PHAN ANH DŨNG biên soạn : TRANG TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016) ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN VỚI TÀI LIỆU TỪ KHẮP NƠI


TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016) PDF Print E-mail

TRANG TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016) 

ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN VỚI TÀI LIỆU TỪ KHẮP NƠI

Biên soạn: Phan Anh Dũng – cựu học sinh trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn

PHÂN ƯU (PDF)

Tâm Hảo & Phan Anh Dũng gặp GS/TS Nguyễn Thanh Liêm nhân ngày vinh danh NS Anh Bằng – Nam California 2009

Phan Anh Dũng đến thăm GS/TS Nguyễn Thanh Liêm tại tư gia, sau khi Ông mổ tim – Nam California 2012

IRVINE, California (NV) – Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm vừa qua đời lúc 1 giờ 50 phút chiều Thứ Tư, 17 Tháng Tám, tại bệnh viện Kaiser, Irvine, bà Nguyễn Thị Phương, hiền thê của ông xác nhận với nhật báo Người Việt.

Bà Phương cho biết, Giáo Sư Liêm được đưa vào bệnh viện tối Chủ Nhật, sau khi thấy mệt trong người, và không đi tiểu được.

Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm là cựu hiệu trưởng trường trung học Petrus Ký, và là sáng lập viên Lê Văn Duyệt Foundation.

Ông vừa cho ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” tại Little Saigon hôm 6 Tháng Tám.

Trong buổi ra mắt này, cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng, một người cùng thế hệ với giáo sư, cho biết, ông Liêm là người miền Nam gốc Mỹ Tho trong một gia đình khá giả có điền sản nên được ăn học đến nơi đến chốn. Ông tốt nghiệp thủ khoa trường Cao Đẳng Sư Phạm Sài Gòn, cử nhân giáo khoa văn chương, và tiến sĩ đại học Iowa State University, Hoa Kỳ. Giáo Sư Liêm cũng là một nhân viên hành chánh cao cấp của VNCH, từng là hiệu trưởng nhiều trường trung học, chuyên viên hạng I Phủ Tổng Thống (ngang bộ trưởng), và thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên.

Cựu Đốc Sự Châu Văn Để, trưởng ban tổ chức buổi ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm, cho biết: “Tuổi trẻ Việt Nam trong nước cũng như tại hải ngoại biết đến Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm là một nhà văn hóa, dĩ nhiên, nhưng khi họ đọc qua những tác phẩm của ông, họ thấy ông không những là một nhà văn ‘đa hiệu’ mà còn là một nhà thơ chan chứa tình dân tộc.”

Ông Để cũng nhắc đến những hoạt động rất hăng hái của giáo sư trong các phạm vi văn hóa, văn học và cùng chung vai sát cánh với những tổ chức tranh đấu trong cộng đồng để mong cho đất nước và dân tộc Việt Nam được sống no lành, an vui hạnh phúc.

Giáo Sư Liêm không chỉ tham gia vào các hội giáo chức, cổ nhạc, đền Hùng… mà còn đích thân thực hiện nhiều công tác khó có ai bì kịp như việc lập ra tổ chức Lê Văn Duyệt Foundation, Ngày Văn Hóa Việt Nam, Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, thành lập và xuất bản tạp chí Đồng Nai-Cửu Long rất giá trị. Trên phương diện truyền thông, giáo sư cũng chăm chút các chương trình do chính ông thực hiện, cùng các hoạt động chính trị khác trong cộng đồng, ví dụ như đã hợp lực với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp hồ sơ “Thềm Lục Địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc trước thời hạn tối hậu là ngày 13 Tháng Năm, 2009.

Ông Để cho biết, Giáo Sư Liêm sinh ngày 21 Tháng Mười Một, 1933. (Đ.D.)

(Nguồn: nguoiviet online)

              “Lên Xuống Dốc Đời” – bài thơ của GS Nguyễn Thanh Liêm

                Trên đường thẳng thời gian vô biên giới,
                 Kiếp con người chỉ một chấm nhỏ nhoi.
                 Vậy mà sao người ta cứ mãi đua đòi,
                 Làm chi nữa cho đời thêm ngắn ngủi?
                 Hãy thư thả mặc cuộc đời dung ruổi,
                 Mặc bước đi xuống dốc như chạy nhanh.
                 Cứ tưởng như mình tóc hãy còn xanh,
                 Đầu có bạc nhưng lòng son chẳng bạc.

           TIỂU SỬ Giáo Sư, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm
       (do chính Ông biên soạn)

Sinh ngày 12 tháng 3 năm 1933 (Theo khai sanh là ngày 20 tháng 11, năm 1934)

Pháp Danh: Quảng Trí Thành (do Hòa Thượng Thích Nguyên Trí làm lễ tại Chùa Bát Nhã, ngày 27 tháng 12, năm 2015)

1956      Tú Tài II (Pháp, Philosophy)
1958      Tốt Nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, Giáo sư Petrus Ký Sài Gòn
1962      Cử Nhân Văn Chương Việt Hán, Hiệu Trưởng trường Trịnh Hoài Đức, Bình Dương
1963      Hiệu Trưởng Petrus Ký Sài Gòn
1964      Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn Đề Thi
1967      Chuyên Viên Số Một Chuyên Viên Phủ Tổng Thống Việt Nam
1971      Phụ Tá Đặc Biệt, ngang hàng Thứ Trưởng, đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục Việt Nam
1975      Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục
1979      Ph. D. Research and Evaluation, Iowa State University, Iowa.
1979      Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Chương Trình Học và Tài Liệu Giáo Khoa, University of Iowa.
1984      Giám Đốc Chương Trình Anh Văn cho Gia Đình (Family English Literacy) – Sở Giáo Dục quận Santa Clara, CA
1985      Trưởng Ban Biên Tập nguyệt san Tin Tức Đông Dương (Indochinese News), Stockton, CA
1986      Cố vấn nhân dụng Sở Xã Hội quân Santa Clara, CA
1999      Về hưu
2000      Dạy thêm một ít giờ ở Long Beach City College, CA
2003      Nghỉ hẳn

– Hội Trưởng cựu học sinh trường Petrus Ký Nam Cali
– Cố vấn Đặc Biệt hội ái hữu cựu học sinh Petrus Ký Nam Cali, và Bắc Cali
– Cố Vấn hôi ái hữu cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu và Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho
– Cố Vấn hội Vĩnh Long, Mỹ Tho, …
– Chủ Tịch hội Lê Văn Duyệt Foundation
– Chủ Tịch Phong Trào Đoàn Kết Việt Nam Cộng Hòa
– Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam
– Chủ Tịch Hội Nghị Diên Hồng Thời Đại
– Chương trình “Người Đẹp Việc Đẹp” trong VHN TV, Hội Thảo trong chương trình VHN TV

 Xin báo tin cho các thầy cô và anh em cựu học sinh Petrus Ký:
Thầy Nguyễn thanh Liêm vừa trút hơi thở cuối cùng lúc 3:40 PM ngày Aug 17, 2016 tại bệnh viện Nam Cali.

Cáo phó và thiệp tang sẽ đến sau.
Xin các anh em cầu nguyện cho thầy.
Cám ơn các anh em.
 
GS Đào Kim Phụng (8/17/2016)
                                        
                  
                            Nguồn: website của Nhạc sĩ Lê Dinh (Canada) http://www.ledinh.ca/
                                          
Tin buồn: Chia Tay Thầy Liêm!

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, sinh ngày 12 tháng 3 năm 1933 (nhưng theo khai sanh là ngày 20 tháng 11, năm 1934), tại làng Tân Mỹ Chánh, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, có Pháp danh là Quảng Trí Thành, đã mệnh chung hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2016, (nhằm ngày 15 Tháng 7 năm Bính Thân), lúc 1:50 trưa, tại nhà thương Kaiser Permanente Irvine. Giáo Sư Liêm được đưa vào bệnh viện hôm tối Chủ Nhật, 14 tháng 8 vừa qua vì ông thấy mệt trong người, và theo bệnh lý ông bị bịnh về tim mạch lâu nay.

Giáo sư Liêm học ở trung học Le Myre de Vilers rồi lên Petrus Ký. Giáo sư Liêm tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, có bằng Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán, và sau này lấy bằng Tiến sĩ ở Mỹ (Ph.D.về Research and Evaluation in Education). Ông đã từng làm hiệu trưởng trường trung học Trinh Hoài Đức, Bình Dương, và trường Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn, rồi làm Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn đề Thi, trước khi về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Trình, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Trong những ngày cuối của chế độ VNCH ông là Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục bên cạnh giáo sư Tổng Trưởng Nguyễn Duy Xuân.
Giáo Sư Liêm đã tận tụy hoạt động trong các sinh hoạt cộng đồng, từ lãnh vực văn hóa như trong các Hội Giáo Chức, Hội Cổ Nhạc, Hội Đền Hùng,… Lễ Kỳ Yên Vía Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Ngày Văn Hóa Việt Nam, Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, sáng lập và ấn hành đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long, gồm nhiều bài vở biên khảo giá trị.
Ông còn là Chủ Tịch Hội Lê Văn Duyệt Foundation, Phong Trào Đoàn Tết Việt Nam Cộng Hoà, trong Hội Đồng Cố Vấn Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam, ông sinh hoạt cùng với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp hồ sơ “Thềm Lục Địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc trước thời hạn tối hậu là ngày 13 Tháng Năm, 2009.
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm còn là nhà văn biên khảo. Những tác phẩm của ông đã được xuất bản như Giáo Dục Ở Miền Nam Tự Do Trước 1975; Nguyễn Thanh Liêm Tuyen Tap: Văn Hóa – Giáo Dục – Nhân Bản; Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm và loạt sách gồm 12 đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long gốm nhiều bài viết của ông. Ngoài ra, tổ chức văn học Văn Đàn Đồng Tâm cũng đã ấn hành Tuyển Tập ”Kỷ Niệm về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Nhà Văn Hoá Giáo Dục Nhân Bản Việt Nam”, sách dày 422 trang, hơn 40 bài viết của 38 tác giả biết về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, tác phẩm cũng đăng một sộ bài viềt tiêu biểu cho văn phong của ông.
Hôm vừa rồi, vào thứ Bảy ngày 13 tháng 7, Nhóm bạn hữu văn nghệ sĩ đã tổ chức buổi họp mặt đón tiếp nhà thơ Yên Sơn từ Houston sang Nam Cali, mọi người chung vui hàn huyên, ca hát thầy Liêm lắng nghe, ông chỉ cười khi sân khấu nhắc về tên ông nhiều lần. Hôm tuần trước trong phone ông hỏi thăm về Tuyền Tập Hồ Biểu Chánh, thầy như nhiều người mến mộ văn phong Hồ Biểu Chánh, tôi trình bày cho thầy nghe mọi việc tiến hành tốt đẹp, bài vở về nhiều rồi, tôi email lô đầu đã được layout vào sách cho thầy xem. Vì ông là cố vấn cho tác phẩm này, và ông sẽ trao tác phẩm cho đại diện gia đình của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Hôm ở Hống Ân thầy có bàn về tác phẩm cuồi cùng STĐT. Thầy nhờ nhóm chúng tôi tiếp tay vận động RMS Bắc Cali. Toi hứa năm nay tháng 10 lên Bắc Cali, sang năm 2017 nếu sức khoẻ cho phép nhóm bạn chúng tôi tại Texas vận động RMS tại 2 nơi là Dallas và Houston, thầy rất vui. Tôi bắt tay tiễn thầy ra về và nhắc thầy ráng giữ sức khoẻ tốt đẹp, thầy hứa thầy sẽ cố gắng. Hôm nay trong điện thoại điện đàm với hai cô Phương và cô Phụng, được tin thầy ra đi tôi rơi lệ lòng. Mới đây mà… sao kỳ vậy thầy ơi? Thầy hứa sẽ cố gắng… Em nghe rõ mà…  nhưng cuối cùng buồn thật. Thầy trò mình chia tay nhau để rồi sẽ gặp lại ở nơi nào, một cõi khác vậy.

Trần Việt Hải, 8:20PM, ngày 17/08/2016.

                                       
“Quả là Sanh Có Hạn, Tử Bất Kỳ.
Trong bối cảnh như thế nầy chúng tôi khám phá ra “Ý Nghĩa Và Giá Trị của Cuộc Sống mà GS. Nguyễn Thanh Liêm đã làm khi còn tại thế.” trong đó có Quý Anh Chị cho dù Danh Kỳ Thinh bất kiến kỳ hình.
Cám Ơn Mr. Mrs. Hoa Thế Nhân & Mr. Châu Văn Để & Mr. Trần Ngọc Tôn & GS Võ Kim Sơn & Mr. Mrs. GS Nguyễn Trí Lục người luôn luôn sát Cách Cùng GS Liêm trong mọi tình huống cho đến ngày nay.
Kính Chúc Quý Anh Chị Vui Vẻ, Khỏe Mạnh, Bình An trong bối cảnh ” Kẻ còn vương vấn bụi trần, Người Chuyển Nghiệp Bình Yên ! Không Biết Ai buồn hơn Ai ?”

Trong niềm tin Death không phải là cuối đường hầm của cuộc sống mà là giai đoạn chuyển tiếp sang next better life và hưởng tất cả những phúc lộc mà con người đầu tư khi còn tại thế. Cho phép chúng tôi mượn cơ hội nầy Tâm Thành Cầu Nguyện cho GS Người Thanh Liêm người mà chúng tôi biết từ khi ở Việt Nam cho đến ngày nay cho dù chúng tôi không có cơ hội sinh hoạt gần gủi với Ông Nguyễn Thanh Liêm như Quý Anh Chị. Đôi dòng tâm sự nầy cũng đại diện cho nhóm người biết GS Nguyễn Thanh Liêm dưới mái trường Petus Ký, Trung Học Trịnh Hoài Đức trước và sau 1975 ( Death is not the End. Death is an other fact, aspect, dimension of life. God plans for humans to step on next circle of healthy, happy life.)”

Nguyễn Viết Đức
                                        
Nhớ về Thầy Nguyễn Thanh Liêm!

Thầy về cõi tịnh bình yên
Giấc mơ phục quốc nỗi niềm ước ao!
Suốt đời trọn chữ thanh cao
Thầy là ngọn đuốc thắp vào tim tôi.
Từ trường mẹ đến trường đời
Bóng Thầy che mát bao lời quê hương!

KÍNH CẦU NGUYỆN THẦY NGUYỄN THANH LIÊM AN NGHỈ.
CHÚNG EM TỰ HÀO ĐƯỢC LÀM HỌC TRÒ CỦA THẦY
NGAY CẢ THỜI GIAN TỊ NẠN XỨ NGƯỜI!

Lê anh Dũng (Cựu Học Sinh Petrus Ký)

Thương Tiếc GS Nguyễn Thanh Liêm
 
Tin buồn nhận được hỡi ơi
Giáo sư Liêm đã xa rời trần gian
Dải mây chùng thắt khăn tang
Thân bằng quyến thuộc bàng hoàng xót thương
Thầy trò Petrus Ký buồn
Hàng cây nghiêng ngả mái trường gọi tên
Ngậm ngùi thương giáo sư Liêm
Người thầy kính mến bậc hiền từ tâm
Học trò thành đạt xa gần
Nhớ ơn thầy dạy muôn phần kính yêu
Người đi đời xót xa nhiều
Nén nhang ngùi thắp khói hiu hắt trời
Âm dương giờ cách đôi nơi
Vần thơ thương tiếc nghẹn lời tiễn đưa
Ngoài trời lại đổ cơn mưa
Hồn thiêng người cũng như vừa bay ngang
Mong hồn vui cõi Vĩnh Hằng
Áo trần rũ sạch đa đoan bụi đời
Cõi xa lấp lánh trăng trôi
Nghĩa tình gửi lại nhớ thời trường xưa

18 tháng 8. 2016
Trầm Vân (Cựu Học Sinh Petrus Ký)

                                      


Nhớ đến thầy Liêm, với tôi, là nhớ đến 2 điểm:
1. Bastos xanh. Thầy, với điếu thuốc tỏa khói trên môi, là hình ảnh có lẽ độc đáo nhất với mọi học trò.
2. Giọng miền Nam, phát âm chuẩn xác, rõ ràng, chậm rãi, bổng trầm tùy lúc. Nên, khi Thầy giảng Kiều, đứa nào cũng chăm chú nghe. Với những đứa trò chỉ vừa mới vào Trung học (nếu không lầm, lúc đó bọn mình đang ở đệ 6), Thầy đã mở ra trước chúng kho tàng quyến rũ, đầy màu sắc của văn hóa dân tộc.
Hầu như, ai học P.K., đều là môn đệ của Thầy.

Nén hương lòng kính dâng lên Thầy!
Kính nguyện hương hồn Thầy sớm siêu thoát.

Đứa trò đệ 6 của Thầy.
Nguyễn-hòa-Trước

Thật là đau buồn khi được tin thầy NGUYỄN THANH LIÊM qua đời. Tôi không thể tin như vậy vì nhìn thấy lại hình ảnh Thầy và các bạn trong ngày sinh nhật, cũng là ngày ra mắt sách của Thầy ngày 6/8/2016.

Tôi nhớ lại hình ảnh của Thầy trong năm 2015 khi tôi đến đến Hoa Kỳ vào tháng 8, tôi không nghĩ  đây là lần cuối cùng gặp lại Thầy! Giờ đây người Thầy khả kính đầy tình cảm đã ra đi để lại cho chúng ta bao nhiêu luyến tiếc.

Tôi xin cám ơn các bạn có díp gần gủi hàn huyên với Thầy. Cùng hiệp ý với các bạn tôi xin chia buồn với gia đình Thầy và nguyện cầu hương hồn Thầy sờm về miền cực lạc.

Nguyễn Văn Mùi – (cựu học sinh Petrus Ký  1956 – 1963)

NGUYỆN CẦU CHO THẦY NGUYỄN THANH LIÊM ĐƯỢC RA ĐI BÌNH AN.
XIN ĐƯỢC CHIA BUỒN CÙNG TOÀN THỂ TANG QUYẾN.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
PTK  HÀ VĂN SANG, VIRGINIA

Cô kính mến,

Em vô cùng thương tiếc khi hay tin Thầy ra đi, Thầy và Hiệu trưởng Đào Khánh Thọ trường em rất thân nên chúng em cũng kính mến và gần gũi thầy, khi ngày xưa hai trường Petrus Ký và Tống Phước Hiệp kết nghĩa với nhau.

Cô kính, em mong cô nhiều sức khoẻ để vựơt qua thời gian đau buồn này.
Em cũng nguyện cầu cho Thầy, thưa cô.
Em kính gửi cô, lòng thành kính chia sẻ của chúng em cùng cô và gia đình.

Em Lê Thị Kim Oanh (Úc Châu)

Mới vài tháng qua Thầy Nguyễn Thanh Liêm RMS ở San Jose mà bây giờ Thầy đã quy tiên – Một hung tin đau buồn đầy thương tiếc một G/S khả kính hiền hòa – Ngọc An và một số văn thi hữu cùng anh chị học trò cũ của Thầy ở San Jose kính lời chia buồn đến phu nhân của Thầy và tang quyến – Nguyện cầu hương linh Thầy Nguyễn Thanh Liêm được thanh nhàn nơi cõi vĩnh hằng, muôn đời yên nghỉ.

Chúng em đau đớn trước tin này
Một bậc hiền nhân cao quý thay
Thầy sáng gương soi bao thế hệ
Thầy là ánh đuốc giữa vầng mây
Dẫu không còn nữa Thầy Liêm kính
Muôn thuở khắc ghi công đức Thầy
Cõi tạm đã làm nên lịch sử
Mây hồng Thầy sẽ thỏa cánh bay
Về miền tiên cảnh Thầy yên nghỉ
Quên chốn bụi hồng đau đớn thay…

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
nguyễn phan ngọc an – San Jose

          Sinh Hoạt Văn Hóa Tại San Jose: Tuyển Tập Nguyễn Thanh Liêm
Lê Bình – 22/04/2016 – Vietbao online

Sau nhiều tháng chuẩn bị, Tuyển Tập Nguyễn Thanh Liêm của Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm đến từ Orange County Miền Nam Cali., đã được cho ra mắt công chúng vào lúc 1:30PM ngày Chúa nhật 17/4/2016 tại Hội Trường Học khu Franklin-McKinley, San José, do Hội Cựu Học sinh trường Petrus Ký Bắc Cali đã tổ chức thành công tốt đẹp.

Có khoảng trên 150 quan khách và đồng hương đến tham dự.Trong số quan khách có Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn 97 tuổi, Cựu Dân Biểu VNCH Phan Thiệp 94, Giáo sư Lưu Khôn, Nhà báo Thanh Thương Hoàng, cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, cựu Đại Tá Trần Thanh Điền, cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, cô Vân Lê UCV Dân Biểu địa hạt 27 CA, GS Nguyễn Trung Chí, nhà thơ Trường Giang, nhà thơ Chinh Nguyên, nhà văn Chu Tấn, nhà văn Diệu Tần, và đông đảo cựu Học sinh Petrus Ký, và giới truyền thông báo chí Bắc Cali.

Trước giờ khai mạc, GS Nguyễn Thanh Liêm đã ký sách cho người tham dự. Rất đông quan khách và đồng hương vây quanh để chào thăm hỏi sức khoẻ của vị giáo sư khả kính, mua sách, và chụp hình chung kỷ niệm. Các đài truyền hình Việt ngữ địa phương đã phỏng vấn, và ghi lại những hình ảnh thân thương, gần gủi mang đậm nét “Tôn Sư Trọng Đạo”.

Lễ chào cờ khai mạc diễn ra lúc 2:00pm. Sau đó, Bác sĩ Trần Văn Nam Hội Trưởng Cựu HS trường Petrus Ký Bắc Cali chào mừng và giới thiệu một số quan khách, ông giới thiệu thật chi tiết tiểu sử của Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, một tiểu sử khá dài, ghi lại những hoạt động của tác giả trong công việc góp phần vào việc giáo dục tại miền Nam Việt Nam-nền giáo dục đặt trên nền tảng Nhân Bản và Khai Phóng. Tiếp theo là Nhà báo Thanh Thương Hoàng, Giáo sư Lưu Khôn giới thiệu tác phẩm Tuyển Tập Văn học Nguyễn Thanh Liêm mang chủ đề chính về nền Giáo dục Nhân bản của chính thể Việt Nam Công Hoà và nền Văn hoá Miền Nam với những nét cá biệt của vùng Nam Kỳ Lục tỉnh Đồng Nai Cửu Long.

Nhá báo Thanh Thương Hoàng giới thiệu về tác phẩm. Đó là một quyển sách “Khá đồ sộ và nặng ký về nội dung và hình thức”, sách dày 578 trang, mang chủ đề tổng quát về các lãnh vực: Giáo Dục, Văn Hóa, Tôn Giáo, Chính Trị, Tìm hiểu về Đồng Nai-Cửu Long…v.v. GS Lưu Không phát biểu về những điểm nổi bật của tác phẩm trong 3 khía cạnh Giáo Dục, Nhân Bản, Khai Phóng của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là vùng Nam Kỳ trên môt địa bàn rộng lớn thuộc lưu vực sông Đồng Nai và Cửu Long Giang.

Thêm sau đó là vài phát biểu cảm nghĩ về cuốn sách, với ý kiến của Cựu Đại Tá Trần Thanh Điền, Đại Tá Vũ Văn Lộc và nhà báo Lê Bình.

Xen kẻ trong chương trình có ca nhạc phụ diễn. Cuối cùng là phần chia xẻ tâm tình của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm. Ông cho biết sau mấy lần mổ tim, một lần bị stroke nhẹ cho nên ông phải viết ra giấy để đọc, vẫn còn khó khăn. Câu chuyện ông kể khoan thai, nhẹ nhàng ấm cúng trong một tinh thần vì tha nhân, vì một thiết tha với nên giáo dục Nhân bản. Ông cho biết việc ông cần phải làm và làm cho đến cuối đời. Trong thời gian qua, ông đã liên tục tổ chức mỗi năm: Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, và một số sinh hoạt văn hóa…v.v. Trong tháng Sáu ông sẽ cho ra tác phẩm (có thể là cuối cùng) “cuộc đời của tôi”. Tập sách khoảng gần 200 trang, kể lại tử lúc còn nhỏ đến hôm nay…làm gì, ở đâu….nhưng “Sẽ không viết về chuyện tình cảm của tôi”. Cũng nên biết thêm GS Nguyễn Thanh Liêm có thời gian (15 năm) sinh sống tại Bắc Cali, là hội trưởng Hội Petrus Ký Bắc Cali.

Ông luôn muốn dành cho sự tiếp nối của thế hệ con cháu khỏi lạc nguồn, như sự giáo dục thấp kém của chế độ Cộng sản trên quê hương Việt Nam ngày nay.

Buổi RMS chấm dứt lúc 4:30pm. BTC mời ông đến quán Nguyễn ở Milpitas để dùng bữa chiều trước khi ông lên đường về lại Nam CA.


       Cảm nhận về “Tuyển tập Nguyễn Thanh Liêm”

Tình trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay (với kiến thức của học sinh, sinh viên tốt nghiệp thấp hơn nhiều so với các nước chung quanh, kèm theo một trình độ đạo đức, luân lý ở mức độ đáng lo ngại) đã khiến nhiều bậc phụ huynh cùng nhiều thức giả lên tiếng bày tỏ mối lo âu. Ngay cả ở trong nước, nhiều lời than phiền với hàm ý luyến tiếc đã nhắc tới “giáo dục thời Việt Nam Cộng Hoà.” Nhưng Việt Nam Cộng Hòa thuộc về quá khứ đã 40 năm (1975-2015). Giáo dục thời ấy như thế nào, cách tổ chức ra sao, tôn chỉ cùng tinh thần có điểm gì đáng chú ý, ít ai còn nhớ rõ.

Nhân loại đang sống trong một thế giới với khá nhiều bất trắc. Tương lai cư dân trên địa cầu sẽ đi về đâu? Các ý niệm tự do, dân chủ phải chăng sẽ thắng thế để nhân loại cùng xây dựng những xã hội dân chủ tiến bộ, cùng sống trong hòa bình, như nhà chính trị, kinh tế học Francis Fukuyama đã phác họa trong cuốn The End of History and the Last Man xuất bản năm 1992? Hay những khác biệt về văn hóa và tôn giáo sẽ càng ngày càng trầm trọng, đưa tới những xô xát thật lớn như nhà chính trị học Samuel Huntington đã dự phóng một cách lo ngại trong cuốn The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order xuất bản năm 1996? Trong một thế giới đầy bất trắc như thế, tương lai đất nước và dân tộc Việt sẽ ra sao?

Sau biến cố 1975, hơn ba triệu người Việt lìa quê hương tới định cư tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới (một số lượng đáng kể ở trên 30 quốc gia). Trong tiến trình hội nhập vào những môi trường xã hội và văn hóa khác với quê hương cũ, người Việt, nhất là gia đình Việt, có những vấn đề gì? Trẻ em Việt sẽ có những khó khăn cùng tiềm năng ra sao? Đó là những câu hỏi mọi người Việt đều quan tâm.

Với một lãnh thổ dài và hẹp, ba miền của Việt Nam có nhiều nét khác nhau. Miền Nam là vùng đất tương đối mới. Văn hóa đồng bằng sông Đồng Nai – Cửu Long có những điểm gì khác miền Trung, miền Bắc? Ngay các địa phương của miền Nam cũng có những sắc thái khác nhau. Số người hiểu rõ những chỗ khác nhau ấy để có thể trình bày lại một cách vừa thấu đáo, uyên bác, vừa giản dị, dễ hiểu, không nhiều.

Với hơn 30 năm trong ngành giáo dục của miền Nam (20 năm dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa), qua các giai đoạn là học sinh, sinh viên, giáo sư, Hiệu trưởng Trung học, lãnh đạo ngành giáo dục ở trung cấp, rồi cao cấp, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm đã chứng nghiệm, quan sát, suy nghĩ, và đã viết rất nhiều. Những bài “Giáo dục ở Nam Việt Nam từ xưa tới hết Đệ Nhất Cộng Hòa,” “Giáo dục Việt Nam từ đầu thập niên 1970 đến tháng 4 năm 1975” cung cấp những thông tin giá trị từ một “người trong cuộc” rất có thẩm quyền. Bài “Vai trò của các trường Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Ký, Gia Long hồi tiền bán thế kỷ XX” cho ta những kiến thức vừa mang tính cách giáo dục vừa mang tính cách lịch sử. Bài “Một vài ưu tư về giáo dục ở Việt Nam” mang nặng tâm huyết của một người lúc nào cũng thiết tha với giáo dục và luôn luôn nghĩ tới quê hương.

Những bài “Trật tự thể giới thế kỷ 21,” “Chiến lược của Hoa Kỳ,” “Trung Quốc trước khúc quanh nguy hiểm” … đưa ta tới với một thức giả đọc và suy nghĩ rất rộng. Nhà giáo dục cũng là một trí thức uyên bác, cần hiểu rõ môi trường sống cùng địa bàn sinh hoạt của mình cũng như của dân tộc mình trong hiện tại cũng như trong tương lai.

Những bài “Trẻ em Việt Nam trong tiến trình xã hội hóa vào xã hội, văn hóa Mỹ” và “Vấn đề văn hóa giáo dục cho con em ở hải ngoại” được viết với kiến thức chuyên môn của một Tiến sĩ ngành Giáo dục am hiểu xã hội Hoa Kỳ, nhưng vẫn mang tâm thức một nhà văn hóa, giáo dục của dân tộc Việt Nam.
Tác giả càng tỏ ra uyên bác khi viết về văn hóa miền Đồng Nai – Cửu Long. Từ những bài tổng quát như: “Những biến đổi trong văn hóa Việt Nam,” “Tìm hiểu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long,” “Lối vào văn hóa Đồng Nai – Cửu Long,” “Vị trí của Đồng Nai – Cửu Long trong lục địa Đông Nam Á” cho tới những bài riêng về mỗi địa phương như lịch sử khai phá vùng Gia Định; Tây Ninh; Bà Rịa – Vũng Tàu; Định Tường – Mỹ Tho; Vĩnh Long; Rạch Giá – Hà Tiên; Cà Mau …, tất cả đều cung cấp những kiến thức giá trị và hữu ích. Không riêng gì người Việt từ các miền Trung và Bắc, ngay cả nhiều người sinh trưởng ở miền Nam cũng sẽ thấy những công trình biên khảo ấy hấp dẫn và lý thú.

Tác giả đã viết những bài ấy trong hơn mười năm qua, ở tuổi 70 tới 80, và chọn lọc, đưa đi in khi đã trên 80. “Văn chương chi sự, thốn tâm thiên cổ.” Câu chuyện văn chương, tư tưởng, vẫn là tấc lòng gửi lại muôn đời. Một nhà văn lớp trước có câu, “Hướng ngàn thuở gửi hoàng hôn tùy bút.” Được đọc trước bản thảo do vị niên trưởng khả kính trao cho, nguời viết những dòng này không tránh khỏi bâng khuâng. Sau một cuộc đời sinh động, Nguyễn Công Trứ được “cáo lão hồi hưu” ở tuổi 70, và sau khi về hưu, ông thung dung, nhàn tản với “hàn cốc, thanh sơn” trong tâm trạng:

Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục..
.

Cùng mang họ Nguyễn, cùng sinh ra ở nước Việt Nam, xét về phương diện tinh thần, Nguyễn Thanh Liêm ở tuổi trên 80 đã không được hưởng những ung dung, thanh thản của Nguyễn Công Trứ ở tuổi 70. Không ai có thể nói là Nguyễn Công Trứ không nặng lòng với quê hương, đất nước. Nhưng tại sao ông có được những năm thật sự “hưởng nhàn” so với một trí thức họ Nguyễn khác ra đời sau ông 150 năm? Có lẽ đó là cũng là hoàn cảnh và nỗi niềm không của riêng Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm mà còn chung cho thế hệ chúng ta, những người Việt trưởng thành trên đất nước trong nừa sau của thế kỷ 20.

Trần Huy Bích (Tháng 3-2015)

GS Trần Huy Bích & GS Nguyễn Thanh Liêm

Hội Lê Văn Duyệt Foundation Tổ Chức Ra Mắt Sách “Sự Thật Đời Tôi” của TS Nguyễn Thanh Liêm – 11/08/2016 – vietbao online

Westminster (Bình Sa)- – Hội Lê Văn Duyệt Foundation tổ chức ra mắt Tác Phẩm “Sự Thật Đời Tôi” và mừng sinh nhật 83 tuổi của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm vào lúc 1 giờ chiều Thứ Bảy ngày 6 tháng 8 năm 2016 tại hội trường thành phố Westminster, 8200 Westminster Blvd, Westminster,

Tham dự buổi ra mắt sách có rất đông qúy vị nhân sĩ, cựu viên chức chính quyền thời Việt Nam Cộng Hòa, qúy vị Giáo Sư, Văn Thi hữu, qúy vị đại diện cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, các cơ quan truyền thông và đồng hương thân hữu.


Nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, phút mặc niệm do Chiến hữu Nguyễn Phục Hưng phụ trách.

