K-fé rencontre du jeudi 25 février 2016 , 19h30 – 21h30 : TRAN QUANG HAI, Caféothèque, 50-52 rue de l’Hôtel de Ville, 75004 Paris


tran quang hai k-fé rencontre

K-fé rencontre du jeudi 25 février 2016 , 19h30 – 21h30 : TRAN QUANG HAI
Entrée libre

CAFÉOTHÈQUE
50-52 rue de l’Hôtel de Ville, 75004 Paris (métro : Saint Paul, Pont Marie)

K-fé organise une Rencontre avec TRAN QUANG HAI , ethnomusicologue et musicien . À découvrir ce personnage exceptionnel.
K-fé tổ chức cuộc gặp gỡ với GS TRẦN QUANG HẢI : cuộc đời, sự nghiệp để biết thêm về nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học và nhạc sĩ . TRẦN QUANG HẢI sẽ trả lời những câu hỏi trong buổi tọa đàm này .Xin mời các bạn tới dự

TQH-WORKSHOP-DU-CHANT-DIPHONIQUE

Atelier de chant diphonique / Dạy hát đồng song thanh

tqh vua muỗng 2011

Musicien, joueur de guimbarde, nhạc sĩ đàn môi

TQH HOI THAO CHAU VAN 6.01.16.jpg

Chercheur / Nghiên cứu sư

Tran Quang Hai 2

musicien traditionnel / nhạc sĩ cổ truyền

NGÀNH MAI Cái Tết ngày xưa của cải lương


Cái Tết ngày xưa của cải lương
Friday, February 5, 2016 1:54:15 PM
Ngành Mai


Năm nay Tháng Chạp, tháng thiếu nên không đầy hai ngày nữa là đến giờ giao thừa hết năm cũ bước sang năm mới. Ở trong nước phần lớn mọi ngành nghề trong xã hội đều đã nghỉ ngơi chờ ăn Tết. Ðối với hoạt động của cải lương thời xưa thì ngày hôm nay mọi gánh hát lớn hoặc nhỏ đều sẵn sàng chờ đón ngày vui vẻ nhứt trong nghề làm nghệ thuật sân khấu.


Trước rạp hát ngày đầu Xuân thời thập niên 1960. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Nói chung chỉ riêng có cải lương thì phải chuẩn bị làm việc nhiều hơn gấp bội.

Những năm thịnh thời của cải lương ở các thập niên 1950-1960 thì ngày Tết là dịp hốt bạc của giới này, mà giờ đây cứ mỗi lần Tết là mỗi lần họ không khỏi ngậm ngùi luyến tiếc cho cái thời vàng son thuở ấy.

Thật vậy, khi xưa giới cải lương đã đón Tết một cách huy hoàng, tiền vô như nước. Chỉ nội ngày mùng 1 Tết họ có thể hát đến 4 suất, mà mỗi suất hát được trả tiền gấp đôi, tức số tiền lãnh tăng lên gấp tám lần. Nói một cách rõ ràng hơn là những ngày trong Tháng Chạp mỗi đêm hát họ còn lãnh một ngàn đồng, nhưng đêm Mùng Một thì bầu gánh phải trả đến 8 ngàn, mà còn cộng thêm tiền lì xì Tết, tiền nhiều ít tùy theo gánh.

Ngày mùng 2, mùng 3 cũng vậy, hoặc nếu có thấp xuống thì cũng còn 2 hoặc 3 suất hát. Mấy ngày Tết đào kép mệt khờ người luôn, bởi suất hát vừa vãn nghỉ xả hơi độ 1, 2 giờ đồng hồ thì lại tiếp tục lên sân khấu. Tuy vậy mà người nào cũng thoải mái tinh thần, mừng vui ra mặt.

Về phần bầu gánh trả lương cho nghệ sĩ gấp đôi như vậy, họ có lời không? Câu trả lời nhanh là họ lời khẩm! Bởi vé bán tăng tiền lên gấp rưỡi mà suất hát nào cũng hết vé, thiên hạ chen chân mua vé, sân khấu còn đang trình diễn mà suất hát kế tiếp đã treo bảng “hết vé” rồi! Ðó là chưa kể tiền cửa (tiền cửa tức tiền đưa tại cửa rồi đứng coi, vì ghế ngồi đã đầy hết). Tiền vô cửa ngang bằng với vé ngồi hạng ba và cũng thu vô liền tay, bỏ đầy thùng.

Cái đặc biệt của cải lương hát Tết là khán giả không hề kén chọn tuồng, cũng không kén chọn đào kép, diễn viên, tuồng hay, tuồng dở gì cũng chật rạp, và hầu như tuồng nào cũng bị nhận lớp ít hay nhiều, tức bỏ bớt những cảnh nào đó mà người xem vẫn hiểu, chứ nếu không thì đâu đủ giờ hát suất sau.

Cải lương hát Tết ngon lành như vậy, bảo sao khi xưa mấy tháng cuối năm là ở các địa phương xa gần, tỉnh nào cũng có thêm gánh hát mới ra lò, với không khí đầy hy vọng. Họ vẽ bảng hiệu mới, vẽ tranh cảnh mới và người ta cũng nghe ca hát tập tuồng ngày đêm. Ðây là thời gian mà bầu gánh hát mới chuẩn bị cho ngày Tết ra quân, khai trương bảng hiệu để lượm bạc, ít nhứt cũng đầy túi trong 3 ngày Xuân. Sau ngày mùng 4 thì hát trở lại bình thường nhưng khán giả cũng còn đông đảo, kéo dài cho đến Rằm Tháng Giêng thì khán giả mới thưa dần.

Thế nhưng, cái thời kỳ mà Tết đến thiên hạ nô nức rủ nhau đến rạp cải lương kia nó đã không còn nữa, khi Việt Nam bắt đầu có truyền hình. Người ta nằm nhà coi cải lương trên truyền hình, bởi đài cũng chọn tuồng hay để phát vào dịp Tết, và dĩ nhiên sân khấu chẳng còn đông người coi, có gánh khán giả thưa thớt, phải đóng màn chịu trận cho qua ba ngày đầu Xuân. Nhiều đoàn đã cho đào kép nghỉ “ăn Tết” với cái túi trống rỗng, chớ mở màn thì có mấy người đi coi đâu, bởi thiên hạ đổ dồn về những nơi có máy truyền hình để coi tuồng của gánh lớn.

Và giờ đây cải lương lại thêm một cái Tết điêu tàn, cái thời kỳ hoàng kim của cải lương đã lui về dĩ vãng và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại, trừ phi có phép lạ nào đó! Người ta chỉ mong mỏi sao bộ môn nghệ thuật này được bảo tồn là may lắm rồi!

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=222140&zoneid=268

 

Giáo sư Ngô Đức Thịnh: ‘Mùng 3 tết thầy’ ai còn nhớ ?


Giáo sư Ngô Đức Thịnh: ‘Mùng 3 tết thầy’ ai còn nhớ ?

