NGÀNH MAI Cái Tết ngày xưa của cải lương


Cái Tết ngày xưa của cải lương
Friday, February 5, 2016 1:54:15 PM
Ngành Mai


Năm nay Tháng Chạp, tháng thiếu nên không đầy hai ngày nữa là đến giờ giao thừa hết năm cũ bước sang năm mới. Ở trong nước phần lớn mọi ngành nghề trong xã hội đều đã nghỉ ngơi chờ ăn Tết. Ðối với hoạt động của cải lương thời xưa thì ngày hôm nay mọi gánh hát lớn hoặc nhỏ đều sẵn sàng chờ đón ngày vui vẻ nhứt trong nghề làm nghệ thuật sân khấu.


Trước rạp hát ngày đầu Xuân thời thập niên 1960. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Nói chung chỉ riêng có cải lương thì phải chuẩn bị làm việc nhiều hơn gấp bội.

Những năm thịnh thời của cải lương ở các thập niên 1950-1960 thì ngày Tết là dịp hốt bạc của giới này, mà giờ đây cứ mỗi lần Tết là mỗi lần họ không khỏi ngậm ngùi luyến tiếc cho cái thời vàng son thuở ấy.

Thật vậy, khi xưa giới cải lương đã đón Tết một cách huy hoàng, tiền vô như nước. Chỉ nội ngày mùng 1 Tết họ có thể hát đến 4 suất, mà mỗi suất hát được trả tiền gấp đôi, tức số tiền lãnh tăng lên gấp tám lần. Nói một cách rõ ràng hơn là những ngày trong Tháng Chạp mỗi đêm hát họ còn lãnh một ngàn đồng, nhưng đêm Mùng Một thì bầu gánh phải trả đến 8 ngàn, mà còn cộng thêm tiền lì xì Tết, tiền nhiều ít tùy theo gánh.

Ngày mùng 2, mùng 3 cũng vậy, hoặc nếu có thấp xuống thì cũng còn 2 hoặc 3 suất hát. Mấy ngày Tết đào kép mệt khờ người luôn, bởi suất hát vừa vãn nghỉ xả hơi độ 1, 2 giờ đồng hồ thì lại tiếp tục lên sân khấu. Tuy vậy mà người nào cũng thoải mái tinh thần, mừng vui ra mặt.

Về phần bầu gánh trả lương cho nghệ sĩ gấp đôi như vậy, họ có lời không? Câu trả lời nhanh là họ lời khẩm! Bởi vé bán tăng tiền lên gấp rưỡi mà suất hát nào cũng hết vé, thiên hạ chen chân mua vé, sân khấu còn đang trình diễn mà suất hát kế tiếp đã treo bảng “hết vé” rồi! Ðó là chưa kể tiền cửa (tiền cửa tức tiền đưa tại cửa rồi đứng coi, vì ghế ngồi đã đầy hết). Tiền vô cửa ngang bằng với vé ngồi hạng ba và cũng thu vô liền tay, bỏ đầy thùng.

Cái đặc biệt của cải lương hát Tết là khán giả không hề kén chọn tuồng, cũng không kén chọn đào kép, diễn viên, tuồng hay, tuồng dở gì cũng chật rạp, và hầu như tuồng nào cũng bị nhận lớp ít hay nhiều, tức bỏ bớt những cảnh nào đó mà người xem vẫn hiểu, chứ nếu không thì đâu đủ giờ hát suất sau.

Cải lương hát Tết ngon lành như vậy, bảo sao khi xưa mấy tháng cuối năm là ở các địa phương xa gần, tỉnh nào cũng có thêm gánh hát mới ra lò, với không khí đầy hy vọng. Họ vẽ bảng hiệu mới, vẽ tranh cảnh mới và người ta cũng nghe ca hát tập tuồng ngày đêm. Ðây là thời gian mà bầu gánh hát mới chuẩn bị cho ngày Tết ra quân, khai trương bảng hiệu để lượm bạc, ít nhứt cũng đầy túi trong 3 ngày Xuân. Sau ngày mùng 4 thì hát trở lại bình thường nhưng khán giả cũng còn đông đảo, kéo dài cho đến Rằm Tháng Giêng thì khán giả mới thưa dần.

Thế nhưng, cái thời kỳ mà Tết đến thiên hạ nô nức rủ nhau đến rạp cải lương kia nó đã không còn nữa, khi Việt Nam bắt đầu có truyền hình. Người ta nằm nhà coi cải lương trên truyền hình, bởi đài cũng chọn tuồng hay để phát vào dịp Tết, và dĩ nhiên sân khấu chẳng còn đông người coi, có gánh khán giả thưa thớt, phải đóng màn chịu trận cho qua ba ngày đầu Xuân. Nhiều đoàn đã cho đào kép nghỉ “ăn Tết” với cái túi trống rỗng, chớ mở màn thì có mấy người đi coi đâu, bởi thiên hạ đổ dồn về những nơi có máy truyền hình để coi tuồng của gánh lớn.

Và giờ đây cải lương lại thêm một cái Tết điêu tàn, cái thời kỳ hoàng kim của cải lương đã lui về dĩ vãng và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại, trừ phi có phép lạ nào đó! Người ta chỉ mong mỏi sao bộ môn nghệ thuật này được bảo tồn là may lắm rồi!