Sau đó Đốc Sự Châu Văn Đễ thay mặt Ban tổ chức lên chào mừng và cảm ơn sự tham dự của tất cả qúy vị và đồng hương thân hữu, ông tiếp: “Một lần nữa chân thành cảm ơn tấm thạnh tình của quý liệt vị đã dành cho Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm và Hội Lê Văn Duyệt Foundation. Chúng tôi trong suốt thời gian qua.” Ông cho biết, lẽ ra ngày sinh nhật của giáo sư là ngày 21 tháng 11 nhưng vì tình trạng sức khỏe của giáo sư suy kiệt, nên với ý kiến của quý vị trong Hội Giáo Chức của các trường Đại Học và Trung Học Việt Nam, của Nhóm Văn Nghệ Cổ Nhạc San Diego, của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, của các Hội Đoàn và đặc biệt của Lực Lượng Cựu Chiến Sĩ VNCH Trung Tâm Tây Nam Hoa Kỳ đã cùng nhau phối hợp tổ chức buổi ra mắt hồi ức và mừng sinh nhật của giáo sư trước ngày sinh nhật. Trong dịp nầy Đốc Sự Châu Văn Đễ cũng ca ngợi Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm là một nhà văn “đa hiệu” và một “nhà thơ” chan chứa tình dân tộc. Sau cùng, thay mặt ban tổ chức, Đốc Sự Châu Văn Đễ cầu chúc giáo sư Nguyễn Thanh Liêm thân tâm thường an lạc.

Tiếp theo, cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng lên giới thiệu về tác phẩm “Sự Thật Đời Tôi”

Và giáo sư, nhà văn Nguyễn Văn Sâm có bài nhận định về sách “Sự Thật Đời Tôi”. Hai vị nầy cũng đã phân tích một số đoạn trong cuốn sách mà GS. Liêm đã viết ra để minh chứng được những việc làm của GS. Liêm đối với nền giáo dục nhân bản thời Việt Nam Cộng Hòa.

Tiếp tục chương trình, ông Phạm Văn Tú, thành viên ban tổ chức mời GSTS Nguyễn Văn Liêm lên có đôi lời cám ơn quan khách. Mặc dù không được khỏe nhưng GS cũng đã cố gắng nói mấy lời cám ơn quan khách và thân hữu đã đến với ông, đặc biệt cám ơn Đốc Sự Châu Văn Đễ và các thành viên ban tổ chức đã giúp ông ra mắt cuốn hồi ức, cám ơn Thẩm Phán Phạm Đình Hưng và giáo sư Nguyễn Văn Sâm đã có những lời giới thiệu rất chân tình, cám ơn cô Cao Minh Châu, ông Hoa Thế Nhân, ông Phạm Văn Tú, MC Vũ Đan, MC Mai Lan, CLB Tình Nghệ Sĩ, các hội viên Lê Văn Duyệt Foundation, các anh chị em cựu học sinh Trịnh Hoài Đức Bình Dương, Petrus Ký, Lê Văn Duyệt Saigon và các cựu học sinh khác đang hiện diện trong hội trường này. Nhiều bạn bè thân hữu đã sắp hàng để chờ GS. Ký sách làm kỷ niệm.

Sau lời cảm ơn của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Đốc Sự Hoa Thế Nhân và Giáo Sư Cao Minh Châu lên giới thiệu cuốn hồi ức “Sự Thật Đời Tôi”. Sau đó, sách được mang đến trao tận tay người mua.

Tiếp theo chương trình mừng sinh nhật giáo sư Nguyễn Thanh Liêm. Phần này do MC Vũ Đan điều hợp và MC Mai Lan phụ trách chương trình văn nghệ.

Trong dịp nầy, Đốc Sự Châu Văn Đễ mời tất cả thành viên Lê Văn Duyệt Foundation lên sân khấu để cùng với ông có lời chúc sinh nhật thầy Liêm. Mọi người quây quần xung quanh GS Liêm rồi cùng hát bài Happy Birthday Thầy. Hai người con nuôi của GS Liêm là cô Cao Minh Châu và Vũ Đan tặng quà cho “bố”, và sau đó nhiều người khác thay phiên nhau tặng quà mừng sinh nhật giáo sư.

Chương trình văn nghệ do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và các ca sĩ thân hữu trình diễn

Ngoài cuốn Hồi Ức, trước đó, GS Liêm đã cho xuất bản các cuốn sách: Trường Trung Học Petrus Ký và Nền Giáo Dục Phổ Thông, Giáo Dục Ở miền Nam Tự Do Trước 1975, có nhiều bài viết trong báo. Ông là chủ biên Tập San Đồng Nai Cửu Long và Tuyển Tập Nguyễn Thanh Liêm.

GSTS. Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục và Thanh Niên, hiện là viên chức cao cấp nhất về ngành giáo dục của chính quyền VNCH còn tại thế. Ông cũng từng là Hiệu Trưởng các trường trung học Trịnh Hoài Đức Bình Dương, Petrus Ký Saigon, Chánh Thanh Tra, Trưởng Ban soạn đề thi Bộ Giáo Dục, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên VNCH, Cố Vấn Đặc Biệt Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus Ký Nam và Bắc California, Chủ Tịch Lê Văn Duyệt Foundation, Chủ Tịch Phong Trào Đoàn Kết VNCH……

          Cảm nghĩ về sách “Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm”

Nhìn dòng chữ trên bìa trước sách mới, một tác phẩm của GS. Nguyễn Thanh Liêm vừa được xuất bản, cái đề tựa sách được in dưới hình của tác giả, một người đàn ông rất điển trai trong bộ semi-complet, áo vest màu xanh dương lợt và quần xanh dương đậm, hai mầu bắt mắt cho phong thái phục sức trang nhã, lịch lãm của tác giả. Sách in bìa cứng, dày 280 trang, in trên giấy dày láng, bìa sau là tiểu sử thu gọn của tác giả.

Tôi chú ý nhiều về cách tác giả cho tên tựa. Trong sự suy nghĩ của tôi có hai yếu tố “Sự Thật” và “Thanh Liêm” đã bổ túc cho “Hồi Ức Đời Tôi”. Tác giả là một vị “quan văn” có lúc làm cho Phủ Tổng Thống, và làm Thứ Trưởng về Văn Hóa Giáo Dục nhưng sự đức độ của ông bám sát theo cái tên tiền định của ông. Còn yếu tố “Sự Thật” có nghĩa là nói về những việc có thật, không ngụy tạo, thêu dệt ra. Trong phạm trù ngôn ngữ học “Sự Thật” là từ ngữ ghép chính và phụ. “Sự” là phần chính của từ ngữ này, trong khi “Thật” là phần phụ bổ túc rõ nghĩa cho phần chính. Cho nên “Sự” là diễn biến, diễn trình mà ta quan sát thấy, sự việc diễn ra chứng kiến được, còn phần “Thật” là đúng như thật, chân thực. Cho nên chữ “Sự Thật”dùng trên sách cho thấy những diễn biến trong chuyện kể trong hồi ức là đúng như thật, được mô tả như trạng thái chân tâm của sự kiện đã diễn ra. Tác giả kể hết sự thật về cuộc đời và gia đình mình.

Tác phẩm này là một loại hồi ức hay tự thuật những sự việc đã xảy ra, dù ông là một hành chánh gia hay “quan văn” ở cấp khá cao trong xã hội, tôi muốn nói ông là một gương mặt của quốc gia, của cộng đồng hay của công chúng, một “public figure”, nhưng sách này khác với những “political memoirs” thường thấy ở xã hội Hoa Kỳ mà cửa hiệu Barnes & Noble hay Amazon.com online bày bán như: Madam Secretary: A Memoir, by Madeleine Albright; No Higher Honor: A Memoir of My Years in Washington, by Condoleezza Rice; My Life – by Bill Clinton; All the Best, George Bush; My Life in Letters and Other Writings, by George H.W. Bush; Barack Obama’s Dream’s from my Father, by Barack Obama; Duty: Memoirs of a Secretary at War, by Robert Gates; A Reagan Cabinet Memoir, by Terrel H. Bell; Law and Justice in the Reagan Administration: The Memoirs of an Attorney General, by William French Smith…

Tác phẩm này tác giả viết với mục đích để làm kỷ niệm tặng cho gia đình ông, rồi cho bạn bè, thân hữu, đồng nghiệp, nhân viên cũ, giới học trò,… Nó không mang mục tiêu chính trị như nhiều sách hồi ức hay hồi ký khác.
Như vậy trong 80 trang đầu của bề dày 280 trang tôi thấy có những chủ đề sự thật, viết bằng chân tâm, ví dụ như ở trang 3, tác giả ghi kính dâng cho tứ thân nội ngoại và song phụ mẫu, viết cho các con cháu, và rồi hai dòng kế khá nhạy cảm, “sensitive categories” là: “Gởi GS. Đào Kim Phụng” và phần cuối thì “Gởi DS. Nguyễn Thi Phương”. Như vậy hai người phụ nữ này là ai vậy ? Bạn bè Petrus Ký của tôi như Phan Tất Đạt San Jose, Hồ Lịch Australia, Chu Quốc Hưng Australia, Nguyễn Trung Kiên Germany, Dương Anh Dũng Germany, hay Nguyễn Ngọc Linh San Jose,… không biết gì cả. GS. Đào Kim Phụng dạy Anh Văn ở các trường trung học Nguyễn Trải, Petrus Ký và các trường huấn luyện sinh ngữ như Hội Việt Mỹ và USAID trong chương trình chuẩn bị Anh văn cho những nhân sự được học bổng của USOM, USAID. Những năm sau cùng trước khi di tản vào tháng 4 năm 1975, GS. Phụng là chuyên viên của trung tâm soạn chương trình học liệu South East Asia Regional Center for Instructional Material Development.
Hai giáo sư Liêm và GS. Phụng đã chia tay nhau. Sách chỉ đề cập thoáng qua, hôn nhân nay biến thanh tình bạn cũ qua sự liên hệ con cháu

Còn DS. Nguyễn Thị Phương hiện nay là hiền thê của GS. Liêm, cô Phương là một dược sĩ lo thuốc men cho bệnh nhân và kiêm “thầy thuốc” riêng cho thầy tôi. Chị cựu Hội trưởng Gia Long Quế Hương nhận xét cô Phương là người đẹp của sân trường Gia Long, vợ chồng tôi ghé thăm thầy cô và thấy rằng cả hai sống trong căn tháp ngà Bali rất hạnh phúc. Tác giả sách có duyên nợ với sân trường Gia Long, ông chỉ chọn học trò Gia Long và lại âm vận tên “Ph.” mà thôi. Đây là sự thật nhiều người ở xa có thể chưa biết.

Ở trang 17 tác giả đính chánh sự thật về ngày sanh bởi sự việc khi ở với ông ngoại, ông ngoại làm khai sanh ngày DL 3 tháng 4, năm 1933 ở làng Phú Túc (Mỹ Tho), thân mẫu của tác giả cho biết ngày đúng là ngày 12 tháng 3, năm 1933 DL. Nhưng khi về ở bên nội, làng Tân Hội Mỹ (Mỹ Tho), rồi làm giấy khai sanh mới với ngày 20 tháng 11 năm 1934. Sự thật thì ở xứ ta khi ở nhiều thời kỳ do chiến tranh loạn lạc, chạy nạn và tình trạng tổ chức giấy tờ của hệ thống khai hộ tịch tùy tiện, cho nên ngày sanh thường sai sự thật. Nhưng hiện tại tác giả chọn ngày sau cùng do ông nội khai, tức sinh nhật vào ngày 20 tháng 11, năm 1934.

Đọc đoạn văn sai ngày sanh tôi bỗng nhớ một trường hợp khác. Như trường hợp Nhạc sĩ Anh Bằng kể tôi nghe ông sinh năm 1927, gia đình chạy giặc Tây, xứ sở loạn lạc, nên khi làm khai sanh mới bản hộ tịch cho ông sanh sớm hơn một năm, tức ông sanh năm trên giấy tờ 1926.

Trường hợp của người viết bài chia chung số phận, ngày đúng không xài, nhưng xài ngày của người ta. Ngày sanh thật đúng ra là ngày 3 tháng 11 năm 1953, thân mẫu tôi đi làm khai sanh cô thơ ký lẫn lộn khai sanh 2 đứa trẻ là tôi và một cô gái, cô thơ ký lấy ngày của cô gái cho tôi, tức ngày 7 tháng 12 năm 1953. Hóa ra cô gái kia may mắn hưởng tiền già Obama sớm hơn tôi một tháng vì cô thơ ký lẫn lộn. Mẹ tôi yêu cầu cô thơ ký sửa lại, cô bảo mộc đã đóng dấu, xếp lỡ ký tên xong rồi, ông xếp bận lắm, “chuyện nhỏ” cứ cho cháu bé sau này ăn tiền hưu trễ như ông thầy Liêm của cháu vậy. Dòng này tôi cám ơn lục sự cho tôi nghỉ hưu trễ hơn thực tế. Trang 17 này là dịp tác giả đính chánh cho rõ ngày sanh cho biết sự thật lên giấy trắng mực đen.

Sự thật khác tôi ghi nhận ở trang 70 (mục Thanh Niên Tiền Phong) đến trang 79 (mục Khóa Học của Việt Minh) cho thấy tác giả bị hoàn cảnh thời cuộc lôi kéo khi Nhật đảo chánh Pháp năm 1945 (tác giả được 12 tuổi), người Việt nhân cơ hội đó nổi lên chống giặc Tây, Việt Minh mà những phần tử theo CS trà trộn đã lợi dụng phong trào yêu nước đấu tranh chống Pháp. Tác giả là nhạc trưởng một ban nhạc thiếu nhi, mang tên Đời Sống Mới. Đọc sách này tôi mới biết tác giả chơi violon và guitar.

Khả năng học vấn vững nên ông học nhảy lớp. Đầu thập niên 1950 tác giả thi đậu vào Collège Le Myre De Villers. Bạn đồng môn là GS. Lâm Văn Bé bên Canada đã kể rằng GS. Liêm học rất siêng và giỏi. (xem tham khảo #1).
Tác giả theo thân phụ lên Saigon, và vào học Petrus Ký lớp đệ nhất (première classe), niên khóa 1953-1954. Tác giả kể nhiều kỷ niệm về ngôi trường Petrus Ký. Tốt nghiệp trung học, vào học đại học ngành Sư Phạm. Ra trường trở về dạy tại Petrus Ký. Có lúc lên làm Hiệu Trưởng tại đây. Trang 122 kể về mục ông làm Tổng Thơ Ký Hội Đồng Thi Tú Tài II. Tác giả cho biết ở trang 126-129 đã đậu Cử nhân Giáo khoa và Cao học Văn Chương Việt Nam.

Tác giả cho biết có quen mấy cô bạn gái, nhưng không nên duyên. Trong khi song thân không muốn tác giả ở cảnh “cha già con mọn”, nên sớm có con nối dòng dõi, tác giả vốn là con một nên lấy vợ. Tác giả đã 25 tuổi mà chưa có vợ. Ở niên kỷ thuở trước con trai mà 30 mà chưa yên bề gia thất xem như “quá date”. Đọc sách thầy tôi, tôi càng buồn cho phận mình vì khi cưới vợ sanh con đầu lòng năm 40 tuổi. Năm 47 chở con trai tôi đi học, xong một buổi chiều, xe tôi vừa trờ tới trường rước con, tôi mục kích thấy con tôi xô cô bạn gái học cùng lớp té lăn cù, tôi hoảng hồn chạy xuống đỡ cô bé Mỹ tóc vàng hoe lên, cô khóc ngất. Tôi hỏi Nam tại sao làm như vậy, Nam nói: “She said you’re my grandpa, I hate her!”.

À, tôi giật mình bổ ngửa mình ở thế hệ ông nội của các cháu nhỏ. Bởi thế con tôi vẫn muốn bố nó trẻ thôi. Mẹ cô bé Mỹ đến rước con, tôi xin lỗi bà muốn gẫy lưỡi, và thuật lại những gì xảy ra, bà cười xòa. Nam xô ngã Liz vì cô bé la to: “Nam, your grandpa comes!”. Tôi không trách Liz khi tóc tôi chấm muối tiêu, chống gậy thì không grandpa là gì. Trong khi ở tuổi 80 thầy Liêm tóc điểm bạc, nhưng nhân dáng beau trai phương phi, không cần gậy như tôi 60. Tôi nhớ rõ như vậy.

Tóc thầy điểm bạc phong sương
Mấy cô gái trẻ các trường khen “beau”!

Rồi ngọn gió tình yêu thổi đến, tác giả gặp cô Phụng, cô học rất giỏi, thi Tú Tài hạng cao, và được giải khen thưởng của Tổng Thống phủ. Cô Phụng là người đồng hương gốc cùng làng Phú Túc, thích đàn violon, và có nét duyên dáng khiến thầy tôi xao xuyến ưng ngay. Thầy cô sống chung có hai người con, Thùy Linh là con gái lớn và con trai Bửu Lâm. Cả hai đỗ đạt bằng cấp cao và đã có gia đình. Hai người con này hiện gia cảnh hạnh phúc với các con học vấn giỏi giang.

Sự thật của sách ở trang 141, tác giả cho biết Bình Dương nơi ông nhận nhiệm sở Hiệu Trưởng trường Trịnh Hoài Đức, là tỉnh theo Cách Mạng 01/11/1963 sớm nhất. Bình Dương nơi đóng đô của Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lịnh Sư Đoàn. Ông Tỉnh Trưởng tỉnh Bình Dương và vị Tư Lịnh Sư đoàn 5 BB đều theo phe Cách Mạng của ông Dương Văn Minh.

Trang 151 cho biết tác giả làm Chánh thanh tra và Trưởng ban soạn đề thi Tú Tài. Sang trang 156, tác giả kể về mục “Bài Thi Trắc Nghiệm Đầu Tiên” mà tác giả đề nghị lên ông Bộ trưởng giáo dục cho thử nghiệm vì lối thi Tú Tài như hệ thống Pháp cho bài viết (essay) có khuyết điểm là đề thi không khảo sát nhiều chủ đề của học trình như lối thi trắc nghiệm (multiple choice). Giám khảo có thể chấm bài theo thiên kiến, chủ quan, hay giám khảo không đọc bài của thí sinh kỹ, xem qua loa rồi cho điểm đại vào. Hơn nữa lối thi cũ khó đáp ứng nhu cầu gia tăng nhân tài.

Sự thật thì công trạng của tác giả ở công tác lợi ích của sự đổi mới này. Xin xem tham khảo bài #2 (GS.Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm).

Trang 158 vì nhu cầu thời chiến, tác giả gia nhập quân đội. Trang 160 ông được biệt phái làm chuyên viên Phủ Tổng Thống, ông lo về văn hóa, soạn thảo diễn văn cho Tổng Thống.
Biến cố Tết Mậu Thân xảy ra tác giả vào khóa 2/68 Thủ Đức. Phần tâm tình bạn của tác giả vào quân đội nhiều năm lên cấp Đại tá, như Đại tá Võ Văn Cẩm (Chánh Võ Phòng Tổng Thống phủ), xem trang 170.

Trang 170 tác giả thú nhận có mối tình cũ, ông thầy kể chuyện xưa. Cô Ng. vẫn còn độc thân, khi ấy tác giả đã có gia đình, họ hẹn nhau ở Nhà Thờ Đức Bà, cả 2 đều ngoại đạo, nhưng gặp nhau để ôn kỷ niệm xưa. Mối tình dang dở, không trọn vẹn đó thầy viết sách kể tình cũ tặng cô bạn gái, rồi trao sách cho cô Ng. để từ đó tình chết theo thời gian. Tôi vốn mê love story, mỗi lần xin bài nhà văn Nguyễn Thanh Liêm, thì ông chỉ cho bài biên khảo, thực lòng tôi muốn thầy tôi cho chuyện tình như roman mà thôi. Khá tiếc. Một chuyện tình cũ thầy tôi kể lại toạc trên giấy trắng mực đen thật đúng với cái tựa của quyển hồi ức này.

Từ trang 172 đến trang 192 tác giả tâm tình về sự liên hệ trong phạm vi văn hóa giáo dục với ông Tổng Trưởng Ngô Khắc Tỉnh mà trong sách tác giả cho đăng nhiều hình ảnh kỷ niệm với ông Tổng Trưởng.

Từ trang 207 đến trang 208 đến 216 tác giả kể về những thay đổi tại miền Nam sau khi mất miền Trung. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm từ chức, Thứ trưởng Nguyễn Bá Cẩn lên thay. Bộ Văn Hóa Giáo Dục có vị Tổng Trưởng mới là TS. Nguyễn Duy Xuân thay thế DS. Ngô Khắc Tỉnh từ chức. Tổng Trưởng Xuân mời tác giả đảm nhận vai trò Thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục, những tháng cuối cùng của miền Nam ông phải lo ủy lạo cứu trợ các giáo chức và gia đình di tản từ miền Trung về miền phương Nam.

Khi ông Dương Văn Minh lên nhậm chức thì tình trạng của VNCH thật là rối rắm, ở đường cùng khi sự di tản chiến thuật diễn ra ở các nơi, tác giả di tản theo đoàn tàu của HQ/VNCH. Sang Mỹ, tiểu bang tiếp nhận gia đình ông là Iowa, nơi đây cô Phụng tốt nghiệp ngành Điện toán Thảo chương (Computer programming), tác giả trở lại đại học hoàn tất cấp Tiến sĩ Giáo dục.

Trang 234 gia đình tác giả dọn về tiểu bang California, từ Sacramento lại dọn về San Jose.
Ở tuổi già sức khoẻ suy kém, thân phụ mất, thân mẫu về ở với người em họ. Sự thật được tác giả ghi nhận trong trang 241 với đề tựa “Cuộc đời tang thương lúc về già”, giữa 2 vợ chồng có những bất đồng đi đến bất hòa và rồi phải ly dị, tác giả dọn ra ở riêng. Trang kế 42 tựa đề “Hai cô bạn đặc biệt”, hai cô đều đến với tác giả, tôi ngẫm nghĩ ở tuổi cao niên nét điển trai vẫn lôi cuốn những người nữ độc thân, nhưng chuyện giữa 2 đối tượng nữ này cũng làm cho tác giả khổ tâm.

Các trang 243 đến 249 tác giả kể lại gặp gỡ lại các bạn mới cũ tại San Jose, ví dụ Võ Duy Thưởng, Nguyễn Văn Cẩm, Trần Thanh Điền, Nguyễn Bá Cẩn, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Công Thiện,…

Trang 250 mang tựa vui tươi “Duyên Mới”. Khi tác giả đi những buổi hội họp đó đây, đến Hội Gia Long bà mai Mai mát tay chuyên se duyên mùa Valentine như một vị thánh linh Roman God of Love giới thiệu tác giả với cô Phó Tổng Thơ Ký của Hội Gia Long, chính là Dược sĩ Nguyễn Thị Phương, hiện nay là người hiền thê, mà tác giả ghi nhận là người bạn đời tâm đắc. Sau khi đám cưới tác giả về miền Nam nắng ấm vun xới “Duyên Mới” trong hạnh phúc bên nhau. Những lời thật lòng phản ảnh tựa sách, nhiều người bạn, fans, học trò tác giả, mà họ chưa biết cuộc sống riêng tư của vị thầy hay đồng nghiệp, hoặc thân hữu, tức tác giả sách này.

Trang 261 là mục “Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation- Tập San Đồng Nai Cửu Long”, đây là hai tổ chức văn hóa và văn học mà tác giả đã khai sinh ra, công sức ông bỏ vào rất nhiều, có nhiều người dang tay phụ giúp ông. Người phụ sự đắc lực và theo tác giả bền bỉ nhất là ông Nguyễn Quang Bâng, mà ngay ở trang đầu dòng tác giả đã đặc biệt cám ơn ông Bâng.

Trang 267 tác giả ghi nhận công tác “Hồ sơ về thềm lục địa Việt Nam” mà Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã đệ nạp lên Liên Hiệp Quốc, người thừa kế Thủ tướng Cẩn để liên lạc về việc này ngày nay là tác giả.

Trang 270 mang đề tài “Lớn tuổi – Làm việc nhiều- Đau ốm”. Tác giả nhìn nhận mình làm việc quá sức, ông bị mổ tim, stroke, phổi có nước,… sức khỏe về chiều càng suy yếu.

Tác phẩm này đã được duyệt qua 3 giai đoạn: Những ngày niên thiếu của tác giả ở Mỹ Tho, những ngày trưởng thành và làm việc ở Sài Gòn, và những ngày ly hương sang Mỹ, làm việc và tuổi già đau yếu.

Một tập sách 280 trang, quan trọng nhất trong sự nhận định riêng tôi là trang cuối cùng số 274 (vì phần sau đó là những trang cuối mục lục). Trang 274 mang tên “Những Phút Cuối Cùng”, tôi đọc trong cảm động vì nó cho thấy lời để lại cho các thân nhân và bạn bè của ông, con cái, các cháu nội ngoại đều nên người. Ông có người vợ yêu thương ông. Và chung quanh ông nhiều người thương mến ông, nhưng ông nuối tiếc vẫn còn trong kiếp lưu vong, và song thân ông đã ra đi ở xa quê hương, bỏ xác nơi xứ người.

Dòng cuối cùng ông đã viết:
“Những phút cuối cùng của tôi sẽ chấm dứt bài viết ở nơi đây!”

Lời kết:
Với người viết bài, là một học trò Petrus Ký, một đàn em đi sau tác giả 20 năm, tôi theo dõi những hoạt động công ích của ông đã lâu, nhất là ở hai phạm vi văn hóa và giáo dục, tôi gọi ông là “Thầy” với tất cả những trân quý và ngưỡng mộ. Tôi ao ước sao cho sức khoẻ của ông bền vững và để ông sớm chứng kiến cảnh nạn Cộng Sản sẽ sụp đổ và quê hương ta bừng sinh trong tự do và tình người như ước nguyện của Thầy tôi.

Trần Việt Hải
Petrus Ký, TT-72, Lớp 12B4

Lệ Hoa, Cô Nguyễn Thị Phương, Thầy Nguyễn Thanh Liêm, Việt Hải
———————————————————————————————————————–

Tham Khảo:
1/ Bài tham khảo #1: (“Anh Liêm Như Tôi Đã Biết Từ Lâu” của GS. Lâm Văn Bé :

“Năm 1952, tôi lên Mỹ tho học và ở trọ nhà thầy Nguyễn An Ninh, giáo sư âm nhạc trường Trung học Le Myre de Villers (năm sau đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu). Mỗi sáng, một cách đều đặn, khoảng 7 giờ rưỡi, anh Liêm ghé qua nhà trọ của tôi ở đường Ariès, để cùng với người bạn cùng lớp với anh là anh Nguyễn Kỉnh Đốc đi cùng với anh đến trường. Anh Đốc là người ở trọ lớn tuổi nhất và đang học lớp Première, lớp học cuối cùng của trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu thời ấy. Tính anh nghiêm nghị, tỏ vẻ đàn anh, rất siêng học, về đến nhà là cầm sách, ít khi nói chuyện với chúng tôi, đa số còn học bậc đệ nhất cấp. Anh có một bàn học riêng gần cửa sổ còn bọn chúng tôi thì phải học bài, làm bài, chung với nhau ở một cái bàn tròn ngoài nhà bếp. Khi anh Liêm đến, có khi anh Đốc đã sửa soạn xong thì cả hai đi ngay, có khi anh Liêm nán lại cùng ôn bài, hay làm bài chung. Tôi nhớ hai anh trả récitation những tác phẩm của Molière, Corneille và làm bài tập Vật Lý trong quyển Physique của Georges Ève. Anh Đốc đã ít nói mà anh Liêm còn ít nói hơn, họ rì rào với nhau, có khi anh Đốc cãi lớn tiếng về một vấn đề nhưng tôi thấy anh Liêm vẫn nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng anh lấy gói thuốc Bastos rút một điếu thuốc gõ gõ trên bao giấy rồi châm thuốc thả khói lên trần nhà. Anh hút thuốc nhiều, môi thâm đen, và sau nầy tôi được biết trong lớp Première của anh còn có một anh Liêm nữa. Anh Lê Thanh Liêm được bạn bè gọi là «Liêm dế» vì nhỏ con, còn anh Nguyễn Thanh Liêm là «Liêm ghiền» và cả hai anh sau nẩy vẫn là đôi bạn thân thiết trong nghề giáo.

Khi đến trường, chúng tôi thường đi sau hai anh. Anh đi khoan thai, nhưng luôn ngó thẳng phía trước. Cử chỉ nghiêm nghị của anh khiến tôi rụt rè trước anh, nhưng lại tò mò muốn biết anh sinh sống ra sao. Buổi chiều, tôi thường đạp xe đi loanh quanh sau khi ăn cơm, và nhiều khi chạy qua nhà anh ở khu «Battambang» có con đường đá sỏi lồi lõm, đôi khi thấy anh ngồi tại bàn học qua cái màn cửa sổ.
Trong niên học ấy, thỉnh thoảng khi gặp nhau anh nói vài lời bâng quơ hay mỉm cười cho đến hè năm 1953, khi anh rời trường thì tôi cũng rời chỗ trọ đến «ăn cơm tháng» nơi nhà bà Năm Thưởng, thân mẫu của Đệ nhất phu nhân (bà Nguyễn Văn Thiệu) sau nầy, cho đến khi tôi ra trường và khi trở lại trường Nguyễn Đình Chiểu dạy học. Tôi không có cơ may nhìn thầy Năm Thưởng (Phạm Đình Thưởng) vốn hành nghề đông y sĩ, lúc thầy vĩnh viễn ra đi vì lúc ấy tôi đã lên Saigon học đại học nhưng đã cùng với thân quyến tiễn đưa Bác gái đến nơi yên nghỉ cuối cùng. Từ một cậu học sinh trọ học, tôi được hai Bác thương yêu như thân thuộc và tôi còn giữ được bao kỷ niệm thuở ấu thơ và trung niên nơi căn nhà số 1 đường Lý Thường Kiệt, Mỹ Tho.

Năm 1966, tôi gặp lại anh Liêm tại văn phòng của anh ở Nha Trung học khi anh làm Chánh Thanh tra đề thi. Năm ấy, chiến cuộc đang đến hồi ác liệt, và biến động Phật giáo ở miền Trung khiến nhiều thành phố phải đặt trong tình trạng thiết quân luật. Nha Trung học đang tổ chức kỳ thi Trung học toàn quốc nhưng việc điều động hội đồng giám khảo, đưa giáo sư từ nơi nầy đến nơi khác không thực hiện được vì đường giao thông bị gián đoạn nên trung tâm Huế phải sử dụng nhân sự tại địa phương. Vấn đề là làm sao đưa đề thi từ Saigon ra Huế, bởi lẽ thông thường người chánh chủ khảo đảm nhiệm luôn cả việc mang đề thi từ Saigon đến nơi mình phụ trách hội đồng thi. Vừa được đề cử làm Giám Học ngôi trường mà tôi đã học, tôi nhận được sự vụ lệnh phải mang đề thi ra Huế.”

2/ Bài tham khảo #2: Nhà Văn Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm:

“Về Giáo Dục: Chúng ta hẳn còn nhớ trong thời thập niên sáu mươi, sau những biến động chánh trị kéo theo những rối ren tại các trường học, ông Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học Nguyễn Văn Trường đã ra quyết định chính ông sẽ ký giấy đuổi học những học sinh gây rối loạn nơi học đường. Rồi dưới thời chánh phủ Trần Văn Hương, nhiều đảng phái chánh trị, tôn giáo gây rối loạn ngoài xã hội và trong học đường, ông Tổng Trưởng GD Nguyễn Văn Trường ra Thông cáo số 1 đặt chánh trị ra khỏi học đường. Có lẽ đây là điểm móc quan trọng cho nền GD phát triển. Nhưng phát triển mà không đúng hướng thì GD sẽ đi lệch. May mắn thay, vào những năm cuối của thập niên sáu mươi và những năm đầu thập niên bảy mươi chúng ta có 1 người cùng các cộng sự của ông đã đưa nền GD đi đúng hướng. Đó là GS Nguyễn Thanh Liêm.