Trong cuộc trò chuyện cuối năm với giáo sư Ngô Đức Thịnh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, người viết được ông phân tích cặn kẽ từng lớp nghĩa trong câu thành ngữ “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết mẹ, mùng 3 tết thầy

Chữ “tết” trong câu thành ngữ trên là sự rút gọn của động từ “chúc tết”. Việc chúc tết cha mẹ, thầy giáo đã trở thành đạo lý mà mỗi người phải hoàn thành trước khi bước vào những cuộc ăn chơi đầu năm mới.

 tet thầy
Lớp học của thầy đồ xưa.

Theo mô tả của vị giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa dân gian, trước đây, nhà thầy đồ luôn đông vui nhộn nhịp vào ngày mùng 3 tháng Giêng bởi các thế học trò đến chúc tết. Món quà mang đến cho thầy thường là bánh trái, hoa quả. những sản vật địa phương. Có khi nhà thầy đang tổ chức ăn uống cũng mời học trò ở lại dùng bữa.

Khi đến thăm thầy, người học trò được các bạn đồng môn tín nhiệm nhất sẽ đứng lên thưa với thầy về sự có mặt của bạn bè đồng môn và chúc thầy những điều tốt lành. Ngày xưa, dù ai làm đến quan nhất phẩm trong triều đình thì vẫn một lòng kính trọng với người thầy từng dạy mình.

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, chữ thầy dùng để chỉ người có hiểu biết uyên thâm trong 4 lĩnh vực gồm Nho, Y, Lý, Số. Tương đương với 4 nghề được trọng vọng trong làng xã xưa là thầy đồ, thầy lang, thầy địa lý (phong thủy) và thầy tướng số.

Không chỉ các thầy đồ – người trực tiếp dạy dỗ, truyền đạt đạo lý thánh hiền cho học trò, đôi khi những người thầy thuốc, thợ cả, người dạy nghề cũng được môn đệ đến chúc tết trong ngày mùng 3 tháng Giêng.

Nếu việc thực hành lễ nghĩa với cha mẹ, họ hàng trong 2 ngày đầu năm mới thể hiện sự gắn bó bền chặt với những người cùng huyết thống, thì việc đến chúc tết người dạy mình lại mang một giá trị đặc biệt, thể hiện một xã hội coi trọng việc giáo dục con người.

.

Người Việt ngày nay vẫn giữ việc tết cha, tết mẹ, nhưng phong tục tết thầy dường như đã rẽ sang một hướng khác. Giáo sư Ngô Đức Thịnh cũng thừa nhận câu “Mùng 3 tết thầy” đã dần phai nhạt trong tâm thức người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ. Ngày nay chuyện giáo viên mở cửa đón học sinh đến chơi nhà trong ngày mùng 3 tết cũng không phổ biến.

Theo lý giải của nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu Việt Nam, “mùng 3 tết thầy” là quan niệm cũ gắn với nền giáo dục Nho học vốn đã lùi vào dĩ vãng. Thay vào đó là mô hình giáo dục phương Tây gắn với khoa học kỹ thuật.

Vì sự biến đổi tất yếu nói trên, không nên coi sự phai nhạt của ngày “mùng 3 tết thầy” trong tâm thức người Việt là quá trình suy thoái hay đánh mất giá trị văn hóa. Ngày quốc tế hiến chương các nhà giáo 20/11 xuất hiện cũng đã gánh vác toàn bộ  vai trò tri ân thầy cô thay cho mùng 3 tháng Giêng.

“Tôi vẫn biết có một số ít người chọn dịp đầu năm để đi thăm hỏi thầy, cô giáo. Tuy nhiên, con số mùng 3 chỉ mang tính tượng trưng. Người ta có thể đến thăm thầy vào mùng 4, mùng 5 vẫn mang ý nghĩ là nhớ đến người dạy mình trong dịp đầu năm mới”, ông Thịnh cho biết.

Mặt khác, lại có những học sinh, sinh viên tính chuyện tết thầy, nhưng thực tế là mua quà cáp đắt tiền mang đến biếu những người thầy đang quyết định việc đỗ đạt, thăng tiến của họ. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, đây là sự lệch lạc, méo mó trong văn hóa và hoàn toàn không đúng với ý nghĩa tết thầy trước đây.

Những ngày đầu năm mới, khi nhiều người tất tả chọn quà đi tết sếp, tết thủ trưởng, nhằm gây dựng những mối quan hệ mang lại lợi ích trước mắt, thì đâu đó vẫn có những cựu học sinh nhớ đến việc “tết thầy”. Câu nói “mùng 3 tết thầy” tuy không còn mang nặng tính trách nhiệm, nhưng vẫn là một lý do đẹp đẽ để thầy – trò tìm đến với nhau.

Những bức ảnh màu đầu tiên về Hà Nội (1914-1917)


Những bức ảnh màu đầu tiên về Hà Nội

Hồ Gươm, Văn Miếu thuở còn nguyên sơ với những con đường đất hay các cô gái trong chiếc áo yếm hiện lên sống động qua tác phẩm của nhiếp ảnh gia người Pháp Leon Busy.


alt

Nhiếp ảnh gia Leon Busy được Viện Bảo tàng Albert Kahn (Pháp) cử sang Việt Nam chụp lại cuộc sống của người dân Bắc Kỳ từ năm 1914 tới năm 1917. 60 ảnh trong triển lãm này chọn lọc từ 1.500 bức do Leon Busy thực hiện. Đây là một bức ảnh về hồ Gươm.

alt
Qua các bức ảnh, người xem có thể thấy được cảnh sinh hoạt, lao động đời thường hay như cách phân tầng xã hội thời bấy giờ. Ảnh cũng thể hiện đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Hà Nội xưa thấm nhuần Lão giáo, như quan niệm về Đạo Tam phủ hay thờ cúng các linh vật hoặc tư tưởng cấm sát sinh của đạo Phật. Ảnh chụp toàn cảnh Văn Miếu.

alt

Ảnh lăng mộ Hoàng Cao Khải mà ngày nay chỉ còn là phế tích.

alt
Bức ảnh về lò giấy ở làng Bưởi. Nghề làm giấy nổi tiếng ở làng Bưởi (làng Yên Thái xưa) nay đã không còn.

alt
Có nhiều nhiếp ảnh gia để lại những bức ảnh giá trị về Hà Nội xưa, song những bức ảnh chưa từng công bố này mang đến một điều đặc biệt. Nó là những bức ảnh màu đầu tiên về đất Thăng Long xưa. Leon Busy được đánh giá rất “chịu chơi” vì áp dụng kỹ thuật này trong khi nó mới ra đời năm 1903. Trong ảnh là phố Hàng Thiếc.

alt
Một góc chợ cuối làng ở vùng ven Hà Nội.

alt
Phố đèn lồng rực rỡ sắc màu qua góc nhìn của Leon Busy. Một mặt hàng nhưng do nhiều nghệ nhân khác nhau làm giúp người mua thoải mái lựa chọn.

