho giám đốc hãng đĩa hát Asia là ông Nguyễn Tất Oanh trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ.
  • Phụ trách trong việc tổ chức chương trình “Tuyển Lựa Ca Sĩ” được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh, do Đài Phát thanh Sài Gòn thực hiện.
  • Sáng tác, xuất bản, và phổ biến nhiều ca khúc mới dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Lê Minh Bằng, Vũ Chương, Mạc Phong Linh, Mai Thiết Lĩnh, Mai Bích Dung, Dạ Ly Vũ, Dạ Cầm, Giang Minh Sơn, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Tôn Nữ Thụy Khương, Phương Trà, Huy Cường,Vương Đức Long, TH…

Danh mục tác phẩm

Tên ca khúc Năm sáng tác Viết chung Phổ thơ, lấy ý từ Ghi chú
Ai bảo em là giai nhân “Một mùa đông” của Lưu Trọng Lư
Áo dài quê hương
Áo trắng
Anh biết em đi chẳng trở về Thái Can
Anh còn nợ em Phan Thành Tài
Anh còn yêu em 2008 Phan Thành Tài
Anh cứ hẹn Hồ Dzếnh
Anh không lại
Ánh trăng tan
Bài ca của đêm Nguyễn Trầm Nguyễn
Bài thơ đan áo T.T.Kh.
Bây giờ còn nhớ hay không “Hoa học trò” của Nhất Tuấn[6]
Bây giờ còn yêu
Bẽ bàng
Binh méo Cai tròn 1966
Bỏ phố Đà Lạt Hoàng Ngọc Ẩn
Bóng đêm cổ động chiến dịch Chiêu hồi[7]
Bốn ngả đường quê hương
Buồn xa nhà 1976
Bướm trắng Nguyễn Bính
Cánh phượng hồng thưở xưa 2013 Trịnh Bửu Hoài
Cả nước đấu tranh 2012 Lê Dinh chống sự xâm lược của Trung Quốc
Cám ơn Phật 2007 Thanh Trí Cao
Căn gác lưu đày
Căn nhà ngoại ô 1966
Chấp nhận
Chia tay hư ảo BH
Chiều chủ nhật
Cho kỷ niệm mùa đông
Chủ nhật buồn 1969
Chuyện giàn thiên lý 1, 2 “Nhà tôi” của Yên Thao
Chuyện hoa sim Hữu Loan
Chuyện hoa tigôn T.T.Kh
Chuyện một đêm 1968 Tổng công kích Tết Mậu Thân
Chuyện người con gái ao sen
Chuyện tình hoa mai Nguyễn Bính
Chuyện tình hoa trắng Kiên Giang
Chuyện tình Lan và Điệp 1, 2, 3
Chuyện tình mùa thu 2011
Chuyện tình Trương Chi
Chuyện tình yêu
Chuyến xe hoa buồn
Có một ngày Nguyễn Khoa Điềm
Cô bé môi hồng thơ của Như Mai
Cỗ bài tam cúc Hồ Dzếnh
Cõi buồn “Cõi nào buồn hơn” của Phong Vũ
Con đường Việt Nam nhạc của Trúc Hồ
Con Rồng cháu Tiên Trúc Hồ
Còn có bao giờ em nhớ ta Quang Dũng
Còn yêu trọn đời
Cuối mùa mưa
Dĩ vãng một loài hoa
Dù nắng có mong manh
Đà Lạt xa nhau
Đánh cờ người
Đêm không ngủ
Đôi bóng
Đừng nói yêu tôi
Đừng như công chúa 2011 Nguyễn Nhật Ánh
Đừng sợ hãi
Đừng xa em BH
Điệp khúc thương đau
Đường khuya