Sau thời gian làm HT ở Bình Dương và ở trường Pétrus Ký SG, GS về Nha Trung Tiểu học giữ chức Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn đề Thi, sau đó về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Trình, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Nếu tính luôn cho tới ngày 30/4/75 thì ông là Thứ Trưởng GD trong nội các Nguyễn bá Cẩn.
Thời gian này, GS Nguyễn Thanh Liêm, người kiến trúc sư của ngôi nhà GD, mà theo GS Lâm Văn Bé thì:… “ông không phải là 1 kế hoạch gia khoa bảng du nhập cái nhìn bằng kinh nghiệm và kiến thức viển vông của xứ người mà trái lại, ông đã phối hợp và thực hiện các dự án phát triển GD bằng cái hiểu người và hiểu việc của ông”. Và theo GS Nguyễn Trung Quân, thì GS Nguyễn Thanh Liêm “ đã quyết định tiến hành một công vụ đúng với đường hướng giáo dục quốc gia, có lợi cho tương lai của tuổi trẻ và phù hợp với các nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam là dân tộc, nhân bản và khai phóng thì ông quyết tâm theo đuổi tới cùng cho đến khi thành tựu.”
Cho nên khoảng đầu năm 1970, từ chương trình học cho tới việc thi cử đã bắt đầu được nghiên cứu sửa đổi để tránh sự gạn lọc quá đáng có từ thời Pháp thuộc. Theo đó số học sinh tăng nhanh, tỉ lệ thí sinh thi đậu TT2 tăng, chẳng hạn năm 1972 số thí sinh ban A, B và C tại trường Pétrus ký đậu 100%! Đến 1973 thì bải bỏ thi TT 1, 1974 bắt đầu thi trắc nghiệm mà số học sinh thi đậu là trên 45% so với 10% những năm trước. Các Khu Học chánh, sở học chánh và Ty VHGD thành hình để trực tiếp làm công tác GD tại địa phương. Các trường tiểu học ở mỗi xã, các trường Trung Học Tỉnh hạt có mặt khắp nơi. Nhờ vậy mà số học sinh và số sinh viên tăng gấp bội, GD trở thành đại chúng, ở xa xôi cũng có trường. Hệ thống trung học Tổng hợp bắt đầu có mặt và phát triển mạnh…”

Thơ Đường Luật và Thơ Tự DoBài viết của GS TS Nguyễn Thanh Liêm

” … Theo đúng quy luật về hình thức của thơ Ðường luật là việc hết sức khó khăn, phải mất nhiều công phu rèn luyện. Nếu không quen xử dụng, không đạt được kỹ thuật cao, bài thơ sẽ có vẻ bị nắn nót từng chữ cho đúng khuôn phép, nhưng sẽ không có hồn, tứ thơ sẽ có tính cách gò ép và trong trường hợp này tác giả sẽ bị coi như là một thợ thơ hơn là một nhà thơ. Khởi, Thừa, Chuyển, Hợp phải thật khéo, ý thơ phong phú, lời thơ trau chuốt, hình ảnh thi ca đẹp đẽ thì bài thơ mới thật hay. Thơ Ðường hay nhất là thơ thời Thịnh Ðường, cũng như văn giá trị là văn thời Tiền Hán. Cho nên một nhà vua Việt Nam đã khen văn Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát là đã làm lu mờ văn thời Tiền Hán, còn thơ mà đạt được mức độ hay của Tuy Lý Vương và Tùng Thiện Vương thì thơ hay thời Thịnh Ðường cũng chẳng sánh bằng (“Văn như Siêu Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Ðường”). Thật sự thì vua Tự Ðức đã làm công việc “mèo khen mèo dài đuôi” thôi chứ làm gì có chuyện “thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Ðường”.
Trên lý thuyết thì như vậy nhưng trên thực tế, nếu theo thật đúng quy luật, bài thơ Ðường luật ít khi đạt được mức độ tuyệt vời về phương diện nghệ thuật. Bài thơ thật đúng theo quy luật ấn định là bài thơ để cho các sĩ tử thi đậu trong các kỳ thi hơn là những bài thơ hay. Thơ hay, thơ có thần là bài thơ trong đó, ý và lời phải đạt được giá trị thẩm mỹ đặc biệt của thi ca. Ý trong thơ hay không phải là lối suy tư trong đời sống trí thức, không phải là lý luận (reasoning) suông, mà là ý tưởng khéo léo diễn tả dưới những hình ảnh thi ca đẹp đẽ. Nhà thơ không làm công việc của một triết gia, không diễn tả tư tưởng bằng suy tư, mà diễn tả tư tưởng bằng hình ảnh. “Le poète pense par images” như một nhà thơ Pháp đã nói…”

Mời đọc: toàn bài (PDF)

                Văn Hóa Là Gì? GS/TS Nguyễn Thanh Liêm

(Bài nói chuyện của GS Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm
Cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên VNCH
Nhân Ngày Văn Hóa tổ chức tại Garden Grove, California tháng 5, 2016)

Kính thưa quý vị và các bạn,

Từ hơn mười mấy năm qua, chúng tôi đều tổ chức ngày văn hoá hằng năm để cổ võ việc nghiên cứu và phát triển về những vấn đề sinh hoạt văn hoá trong xã hội Việt Nam.

Nhưng văn hoá là gì?

Một số người Việt Nam cho rằng văn hoá có nghĩa là thanh cao, lịch sự, nhã nhặn, khoan dung, khác với sự tầm thường, lỗ mãng, cục mịch, ác độc. Với ý nghĩa đó, người ta nói người Việt tự do, nhân bản, lịch sự là người có văn hoá. Ngược lại người Việt cộng sản, độc tài toàn trị, ngu đần, bất lịch sự, tàn bạo, không có văn hoá. (Việt Cộng không có văn hoá, chỉ có người Việt tự do nhân bản mới có văn hoá). Thật ra chúng tôi không chủ trương văn hoá theo ý nghĩa đó.

Theo chúng tôi, một cách tổng quát, văn hoá là nếp sống của con người trong xã hội. Nói khác đi, văn hoá là tất cả những sinh hoạt của con người trong một xã hội. Học hành, làm việc, cưới vợ, sanh con, tôn sùng, lễ bái, tôn giáo, chính trị, kinh tế, nghệ thuật, v.v… đều thuộc sinh hoạt xã hội của con người, nghĩa là văn hoá cả. Chúng tôi theo đúng môn văn hoá nhân loại học, cultural anthropology, một ngành khoa học chú trọng về các phần học thuật liên hệ tới ngôn ngữ, tôn giáo, hôn nhân, kinh tế, chính trị, nghệ thuật, nhân cách, giá trị, v.v… Theo ý nghĩa đó người Việt Nam dù là tự do hay là cộng sản cũng là người có văn hoá cả. Cái khác biệt là văn hoá nhân bản, tự do, của người Việt Nam rất khác biệt với văn hoá vô nhân bản, độc tài toàn trị, hẹp hòi của cộng sản.

Trong sinh hoạt văn hoá có hai chức vụ trọng yếu, không thể thiếu được là xã hội loài người và giáo dục. Không có một cộng đồng, không có một nhóm người sống chung thì không thể là một sinh hoạt văn hoá. Có một cộng đồng, có một nhóm người sống chung với nhau mà không có giáo dục thì cũng không thành văn hoá. Sinh hoạt bẩm sinh (instinct) không thuộc về văn hoá. Như loài kiến, loài ong, có thể có xã hội nhưng không có văn hoá. Phải có giáo dục như xã hội loài người mới có văn hoá.

Giáo dục để trở thành một con người trong xã hội, đó là tiến trỉnh xã hội hoá của con người. Đó là tiến trình được nuôi dưỡng, được uốn nắn, được giáo dục để trở thành một con người trong xã hội. Nói riêng về giáo dục, chúng ta có 3 cách giáo dục cho con người. Đó là giáo dục trong gia đình là một, giáo dục ở học đường là hai, và giáo dục trong trường đời (xã hội) là ba. Cả ba nền giáo dục đó đã kết thành một con người giáo dục trong xã hội vậy. Việt Nam Công Hoà, hay Việt Nam cộng sản cũng đều trải qua ba cách giáo dục đó. Cái khác lớn lao nhất là cái khác trong các nền giáo dục ở mỗi nơi, mỗi hoàn cảnh, mỗi môi trường. Cha mẹ dạy con thế nào, trường học dạy con thế nào, cuộc đời dạy con người như thế nào, tất cả là văn hoá khác biệt vậy.

Nhưng giáo dục không bao giờ hoàn hảo. Người dạy cũng như người học lúc nào cũng muốn được thành tựu tốt đẹp nhất, nhưng không bao giờ hoàn hảo được. Ở một  khía cạnh nào đó, con người vẫn còn thấy một thiếu vắng nào đó trong sinh hoạt của con người.

Chương trình nghiên cứu/phát triển về văn hoá nhằm bổ sung phần nào đó cho những khiếm khuyết có thể có trong đời. Chương trình văn hoá của chúng tôi nhắm vào tổ chức đó, dù hay dù dở, dù tốt hay không được tốt.

Lần nầy chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề tôn giáo, và sau đó vấn đề sức khoẻ, dinh dưỡng cho con người. Đây là một số trong những chương trình hoạt động của văn hoá Việt Nam. Trong tương lai chúng ta sẽ mời đến những vị khoa bảng, những học giả, những chuyên viên, những bậc cao thâm đức trọng, đến thuyết trình cho các thính giả chọn lọc như hôm nay vậy.

Chúng tôi xin hết sức cám ơn quý vị và các bạn.

Nguyễn Thanh Liêm

Ghi chú: Vì lý do sức khỏe nên lần này GS Liêm chỉ phát biểu rất ngắn.

Trường Petrus KýGS Nguyễn Thanh Liêm

Tôi ra đời trong một làng quê ở tỉnh Mỹ Tho. Ngay từ lúc còn học ở trường Tiểu Học tỉnh, tôi đã được nghe ba tôi và chú tôi nói nhiều về trường Petrus Ký. Thấy các anh học sinh trường College Le Myre de Vilers với bộ đồng phục trắng có gắng phù hiệu trông rất uy nghi tôi đã nể phục các anh và ngưỡng mộ trường college này lắm rồi. Nhưng chú tôi bảo là Petrus Ký còn to hơn, quan trọng hơn Le Myre de Vilers nhiều lắm. Riêng ba tôi thì hình như lúc nào cũng nhắc là “nữa lớn con sẽ học trường Petrus Ký.” Thành ra trong đầu óc non nớt của tôi lúc đó trường Petrus Ký là cái gì vĩ đại lắm, nó lớn lao quan trọng vô cùng. Tôi cũng nghe một người bà con bảo là “học Petrus Ký ra là làm cha thiên hạ đấy.” Lời phát biểu chói tai đó thật ra cũng có phần đúng đối với thế hệ của tôi và đối với người dân Miền Nam thời đó. Bởi vì cho đến năm 1945, sau ngày Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai chấm dứt, cả Miền Nam nước Việt chỉ có 4 trường Trung Học công là Petrus Ký, Gia Long, Le Myre de Vilers (Nguyễn Đình Chiểu), và College de Cần Thơ (Phan Thanh Giản), mà trong 4 trường đó chỉ có trường Petrus Ký là trường duy nhất có bậc đệ nhị cấp (tức là lycée hồi đời Tây). Dù ra đời trễ nhất trường Petrus Ký vẫn là trường lớn nhất, cao nhất, và nổi tiếng nhất ở trong Nam. Thời xưa, có được bằng Tiểu Học đã là oai lắm đối với dân quê, có được bằng Thành Chung thì kể như trí thức lắm rồi, thuộc hạng thầy thiên hạ, huống chi là có được bằng Tú Tài. Quí hóa vô cùng, có mấy ai có được bằng này. Vậy mà trường Petrus Ký lại sản xuất ra số ít người quí giá đó. Bởi thế nên phụ huynh học sinh, những người hiểu rõ giá trị của giáo dục, nhất là những người có con trai, ai ai cũng đều mong muốn cho con mình được vào Petrus Ký cả.

Nhưng khi lên trung học thì tôi vào Le Myre de Vilers chớ không phải Petrus Ký vì thời cuộc lúc này và vì hoàn cảnh gia đình không cho phép. Khi xong đệ nhất cấp, tôi mới xin chuyển về trường Petrus Ký và từ đó sống ở Sài Gòn luôn. Được vào Petrus Ký là kể như ước mơ đã thành, tôi mừng không thể tả, nhưng người vui nhất chắc chắn là ba tôi và kế đó là nhưng người thân trong gia đình tôi. “Ngày đầu tiên vào trường, đứng xếp hàng dưới những tàn cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, tôi có cảm giác như tôi đang được vươn mình lên để lớn thêm và để mở rộng tâm hồn cho khoáng đạt, cho thích nghi với với cái khung cảnh uy nghi đồ sộ của ngôi trường. Khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật tôi nói thầm trong lòng rằng ở trên đời này chắc chưa có trường học nào có được cái kỷ luật chặt chẽ và cái không khí trang trọng như trường này. Nhất là khi vừa qua khỏi cổng vào sân trong, nhìn lên giữa hành lang chính (préau) thấy thầy hiệu trưởng Phạm Văn Còn cùng với thầy giám học (thầy Huấn) và thầy tổng giám thị (thầy Trương) oai vệ đứng đó tôi càng thấy cái không khí nghiêm trang của ngôi trường hơn, một sự nghiêm trang mà tôi chưa hề thấy được ở những ngôi trường nào tôi đã học qua.” (TTHPK tr. 115-116). So với Le Myre de Vilers, trường Petrus Ký lớn hơn nhiều lắm, cũng ra đời sau Le Myre de Vilers lâu lắm. Họa đồ xây cất trường do một kiến trúc sư người Pháp là ông Hebrard de Villeneuve vẽ hồi năm 1925, và trường được khởi công xây cất liền sau đó để hoàn tất vào năm 1927. Niên khóa đầu tiên khai giảng hồi tháng 9 năm 1927 với bốn lớp học sinh chuyển từ Chasseloup Laubat sang. Lúc này trường mang tên Collège de Cochinchine. Vị hiệu trưởng đầu tiên là ông Banchelin. Năm sau, 1928, Thống Đốc Nam Kỳ là Blanchard de la Brosse lấy tên nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký đặt tên cho trường, biến trường này thành lycée (trường Đệ Nhị Cấp) và cho đặt tượng đồng bán thân Petrus Ký vào giữa sân trường. Lễ khánh thành tượng đồng Petrus Ký và trường Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký được đặt dưới sự chủ tọa của Tống Đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse. Trường nằm ở giữa hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, trên khoảng đất rộng mênh mông với đầy đủ cung cách của một khu học đường trang nghiêm yên tịnh. Tất cả đất đai, và phần lớn cơ sở trong khu vực đóng khung bởi bốn con đường Cộng Hòa, Thành Thái, Trần Bình Trọng và Nguyễn Hoàng, đều thuộc lãnh thổ của Petrus Ký. Trường có sân vận động riêng của trường, sân vận động Lam Sơn. Nhưng vì sự phát triển nhanh của nền giáo dục trong thập niên 1950 khi nước vừa độc lập nên một số cơ sở và đất đai của trường Petrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để xài cho những cơ quan giáo dục khác. Trường Quốc Gia Sư Phạm, trường Trung Tiểu Học Trung Thu dành cho con em Cảnh Sát, Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục đều được xây trên phần đất của trường Petrus Ký. Ba dãy lầu lớn của trường Petrus Ký được dùng cho Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm. Nhà Tổng Giám Thị Petrus Ký được dùng làm Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ, và một số các nhà chức vụ khác của trường cũng được dùng cho một số các viên chức Bộ Giáo Dục. Tuy bị cắt xén nhiều nhưng trường Petrus Ký vẫn còn là một trường trung học lớn nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam Việt Nam.

(Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Petrus Ký. Ở Le Myre de Vilers tuy kỷ luật cũng khá chặt chẽ, tuy cũng có nhiều biện pháp mạnh trừng phạt học sinh như cấm túc, đuổi học, vv…nhưng vẫn không có cái không khí trang nghiêm uy nghi của trường Petrus Ký. Ở Le Myre de Vilers khi cổng trường mở thì học sinh cứ đi thẳng vào trước lớp học của mình chờ tới giờ sắp hàng trước cửa lớp đợi thầy đến cho phép là vào lớp. Ở Petrus Ký, sau khi vào cổng học sinh phải xếp hàng bên hông trường trước. Xong rồi mới theo lệnh giám thị tiến vào bên trong xếp hàng chờ trước cửa lớp một cách rất trật tự. Ở Le Myre de Vilers học sinh không thấy ông hiệu trưởng đâu, nhưng ở Petrus Ký, khi vào bên trong trường là học sinh sẽ thấy ngay ban giám đốc đứng giữa hành lang chính nhìn xuống toàn thể học sinh của trường. Tôi chưa hề chào cờ ở trường Le Myre de Vilers bao giờ. Nhưng ở Petrus Ký thì học sinh phải chào cờ mỗi sáng Thứ Hai. Cảnh chào cờ bao giờ cũng rất nghiêm trang và long trọng. Ở đây lúc nào bạn cũng cảm thấy như được ban giám đốc chiếu cố tới luôn).

Muốn được vào học trường Petrus Ký người đi học phải chứng tỏ được rằng mình thuộc thành phần ưu tú, xuất sắc, có thể là ở trong nhóm từ 5 đến 10 phần trăm đầu của những người cùng lứa tuổi. Kỳ thi tuyển vào Petrus Ký là kỳ thi rất gay go cho nhiều học sinh, xưa cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Petrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thi. Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Petrus Ký. Quyển Kỷ Yếu của trường Petrus Ký niên khóa 72-73 ghi thành tích học tập của niên khóa trước như sau:

TÚ TÀI II

Ban A: Dự thi 101, trúng tuyển 101 với 2 Ưu, 10 Bình, 25 Bình Thứ, tỷ lệ 100%.
Ban B: Dự thi 419, trúng tuyển 419, 11 Ưu, 53 Bình, 114 BT, tỷ lệ 100%
Ban C: Dự thi 52, trúng tuyển 52, với 7 BT, tỷ lệ 100%

Đậu nhiều và nhiều người đậu cao, đó là thành tích học tập của học sinh Petrus Ký từ xưa đến giờ.

Trường Petrus Ký đối với tôi là một trường mẫu, lý tưởng, là tấm gương cho các trường khác noi theo. Lúc còn học ở Le Myre de Vilers bọn học sinh chúng tôi luôn lấy các bạn Petrus Ký làm mẫu trong mọi hoạt động. Bởi vậy nên khi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, tôi quyết định lấy Petrus Ký làm ưu tiên một trong việc chọn lựa nhiệm sở của tôi. Tôi được về Petrus Ký theo ý muốn. Ở thời đại của tôi được bổ nhiệm về trường Petrus Ký và một số các trường lớn khác ở Đô thành thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Nói chung thì phần đông giáo sư Petrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo sư Petrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian. (Giáo sư Nguyễn Thành Giung sau làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Lược sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Thuật sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và BDGD, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm sau làm Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên). Đặc biệt là từ niên khóa 1964-65 giáo sư Petrus Ký giữ vai trò quan trọng trong việc soạn đề thi cho các kỳ thi trên toàn quốc. Họ cũng là những người đem bài thi trắc nghiệm khách quan (objective tests) thay dần vào chỗ những bài thi theo lối luận đề (essay). Một số giáo sư khác đã có những công trình nghiên cứu soạn thảo, viết sách giáo khoa rất có giá trị như giáo sư Phạm Thế Ngũ, giáo sư Vũ Ký, vv…Phần đông đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường. Thầy Đảnh, thầy Thái, thầy Ái, thầy Minh, thầy Hạnh, thầy Đính, thầy Nam… thầy nào học trò cũng thương cũng mến và thầy nào cũng hết lòng lo lắng cho học sinh, cũng như lo lắng cho trường. Mến thương học trò, mến thương trường Petrus Ký, đó là điều mà phần đông anh chị em giáo sư Petrus Ký đều cảm thấy. Cho nên năm 1962 khi tôi bị đưa đi làm hiệu trưởng ở Bình Dương tôi thấy rất khổ tâm khi phải rời khỏi trường. Cũng may là năm sau tôi lại được trở về Petrus Ký không phải để đi dạy lại mà để làm hiệu trưởng trường này.

Tôi là hiệu trưởng đời thứ 13 của trường mặc dầu trước tôi chỉ có 11 ông hiệu trưởng (vì ông Valencot làm hiệu trưởng tới hai lần cũng như giáo sư Trần Ngọc Thái sau này). Từ 1927 cho đến năm 1975 trường có tất cả 17 vị hiệu trưởng. Trong số 17 ông hiệu trưởng này, có 5 người Pháp (Banchelin, Valencot, Andre Neveu, Le Jeannic, và Taillade) và 12 người Việt Nam (Lê Văn Kim, Phạm Văn Còn, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Lược, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Thái, Trần Văn Thử, Trần Văn Nhơn, Bùi Vĩnh Lập, và Nguyễn Minh Đức). So với những vị hiệu trưởng trước, tôi là người quá trẻ khi đảm nhận chức vụ hiệu trưởng trường này. Lúc đó tôi mới có 30 tuổi trong khi những vị hiệu trưởng trước tôi không có vị nào dưới năm mươi tuổi. Tất cả đều là bậc thầy của tôi. Nhưng cũng từ tôi trở đi thì hiệu trưởng Petrus Ký đều còn nhỏ tuổi cả (trừ ra giáo sư Trần Văn Thử), tất cả là đàn em của tôi về phương diện tuổi tác. Lớp trẻ chúng tôi tuy có rộng rải, cởi mở hơn thế hệ lớn tuổi nhưng tất cả đều không xa rời truyền thống tốt đẹp của trường Petrus Ký. Kỷ luật, trật tự vẫn đứng hàng đầu. Chọn lựa kỷ giáo sư, chọn lựa kỷ học sinh, thúc đẩy các hoạt động trong cũng như ngoài học đường, vận động mọi phương tiện, mọi nguồn yểm trợ để phát triển trường sở, thăng tiến việc học của học sinh, làm cho học sinh đậu nhiều và đậu cao trong các kỳ thi, đào tạo người giỏi cho non sông tổ quốc, đó là những điều chính yếu mà ông hiệu trưởng Petrus Ký nào củng cố làm. Ông hiệu trưởng nào cũng biết là trường mình là trường rất nỗi tiếng, rất được sự chú ý của chính quyền cũng như của dân chúng. Ông hiệu trưởng nào cũng biết trường mình là trường được giới giáo dục coi như là trường kiểu mẫu của trường trung học ở miền Nam tự do và là trường luôn được sự chú ý của mọi người và mọi giới. Những nhân vật hàng đầu của chính phủ thường đến thăm viếng trường, từ Tổng Thống, Chủ Tịch Quốc Hội đến các Tổng Bộ trưởng, đến các quốc khách từ các quốc gia khác đến. Ai cũng biết trường mình là trường đã từng đào tạo rất nhiều nhân vật quan trọng, từng giữ những vai trò lãnh đạo trong chánh quyền bên này hay bên kia, từng đóng góp vào việc làm nên lịch sử cho xứ sở.

Và trên hết tất cả ai cũng hiểu rằng trường mình hết sức hãnh diện mang tên một nhà bác học, một nhà văn hóa có công rất nhiều đối với việc phổ biến nền học thuật mới ở Việt Nam hồi thế kỷ thứ XIX. Đó là nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký. Nói đến ông là người ta phải nhớ đến vai trò “khai đường mở lối” của ông trên các địa hạt sau đây:

Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo trước tác.
Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho,
Làm báo theo đúng mẫu mực một tờ báo, và
Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ kỹ lỗi thời của nho gia.

Qua công trình soạn thảo, trước tác của ông ta thấy ông là một nhà văn hóa giáo dục có tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng, ba đặc tính quan trọng mà nền giáo dục chân chính và tiến bộ nào cũng cần phải có. Lý tưởng của ông là đào tạo được lớp người mới có đủ những kiến thức khoa học kỹ thuật của văn minh Aâu Tây đồng thời nắm vững những nguyên tắc đạo đức cổ truyền Á Đông, vừa có tâm hồn khai phóng, cởi mở, vừa có tinh thần dân tộc, vừa biết tôn trọng giá trị con người dù bất cứ trong xã hội nào. Lý tưởng đó được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam manh nha từ thời Pháp thuộc để phát triển và bành trướng mạnh mẽ từ Đệ Nhất qua Đệ Nhị Công Hòa.

Trường trung học được cái danh dự mang tên Petrus Trương Vĩnh Ký từ khi ra đời đã mang lý tưởng giáo dục đó biểu lộ trong hai câu đối ghi khắc trước cổng trường:

“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt

Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”

Từ ngày được thành lập cho đến khi bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi năm hoạt động, trường Petrus Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở Miền Nam Việt Nam.

Nguyễn Thanh Liêm
Học sinh cũ, Giáo sư cũ, Hiệu trưởng cũ
Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký

Nguồn: https://petruskyaus.net/

NGÀN NĂM PETRUS KÝ (MP3) – Sáng tác: Minh Châu-Y Nguyên (Hoàng Yến), phỏng theo ý của GS Nguyễn Thanh Liêm – Hòa âm: Cao Ngọc Dung – Tiếng hát: Văn Cường (note: Nguyễn Minh Châu là cựu học sinh Petrus Ký ở Pháp)

Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Người Bạn Đồng Môn và Bạn Đồng Nghiệp Của Tôi Tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh KýBài viết của GS Trần Thành Minh

Những người bạn đồng môn và đồng nghiệp cùng thời với tôi tại trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký cũng nhiều, như bạn Lê Văn Đặng ở Seattle , Nguyễn Thanh Liêm ở California , Cam Duy Lễ , Nguyễn Minh Dân và Ngô Thanh Nhàn ở Việt Nam. Ở đây tôi xin ghi lại một số kỷ niệm với anh Nguyễn Thanh Liêm nhân dịp các em cựu học sinh Petrus Ký tại Nam Cali muốn ra mắt cuốn nội san viết về Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm , người học trò , người Thầy và người Hiệu Trưởng trẻ nhất của trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký.

Tôi biết anh Liêm từ năm học 1955-1956 tại trường Petrus Ký , anh học lớp Philo (Tú Tài 2 ban Triết) , tôi học lớp Mathelem (Tú Tài 2 ban Toán) Hai lớp học này ở gần nhau trên lầu của trường, dãy phía phòng giáo sư , mỗi lớp đều có vài bạn nữ của trường Gia Long qua học chung vì thời đó trường Gia Long chưa có lớp Terminales (lớp 12 bây giớ) ,các nữ sinh khi đậu Tú Tài 1 phải qua học Petrus Ký hoặc Chasseloup Laubat (trường của Pháp). Tôi còn nhớ bên lớp Philo , anh Liêm làm trưởng lớp và chị Huệ Chi làm phó trưởng lớp (chị Huệ Chi sau làm Hiệu Trưởng trường Sương Nguyệt Anh và hiện nay định cư tại Pháp) ,ngoài anh Nguyễn Thanh Liêm còn có anh Lâm Thanh Liêm sau này dạy Đại học Văn Khoa Saigon và anh Liêm thứ ba có tật cánh tay sau là giáo sư Triết học của trường Đại học Hawaii. Hai lớp chúng tôi học chung các Thầy Nguyễn Bá Cường dạy Philo (Triết) đệ nhất lục cá nguyệt và Thầy Quillet dạy đệ nhị lục cá nguyệt (Thầy là người Pháp ,thạc sĩ Triết học ,cựu sinh viên trường Ecole Normale Supérieure de Paris mới qua) ,thầy Dufeil dạy Sử Địa ( thầy là thạc sĩ có dạy Đại học Văn khoa Saigon) , Cô Mai Trần Ngọc Tiếng dạy Sciences naturelles (Vạn Vật) , cô dạy Đại học Khoa học kế bên và qua dạy giờ tại trường Petrus Ký , Thầy Trần Văn Quế dạy Vietnamien , thầy là một chức sắc đạo Cao Đài , hiền lành bậc nhất và thường hay mặc quốc phục trắng đi dạy. Cuối năm học này anh Liêm và tôi đậu Bac II (Tú Tài 2 chương trình Pháp) và chúng tôi cùng trúng tuyển vào trường Cao Đẳng Sư Phạm Saigon ( lúc bấy giờ chưa có trường Đại học Sư Phạm) , anh Liêm học ban Việt Hán và tôi ban Toán .Sau hai năm học chúng tôi tốt nghiệp với thứ hạng cao nên được bổ nhiệm về trường Petrus Ký.

Năm học đầu tiên chúng tôi dạy tại trường Petrus Ký là năm học 1958-1959 , lúc đó Hiệu Trưởng là Thầy Nguyễn Văn Trương , Giám học là thầy Trương Văn Cao và Tổng Giám thị là thầy Trần Hữu Văng .Năm học này anh Liêm được phân dạy môn Quốc Văn một số lớp Đệ tam (lớp 10) và một số lớp đệ thất (lớp 6) và tôi được phân công dạy Toán hai lớp Đệ tam B và dạy Vạn Vật bảy lớp đệ thất cho đủ số giờ qui định nên anh Liêm và tôi cùng dạy chung một vài lớp đệ thất ( tình cờ năm 2004 chúng tôi gặp nhau tại nhà một cựu học sinh Petrus Ký tại Munich bên Đức là Huỳnh Hiêu Thảo, em này kể lại chuyện xưa học với hai chúng tôi lớp đệ thất của trường Petrus Ký). Cuối năm học 1959-1960 anh Liêm được cử đọc diễn văn thường lệ trong lễ phát thưởng của trường Petrus Ký (theo truyền thống của trường thì những giáo sư Triết và Văn mới về trường được phân công đọc diễn văn thường lệ trong buổi lễ phát thưởng cuối năm ,năm học 1958-1959 thầy Phạm Mạnh Cương đọc diễn văn thường lệ ). Trong khi dạy tại Petrus Ký hai chúng tôi học tiếp đại học để lấy bằng cử nhân , anh Liêm học Đại học Văn Khoa Saigon với bằng cử nhân Giáo khoa Việt Hán ,còn có thêm chứng chỉ Lịch sử Triết học Đông phương và Tây Phương , về phần tôi học Đại học Khoa học Saigon lấy bằng cử nhân Toán để chuyển ngạch sang giáo sư đệ nhị cấp .

Lúc bấy giờ anh Liêm đẹp trai , học giỏi, ăn nói hoạt bát nên được cảm tình của hai chị em cô Đào Kim Phụng và Đào Kim Liên từng là hoa khôi của trường Gia Long.Tôi còn nhớ có một buổi tối anh Liêm rũ tôi đến nhà cô Phụng tại lầu hai chung cư Duy Tân để ra mắt thân phụ của cô Phụng là bác Đào Ngọc Đồng.Năm 1961 tôi được dự đám cưới giữa anh Nguyễn Thanh Liêm và chị Đào Kim Phụng , sau đám cưới tôi lái chiếc xe Peugeot 203 cũ chở anh chi đi hưởng tuần trăng mật tại Dalat .

Năm 1962 anh Liêm được bổ nhiệm làm Hiệu Trưởng trường Trung học Trịnh Hoài Đức ở Bình Dương , lúc chia tay chúng tôi thấy anh buồn vì xa trường và xa ban bè. Năm học 1963 – 1964 anh trở lại trường Petrus Ký với chức vụ Hiệu Trưởng trẻ nhất so với các vị Hiệu trưởng trước đây ( lúc đó anh mới 30 tuổi) .Trong năm học anh làm Hiệu trưởng thì anh Lê Đình Hạnh làm Giám học , anh Phạm xuân Ái làm Phụ tá Giám Học , thầy Tăng Văn Chương làm Tổng giám thị và tôi được hội đồng giáo sư bầu làm thư ký hội đồng giáo sư .Anh Liêm là hiệu trường trẻ của trường Petrus Ký tuy có rộng rãi , cởi mở hơn những ông Hiệu trưởng lớn tuổi trước nhưng vẫn cố gắng giữ truyền thống tốt đẹp của trường là trật tự ,kỷ luật hàng đầu , học sinh học giỏi đậu nhiều, đậu cao và đào tạo người giỏi cho non sông tổ quốc với lòng yêu nước nồng nàn.

Kể từ năm 1964 anh rời trường Petrus Ký và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong ngành Giáo Dục Việt Nam trước 1975 như : Chánh thanh tra trưởng ban soạn đề thi , chuyên viên văn hóa giáo dục của văn phòng Phủ Tổng Thống VNCH, Phụ tá đăc biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu học và Bình Dân Giáo Dục của Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh niên VNCH . Mặc dầu không làm việc tại trường Petrus Ký nữa nhưng lúc nào anh Liêm cũng quan tâm tới trường , giữ mối liên hệ thường xuyên với bạn bè Petrus Ký như phần đông thanh tra soạn đề thi đều là giáo sư Petrus Ký.Các kỳ lễ lớn của trường anh đều đến dự.

Cuối tháng tư năm 1975 tình hình đất nước rối ren, tôi biết lòng anh ngổn ngang trăm mối nên các buổi chiều anh thường qua nhà Anh Phạm Ngọc Đảnh đường Nguyễn Hoàng ( kể từ năm 1965 anh ở nhà 3C đường Nguyễn Hoàng gần nhà anh Đảnh) để tâm sự với anh Đảnh và tôi , với chức vụ của anh không thể ở lại Saigon mà ra đi thì như thế nào ? Vì còn cha mẹ già ,sau cùng anh quyết định ra đi và gởi gắm hai ông bà thân sinh cho anh Đảnh.