alt
Bức ảnh “Móng tay của nhà nho” thể hiện rõ quan niệm thời xưa rằng người có chữ không được làm công việc chân tay.

alt
Bên cạnh đó, những bức ảnh màu đầu tiên còn thể hiện rõ phân biệt đẳng cấp xưa. Trong ảnh một người phụ nữ trung lưu đang nấu cơm.

alt
Tóc vấn, quần áo đắt tiền, có người đứng hầu phía sau cửa… là hình ảnh về những phụ nữ thuộc tầng lớp khá giả xưa. Trong ảnh ba phụ nữ này đang chơi bài.

alt
Leon Busy cũng sắp đặt một số góc cảnh để chụp ảnh. Hai cô gái ngồi bên bể nước vận trang phục cổ truyền là yếm trắng, quần đen, thắt lưng sáng màu, nón ba tầm.

alt

Lão nông ngồi giữa sân phơi thóc thể hiện quan niệm về sự sung túc trong đời sống nông nghiệp thời xưa.
Sân phơi thể hiện tham vọng của chủ nhà, sân càng rộng nhà càng nhiều thóc.


alt

Hai thôn nữ vừa đi hái rau muống, họ mặc áo tứ thân, yếm trắng, đầu chít khăn mỏ quạ.

alt
Đô vật bái thần làng trước trận đấu (làng Xa La, Hà Đông).
Triển lãm ảnh “Hà Nội, sắc màu 1914-1917″ diễn ra từ ngày 9/12/2013 đến ngày 4/1/2014.

alt
Năm 1909, Albert Kahn, một chủ nhà băng người Pháp, tiến hành kế hoạch đầy tham vọng là xây dựng kho tư liệu ảnh màu cho các dân tộc trên thế giới. Leon Busy, trung úy hậu cần quân đội Pháp, được giao chụp ảnh ở Việt Nam. Từ năm 1914 tới năm 1917, Busy đã chụp hơn 1.700 bức ảnh. 
Khoảng 60 bức ảnh của ông đang được trưng bày trong triển lãm Hà Nội sắc màu.Trong ảnh là một cô gái đang têm trầu.

alt
Leon Busy khá ưu ái thiếu nữ đang soi gương trong hình, 
cô đã xuất hiện trong 16 bức ảnh màu của ông.

alt
Trong từng bức ảnh, nổi bật lên sự khác biệt giai cấp qua trang phục, đồ đạc. Người nhà giàu mặc lụa là gấm vóc, đồ gỗ trong nhà được chạm khảm tinh xảo.

alt
Một ông nhà giàu sửa soạn hút thuốc.

alt
Quần áo và dép của một bà đồng có nét khác biệt rõ rệt 
với trang phục của các giai cấp tầng lớp trên.

alt
Bốn mẹ con người ăn mày mù lòa ngồi cạnh hàng rào dứa gai xin lòng thương của Phật tử tới chùa.

alt
Người ăn mày bị bệnh phong mong manh trong chiếc khố ngồi nơi vệ đường.

alt
Leon Busy còn chụp nhiều ngành nghề khác như nghệ nhân vẽ tranh Hàng Trống.

alt
Ông đồ vận áo the nâu, quần trắng, khăn thếp có học trò mài mực giúp.

alt
Những người buôn bán, dân thường ăn mặc giản dị, áo the khăn vấn gọn gàng. Từ xưa, người dân Hà Nội đã có thói quen ăn hàng dù quán rất đơn giản. Chiếu phủ lên nền đất làm chỗ ngồi, bàn được làm bằng tre, đồ ăn có mẹt đậy.

alt
Người đứng bán hoa quả trước cửa đền Ngọc Sơn.

alt
Nghề bật bông xưa được làm ngay ngoài trời. 
Thời kỳ người dân còn nghèo, nghề “làm mới” chăn bông rất phát đạt.

.


__,_._,___

TRAN QUANG HAI – 


陳 光 海

Tel:+33 (0)1 4569 5577 (home)

Mobile:+33 (0)6 5025 7367


___


ĐỖ CHIÊU ĐỨC : NĂM KHỈ NÓI CHUYỆN … TỀ THIÊN.