Em mãi còn tình đầu 2012
Ghé lại một đêm
Gia tài của nó 2012
Giấc ngủ cô đơn
Gõ cửa
Gọi anh mùa xuân Trần Mộng Tú
Gót chinh nhân
Hai mùa mưa
Hai mươi bốn giờ phép
Hạnh phúc lang thang Trần Ngọc Sơn
Hận tình 1970
Hẹn anh đêm nay
Hẹn người kiếp sau 2012
Hoa học trò “Hoa học trò” của Nhất Tuấn
Hồi chuông xóm đạo Kiên Giang
Huế bây chừ
Huế đã xa rồi 2013
Huế xưa
Huynh đệ chi binh 1966
Kể chuyện đêm vô cùng Việt Phương
Khi mình xa nhau
Khóc mẹ đêm mưa 2005
Khúc ca tình sầu
Khúc Thụy Du Du Tử Lê
Kinh hạnh phúc
Kỳ diệu thơ Nguyên Sa
Lạy mẹ con đi
Lẻ bóng
Lỡ một cuộc tình số 4
Lỡ một cuộc tình số 8
Lời tình băng giá
Ly cà phê cuối cùng
Mai tôi đi Nguyên Sa
Mất anh đêm Giáng sinh Y Nga
Mất nhau mùa đông 1970
Mình ơi em chẳng cho về Quan họ “Người ơi, người ở đừng về”
Mộ đời Q.H.
Một ngày thật buồn Trúc Hồ
Mưa buồn
Mưa chiều
Mưa ngoại ô
Nam Xương tiếng khóc đêm mưa
Nếu tôi đưa em về
Nếu vắng anh “Cần thiết” của Nguyên Sa
Ngoại ô buồn 1968
Người ở lại buồn
Người qua phố “Lời gọi thầm của chim” thơ của Thái Tú Hạp[8]
Người thợ săn và đàn chim nhỏ 1974
Người thương binh Thái Tú Hà
Người tình mùa đông 1994
Người tình Sài Gòn
Nhớ qua thăm em
Nhớ đêm mưa Sài Gòn
Nhớ Sài Gòn Trúc Giang
Như em Đỗ Trung Quân
Những kiếp hoa xuân
Những tâm hồn cô đơn
Niềm tin thơ Nhất Tuấn
Nỗi lòng người đi 1967
Nổi lửa đấu tranh 1999 Chiến dịch Cờ Vàng
Nửa đêm biên giới
Nửa đêm về sáng
Nước mắt quê hương Lê Dinh
Nước mắt mẹ tôi
Nước mắt một linh hồn
Phải lên tiếng Lê Dinh Bảo vệ Trường SaHoàng Sa
Như em
Sài Gòn vẫn mãi trong tôi Trúc Hồ
Sài Gòn kỷ niệm 2012
Sài Gòn thứ Bảy
Sao anh không đến Trần Ngọc Sơn
Sầu lẻ bóng 1, 2, 3
Sông Trà Khúc
Sợi tóc
Sông sầu đôi nhánh
Tango dĩ vãng
Tango tím
Tâm hồn cô đơn
Tập lái vespa
Thăm mộ mẹ Lê Huy Phương
Thiên Ấn tự (Chùa Thiên Ấn)
Tiếc thầm cổ động đi quân dịch
Tiếc thương Cao Tần
Tiễn người sang ngang Hoàng Liên
Tiếng ca u hoài
Tím cả chiều hoang Hữu Loan
Tình đẹp xót xa
Tình là sợi tơ
Tình lẻ loi Trúc Sinh
Tình nồng cháy
Tình phai
Tình yêu như mũi tên
Tình yêu tuyệt vời
Tôi vẫn cô đơn 2011
Trả em cay đắng mộng vàng Từ Nguyên Thạch
Trả lại
Trúc đào Nguyễn Tất Nhiên
Truyện Kiều Nguyễn Du
Từ độ ánh trăng tan Đặng Hiền
Từ thuở yêu em Phan Thành Tài
Tượng đá và chút suy tư
Vẫn như lầu hoang
Về
Về thăm chốn xưa Phạm Chí Nhân
Vọng cổ ông đồ
Xin hãy quên tôi