GS Trần Thành Minh (GS Toán, Petrus Ký) ,Trần Kim Quế (Thanh tra trung học trước 75), GS Phạm Xuân Ái (GS Pháp văn, Petrus Ký), GS Hồ Văn Thái (GS Pháp văn Petrus Ký), GS Nguyễn Thanh Liêm
Hình chụp tại Đại hội Petrus Ký Châu Âu ở Ronnenburg (CHLB Đức ) năm 2004


Năm 2004 sau 29 năm xa cách tôi mới gặp lại anh Liêm trong Đại hội lần thứ 10 của Hội Ái Hữu Petrus Ký Châu Âu tại Ronneburg CHLB Đức . Trong Đại hội lần này có anh Nguyễn Thanh Liêm và vợ chồng anh Trang Ngọc Nhơn đến từ Mỹ , vợ chồng anh Phạm Xuân Ái đến từ Paris và tôi đến từ Việt Nam , ngoài ra tại CHLB Đức có vợ chồng anh Phạm Ngọc Đảnh (linh hồn của Hội) ,vợ chồng anh Trần Kim Quế và anh Hồ Văn Thái. Chúng tôi tay bắt mặt mừng , hỏi thăm sức khỏe và cuộc sống gia đình với nhau . Sau đại hội vợ chồng em Huỳnh Văn Ngày và vợ chồng em Phạm Văn Hòa cựu học sinh Petrus Ký có tổ chức cho anh Liêm và tôi đi du lịch tại nước Áo và nước Hungary , đây là dịp mà tôi và anh Liêm có nhiều thời gian tâm sự .

Anh Nguyễn Thanh Liêm , người bạn đồng môn và người bạn đồng nghiệp cùng thời với tôi từ năm 1955 tại trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký , là người bạn tốt có thủy , có chung và là người Thầy cao quí , gương mẫu , đạo đức , suốt đời vì sự nghiệp giáo dục và văn hóa kể cả khi anh định cư tại Mỹ.

Saigon tháng 6 năm 2010
Trần Thành Minh

   Hội Lăng Ông Tổ Chức Ngày Tôn Sư Trọng Đạo 2016
09/06/2016 – Nguồn: vietbao online

Garden Grove (Bình Sa)- – Như thông lệ hằng năm, Hội Lăng Ông Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt do Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm làm Hội Trưởng đã liên tục tổ chức “Ngày Tôn Sư Trọng Đạo”. Để nhớ ơn và vinh danh các Thầy Cô giáo, Buổi lễ năm nay được tổ chức vào lúc 11 giờ trưa chủ Nhật ngày 05 tháng 6 năm 2016 tại nhà hàng Seafood Place Restaurant, 12181 Brookhurst St, Garden Grove, Nam California.

Trên sân khấu có thiết kế bàn thờ có chữ “Tôn Sư Trọng Đạo” có lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa treo chính giữa, hai bên có hai câu đối: “Việt Sĩ Minh Tâm Văn Hóa Thịnh – Nam Nhân Thiện Trí Quốc Gia Hưng”

Tham dự Ngày Tôn Sư Trọng Đạo có qúy vị quan khách, qúy Thầy, Cô Giáo, thời Việt Nam Cộng Hòa, qúy vị đại diện hội đoàn, đoàn thể, qúy cơ quan truyền thông và một số các cựu học simh thuộc các trường Trung Học Việt Nam Cộng Hòa. Đặc biệt có sự tham dự của ông Hoàng Đức Nhã, Bí Thư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Trưởng Dân Vận thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

Điều hợp chương trình khai mạc do: Ông Phạm Văn Tú, Tổng Thư Ký Hội Lê Văn Duyệt Foundation; cô Vũ Đan, cựu Hội Trưởng Hội Cựu Nữ Sinh Lê Văn Duyệt, Đốc Sự Hoa Thế Nhân.

Sau phần nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và phút mặc niệm. Sau đó Ban hợp ca hát bản “Học Sinh Hành Khúc”.

Tiếp theo chương trình, Đốc sự Châu Văn Đễ, Trưởng ban tổ chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn sự hiện diện của tất cả qúy vị… ông cho biết, “… Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt đã hai lần làm Tổng Trấn Gia Định Thành… Tôn sùng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt và Lăng Ông Bà Chiểu là ngưỡng vọng hồn thiêng sông núi của một Sài Gòn dù đã mất tên nhưng trong lòng người vẫn mãi mãi là Hòn Ngọc Viễn Đông bất diệt. Mang hình ảnh Lăng Ông Bà Chiểu ra hải ngoại là bảo tồn văn hóa Việt Nam, là khởi điểm hội tụ cho những người Việt Nam còn nhớ đến cội nguồn. Đây là nghĩa cử uống nước nhớ nguồn, dùng hình ảnh Lăng Ông như mấu chốt tôn sùng những anh hùng liệt nữ có công khai sáng và phát triển Miền Nam và tôn thờ những vị đã hy sinh cho tổ quốc. Lăng ông Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt là một ngôi đình nơi hải ngoại, là đền Trung Liệt, là tụ nghĩa đường của toàn dân Việt nơi đất khách…”

Tiếp theo, Diễn Văn của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, trong đó có đoạn ông cho biết: “… Nói chung tình Thầy Cô bao giờ cũng mặn nồng, ít nhất trong thế giới văn hóa dân chủ tự do nhân bản, trong tinh thần bác ái công bằng đầy đủ nhân quyền ở thời Việt Nam Cộng Hòa, Đối lại về phía học trò cũng rất mực kính mến thương tưởng Thầy Cô. Các học trò ở hải ngoại trong các hội ái hữu các trường thường gởi qùa và tài chánh để tặng các Thầy Cô trong các dịp lễ để tỏ lòng nhớ ơn Thầy, Cô… Cho nên hôm nay trước ngày lễ Tôn Sư Trọng Đạo 2016, tại Orange County, trước sự chứng kiến của các bậc Trưởng Thượng, qúy vị Giáo Sư, Nhân Sĩ, qúy vị lãnh đạo các hội đoàn, đoàn thể, các nhà làm văn hóa, truyền thông báo chí, các anh chị em cựu học sinh, sinh viên và đồng hương. Tôi khấn nguyện luôn luôn tôn trọng nền Văn Hóa cổ truyền Việt Nam, tôn trọng nền giáo dục Nhân bản dân tộc khai phóng của Việt Nam Cộng Hòa sùng bái tinh thần Tôn Sư Trọng Đạo” đề cao sự thiêng liêng cao cả của việc nhớ ơn Thầy, Cô, trung thành với chủ trương văn hóa giáo dục đó, chúng tôi cùng anh chị em trong Lê Văn Duyệt Foundation xin kính dâng ngày lễ trọng đại nầy đến Thầy, Cô dù đã qúa vãng, hay đang sinh thời, và cả những vị sẽ đảm nhận chức vụ đó trong tương lai.”


Sau Diễn văn của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Giáo Sư Cao Minh Châu, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Giải Khuyến Học/Viet Olympiad lên giới thiệu về “Tập San Tôn Sư Trọng Đạo 2016” do Lê Văn Duyệt Foundation thực hiện với nhiều tài liệu chi tiết trong ngày Tôn Sư trọng Đạo và xin mọi người tham dự trước khi ra về ủng hộ cho Ban tổ chức mua mỗi người một tập.

Sau đó Ban hợp Ca Câu lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ lên hát bản “Việt Nam Ơi, Việt Nam Ơi”

Tiếp theo là phần vinh danh các Thầy, Cô giáo trong năm 2016 gồm có: Nguyễn Thị Loan Anh, Nguyễn Sơ Đông, Hồ Văn Hoàng, Phan Như Hữu, Lê Hữu Khoan, Trần Minh Lợi, Nguyễn Thị Mai, Huỳnh Thị Ngọc, Nguyễn Thị Thu Nguyệt, Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Khoa Diệu Quyên, Đàm trung Pháp, Nguyễn Văn Thùy, Nguyễn Vĩnh Thượng, Phạm Thị Trí. Sau khi sơ lược qua tiểu sử từng vị và mời lên sân khấu để được vinh danh.

Sau đó là những lời vinh danh của Phu Nhân cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ghi nhận những đóng góp của GS Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm cho nền giáo dục Nhân bản, Dân tộc, Khai Phóng nền Đệ Nhị Cộng Hòa trước tháng 4 năm 1975. Tại Hoa Kỳ sáng lập Lê Văn Duyệt Foundation, tổ chức ngày Văn Hóa Tôn Sư Trọng Đạo…

Ông Hoàng Đức Nhã, Nguyên Bí Thư Tổng Thống, Nguyên Tổng Trưởng Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi Việt Nam Cộng Hòa, thay mặt cho Phu Nhân Tổng Thống (không đến tham dự được vì lý do sức khỏe) lên đọc lời vinh danh của Bà, trong đó có đoạn: “Nhân danh Phu Nhân Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, tôi xin trân trọng vinh danh GS. Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm trước buổi lễ Tôn Sư Trọng Đạo hôm nay. Cá nhân tôi, tôi xin ca ngợi những thành công của GS Liêm, và tin rằng GS. Đã và đang tiếp tục mở đường tiên phong cho thế hệ con, cháu chúng ta phục vụ lý tưởng tự do, dân chủ, nhân bản của người Việt quốc gia.”

Tiếp theo phần trao tặng bằng vinh danh của TNS Janet Nguyễn, của Nghị Viên Phát Bùi, của Hội Lê Văn Duyệt Foundation đến Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm..


Buổi tiệc bắt đầu với một chương trình văn nghệ thật xuất sắc do các nghệ sĩ thân hữu, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và Hội cựu Nữ Sinh Lê Văn Duyệt trình diễn. Đặc biệt với bản cổ nhạc “Nhớ Ơn Thầy” do Phu Nhân GS. Nguyễn Thanh Liêm trình diễn.

Tiếp theo cựu học sinh Cao Minh Châu lên có đôi lời cảm tưởng đối với qúy thầy cô giáo.

Chương trình văn nghệ tiếp tục và cuối cùng kết thúc với bản “Việt Nam Việt Nam”.

Quý đồng hương muốn tìm hiểu và biết thêm chi tiết xin liên lạc:

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm (714) 721-0878; Nguyễn Quang Bâng (714) 688-6075; Châu Văn Đễ (714) 588-9598. Tập San Nghiên Cứu Văn Hoá Đồng Nai Cửu Long. Website: http://www.dongnaicuulong.org

MỘT SỐ HÌNH ẢNH KỶ NIỆM

GS Nguyễn Thanh Liêm và phu nhân đến họp mặt với một số văn nghệ sĩ: Việt Hải, Bích Huyền, Hồng Vũ Lan Nhi, Bà Lê Trọng Nguyễn, Dương Viết Điền, Khiếu Như Long, Quỳnh Hương, … nhân dịp nhà thơ Yên Sơn từ Houston, TX qua thăm Nam Cali ngày 13/8/2016, 4 ngày trước khi Ông qua đời.

Nhân dịp ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi”, 6 tháng 8 2016, vì lý do sức khỏe của GS Liêm, Lê Văn Duyệt Foundation cũng đã mừng sinh nhật thứ 84 của Ông.

Lưu Anh Tuấn, Trần Việt Hải, Trần Mạnh Chi đến thăm Thầy Cô Nguyễn Thanh Liêm 26/6/2016

Petrus Ký Hội Ngộ 2005 – Trong hình có các GS Nguyễn Ngọc Sum, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thanh Liêm …

GS Nguyễn Thanh Liêm chụp với cựu học sinh Petrus Ký Nam Cali – Từ trái: Dương Nguyên Văn, Trần Việt Hải, Phạm Gia Cổn, Nguyễn Tấn Pháp, Võ Quang Đạt, Lâm Mỹ Hoàng Anh, Mai Thanh Truyết, Lê Thương (21/12/2008)

GS Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Tấn Pháp, Võ Quang Đạt

Từ trái: Cao Minh Hưng, NS Lê Văn Khoa, GS Nguyễn Thanh Liêm, NS Anh Bằng, NV Trần Việt Hải, Minh Tuấn

Phong Trào Đoàn Kết VNCH /Từ trái: cựu Trung Tá Nguyễn Tấn Phận, Thẩm Phán Phạm Đình Hưng, Giáo Sư Cao Văn Hở, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Đốc Sự Hoa Thế Nhân, TS. Phạm Kim Long, Ông Phan Văn Chính

LỄ GIỗ TƯỞNG NIỆM CỐ TỔNG THỐNG VNCH NGUYễN VĂN THIỆU – 19/9/2015

Ngày Chủ Nhật 28 tháng 6,2015 HAHPK/NC, có dịp được mời một bữa ăn trưa với Thầy Cô Nguyễn Thanh Liêm, Thầy Nguyễn Ngọc Sum, T/C Hồ văn Thể (từ Texas qua chơi), Thầy Vũ Trọng Thu, Thầy Trần văn Thưởng, Thầy Nguyễn Trí Minh, Thầy Đại Trung (?), Thầy Nguyễn Tôn Bá (từ Sài Gòn), Thầy Nguyễn Trung Quân, Thầy Đặng Quốc Khánh …

Hội Ái Hữu Petrus Ký Nam Cali – Họp Mặt Mừng Tết Giáp Ngọ 2014

GS Phạm Xuân Ái, Hàn Lâm Nguyễn Phú Thứ, GS Nguyễn Thanh Liêm, Phu nhân GS Phạm Ngọc Đãnh

Đại hội Petrus Ký Châu Âu ở Ronnenburg (CHLB Đức) năm 2004

GS Trần Thành Minh (GS Toán, Petrus Ký) ,Trần Kim Quế (Thanh tra trung học trước 75), GS Phạm Xuân Ái (GS Pháp văn, Petrus Ký), GS Hồ Văn Thái (GS Pháp văn Petrus Ký), GS Nguyễn Thanh Liêm

Một số video (Youtube)  

  Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ nói chuyện với GS Nguyễn Thành Liêm – 25/6/2011

  GS Nguyễn Thanh Liêm phát biểu ngày ra mắt sách Hồi Ức của Huỳnh Văn Lang

  GS Nguyễn Thanh Liêm phát biểu ngày “Tôn Sư Trọng Đạo” – 2016

  Lễ Giỗ Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu lần thứ 14 – Sep. 19, 2015

  Buổi ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” – 6/8/2016

  Sinh Nhật GS Nguyễn Thanh Liêm – 2010 

Một số bài viết của GS/TS Nguyễn Thanh Liêm

Thơ Đường Luật & Thơ Tự DoGS Nguyễn Thanh Liêm

Petrus Ký-Nhà Văn Hóa Lớn của Dân ViệtGS Nguyễn Thanh Liêm

Trường Petrus KýGS Nguyễn Thanh Liêm

Giáo Dục Việt Nam Từ Xưa Đến Hết Đệ Nhất Cộng HòaGS Nguyễn Thanh Liêm

Giáo Dục Việt Nam Từ Thập Niên 70 tới tháng 4 1975GS Nguyễn Thanh Liêm

Những Biến Đổi Trong Văn Hóa Việt NamGS Nguyễn Thanh Liêm

Sự Hình Thành Của Miền Nam Việt Nam & Văn Hóa Đồng NaiGS Nguyễn Thanh Liêm

Linh Hồn Của Dân Tộc Hiểu Theo Ý Nghĩa Của Văn HóaGS Nguyễn Thanh Liêm

Rạch Giá – Hà TiênGS Nguyễn Thanh Liêm

  Căn Cước Mới cho người Việt và Tương Lai Đất NướcGS Nguyễn Thanh Liêm

Vị Trí Của Đồng Nai – Cửu Long Trong Lục Địa Đông Nam ÁGS Nguyễn Thanh Liêm

(Nguồn: các bài ở trên đã đăng trong sách “Kỷ Niệm Về GS Nguyễn Thanh Liêm” – Văn Đàn Đồng Tâm ấn hành năm 2010)

Một số bài viết từ thân hữu của GS/TS Nguyễn Thanh Liêm

   Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Một Người Bạn Đồng Môn …Trần Thành Minh

   Nụ Cười Nhân Bản Hiền HòaLưu Anh Tuấn

   Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, một nhà giáo nặng lòng ái quốcDương Viết Điền

    Anh HaiNguyễn Trung Quân

    Hội Ngộ Với Thầy Nguyễn Thanh LiêmĐường Sơn

    Anh Liêm Như Tôi Đã Biết Từ LâuLâm Văn Bé

    Không Thầy Đố Bạn Làm NênQuách Vĩnh Thiện

    Về Một Nhân Vật Đàn AnhNguyễn Văn Sâm

    Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm từ cái nhìn của một người không là môn sinhLê Ngọc Châu

 (Nguồn: các bài ở trên đã đăng trong sách “Kỷ Niệm Về GS Nguyễn Thanh Liêm” – Văn Đàn Đồng Tâm ấn hành năm 2010)

   Những Giây Phút Với Thầy Nguyễn Thanh LiêmGina Nga Nguyễn

   Gặp Lần CuốiKiều Mỹ Duyên

   Thầy Liêm và Tú Tài IBMTrần Việt Hải

Xin vui lòng gởi thêm tài liệu về Phan Anh Dũng dathphan1@gmail.com

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1306&Itemid=36

QUÁCH VĨNH THIỆN : Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký Saigon


Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh-Ký và Website Petrus Ký Australi

 

 

 

petrus 1

Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký Saigon.

petrus 2

Petrus Trương Vĩnh-Ký

petrus 3

petrus 4

petrus 5

Trần Văn Ơn

petrus 6

petrus 7

 

Thầy Minh dạy Toán cho học trò Quách Vĩnh-Thiện.Thầy Ái dạy Pháp Văn cho trò Quách Vĩnh-Thiện.Hình chụp tại Đức Quốc 2009.

petrus 8

Thầy Phạm Ngọc Đảnh dạy Triết Học cho Quách Vĩnh-Thiện.Hình chụp Đức Quốc 2009

.Quách Vĩnh-Thiện và Nghiêm Phú Phát (Em Nghiêm Phú Phi).Ban Nhạc Petrus Ký đi Trình diễn Văn Nghệ ở Hậu Giang Miền Nam Việt Nam.

petrus 9

petrus 10

petrus 11

petrus 12

petrus 13

Đại Hội Petrus Ký Thế Giới 2013 QuáchVĩnh-Thiện và Nguyễn Xuân-Vinh – 2013

petrus 14

.Trần Thạnh

petrus 16

Lưu Tưòng Quang Website Petrus Ký Australia

:https://petruskyaus.net/the-tale-of-kieu/  http://www.youtube.com/user/thienmusichttp://www.thienmusic.com 

Voyage en Images et en Musique :
http://thienmusic.free.fr/NotaBene.htm quachvinhthien@gmail.com

quachvinhthien@gmail.com

Petrus Ký 1956-1963


Quách Vĩnh Thiện

www.thienmusic.comwww.youtube.com/user/thienmusichttps://twitter.com/thienmusic
www.facebook.com/vinhthien.quach

Voyage en Images et en Musique :http://thienmusic.free.fr/NotaBene.htm
PrésidentACTVAssociation Culturelle Traditionnelle Vietnamienne( Hội Văn Hóa Cổ Truyền Việt Nam )Vous recevez ce message, car vous êtes abonné au groupe Google Groupes “Ancien élève du Lycée Petrus Ký à Saigon Vietnam”.

.

 

 
.

 
 
 
 

 

 

 

 

PHAN ANH DŨNG biên soạn và tổng hợp : TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016)


TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016)
PDF Print E-mail
                     TRANG TƯỞNG NIỆM GIÁO SƯ, TIẾN SĨ NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016) 
                                     ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN VỚI TÀI LIỆU TỪ KHẮP NƠI
                               Biên soạn: Phan Anh Dũng – cựu học sinh Petrus Trương Vĩnh Ký
                                                              PHÂN ƯU (PDF)
                    
Tâm Hảo & Phan Anh Dũng gặp GS/TS Nguyễn Thanh Liêm nhân ngày vinh danh NS Anh Bằng – Nam California 2009
                               
        Phan Anh Dũng đến thăm GS/TS Nguyễn Thanh Liêm tại tư gia, sau khi Ông mổ tim – Nam California 2012
                         
IRVINE, California (NV) – Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm vừa qua đời lúc 1 giờ 50 phút chiều Thứ Tư, 17 Tháng Tám, tại bệnh viện Kaiser, Irvine, bà Nguyễn Thị Phương, hiền thê của ông xác nhận với nhật báo Người Việt.

Bà Phương cho biết, Giáo Sư Liêm được đưa vào bệnh viện tối Chủ Nhật, sau khi thấy mệt trong người, và không đi tiểu được.

Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm là cựu hiệu trưởng trường trung học Petrus Ký, và là sáng lập viên Lê Văn Duyệt Foundation.

Ông vừa cho ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” tại Little Saigon hôm 6 Tháng Tám.

Trong buổi ra mắt này, cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng, một người cùng thế hệ với giáo sư, cho biết, ông Liêm là người miền Nam gốc Mỹ Tho trong một gia đình khá giả có điền sản nên được ăn học đến nơi đến chốn. Ông tốt nghiệp thủ khoa trường Cao Đẳng Sư Phạm Sài Gòn, cử nhân giáo khoa văn chương, và tiến sĩ đại học Iowa State University, Hoa Kỳ. Giáo Sư Liêm cũng là một nhân viên hành chánh cao cấp của VNCH, từng là hiệu trưởng nhiều trường trung học, chuyên viên hạng I Phủ Tổng Thống (ngang bộ trưởng), và thứ trưởng Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên.

Cựu Đốc Sự Châu Văn Để, trưởng ban tổ chức buổi ra mắt sách “Sự Thật Đời Tôi” của tác giả Nguyễn Thanh Liêm, cho biết: “Tuổi trẻ Việt Nam trong nước cũng như tại hải ngoại biết đến Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm là một nhà văn hóa, dĩ nhiên, nhưng khi họ đọc qua những tác phẩm của ông, họ thấy ông không những là một nhà văn ‘đa hiệu’ mà còn là một nhà thơ chan chứa tình dân tộc.”

Ông Để cũng nhắc đến những hoạt động rất hăng hái của giáo sư trong các phạm vi văn hóa, văn học và cùng chung vai sát cánh với những tổ chức tranh đấu trong cộng đồng để mong cho đất nước và dân tộc Việt Nam được sống no lành, an vui hạnh phúc.

Giáo Sư Liêm không chỉ tham gia vào các hội giáo chức, cổ nhạc, đền Hùng… mà còn đích thân thực hiện nhiều công tác khó có ai bì kịp như việc lập ra tổ chức Lê Văn Duyệt Foundation, Ngày Văn Hóa Việt Nam, Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, thành lập và xuất bản tạp chí Đồng Nai-Cửu Long rất giá trị. Trên phương diện truyền thông, giáo sư cũng chăm chút các chương trình do chính ông thực hiện, cùng các hoạt động chính trị khác trong cộng đồng, ví dụ như đã hợp lực với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp hồ sơ “Thềm Lục Địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc trước thời hạn tối hậu là ngày 13 Tháng Năm, 2009.

Ông Để cho biết, Giáo Sư Liêm sinh ngày 21 Tháng Mười Một, 1933. (Đ.D.)

Nguồn: nguoiviet online
                                          
              “Lên Xuống Dốc Đời” – bài thơ của GS Nguyễn Thanh Liêm
                Trên đường thẳng thời gian vô biên giới,
                 Kiếp con người chỉ một chấm nhỏ nhoi.
                 Vậy mà sao người ta cứ mãi đua đòi,
                 Làm chi nữa cho đời thêm ngắn ngủi?
                 Hãy thư thả mặc cuộc đời dung ruổi,
                 Mặc bước đi xuống dốc như chạy nhanh.
                 Cứ tưởng như mình tóc hãy còn xanh,
                 Đầu có bạc nhưng lòng son chẳng bạc.
           TIỂU SỬ Giáo Sư, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm
        (do chính Ông biên soạn)
Sinh ngày 12 tháng 3 năm 1933 (Theo khai sanh là ngày 20 tháng 11, năm 1934)
Pháp Danh: Quảng Trí Thành (do Hòa Thượng Thích Nguyên Trí làm lễ tại Chùa Bát Nhã, ngày 27 tháng 12, năm 2015)

1956      Tú Tài II (Pháp, Philosophy)
1958      Tốt Nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, Giáo sư Petrus Ký Sài Gòn
1962      Cử Nhân Văn Chương Việt Hán, Hiệu Trưởng trường Trịnh Hoài Đức, Bình Dương
1963      Hiệu Trưởng Petrus Ký Sài Gòn
1964      Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn Đề Thi
1967      Chuyên Viên Số Một Chuyên Viên Phủ Tổng Thống Việt Nam
1971      Phụ Tá Đặc Biệt, ngang hàng Thứ Trưởng, đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục Việt Nam
1975      Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục
1979      Ph. D. Research and Evaluation, Iowa State University, Iowa.
1979      Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển Chương Trình Học và Tài Liệu Giáo Khoa, University of Iowa.
1984      Giám Đốc Chương Trình Anh Văn cho Gia Đình (Family English Literacy) – Sở Giáo Dục quận Santa Clara, CA
1985      Trưởng Ban Biên Tập nguyệt san Tin Tức Đông Dương (Indochinese News), Stockton, CA
1986      Cố vấn nhân dụng Sở Xã Hội quân Santa Clara, CA
1999      Về hưu
2000      Dạy thêm một ít giờ ở Long Beach City College, CA
2003      Nghỉ hẳn

– Hội Trưởng cựu học sinh trường Petrus Ký Nam Cali
– Cố vấn Đặc Biệt hội ái hữu cựu học sinh Petrus Ký Nam Cali, và Bắc Cali
– Cố Vấn hôi ái hữu cựu học sinh Nguyễn Đình Chiểu và Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho
– Cố Vấn hội Vĩnh Long, Mỹ Tho, …
– Chủ Tịch hội Lê Văn Duyệt Foundation
– Chủ Tịch Phong Trào Đoàn Kết Việt Nam Cộng Hòa
– Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam
– Chủ Tịch Hội Nghị Diên Hồng Thời Đại
– Chương trình “Người Đẹp Việc Đẹp” trong VHN TV, Hội Thảo trong chương trình VHN TV 

                                   
 Xin báo tin cho các thầy cô và anh em cựu học sinh Petrus Ký:
Thầy Nguyễn thanh Liêm vừa trút hơi thở cuối cùng lúc 3:40 PM ngày Aug 17, 2016 tại bệnh viện Nam Cali.
Cáo phó và thiệp tang sẽ đến sau.
Xin các anh em cầu nguyện cho thầy.
Cám ơn các anh em.
GS Đào Kim Phụng (8/17/2016)
                                         
                   
                                            Nguồn: http://www.ledinh.ca/
                                           
Tin buồn: Chia Tay Thầy Liêm!

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, sinh ngày 12 tháng 3 năm 1933 (nhưng theo khai sanh là ngày 20 tháng 11, năm 1934), tại làng Tân Mỹ Chánh, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, có Pháp danh là Quảng Trí Thành, đã mệnh chung hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2016, (nhằm ngày 15 Tháng 7 năm Bính Thân), lúc 1:50 trưa, tại nhà thương Kaiser Permanente Irvine. Giáo Sư Liêm được đưa vào bệnh viện hôm tối Chủ Nhật, 14 tháng 8 vừa qua vì ông thấy mệt trong người, và theo bệnh lý ông bị bịnh về tim mạch lâu nay.

Giáo sư Liêm học ở trung học Le Myre de Vilers rồi lên Petrus Ký. Giáo sư Liêm tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, có bằng Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán, và sau này lấy bằng Tiến sĩ ở Mỹ (Ph.D.về Research and Evaluation in Education). Ông đã từng làm hiệu trưởng trường trung học Trinh Hoài Đức, Bình Dương, và trường Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn, rồi làm Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn đề Thi, trước khi về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Trình, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Trong những ngày cuối của chế độ VNCH ông là Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục bên cạnh giáo sư Tổng Trưởng Nguyễn Duy Xuân.
Giáo Sư Liêm đã tận tụy hoạt động trong các sinh hoạt cộng đồng, từ lãnh vực văn hóa như trong các Hội Giáo Chức, Hội Cổ Nhạc, Hội Đền Hùng,… Lễ Kỳ Yên Vía Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Ngày Văn Hóa Việt Nam, Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, sáng lập và ấn hành đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long, gồm nhiều bài vở biên khảo giá trị.
Ông còn là Chủ Tịch Hội Lê Văn Duyệt Foundation, Phong Trào Đoàn Tết Việt Nam Cộng Hoà, trong Hội Đồng Cố Vấn Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam, ông sinh hoạt cùng với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp hồ sơ “Thềm Lục Địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc trước thời hạn tối hậu là ngày 13 Tháng Năm, 2009.
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm còn là nhà văn biên khảo. Những tác phẩm của ông đã được xuất bản như Giáo Dục Ở Miền Nam Tự Do Trước 1975; Nguyễn Thanh Liêm Tuyen Tap: Văn Hóa – Giáo Dục – Nhân Bản; Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm và loạt sách gồm 12 đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long gốm nhiều bài viết của ông. Ngoài ra, tổ chức văn học Văn Đàn Đồng Tâm cũng đã ấn hành Tuyển Tập ”Kỷ Niệm về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Nhà Văn Hoá Giáo Dục Nhân Bản Việt Nam”, sách dày 422 trang, hơn 40 bài viết của 38 tác giả biết về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, tác phẩm cũng đăng một sộ bài viềt tiêu biểu cho văn phong của ông.
Hôm vừa rồi, vào thứ Bảy ngày 13 tháng 7, Nhóm bạn hữu văn nghệ sĩ đã tổ chức buổi họp mặt đón tiếp nhà thơ Yên Sơn từ Houston sang Nam Cali, mọi người chung vui hàn huyên, ca hát thầy Liêm lắng nghe, ông chỉ cười khi sân khấu nhắc về tên ông nhiều lần. Hôm tuần trước trong phone ông hỏi thăm về Tuyền Tập Hồ Biểu Chánh, thầy như nhiều người mến mộ văn phong Hồ Biểu Chánh, tôi trình bày cho thầy nghe mọi việc tiến hành tốt đẹp, bài vở về nhiều rồi, tôi email lô đầu đã được layout vào sách cho thầy xem. Vì ông là cố vấn cho tác phẩm này, và ông sẽ trao tác phẩm cho đại diện gia đình của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Hôm ở Hống Ân thầy có bàn về tác phẩm cuồi cùng STĐT. Thầy nhờ nhóm chúng tôi tiếp tay vận động RMS Bắc Cali. Toi hứa năm nay tháng 10 lên Bắc Cali, sang năm 2017 nếu sức khoẻ cho phép nhóm bạn chúng tôi tại Texas vận động RMS tại 2 nơi là Dallas và Houston, thầy rất vui. Tôi bắt tay tiễn thầy ra về và nhắc thầy ráng giữ sức khoẻ tốt đẹp, thầy hứa thầy sẽ cố gắng. Hôm nay trong điện thoại điện đàm với hai cô Phương và cô Phụng, được tin thầy ra đi tôi rơi lệ lòng. Mới đây mà… sao kỳ vậy thầy ơi? Thầy hứa sẽ cố gắng… Em nghe rõ mà…  nhưng cuối cùng buồn thật. Thầy trò mình chia tay nhau để rồi sẽ gặp lại ở nơi nào, một cõi khác vậy.

Trần Việt Hải, 8:20PM, ngày 17/08/2016.

                                        
“Quả là Sanh Có Hạn, Tử Bất Kỳ.
Trong bối cảnh như thế nầy chúng tôi khám phá ra “Ý Nghĩa Và Giá Trị của Cuộc Sống mà GS. Nguyễn Thanh Liêm đã làm khi còn tại thế.” trong đó có Quý Anh Chị cho dù Danh Kỳ Thinh bất kiến kỳ hình.
Cám Ơn Mr. Mrs. Hoa Thế Nhân & Mr. Châu Văn Để & Mr. Trần Ngọc Tôn & GS Võ Kim Sơn & Mr. Mrs. GS Nguyễn Trí Lục người luôn luôn sát Cách Cùng GS Liêm trong mọi tình huống cho đến ngày nay.
Kính Chúc Quý Anh Chị Vui Vẻ, Khỏe Mạnh, Bình An trong bối cảnh ” Kẻ còn vương vấn bụi trần, Người Chuyển Nghiệp Bình Yên ! Không Biết Ai buồn hơn Ai ?”

Trong niềm tin Death không phải là cuối đường hầm của cuộc sống mà là giai đoạn chuyển tiếp sang next better life và hưởng tất cả những phúc lộc mà con người đầu tư khi còn tại thế. Cho phép chúng tôi mượn cơ hội nầy Tâm Thành Cầu Nguyện cho GS Người Thanh Liêm người mà chúng tôi biết từ khi ở Việt Nam cho đến ngày nay cho dù chúng tôi không có cơ hội sinh hoạt gần gủi với Ông Nguyễn Thanh Liêm như Quý Anh Chị. Đôi dòng tâm sự nầy cũng đại diện cho nhóm người biết GS Nguyễn Thanh Liêm dưới mái trường Petus Ký, Trung Học Trịnh Hoài Đức trước và sau 1975 ( Death is not the End. Death is an other fact, aspect, dimension of life. God plans for humans to step on next circle of healthy, happy life.)”

Nguyễn Viết Đức
                                         
Nhớ về Thầy Nguyễn Thanh Liêm!

Thầy về cõi tịnh bình yên
Giấc mơ phục quốc nỗi niềm ước ao!
Suốt đời trọn chữ thanh cao
Thầy là ngọn đuốc thắp vào tim tôi.
Từ trường mẹ đến trường đời
Bóng Thầy che mát bao lời quê hương!