                  NĂM KHỈ NÓI CHUYỆN … TỀ THIÊN.
           Chuyện Tề Thiên… là chuyện hoang đường trong Tây Du Ký cuả Ngô Thừa Ân, nói về một con khỉ đá lanh lợi thông minh, học được phép tiên, làm loạn cả long cung, âm tào địa phủ và làm náo loạn cả thiên đình. Cuối cùng Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng phải chịu thua mà phong cho chức ” Ông Thánh lớn ngang bằng trời ” là : TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH !
           Năm con khỉ nói chuyện Tề Thiên là nói chuyện phiếm, chuyện tạp nhạp bao đồng về loài khỉ để nghe chơi khi trà dư tửu hậu …
               Image result for 猴年2016   Image result for 猴年2016
           Xếp thứ 9 trong bảng thứ tự 12 con giáp, thuộc chi THÂN trong Thập nhị Địa Chi. Khỉ là động vật cực kỳ thông minh, nhanh nhẹn, đồng hành phát triển cùng với đời sống con người từ thời bàn cổ đến nay . Còn có thuyết cho KHỈ là thuỷ tổ cuả loài người nữa !. Loài Khỉ có đặc tính giống như loài người, thuộc loài có vú, sanh con, thường ở trong rừng, ưa nhảy nhót, đu chuyền từ cây này sang cây khác, sống tập thể thành từng đoàn, thông minh hơn các thú vật khác, cho nên thường bắt chước loài người qua các động tác sinh hoạt thường ngày. Khỉ đi vào đời sống văn hóa người Trung Hoa và Việt Nam qua 12 con giáp :  Năm Thân, như năm nay 2016 là năm Bính Thân,  tháng Thân là tháng 7 Âm lịch, ngày Thân là ngày được xếp sau ngày Mùi và trước ngày Dậu, giờ Thân là từ 3 đến 5 giờ chiều.
            Giòng họ của khỉ thì rất nhiều, nói theo tập quán dân gian, ta có : Khỉ, Vượn, Đười Ươi, Lọ Nồi, Dã Nhân … Gọi theo chữ Nho thì là Hầu Tử 猴子, Hồ Tôn 猢猻, Sơn Viên 山猿, Tinh Tinh 猩猩 …
            HẦU 猴 là chữ Hài Thanh 諧聲 ( còn gọi là Hình Thanh 形聲 ), được ghép bởi bộ Khuyển 犭(犬) là loài Chó bên trái chỉ Ý ( chỉ loài vật có 4 chân ) và chữ Hầu 侯 là Hầu Tước bên phải chỉ Âm, theo diễn tiến như sau :
目前所在的位置:猴的甲骨文、金文、小篆在线转换
甲骨文 金文 金文大篆 小篆 繁体隶书
 Giáp Cốt Văn  Kim văn      Đại Triện     Tiểu Triện     Chữ Lệ
          Chữ HẦU trong phần Đại Triện, bên trái là hình con thú có 4 chân có đuôi, bên phải là hình người đứng đang giương cung, mũi tên nhắm về phía trước có một vạch ngang là cái bia để tên bắn vào.
          Trong thời Xuân Thu ( 770 – 476 TCN ), người ta không gọi khỉ, mà có tên chính thức trang nghiêm dành cho loài vật có chức vị Hầu Tước 侯爵 này : ( Hóu ) HẦU 侯 là Tước  Hầu,  đứng sau tước Công và đứng trên tước Bá, đồng âm với Hầu là Khỉ. Từ đó về sau, khỉ chính là tượng trưng cho sự tốt lành, hanh thông, may mắn. Hình ảnh của khỉ thường được điêu khắc hoặc dán trên các bức tường và cửa ra vào với mục đích kêu gọi phước lành, quan lộc và niềm vui.
          Inline image     Inline image 
          Trong văn học cổ, nhắc đến khỉ là người ta nghĩ ngay đến câu : ” Sát kê cảnh hầu 殺雞儆猴 ” hoặc ” Sát kê giáo hầu 殺雞教猴 ” cũng thế . Có nghĩa : Giết gà để cảnh cáo khỉ hay giết gà để dạy khỉ, theo truyện kể sau đây :
          Trong một gánh xiệc Sơn Đông bán thuốc, người bầu gánh có nuôi 3 con khỉ và đều dạy cho chúng biết làm trò xiếc như : Đi bằng 2 chân, mặc quần áo, đi dây, nhào lộn … Nhưng một hôm, 3 chú khỉ đều đồng lòng ” đình công ” không thèm làm trò xiếc nữa, mặc cho người bầu xiếc gỏ kẻng, thúc phèng la như thế nào, 3 con khỉ vẫn trơ trơ. Hết cách, chẳng lẻ bó tay, người bầu xiếc bèn nghĩ ra một cách, ông ta đem một con gà trống đến giữa sân, rồi gỏ kẻng, gỏ phèng la lên, dĩ nhiên là con gà trống vẫn trơ trơ. Ông ta bèn hươu đao chém bay đầu con gà máu tuôn xối xả . Đoạn, ông cho dắt 3 con khỉ ra sân, tay vẫn còn lăm lăm cây đao, ông ra lệnh cho gỏ kẻng, gỏ phèng la lên, 3 con khỉ sợ bị chém như gà, bèn ngoan ngoản diễn đủ trò theo yêu cầu cuả ông bầu xiếc.
           Vì tích trên mà ta có câu Thành ngữ ” Sát Kê Cảnh Hầu ” tương đương trong tiếng Nôm ta là : ” Giết gà dọa khỉ, Giết gà dạy khỉ hay Giết gà răn khỉ ” gì cũng thế. Ý nghĩa của câu thành ngữ nầy cũng tương đương như câu : ” Giết một răn mười “, phạt một người để làm gương răn đe cho trăm ngàn người khác !
              Image result for 殺雞教猴  Inline image
          Cũng như con ngựa, con khỉ cũng đồng hành với con người từ ngàn xưa đến nay, nên ta cũng có một thành ngữ liên quan đến 2 con vật nầy, đó là câu ” Tâm Viên Ý Mã 心猿意馬 “, để chỉ TÂM và Ý không đồng bộ, không ăn khớp với nhau, vừa muốn làm việc nầy, vừa muốn làm việc nọ, tâm ý hoang mang không quyết định được. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ đời Hán, Ngụy Bá Dương trong Tham Đồng Khế có phần chú như sau : ” Tâm viên bất định, Ý mã tứ trì “. Có nghĩa : Lòng thì không ổn định như lòng con vượn, còn ý thì như con ngựa muốn chạy bốn phương “.  漢·魏伯陽《參同契》注:“心猿不定,意馬四馳。” Thơ của Hứa Hồn đời Đường, trong bài Đề Đỗ Cư Sĩ Thi có câu : ” Cơ tận Tâm Viên phục, Thần nhàn Ý Mã hành ” 唐·許渾《題杜居士》詩:“機盡心猿伏,神閑意馬行。” Có nghĩa : ” Thời cơ đã hết nên lòng cũng lắng xuống như tâm con vượn, Tinh thần nhàn nhã thì ý cũng phóng túng như ngựa chạy vậy “.
           Nhưng, theo kinh văn Duy Ma Cật, thì Phật Giáo cho là lòng của chúng sinh không có ổn định, như lòng của con vượn và ý của con ngựa vậy, luôn luôn động đậy và hướng ngoại, khó mà an trụ cho được ! Nên, phải khắc chế được cỏi lòng cho đừng có ” Tâm Viên Ý Mã ” thì tâm mới định mà tu hành mới có kết qủa và mới đắc đạo được.
                 Inline image       Inline image

          Để thay đổỉ không khí, và để cho Đông Tây được đề huề, Xin được giới thiệu thành ngữ ” Lấy Dẽ Trong Lò “. Thành ngữ này dùng để chỉ bị người lợi dụng, làm những việc mạo hiễm để cho người khác được hưởng lợi, ngồi mát ăn bát vàng.
          Thành ngữ nầy lấy từ thơ Ngụ Ngôn cuả đại thi hào Pháp cuả thế kỷ 17 là Jean de La Fontaine (1621-1695). La Fontaine được các nhà văn thời Tiền Chiến của ta nhại âm dịch tên là Lã Phụng Tiên, giống như tên của Lã Bố thời Tam Quốc vậy. Bài thơ Ngụ Ngôn có tựa là KHỈ và MÈO. Nội dung tả lại việc Khỉ dụ Mèo khều lấy hạt dẽ đang được nướng ở trong lò. Khỉ ăn hạt dẽ còn Mèo thì bị cháy cả lông chân. Bài thơ Ngụ Ngôn nầy được
 diễn nôm như sau :
            KHỈ và MÈO
Khỉ và Mèo cùng chung một chủ
Chung một nhà, thức ngủ có đôi
Phá hại thì nhất hạng rồi
Lại không kiêng nể một ai bao giờ
Đã biết vậy, đừng ngờ xóm ngõ
Nếu trong nhà đổ vỡ vật chi
Khỉ thì trộm cắp quá đi
Mèo thì chuột bọ để gì ý đâu
Nhưng phó mát cất đâu cũng biết
Ăn vụng thì hạng nhất trần gian
Một hôm hai đứa lưu manh
Trông thấy hạt dẻ nướng quanh bếp lò
Cùng rỏ dãi, nhỏ to bàn mãi
Một việc thôi, mà lợi hai đường
Trước là thích khẩu no lòng
Sau thì để khổ cho ông hỏa đầu
Khỉ cất tiếng yêu cầu chú Mão:
“Việc làm này ông bạn mới xong
Nếu tôi mà được như ông
Bẩm sinh bạo lửa thì không phải nhờ
Hạt dẻ nướng đương chờ ta đó
Bạn lấy ra chẳng khó khăn gì!”
Mèo nghe hành động tức thì
Gạt tro cẩn thận ra rìa bếp than
Hai chân nó mấy phen thò thụt
Rốt cuộc rồi lấy được hạt đầu
Rồi hai ba hạt tiếp sau
Khỉ trong lúc đó cúi đầu bóc ăn
Bỗng con sen ngoài sân đi tới
Khỉ và Mèo cùng vội lẩn chuồn
Riêng Mèo vừa tức vừa buồn