Ngoài ra ông còn đồng sáng tác nhiều ca khúc trước 1975 với Lê Dinh, Minh Kỳ.

  • Ai hỏi tên anh (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Anh đừng có lo (Dạ Cầm)
  • Ba mùa mưa (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Bóng đêm (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Chỉ hai đứa mình thôi nhé (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Chuyện tình bên hồ Than Thở (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Đà Lạt hoàng hôn (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Đêm công viên (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Giấc ngủ cô đơn (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Hàn Ni (Mùa thu lá bay 2) (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Nét đẹp thiên thần (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Nếu ai có hỏi (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Nếu anh đừng hẹn (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Nếu hai đứa mình (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Nó (Hoàng Minh)
  • Vọng gác lưng đồi (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Tâm sự của em (Dạ Cầm – Huy Cường)
  • Thương lính (Dạ Cầm)
  • Tiếng hát hậu phương (Minh Kỳ – Dạ Cầm)
  • Tính sao (Dạ Cầm)
  • Tiếng ca u hoài (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Tuyết lạnh (Lê Dinh – Dạ Cầm)
  • Yêu thầm (Minh Kỳ – Dạ Cầm)

Chú thích

  • Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. Houston, TX: Văn đàn Đồng Tâm, 2009.
  1. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. tr 23.
  2. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. Tr 140-1
  3. ^ Nhạc Sĩ Anh Bằng, sau 50 năm sáng tác
  4. ^ Nỗi lòng người đi và nhạc sĩ Anh Bằng
  5. ^ Nhạc sĩ Trần Ngọc Sơn, tác giả “Hạnh Phúc Lang Thang” từ trần hưởng dương 50 tuổi, Người Việt Tây bắc, 14/12/2010
  6. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. Tr 175
  7. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. Tr 153
  8. ^ Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng. Tr 156

Liên kết ngoài

Video

ĐOÀN HƯNG / SBTN: Nhạc sĩ Anh Bằng trở bệnh nặng, USA , 10 tháng 11, 2015


Nhạc sĩ Anh Bằng trở bệnh nặng

T3, 11/10/2015 – 21:38
Tin từ người nhà của nhạc sĩ Anh Bằng cho hay hiện nay sức khoẻ của nhạc sĩ đang ở trong tình trạng nguy cấp.

Nhạc sĩ Anh Bằng mắc bệnh ung thư gan, đã được điều trị căn bệnh này suốt 8 năm qua. Vào tuần trước, nhạc sĩ đã phải đi vào nhà thương cấp cứu.

Bác sĩ cho biết căn bệnh ưng thư đã di căn khắp toàn thân, cho nên khó có khả năng chữa trị. Theo nguyện vọng của nhạc sĩ Anh Bằng, ông đã được đưa về nhà trở lại để an nghỉ trong những ngày tháng cuối đời.

Nhạc sĩ Anh Bằng sinh năm 1926, là một trong những tên tuổi lớn nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Ông đã sáng tác hơn 600 ca khúc, và là nhạc sĩ có số lượng ca khúc sáng tác ở hải ngoại sau 1975 vào bậc nhất.

Những tác phẩm của ông đã quá quen thuộc với giới yêu âm nhạc Việt Nam thuộc mọi thành phần, mọi lứa tuổi. Ca khúc Nỗi Lòng Người Đi được xem như một trong những ca khúc viết về Hà Nội, về cuộc tản cư 1954 hay nhất mọi thời đại.

Nhạc sĩ Anh Bằng cũng là người đã sáng lập ra trung tâm Asia, với những đóng góp vô số cho nền âm nhạc và cộng đồng hải ngoại.

SBTN sẽ tiếp tục cập nhật thông tin về tình hình sức khoẻ của người nhạc sĩ đáng kính này. Kính mong những người thân, những người yêu mến dòng nhạc Anh Bằng cùng cầu nguyện cho sự bình an của ông trong giờ phút này.

Đoàn Hưng / SBTN 

Nguyễn Vi Sơn : Giới thiệu Trần Quang Hải & Bạch Yến


Nguyễn Vi Sơn : Giới thiệu Trần Quang Hải & Bạch Yến

Trong bài viết gởi quý thân hữu nhân ngày sinh của tôi . Vi Sơn có nói tới những khắc khoải mà chúng mình ở cái tuổi này sẽ phải trải qua . Tôi cũng có nói tới cuộc hành trình của toa xe lửa của cuộc đời trên thiết lộ quanh co. Và những người thân yêu đã đến và đi trong đời chúng ta. Trong khuôn khổ của bài viết , tôi đã không có dịp nói nhiều về những dấu chân trên cuộc hành trình đó mà mính có thể đã để lại trong đời . Những dấu chân, không phải ích kỷ, không cho phép ai được xóa bỏ đi. Những dấu chân bon chen với đời ngay cả sau khi mình không còn hiện hữu. Thật ra đó không đến từ sự ích kỷ, mà nó là một cái thực thể trường tồn qua thời gian để lập lên lịch sữ, và cái nền văn minh nhân loại mà ta có ngày nay.