KÍNH CẦU NGUYỆN THẦY NGUYỄN THANH LIÊM AN NGHỈ.
CHÚNG EM TỰ HÀO ĐƯỢC LÀM HỌC TRÒ CỦA THẦY
NGAY CẢ THỜI GIAN TỊ NẠN XỨ NGƯỜI!

Lê anh Dũng (Cựu Học Sinh Petrus Ký)

                                     
Thương Tiếc GS Nguyễn Thanh Liêm
 
Tin buồn nhận được hỡi ơi
Giáo sư Liêm đã xa rời trần gian
Dải mây chùng thắt khăn tang
Thân bằng quyến thuộc bàng hoàng xót thương
Thầy trò Petrus Ký buồn
Hàng cây nghiêng ngả mái trường gọi tên
Ngậm ngùi thương giáo sư Liêm
Người thầy kính mến bậc hiền từ tâm
Học trò thành đạt xa gần
Nhớ ơn thầy dạy muôn phần kính yêu
Người đi đời xót xa nhiều
Nén nhang ngùi thắp khói hiu hắt trời
Âm dương giờ cách đôi nơi
Vần thơ thương tiếc nghẹn lời tiễn đưa
Ngoài trời lại đổ cơn mưa
Hồn thiêng người cũng như vừa bay ngang
Mong hồn vui cõi Vĩnh Hằng
Áo trần rũ sạch đa đoan bụi đời
Cõi xa lấp lánh trăng trôi
Nghĩa tình gửi lại nhớ thời trường xưa

18 tháng 8. 2016 
Trầm Vân (Cựu Học Sinh Petrus Ký)

                                       


Nhớ đến thầy Liêm, với tôi, là nhớ đến 2 điểm:
1. Bastos xanh. Thầy, với điếu thuốc tỏa khói trên môi, là hình ảnh có lẽ độc đáo nhất với mọi học trò.
2. Giọng miền Nam, phát âm chuẩn xác, rõ ràng, chậm rãi, bổng trầm tùy lúc. Nên, khi Thầy giảng Kiều, đứa nào cũng chăm chú nghe. Với những đứa trò chỉ vừa mới vào Trung học (nếu không lầm, lúc đó bọn mình đang ở đệ 6), Thầy đã mở ra trước chúng kho tàng quyến rũ, đầy màu sắc của văn hóa dân tộc.
Hầu như, ai học P.K., đều là môn đệ của Thầy.
Nén hương lòng kính dâng lên Thầy!
Kính nguyện hương hồn Thầy sớm siêu thoát.
Đứa trò đệ 6 của Thầy.
Nguyễn-hòa-Trước
                                          
Thật là đau buồn khi được tin thầy NGUYỄN THANH LIÊM qua đời. Tôi không thể tin như vậy vì nhìn thấy lại hình ảnh Thầy và các bạn trong ngày sinh nhật, cũng là ngày ra mắt sách của Thầy ngày 6/8/2016.

Tôi nhớ lại hình ảnh của Thầy trong năm 2015 khi tôi đến đến Hoa Kỳ vào tháng 8, tôi không nghĩ  đây là lần cuối cùng gặp lại Thầy! Giờ đây người Thầy khả kính đầy tình cảm đã ra đi để lại cho chúng ta bao nhiêu luyến tiếc.

Tôi xin cám ơn các bạn có díp gần gủi hàn huyên với Thầy. Cùng hiệp ý với các bạn tôi xin chia buồn với gia đình Thầy và nguyện cầu hương hồn Thầy sờm về miền cực lạc.

Nguyễn Văn Mùi – (cựu học sinh Petrus Ký  1956 – 1963)

                                   
NGUYỆN CẦU CHO THẦY NGUYỄN THANH LIÊM ĐƯỢC RA ĐI BÌNH AN.
XIN ĐƯỢC CHIA BUỒN CÙNG TOÀN THỂ TANG QUYẾN.

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

PTK  HÀ VĂN SANG, VIRGINIA

          Sinh Hoạt Văn Hóa Tại San Jose: Tuyển Tập Nguyễn Thanh Liêm
          Lê Bình – 22/04/2016 – Vietbao online
Sau nhiều tháng chuẩn bị, Tuyển Tập Nguyễn Thanh Liêm của Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm đến từ Orange County Miền Nam Cali., đã được cho ra mắt công chúng vào lúc 1:30PM ngày Chúa nhật 17/4/2016 tại Hội Trường Học khu Franklin-McKinley, San José, do Hội Cựu Học sinh trường Petrus Ký Bắc Cali đã tổ chức thành công tốt đẹp.

Có khoảng trên 150 quan khách và đồng hương đến tham dự.Trong số quan khách có Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn 97 tuổi, Cựu Dân Biểu VNCH Phan Thiệp 94, Giáo sư Lưu Khôn, Nhà báo Thanh Thương Hoàng, cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, cựu Đại Tá Trần Thanh Điền, cựu Đại tá Vũ Văn Lộc, cô Vân Lê UCV Dân Biểu địa hạt 27 CA, GS Nguyễn Trung Chí, nhà thơ Trường Giang, nhà thơ Chinh Nguyên, nhà văn Chu Tấn, nhà văn Diệu Tần, và đông đảo cựu Học sinh Petrus Ký, và giới truyền thông báo chí Bắc Cali.

Trước giờ khai mạc, GS Nguyễn Thanh Liêm đã ký sách cho người tham dự. Rất đông quan khách và đồng hương vây quanh để chào thăm hỏi sức khoẻ của vị giáo sư khả kính, mua sách, và chụp hình chung kỷ niệm. Các đài truyền hình Việt ngữ địa phương đã phỏng vấn, và ghi lại những hình ảnh thân thương, gần gủi mang đậm nét “Tôn Sư Trọng Đạo”.

Lễ chào cờ khai mạc diễn ra lúc 2:00pm. Sau đó, Bác sĩ Trần Văn Nam Hội Trưởng Cựu HS trường Petrus Ký Bắc Cali chào mừng và giới thiệu một số quan khách, ông giới thiệu thật chi tiết tiểu sử của Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, một tiểu sử khá dài, ghi lại những hoạt động của tác giả trong công việc góp phần vào việc giáo dục tại miền Nam Việt Nam-nền giáo dục đặt trên nền tảng Nhân Bản và Khai Phóng. Tiếp theo là Nhà báo Thanh Thương Hoàng, Giáo sư Lưu Khôn giới thiệu tác phẩm Tuyển Tập Văn học Nguyễn Thanh Liêm mang chủ đề chính về nền Giáo dục Nhân bản của chính thể Việt Nam Công Hoà và nền Văn hoá Miền Nam với những nét cá biệt của vùng Nam Kỳ Lục tỉnh Đồng Nai Cửu Long.

Nhá báo Thanh Thương Hoàng giới thiệu về tác phẩm. Đó là một quyển sách “Khá đồ sộ và nặng ký về nội dung và hình thức”, sách dày 578 trang, mang chủ đề tổng quát về các lãnh vực: Giáo Dục, Văn Hóa, Tôn Giáo, Chính Trị, Tìm hiểu về Đồng Nai-Cửu Long…v.v. GS Lưu Không phát biểu về những điểm nổi bật của tác phẩm trong 3 khía cạnh Giáo Dục, Nhân Bản, Khai Phóng của nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là vùng Nam Kỳ trên môt địa bàn rộng lớn thuộc lưu vực sông Đồng Nai và Cửu Long Giang.

Thêm sau đó là vài phát biểu cảm nghĩ về cuốn sách, với ý kiến của Cựu Đại Tá Trần Thanh Điền, Đại Tá Vũ Văn Lộc và nhà báo Lê Bình.

Xen kẻ trong chương trình có ca nhạc phụ diễn. Cuối cùng là phần chia xẻ tâm tình của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm. Ông cho biết sau mấy lần mổ tim, một lần bị stroke nhẹ cho nên ông phải viết ra giấy để đọc, vẫn còn khó khăn. Câu chuyện ông kể khoan thai, nhẹ nhàng ấm cúng trong một tinh thần vì tha nhân, vì một thiết tha với nên giáo dục Nhân bản. Ông cho biết việc ông cần phải làm và làm cho đến cuối đời. Trong thời gian qua, ông đã liên tục tổ chức mỗi năm: Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, và một số sinh hoạt văn hóa…v.v. Trong tháng Sáu ông sẽ cho ra tác phẩm (có thể là cuối cùng) “cuộc đời của tôi”. Tập sách khoảng gần 200 trang, kể lại tử lúc còn nhỏ đến hôm nay…làm gì, ở đâu….nhưng “Sẽ không viết về chuyện tình cảm của tôi”. Cũng nên biết thêm GS Nguyễn Thanh Liêm có thời gian (15 năm) sinh sống tại Bắc Cali, là hội trưởng Hội Petrus Ký Bắc Cali.

Ông luôn muốn dành cho sự tiếp nối của thế hệ con cháu khỏi lạc nguồn, như sự giáo dục thấp kém của chế độ Cộng sản trên quê hương Việt Nam ngày nay.

Buổi RMS chấm dứt lúc 4:30pm. BTC mời ông đến quán Nguyễn ở Milpitas để dùng bữa chiều trước khi ông lên đường về lại Nam CA.

                     
  
       Cảm nhận về “Tuyển tập Nguyễn Thanh Liêm”

Tình trạng giáo dục ở Việt Nam hiện nay (với kiến thức của học sinh, sinh viên tốt nghiệp thấp hơn nhiều so với các nước chung quanh, kèm theo một trình độ đạo đức, luân lý ở mức độ đáng lo ngại) đã khiến nhiều bậc phụ huynh cùng nhiều thức giả lên tiếng bày tỏ mối lo âu. Ngay cả ở trong nước, nhiều lời than phiền với hàm ý luyến tiếc đã nhắc tới “giáo dục thời Việt Nam Cộng Hoà.” Nhưng Việt Nam Cộng Hòa thuộc về quá khứ đã 40 năm (1975-2015). Giáo dục thời ấy như thế nào, cách tổ chức ra sao, tôn chỉ cùng tinh thần có điểm gì đáng chú ý, ít ai còn nhớ rõ.

Nhân loại đang sống trong một thế giới với khá nhiều bất trắc. Tương lai cư dân trên địa cầu sẽ đi về đâu? Các ý niệm tự do, dân chủ phải chăng sẽ thắng thế để nhân loại cùng xây dựng những xã hội dân chủ tiến bộ, cùng sống trong hòa bình, như nhà chính trị, kinh tế học Francis Fukuyama đã phác họa trong cuốn The End of History and the Last Man xuất bản năm 1992? Hay những khác biệt về văn hóa và tôn giáo sẽ càng ngày càng trầm trọng, đưa tới những xô xát thật lớn như nhà chính trị học Samuel Huntington đã dự phóng một cách lo ngại trong cuốn The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order xuất bản năm 1996? Trong một thế giới đầy bất trắc như thế, tương lai đất nước và dân tộc Việt sẽ ra sao?

Sau biến cố 1975, hơn ba triệu người Việt lìa quê hương tới định cư tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới (một số lượng đáng kể ở trên 30 quốc gia). Trong tiến trình hội nhập vào những môi trường xã hội và văn hóa khác với quê hương cũ, người Việt, nhất là gia đình Việt, có những vấn đề gì? Trẻ em Việt sẽ có những khó khăn cùng tiềm năng ra sao? Đó là những câu hỏi mọi người Việt đều quan tâm.

Với một lãnh thổ dài và hẹp, ba miền của Việt Nam có nhiều nét khác nhau. Miền Nam là vùng đất tương đối mới. Văn hóa đồng bằng sông Đồng Nai – Cửu Long có những điểm gì khác miền Trung, miền Bắc? Ngay các địa phương của miền Nam cũng có những sắc thái khác nhau. Số người hiểu rõ những chỗ khác nhau ấy để có thể trình bày lại một cách vừa thấu đáo, uyên bác, vừa giản dị, dễ hiểu, không nhiều.

Với hơn 30 năm trong ngành giáo dục của miền Nam (20 năm dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa), qua các giai đoạn là học sinh, sinh viên, giáo sư, Hiệu trưởng Trung học, lãnh đạo ngành giáo dục ở trung cấp, rồi cao cấp, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm đã chứng nghiệm, quan sát, suy nghĩ, và đã viết rất nhiều. Những bài “Giáo dục ở Nam Việt Nam từ xưa tới hết Đệ Nhất Cộng Hòa,” “Giáo dục Việt Nam từ đầu thập niên 1970 đến tháng 4 năm 1975” cung cấp những thông tin giá trị từ một “người trong cuộc” rất có thẩm quyền. Bài “Vai trò của các trường Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Petrus Ký, Gia Long hồi tiền bán thế kỷ XX” cho ta những kiến thức vừa mang tính cách giáo dục vừa mang tính cách lịch sử. Bài “Một vài ưu tư về giáo dục ở Việt Nam” mang nặng tâm huyết của một người lúc nào cũng thiết tha với giáo dục và luôn luôn nghĩ tới quê hương.

Những bài “Trật tự thể giới thế kỷ 21,” “Chiến lược của Hoa Kỳ,” “Trung Quốc trước khúc quanh nguy hiểm” … đưa ta tới với một thức giả đọc và suy nghĩ rất rộng. Nhà giáo dục cũng là một trí thức uyên bác, cần hiểu rõ môi trường sống cùng địa bàn sinh hoạt của mình cũng như của dân tộc mình trong hiện tại cũng như trong tương lai.

Những bài “Trẻ em Việt Nam trong tiến trình xã hội hóa vào xã hội, văn hóa Mỹ” và “Vấn đề văn hóa giáo dục cho con em ở hải ngoại” được viết với kiến thức chuyên môn của một Tiến sĩ ngành Giáo dục am hiểu xã hội Hoa Kỳ, nhưng vẫn mang tâm thức một nhà văn hóa, giáo dục của dân tộc Việt Nam.
Tác giả càng tỏ ra uyên bác khi viết về văn hóa miền Đồng Nai – Cửu Long. Từ những bài tổng quát như: “Những biến đổi trong văn hóa Việt Nam,” “Tìm hiểu văn hóa Đồng Nai – Cửu Long,” “Lối vào văn hóa Đồng Nai – Cửu Long,” “Vị trí của Đồng Nai – Cửu Long trong lục địa Đông Nam Á” cho tới những bài riêng về mỗi địa phương như lịch sử khai phá vùng Gia Định; Tây Ninh; Bà Rịa – Vũng Tàu; Định Tường – Mỹ Tho; Vĩnh Long; Rạch Giá – Hà Tiên; Cà Mau …, tất cả đều cung cấp những kiến thức giá trị và hữu ích. Không riêng gì người Việt từ các miền Trung và Bắc, ngay cả nhiều người sinh trưởng ở miền Nam cũng sẽ thấy những công trình biên khảo ấy hấp dẫn và lý thú.

Tác giả đã viết những bài ấy trong hơn mười năm qua, ở tuổi 70 tới 80, và chọn lọc, đưa đi in khi đã trên 80. “Văn chương chi sự, thốn tâm thiên cổ.” Câu chuyện văn chương, tư tưởng, vẫn là tấc lòng gửi lại muôn đời. Một nhà văn lớp trước có câu, “Hướng ngàn thuở gửi hoàng hôn tùy bút.” Được đọc trước bản thảo do vị niên trưởng khả kính trao cho, nguời viết những dòng này không tránh khỏi bâng khuâng. Sau một cuộc đời sinh động, Nguyễn Công Trứ được “cáo lão hồi hưu” ở tuổi 70, và sau khi về hưu, ông thung dung, nhàn tản với “hàn cốc, thanh sơn” trong tâm trạng:

Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không tiên, không vướng tục..
.

Cùng mang họ Nguyễn, cùng sinh ra ở nước Việt Nam, xét về phương diện tinh thần, Nguyễn Thanh Liêm ở tuổi trên 80 đã không được hưởng những ung dung, thanh thản của Nguyễn Công Trứ ở tuổi 70. Không ai có thể nói là Nguyễn Công Trứ không nặng lòng với quê hương, đất nước. Nhưng tại sao ông có được những năm thật sự “hưởng nhàn” so với một trí thức họ Nguyễn khác ra đời sau ông 150 năm? Có lẽ đó là cũng là hoàn cảnh và nỗi niềm không của riêng Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm mà còn chung cho thế hệ chúng ta, những người Việt trưởng thành trên đất nước trong nừa sau của thế kỷ 20.

Trần Huy Bích (Tháng 3-2015)

                                 
                                            GS Trần Huy Bích & GS Nguyễn Thanh Liêm
 
Hội Lê Văn Duyệt Foundation Tổ Chức Ra Mắt Sách “Sự Thật Đời Tôi” của TS Nguyễn Thanh Liêm – 11/08/2016 – vietbao online

Westminster (Bình Sa)- – Hội Lê Văn Duyệt Foundation tổ chức ra mắt Tác Phẩm “Sự Thật Đời Tôi” và mừng sinh nhật 83 tuổi của Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm vào lúc 1 giờ chiều Thứ Bảy ngày 6 tháng 8 năm 2016 tại hội trường thành phố Westminster, 8200 Westminster Blvd, Westminster,

Tham dự buổi ra mắt sách có rất đông qúy vị nhân sĩ, cựu viên chức chính quyền thời Việt Nam Cộng Hòa, qúy vị Giáo Sư, Văn Thi hữu, qúy vị đại diện cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, các cơ quan truyền thông và đồng hương thân hữu.


Nghi thức chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, phút mặc niệm do Chiến hữu Nguyễn Phục Hưng phụ trách.

Sau đó Đốc Sự Châu Văn Đễ thay mặt Ban tổ chức lên chào mừng và cảm ơn sự tham dự của tất cả qúy vị và đồng hương thân hữu, ông tiếp: “Một lần nữa chân thành cảm ơn tấm thạnh tình của quý liệt vị đã dành cho Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm và Hội Lê Văn Duyệt Foundation. Chúng tôi trong suốt thời gian qua.” Ông cho biết, lẽ ra ngày sinh nhật của giáo sư là ngày 21 tháng 11 nhưng vì tình trạng sức khỏe của giáo sư suy kiệt, nên với ý kiến của quý vị trong Hội Giáo Chức của các trường Đại Học và Trung Học Việt Nam, của Nhóm Văn Nghệ Cổ Nhạc San Diego, của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, của các Hội Đoàn và đặc biệt của Lực Lượng Cựu Chiến Sĩ VNCH Trung Tâm Tây Nam Hoa Kỳ đã cùng nhau phối hợp tổ chức buổi ra mắt hồi ức và mừng sinh nhật của giáo sư trước ngày sinh nhật. Trong dịp nầy Đốc Sự Châu Văn Đễ cũng ca ngợi Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm là một nhà văn “đa hiệu” và một “nhà thơ” chan chứa tình dân tộc. Sau cùng, thay mặt ban tổ chức, Đốc Sự Châu Văn Đễ cầu chúc giáo sư Nguyễn Thanh Liêm thân tâm thường an lạc.

Tiếp theo, cựu Thẩm Phán Phạm Đình Hưng lên giới thiệu về tác phẩm “Sự Thật Đời Tôi”

Và giáo sư, nhà văn Nguyễn Văn Sâm có bài nhận định về sách “Sự Thật Đời Tôi”. Hai vị nầy cũng đã phân tích một số đoạn trong cuốn sách mà GS. Liêm đã viết ra để minh chứng được những việc làm của GS. Liêm đối với nền giáo dục nhân bản thời Việt Nam Cộng Hòa.

Tiếp tục chương trình, ông Phạm Văn Tú, thành viên ban tổ chức mời GSTS Nguyễn Văn Liêm lên có đôi lời cám ơn quan khách. Mặc dù không được khỏe nhưng GS cũng đã cố gắng nói mấy lời cám ơn quan khách và thân hữu đã đến với ông, đặc biệt cám ơn Đốc Sự Châu Văn Đễ và các thành viên ban tổ chức đã giúp ông ra mắt cuốn hồi ức, cám ơn Thẩm Phán Phạm Đình Hưng và giáo sư Nguyễn Văn Sâm đã có những lời giới thiệu rất chân tình, cám ơn cô Cao Minh Châu, ông Hoa Thế Nhân, ông Phạm Văn Tú, MC Vũ Đan, MC Mai Lan, CLB Tình Nghệ Sĩ, các hội viên Lê Văn Duyệt Foundation, các anh chị em cựu học sinh Trịnh Hoài Đức Bình Dương, Petrus Ký, Lê Văn Duyệt Saigon và các cựu học sinh khác đang hiện diện trong hội trường này. Nhiều bạn bè thân hữu đã sắp hàng để chờ GS. Ký sách làm kỷ niệm.

Sau lời cảm ơn của Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Đốc Sự Hoa Thế Nhân và Giáo Sư Cao Minh Châu lên giới thiệu cuốn hồi ức “Sự Thật Đời Tôi”. Sau đó, sách được mang đến trao tận tay người mua.

Tiếp theo chương trình mừng sinh nhật giáo sư Nguyễn Thanh Liêm. Phần này do MC Vũ Đan điều hợp và MC Mai Lan phụ trách chương trình văn nghệ.

Trong dịp nầy, Đốc Sự Châu Văn Đễ mời tất cả thành viên Lê Văn Duyệt Foundation lên sân khấu để cùng với ông có lời chúc sinh nhật thầy Liêm. Mọi người quây quần xung quanh GS Liêm rồi cùng hát bài Happy Birthday Thầy. Hai người con nuôi của GS Liêm là cô Cao Minh Châu và Vũ Đan tặng quà cho “bố”, và sau đó nhiều người khác thay phiên nhau tặng quà mừng sinh nhật giáo sư.

Chương trình văn nghệ do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và các ca sĩ thân hữu trình diễn

Ngoài cuốn Hồi Ức, trước đó, GS Liêm đã cho xuất bản các cuốn sách: Trường Trung Học Petrus Ký và Nền Giáo Dục Phổ Thông, Giáo Dục Ở miền Nam Tự Do Trước 1975, có nhiều bài viết trong báo. Ông là chủ biên Tập San Đồng Nai Cửu Long và Tuyển Tập Nguyễn Thanh Liêm.

GSTS. Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục và Thanh Niên, hiện là viên chức cao cấp nhất về ngành giáo dục của chính quyền VNCH còn tại thế. Ông cũng từng là Hiệu Trưởng các trường trung học Trịnh Hoài Đức Bình Dương, Petrus Ký Saigon, Chánh Thanh Tra, Trưởng Ban soạn đề thi Bộ Giáo Dục, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên VNCH, Cố Vấn Đặc Biệt Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus Ký Nam và Bắc California, Chủ Tịch Lê Văn Duyệt Foundation, Chủ Tịch Phong Trào Đoàn Kết VNCH……

                        
          Cảm nghĩ về sách “Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm” 

Nhìn dòng chữ trên bìa trước sách mới, một tác phẩm của GS. Nguyễn Thanh Liêm vừa được xuất bản, cái đề tựa sách được in dưới hình của tác giả, một người đàn ông rất điển trai trong bộ semi-complet, áo vest màu xanh dương lợt và quần xanh dương đậm, hai mầu bắt mắt cho phong thái phục sức trang nhã, lịch lãm của tác giả. Sách in bìa cứng, dày 280 trang, in trên giấy dày láng, bìa sau là tiểu sử thu gọn của tác giả.

Tôi chú ý nhiều về cách tác giả cho tên tựa. Trong sự suy nghĩ của tôi có hai yếu tố “Sự Thật” và “Thanh Liêm” đã bổ túc cho “Hồi Ức Đời Tôi”. Tác giả là một vị “quan văn” có lúc làm cho Phủ Tổng Thống, và làm Thứ Trưởng về Văn Hóa Giáo Dục nhưng sự đức độ của ông bám sát theo cái tên tiền định của ông. Còn yếu tố “Sự Thật” có nghĩa là nói về những việc có thật, không ngụy tạo, thêu dệt ra. Trong phạm trù ngôn ngữ học “Sự Thật” là từ ngữ ghép chính và phụ. “Sự” là phần chính của từ ngữ này, trong khi “Thật” là phần phụ bổ túc rõ nghĩa cho phần chính. Cho nên “Sự” là diễn biến, diễn trình mà ta quan sát thấy, sự việc diễn ra chứng kiến được, còn phần “Thật” là đúng như thật, chân thực. Cho nên chữ “Sự Thật”dùng trên sách cho thấy những diễn biến trong chuyện kể trong hồi ức là đúng như thật, được mô tả như trạng thái chân tâm của sự kiện đã diễn ra. Tác giả kể hết sự thật về cuộc đời và gia đình mình.

Tác phẩm này là một loại hồi ức hay tự thuật những sự việc đã xảy ra, dù ông là một hành chánh gia hay “quan văn” ở cấp khá cao trong xã hội, tôi muốn nói ông là một gương mặt của quốc gia, của cộng đồng hay của công chúng, một “public figure”, nhưng sách này khác với những “political memoirs” thường thấy ở xã hội Hoa Kỳ mà cửa hiệu Barnes & Noble hay Amazon.com online bày bán như: Madam Secretary: A Memoir, by Madeleine Albright; No Higher Honor: A Memoir of My Years in Washington, by Condoleezza Rice; My Life – by Bill Clinton; All the Best, George Bush; My Life in Letters and Other Writings, by George H.W. Bush; Barack Obama’s Dream’s from my Father, by Barack Obama; Duty: Memoirs of a Secretary at War, by Robert Gates; A Reagan Cabinet Memoir, by Terrel H. Bell; Law and Justice in the Reagan Administration: The Memoirs of an Attorney General, by William French Smith…

Tác phẩm này tác giả viết với mục đích để làm kỷ niệm tặng cho gia đình ông, rồi cho bạn bè, thân hữu, đồng nghiệp, nhân viên cũ, giới học trò,… Nó không mang mục tiêu chính trị như nhiều sách hồi ức hay hồi ký khác.
Như vậy trong 80 trang đầu của bề dày 280 trang tôi thấy có những chủ đề sự thật, viết bằng chân tâm, ví dụ như ở trang 3, tác giả ghi kính dâng cho tứ thân nội ngoại và song phụ mẫu, viết cho các con cháu, và rồi hai dòng kế khá nhạy cảm, “sensitive categories” là: “Gởi GS. Đào Kim Phụng” và phần cuối thì “Gởi DS. Nguyễn Thi Phương”. Như vậy hai người phụ nữ này là ai vậy ? Bạn bè Petrus Ký của tôi như Phan Tất Đạt San Jose, Hồ Lịch Australia, Chu Quốc Hưng Australia, Nguyễn Trung Kiên Germany, Dương Anh Dũng Germany, hay Nguyễn Ngọc Linh San Jose,… không biết gì cả. GS. Đào Kim Phụng dạy Anh Văn ở các trường trung học Nguyễn Trải, Petrus Ký và các trường huấn luyện sinh ngữ như Hội Việt Mỹ và USAID trong chương trình chuẩn bị Anh văn cho những nhân sự được học bổng của USOM, USAID. Những năm sau cùng trước khi di tản vào tháng 4 năm 1975, GS. Phụng là chuyên viên của trung tâm soạn chương trình học liệu South East Asia Regional Center for Instructional Material Development.
Hai giáo sư Liêm và GS. Phụng đã chia tay nhau. Sách chỉ đề cập thoáng qua, hôn nhân nay biến thanh tình bạn cũ qua sự liên hệ con cháu

Còn DS. Nguyễn Thị Phương hiện nay là hiền thê của GS. Liêm, cô Phương là một dược sĩ lo thuốc men cho bệnh nhân và kiêm “thầy thuốc” riêng cho thầy tôi. Chị cựu Hội trưởng Gia Long Quế Hương nhận xét cô Phương là người đẹp của sân trường Gia Long, vợ chồng tôi ghé thăm thầy cô và thấy rằng cả hai sống trong căn tháp ngà Bali rất hạnh phúc. Tác giả sách có duyên nợ với sân trường Gia Long, ông chỉ chọn học trò Gia Long và lại âm vận tên “Ph.” mà thôi. Đây là sự thật nhiều người ở xa có thể chưa biết.

Ở trang 17 tác giả đính chánh sự thật về ngày sanh bởi sự việc khi ở với ông ngoại, ông ngoại làm khai sanh ngày DL 3 tháng 4, năm 1933 ở làng Phú Túc (Mỹ Tho), thân mẫu của tác giả cho biết ngày đúng là ngày 12 tháng 3, năm 1933 DL. Nhưng khi về ở bên nội, làng Tân Hội Mỹ (Mỹ Tho), rồi làm giấy khai sanh mới với ngày 20 tháng 11 năm 1934. Sự thật thì ở xứ ta khi ở nhiều thời kỳ do chiến tranh loạn lạc, chạy nạn và tình trạng tổ chức giấy tờ của hệ thống khai hộ tịch tùy tiện, cho nên ngày sanh thường sai sự thật. Nhưng hiện tại tác giả chọn ngày sau cùng do ông nội khai, tức sinh nhật vào ngày 20 tháng 11, năm 1934.

Đọc đoạn văn sai ngày sanh tôi bỗng nhớ một trường hợp khác. Như trường hợp Nhạc sĩ Anh Bằng kể tôi nghe ông sinh năm 1927, gia đình chạy giặc Tây, xứ sở loạn lạc, nên khi làm khai sanh mới bản hộ tịch cho ông sanh sớm hơn một năm, tức ông sanh năm trên giấy tờ 1926.

Trường hợp của người viết bài chia chung số phận, ngày đúng không xài, nhưng xài ngày của người ta. Ngày sanh thật đúng ra là ngày 3 tháng 11 năm 1953, thân mẫu tôi đi làm khai sanh cô thơ ký lẫn lộn khai sanh 2 đứa trẻ là tôi và một cô gái, cô thơ ký lấy ngày của cô gái cho tôi, tức ngày 7 tháng 12 năm 1953. Hóa ra cô gái kia may mắn hưởng tiền già Obama sớm hơn tôi một tháng vì cô thơ ký lẫn lộn. Mẹ tôi yêu cầu cô thơ ký sửa lại, cô bảo mộc đã đóng dấu, xếp lỡ ký tên xong rồi, ông xếp bận lắm, “chuyện nhỏ” cứ cho cháu bé sau này ăn tiền hưu trễ như ông thầy Liêm của cháu vậy. Dòng này tôi cám ơn lục sự cho tôi nghỉ hưu trễ hơn thực tế. Trang 17 này là dịp tác giả đính chánh cho rõ ngày sanh cho biết sự thật lên giấy trắng mực đen.

Sự thật khác tôi ghi nhận ở trang 70 (mục Thanh Niên Tiền Phong) đến trang 79 (mục Khóa Học của Việt Minh) cho thấy tác giả bị hoàn cảnh thời cuộc lôi kéo khi Nhật đảo chánh Pháp năm 1945 (tác giả được 12 tuổi), người Việt nhân cơ hội đó nổi lên chống giặc Tây, Việt Minh mà những phần tử theo CS trà trộn đã lợi dụng phong trào yêu nước đấu tranh chống Pháp. Tác giả là nhạc trưởng một ban nhạc thiếu nhi, mang tên Đời Sống Mới. Đọc sách này tôi mới biết tác giả chơi violon và guitar.

Khả năng học vấn vững nên ông học nhảy lớp. Đầu thập niên 1950 tác giả thi đậu vào Collège Le Myre De Villers. Bạn đồng môn là GS. Lâm Văn Bé bên Canada đã kể rằng GS. Liêm học rất siêng và giỏi. (xem tham khảo #1).
Tác giả theo thân phụ lên Saigon, và vào học Petrus Ký lớp đệ nhất (première classe), niên khóa 1953-1954. Tác giả kể nhiều kỷ niệm về ngôi trường Petrus Ký. Tốt nghiệp trung học, vào học đại học ngành Sư Phạm. Ra trường trở về dạy tại Petrus Ký. Có lúc lên làm Hiệu Trưởng tại đây. Trang 122 kể về mục ông làm Tổng Thơ Ký Hội Đồng Thi Tú Tài II. Tác giả cho biết ở trang 126-129 đã đậu Cử nhân Giáo khoa và Cao học Văn Chương Việt Nam.

Tác giả cho biết có quen mấy cô bạn gái, nhưng không nên duyên. Trong khi song thân không muốn tác giả ở cảnh “cha già con mọn”, nên sớm có con nối dòng dõi, tác giả vốn là con một nên lấy vợ. Tác giả đã 25 tuổi mà chưa có vợ. Ở niên kỷ thuở trước con trai mà 30 mà chưa yên bề gia thất xem như “quá date”. Đọc sách thầy tôi, tôi càng buồn cho phận mình vì khi cưới vợ sanh con đầu lòng năm 40 tuổi. Năm 47 chở con trai tôi đi học, xong một buổi chiều, xe tôi vừa trờ tới trường rước con, tôi mục kích thấy con tôi xô cô bạn gái học cùng lớp té lăn cù, tôi hoảng hồn chạy xuống đỡ cô bé Mỹ tóc vàng hoe lên, cô khóc ngất. Tôi hỏi Nam tại sao làm như vậy, Nam nói: “She said you’re my grandpa, I hate her!”.