Có nhiều hầu bá giống trường hợp trên
Nghe phỉnh nịnh, lửa tên liều mạng
Chiếm đất đai dâng hiến cho vua
Sánh Mèo cái dại chẳng thua !
                   Bản dịch của Đỗ Khắc Siêm, Hà Khắc Nguyện

                   Image result for thơ ngụ ngôn la fontaine         疯狂猜成语一猴子狐狸和火中的栗子
        Trở lại Ấn Độ  với thần khỉ  Hanuman là một nhân vật trong thần thoại Hindu được kể lại trong sử thi Ramayana.    Trong sử thi, Hanuman đã giúp đỡ cho người anh hùng Rama trong cuộc chiến chống lại vua quỷ Ravana. Thần khỉ Hanuman là nhân vật trung tâm trong hai bộ sử thi vĩ đại và lừng danh của Ấn Độ là Ramayana và Mahabharata. Các đền thờ khắp nước Ấn Độ đều có hình ảnh Hanuman, vị thần khỉ nổi tiếng với vũ khí là quả chùy ( gada ), biểu tượng của lòng dũng cảm. Thần rất sùng bái người bạn của mình là Rama ( vị Vua anh hùng được kể trong sử thi Ramayana ), và cũng được Rama thương yêu nhất, nên có khi người ta vẽ Hanuman với hình Rama xăm trên ngực. Rama được coi là hóa thân của Vishnu, là Đấng bảo tồn trong quan niệm Trimurti của Ấn giáo. Trong cuộc chiến đấu giữa vua Rama anh hùng và quỷ Ravana, thì Hanuman là người giúp đỡ vua đắc lực nhất, trung thành với vua nhất.
             Inline image   Inline image
        Sang qua châu Mỹ với chú King Kong khổng lồ nhưng lại si tình vào bậc nhất cổ kim với câu nói bất hủ của phương Đông là : ” Anh hùng nan qúa mỹ nhân quan !”, đằng nầy quái thú cũng không thể thoát khỏỉ lưới tình !
        King Kong là tên một con ác thú khổng lồ (giống loài khỉ đột) được hư cấu trong nhiều loại tác phẩm, đặc biệt là điện ảnh. King Kong nổi tiếng khắp thế giới từ bộ phim cùng tên năm 1933, và tiếp tục được làm lại vào 1976 và 2005.
        King Kong sinh sống trên Đảo Đầu Lâu (Skull Island), ở đâu đó trên Ấn Độ Dương và được cư dân nơi đây thờ cúng như một quái vật ăn thịt linh thiêng. Một đoàn làm phim từ New York lặn lội đường xa đến đây vì nghe nói có nhiều sinh vật huyền bí trên đảo này, do đó sẽ có cơ hội tạo những cảnh quay ngoạn mục.
        Cô diễn viên Ann Darrow xinh đẹp bị bắt cóc và đem ra tế Kong. Con khỉ đột chẳng những không ăn thịt Ann mà còn thích thú và yêu mến nàng. Mọi người trên tàu đi giải cứu Ann, trong đó hăng hái nhất là nhà viết kịch bản Jack Discroll, người yêu của cô. Đoàn người mắc kẹt trong rừng sâu và phải đối mặt với bao sinh vật nguy hiểm, như côn trùng khổng lồ, rắn rết, khủng long… Rồi lại bị Kong tấn công, bao nhiêu người bỏ mạng. Những kẻ sống sót vội vàng bỏ cuộc, trở về New York. Jack vẫn quyết tâm tìm Ann. Khi cứu được thì con khỉ đuổi theo. Đạo diễn Carl Denham nhân cơ hội đó bẫy nó đem về New York. Ông ta gọi nó “Kong– vị vua (King) của thế giới”.
         King Kong được đem ra trình diễn cho khán giả có máu mặt ở Manhattan ( Mã Nhật Tân, một khu phố lớn nổi tiếng ở New York ) như là một “Kỳ quan thứ tám của thế giới”. Ann lại không đến dự vì phản đối hành động tàn ác đó. Kong phá tan nhà hát trình diễn, thoát ra tìm Ann. Nó đại náo toàn bộ khu đô thị lộng lẫy xa hoa, khiến xe cộ, nhà cửa đổ bể tan hoang. Ann xuất hiện kịp thời, Kong lại bị mê hoặc bởi sắc đẹp của nàng, giống như trong truyện Giai nhân và Quái thú (Beauty and the Beast). Nhưng quân đội ập đến, Kong bế Ann bỏ chạy lên tòa nhà Empire State cao nhất thời đó (trong phim năm 1976 là tòa WTC). Các phi cơ chiến đấu liên tục bắn nó, mặc cho Ann gào khóc ngăn cản. Cuối cùng Kong gục ngã và rớt xuống đất, chết một cách đau đớn. Carl Denham lặng lẽ thốt lên “Con Quái thú không chết vì bị bắn, mà chết vì Giai nhân”.
 