Thua quy ban than men:

La nguoi Cong Giao, toi nghi la Chua Cao Ca da cho toi mot Su Mang, mot Muc Tieu de thuc hien trong doi nay. Va khi toi da ra di thi cai viec lam do, cai su nghiep do cung se con luu truyen cho con em minh de loai nguoi co duoc su noi tiep va sinh ton.

Noi nhu vay, de ma nhin lai cac nguoi than huu trong TMC cua chung ta. Minh khong phai la Nostradamus thi cung biet rang se co mot so cong trinh se duoc de lai khi chung ta khong con nua. Nhung ten tuoi nhu Vo Ta Han, Pham Anh Dung, Nguyen Bich, Nguyen Minh Tam, Pham Gia Con, va con bao nhieu than huu nua se de lai dau chan cua minh o mot giai doan than ky cua lich su Nguoi Viet, nhat la Nguoi Viet Hai Ngoai. Chung ta khong phai la mot hoi quan tu cho minh la o “thuong thang” (elitist). Chac chan khong phai la vay. Nhung chung ta cung hanh dien la da co bao than huu cua chung ta se de lai nhung dau chan tot dep cho hau sinh noi theo. Co mot  nguoi ma cuoc doi tuong nhu qua ngan de chua het cac cong trinh trong am nhac ma anh da xay dung. Anh cung chi co 24 gio dong ho trong mot ngay. Mot nam cua anh cung chi la 365 ngay. Nhung khong biet anh tim thoi gio o dau de lam het moi chuyen anh da thuc hien. Do la anh Tran Quang Hai, mot hau due xung dang cua mot dai gia ve am nhac gom nhung ten tuoi lon nhu Tran Van Trach, Tran Van Khe. Qua that, mot cuoc doi, bay nhieu su nghiep.

Toi cu nho hoi con di hoc, co mot cai ten ma khi nguoi ddo`i nhac toi thi cai danh hieu Nu Hoang luon luon di truoc, NU HOANG MOTO BAY. Nguoi nu hoang nay co cai ten de thuong nhu nhung con nhan trang bay bong khap may ngan: Bach Yen. Nu Hoang Moto Bay Bach Yen, it ai trong chung ta ma lai khong tung nghe toi. Roi nang nu hoang de lai chiec moto on ao de di vao the gioi am nhac, cat tieng goi den khach thuong ngoan o bon phuong troi. Roi co mot ngay nang cong chua buoc vao mong voi mot hoang tu mang ten Tran Quang Hai de the gioi tinh yeu cua Hai Yen duoc det bang soi to troi mang ten Hanh Phuc. Hanh Phuc Cua Mot Doi. Vi the, TMC, mot hoi quan voi chu truong khuyen khich Tinh Yeu, Tinh Gia Dinh, Tinh Than Huu, xin chan thanh cam on anh chi Hai Yen ve su hien dien cua anh chi trong Hoi Quan. No da lam cac  tinh cam quy gia do duoc the hien o cung bac cao nhat. Xin de anh chi Hai va Yen tu gioi thieu den quy than huu.

Vi Son/TMC

visontmc.com

Trần Quang Hải, sinh ngày 13 tháng 5, 1944 tại làng Linh Đông Xã , tỉnh Gia Định, miền Nam nước Việt Nam. Con trai trưởng của GS TS Trần Văn Khê (sinh ngày 24 tháng 7, 1921) và bà Nguyễn Thị Sương, cựu giáo sư Anh văn trường nữ trung học Gia Long (sinh ngày 19 tháng 9, 1921).

Trần Quang Hải kết hôn cùng nữ ca sĩ Bạch Yến ngày 17 tháng 6, 1978 tại Paris (Pháp). Bạch Yến nổi tiếng với bài « Đêm Đông » vào năm 1957, và chuyên về nhạc ngoại quốc Tây phương lúc đầu của sự nghiệp cầm ca . Sau khi thành hôn với Trần Quang Hải , Bạch Yến chuyển sang dân ca và cùng phổ biến nhạc dân tộc với chồng khắp thế giới .