À, tôi giật mình bổ ngửa mình ở thế hệ ông nội của các cháu nhỏ. Bởi thế con tôi vẫn muốn bố nó trẻ thôi. Mẹ cô bé Mỹ đến rước con, tôi xin lỗi bà muốn gẫy lưỡi, và thuật lại những gì xảy ra, bà cười xòa. Nam xô ngã Liz vì cô bé la to: “Nam, your grandpa comes!”. Tôi không trách Liz khi tóc tôi chấm muối tiêu, chống gậy thì không grandpa là gì. Trong khi ở tuổi 80 thầy Liêm tóc điểm bạc, nhưng nhân dáng beau trai phương phi, không cần gậy như tôi 60. Tôi nhớ rõ như vậy.

Tóc thầy điểm bạc phong sương
Mấy cô gái trẻ các trường khen “beau”!

Rồi ngọn gió tình yêu thổi đến, tác giả gặp cô Phụng, cô học rất giỏi, thi Tú Tài hạng cao, và được giải khen thưởng của Tổng Thống phủ. Cô Phụng là người đồng hương gốc cùng làng Phú Túc, thích đàn violon, và có nét duyên dáng khiến thầy tôi xao xuyến ưng ngay. Thầy cô sống chung có hai người con, Thùy Linh là con gái lớn và con trai Bửu Lâm. Cả hai đỗ đạt bằng cấp cao và đã có gia đình. Hai người con này hiện gia cảnh hạnh phúc với các con học vấn giỏi giang.

Sự thật của sách ở trang 141, tác giả cho biết Bình Dương nơi ông nhận nhiệm sở Hiệu Trưởng trường Trịnh Hoài Đức, là tỉnh theo Cách Mạng 01/11/1963 sớm nhất. Bình Dương nơi đóng đô của Sư đoàn 5 Bộ binh do Đại tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lịnh Sư Đoàn. Ông Tỉnh Trưởng tỉnh Bình Dương và vị Tư Lịnh Sư đoàn 5 BB đều theo phe Cách Mạng của ông Dương Văn Minh.

Trang 151 cho biết tác giả làm Chánh thanh tra và Trưởng ban soạn đề thi Tú Tài. Sang trang 156, tác giả kể về mục “Bài Thi Trắc Nghiệm Đầu Tiên” mà tác giả đề nghị lên ông Bộ trưởng giáo dục cho thử nghiệm vì lối thi Tú Tài như hệ thống Pháp cho bài viết (essay) có khuyết điểm là đề thi không khảo sát nhiều chủ đề của học trình như lối thi trắc nghiệm (multiple choice). Giám khảo có thể chấm bài theo thiên kiến, chủ quan, hay giám khảo không đọc bài của thí sinh kỹ, xem qua loa rồi cho điểm đại vào. Hơn nữa lối thi cũ khó đáp ứng nhu cầu gia tăng nhân tài.

Sự thật thì công trạng của tác giả ở công tác lợi ích của sự đổi mới này. Xin xem tham khảo bài #2 (GS.Trần Bang Thạch đọc tác phẩm Kỷ Niệm với Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm).

Trang 158 vì nhu cầu thời chiến, tác giả gia nhập quân đội. Trang 160 ông được biệt phái làm chuyên viên Phủ Tổng Thống, ông lo về văn hóa, soạn thảo diễn văn cho Tổng Thống.
Biến cố Tết Mậu Thân xảy ra tác giả vào khóa 2/68 Thủ Đức. Phần tâm tình bạn của tác giả vào quân đội nhiều năm lên cấp Đại tá, như Đại tá Võ Văn Cẩm (Chánh Võ Phòng Tổng Thống phủ), xem trang 170.

Trang 170 tác giả thú nhận có mối tình cũ, ông thầy kể chuyện xưa. Cô Ng. vẫn còn độc thân, khi ấy tác giả đã có gia đình, họ hẹn nhau ở Nhà Thờ Đức Bà, cả 2 đều ngoại đạo, nhưng gặp nhau để ôn kỷ niệm xưa. Mối tình dang dở, không trọn vẹn đó thầy viết sách kể tình cũ tặng cô bạn gái, rồi trao sách cho cô Ng. để từ đó tình chết theo thời gian. Tôi vốn mê love story, mỗi lần xin bài nhà văn Nguyễn Thanh Liêm, thì ông chỉ cho bài biên khảo, thực lòng tôi muốn thầy tôi cho chuyện tình như roman mà thôi. Khá tiếc. Một chuyện tình cũ thầy tôi kể lại toạc trên giấy trắng mực đen thật đúng với cái tựa của quyển hồi ức này.

TRẦN VIỆT HẢI : GS NGUYỄN THANH LIÊM (1933-2016) từ trần 17 tháng 8, 2016 tại California, HOA KỲ


nguyen thanh liem.png

Subject: Tin buon GS Nguyen Thanh Liem

 

Inline image 1
 
Tin buồn: Chia Tay Thầy Liêm!
Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, sinh ngày 12 tháng 3 năm 1933 (nhưng theo khai sanh là ngày 20 tháng 11, năm 1934), tại làng Tân Mỹ Chánh, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho, có Pháp danh là Quảng Trí Thành, đã mệnh chung hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2016, (nhằm ngày 15 Tháng 7 năm Bính Thân), lúc 1:50 trưa, tại nhà thương Kaiser Permanente Irvine. Giáo Sư Liêm được đưa vào bệnh viện hôm tối Chủ Nhật, 14 tháng 8 vừa qua vì ông thấy mệt trong người, và theo bệnh lý ông bị bịnh về tim mạch lâu nay.
Giáo sư Liêm học ở trung học Le Myre de Vilers rồi lên Petrus Ký. Giáo sư Liêm tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, có bằng Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán, và sau này lấy bằng Tiến sĩ ở Mỹ (Ph.D.về Research and Evaluation in Education). Ông đã từng làm hiệu trưởng trường trung học Trinh Hoài Đức, Bình Dương, và trường Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn, rồi làm Chánh Thanh Tra Trưởng Ban Soạn đề Thi, trước khi về Bộ Giáo Dục giữ chức vụ Phụ Tá Đặc Biệt ngang hàng Thứ Trưởng đặc trách Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục từ tháng 6 năm 1971. Ông cũng là Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Chương Trình, và Chủ Tịch Hội Đồng Cải Tổ Thi Cử. Trong những ngày cuối của chế độ VNCH ông là Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục bên cạnh giáo sư Tổng Trưởng Nguyễn Duy Xuân.
Giáo Sư Liêm đã tận tụy hoạt động trong các sinh hoạt cộng đồng, từ lãnh vực văn hóa như trong các Hội Giáo Chức, Hội Cổ Nhạc, Hội Đền Hùng,… Lễ Kỳ Yên Vía Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, Ngày Văn Hóa Việt Nam, Ngày Tôn Sư Trọng Đạo, sáng lập và ấn hành đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long, gồm nhiều bài vở biên khảo giá trị. 
Ông còn là Chủ Tịch Hội Lê Văn Duyệt Foundation, Phong Trào Đoàn Tết Việt Nam Cộng Hoà, trong Hội Đồng Cố Vấn Phong Trào Yểm Trợ Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền Việt Nam, ông sinh hoạt cùng với cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đệ nạp hồ sơ “Thềm Lục Địa Việt Nam” lên Liên Hiệp Quốc trước thời hạn tối hậu là ngày 13 Tháng Năm, 2009.
Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm còn là nhà văn biên khảo. Những tác phẩm của ông đã được xuất bản như Giáo Dục Ở Miền Nam Tự Do Trước 1975; Nguyễn Thanh Liêm Tuyen Tap: Văn Hóa – Giáo Dục – Nhân Bản; Sự Thật Đời Tôi – Hồi Ức Nguyễn Thanh Liêm và loạt sách gồm 12 đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai-Cửu Long gốm nhiều bài viết của ông. Ngoài ra, tổ chức văn học Văn Đàn Đồng Tâm cũng đã ấn hành Tuyển Tập ”Kỷ Niệm về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, Nhà Văn Hoá Giáo Dục Nhân Bản Việt Nam”, sách dày 422 trang, hơn 40 bài viết của 38 tác giả biết về Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, tác phẩm cũng đăng một sộ bài viềt tiêu biểu cho văn phong của ông.
Hôm vừa rồi, vào thứ Bảy ngày 13 tháng 7, Nhóm bạn hữu văn nghệ sĩ đã tổ chức buổi họp mặt đón tiếp nhà thơ Yên Sơn từ Houston sang Nam Cali, mọi người chung vui hàn huyên, ca hát thầy Liêm lắng nghe, ông chỉ cười khi sân khấu nhắc về tên ông nhiều lần. Hôm tuần trước trong phone ông hỏi thăm về Tuyền Tập Hồ Biểu Chánh, thầy như nhiều người mến mộ văn phong Hồ Biểu Chánh, tôi trình bày cho thầy nghe mọi việc tiến hành tốt đẹp, bài vở về nhiều rồi, tôi email lô đầu đã được layout vào sách cho thầy xem. Vì ông là cố vấn cho tác phẩm này, và ông sẽ trao tác phẩm cho đại diện gia đình của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Hôm ở Hống Ân thầy có bàn về tác phẩm cuồi cùng STĐT. Thầy nhờ nhóm chúng tôi tiếp tay vận động RMS Bắc Cali. Toi hứa năm nay tháng 10 lên Bắc Cali, sang năm 2017 nếu sức khoẻ cho phép nhóm bạn chúng tôi tại Texas vận động RMS tại 2 nơi là Dallas và Houston, thầy rất vui. Tôi bắt tay tiễn thầy ra về và nhắc thầy ráng giữ sức khoẻ tốt đẹp, thầy hứa thầy sẽ cố gắng. Hôm nay trong điện thoại điện đàm với hai cô Phương và cô Phụng, được tin thầy ra đi tôi rơi lệ lòng. Mới đây mà… sao kỳ vậy thầy ơi? Thầy hứa sẽ cố gắng… Em nghe rõ mà…  nhưng cuối cùng buồn thật. Thầy trò mình chia tay nhau để rồi sẽ gặp lại ở nơi nào, một cõi khác vậy.
Trần Việt Hải, 8:20PM, ngày 17/08/2016.
 
Inline image 7Inline image 8
 
Ghi nhận:
Được tin ông ra đi, nhiều thân hữu bàng hoàng luyến tiếc cho một nhân tài, một nhân vật điềm đạm, nói năng từ tốn, nhỏ nhẹ và trầm tĩnh như muôn thuở, tôi xin đan cử 2 vị dụ sau đây:
1/ Cảm nhận của nhà văn Bích Huyền:
Xem hình kèm Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ trưởng Bộ Giáo dục VNCH mặc áo chemise màu xanh nước biển cùng phu nhân (bên phải). Hình ảnh trên là buổi họp mặt của nhóm Phố Rùm Việt Báo Online – trong buổi họp mặt tiếp đón nhà thơ Yên Sơn do Trần Việt Hải tổ chức tại quán Ánh Hồng. Mới trưa ngày Chủ Nhật 14/8/2116. Thầy vẫn khỏe mạnh & tỉnh táo, còn nhận ra nhiều người. Tuy nói rất ít.
Vậy mà hôm nay đã “nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi…!”☹
BH
Inline image 11
 
2/ Cảm nhận của GS. Nguyễn Văn Sâm:
Buồn như một người thân trong gia đình ra đi.
Chúa nhật rồi- nay là thứ Tư – ông còn gọi tôi xin cái bài tôi nói chuyện tuần trước. Tôi nói bữa đó tôi ứng khẩu anh ơi, ông cười, và tôi hẹn cuối tuần nầy đưa bài tôi sẽ viết lại. Ông Ok. Tôi cứ ngẫm nghỉ hoài ông ngồi đó mấy giờ đồng hồ không mệt lắm chắc là quá thương những người mến mộ mình. Ông hỏi tôi đi San Jose với ông được không, tôi nói được. Phúc lái. Sâm nói như bữa Sinh nhật vừa rồi là được rồi.
Tôi ghi xuống sổ tay ngày mình sẽ đi SJ với đàn anh và sẽ nói thêm gì gì nữa về người đàn anh nầy…
Nay thì mọi sự đã thành quá chậm..
Buồn quá … Người tài và có lòng đã ra đi. Hơi nhiều trong thời gian gần đây!
nhưng, … anh đã đến trái đất nầy và đã ra đi sau khi làm tròn vai trò của một con người xứng đáng sống trên đời, giữa đồng loại.
Nguy n v n Sâm 
Inline image 10
—————————— —————————— —————————— —————————— —————————— ———————–
 
 
Inline image 2
Inline image 5
Inline image 4
Inline image 9
Inline image 6
Inline image 3

 

2016-08-17 14:54 GMT-07:00 VietHai Tran <vhtran712@gmail.com>:

 

Inline image 1
Cô Phương vừa cho biết GS. Nguyễn Thanh Liêm đã vĩnh viễn ra đi vào trưa nay, khoảng 1:45PM, ngày 17 tháng 8, năm 2016. GS. Liêm ra đi trong thanh thản và nhẹ nhõm. Gia đình sẽ cho ra cáo phó sau.
Trần Việt Hải, học trò PK. 
 
Inline image 2
Photos,  Thứ Bảy, ngày 13 tháng 8, năm 2016.
 
Inline image 4
 
Inline image 3
 

Nguyễn Viết Đức Ph.D. <bandaoduc.healthresearcher@gmail.com>

7:11 PM (0 minutes ago)

to VietHai, Tu, Thai, Dao, Le, Dan, Chau, Anhao, Diem, Tran, Nguyen, Tran, Trieu, Tran, Nguyen, Ngoc, Truong, Vuong, Quynhchau, Nga, Phat, Frances, Ngo, Dao, Van
Cám Ơn Mr. Trần Việt Hải rất nhiều.
Quả là Sanh Có Hạn, Tử Bất Kỳ. 
Trong bối cảnh như thế nầy chúng tôi khám phá ra “Ý Nghĩa Và Giá Trị của Cuộc Sống mà GS. Nguyễn Thanh Liêm đã làm khi còn tại thế.” trong đó có Quý Anh Chị cho dù Danh Kỳ Thinh bất kiến kỳ hình.
Cám Ơn Mr. Mrs. Hoa Thế Nhân & Mr. Châu Văn Để & Mr. Trần Ngọc Tôn & GS Võ Kim Sơn & Mr. Mrs. GS Nguyễn Trí Lục người luôn luôn sát Cách Cùng GS Liêm trong mọi tình huống cho đến ngày nay.
Kính Chúc Quý Anh Chị Vui Vẻ, Khỏe Mạnh, Bình An trong bối cảnh ” Kẻ còn vương vấn bụi trần, Người Chuyển Nghiệp Bình Yên ! Không Biết Ai buồn hơn Ai ?”
Trong niềm tin Death không phải là cuối đường hầm của cuộc sống mà là giai đoạn chuyển tiếp sang next better life và hưởng tất cả những phúc lộc mà con người đầu tư khi còn tại thế. Cho phép chúng tôi mượn cơ hội nầy Tâm Thành Cầu Nguyện cho GS Người Thanh Liêm người mà chúng tôi biết từ khi ở Việt Nam cho đến ngày nay cho dù chúng tôi không có cơ hội sinh hoạt gần gủi với Ông Nguyễn Thanh Liêm như Quý Anh Chị. Đôi dòng tâm sự nầy cũng đại diện cho nhóm người biết GS Nguyễn Thanh Liêm dưới mái trường Petus Ký, Trung Học Trịnh Hoài Đức trước và sau 1975 ( Death is not the End. Death is an other fact, aspect, dimension of life. God plans for humans to step on next circle of healthy, happy life.)
Thành Kính Trân Trọng Cám Ơn Quý Anh Chị.
Ký Thay

 

Tâm tình chia xẻ cùng Quý Vị qua hai links sau đây với lời Kính Chúc và Cầu Nguyện Người Người Vui Vẻ, Bình An.
                            
 
Nguyễn Viết Đức
– Peace Psychologist.
– Independent Writer & Researcher on the Whole Health Cares  Environmental Situations.
– Self- Continuing Educations (C.E.) & Interactive Exchangeable Socio-cultural Educations, Worldwide for Global Peace through Mutual Understanding. 
My Warm Best Regards to You with True Thankful Respects. 
Click here to Reply, Reply to all, or Forward
76.6 GB (56%) of 136.02 GB used
Last account activity: 52 minutes ago

Details

CÁT KHUÊ : Phim của Trần Anh Hùng ra mắt cùng sách ​Nét duyên góa phụ


17/08/2016 10:30 GMT+

TTO – Cuốn sách Nét duyên góa phụ (từ nguyên tác L’élegance des veuves của nữ văn sỹ Alice Ferney) sẽ được ra mắt cùng thời điểm với bộ phim Éternité (Vĩnh cửu) ra rạp tại VN.

Phim của Trần Anh Hùng ra mắt cùng sách Nét duyên góa phụ
Poster phim Vĩnh cửu tại VN

Nhà phát hành Vĩnh cửu tại VN – The Green Media vừa công bố chính thức sự kiện đặc biệt của đầu tháng 9, khi đạo diễn Trần Anh Hùng cùng nhà sản xuất Christophe Rossignon (Xích lô, Mùi đu đủ xanh) sẽ có mặt ở VN để ra mắt phim Vĩnh cửu và ký tặng trong buổi ra mắt cuốn sách Nét duyên góa phụ do Lê Ngọc Mai chuyển ngữ, Nhã Nam và NXB Hội nhà văn ấn hành.

L’élegance des veuves  là chính là nguyên tác để đạo diễn Trần Anh Hùng chuyển thể thành kịch bản phim Vĩnh cửu.

Những hoạt động này cũng nằm trong khuôn khổ các chương trình văn hóa chào mừng chuyến thăm Việt Nam đầu tháng 9 của Tổng thống Pháp Francois Hollande.

Trong lời giới thiệu về cuốn sách Nét duyên góa phụ, nhà phát hành cho biết đây là một cảm giác mà “...Theo cách ấy, một quá trình không có hồi kết thúc đẩy những người đàn bà kết hôn, sinh con rồi chết đi. Thời gian cứ thế trôi, điểm nhịp cho nó là những lần sinh và những cái chết, khi nhu cầu được truyền lại dòng dõi chiến thắng nỗi tuyệt vọng vì mất đi một người thân yêu.

Một sợi dây ham muốn vắt từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với lối viết vô cùng đặc biệt, khi thì trôi chảy, dài dòng tựa như hơi thở, khi thì chính xác, thậm chí gai góc, cuốn tiểu thuyết là một lời ngợi ca cuộc sống và thiên chức làm mẹ thiêng liêng của người phụ nữ”.

Phim của Trần Anh Hùng ra mắt cùng sách Nét duyên góa phụ
Bìa sách Nét duyên góa phụ

Trong Vĩnh cửu, các diễn viên hàng đầu nước Pháp hóa thân vào các nhân vật gồm: Audrey Tautou là Valentine, Bérénice Bejo là Gabrielle, Mélanie Laurent là Mathilde, Jérémie Renier là Henry và Pierre Deladonchamps là Charles.

Phim được chính thức công chiếu tại VN từ 9-9.

>> Trailer tiếng Việt của Vĩnh cửu:

TRAN QUANG HAI at ANCIENT TRANCE FESTIVAL 12-14 August 2016, TAUCHA , GERMANY


_DSC9584 (Copy)

TRAN QUANG HAI , BARBARA , OLAF

_DSC9313 (Copy).JPG_DSC9540 (Copy)_DSC9549 (Copy)

CLEMENTS , TRAN QUANG HAI

_DSC9684 (Copy).JPG_DSC9554 (Copy).JPG

NADISHANA, TRAN QUANG HAI

_DSC9573 (Copy).JPG

LEO (japanese beat boxer) TRAN QUANG HAI

_DSC9558 (Copy).JPG_DSC9539 (Copy).JPGtqh & maria shishigina PALSSON 12.08.2016.jpg

TRAN QUANG HAI , MARIA SHISHIGINA PALSSON

_DSC9345 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI at the castle stage

_DSC9329 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI with the poster

_DSC9290 (Copy).JPG

GABY , TRAN QUANG HAI

_DSC9914 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI at the castle stage , ambience of the festival

_DSC9892 (Copy).JPG

CHODURAA TUMAT , TRAN QUANG HAI

_DSC9835 (Copy).JPG

MARIA SHISHIGINA PALSSON, TRAN QUANG HAI

_DSC9798 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI ‘s workshop of Vietnamese ĐÀN MÔI

_DSC9787 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI in front of the sign of workshop room

_DSC9770 (Copy).JPG

CHODURAA TUMAT, TRAN QUANG HAI

_DSC9761 (Copy).JPG

NADISHANA , TRAN QUANG HAI

_DSC9698 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI with his fans

_DSC9674 (Copy).JPG

AMBIENCE OF THE FESTIVAL

_DSC9673 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI drinks beer

_DSC9649 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI, ARON

_DSC9615 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI ‘s WORKSHOP OF OVERTONE SINGING

_DSC9510 (Copy).JPG

ĐÀN MÔI STAND WITH MANY TYPES OF JEW’s HARPS

_DSC9506 (Copy).JPG

NEPTUNE CHAPOTIN , TRAN QUANG HAI

_DSC9458 (Copy).JPG

MARIA SHISHIGINA PALSSON , TRAN QUANG HAI

_DSC9456 (Copy).JPG

ARON and his son, TRAN QUANG HAI_DSC9442 (Copy).JPG

RAILWAYS STATION IN LEIPZIG

_DSC9439 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI in LEIPZIG

_DSC9370 (Copy).JPG

TRAN QUANG HAI at the ARTITST CATERING OF THE FESTIVAL

_DSC9368 (Copy).JPG

ONE HEART FOR TAUCHA

HỒ ĐĂNG THANH NGỌC : Du Tử Lê về lại trong thinh không Huế


13/08/2016 21:42

Ông trở lại và ngồi đó trong thinh không Huế, như đang nghe tiếng ngày xưa của nửa thế kỷ trước quay về, trong gió hoài niệm miên man…

Hôm 13-8, Du Tử Lê từ Mỹ trở về Huế, xứ sở mà nhà thơ đã có dịp nhiều lần ghé đến trong hàng chục năm trước.

Nặng lòng với cố đô

“Tôi hồi hộp lắm, bao nhiêu kỷ niệm cũ ùa về” – nhà thơ nói. Năm 1972, ông về Huế tìm người đẹp Hạnh Tuyền đã thư từ qua lại trước đó, bấy giờ đang là sinh viên năm 2 ĐH Sư phạm Huế. “Huế lúc đó là một cố đô quyến rũ, cảnh quan và sinh hoạt của dân chúng khác hẳn với những nơi trước đó tôi đến. Lần đầu gặp Hạnh Tuyền, nghe cô nói chuyện với bạn gái mà cứ như tiếng một đàn chim đang ríu rít” – ông nhớ lại và nở nụ cười cỏ hoa lịch lãm.

Chân dung Du Tử Lê (tranh Đinh Cường)
Chân dung Du Tử Lê (tranh Đinh Cường)

Hồi đó, ông theo Hạnh Tuyền về biển Thuận An và xúc cảm sáng tác bài thơ “Khi ở cửa Thuận An”:

“Về thôi trăng ngủ dưới triền

Sóng lao xao dội tự miền tịnh yên”…

Yêu nhau 3 năm, sau đó ông định cư ở Mỹ, xa cách người yêu. Phải đến năm 1992, Du Tử Lê mới có thông tin về Hạnh Tuyền, ông lập tức về Việt Nam. Ông theo Hạnh Tuyền ra Huế và từ đó chính thức làm chàng rể xứ này. Sống với Hạnh Tuyền, ông có những bài thơ làm bằng giọng/tiếng Huế “đặc sệt”, như “Yêu dấu nợ, T. ơi ngày nước lớn”:

“Yêu dấu nợ! trời nép mình lá sắn

Chiều chi mô buồn thấu suốt bên tê

Mưa do dỏ, ướt chùm hoa do dỏ

Chân chưa đi; hồn tợ cửa sông, về

Lênh láng chảy một đời sông An Cựu

Biết bên mô trong, đục nữa, bây chừ?

Yêu dấu nợ! Hồn ta lăng tẩm đó

Phá, rời đi, tình vẫn dớ quay về”

Nhiều bài thơ viết về Huế, không có nơi chốn địa chỉ nhưng phảng phất một Huế âm trầm, da diết. Những bài thơ như “Dòng suối trăm năm”, “Đừng nữa nhé chia lìa” là cảm giác gắn kết Huế thường trực trong tâm khảm nhà thơ. Trong thời gian ông và Hạnh Tuyền xa nhau, Du Tử Lê hướng về tình yêu của mình với người đẹp Huế qua bài thơ “Quê hương là người đó” đã được Phạm Đình Chương phổ nhạc.

Chuyện của Du Tử Lê với Huế làm người ta thấy có gì đó rất giống với trường hợp của họa sĩ Đinh Cường: “Ra đi mới biết lòng vô hạn/ Sương có mờ thêm trên sông Hương”. Theo Bửu Ý, sự mềm mại trong tranh, sự nhẹ nhàng chân tình trong ứng xử của Đinh Cường có khởi thủy từ người mẹ và người vợ rất mực Huế của ông.

Tài danh, khác biệt

Du Tử Lê là một nhà thơ mà tài thơ của ông được nhiều người ghi nhận. Ông sinh năm 1942, làm thơ từ năm 1953 và đã có thơ in trên các báo thời đó ở Hà Nội. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức từ năm 1958 trên tạp chí Mai. Ông đã xuất bản trên 70 tác phẩm, trong đó các năm 2014, 2015, tập thơ “Giỏ hoa thời mới lớn” và tập “Tùy bút chọn lọc” của Du Tử Lê đã xuất bản ở Việt Nam. Từ năm 1981 đến nay, ông có nhiều buổi thuyết trình tại các trường đại học ở Mỹ, Pháp, Đức, Úc… Những năm 1990 về sau, thơ ông được một số trường đại học nước ngoài dùng để giảng dạy cho sinh viên. Du Tử Lê là 1 trong 6 nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ XX có tác phẩm được chọn in trong tuyển tập “Thi ca thế giới từ thượng cổ tới hôm nay” (World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” do W.W Norton New York ấn hành năm 1998).

Theo nhiều người, thơ tình Du Tử Lê vẫn trội hơn cả như thể đó chính máu huyết nhà thơ, với nỗi say đắm tận cùng, những tha thiết đằm sâu… Nhiều khi, tình yêu đã vượt qua câu chuyện riêng tư để trở thành câu chuyện của quê hương, xứ sở.

Thơ ông có nhiều cách tân, rõ nhất là cách chấm, phết, gạch chéo cắt lìa nghĩa chữ, xô dạt thành những lớp nghĩa khác nhau, khiến nhiều khi câu thơ, đọc mỗi lần một khác.

Một điều thú vị là thơ Du Tử Lê được phổ nhạc rất nhiều, đến hàng trăm ca khúc. Các nhạc sĩ danh tiếng như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Anh Bằng, Từ Công Phụng, Đăng Khánh, Trần Duy Đức, Khang Thụy… đều có những nhạc phẩm hay phổ từ thơ Du Tử Lê. Một trong những nhạc phẩm nổi tiếng do nhạc sĩ Anh Bằng phổ thơ ông, “Khúc Thụy Du”, được xem là một trong những bản tình ca hay nhất.

Ngoài ra, nhà thơ tài danh này còn vẽ tranh, chỉ riêng năm 2012, ông đã có 4 cuộc triển lãm cá nhân tại Houston, Seattle, Virginia, Atlanta (Mỹ).

Chiều 13-8, Du Tử Lê đã đến Huế và ngồi bên sông Hương ngắm cỏ. Chợt nhớ một câu thơ rất lạ của ông: “Chỗ sâu: lũng cỏ. Khe tì vết, quen”. Cỏ sông Hương chiều vàng xanh ngát đang trực diện với ông, không ngút ngàn như trong Kiều (Nguyễn Du): “Cỏ non xanh rợn chân trời”, hay tiếng thở dài của cỏ trong Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Tôi từ cỏ sinh ra”: “Có nhiều khi tôi quá buồn/ Tôi ước mong quanh chỗ tôi ngồi/ Mọc lên thật nhiều cây cỏ”… Cỏ của Du Tử Lê thường trực xô dạt và lay động một tâm thức khác, như thức nhận, như lục lọi miền ký ức thương yêu…

Chiều 14-8, nhà thơ có cuộc giao lưu “Du Tử Lê và bằng hữu” dành cho công chúng Huế. Từ nhiều hôm trước, khi nghe Tạp chí Sông Hương, Hội Nhà văn Thừa Thiên – Huế, Công ty Văn hóa Phương Nam tổ chức sự kiện rất vui này, nhiều người đã truyền tin nhau đến để thấy ông bằng xương bằng thịt, nghe ông nói chuyện thi ca…

Hồ Đăng Thanh Ngọc

TRẦN QUỐC BẢO : ĐÁM TANG NỮ CA SĨ THIÊN NGA tại PARIS , 8.08.2016


Điếu Văn Của Ca Sĩ Mỹ Hòa (The Cat’s Trio) Trong Tang Lễ Ca Sĩ Thiên Nga tại nhà thờ Crématorium Père-Lachaise ngày 8 tháng 8 năm 2016.

Mỹ Hòa đọc điếu văn trong tang lễ ca sĩ Thiên Nga ngày 8 tháng 8/2016 (Photo: Hà Phong)

    Thương tiếc Nữ Ca si Tài Danh Thiên Nga
Mỹ Hòa xin thay mặt anh chị em đồng nghiệp khắp nơi trên Thế Giới trong nghành ca nhạc.
Thành thật trang trọng chia buồn cùng gia đình nữ ca sĩ tài danh Thiên Nga. Khi biết Thiên Nga đã thật sự xa rời anh chị em nghệ sĩ chúng tôi và những người thân thương tại Pháp, hôm nay đã cùng nhau đang hiện diện bên cạnh Thiên Nga lần cuối.. Ôi…! Buồn đau… thương tiếc… khôn nguôi!
Thiên Nga, một tiếng hát thánh thót điêu luyện vẫn mãi ngân dài trong chúng tôi trên thế gian nầy. Chúng tôi Cầu chúc Thiên Nga ra đi siêu thoát nhẹ nhàng. Mỹ Hòa xin mượn vài lời của Trúc Hồ đưa tiễn Thiên Nga: “Chỉ Là Phù Du Thôi, Đời Người Có Đi Có Về”..
Thiên Nga ơi, hãy thanh thản yên bình trong giấc ngủ Thiên Thu ! Thiên Nga nhé!

CA SĨ MỸ HÒA
VIẾT VỀ THIÊN NGA

      Lời Tòa Soạn: Năm 2012, khi ca sĩ Thiên Nga lâm bịnh, chị Mỹ Hòa đã là người từ Pháp gọi sang Mỹ báo tin này. Bốn năm sau, cách đây 2 tháng, khi chị Thiên Nga trở bịnh nặng, Mỹ Hòa cũng là người đầu tiên cho biết tin với giọng nói thật buồn: “Bảo ơi, lần này Thiên Nga chưa biết bao giờ có thể trở về nhà”. Lời Mỹ Hòa dù chỉ vài câu nhưng đã đủ cho không gian Paris – Cali giây phút đó nhuốm một màu tuyệt vọng.
Trong số báo Thương Tưởng Tiếng Hát Thiên Nga kỳ này, Thế Giới Nghệ Sĩ xin đăng lại bài viết của ca sĩ Mỹ Hòa từng đăng trên báo Tiếng Dân năm 1997.

THIÊN NGA…. Paris

Mỹ Hòa

Từ trái: Thiên Nga, Mỹ Hòa hát chung tại Kontiki Club (Saigon) năm 1963. Người cầm dùi trống là nhạc sĩ Ngọc.