           Image result for king kong       Image result for king kong
        Trở về với con khỉ đá đòi lớn ngang bằng trời là ” Tề Thiên Đại Thánh “. Được nứt ra từ một tảng đá thụ khí âm dương cuả trời đất ở Đông Thắng Thần Châu. Con thạch hầu nầy được đồng loại tôn xưng là Mỹ Hầu Vương 美猴王. Vì không muốn luân hồi sinh tử như muôn loài, nên Mỹ Hầu Vương ra đi tìm học phép trường sinh. Bái Bồ Đề Tổ Sư làm sư phụ, được đặt tên là Tôn Ngộ Không 孫悟空. Tôn là Hồ Tôn 猢猻, cách gọi riêng về loài khỉ. Ở đây Tôn Ngộ Không học được 72 phép biến hóa gọi là Thất thập nhị Huyền công và có thể bay lộn trên mây ( Cân đẩu vân ), lộn một vòng bay được 10 vạn 8 ngàn ( 108.000 ) dặm ( khoảng 54000 kilometers ) và có một cây gậy “Như ý Kim Cô bổng” ( là Định Hải Thần Châm dưới Đông Hải ) có thể thay đổi kích thước, được đặt sau tai, dùng làm vũ khí để đánh yêu quái. Ở Hoa Qủa Sơn Tôn Ngộ Không tập hợp các động yêu ma làm mưa là gió. Náo Long cung, phá Âm Tào, đại náo Thiên Cung, Ngọc Hoàng phong cho chức Bật Mã Ôn 弼馬溫 là quan giữ ngựa. ( Từ chức vụ nầy ta thấy trong thực tế Ngựa rất sợ Khỉ ). Biết được chức vụ giữ ngựa là chức quan nhỏ nhoi, lại đại náo thiên đình đòi phong làm : Tề Thiên Đại Thánh 齊天大聖, nhưng vẫn chưa chịu yên thân, rảnh rang lại đại náo  Đại hội Bàn Đào, và bị Phật Tổ đè xuống Ngũ Hành Sơn 500 năm. Được Đường Tam Tạng cứu ra để cùng đi Tây Phương thỉnh kinh với tên gọi Tôn Hành Gỉa 孫行者, bị khống chế bởỉ vòng Kim Cô 金箍 của Phật Tổ Như Lai do Quan Thế Âm Bồ Tác trao, kịp đến khi thành chánh qủa là Đấu Chiến Thắng Phật 鬪戰勝佛 thì vòng Kim Cô mới tự nhiên biến mất.
       Image result for 西游記  Image result for tề thiên đại thánh  Image result for 西游記
       Hình Lục Tiểu Linh Đồng, người vào vai Tề Thiên Đại Thánh ấn tượng nhất, đẹp nhất trong bộ phim Tây Du Ký của đạo diễn Dương Khiết, do Trung Quốc sản xuất năm 1982.
        Một số học giả cho rằng nhân vật Tôn Ngộ Không được phỏng theo Hanuman, ” thần khỉ ” trong Ấn Độ giáo được thuật lại trong một quyển kinh sách do Trần Huyền Trang từ Tây Phương thỉnh về.
        Các nhà khảo cổ Trung Quốc gần đây lại phát hiện ra một nguồn gốc khác của Tôn Ngộ Không từ những bức bích họa có niên đại hơn 1.000 năm. Những bức vẽ này được tìm thấy trong Động Thiên Phật, cách huyện Tây An, tỉnh Cam Túc khoảng 90 km. Các bức hình có cảnh một vị hòa thượng và ” Hầu hình nhân 猴形人 ” ( khỉ hình người ) đang trang nghiêm chắp tay hành lễ, hướng mặt về phía Phật Bà Quan Âm trên đài Kim Cương bảo thạch. Bốn bức hình khác khắc họa chi tiết thầy trò Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, tương tự như câu chuyện trong ” Tây Du Ký ” của Ngô Thừa Ân sau này vậy.
              Image result for 猴年 2016
          Nhớ hồi xưa, khi tạo mẫu thêu cho má tôi thêu mặt gối hình 12 con giáp. Tới năm THÂN, tôi đã phải mượn hình tượng cuả Tề Thiên Đại Thánh được vẽ theo kiểu hoạt họa ở trên và thêm vào 4 chữ  THÔNG MINH DĨNH NHỘ 聰明穎悟 cho các em bé tuổi THÂN nằm, để cho các em không cảm thấy ” Tủi Thân ” như dân gian đã hát :
                     Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi,
               Còn tôi riêng chịu một đời ” tủi thân ” !
         Viết đến đây, lại nhớ đế lần họp mặt của Vườn Thơ Thẩn trong năm qua, anh Huỳnh Hữu Đức đã làm một đôi câu đối để tặng cho chị Phương Hà là người tuổi Thân như sau :
                  Năm Mão là năm mèo. Mèo đội mão
                  Tuổi Thân là tuổi khỉ. Khỉ ” tủi thân “.
            Tội nghiệp, làm chị Phương Hà buồn 5 phút !
         Trở lại với cây nhà lá vườn, khỉ có mặt ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, chả thế mà nông thôn Việt Nam nơi nào cũng có ” Cầu Khỉ “, và cây cầu khỉ đã trở thành ” top ten ” trong 10 cây cầu đáng sợ nhất thế giới …
               Image result for cầu khỉ miền tây   Image result for cầu khỉ miền tây
         Tên gọi cầu khỉ không phải vì cầu dành riêng cho khỉ, mà là tư thế lom khom của người khi qua cầu trông giống như con khỉ. Những cây cầu nổi tiếng ở các miền quê Việt Nam này làm bằng tre và dây dừa, bắt qua những con sông, rạch, dòng kênh nhỏ. Cầu rất hẹp và lắc lư mỗi khi có người đi qua.
          Inline image   Image result for cầu khỉ miền tây
         Các vùng quê hẽo lánh it người qua lại hoặc các vùng rừng đước rừng tràm … được gọi là các vùng ” Khỉ ho Cò gáy “. Hù dọa ai một cách vô ích thì gọi là ” Rung cây nhát Khỉ “, làm những chuyện vô bổ không cần thiết thì nói là ” Dạy Khỉ leo cây “, gặp chuyện gì cũng nhăn nhó thì mắng nhau ” Cái tù mặt mầy như là Khỉ ăn ớt vậy “, hoặc nói nặng hơn ” Thứ cái đồ mặt nhăn như Khỉ “. Gặp đứa phản trắc, ăn cơm tui mà hại tao, thì bảo là ” Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà “. Ghét ai thì mắng ” Thứ đồ Khỉ gió !”. Muốn phủ định việc gì thì nói là : ” Khỉ khô, khỉ mốc, khỉ dọc “!… Con khỉ xấu vậy sao ? Nhưng lúc thấy vui thì cũng sẵn sàng ” làm trò Khỉ “, con nít rắng mắt thì gọi là ” Liếng Khỉ “, tuổi con khỉ thì dân gian có câu hát rằng :
                      Tuổi Thân con khỉ ở lùm,
                Trèo qua trèo lại té ùm xuống sông !
         Thương cảm và thân thiết hơn với hình tượng :
                    Con khỉ bồng con lên non hái trái,
                Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi !
        Viết đến đây, làm ta nhớ lại một chuyện tình giữa khỉ vượn và người rất nôỉ tiếng trong văn học dân gian Việt Nam,  đó là truyện LÂM TUYỀN KỲ NGỘ mà giới bình dân gọi là ” BẠCH VIÊN TÔN CÁC ” với câu hát :
                        Bạch Viên Tôn Các xa trông,
                 Bồng con ôm gói thẳng xông lên đàng. 
        “ Lâm tuyền kỳ ngộ ” 林泉奇遇 là ” Cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa suối rừng “, là một truyện dài bằng thơ, gồm 146 bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, một bài thơ tứ tuyệt và một bài “ Thạch tuyền ca khúc ” theo thể Hát Nói ( hai bài này đều ở cuối tác phẩm ). Hoàng Xuân Hãn trong “ Thi văn Việt Nam ” cho rằng tác phẩm này gồm 150 bài thơ Đường luật.
        Tác phẩm này hiện vẫn chưa ai tìm ra được tên tác giả, có một số giả định là tác phẩm được viết vào khoảng đầu thế kỷ XVII. Còn có nơi cho rằng tác giả là hoàng giáp Nguyễn Ðăng, một nho sĩ tài hoa ở Ðại Toán, Bắc Ninh khoảng thời Trịnh Tạc (1657-1682), từng được cử đi sứ nhà Minh năm 1673.
        Nội dung tác phẩm dựa vào “ Viên thị truyện ” 猿氏傳 của Cố Quýnh đời Đường, Trung Quốc, gắn liền với chùa Phi Lai. Truyện miêu tả cuộc tình duyên giữa một nho sinh và một con vượn trắng đã hoá thành người ( con vượn vốn là tiên giáng trần ). Tính chất lãng mạn, tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, chống những hạn chế của tôn giáo, mạnh dạn biểu lộ những yêu cầu hạnh phúc của con người, của tình yêu nam nữ, đã làm nên giá trị chủ yếu của tác phẩm.
            Inline image   Inline image
          Bản Nôm của QH Huế      Vở Cải Lương BVTC
        Ngoài việc viết lại bằng thơ Lục Bát để dân gian nói thơ theo kiểu thơ Vân Tiên, Bạch Viên Tôn Các còn được sọạn thành tuồng Cải Lương với các vai diễn nổi tiếng như nghệ sĩ Thanh Sang vai Tôn Các và kiều nữ Thanh Nga vai Bạch Viên rất ăn khách trong thập niên 70 của Thế kỷ trước.
         Nhân nhắc đến vượn, ta lại nhớ đến một thành ngữ có liên quan là VIÊN TRƯỜNG THỐN ĐOẠN 猿腸寸斷 ( Ruột của con vượn đứt ra từng tấc một ), Ta nói là ” Ruột thắt từng cơn ” hay ” Đứt từng khúc ruột ” theo tích sau đây :
         Sách Sưu Thần Ký đời Tấn, Quyển 22 ghi : Xứ Đông Hưng đất Lỗ, thuộc Quận Lâm Xuyên, có ngưới vào núi bắt được một vượn con mang về. Vượn mẹ chạy theo đến nhà. Người nầy trói vượn con trên cây trong sân. Vượn mẹ trông thấy, quỳ xuống van xin, giơ tay tự tát vào má mình. Người đó chẳng những không tha còn giết chết vượn con. Vượn mẹ trông thấy, kêu khóc thảm thương, rồi lộn đầu xuống đất mà chết. Người đó bèn mỗ bụng vượn mẹ ra, thì thấy ruột đã bị đứt từng khúc một. Nên, thành ngữ nầy dùng để chỉ sự nhớ thương bi thiết, hoặc qúa mức đau lòng mà ” Đứt từng đoạn ruột “! Thơ Lý Bạch trong bài ” Tặng Võ Thập Thất Ngạc ” có câu :
                Ái tử cách Đông Lỗ,               爱子隔东鲁,
                Không bi đoạn trường viên.    空悲断肠猿 .
Có nghĩa :
              Thương con như bị chia cắt ở đất Đông Lỗ,
              Buồn thương đứt ruột như con vượn kia cũng hoài công thôi !
         Quả là một thành ngữ đánh động lòng người, và là một câu chuyện luân lý đề cao tình mẹ thương con muôn vàn bi thiết. Vượn còn thế, huống hồ là người ? Ai là con mà lại nở bỏ mẹ, nở quên mất tình thương bao la cuả mẹ bao giờ ?! Cô gái quê cuả vùng sông nước Nam Bộ ngày xưa cũng đã mượn hình tượng cuả con vượn để nhắn nhủ với mẹ rằng :
                       Má ơi, đừng gả con xa,
                Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu ?!
          Image result for 猿猴斷腸故事   Image result for Con khỉ 23
         Trong số Đề 36 con, thì Khỉ đứng đầu trong nhóm Ngũ Khất Thực  ( 5 người ăn mày ), mang số 23 và có tên chữ là Tam Hòe với lời vè như sau :
                       Tam Hòe con khỉ hăm ba, 
                Thua hoài đến nổi bán nhà không hay !
         Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm quyết định xóa số 2 sòng bạc lớn nhất Sài Gòn Chợ Lớn là Kim Chung và Đại Thế Giới, thì đề 36 không còn nữa . Nhưng nhóm quân đội người Nùng giúp Tổng Thống dẹp loạn Bình Xuyên vẫn còn xổ đề ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm Chợ Lớn, và họ đã thêm vào 4 con nữa cho đủ 40. Bốn con thêm vào là 37 Thiên Công ( Ông Trời ), 38 Địa Chủ  ( Đất Đai ), 39 Thần Tài và 40 là Táo Quân ( Ông Táo ). Nên khi áp dụng vào Xổ Số Kiến Thiết thì ta có tới 2 con khỉ lận : Con khỉ nhỏ là 23, còn con khỉ lớn là 63 ( cộng thêm 40 nữa )! Thế là các tay ghiền đánh số đề từ 00 đến 99 mỗi ngày ít nhất phải thua thêm một con số đề nữa !
          Nạn đánh đề càng trầm trọng khi xã hội càng phân biệt giàu nghèo. Dân càng nghèo càng phải chạy theo cuộc sống và càng mê số đề hơn, và càng thua nhiều hơn nữa, rồi càng phát sinh nhiều tệ nạn xã hội hơn và cuối cùng là xã hội càng băng hoại hơn !… Rồi đến một ngày nào đó thì …
                 Thọ đão hồ tôn tán !    樹倒猢猻散 !
Có nghĩa :
                Cây đã ngã rồi thì lũ khỉ cũng sẽ tan hàng !
      Inline image   Inline image