Xuất thân từ một gia đình nhạc sĩ cổ truyền từ nhiều đời, anh là nhạc sĩ đời thứ năm . Ngoài ra anh là dân tộc nhạc học gia (ethnomusicologist – ethnomusicologue) chuyên về nhạc Việt, Á châu và hát đồng song thanh từ năm 1968, thuyết trình viên , nhạc sĩ sáng tác, chuyên gia về sư phạm âm nhạc, và thành viên của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique)

Vài dòng về khuôn mặt Trần Quang Hải. Anh đã theo gót cha anh , GS Trần Văn Khê trên đường nghiên cứu dân tộc nhạc học. Anh đã tạo một hướng đi riêng trong địa hạt trình diễn về nhạc cổ truyền Việt Nam, nhạc tùy hứng, nhạc đương đại cũng như phương pháp nghiên cứu thể nghiệm qua hát đồng song thanh .

Gia đình nhạc sĩ cổ truyền

Trần Quang Thọ (1830-1890), ông sơ của là quan án sát, theo Phan Thanh Giản sang Pháp để thương thuyết nhưng thất bại , treo ấn từ quan , vào Nam , cư ngụ tại làng Vĩnh Kim, tỉnh Mỹ Tho. là người có trình độ đáng nói về nhã nhạc Huế .

2. Trần Quang Diệm (1853-1925), ông cố của TQH là người rất giỏi về đàn tỳ bà , được gởi ra thành nội Huế để học nhạc cung đình và chuyên về đàn tỳ bà . Ông đã sáng chế ra cách viết bài bản cho đàn tỳ bà , nhưng tiếc thay là tất cả tài liệu đó bị thất lạc vì chiến tranh .

3. Trần Quang Triều (1897-1931), ông nội của tôi là người đàn kìm rất giỏi, biệt hiệu Bảy Triều trong giới cải lương, đã đặt ra cách lên dây TỐ LAN cho đàn kìm để đàn những bài buồn ai oán. Hiện nay chỉ còn một số rất ít nhạc sĩ cổ nhạc biết đàn dây này (như nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo , GS Trần Văn Khê)

4. Trần Văn Khê (1921 – ), ba của tôi là người đã đưa nhạc cổ truyền Việt Nam lên hàng quốc tế và làm rạng danh nhạc Việt trên thế giới ở địa hạt trình diễn cũng như nghiên cứu . Con trai trưởng trong gia đình có ba người con (ba tôi GS Trần Văn Khê, chú ba tôi là Quái kiệt Trần Văn Trạch, cô tư tôi là Trần Ngọc Sương từng nổi tiếng là ca sĩ tân nhạc vào đầu thập niên 50) , ông đã hăng hái trong phong trào nhạc mới lúc trẻ (cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Phạm Duy) và quay về nhạc cổ khi soạn luận án tiến sĩ tại Pháp . Từng là giáo sư nhạc Đông phưong tại trường đại học Sorbonne (Paris, Pháp), giám đốc nghiên cứu của Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (Paris , Pháp), sáng lập viên Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương ở Paris, và từng giữ chức phó chủ tịch Hội đồng quốc tế âm nhạc của UNESCO . Hưu trí từ năm 1987, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu và đóng góp một vai trò lớn cho hai hồ sơ Nhạc cung đình Huế (được danh hiệu kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2003) và Nhạc Cồng chiêng Tây Nguyên (kiệt tác văn hóa phi vật thể UNESCO năm 2005). Hiện ông định cư ở Việt Nam sau 55 năm sống ở Pháp, và đang là cố vấn cho hồ sơ Ca Trù để đệ trình lên UNESCO cho năm 2007 dành cho kiệt tác văn hóa phi vật thể .

5. Trần Quang Hải (1944 – ) , cựu học sinh trường trung học Pétrus Ký, sau khi tốt nghiệp âm nhạc viện Saigon với bộ môn vĩ cầm (học với cố GS Đỗ Thế Phiệt), đi sang Pháp năm 1961 và học nhạc học tại trường đại học Sorbonne và dân tộc nhạc học ở trường cao đẳng khoa học xã hội (Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales). Bắt đầu làm việc cho trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS – Centre National de la Recherche Scientifique) với ê-kíp nghiên cứu tại Viện dân tộc nhạc học của Viện bảo tàng Con người (Département d’ ethnomusicologie du Musée de l’Homme) từ 1968 cho tới bây giờ (2006). Trình diễn trên 3,000 buổi tại 65 quốc gia, tham gia 130 đại hội liên hoan quốc tế nhạc truyền thống, giảng dạy tại hơn 120 trường đại học, sáng tác nhạc hơn 400 bản nhạc cho đàn tranh, đàn môi, muỗng , hát đồng song thanh, nhạc tùy hứng, đương đại . Đã thực hiện 23 dĩa nhạc truyền thống Việt Nam, viết ba quyển sách, làm 4 DVD, 3 phim và hội viên của trên 20 hội nghiên cứu thế giới .Con đường nghiên cứu của tôi nhắm về sự giao lưu các loại nhạc cổ truyền tạo thành loại nhạc thế giới (world music), pha trộn nhạc tùy hứng , jazz, đương đại với nhiều loại nhạc khí và kỹ thuật giọng hát để tạo thành một loại nhạc hoàn toàn mới lạ.