    Chắc cũng có duyên nợ gì?
Fête de la musique ngày 21 tháng 6 cũng là ngày mà tại Sàigòn nữ ca sĩ Thiên Nga chào đời với tên cúng cơm là Marguerite Fabre. Cũng không có gì ngạc nhiên vì Bố cô lai Pháp là người Mục sư Cơ Đốc đầu tiên của Việt Nam nên Thiên Nga có tí máu Pháp trong người.
Cô có khuôn mặt khả ái, có nét đẹp tinh khiết tươi sáng khi trên sân khấu cũng như ngoài đời rất hồn nhiên không kiểu cách. Người ca sĩ có giọng khàn đặc sánh chất đam mê. Thiên Nga có một chỗ đứng thật vững chắc trong làng tân nhạc Việt Nam năm 1964, cô thành công về loại nhạc trẻ kích động. Thiên Nga là ca sĩ phòng trà và các Club của quân đội Mỹ chuyên hát nhạc ngoại quốc, cùng thành phần đó có Yến Hương, Kim Bằng, Carol Kim, Connie Kim, Ngọc Mỹ, Tuyết Hương, Mỹ Hòa..
Tên tuổi Thiên Nga được nhắc đến thật nhiều vào lúc quân đội Đồng Minh có mặt cho chiến trường Việt Nam. Hầu hết các Club Mỹ Sàigòn Long Bình thời đó không thể thiếu sự hiện diện của Thiên Nga – một nữ ca sĩ Việt Nam với hình vóc cao ráo, cách ăn mặt thật mới lạ theo thời trang – thêm cái tươi mát của tuổi đôi chín trên môi luôn nở nụ cười, quyến rũ làm sao! Khi trình diễn hăng say trong những nhịp khúc quay cuồng đã nói trời cho mà, Thiên Nga hát, nhẩy rất nhuyễn rất nghề đã làm cho bao chàng lính Mỹ bị kích thích tung nón hoan hô lột gỡ huy chương trao tặng trong lúc nàng biểu diễn thật là náo nhiệt, khiến cho những đồng nghiệp trình diễn sau cô phải chọn loại nhạc khác, thật êm dịu thật du dương mới có thể quân bình được sự thưởng thức của khán giả.
Chính ca sĩ Mỹ Hòa đã có lần thố lộ như vậy. Thiên Nga vừa giựt xong bài ‘What I say’ như cuồng phong bão táp là Mỹ Hòa phải hát bài ‘Charade’ thật cao vút thánh thót truyền cảm. Đôi bạn chí thân Mỹ Hòa và Thiên Nga hát cùng giờ tại nhà hàng Kontiki ở đường Phan Thanh Giản, khách đến đây thưởng thức phần đông ngoại quốc.Thường thường thì các cô đi hát gặp nhau ở mấy Club Mỹ nhiều hơn.
Để thay thế đôi uyên ương Jo Marcel và Như An – hai ca sĩ nồng cốt của hộp đêm Baccara vừa hết giao kèo, đầu năm 1966 Thiên Nga và Elvis Phương được cậu Chín “manager Baccara” mời về cộng tác thường trực cùng ban nhạc danh tiếng Lê Vũ. Trong thời gian nầy Thiên Nga đang trên đà đi vào nổ bùng như gió bão trong thế giới nhạc trẻ Sàigòn. Một hợp đồng của Night club ‘Bay Side’ tại Hong Kong với số thù lao quá lớn so sánh với số lương hàng tháng của nàng nơi đây. Mộng xuất ngoại nổi dậy thật lớn trong lòng người ca sỹ đang lên muốn đem chuông đi đánh xứ người. Thiên Nga từ giã gia đình bạn bè với bao tiếc nhớ của các đồng nghiệp năm 1969.
Những tưởng sẽ về lại VN sau khi mãn giao kèo nhưng không việc gì có thể đoán trước chuyến đi định mệnh, Thiên Nga đã liên tục ký thêm những hợp đồng hậu hỉ. Thế là Thiên Nga hoàn toàn xa quê hương từ dạo đó sống luôn ở hải ngoại. Sau khi lập gia đình có được một cháu gái với người chồng đầu tiên (Trung Hoa) đã ly dị. Sống trong căn nhà xinh xắn với đứa con gái cưng tại Munich, Thiên Nga tiếp tục bay đi trình diễn tại những hộp đêm khắp nơi xứ người như HongKong, Singapour, Angleterre, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Thụy Điển, Ý, Đức. Ròng rã bao năm trời xa quê hương một nữ ca sĩ người Việt hát đủ mọi loại nhạc, bằng đủ mọi thứ tiếng trừ tiếng Việt, chuyện đó đã xảy ra trong đời của ca sĩ Thiên Nga.
Vừa hay tin Cộng sản chiếm luôn miền Nam Việt Nam ngày 30-4-1975, cô đã khóc sướt mướt suốt mấy ngày liền. Ôi! lối về xứ Mẹ từ nay kể như mù mịt. Rất may cô đã gặp lại gia đình sau cuối năm 1975. Mẹ và các chị cô lần lượt sang Tây lánh nạn, nên cuối cùng Thiên Nga đã nhất quyết định cư lập nghiệp tại Pháp cho gần gia đình.
Cũng như phần đông của một số nghệ sĩ ngoại quốc sau khi ở trong nghề một thời gian dài, chủ nhân ‘Marguerite’ coiffure sang trọng của vùng Boulognes không ai xa lạ – nữ danh ca Thiên Nga, điều khiển một công việc quá ư là bận rộn nên Thiên Nga đã bỏ hát khá lâu. Nhưng bạn bè trong giới nghệ sĩ gặp cô luôn, nhắc chuyện hát hò, tả lại những buổi Đại nhạc hội tưng bừng nhộn nhịp chỉ tiếc thiếu Thiên Nga một giọng hát giá trị mà ngưng sớm. Mấy nhà tổ chức văn nghệ mời mọc mãi, con tằm Thiên Nga lại phải nhả tơ. Bắt đầu đi hát lại năm mà ngưòi Việt Nam ta tràn ngập thủ đô Ba Lê. Giọng hát điêu luyện hấp thụ những tinh hoa nước ngoài trong nhiều năm, Thiên Nga bây giờ với kỹ thuật diễn tả thật linh động, thật mới theo công thức sân khấu Âu Châu, nơi nào đã có mặt Thiên Nga thì không sao tránh khỏi ồn ào sôi nổi, tới giờ phút nầy kỹ thuật biểu diễn nhạc kích động tại Pháp của Thiên Nga vẫn còn giữ nguyên ngôi vị cộng thêm tài riêng hoạt náo viên thật linh động, những buổi trình diễn lớn tại Paris chắc chắn các nhà tổ chức nơi đây khó tìm người thay thế MC Thiên Nga (cô nói được nhiều ngoại ngữ).
Buổi họp mặt văn nghệ sĩ do nhà văn Tô Vũ tổ chức có Thiên Nga, Albert Tambicanou, Mỹ Hòa và vợ chồng nhạc sĩ Anh Huy người nhạc sĩ vừa sáng tác xong bản nhạc ‘Đêm Thế Gian’ tặng Mỹ Hòa và bản ‘Thiên Nga’ tặng riêng giọng hát Thiên Nga, sau 20 năm ngưng bặt âm thanh.
Nhân tiện xin Thiên Nga cho đọc giả báo Tiếng Dân vài lời tâm sự.
– Hỏi: Nguyên do nào đã làm cho Thiên Nga đi vào nghề hát?
– Thiên Nga: Thuở còn đi học Nga hát ở trường, hát nhà thờ, giọng Nga được chọn hay nhứt. Từ đó đêm đêm nuôi mộng làm ca sĩ. Biết con mê hát, Mẹ Nga tìm nhạc sỹ Joe Lai gửi gấm, chỉ dạy. Nga đã thành công ngoài sức tưởng tượng của thầy Joe và và gia đình. Nga xin được nhớ đời công ơn của Mẹ và Thầy Joe Lai biệt danh “Tám Lai” đã cho Nga tròn đam mê.

– Hỏi: Ngoài những buổi văn nghệ Thiên Nga có hoạt động gi khác?
– Thiên Nga: Nga rất thích làm một Business trong lãnh vực nghề nghiệp, chẳng hạn như mở phòng thu nhạc cho giới trẻ, thâu băng, thâu Vidéo, nhưng bổn phận làm mẹ vẫn còn, hiện đang sống với hai cô con gái nên chưa có thì giờ thực hiện. Chắc chắn là khó hoạt động gì khác hơn là ca hát suốt đời.

– Hỏi: Xin cho biết bí quyết nào Thiên Nga còn giữ được dáng vóc mảnh mai để mặc những bộ quần áo yé yé thật hấp dẫn gọn gàng cho những điệu nhảy nóng bỏng hiện nay hay quá vậy ? Có phải nhịn ăn?
– Thiên Nga: Chắc tại trời thương trời cho chứ Nga ăn lu bù nhất là sau khi trình diễn xong, Ban tổ chức thường mời đãi ca nhạc sĩ toàn những món đặc biệt, món nào cũng ngon làm sao Nga nhịn cho được.

– Hỏi: Chuyện vui buồn đáng ghi trong đời ca hát nơi xứ người?
– Thiên Nga: May mắn là đến bây giờ Nga vẫn còn ca hát. Mà lại hát chung hằng tuần nơi trà thất Đào Viên tại quận da vàng Paris với Mỹ Hòa một đồng nghiệp đã hát chung từ thuở mới vào nghề nên có biết giá trị của nhau, chia nhau những thành công những học hỏi kỹ thuật nghề nghiệp để khỏi phụ lòng mến mộ của khán thính giả trong nước cũng như hải ngoại. Điều làm cho Nga thích thú là được hát tiếng Việt cho khán giả Việt Nam mà trong nhiều năm Nga không có hát. Nhờ báo “Tiếng Dân” Paris cho Thiên Nga được cảm tạ tất cả khán thính giả khắp nơi đã dành riêng cho Nga sự thương mến thưởng thức nhiệt tình tiếng hát của Nga từ bao lâu nay. Mỹ Hòa Ngoại Ô Paris 1997

CA SĨ THIÊN NGA và những câu chuyện âm nhạc một thời (bài Trần Quốc Bảo)

Ca sĩ Thiên Nga hát trên du thuyền Nga đầu thập niên 70

     Khoảng năm 1991, một người bạn thân từ Pháp gửi sang Mỹ tặng tôi một cuốn băng của chị Thiên Nga thực hiện. Trước đây, vài tờ báo khi nhắc đến chị, người ta thường nói về sự thành công của Thiên Nga qua những bài hát La Vie En Rose, What I Say, Rock Around The Clock, Only You.. nhưng trong cuốn băng này, chị chỉ hát toàn nhạc Việt Nam, những bài nhạc buồn hay nhất của Vũ Thành An, Nguyễn Văn Khánh, Đức Huy.. Tuy đó là những bài đã thành danh của nhiều người, nhưng qua giọng ca bùi ngùi của chị, tôi chợt tìm thấy được những mảnh vỡ của kỷ niệm niệm ngày nào bàng bạc trờ đến.. rồi trong phút chốc, những mảnh vỡ đó ráp khớp vào nhau, hiện thành hình những chân dung của từng khuôn mặt thương yêu một thời về lại.

Băng nhạc Tiếng Hát Thiên Nga Yêu do cô và nhạc sĩ Albert Tambicannou thực hiện năm 1990

    Tôi tiếc một điều, những ngày âm nhạc Saigon thật vui thập niên 60, mình còn quá nhỏ để được phép bước chân vào những nơi giải trí ca nhạc đèn màu, tuy nhiên điều an ủi lớn nhất hiện nay, tôi vẫn có được những người bạn giữ được tương đối đầy đủ những chồng báo cũ như Điện Ảnh, Màn Ảnh, Kịch Ảnh, Truyện Phim, Hồng.. nhờ vậy, tôi được xem lại một thời âm nhạc Saigon thăng hoa tuyệt đỉnh của những thập niên 60-70 tuyệt đẹp. Và sau đây, xin mời độc giả rong chơi cùng người viết, về những bức hình, về những mẫu chuyện có liên quan đến Thiên Nga, một tiếng hát mà như ca sĩ Mỹ Hòa đã viết: “Đó là một giọng khàn đặc sánh chất đam mê”… Vâng, tiếng hát đó, giờ đây đã đi vào vùng trời miên viễn, nhưng đã để lại nơi này biết bao tình yêu và nỗi nhớ.

Ca sĩ Thiên Nga trình diễn tại Saigon những năm 1966-1967

– Thiên Nga cùng từng Jo Marcel, Như An, Elvis Phương, Mary Linh trình diễn trong kỳ Đại Hội Nhạc Trẻ do nhật báo Sống tổ chức ngày 29 tháng 7 năm 1967 tại rạp hát Đại Nam với sự quy tụ tranh tài của những ban nhạc lừng danh như The Black Caps, The Sportlight, The Top 5, The Take 5 (The Beats), Les Penitents.. Có cả ban DVT của gia đình ca sĩ Xuân Thu và ban Hải Âu mà thành phần đầu tiên khi thành lập năm 1965 có nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Trần Đăng Chí, Huỳnh Bá Thảo..-

Quảng cáo Đại Hội Nhạc Trẻ do nhật báo Sống tổ chức tháng 7 năm 1967

– Người viết cũng tìm được một quảng cáo của phòng trà Majestic không nhớ nổi năm nào, có bức hình 2 ca sĩ Ngọc Nhi và Thiên Nga đóng đô ở đây cùng với ban nhạc của tay dương cầm Nguyễn Văn Xuân. Nhìn tờ quảng cáo này, ca sĩ Mary Linh nói liền: “Mary Linh nhận ra thầy mình là anh Xuân mắt kính”. Còn hình của Thiên Nga, người viết đang mù mờ vì bức ảnh xa xưa quá, nhưng Grace Lai (Anh Đào), cô con gái thứ nhì của Thiên Nga trả lời ngay: “The second person is my mom”. Vậy là từ trái sang phải: Anh Quan (nhạc sĩ trống), ca sĩ Thiên Nga, ca sĩ Ngọc Nhi, anh Nguyễn Văn Xuân (piano) chụp tại nhà hàng Majestic.

Từ trái sang phải: Anh Quan (trống), ca sĩ Thiên Nga, ca sĩ Ngọc Nhi, anh Xuân (piano)

– Nhà hàng Kontiki trên đường Phan Thanh Giản cũng là nơi ca sĩ Thiên Nga trình diễn thường xuyên những năm 1966-1968. Theo lời Mỹ Hòa, thì nơi này khách thưởng ngoạn hầu hết là người ngoại quốc, vì thế đôi bạn Mỹ Hòa – Thiên Nga tha hồ biểu diễn những bài hát ăn khách của mình như Only You, La Vie En Rose, Charade.. Tìm lại được một góc quảng cáo xưa của Kontiki năm 1964, nhớ vô cùng một thời Saigon hoa mộng về đêm.

Quảng cáo nhà hàng ca nhạc Kontiki trên đường Phan Thanh Giản năm 1964

– Danielle Nguyen, một người thân của ca sĩ Thiên Nga tại Pháp vừa gửi email đến người viết. Chị tặng một bức ảnh có hình chị chụp chung với ca sĩ Thiên Nga, nhạc sĩ Albert và chị Alice (chị lớn của ca sĩ Thiên Nga). Chị Danielle Nguyễn ghi vài giòng tâm sự: “Hi Anh Bảo, Đây là hình chụp cách đây 2 năm (2014), lúc này chị Thiên Nga đã bị đột quỵ. Chúng tôi đã từng sống chung với nhau từ nhỏ. Nhà tôi ở sát bịnh viện Cơ Đốc Phục Lâm. Chị TN có cái nick name là chị Bê. Từ nhỏ tôi hay đi theo chị hát ở Baccara, hoặc các Club Mỹ. Sau này chị xuất ngoại theo chồng người Hongkong được một đứa con gái, chúng tôi lại gặp nhau ở Paris. Lúc đó chị TN đã ly thân và mở tiệm uốn tóc ở Boulogne. Chị lại có thêm một người con gái với người bạn tình VN, xong rồi lại chia tay và mối tình thứ 3 là Albert cho đến ngày chị ra đi”.

Từ trái: Chị Alice Fabre (chị lớn của Thiên Nga), chị Danielle Nguyen (Nguyễn Thị Tuyết Hồng), nhạc sĩ Albert Tambicannou (chồng TN) và ca sĩ Thiên Nga chụp năm 2014

– GRACE LAI, còn có tên Việt là Anh Đào, cháu sinh năm 1983 và là người con gái của người chồng thứ nhì. Anh Đào xinh đẹp như Mẹ và thông minh như Cha. Cháu thông thạo 3 thứ tiếng: Việt, Mỹ, Pháp.. và làm việc nhanh nhẹn không thể tả. Đáng lý số báo về ca sĩ Thiên Nga đã thực hiện từ tháng 6 ngay khi chị vào bịnh viện nhưng rất tiếc hình bìa của Thiên Nga không có 1 tấm nào có thể xử dụng được vì độ phân giải quá thấp (low resolution) khi phóng ra to làm bìa, mặt mày ca sĩ loang lổ nhìn kém mỹ thuật vô cùng. May mà có Anh Đào, cháu tìm ngay một số tư liệu đi hát của Mẹ với những bức ảnh original được scan rất kỹ càng.. vì thế, bìa Thế Giới Nghệ Sĩ kỳ này rất đẹp. Trong lá thư tâm sự với người viết về Mẹ mình, Anh Đào ghi: “Mẹ rời Việt Nam đi Hong Kong trước năm 1970, gặp cha của Shirley ở đó rồi theo ông đi Munich năm 1971. Sau đó, Mẹ bỏ đi vào năm 1974, tới London làm nghề tóc tại Vidal Sassoon.
Khoảng năm 1980, Thiên Nga đến Paris vì có chị gái ở đó, mở tiệm tóc và rồi sinh Grace Anh Đào năm 1983 rồi không bao giờ rời Paris nữa. Thiên Nga tiếp tục hát nhưng không còn đi đâu xa nhiều vì có hai con gái”.
Những giòng tâm sự của cháu về Mẹ không dài nhưng đủ làm người viết rưng rưng và cay cay đôi mắt.

Thiên Nga và 2 con gái yêu quý

Từ trái: Shirley, Thiên Nga, Grace Lai chụp khoảng năm 2012, lúc này Thiên Nga đã ngã bịnh

– ALBERT TAMBICANNOU, từ khi Thiên Nga ngã bịnh, chàng săn sóc vợ từng ngày. Mỹ Hòa từ Pháp gọi sang tâm sự, giọng chị rất vui khi thấy người bạn thân nhất của mình được người chồng lo lắng săn sóc tận tình.
Năm 1969, khi Albert thành lập ban nhạc The Blue Jets chơi hàng đêm ở Tự Do, đó là lúc Thiên Nga chuẩn bị rời Việt Nam sang Hongkong lập nghiệp. Những năm 1973-1975, ban nhạc The Blue Jets chơi ở Hotel Catinat và các Club Mỹ, sau đó thì biến cố 30/4 trờ đến, gia đình Anh bỏ nước rồi sang Pháp.
Đến năm 1977, Albert cùng anh em trong nhà với Philippe trống, Robert keyboard, Albert Bass dựng lại The Blue Jets, tăng cường thêm guitarist Ngô Minh Khánh.
Ban nhạc The Blue Jets những năm 1980-1988 hoạt động tưng bừng, thu băng, trình diễn Show, và có lúc đóng trụ hàng tuần ở vũ trường Las Vegas ở Pháp từ năm 1985 đến 1988 mới tan rã.
Tuy buồn về mặt làm việc nhưng đường tình yêu thì rạng rỡ, anh và ca sĩ Thiên Nga sau một thời gian tìm hiểu đã tổ chức đám cưới vào đúng ngày Quốc Khánh 14 tháng 7 năm 1988 tại Pháp.
Năm 2012, sau khi Thiên Nga bị stroke, rồi phải mổ tim. Đau khổ nhất là 7 tuần lễ sau cùng, Thiên Nga lại bị đường dâng cao ảnh hưởng trầm trọng đến mắt và đôi chân.. Nhìn thấy hoàn cảnh vợ như vậy, Albert đau lòng vô tả.
Nếu không có gì trở ngại, Thế Giới Nghệ Sĩ sẽ thực hiện một số báo về ban nhạc The Blue Jets, kỷ niệm 47 năm thành lập vào vài tháng tới đây. Độc giả sẽ có dịp thưởng thức những hình ảnh và bài vở kỷ niệm của một thời nhạc trẻ với ban nhạc lừng danh này.

Ca sĩ Thiên Nga và ban nhạc Las Vegas chụp năm 1987. Từ trái sang phải: Kok (nhạc sĩ guitar người Hoa), Albert (Bass – chồng Thiên Nga), Thiên Nga, Ty (trống, người Thái) và Tuon (keyboard, người Miên)

– Trường Kỳ trong một hồi ký nhạc trẻ của Anh cũng đã nhắc về ca sĩ Thiên Nga như sau: “Thiên Nga đã đi vào lãnh vực ca nhạc rất sớm sau buổi trình diễn đầu tiên tại phòng trà ca nhạc Tự Do vào năm 1963 trong nhạc phẩm “I Went To Your Wedding”. Say mê ca nhạc từ nhỏ, lúc còn ở ghế nhà trường, Thiên Nga đã tham gia các chương trình văn nghệ.
Sau khi rời khỏi Việt Nam năm 1969, Thiên Nga đã được giới thiệu với Hong Kong TV và đã ký hợp đồng cộng tác một tháng trong chương trình “Enjoy Yourself Tonight”. Thiên Nga đã tiến rất nhanh trong lãnh vực ca hát nhờ khả năng trình bày những bản ngoại quốc trong những năm 1964-1969. Những bản nhạc trình diễn thành công nhất: La Vie en Rose, Only You, Yêu, Labramba, Sally, Rock Around the Clock, Nỗi Lòng… Thiên Nga đã từng trình diễn tại nhiều quốc gia trên thế giới: Singapore, Hong Kong, Thụy Sĩ, Đức, Canada, Hoa Kỳ, Pháp… Đã xuất hiện trên Video Life (Đức) và phát hành băng nhạc Tình Nghệ Sĩ (Paris). Thiên Nga đã cộng tác với các vũ trường Las Vegas, After Dark (Pháp) và Ngọc Chánh (Mỹ).
Vào những năm 1968, 1969, 1970… tức là những năm sôi động của chiến trường Việt Nam, Thiên Nga đã hát cho GI Mỹ cũng như giúp vui văn nghệ cho các binh sĩ và sĩ quan Việt Nam…

– Dưới đây là một số lời phân ưu chia buồn của các ca nhạc sĩ một thời hoạt động hoặc quen biết với ca sĩ Thiên Nga, xin mời bạn đọc..

– CA SĨ JO MARCEL (CA): Anh được tin qua Ngọc Mỹ báo Thiên Nga đã qua đời. Anh xin thành thật chia buồn cùng gia quyến và những người thân thuộc của Thiên Nga. Cám ơn TQB. – CA SĨ VY VÂN (CA): Thương quá, thành thật chia buồn cùng Albert.

– CA SĨ DIỄM CHI (HOUSTON): Diễm Chi thành kính phân ưu cùng anh Albert và tang quyến.

– CA SĨ CONNIE KIM (CA): Dear Albert, Thành thật chia buồn với Albert và gia đình. Connie Kim được biết tin trễ là chị Thiên Nga đã qua đời. Connie Kim được hát chung một sân khấu với chị và rất ngưỡng mộ giọng hát và phong cách trình diễn của chị. Nay chị đã ra đi sớm quá nhưng Connie Kim sẽ không bao giờ quên được hình dáng của chị Thiên Nga. Nguyện cầu linh hồn Thiên Nga sớm về nước Thiên Đàng. Thành thật chia buồn với Albert và gia đình. Connie Kim

– CA SĨ HỌA MI (PHÁP): Cầu xin chị Thiên Nga ra đi trong thanh thản. Xin chia buồn cùng gia đình.

– CA SĨ CAROL KIM (CA): MY GOSH ! Tin buồn! Chia buồn cùng Albert và gia đình! R.I.P

– CA SĨ NGỌC HIẾU (CA): Một thời gian ở Club Au Baccara, Hiếu có hát chung với chị Thiên Nga hàng đêm. Chị rất dễ thương, hát và trình diễn rất đẹp. Hiếu rất ái mộ chị, bỗng dưng chị nghỉ hát và không ai biết chị ở đâu? Hiếu có hỏi thăm nhưng không ai biết. Đến hôm nay tìm được chị cũng là lần cuối. Ôi chị Nga ơi, nhớ chị vô cùng…. Hiếu ước gì được gặp lại chị năm 2014 khi Hiếu qua Paris thăm bạn. Hiếu không biết chồng chị là Albert, nếu biết trước thì đã tìm được chị rồi. Muộn rồi, chị đã ra đi, Hiếu nguyện cầu cho linh hồn chị về bên Chúa vì chị rất hiền lành.

– NGHỆ SĨ KIM TUYẾN (SAN DIEGO): Xin chia buồn cùng tang quyến. Cầu nguyện cho chị Thiên Nga sớm siêu thoát về Tây phương Cực Lạc Quốc!

– NGHỆ SĨ THÀNH LỄ (CA): Thành kính phân ưu đến gia đình!

– LAN ANH: Cháu cầu chúc cho Cô được ra đi thanh thản, dưới sự dìu dắt của Chúa! Thành kính phân ưu cùng gia quyến!

– KÝ GỈA CHU VĂN LỄ (CANADA):
Thành thật chia buồn cùng gia đình của ca sĩ Thiên Nga.

– CA SĨ LỆ QUYÊN (PHÁP): Xin chia buồn cùng anh Albert và gia đình, cầu cho linh hồn chị Thiên Nga được thanh tịnh trên cõi vĩnh hằng.

– CA SĨ NGỌC MỸ (SAN DIEGO):. So sad news. I had worked with her, she dressed well, stylists, elegance, singer. She was also a sweetheart to everyone. May God Blessed. I just spoke to Jo Marcel this afternoon and told him of the sad news. Thien Nga sang at many places. Quang Anh also knew her. I remember she was singing at Kontiki, Caravelle, Tu Do, Au Baccara…. And lots of US military clubs also. Take care Brother. NM.

– NHẠC SĨ VŨ HẢI (BAN NHẠC PASSION): Cho anh gửi lời chia buồn đến Albert về ca sĩ Thiên Nga. Thập niên 90 ban nhạc Blue Jet & The Passion có trình diễn chung tại rạp Maubert ở Quận 5 Paris.Thiên Nga làm MC và ca cho hôm đó. Không ngờ Thiên Nga lại ra đi quá sớm. Vô cùng thương tiếc.

– CA SĨ THU HƯƠNG (PARIS): Thân gửi em T.Q.B. Sáng nay chị Mỹ Hòa gọi báo tin buồn Thiên Nga đã mất và chị M.H cũng nhờ chị tìm một vài ảnh cũ gửi qua cho em nhưng vì bất ngờ nên không kịp lục soạn. Tiện có tấm hình này dang treo trong nhà nên chụp ngay gửi cho em. Chị sẽ cố tìm lại một số ảnh xưa hồi chị và Thiên Nga cùng hát chung để gửi cho em. Hôm đưa đám Thiên Nga, chị sẽ chụp ảnh gửi qua sau cho em.
Tiện đây, chị xin gửi tên những ca sĩ hiện ở bên Pháp để em đăng chia buồn nhé, đó là vợ chồng Bạch Yến, Trần Quang Hải, Thu Hương, Mỹ Hòa, Minh Đức, Bích Chiêu, Trần Vĩnh, Cao Thái, chị Lan Phương (Đào Viên), anh Hà Phong..

– CA SĨ MARY LINH (TEXAS): Hi TQB, Chị và Marguerite Thiên Nga có hát chung với nhau từ Việt Nam. Qua đến Pháp, Thiên Nga rất dễ thương.. Thành thật xin Chúa đem linh hồnThiên Nga về nước trời, và chia buồn với B. B.

– CA SĨ PAOLO (CA): Anh nhờ Bảo để tên anh vào danh sách chia buồn cùng Albert. Thiên Nga đã từng làm việc chung với Anh tại Baccara cùng Elvis Phương. Anh và Albert (Ban Blue Jets) cũng đã làm việc chung với nhau suốt 2 năm trời tại Tự Do (Saigon) cho đến ngày cuối cùng nên tình bạn đã có từ dạo đó.

– GIA ĐÌNH HỌA SĨ HUY DŨNG (CALI): Thành thật chia buồn cùng gia quyến.

– CA SĨ HOÀI PHƯƠNG JENNY (PHÁP): Mes condoléances avec votre famille et sur tout anh Albert.

– NHẠC SĨ NGUYỄN ĐĂNG QUANG (PHÁP): Sáng hôm nay một ngày hè đầu tháng tám, vào fb thì đọc được tin buồn anhTrần Quốc Bảo báo ca sĩ Thiên Nga (người bạn đời của anh Albert Tambicannou, tay bass kỳ cựu của ban The Blue Jets) mới mất sáng ngày 01/08 tại Paris. Trong bài trên fb của anh TQB có tấm hình đen trắng ca sĩ Thiên Nga với nụ cười thật duyên dáng khi chị hát ở phòng trà Sài gòn thập niên 60 (Thật là bất ngờ khi tôi nhận ra người chú họ tên Ngọc cầm dùi trống sau ca sĩ Thiên Nga trong hình).
Bây giờ tôi mới nhớ lại chú tôi, nhạc sĩ Đăng Tiến, có dạy hát nhạc ngoại quốc cho chị và các ca sĩ như Ngọc Mỹ Mimi Sugane, Mary Linh, Mỹ Khanh, Thu Hương những năm đầu 1960. Chưa có dịp gặp chị Thiên Nga, chỉ vài lần lên Paris trước năm 90 tới phòng trà Las Vegas quận 13 nghe chị và ca sĩ Mary Linh hát (Ban nhạc anh Albert bass, nhạc sĩ Xuân Vinh piano) nhưng tôi nghĩ các ca nhạc sĩ văn nghệ ở Paris đều quý mến chị.
Tôi lại leo lên căn gác kiếm ra cuốn băng cassette chủ đề Yêu mà chị thâu năm 90 ở Paris với hai nam ca sĩ Anh Sơn, Anh Phương. Chị hát bài La vie en rose (Giấc mơ hồng) rất cảm xúccó thể để nhớ lại những đêm chị hát dưới ánh đèn màu phòng trà Sài gòn cách đây năm mươi năm. Cám ơn tiếng hát ca sĩ Thiên Nga đã giữ lại Nổi lòng để các bạn hữu còn nhớ tói chị.

– LINE SUN HI NGUYEN (PHÁP): Em chân thành chia buồn với Anh Albert và gia đình. Cầu mong linh hồn Chị sớm mau về cõi thiên đường vĩnh cửu.

MỘT BỨC HÌNH KỶ NIỆM TRÒN 50 NĂM SAU GẶP LẠI

Từ trái: Nhạc sĩ violin Đào Duy Tình, nhạc sĩ Lê Vũ (Chấn), nhạc sĩ Sính (Saxo), Thiên Nga, Công Thành, Paolo, Hưng (guitare) tại phòng trà Baccara những năm 1966-1967

Đó là bức ảnh quý với cảnh ca sĩ Thiên Nga đang hát tại phòng trà Baccara với ban nhạc Lê Vũ. Anh Lê Vũ còn có tên Chấn “Baccara”, người đã có công sáng lập ra 3 ban tam ca nữ ăn khách nhất của Saigon cuối năm 1969, đó là ban Ba Trái Táo (tháng 9 năm 1969), ban Ba Con Mèo với Mỹ Hòa, Uyên Ly, Kim Anh (ngày 20 tháng 11 năm 1969) và đợt 2 ngày 20 tháng 11 năm 1970 với Minh Xuân thay Mỹ Hòa rời khỏi ban. Anh Chấn “Baccara” còn mát tay dựng thành công Tam Ca Mây Hồng với Linh Phương, Ngọc Hiếu, Ngọc Anh.. nhưng chưa đầy nửa năm, ban Mây Hồng tan tác như những đám mây trôi giạt mỗi người về mỗi nơi xa…

Thiên Nga – Giọng Ca Kích Động Nhạc của Thập Niên 60s.