 Theo tích sau đây :

           Trong sách Thuyết Phù được biên soạn bởi Đào Tông Nghi, trong đó có một câu truyện như sau :
            Vào thời Nam Tống , có người tên là Tào Vịnh, vì có quan hệ mật thiết với Thừa Tướng lúc bấy giờ là Tần Cối nên  được phong làm quan lớn. Mọi người đều a dua theo ông ta để được phong quan, duy chỉ có em vợ cuả ông ta là Lệ Đức Tân, người rất chính nghĩa, không thích a dua, thà chịu giữ chức thư lại nhỏ nhoi ở địa phương chứ không về hùa với ông anh rễ. Tào Vịnh rất giận, ra lệnh cho quan huyện địa phương gây áp lực và làm khó ông em vợ cứng đầu nầy, nhưng Lệ Đức Tân vẫn không khuất phục.
            Sau khi Tần Cối chết, những người theo hùa với ông ta đều bị rơi đài. Tào Vịnh cũng bị biếm đến đất Tân Châu của vùng Quảng Đông. Lúc nầy, Lệ Đức Tân mới làm một bài phú có tựa là ” Thọ Đão Hồ Tôn Tán Phú 樹倒猢猻散賦 “. Nội dung châm biếm những người a dua với Tần Cối như là lũ khỉ, dựa hơi Thừa Tướng để tác oai tác phúc. Nay cây đã ngã rồi thì lũ khỉ nhóc cũng phải tan hàng mà thôi. Tào Vịnh đọc bài phú tức đến ói máu, nhưng cũng không làm gì được cái ông em vợ chính trực kia !!!
             Trông người lại ngẫm đến ta …
             Không biết chừng nào cái cây lớn Trung Quốc mới ngã, để cho lũ hồ tôn tan hàng thất tán, hết tác oai tác phúc làm giàu trên xương máu của dân nghèo. Mong rằng câu cuối của bài sấm Trạng Trình được linh nghiệm để cho …
                 … Thân Dậu niên lai kiến thái bình !
                                                   Mong lắm thay !!!
                                                            Đỗ Chiêu Đức
              Image result for 樹倒猢猻散  Inline image
    