Sáng tạo một số kỹ thuật mới cho muỗng được thấy ở Việt Nam vào cuối thập niên 40 (gần 70 năm).Ngoài ra đã khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh từ năm 1969 và hiện nay được xem như chuyên gia có được nhiều giới nghiên cứu về dân tộc nhạc học, âm thanh học, nhạc đương đại, y học biết tới khắp nơi trên thế giới .

Thể nghiệm nhiều loại nhạc với tư cách nhạc sĩ. Đã từng chơi nhạc Free Jazz với nhóm Alain Brunet Quartet), nhạc pop, nhạc điện thanh (electro- acoustical music) qua bài Về Nguồn (soạn chung với Nguyễn Văn Tường được trình bày lần đầu tiên năm 1975 tai Champigny sur Marne, Pháp), nhạc tùy hứng (hợp tác với Arlette Bon vũ sư đương đại năm 1972, với Muriel Jaer, vũ sư đương đại nhiều năm từ 1973 tới 1980, qua bài Shaman với Misha Lobko vào năm 1982, Paris).

Cộng tác trình diễn trong các dĩa CD như với Philip Peris (tôi chơi đàn môi và hát đồng song thanh hòa với kèn thổ dân Úc didjeridu năm 1997), với các nhạc sĩ đàn môi qua hai CD về đàn môi năm 1999 và một CD đàn môi với John Wright, Leo Tadagawa và Svein Westad năm 2000. Dĩa VIETNAM / TRAN QUANG HAI & BACH YEN do hãng SM Studio sản xuất tại Paris năm 1983 đã đưọc giải thưỏng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1983, và dĩa LES VOIX DU MONDE do hãng Le Chant Du Monde sản xuất năm 1996 tại Paris cũng được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cros, Pháp vào năm 1996.

Hội Viên các hội nghiên cứu

• Society for Ethnomusicology (Hội Dân tộc nhạc học), Hoa Kỳ, từ 1969

• Asian Music Society (Hội Nhạc Á châu), Hoa Kỳ, từ 1978

• ICTM (Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống), Hoa Kỳ, từ 1976

(đưọc bầu làm thành viên của ủy ban chấp hành – member of the Executive Board từ 2005)

• Société Internationale de Musicologie (Hôi quốc tế nhạc học), Thụy Sĩ, từ 1977

• International Association of Sound Archives (IASA) (Hội quốc tế âm thang viện), Úc châu từ 1978

• Association of the Foundation of Voice (Hội về Giọng), Hoa Kỳ từ 1997

• Société de Musicologie (Hội nhạc học), Pháp, từ 1980

• Société Francaise d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Pháp) từ 1985 (sáng lập viên)

• CIMCIM (Unesco) từ 1983

• Séminaire Européen d’Ethnomusicologie (Hội Dân tộc nhạc học Âu châu), Thụy Sĩ , từ 1983.

• Association Francaise d’Archives sonores (Hội âm thanh viện Pháp) từ 1979

• Centre d’Etudes de Musique Orientale (Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông phương), Paris, từ 1962 (giáo sư của trung tâm từ 1970 tới 1975)

• Centre d’Etudes Vietnamiennes (Trung tâm nghiên cứu Việt học), Pháp ,từ 1987

• Association Francaise de Recherche sur l’Asie du Sud-Est (Hội nghiên cứu Đông Nam Á Pháp), Pháp từ 1986.

• Société des Auteurs , Compositeurs et Editeurs de la Musique (SACEM) , Pháp, từ 1980

• International Center of Khoomei (Trung tâm quốc tế Hát đồng song thanh), Kyzyl, Tuva, Nga từ 1995.

• International Jew’s Harp Society (Hội quốc tế Đàn Môi) , Áo quốc, từ 1998 (sáng lập viên)

• Scientific Association of Vietnamese Professionals (Hội khoa học chuyên gia Việt Nam) (hội viên danh dự) , Canada từ 1992.