(trích bài Chu Văn Lễ đăng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 79 phát hành ngày 12 tháng 8 năm 2016)

Ca sĩ Thiên Nga chụp tại vũ trường Baccara những năm 1966-1969

     Ca sĩ Thiên Nga là gương mặt quen thuộc của sinh hoạt ca nhac phòng trà trong thập niên 60s tại Sài Gòn.
Không rõ cô bắt đầu đi hát từ năm nào nhưng suốt thâp niên 60s, khách quen thuộc tại các phòng trà Kontiki, Au Baccara, La Cigale, Tụ Do … đã biết đến ca sĩ Thiên Nga vói gương mặt khả ái và giọng ca đầy nội lực của cô. Không tìm được bản ghi âm của ca sĩ Thiên Nga trong giai đoạn này cho các thế hệ yêu nhạc Việt sau này có thể biết được nét truyền cảm và hấp dẫn thật sự trong giọng hát của ca sĩ Thiên Nga nhưng người hâm mộ ca sĩ Thiên Nga luôn nhớ đến cô vói một giọng hát khàn khàn hết sức lôi cuốn và chuyên trình bày những bài hát kích động Rock ‘n Roll của ngoại quốc. Đó là một giọng hát tràn đầy niềm đam mê và sức sống của tuổi trẻ. Đây là yếu tố tạo nên tên tuổi của ca sĩ Thiên Nga và khiến cô trỏ thành giọng ca chính cho phòng trà Baccara cho đến ngày rời Viêt Nam. Bên cạnh sinh hoạt hàng đêm tại các phòng trà, Thiên Nga còn xuất hiện thường xuyên tại các câu lạc bộ phục vụ cho quân đội Hoa Kỳ.
Giữa lúc sự nghiệp ca nhạc của ca sĩ Thiên Nga đang trên đường thăng tiến, cô lại đột nhiên vắng mặt. Khách mộ điệu cũng có ý tìm hiểu lý do và mong chờ cô trở lại sân khấu. Có tin đồn cô theo chồng về Pháp nhưng thật ra ca sĩ Thiên Nga đã ký được một hợp đồng với phòng trà mang tên Bay Side tại Hongkong. Đó là khoảng năm 1969-1970. Thiên Nga lai Pháp nên sau khi mãn hợp đồng, cô về định cư tại Pháp quốc và vẫn tiếp tục sinh hoạt ca nhạc. Cô cộng tác với ban nhạc The Blue Jets với chồng là nhạc sĩ Albert Tambicannou-cũng là một gương mặt quen thuộc của phong trào nhạc trẻ. Ca sĩ Thiên Nga cũng có thực hiện cho mình một vài albums hát riêng và góp mắt chung với các ca sĩ khác. Không hiểu sao tiếng hát của ca sĩ Thiên Nga, “một thời kích động” lại không thể vượt Đại Tây Dương để sang vơi người yêu nhạc Việt tại Bắc Mỹ.
Tuy nhiên, ca sĩ Thiên Nga không bị quên lãng. Hung tin về sự ra đi của cô làm nhiều người bàng hoàng. Người ta nhắc đến cô với tất cả sự quý mến. Thời cuộc có thể làm con người ta xa nhau nhưng không thể làm mờ những kỷ niệm đẹp của nhũng ngày còn ở Sài Gòn yêu dấu. Sau nhiều năm xa cách, ca sĩ Thiên Nga, trong ký ức của mọi người, vẫn là một ca sĩ dễ mến, người có gương mặt sáng sân khấu và một giọng ca tràn đầy nhựa sống.
Ca sĩ Thiên Nga đã ra đi ngày 1 tháng 8 năm 2016 tại Paris, Pháp quốc. Xin coi bài viết này là lời cám ơn chân thành của những người yêu nhạc Việt đến với ca sĩ Thiên Nga trên đường cô về xứ trời.
Tạm biệt ca sĩ Thiên Nga, giọng ca kích động nhạc của Sài Gòn một thời hoa lệ.
Jacksonville ngày 3 tháng 8 năm 2016
Chu Văn Lễ

NHỮNG HÌNH ẢNH YÊU DẤU MỘT THỜI CỦA NỮ CA SĨ THIÊN NGA

Ca sĩ Thiên Nga hát tại phòng trà Baccara năm 1968, phía sau là ca sĩ Ngọc Hiếu (áo vàng)

Từ trái: Thiên Nga, Thu Hương, Mỹ Hòa, Minh Đức và 2 người bạn của Mỹ Hòa trong một buổi văn nghệ Tết 1996 tại nhà hàng Quận 13.

Ca sĩ Thiên Nga và ban nhạc Las Vegas chụp năm 1987. Từ trái sang phải: Kok (nhạc sĩ guitar người Hoa), Albert (Bass – chồng Thiên Nga), Thiên Nga, Ty (trống, người Thái) và Tuon (keyboard, người Miên)

Cuốn băng cassette Yêu do Thiên Nga và phu quân Albert Tambicannou thực hiện năm 1990
1001 Khuôn Mặt Thương Yêu
Thiên Nga
tiếng hát nồng mặn ý tình

(trích bài Hồ Trường An đăng trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 79 phát hành ngày 12 tháng 8 năm 2016)

Ca sĩ Thiên Nga hát tại một phòng trà Saigon năm 1966-1967, phía sau là nhạc Trổ guitar

     Tôi biết Thiên Nga từ năm 1978, khi cô còn lui tới Quán Trúc ở thành phố Gennevilliers. Thuở đó, có nhiều nghệ sĩ lui tới quán ấy như Mỹ Hòa, Bạch Yến, Julie, Pauline Ngọc, Thiên Nga, Hương Lan, Thanh Mai, Khúc Lan, Trần Quang Hải, Duy Quang, Văn Tấn Phát… Nhưng từ năm 1981 tới nay, chẳng ai đến đó nữa. Julie, Hương Lan, Thanh Mai, Khúc Lan, Duy Quang lần lượt sang qua Hoa Kỳ. Còn Pauline Ngọc sang Phi Châu một dạo rồi qua Đức định cư luôn. Văn Tấn Phát qua Hoa Kỳ thử thời vận một thời gian rồi lại trở về Paris hát trong các vũ trường ở nơi Kinh Đô Ánh Sáng ấy. Chỉ còn Trần Quang Hải, Bạch Yến, Mỹ Hòa và Thiên Nga là còn bám Paris, nhưng Thiên Nga vẫn hát ở các vũ trường, quán nhạc, còn Trần Quang Hải và Bạch Yến thường đi lưu diễn ở những nơi dành cho những người Âu Châu thích nghiên cứu âm nhạc hoặc trình diễn ở các tỉnh đông kiều bào trên đất Pháp, trên các đất Thụy Sĩ, Bỉ, Đức, Hòa Lan, v.v…
Buổi họp bạn nào ở Quán Trúc mà có Thiên Nga là có không khí vui nhộn. Cô ăn mặc cẩu thả, ít khi mặc trang phục dạ hội. Cho nên cô rất gần gũi với những ai đến Quán Trúc. Thuở đó cô học nghề uốn tóc, nhưng mái tóc cô không uốn quăn không tỉa, chỉ bỏ xõa xuống vai; mái tóc ấy mềm mại có màu mật thẫm bởi vì cô là phụ nữ lai Âu với cái tên trong khai sinh là Marguerite Paule Fabre.
Thiên Nga không đẹp, nhưng liếng thoắng, nhí nhảnh và duyên dáng. Chính người chị của cô là bà Alice Kiều Anh mới đẹp lộng lẫy và xán lạn. Bà Alice cùng với nữ nghệ sĩ ca kịch cải lương Bích Thuận, nữ họa sĩ kiêm điêu khắc gia Đặng Vũ Anh Trần, nhà thơ nữ Minh Tâm là những khuôn mặt đẹp trong giới văn nghệ sĩ ở Paris, dù khi qua tuổi trung niên mà họ vẫn còn đẹp. Bở họ thạo cách phục sức và cách trang điểm. Còn Thiên Nga ít khi chịu trang điểm đậm đà, ít ăn mặc lộng lẫy. Mặt cô có nét Việt Nam nhiều hơn nét Tây phương. Cô có đôi lưỡng quyền hơi rõ nét chứ không cao. Mũi cô thẳng và dọc dừa chứ không dài và cao như mũi phụ nữ Pháp. Răng cô hơi vẩu, nếu cặp môi cô dầy hơn thì hợp thành chiếc miệng gợi cảm; đằng này môi cô dù có rõ nét, nhưng hơi mỏng. Cặp mắt cô thật ranh mãnh, thật tinh quái nghịch ngợm. Bởi có cái thần thái thông minh rực rỡ nên cô không có vẻ gợi cảm. Nhưng khi cô hát thì cô đổi thành một con người khác. Cái miệng cô khi khép kín môi hay khi cười rộng miệng thì chẳng có gì đặc sắc, nhưng khi cô hát, cái miệng ấy đẹp không thể tả, cực kỳ duyên dáng, cực kỳ gợi cảm. Lúc đó ánh ranh mãnh trong cặp mắt cô tắt mất để nhường lại vẻ say sửa mơ màng, vẻ đắm đuối ngất ngây bởi âm hưởng của lời ca ý nhạc. Không cần nghe cô hát, chỉ ngắm cô hát, khán thính giả cũng cảm thấy cô hiện thân là sóng nhạc, là điệu ca. Khi hát, cô mang theo một cơn lốc lên bục ca, một cơn bão lửa cháy bừng bừng trên sân khấu. Hèn nào khi còn ở Sài Gòn, cô là vương hậu vũ trường Baccara trong khi đó Mỹ Hòa là nữ hoàng của vũ trường La Cigale. Tuy nhiên, Mỹ Hòa cũng hát ở Baccara cũng như Thiên Nga cũng hát ở La Cigale, nhưng rừng nào cọp nấy, tổ ong nào có nữ chúa ong riêng của tổ ấy. Nếu lính G.I. lẫn Mỹ kiều say mê Thiên Nga thì bọn Pháp kiều ở khu Cité de Larraignée ở đường Bà Huyện Thanh Quan thường lui tới La Cigale để được nghe tiếng hát của Mỹ Hòa.
Từ năm 1981, lớp thân hữu lẫn lớp nghệ sĩ lui tới Quán Trúc chấm dứt sự liên lạc với chủ nhân quán ấy. Tôi rời khỏi Quê Mẹ và không còn cơ hội gặp Thiên Nga nữa. Chuyện ca nhạc đối với tôi trở nên xa lạ, khi tâm hồn tôi mang một vết thương bởi những người mà tôi cho là cùng chung lý tưởng, bấy giờ đã đánh rơi mặt nạ, hiện nguyên hình là kẻ tham lam bỉ ổi. Nghe nói có một thời gian Thiên Nga hát ở vũ trường Palais d’Argent. Nhưng mãi đến năm 1993, nhà xuất bản Nam Á tổ chức buổi ra mắt sách cho ba tác giả Trần Tri Vũ, Trần Thị Diệu Tâm và Hồ Trường An tại hội trường Institut d’Asie du Sud-Est trong quận 5 Paris, tôi mới có dịp gặp lại Thiên Nga. Về sắc vóc, cô vẫn không thay đổi, nhưng tiếng cô trầm hơn, đặc sánh hơn, nồng mặn và gợi cảm hơn. Cô vào phòng sau hậu trường cởi Âu phục để mặc y phục gái quê Kinh Bắc: áo tứ thân bằng lụa tím, yếm màu hoa đào, dây thắt lưng thiên lý, quần lụa đen. Cô vấn tóc và bện khăn nhung màu hoàng cúc, tay cầm nón cụ quai tơ. Thì ra theo lời mời chủ nhân nhà xuất bản, cô đến giúp vui bằng các màn dân ca nên mới ăn mặc như thế. Tôi khen:
– Ủa lạ, cô đầm lai đâu mất rồi?
Cô cười rồi õng ẹo bước đi từng bước, đôi tay đánh đòn xa dịu nhĩu để nhại theo điệu bộ “cái đĩ đánh bồng” trong các vở hát chèo làm ai nấy cười lăn.
Trong các bản mà Thiên Nga trình bày hôm đó có bản “Khi Đã Yêu” của Phượng Linh, cũng là bản ruột của cô được cô diễn tả thật dí dỏm.
Cuộc ra mắt sách chấm dứt, cả bọn kéo nhau đến nhà hàng Đào Viên ở quận 13 để dùng bữa cơm tối. Tôi được xếp ngồi gần Quái Kiệt Trần Văn Trạch, nhà thơ nữ Thụy Khanh và Thiên Nga. Hai anh họa sĩ Lê Tài Điển và Nguyên Cầm ngồi bàn kế bên yêu cầu tôi hát Vọng Cổ, đang lúc tôi ngần ngừ thì Thiên Nga ré lên nói lối để gối đầu cho câu Vọng Cổ:
– Ái hậu ôi, trẫm khuyên hậu nên tắm rô-bi-nê (robinet) tắm đuốc (douche). Hậu không nghe, hậu tắm suối tắm sông để cho mấy con cá lòng tong chúng rỉa đứt mấy cọng lông… ơ… ớ… ơ…
Tới đây cô ngừng ngang làm thiên hạ nóng ruột, xôn xao hỏi:
– Lông gì?
– Ờ, ờ, lông gì mới được?
Lại có tiếng thét:
– Lông gì? Hát mau đi…
Thiên Nga ỏn ẻn, háy dài:
– Thì lông mày chứ lông gì? Quý vị muốn lông nào khác thì tùy…
Mọi người phản đối không chịu. Tôi ré lên:
– … để cho mấy con cá lòng tong chúng rỉa đứt mấy cọng lông… ơ… ớ… ơ… đùi.
Mọi người làm dữ hơn:
– Ê, đờn bà không có lông đùi.
– Xạo quá!
Vào mùa thu năm 1997, chị Vũ Lan Phương, chủ nhân quán Đào Viên có tổ chức mỗi tháng hai kỳ chương trình ca nhạc vào tối Chúa Nhật. Trừ Mỹ Hòa và Thiên Nga được hát thường trực, còn các ca sĩ khác chỉ hát tạm một vài kỳ. Một tối nọ, quán đông đặc các khuôn mặt nổi tiếng ở Paris như các chính khách, các cảm tình viên của các văn nghệ sĩ và các văn nghệ sĩ. Trong số các văn nghệ sĩ có học giả Võ Thu Tịnh, nữ nghệ sĩ Bích Thuận và phu quân, nhạc sĩ Anh Huy và phu nhân, các nhà thơ nữ Bình Thanh Vân, Minh Tâm, ký giả Trần Nghĩa Hiệp và phu nhân, ký giả Từ Ngọc Lê…
Hôm đó, Mỹ Hòa và Thiên Nga hát trội quá. Thiên Nga điểm trang son phấn thật nhẹ, áo màu kem rất đơn sơ. Nhưng chính những màu nguội như màu kem, màu xám trân châu, màu beige, màu nguyệt bạch, màu trứng sáo, màu xám khói thu mới làm tăng cốt cách sang trọng của cô. Ai đến quán Đào Viên cũng thích nghe cô hát chứ chẳng ai thích xem cô ăn mặc và trang điểm để xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu.
Sau đó, Thiên Nga, Mỹ Hòa và tôi có nhiều dịp gặp nhau trong các bữa tiệc thân hữu ở các thành phố phụ cận Kinh Đô Ánh Sáng Paris. Chúng tôi còn gặp nhau trong bữa cơm chay tại ngôi chùa tàu Tiến Đức ở vùng Ivry-sur-Seine nhân lễ làm tuần bách nhật cho vong linh bà thân mẫu chị Vũ Lan Phương. Chúng tôi còn đến nhà nhạc sĩ Anh Huy ở thành phố Cachan nằm về miền Nam Paris để ăn món cà-ri tuyệt vời do bà chủ nhà thết đãi. Hôm đó có học giả Võ Thu Tịnh, ký giả Tô Vũ, vợ chồng họa sĩ Lê Tài Điển, nhà thơ nữ Bình Thanh Vân, bà Alice Kiều Anh, chị Vũ Lan Phương.
Một thứ bảy nọ, tôi trở lại quán Đào Viên thì gặp chị Vũ Lan Phương lúi húi tráng bánh cuốn, thổi xôi, nấu chè đậu, nướng thịt. Chị cho biết hôm nay Thiên Nga trông coi bữa tiệc tại Discothèque Navy. Chỗ này của người Pháp, dành cho các ca sĩ Việt Nam trong đó có Thiên Nga hát vào mỗi tối Thứ Bảy. Tôi xăn tay áo, phụ với Thiên Nga đem các món thức ăn ra xe để chở đến địa điểm đãi tiệc.
Về sau, Navy có thêm Mỹ Hòa tới hát.

* * *

     Thiên Nga có giọng hát hơi khàn. Cô biết bào mỏng ở vài chỗ để giọng hát mịn như nhung, biết dồn hơi hát vang lộng ở chỗ lên hơi cao để giọng hát chói sáng như gấm. Chuỗi ngân của cô thật rập rờn, thật óng ả. Đây là một giọng ấm áp và cực kỳ gợi cảm. Đã vậy, khi diễn tả bài hát, cô bộc lộ cả một niềm say sưa đắm đuối, đôi lúc bừng bừng phấn khởi trên bục ca. Khán thính giả bị tiếng hát cô thu hút đã đành, mà tâm trí họ gắn chặt vào chiếc miệng tô son hường dìu dịu của cô được sóng nhạc lời ca điều khiển, biến hóa thành một chiếc miệng cực kỳ duyên dáng; không có chiếc miệng của nữ ca sĩ nào khác được thăng hoa trong lúc ca hát như miệng của cô.
Tiếng hát Thiên Nga nồng mặn ý tình. Bài hát dù có tầm thường mà được cô diễn tả, trở nên khởi sắc ngay. Không phải nhờ cô hát điệu đà hay nhờ cô chơi nhiều fantaisies. Bởi bản chất giọng hát của cô thật gợi cảm, thật nồng nàn, tự nó đã đem hương xông xạ ướp cho bài hát mà không cần phải gia thêm màu mè riêu cua.
Tiếng hát của Thiên Nga gợi cho chúng ta thời tiết vào đầu mùa hạ. Lúc đó ngọn gió xuân phai dần, nhường bước cho cơn gió Nam huân thoang thoảng đến đất trời cây cỏ. Lúc đó nơi hải ngoại, những bông hoa xuân như mẫu đơn, linh lan, anh đào, tử đinh hương đã tàn, chỉ còn phong lữ thảo, dã yên thảo, trường thọ, kim liên, thạch khê vẫn tiếp tục thịnh phóng. Tiết trời không nóng lắm, đúng ra là tiết trời ấm áp dễ chịu. Ngày bắt đầu dài và đêm bắt đầu ngắn. Nắng càng lúc càng rạng rỡ nên hương hoa dường như đậm đặc hơn, những loại trái mận, mơ, đào, mộc qua (melon) càng lúc càng ngọt hơn. Và bên bờ biển, dưới bóng thùy dương, cái hôn cậu trai tân dâng hiến cho cô trinh nữ nồng nàn hơn. Và trong phòng the, lời ân tình của đôi vợ chồng càng ngọt bùi và âu yếm hơn; trong lúc đó, cửa sổ mở rộng để lồng khung cảnh trăng sao lộng lẫy bên ngoài.
Bên bờ biển, chàng trai tân bảo người yêu:
– Em có nghe bài Only You hoặc bài Khi Đã Yêu do Thiên Nga hát chứ? Lời nhạc sao mà thủy chung, giọng ca cô ấy sao mà nồng nàn làm lòng anh mềm như ruột dưa gang.
Cô trinh nữ áp mặt vào ngực người yêu:
– Những bài hát ấy cùng giọng hát của Thiên Nga diễn tả đúng tâm trạng của em. Em khóc thôi mùi mẫn, khóc vì hạnh phúc tràn ngập tim em, cưng ơi!
Trong hương khuê, người chồng bảo vợ:
– Thiên Nga hát bài I Went To Your Wedding làm anh có cảm tưởng như cô ta hiện thân là nữ danh ca Patti Page ở chỗ bào mỏng giọng hát cực kỳ gợi cảm.
Người vợ nũng nịu:
– Giọng Thiên Nga khàn hơn giọng Patti Page; có lẽ anh nên so sánh giọng cô ta với giọng của nữ danh ca Jo Stafford là phải hơn. Mà sao cưng của em lại thích bài hát buồn ấy? Em thích Thiên Nga hát bản La Vie En Rose cơ. Bài ca hạnh phúc, giọng hát sao mà nồng nàn tình tứ! Em có cảm tưởng rằng khi diễn tả bài hát ấy, Thiên Nga cùng bài hát ấy trở thành một vì tiếng hát của cô ta là tiếng hát hạnh phúc, có phải? Lúc xem cô ta hát, em lại có thêm cảm tưởng nữa: vợ chồng ta tan biến đi để nhập và tình ý bài hát và vào giọng hát của cô ta.
Chàng trai tân và cô trinh nữ ấy giờ đây đã vào tuổi tứ tuần còn cặp vợ chồng nọ đã vào tuổi lục tuần. Nhưng trong tâm hồn họ, những bài tình ca ấy vẫn còn réo rắt âm vang ngọt lịm. Và giọng hát Thiên Nga như một vết son tươi làm cho tâm khảm họ đẹp xán lạn, đẹp thắm thiết một dấu ấn không phai.
(trích Chân Dung Những Tiếng Hát của nhà văn Hồ Trường An, quyển 1, năm 2000)

BUỔI TIỄN ĐƯA CUỐI CÙNG CA SĨ THIÊN NGA TẠI NGHĨA TRANG CRÉMATORIUM PERE LACHAISE TRÀN ĐẦY THƯƠNG TIẾC (8/8/2016)

Photo: Hà Phong
Ghi nhận: Albert Tambicannou, Glace Lai, Mỹ Hòa, Thu Hương
Đúc Kết: Trầm Từ Đông
(trích trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 79 phát hành ngày 12 tháng 8 năm 2016)

Mới từ sáng sớm, thân hữu và gia đình đã có mặt tại nghĩa trang Crématorium Pere LACHAISE

Tang lễ đang cử hành trong nhà thờ. Hàng trên từ trái sang phải: Grace Lai Anh Đào, Agnes Fabre, Lan Tho, Rofer Fabre, Ophelia, Philippe Tambicannou, Daniel Paul, Shirley Tong On, Hiếu.. Phía sau có Oanh (vợ Thái Hoa em trai Bạch Yến). Người ngồi sau hàng thứ nhì tay phải, ngồi cao nhất là Gregory Pons (chồng của Grace Lai Anh Đào)

      Mặc dù, tang lễ của ca sĩ Thiên Nga tổ chức vào sáng thứ hai, một ngày nhiều người tại Pháp còn phải đi làm thật sớm, nhưng số lượng khách tham dự lên đến khoảng trăm người. Trong số đó, có một số khuôn mặt nghệ sĩ như Nhạc sĩ Trần Quang Hải, Mỹ Hòa (The Cat’s Trio), Thu Hương, Lan Phương (Đào Viên), Bích Xuân, Thanh Thanh, vợ chồng Thái Hoa (em trai ca sĩ Bạch Yến), nhiếp ảnh Hà Phong, gia đình ban nhạc The Blue Jets.. Nơi cử hành tang lễ là Crématorium Pere Lachaise, mà theo nhiều người cho biết, đây là “nghĩa trang lớn nhất của thành phố Paris, Pháp và là một trong những nghĩa trang nổi tiếng nhất thế giới. Nằm tại quận 20, nghĩa trang Père-Lachaise là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch nhất tại Paris, mỗi năm hàng trăm ngàn lượt người đã đến đây để được thăm viếng những ngôi mộ nổi tiếng đã có từ 200 năm qua, trong số đó có thi sĩ Guillaume Apollinaire, nhạc sĩ Frederic Chopin, nhà văn Honore de Balzac, các ca sĩ Dalida, Claude Francois, Edith Piaf, Jean de La Fontaine (thơ ngụ ngôn).. Ca sĩ Thiên Nga, 70 năm rong chơi cõi trần, giờ đây đã phiêu bồng về một thế giới an bình vĩnh cửu. Vĩnh biệt chị.. Dẫu người đã đi xa, nhưng tình yêu và nỗi nhớ của gia đình, thân hữu và những người hâm mộ vẫn luôn nhớ mãi về một ca sĩ Thiên Nga nồng nàn, đam mê và một đời thủy chung với âm nhạc.

Grace Lai (Anh Đào), con gái thứ nhì của ca sĩ Thiên Nga lên chia sẻ với quan khách vài đoạn thánh kinh trong tang lễ của Mẹ.

Shirley (con gái lớn của Thiên Nga) bị tật điếc bẩm sinh nên khi lên chia sẻ kỷ niệm về Mẹ cần có một người cạnh bên thông dịch lại.

Chị cả của Thiên Nga, Alice Fabre, và những lời vĩnh biệt sau cùng với em gái của mình.

Anh Henri Tambicannou, đại diện gia đình nhà chồng Thiên Nga lên nói lời chia tay vĩnh biệt.

Ca sĩ Mỹ Hòa, đại diện anh chị em nghệ sĩ tại Pháp và khắp nơi trên thế giới, đọc điếu văn sau cùng tiễn đưa ca sĩ Thiên Nga.

Quang cảnh tang lễ ca sĩ Thiên Nga ngày thứ hai 8 tháng 8 năm 2016 tại Crematorium Pere LACHAISE.

Quan khách viếng lần sau cùng trước khi di quan hỏa táng. Từ trái sang phải: Roger Fabre, Mai Massias, Albert Tambicannou, Henri Tambicannou, ca sĩ Thu Hương.

Những cánh hoa đẹp tượng trưng cho nhan sắc, tài năng Thiên Nga từ đây sẽ phiêu bồng nơi một cõi trời xa.

Mỹ Hòa và những giây phút cuối cùng với người bạn tri âm tri kỷ cùng nhau ca hát từ những năm 1963 cho đến những giây phút cuối cùng vẫn luôn cạnh nhau.

Thân nhân của ca sĩ Thiên Nga (T.N) gồm Shirley Tong On (số 1, con gái lớn của ca sĩ TN), Victor Heitz (số 2, chồng Shirley, con rể TN), Jeanne Heitz (số 3, con gái Victor và Shirley), Alice Fabre (số 4, chị cả của TN), Albert Tambicannou (số 5, chồng TN), Grace Lai (số 6, Anh Đào, con gái thứ 2 của TN), Roger Fabre (số 7, anh cả TN), Ophelia (số 8, vợ Roger), Mai (số 9, con chị Alice), Lan Tho (số 10, cháu gái TN), Agnes Fabre (số 11, chị của TN), Richard Dang (số 12, con trai Alice), Angela Le Coat (số 13, con gái Richard), Michelle Phuong (số 14), George Dang (số 15, con chị Alice), Hiếu (số 16, con chị Agnes), Alexandre Dang (số 17, con George Dang), Toàn Anh Lê Đại (số 18, con chị Alice), Eric Landgraf (số 19, bạn Toàn Anh).

Từ trái sang phải: Ca sĩ Mỹ Hòa, nhạc sĩ Trần Quang Hải, Thái Hoa (em trai Bạch Yến), Grace Lai Anh Đài, Lan Phương (Đào Viên), ca sĩ Thu Hương, Oanh (vợ Thái Hoa), 1 thân hữu.

Đã xong giờ tang lễ nhưng vẫn không ai muốn ra về..

Cám ơn nhiếp ảnh gia Hà Phong đã chụp và cho phép Thế Giới Nghệ Sĩ xử dụng những bức ảnh trong tang lễ ca sĩ Thiên Nga trong số báo này.

Trước khi ra về, toàn thể thân hữu, người ái mộ và gia đình chụp một bức ảnh cuối cùng làm kỷ niệm ngày tiễn đưa ca sĩ Thiên Nga vào cõi vĩnh hằng.

HÀ ĐÌNH NGUYÊN : Cần sớm khẳng định ‘chủ quyền’ với đàn bầu


07:16 AM – 13/08/2016 Thanh Niên
Biểu diễn đàn bầu trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh /// Ảnh: Ngọc Hải
Biểu diễn đàn bầu trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh
Ảnh: Ngọc Hải
Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.
Mới đây trên website của mình, GS-TS âm nhạc Trần Quang Hải (đang ở Pháp) đã có bài viết bày tỏ lo lắng về việc nếu không sớm có những động thái phù hợp, VN có thể bị “mất quyền sở hữu” cây đàn bầu – nhạc cụ dân tộc đặc trưng của VN.
Theo GS-TS Trần Quang Hải thì cây đàn bầu là nhạc cụ “đặc hữu” của VN từ rất xa xưa. Trong Đại Nam thực lục tiền biên (bộ sử của nhà Nguyễn) ghi cây đàn bầu đã được sáng tạo từ năm 1770. Cây đàn bầu cũng từng được các nghệ sĩ mù ở Hà Nội dùng phụ đệm hát xẩm ở các chợ trời từ cuối thế kỷ thứ 19. Do đó đàn này còn được gọi là “đàn xẩm”. Đàn bầu được đưa vào dàn nhạc cung đình Huế từ cuối thế kỷ 19 và xuất hiện trong dàn nhạc tài tử Nam bộ từ năm 1930…
Người Trung Quốc chơi và học đàn bầu
Cần sớm khẳng định 'chủ quyền' với đàn bầu - ảnh 1

Hình trên trang web China Daily với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số chơi đàn độc huyền cầm”

Theo GS Hải, từ vài năm nay ở Trung Quốc đã có những festival nhạc dân tộc với những màn biểu diễn đàn bầu. Ông cũng gửi cho Thanh Niên trang web China Daily USA đăng bài cùng hình ảnh của Xinhua với chú thích “Hàng trăm người dân tộc Kinh thiểu số cùng chơi đàn độc huyền cầm” trong một lễ hội truyền thống ở Trung Quốc. Bài viết nói rằng tộc người Kinh (Jing) này đã di cư từ VN sang Trung Quốc từ khoảng 500 năm trước, và hiện tộc người này có khoảng 22.000 người. Ông Hải cho biết thêm những năm gần đây, Trung Quốc đã gửi nhạc công sang VN học đàn bầu, mời một số nhà nghiên cứu sưu tầm tài liệu để viết về đàn bầu và đưa lên mạng thông tin đàn bầu rất được người dân tộc Kinh (ở Trung Quốc) yêu thích.

Trò chuyện với nhạc sĩ Đức Trí, người đã nhiều năm theo học đàn bầu, ông giật mình: “Thông tin từ GS Hải làm tôi chợt nhớ, cách đây 10 năm, tôi tình cờ xem được trên kênh truyền hình CCTV của Trung Quốc một chương trình hòa tấu nhạc dân tộc và đã rất kinh ngạc khi thấy có cây đàn bầu trong dàn nhạc dân tộc Trung Quốc. Đây là điều chưa từng thấy trước đó”.
Nhạc sĩ Đỗ Lộc cho biết: “Năm 1967, Đoàn múa hát Quân giải phóng miền Nam VN sang Bắc Kinh biểu diễn. Tiết mục biểu diễn đàn bầu của nhạc sĩ Đức Nhuận thật sự xuất sắc vì đàn bầu là của VN mà Trung Quốc không có nên họ ngỏ lời xin học, VN đồng ý. Nghệ sĩ Điền Xương của Trung Quốc đi theo đoàn VN suốt thời gian đoàn lưu diễn để được thầy Đức Nhuận chỉ dẫn về đàn bầu…”.
Nghệ sĩ đàn bầu Nguyễn Tiến kể: “Cuối năm 2013, tôi đã từng nói chuyện và biểu diễn minh họa về lịch sử phát triển cây đàn bầu VN tại Học viện Quảng Tây (Trung Quốc), nơi cũng có một khoa giảng dạy đàn bầu. Cả hội trường vô cùng ngạc nhiên và khâm phục. Trưởng khoa đàn bầu (và là người chỉ huy dàn nhạc của học viện) là Thái Ương đã nói với tôi: Nghe anh nói chuyện cả buổi sáng nay tôi mới hiểu được hết cái hay và cái đẹp của cây đàn bầu VN. Học viện chúng tôi có khoa đàn bầu là vì có một số học viên là người dân tộc Kinh có nhu cầu nên chúng tôi dạy thôi. Hiện nay cũng có học sinh Trung Quốc đang học tại Học viện âm nhạc quốc gia VN về đàn bầu. Có cô gái Trung Quốc tên là Tôn Tiến cũng từng gặp tôi để học hỏi về đàn bầu”.
Theo một số nghệ sĩ và nhà nghiên cứu âm nhạc, đàn bầu chỉ mới được Trung Quốc lưu tâm đến không đầy 20 năm sau này, vì trước đó không thấy dạy đàn bầu ở các nhạc viện Trung Quốc.
“Phải sớm hành động”
GS-TS Trần Quang Hải kể lại, ông từng tham dự một hội thảo tại Seoul (Hàn Quốc) năm 2012, tại đó Hàn Quốc đã đưa ra những lập luận để phản bác việc Trung Quốc dự định đề xuất UNESCO công nhận bản nhạc Arirang là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc vì bản nhạc này được sắc tộc người Triều Tiên sinh sống ở Trung Quốc chơi. Bản Arirang sau đó đã được UNESCO nhìn nhận là của Hàn Quốc vào năm 2014.
Ông cho biết thêm trước đó Mông Cổ cũng đã phản đối kịch liệt việc Trung Quốc đã trình UNESCO xin công nhận kỹ thuật “hát đồng song thanh Khoomei” của Mông Cổ là di sản văn hóa phi vật thể của Trung Quốc. Mông Cổ cho rằng kỹ thuật này phát nguồn từ vùng Tây Bắc của xứ Mông Cổ chứ không thể có ở vùng tự trị Nội Mông (Trung Quốc) như Trung Quốc tuyên bố. Năm 2010, Mông Cổ trình hồ sơ hát đồng song thanh Khoomei cho UNESCO và đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của Mông Cổ.
Từ những dữ kiện trên, GS Hải cho rằng VN phải nhanh chóng có những hành động “xác lập chủ quyền” đối với cây đàn bầu. “Việc làm trước tiên là phải trình UNESCO nhìn nhận đàn bầu là di sản văn hóa của VN như đã từng làm cho quan họ, ca trù, hát xoan Phú Thọ, đờn ca tài tử Nam bộ…. Đây là việc làm khẩn cấp và phải làm ngay từ bây giờ để đánh dấu sự hiện hữu của nhạc cụ này trong nhạc dân tộc VN. Đồng thời kêu gọi những nhà nghiên cứu nhạc dân tộc tìm kiếm tài liệu qua sách vở xưa để minh chứng đàn bầu đã có đời sống liên tục, lâu bền trong cộng đồng người Việt ở VN. Ngoài ra các cơ quan nghiên cứu âm nhạc VN cũng nên xúc tiến việc xác định nguồn gốc cây đàn bầu”.

Hà Đình Nguyên

http://thanhnien.vn/van-hoa/can-som-khang-dinh-chu-quyen-voi-dan-bau-733339.html

This blog is focused on Trân Quang Hai