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=222140&zoneid=268

 

Giáo sư Ngô Đức Thịnh: ‘Mùng 3 tết thầy’ ai còn nhớ ?


Giáo sư Ngô Đức Thịnh: ‘Mùng 3 tết thầy’ ai còn nhớ ?

Trong cuộc trò chuyện cuối năm với giáo sư Ngô Đức Thịnh – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, người viết được ông phân tích cặn kẽ từng lớp nghĩa trong câu thành ngữ “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết mẹ, mùng 3 tết thầy

Chữ “tết” trong câu thành ngữ trên là sự rút gọn của động từ “chúc tết”. Việc chúc tết cha mẹ, thầy giáo đã trở thành đạo lý mà mỗi người phải hoàn thành trước khi bước vào những cuộc ăn chơi đầu năm mới.

 tet thầy
Lớp học của thầy đồ xưa.

Theo mô tả của vị giáo sư chuyên nghiên cứu văn hóa dân gian, trước đây, nhà thầy đồ luôn đông vui nhộn nhịp vào ngày mùng 3 tháng Giêng bởi các thế học trò đến chúc tết. Món quà mang đến cho thầy thường là bánh trái, hoa quả. những sản vật địa phương. Có khi nhà thầy đang tổ chức ăn uống cũng mời học trò ở lại dùng bữa.

Khi đến thăm thầy, người học trò được các bạn đồng môn tín nhiệm nhất sẽ đứng lên thưa với thầy về sự có mặt của bạn bè đồng môn và chúc thầy những điều tốt lành. Ngày xưa, dù ai làm đến quan nhất phẩm trong triều đình thì vẫn một lòng kính trọng với người thầy từng dạy mình.

Trong văn hóa dân gian Việt Nam, chữ thầy dùng để chỉ người có hiểu biết uyên thâm trong 4 lĩnh vực gồm Nho, Y, Lý, Số. Tương đương với 4 nghề được trọng vọng trong làng xã xưa là thầy đồ, thầy lang, thầy địa lý (phong thủy) và thầy tướng số.

Không chỉ các thầy đồ – người trực tiếp dạy dỗ, truyền đạt đạo lý thánh hiền cho học trò, đôi khi những người thầy thuốc, thợ cả, người dạy nghề cũng được môn đệ đến chúc tết trong ngày mùng 3 tháng Giêng.

Nếu việc thực hành lễ nghĩa với cha mẹ, họ hàng trong 2 ngày đầu năm mới thể hiện sự gắn bó bền chặt với những người cùng huyết thống, thì việc đến chúc tết người dạy mình lại mang một giá trị đặc biệt, thể hiện một xã hội coi trọng việc giáo dục con người.

.

Người Việt ngày nay vẫn giữ việc tết cha, tết mẹ, nhưng phong tục tết thầy dường như đã rẽ sang một hướng khác. Giáo sư Ngô Đức Thịnh cũng thừa nhận câu “Mùng 3 tết thầy” đã dần phai nhạt trong tâm thức người Việt, đặc biệt là thế hệ trẻ. Ngày nay chuyện giáo viên mở cửa đón học sinh đến chơi nhà trong ngày mùng 3 tết cũng không phổ biến.

Theo lý giải của nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu Việt Nam, “mùng 3 tết thầy” là quan niệm cũ gắn với nền giáo dục Nho học vốn đã lùi vào dĩ vãng. Thay vào đó là mô hình giáo dục phương Tây gắn với khoa học kỹ thuật.

Vì sự biến đổi tất yếu nói trên, không nên coi sự phai nhạt của ngày “mùng 3 tết thầy” trong tâm thức người Việt là quá trình suy thoái hay đánh mất giá trị văn hóa. Ngày quốc tế hiến chương các nhà giáo 20/11 xuất hiện cũng đã gánh vác toàn bộ  vai trò tri ân thầy cô thay cho mùng 3 tháng Giêng.

“Tôi vẫn biết có một số ít người chọn dịp đầu năm để đi thăm hỏi thầy, cô giáo. Tuy nhiên, con số mùng 3 chỉ mang tính tượng trưng. Người ta có thể đến thăm thầy vào mùng 4, mùng 5 vẫn mang ý nghĩ là nhớ đến người dạy mình trong dịp đầu năm mới”, ông Thịnh cho biết.

Mặt khác, lại có những học sinh, sinh viên tính chuyện tết thầy, nhưng thực tế là mua quà cáp đắt tiền mang đến biếu những người thầy đang quyết định việc đỗ đạt, thăng tiến của họ. Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh, đây là sự lệch lạc, méo mó trong văn hóa và hoàn toàn không đúng với ý nghĩa tết thầy trước đây.

Những ngày đầu năm mới, khi nhiều người tất tả chọn quà đi tết sếp, tết thủ trưởng, nhằm gây dựng những mối quan hệ mang lại lợi ích trước mắt, thì đâu đó vẫn có những cựu học sinh nhớ đến việc “tết thầy”. Câu nói “mùng 3 tết thầy” tuy không còn mang nặng tính trách nhiệm, nhưng vẫn là một lý do đẹp đẽ để thầy – trò tìm đến với nhau.