• Vietnamese Institute for Musicology (Viện Âm nhạc Hà nội), Việt Nam từ 2004, (hội viên danh dự)

• American Biographical Institute and Research Association (ABIRA) , Hoa kỳ, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• International Biographical Association (IBA), Anh quốc, từ 1979 (hội viên vĩnh cữu, cố vấn quốc tế)

• Encyclopaedia Universalis Tự điển, Pháp, từ 1985 (cố vấn cho giải thưởng Diderot)

• American Order of Excellency, Hoa Kỳ, từ năm 1998 (sáng lập viên)

• World Wide Library, Hoa Kỳ (thành viên).

• Vietnamese Public Library of Knowledge (ViPLOK) (founding member of the editorial board), Hoa Kỳ từ 2006.

NHỮNG QUYỂN SÁCH CÓ TIỂU SỬ TRẦN QUANG HẢI

Sau đây là những quyển tiểu sử Who’s Who và các quyển sách khác có đăng tiểu sử của tôi :

• Dictionary of International Biography, ấn bản thứ 15, Anh quốc

• Men of Achievement, ấn bản thứ 5, 6, và 7, Anh quốc

• International Who’s Who in Music, từ ấn bản thứ 8 cho tới hiện nay (2008), Anh quốc

• Who’s Who in Europe, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• Men and Women in Distinction, ấn bản thứ 1 và 2, Anh quốc

• International Register of Profiles, ấn bản thứ 4 và 5 , Anh quốc .

• International Who’s Who of Intellectuals, ấn bản thứ 2 và 3, Anh quốc

• The First Five Hundred, ấn bản thứ nhất, Anh quốc

• Who’s Who in the World, từ ấn bản thứ 5 tới nay (2008), Hoa Kỳ

• 5,000 Personalities in the World, ấn bản thứ nhất, Hoa kỳ

• International Directory of Distinguished Leadership, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• International Book of Honor, ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Who’s Who in Entertainment, ấn bản thứ 3, Anh quốc

• Who’s who in France, từ ấn bản thứ 29 tới nay (2008), Pháp

• Nouvelle Dictionnaire Européen, từ ấn bản thứ 5 tới ấn bản thứ 9, Bỉ

• Who’s Who in International Art, ấn bản thứ nhất, Thụy Sĩ

• Vẻ Vang Dân Việt – The Prid of the Vietnamese, quyển 1, ấn bản thứ 1 và 2, Hoa Kỳ

• Fils et Filles du Viet Nam , ấn bản thứ nhất, Hoa Kỳ

• Tuyển tập nghệ sĩ (Selection of Artists), quyển 1, Canada

• Guide du Show Business, từ 1986 tới nay (2008), Pháp

• The Europe 500 Leaders for the New Century, Barons Who’s Who, Hoa Kỳ

• QUID, từ 2000 tới nay (2008) , Pháp

• 500 Great Minds of the Early 21st Century, Bibliotheque World Wide, Hoa Kỳ

• Officiel Planète,từ năm 2000 tới nay (2008), nhà xuất bản IRMA, Pháp

NHỮNG BIẾN CỐ QUAN TRỌNG TRÊN THẾ GIỚI

Nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên tham gia trình diễn tại những biến cố lịch sử quan trọng trên thế giới

• 1988 : 200 năm thành lập xứ Úc

• 1989 : 200 năm Cách mạng Pháp

• 1991 : 700 năm thành lập xứ Thụy Sĩ

• 1992 : 350 năm thành lập thành phố Montréal, Canada

• 1992 : 500 năm khám phá Mỹ châu của Chritophe Colombus

• 1994 : 600 năm thành lập thủ đô Seoul, Đại Hàn

• 1996 : 50 năm vua Thái Lan trị vì

• 2000 : 100 năm thành lập âm thanh viện Berlin, Đức

• 2004 : Genova , thành phố văn hóa Âu châu, Ý

• 2004 : Lille , thành phố văn hóa Âu châu, Pháp

• 2005 : 100 năm xứ Na Uy được độc lập .