                          Vịnh Bính Thân 2016
                   Đứng hàng thứ chín thuộc chi Thân,
                   Đại Thánh Tề Thiên giáng xuống trần.
                   Ấn Độ khỉ thần phò thánh đế,
                   Hoa Kỳ vượn chúa lụy giai nhân.
                   Tâm viên ý mã khôn an trụ,
                   Ruột đứt lòng sầu khó giải phân.
                   Cây ngã hồ tôn đi tứ tán,
                   Thái bình vui hưởng lấy chi cân !
                                                      Đỗ Chiêu Đức

Chí Tâm viết bản vọng cổ tưởng nhớ soạn giả Viễn Châu


Chí Tâm viết bản vọng cổ tưởng nhớ soạn giả Viễn Châu

Nghệ sĩ Chí Tâm chia sẻ: “Ai yêu cải lương mà không yêu kính bác Viễn Châu. Tôi chỉ muốn sáng tác một bản nhạc như thắp nén hương tiễn biệt bác khi tôi đang ở xa”.
ài vọng cổ được Chí Tâm sáng tác trong vòng bốn giờ đồng hồ, kết hợp các giai điệu: Lý Chim Xanh – Vọng Cổ – Lý Mỹ Hưng – Lý Giao Duyên… theo thể thức như một bản tân cổ giao duyên. Sau khi viết xong phần lời, anh ngồi thu đàn trên máy vi tính cùng ba cây guitar, đàn kìm và đàn bầu. Anh nhờ vợ quay video cảnh anh trình diễn ca khúc để chia sẻ lên trang cá nhân tâm trạng tiếc nhớ người soạn giả mà anh yêu kính.
Lời của ca khúc có không ít câu nhắc lại các tác phẩm vọng cổ nổi tiếng của Viễn Châu: “Thương mái tóc trắng phong trần/ Thương nhân nghĩa giữ thanh bần/ Gương Bác Bảy sống thuần lương/ Luôn ban rải những yêu thương/ Bến sông tương Ông Lão Chèo Đò/Bạn chung tình về Gánh Nước Đêm Trăng/Hoa Lan sầu tình Điệp rối tơ giăng…”. Ý thơ, lời nhạc hòa quyện vào nhau khiến người nghe xúc động. Nhiều khán giả khi xem video trên trang cá nhân của Chí Tâm đã khen bài hát và bày tỏ sự đồng cảm.

Nghệ sĩ Chí Tâm tên thật là Dương Chí Tâm, sinh năm 1952 tại Trà Ôn – Vĩnh Long. Anh yêu cải lương từ ngày bé và được gia đình cho học ca cổ nhạc từ lúc 6 tuổi. Năm 13 tuổi, Chí Tâm được đưa lên Sài Gòn học ca cổ với nhạc sĩ Bảy Bá tức soạn giả NSND Viễn Châu. Nhưng lúc đó, do ông Viễn Châu có quá nhiều học trò và hết chỗ để học trò mới nội trú, Chí Tâm được gửi sang học với nhạc sĩ Út Châu (soạn giả Yên Sơn). Anh có thời gian gắn bó với các đoàn hát: Tinh Hoa, Dạ Quang Châu, Kim Chung…và nổi danh với hàng trăm vai diễn. Anh được khán giả nhớ đến nhiều nhất qua vai Điệp trong vở cải lương Lan và Điệp của soạn giả Loan Thảo.

 

 

 

QUAN TÂM : Đức Tuấn khoe giọng đẹp cùng Ly rượu mừng


Đức Tuấn khoe giọng đẹp cùng Ly rượu mừng

04/02/2016 08:24 GMT+7

TTO – Ca sĩ Đức Tuấn hát lại ca khúc Ly rượu mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương (sáng tác năm 1952) với lời đánh giá “đây là một trong những khúc nhạc xuân hay nhất từ trước đến nay.

Đức Tuấn khoe giọng đẹp cùng Ly rượu mừng
Ca sĩ Đức Tuấn

Chia sẻ lí do hát lại ca khúc này cho mùa xuân mới, Đức Tuấn nói: “Tôi chọn vì đây là một trong những khúc nhạc xuân hay nhất từ trước đến nay. Tôi đã nghe và yêu thích ca khúc từ lâu, thường ngân nga trong mỗi dịp xuân về và nay, ca khúc vừa được cấp phép cho phổ biến lại nên tôi không thể bỏ qua dịp này”.

Ngoài lí do yêu thích ca khúc, Đức Tuấn cũng rất có duyên khi hát những ca khúc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Và Ly rượu mừng cũng là một trong sáng tác để đời của ông.

“Ngay từ những ngày đầu đi hát tôi đã chọn hát nhạc của ông. Bắt đầu từ CD Đôi mắt người Sơn Tây và sau này là rất nhiều ca khúc khác nữa. Tôi yêu thích nhạc của Phạm Đình Chương và cũng tự thấy mình hợp với chất nhạc nhạc và phong cách này” – Đức Tuấn thổ lộ.

Với phiên bản Ly rượu mừng của Đức Tuấn, khán giả được thưởng thức một phong cách hát bán cổ điển kết hợp với tinh thần hiện đại qua phần hòa âm của nhạc sĩ Minh Thụy. Phần hòa âm này nhận được rất nhiều lời khen ngợi khi khoe được vẻ đẹp trong giọng hát của Đức Tuấn.

Đức Tuấn khoe giọng đẹp cùng Ly rượu mừng
Đức Tuấn hát Ly rượu mừng sau khi ca khúc này được cấp phép phổ biến trở lại.

QUAN TÂM

http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20160204/duc-tuan-khoe-giong-dep-cung-ly-ruou-mung/1048981.html

Ly rượu mừng của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương sáng tác năm 1952. Ca khúc với âm điệu rộn ràng, tươi vui như một thông điệp, một lời chúc Tết tốt đẹp theo truyền thống dân tộc, tới mọi thành phần, lứa tuổi trong xã hội. Ngay từ khi ra đời, ca khúc đã được lòng khán giả, là tác phẩm được trình bày và nghe nhiều nhất trong mỗi dịp xuân về. Nhiều thế hệ ca sĩ trước đây gắn liền tên tuổi với bài hát như danh ca Thái Thanh, Hoàng Oanh, Kiều Nga, Khánh Ly…

Tâm Giao