Nhạc sĩ Việt Nam tham gia nhiều nhất Ngày Lễ Âm nhạc do Pháp đề xướng từ lúc đầu tiên vào năm 1982, rồi năm 1984, 1985 , 1987, 1989 tại Paris, rồi năm 1991 tại đảo La Réunion, rồi năm 2000, 2001 tại Paris, năm 2002 tại Beirut (Lebanon)

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đàn nhạc phim của các nhà viết nhạc phim của Pháp như Vladimir Cosma, Philippe Sarde, Maurice Jarre, Gabriel Yared, Jean Claude Petit , và trình diễn những nhạc phẩm đương đại của các nhà soạn nhạc như Nguyễn Văn Tường, Bernard Parmegiani, Nicolas Frize, Yves Herwan Chotard.

Nhạc sĩ Việt Nam duy nhất đã trình diễn trên 3.000 buổi giới thiệu nhạc Việt tại 70 quốc gia từ năm 1966, 1.500 buổi cho học sinh các trường học ở Âu Châu, giảng dạy tại hơn 100 trường đại học trên thế giới, tham dự trên 130 đại hội liên hoan âm nhạc quốc tế và có trên 8.000 người theo học hát đồng song thanh .

BACH YEN

Mở mắt chào đời tại vùng châu thổ sông Cửu Long (miền Nam Việt Nam), Bạch Yến gia nhập làng ca nhạc khi còn nhỏ tuổi và sớm nổi tiếng tại Saigon với giọng hát đặc biệt trầm mặc dù giọng thuộc loại cao (mezzo soprano), ngân nga phong phú qua những nhạc phẩm Việt Nam bất hủ như “Đêm Đông” và các nhạc phẩm ngoại quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Ý hoặc Do Thái.

Năm 1961, Bạch Yến sang Paris để trau dồi nghệ thuật. Được hãng dĩa Polydor mời thâu và đưa đi trình diễn một vòng qua Bỉ, Đức và Áo . theo giao kèo, Bạch Yến phải hát loại nhạc twist thịnh hành lúc bấy giờ. thời gian ở Âu châu này được đánh dấu bởi ba dĩa hát và vài đoạn phim scopitones (như clips hiện giờ)

Năm 1965, Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang Hoa kỳ tham gia chương trình truyền hình ăn khách nhất xứ Mỹ (với trên 30 triệu khán giả). Một hợp đồng hai tuần với Ed Sullivan Show đã trở thành 12 năm lưu diễn khắp 46 tiểu bang xứ Bắc Mỹ với những danh ca nghệ sĩ thượng thặng như Bob Hope, Bing Crosby, Jimmy Durante, Liberace, Pat Boone, Frankie Avalon, Joey Bishop, Mike Douglas, và một số quốc gia Mỹ Châu như Gia nã đại (Canada), Mễ Tây Cơ (Mexico), xuất hiện trên các đài truyền hình Nam Mỹ, Caracas /Venezuela, Bogotá /Colombia,  đài truyền hình Panama /Trung Mỹ và Curaçao (Antille).

Mike Wayne mời Bạch Yến về Hollywood để hát trong phim “Mũ nồi xanh” (The Green Berets) do tài tử John Wayne đóng vai chánh.

Lúc Bạch Yến tái ngô. Paris cũng là lúc cuộc đời và sự nghiệp của Bạch Yến bước vào một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng với sự gặp gỡ nhạc sĩ kiêm nghiên cứu dân tộc nhạc học gia Trần Quang Hải, sau trở thành phu quân của BạchYến.

Trần Quang Hải thuyết phục Bạch Yến trở về với nhạc dân tộc Việt Nam và kết quả là hai người đã cùng nhau trình diễn trên 3.000 buổi hát dân ca khắp năm châu, mặc dầu thỉnh thoảng Bạch Yến vẫn hát tân nhạc để đáp lại tấm thạnh tình của những người hâm mộ mình.

Hai người đã thâu chung 7 dĩa hát 33vòng, và một dĩa laser, với một dĩa trong đó được giải thưởng Grand Prix du disque de l’Académie Charles Cros năm 1983.

Tran Quang Hai biêu diên dàn môi, muông và hat dông song thanh

http://www.youtube.com/watch?v=okdYHbzTyjk

Tran Quang Hai  dàn tranh

http://www.youtube.com/watch?v=aFJlXmMYmsg

Bach Yen hat Ghen và nhay claquettes

http://www.youtube.com/watch?v=OARn3CLRjAk

Bach Yen hat Di Voi Tôi

http://www.youtube.com/watch?v=vr4cX0C5zEQ&feature=related